I.ĐỀ TÀI MỘT VÀI KINH NGHIỆM ĐỔI MỚI KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH Ở BỘ MÔN NGỮ VĂN... Tuy nhiên, những nỗ lực đó vẫn chưa Nhằm chia xẻ cùng quý đồng ng
Trang 1I.ĐỀ TÀI
MỘT VÀI KINH NGHIỆM ĐỔI MỚI KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC
HỌC SINH Ở BỘ MÔN NGỮ VĂN
Trang 2
II.ĐẶT VẤN ĐỀ :
Đổi mới kiểm tra đánh giá (KTĐG) là khâu then chốt trong quá trình đổi mớitoàn diện giáo dục (GD) theo tinh thần Nghị quyết số 29-NQ/TW (Khóa XI) ở nước tahiện nay
Nhiều năm gần đây, cùng với nỗ lực đổi mới quan điểm, phương pháp dạy học(PPDH), ngành GD đã tích cực đổi mới KTĐG Tuy nhiên, những nỗ lực đó vẫn chưa
Nhằm chia xẻ cùng quý đồng nghiệp những giải pháp đã thực hiện, tôi viết đề
tài SKKN: “Một số kinh nghiệm đổi mới kiểm tra đánh giá theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở bộ môn Ngữ Văn”
III.CƠ SỞ LÝ LUẬN:
1.KTĐG và vai trò của KTĐG trong hoạt động GD
Trong Đại từ điển tiếng Việt, Nguyễn Như Ý cho rằng “Kiểm tra(KT) là xem xét thực chất, thực tế” Một số nhà khoa học GD cho rằng: Kiểm tra với nghĩa là nhằm thu thập số liệu, chứng cứ, xem xét, soát xét lại công việc thực tế để đánh giá (ĐG) và nhận xét.
Cũng theo Nguyễn Như Ý: “Đánh giá là nhận xét, bình phẩm về giá trị” ĐG làdựa vào mục tiêu cần đạt và kết quả thực hiện công việc để đưa ra những nhận định,bình giá về kết quả
KTĐG trong GD là thu thập, phân tích các thông tin; đưa ra các nhận định, ĐG
về kết quả thực hiện mục tiêu GD; đề xuất những chủ trương, biện pháp nhằm pháttriển GD
KTĐG giúp giáo viên (GV) nắm được trình độ của HS, có biện pháp hỗ trợ HSyếu kém và bồi dưỡng HS giỏi; điều chỉnh PPDH, nâng cao chất lượng KTĐG giúp
HS biết được kết quả học tập, xác định được điểm mạnh, điểm yếu để điều chỉnh
Trang 3phương pháp học tập( PPHT); hình thành kỹ năng tự ĐG KTĐG giúp nhà quản líkiểm soát tình hình GD và đề ra giải pháp quản lý phù hợp.
KTĐG có vai trò ảnh hưởng đến toàn bộ các khâu, các bộ phận của quá trình
GD, từ việc xây dựng chương trình sách giáo khoa, lựa chọn PPDH đến việc tuyểnsinh, đào tạo…
2 Những căn cứ pháp lý:
Luật Giáo dục xác định: Kiểm định chất lượng giáo dục là biện pháp chủ yếu nhằm xác định mức độ thực hiện mục tiêu, chương trình, nội dung giáo dục đối với nhà trường và cơ sở giáo dục khác.
Nghị quyết 29 Hội nghị Trung ương 8 (khóa XI) về đổi mới toàn diện giáo dục
nhấn mạnh: Đổi mới căn bản hình thức và phương pháp thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục đào tạo, bảo đảm trung thực, khách quan”
Nhiều năm qua, Bộ, ngành GD các cấp đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo vềKTĐG
Quyết định 40 xác định căn cứ ĐG học lực HS là hoàn thành chương trình cácmôn học, là kết quả đạt được ở các bài KT Học lực được xếp thành 5 loại: Giỏi, Khá,Trung bình, Yếu và Kém Hình thức KT bao gồm KT thường xuyên (vấn đáp, 15phút), KT định kì (1 tiết, học kì) Việc ĐG kết quả học tập được thực hiện qua KT vàchấm điểm bài KT, tính điểm trung bình môn học, điểm trung bình các môn học cuốihọc kì và cuối năm học
Thông tư 58 thể hiện quan điểm của Bộ GD&ĐT là không phân biệt môn chính,môn phụ Các môn học quan trọng hơn như Toán, Văn, Ngoại ngữ thì HS được họcnhiều hơn và là môn thi tốt nghiệp THPT bắt buộc
Công văn số 8773 của Bộ GD&ĐT về hướng dẫn soạn đề KT chủ trương KTĐGdựa trên chuẩn kiến thức, kĩ năng; tăng cường câu hỏi mức độ thông hiểu, sáng tạo; ra
đề bằng ma trận kiến thức, kĩ năng; đề KT có độ “mở” để tạo cơ hội cho HS thể hiệnnhững suy nghĩ, những ý tưởng sáng tạo của mình
Kế hoạch số 103/KH-BGDĐT ngày 6/3/2014 Bộ GD&ĐT về việc tổ chức hội
thảo “Đổi mới kiểm tra, đánh giá chất lượng học tập môn Ngữ văn trong trường phổ thông” xác định nhiệm vụ nghiên cứu cơ sở lý luận, xây dựng kế hoạch triển khai đổi
mới KTĐG kết quả học tập môn ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực ngườihọc
Trang 4IV.CƠ SỞ THỰC TIỄN:
Thực tiễn các văn bản của Đảng, Bộ, ngành GD chỉ đạo về KTĐG đã cho thấy
sự cần thiết phải đổi mới KTĐG
Ở môn Ngữ Văn, đổi mới KTĐG là đòi hỏi bức thiết Bởi lẽ, các cách KTĐGtrước đây khiến việc dạy, học ngữ văn bộc lộ nhiều hạn chế Đó là tình trạng HS học
tủ, học thuộc bài mẫu, học vẹt Cách học này đã tước bỏ ở HS năng lực tự đọc hiểu,
khả năng tạo lập văn bản; biến HS thành người “mù văn bản” Hiện tượng những bài làm văn điểm 0, những bài làm văn“cười ra nước mắt” là kết quả buồn cho sự khập
khiễng trong KTĐG
Công tác KTĐG còn nhiều bất cập Phương pháp KTĐG còn đơn điệu, thiếusáng tạo Việc ĐG chủ yếu dựa vào sự tái hiện kiến thức; ĐG qua điểm số các bài KT,trong khi có những tiêu chí ĐG quan trọng như kĩ năng sống, lẽ sống, lí tưởng của HSlại bị coi nhẹ Cách ĐG này dẫn đến tình trạng dạy thêm học thêm tràn lan, học để thi,xem thường việc tự học
Tóm lại, mặc dù đã có những nỗ lực đổi mới và đạt được những kết quả bước
đầu, song theo các nhà GD: “Đánh giá kết quả GD vẫn là một lĩnh vực còn nhiều yếu kém, lạc hậu với xu thế chung của thế giới từ nhận thức cho đến quy trình, kĩ thuật, phương pháp.”
Trang 5Tổ xây dựng được ma trận các đề KT định kì ở các khối lớp; sưu tầm, tích lũy,xây dựng ngân hàng đề KT định kì; đổi mới các hình thức KT thường xuyên; công tác
ra đề thi, xây dựng đáp án có tính chuyên nghiệp hơn
Tổ cũng đã chú ý phân tích, phân loại kết quả KT để ĐG hiệu quả vận dụng cácPPDH tích cực, điều chỉnh các PPDH nhằm nâng cao chất lượng bộ môn
Trong sinh hoạt, tổ quan tâm đến nội dung KTĐG Việc vận dụng thông tinmạng phục vụ KTĐG đạt hiệu quả thiết thực Nhận thức về đổi mới KTĐG của GVngày càng nâng cao.Chất lượng bộ môn được cải thiện, thành tích mũi nhọn có tiến bộ
HS được KTĐGVĐ chỉ 01 lần dẫn đến việc HS thiếu ý thức học bài thường xuyên
KT 15 phút đơn giản, thiên về ghi nhớ, học thuộc lòng Vùng kiến thức KT hẹp,chưa chú ý đúng mức, tính hợp lý giữa các mức độ nhận thức
KT định kì còn máy móc, kiểu loại bài KT chưa linh hoạt (do PPCT quy định loại
bài cho từng bài KT), đề KT còn “đóng”, còn khuôn mẫu; chưa “ mở”, chưa “lạ”.
Việc chấm chữa bài KT nặng về ghi điểm; nhận xét, đánh giá bài KT còn chungchung; việc chữa lỗi bài làm ít được chú ý Chất lượng bài KT chưa có độ phân hóacao, ít thấy điểm kém, điểm giỏi
Trong KTĐG, GV thực hiện việc ĐG tuyệt đối, chưa chú ý cho HS tự ĐG hoặc
HS đánhgiá lẫn nhau Nhà trường chưa thực hiện KTĐG chung cho các bài KT viếtgiữa học kì dẫn đến độ lệch trong kết quả ĐG giữa các lớp, các GV
Lối KTĐG này để lại những tác hại không nhỏ Về ý thức, HS chỉ quan tâm họclấy điểm, chưa có ý thức rèn luyện kĩ năng, học toàn diện Về phương pháp, HS ít chú
ý đến việc tự học Do vậy, năng lực đọc hiểu và tạo lập văn bản của HS kém
Đối với GV, kiểu KTĐG này làm cho GV làm việc thiếu tính khoa học, thiếuchuyên nghiệp
2 Những giải pháp đổi mới công tác KTĐG theo định hướng phát triển năng lực học sinh trong môn Ngữ Văn ở trường THPT Lý Tự Trọng
Trang 62.1 Quán triệt các văn bản chỉ đạo của Bộ, Ngành về đổi mới KTĐG nói chung, KTĐG bộ môn Ngữ Văn nói riêng.
Nghị quyết 29 của BCH TƯ khóa XI tại Hội nghị TƯ 8 xác định rõ:“Đổi mới căn bản hình thức và phương pháp thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo, bảo đảm trung thực, khách quan Việc thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo cần từng bước theo các tiêu chí tiên tiến được xã hội và cộng đồng giáo dục thế giới tin cậy và công nhận Phối hợp sử dụng kết quả đánh giá trong quá trình học với đánh giá cuối kỳ, cuối năm học; đánh giá của người dạy với tự đánh giá của người học; đánh giá của nhà trường với đánh giá của gia đình và của xã hội”.
Trên tinh thần đó, tổ đã triển khai đến GV nội dung các văn bản chỉ đạo KTĐG
như đã nêu trên Gần đây nhất, tổ đã quán triệt nội dung tài liệu: Dạy học và kiểm tra đánh giá theo định hướng phát triển năng lực học sinh bộ môn Ngữ Văn do Vụ Giáo
dục Trung học phối hợp với Chương trình phát triển Giáo dục Trung học biên soạn
Nhờ đó, GV trong tổ nhận thức và nắm bắt được xu hướng, yêu cầu, nhiệm vụ
và phương pháp đổi mới KTĐG trong môn Ngữ Văn và ứng dụng vào dạy học
2.2 Thực hiện thống nhất trong tổ Ngữ Văn về quan điểm, phương pháp KTĐG, cách thức ra đề, đáp án, chấm trả bài cho các lần KT theo quy định
Về quan điểm, thực hiện KTĐG khoa học, chính xác, trung thực, khách quan,chuyển dần từ KTĐG theo hướng tái hiện kiến thức sang KTĐG theo hướng phát triển
năng lực HS, bao gồm năng lực đọc hiểu văn bản và năng lực tạo lập văn bản Kết
hợp ĐG trong với ĐG ngoài thông qua các kì thi, KT do Sở, Bộ ra đề và tổ chức chấm
điểm Gắn việc đổi mới KTĐG với việc thực hiện cuộc vận động “Hai không” và phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, HS tích cực” KTĐG vừa phải
đảm bảo mục tiêu môn học, vừa giúp HS tự học, tự ĐG, học tập hứng thú
Về phương pháp, thực hiện KTĐG linh hoạt, không máy móc Linh hoạt về thờiđiểm, phương pháp, nội dung KT và các kĩ năng cần đạt KTĐG hướng đến sự toàndiện về nội dung, đa dạng về phương pháp và đảm bảo chất lượng, hiệu quả
Về cách thức ra đề, xây dựng đáp án, tổ thực hiện ra đề, xây dựng đáp án theo
ma trận, đảm bảo quy trình Đề kết hợp KT các năng lực của HS với các cấp
độ“đóng”, “mở” hợp lý Đề, đáp án KT định kì của GV được tổ thống nhất quản lí.
Trang 7Nhờ đó, đề KT phân hóa được năng lực HS; tích hợp được kiến thức các phânmôn Đọc hiểu, Tiếng Việt, Làm Văn; hướng tới tích hợp kiến thức liên môn; giúp choviệc ĐG đảm bảo chính xác, công bằng.
Việc chấm trả bài được cập nhật, đảm bảo các yêu cầu Bài làm của HS phải cóphần ĐG bằng điểm số và phần ĐG bằng nhận xét Thân bài chấm có khoảng trống để
GV chấm chữa lỗi Giữa phần ĐG bằng điểm số và ĐG bằng nhận xét có sự tươngthích Thực hiện ĐG nhận xét về kiến thức, kĩ năng, thái độ và năng lực học sinh; có
đề nghị, chê khen cần thiết để giúp HS định hướng, điều chỉnh PPHT
2.3 Một số giải pháp cụ thể:
2.3.1 KTĐG thường xuyên
2.3.1.1 Kiểm tra đánh giá vấn đáp (KTĐGVĐ):
Theo quyết định 40, mỗi HS được KTĐGVĐ 01 lần trong học kì Thời điểm KTthường ở đầu tiết học Mỗi tiết học KT từ 1-2 HS trong thời gian 5-10 phút Thườngthì HS đã KT rồi thì ít được KT lại Do vậy, HS học bài cũ, chuẩn bị bài mới khôngthường xuyên
Cho nên, tổ đã đổi mới nhận thức và phương pháp KTĐGVĐ
KTĐGVĐ (còn gọi là kiểm tra miệng) là cột KT thường xuyên đối với mỗi cá
nhân HS Mục đích của KTĐGVĐ không chỉ là KT kiến thức cũ mà còn KT năng lực
tư duy, năng lực đọc hiểu, rèn luyện kĩ năng nói, phát biểu trình bày trước tập thể Với quan điểm trên, chúng tôi thực hiện KTĐGVĐ thường xuyên, linh hoạt hơn;kiến thức KT rộng hơn; số lần KT nhiều hơn
KTĐGVĐ có thể tiến hành ở đầu tiết, giữa tiết và cuối tiết học Nội dung KT đadạng với các mức độ nhận biết, thông hiểu, vận dụng kiến thức: KT kiến thức đã học,
KT việc tiếp thu bài mới, KT vận dụng kiến thức Điều cốt lõi của KTĐGVĐ là trìnhbày bằng miệng Qua trình bày, GV đánh giá về mức độ nắm bắt kiến thức; kĩ năng,phương pháp trình bày vấn đề
Câu hỏi KT được chuẩn bị trong thiết kế bài dạy; cũng có thể là câu hỏi nảysinh trong tình huống bài dạy Song các câu hỏi KTĐGVĐ phải rõ ràng, dễ hiểu, đảmbảo chuẩn kiến thức, kích thích HS trả lời Mỗi phần KT, thường có ít nhất hai câu hỏi:
01 câu hỏi nhận biết (tái hiện kiến thức), 01 câu hỏi thông hiểu (giải thích, phân tíchcảm nhận ) Trong KTĐGVĐ nên có câu hỏi gợi mở, câu hỏi phụ để giúp HS tăngkhả năng lí giải vấn đề Một câu hỏi KT nên hỏi nhiều HS, khai thác những ý kiến
Trang 8khác nhau Sau khi HS trả lời, giáo viên là người trọng tài thực hiện việc nhận xét,phân tích, ĐG và kết luận.
Hiệu quả của đổi mới KTĐGVĐ là HS có ý thức học tập thường xuyên, nắmbắt kiến thức tốt hơn; hình thành kĩ năng trình bày, tự tin hơn trong phát biểu xây dựngbài, trình bày vấn đề; tiết học sinh động hơn, thuận lợi cho việc áp dụng các PPDH tíchcực, nâng cao được chất lượng dạy học
Ví dụ về KTĐGVĐ đầu giờ học:
- Nội dung KT:Bài thơ Tây Tiến
+ Câu hỏi nhận biết: Em hãy đọc phần thơ khắc họa chân dung người lính Tây Tiến?
+ Câu hỏi thông hiểu: Theo em, trong phần thơ trên, hình ảnh người lính Tây Tiến
được Quang Dũng khắc họa như thế nào?
Ví dụ KTĐGVĐ giữa giờ học:
- Bài dạy: Tây Tiến
- Khi dạy đến vẻ đẹp tâm hồn của người lính Tây Tiến qua câu thơ “ Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm” GV có thể dừng lại hỏi HS:
+ Câu hỏi phát hiện: Bài thơ không dưới 1 lần Quang Dũng nhắc đến hình ảnh kiều
nữ, giai nhân Đó những hình ảnh nào?
+ Câu hỏi thông hiểu:Hình ảnh những kiều nữ giai nhân được đề cập nói lên những phấm chất nào trong tâm hồn người lính Tây Tiến?
Loại câu hỏi này vừa giúp GV đánh giá được kiến thức, năng lực cảm thụ, kĩnăng diễn đạt vừa giúp HS phát huy tính sáng tạo, tính tích cực, chủ động
3) Theo em, đặc sắc về nghệ thuật ở bài thơ Tây Tiến là gì?
Trang 92.3.1.2 KTĐG 15 phút
Theo quyết định 40, mỗi học kì có 3 bài KT 15 phút đối với môn Ngữ Văn Dochưa có hướng dẫn cụ thể nên nội dung, phương pháp, thời điểm, hình thức KT 15phút ở mỗi GV chưa có sự thống nhất Việc ĐG vì thế cũng chưa đồng đều
Khắc phục hạn chế trên, chúng tôi đã đổi mới KT 15 phút như sau:
Về quan điểm, KT 15 phút là bài KT thường xuyên thực hiện trên phạm vi lớphọc Thời gian KT được quy định là 15 phút Mục đích KT là để đánh giá mức độ lĩnhhội và vận dụng kiến thức; rèn luyện kĩ năng diễn đạt, tạo lập văn bản của HS
Về thời gian, chúng tôi bố trí các bài KT 15 phút vào các tuần 5, 10, 15 của học
kì nhằm đảm bảo KT các vùng kiến thức cơ bản trong chương trình lớp học
Về hình thức, các năm học trước, chúng tôi áp dụng hình thức trắc nghiệmkhách quan hoặc trắc nghiệm tự luận hoặc kết hợp cả hai (mỗi đề KT thường có 3đ với
6 câu TNKQ và 7đ cho câu hỏi tự luận)
Từ năm học 2016-2017 đến nay, chúng tôi xây dựng đề theo lối đọc hiểu Ngay
từ đầu năm học, tổ thống nhất xây dựng ma trận cho đề kiểm tra 15 phút Các giáoviên dựa vào ma trận để xây dựng đề kiểm tra phù hợp với đối tượng học sinh Mỗi đề
KT, GV đưa ra một ngữ liệu được trích từ các văn bản theo các phong cách ngôn ngữthích hợp với khối lớp học Sau đó, GV đưa ra các câu hỏi KT năng lực đọc hiểu ngữliệu Mỗi câu hỏi có giá trị từ 1-3 điểm Mỗi đề KT 15 phút, có 4 câu hỏi theo các mức
độ nhận thức gồm 2 câu hỏi nhận biết, 1 câu hỏi thông hiểu và 1 câu hỏi vận dụng Nộidung KT có tính toàn diện: KT kiến thức Tiếng Việt, Làm Văn, văn bản văn học.Mỗilần KT, GV có thể sử dụng từ 2 đến 4 đề để HS đọc lập suy nghĩ trong làm bài, tránhcop py lẫn nhau
Việc thiết kế ma trận, xây dựng đáp án biểu điểm được chú trọng; đảm bảo KTcác loại kiến thức, nhất là kiến thức trọng tâm, đảm bảo tính vừa sức đối với HS; đảmbảo chất lượng cần đạt và đảm bảo phát huy năng lực, phân hóa HS
Ví dụ đề xây dựng dề kiểm tra 15 phút:
- Thiết lập ma trận:
TRƯỜNG THPT LÝ TỰ TRỌNG Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
TỔ NGỮ VĂN Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Thăng Bình, ngày 5 tháng 10 năm 2017.
MA TRẬN ĐỀ KIỂM TRA 15 PHUT
Trang 10( Dùng chung cho lớp 10,11,12)
I MỤC TIÊU / MỨC ĐỘ CẦN ĐẠT
- Mục tiêu theo chuẩn kiến thức kĩ năng:
+ Nắm được các nội dung kiến thức, ý nghĩa, giá trị các văn bản đã học
+ Biết vận dụng các kiến thức tiếng Việt, làm văn để đọc hiểu văn bản
- Mục tiêu định hướng, phát triển năng lực:
+ Năng lực đọc hiểu văn bản.
II, HÌNH THỨC KIỂM TRA
Tổng Số
phươngthức biểuđạt/ phongcách ngônngữ/
- Chỉ rachi tiết/
hình ảnh/
biện pháp
tu từ…nổibật trongvăn bản
- Khái quát chủđề/ nội dungchính/ vẫn đềchính…mà vănbản đề cập
- Hiểu đượcquan điểm/ tưtưởng …của tácgiả
- Hiểu được ýnghĩa tác dụngcủa việc sửdụng phươngthức biểu đạt/từngữ/ chi tiết/
hình ảnh/ biệnpháp tu từ…
- Nhận xét vềmột giá trị nộidung/ nghệthuật của vănbản
- Rút ra bàihọc về tưtưởng/ nhậnthức
Tổng
Cộng Số câu: Số điểm:
Tỉ lệ:
24,040%
13.0 30%
13.030%
410,0100%
- Xây dựng đề kiểm tra: Sau đây là 2 đề kiểm tra 15 phút lớp 10/2 lần 1
Trang 11sung sướng hơn nữa , từ giờ phút này giở đi các em bắt đầu được nhận một nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam … Các em được hưởng sự may mắn đó là nhờ sự hi sinh của
biết bao đồng bào các em Vậy các em nghĩ sao ? ( Trích “ Thư Bác Hồ Gửi cho
học sinh nhân ngày khai trường” , 9/1945 )
Câu 1 Xác định phong cách ngôn ngữ của đoạn trích trên ( 2 điểm)
Câu 2 Chỉ ra phương thức biểu đạt chính được tác giả sử dụng.(2 điểm)
Câu 3 Tác giả đã có những cảm nhận như thế nào về ngày khai trường đầu tiên của
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà?(3 điểm)
Câu 4 Nêu tác dụng của câu hỏi tu từ ở cuối đoạn trích.(3 điểm)
Đề 2:
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu
Trong năm học tới đây, các em hãy cố gắng, siêng năng học tập, ngoan ngoãn, nghe thầy, yêu bạn Sau 80 năm giời nô lệ làm cho nước nhà bị yếu hèn, ngày nay chúng ta cần phải xây dựng lại cơ đồ mà tổ tiên để lại cho chúng ta, làm sao cho chúng ta theo kịp các nước khác trên hoàn cầu Trong công cuộc kiến thiết đó, nước nhà trông mong chờ đợi ở các em rất nhiều Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không , dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em.
( Trích “ Thư Bác Hồ Gửi cho học sinh nhân ngày khai trường” , 9/1945 )
Câu 1 Xác định phong cách ngôn ngữ của đoạn trích trên (2 điểm).
Câu 2 Chỉ ra phương thức biểu đạt chính được tác giả sử dụng (2 điểm).
Câu 3 Tác giả mong mỏi điều gì ở các em học sinh trong năm học mới? (3 điểm) Câu 4 Nêu tác dụng của phép điệp ở câu văn cuối đoạn.(3 điểm)
2.3.2 KTĐG định kì ( KTĐG bài viết, KTĐG cuối học kì)
Theo quyết định 40, đối với môn ngữ văn, cả năm có 7 bài KT viết định kì.Trong đó, có 2 bài KT cuối học kì; học kì I có 3 bài và học kì II có 2 bài KT viết giữa
kì được quy định rõ về số tiết, tuần, kiểu bài làm văn…Thời lượng mỗi bài KT thường
là 2 tiết ( 90 phút); các bài viết làm ở nhà không giới hạn thời lượng Ở sách giáo
khoa, từng bài KT có nêu ra một số đề mẫu, có hướng dẫn Cuối học kì có bài KTĐG
có tính tổng hợp kiến thức của kì học
Trong thực tế, GV thường ra đề và đáp án “đóng”; đề ra mòn sáo, quen thuộc
Trang 12kiểu như phân tích đoạn thơ, phân tích nhân vật, phân tích tình huống truyện làm cho
HS lười tư duy, lạm dụng bài mẫu trong sách tham khảo hoặc trên mạng; việc xâydựng đáp án đôi lúc không cụ thể, không lập thành văn bản nên việc đánh giá điểm cònchủ quan, không chính xác
Khắc phục tình trạng trên, tổ chúng tôi thiết lập ma trận cho từng bài KT cụ thể,xây dựng đề và đáp án phù hợp Nội dung, kiểu bài KT bám sát chương trình sách giáokhoa và quy định của Bộ Đáp án cụ thể, rõ ràng về kiến thức cần đạt, mức điểm Phầnđánh giá nhận xét, tổ thống nhất đánh giá bài làm ở 3 tiêu chí: kiến thức, kĩ năng, thái
độ
Việc đổi mới KTĐG bài viết nêu trên có tác dụng KT kiến thức cụ thể ( xoáyvào kiến thức trọng tâm), phát huy năng lực tư duy, sáng tạo của HS, khắc phục đượctình trạng chép bài mẫu Việc chấm điểm và nhận xét sâu sát, chính xác giúp HS biếtđược kết quả và có hướng điều chỉnh phương pháp, thái độ học tập, khắc phục lối học
tủ, học vẹt
Đối với KTĐG cuối học kì, khác với KTĐG bài viết ở quy mô đánh giá Theo
đó, vùng kiến thức KT rộng hơn, thời lượng dài hơn, số câu hỏi nhiều hơn, bao gồmcâu hỏi đọc hiểu, nghị luận xã hội, nghị luận văn học…Việc tổ chức KTĐG tiến hànhđồng thời ở khối lớp, tổ chức coi và chấm KT chặt chẽ hơn Việc cắt phách bài chấm
và chấm theo phòng thi giúp cho việc ĐG đều tay, sát đúng hơn…
- Bài kiểm tra định kì.
- Biết cahs làm bài nghị luận xã hội về một tư tưởng đạo lý
- Hình thức: Tự luận
- Thời gian: 45 phút
II MA TRẬN ĐỀ
Trang 13- Xác địnhđược cấutrúc, bốcục bàivăn vàluận đề.
- Xây dựng
thống cácluận điểm cầntriển khaitrong bài viết
- Giải thích,phân tích,chứng minhđược vấn đềnghị luận
- Bàn luận,đánh giá rút
ra được bàihọc nhậnthức vàhành độngđúng, có ýnghĩa giáodục về tưtưởng, tìnhcảm
- Tạo lập mộtvăn bản có tínhhoàn chính vềhình thức và trọnvẹn về nội dung
- Văn viếtmạch lạc, dùng
từ, đặt câu đúngchuẩn chính tả,ngữ nghĩa tiếngViệt
- Có cáchtrình bày, lập ýsáng tạo
Số điểm
Tỉ lệ
Số câu
3.0 đ30%
3.0 đ30%
3.0 đ30%
1.0 đ20%
10 đ100%
1 Đảm bảo cấu trúc, bố cục bài văn:
Bài văn có bố cục hoàn chính, gồm3 phần Mở bài giới thiệu được vấn đề nghị
luận; thân bài triển khai được hệ thống các luận điểm hợp lý; kết bài thâu tóm,
1,0đ
Trang 14khẳng định được vấn đề nghị luận
3.Triển khai hệ thông các luận điểm: HS có thể có nhiều cách trình bày.
Song cần thể hiện được các ý sau đây:
- Giải thích ý nghĩa câu nói:
+ Học tập là hoạt động nhiều khó khăn, thách thức (đi thuyền ngược dòng
nước)
+ Học tập phải nỗ lực để tiến tới (không tiến ắt phải lùi)
- Phân tích chứng minh:
+ Học tập là hoạt động nhiều khó khăn, thách thức:
Tri thức là vô hạn, hiểu biết của con người là có hạn
Học tập cần có nỗ lực thường xuyên, luôn có ý thức vượt khó
Học tập cần có các điều kiện: môi trường, phương tiện, thầy giáo
Học tập luôn phải đối mặt với nhiều áp lực: học bài, chiếm lĩnh tri
thức,thi cử
+ Học tập phải nỗ lực để tiến tới:
Học tập là hoạt động có mục đích, có chương trình, kế hoạch Vì vậy,
để đảm bảo chương trình kế hoạch, mục đích đặt ra, học tập cần phải
+ Để học tập có kết quả, ngoài những yếu tố vật chất, điều kiện, điều quan
trọng là nỗ lực ý chí, sự đam mê Sau đó là phương pháp học tập
+ Phê phán thói lười học, học không có kế hoạch, không có mục đích
4 Đảm bảo tính chỉnh thể bài văn, viết đúng chuẩn chính tả ngữ nghĩa tiếng
Trang 152.3.3 KTĐG cuối năm học:
Trên cơ sở các điểm số, hệ số của từng loại bài KT, cuối học kì có cột ĐG, xếploại Quy tắc ĐG xếp loại này dựa theo quyết định 40 Thoạt nhìn thì đây chỉ là bướctính toán, lấy kết quả để ĐG tổng thể các môn học Ít GV chú ý sử dụng kết quả này để
ĐG quá trình học bộ môn của HS
Tổ chúng tôi xem cột điểm ĐG này là cột điểm tổng kết học kì đối với mỗi HS,mỗi lớp và đối với hiệu quả dạy học bộ môn của GV, của tổ
Trước hết, chúng tôi nhìn vào diễn biến các cột điểm của HS để ĐG diễn trình,thái độ học tập của HS; xem xét sự tiến bộ của HS để khích lệ, sự giảm sút để cảnhbáo, đề ra giải pháp khắc phục Sau đó, dựa vào kết quả phân loại để phân tích nănglực học tập bộ môn của HS, giúp HS điều chỉnh PPHT và định hướng nghề nghiệp
Đối với mỗi GV, sử dụng kết quả phân loại cuối học kì để tự ĐG về chất lượng,hiệu quả của mỗi lớp học, của PPDH đã thực hiện Từ đó, GV có hướng điều chỉnhthích hợp
Đối với tổ bộ môn, kết quả phân loại cuối học kì và cả năm là thông số ĐGquan trọng nhằm ĐG hiệu quả dạy học của toàn tổ; là cơ sở để lựa chọn, bồi dưỡng HS
có năng lực và phụ đạo HS yếu; là một cơ sở để đánh giá GV
VI.Kết quả đạt được :
Có thể nhận thấy kết quả đạt được qua bảng so sánh sau:
KTĐG theo cách làm cũ KTĐG theo cách làm mới
Nội
dung
Nội dung KTĐG mòn sáo, đơn điệu,
chưa bao quát kiến thức của chương
trình
Nội dung KTĐG có tính bao quát cả
3 phần đọc hiểu, Tiếng Việt, Làmvăn
Thời
gian
Thời gian thực hiện KTĐG thường
cố định Hình thức đánh giá đơn
điệu, nặng về tái hiện kiến thức
Thời gian thực hiện KTĐG linh hoạt.Hình thức KTĐG phong phú, hướngvào phát huy năng lực HS
Hiệu
quả
Tác dụng phân hóa HS ít rõ nét;
chưa thật sự kích thích HS học tập tự
Phân hóa HS rõ nét Buộc HS phải
tự giác học tập thường xuyên, phát