Về thực tiễn, việc bào chữa cho người bị buộc tội được các luật sư tích cực tham gia góp phần cải thiện một bước chất lượng hoạt động tố tụng, làm tăng tính dân chủ, công bằng tại các p
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Tăng Quốc Thừa
BÀO CHỮA CHỈ ĐỊNH THEO PHÁP LUẬT
TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2018
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Tăng Quốc Thừa
BÀO CHỮA CHỈ ĐỊNH THEO PHÁP LUẬT
HÀ NỘI - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng của tôi
Các số liệu, tài liệu đƣợc trích dẫn trong luận văn theo nguồn đã công
bố Kết quả nêu trong luận văn này là trung thực và chƣa từng đƣợc công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả
Tăng Quốc Thừa
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ PHÁP LUẬT VỀ BÀO CHỮA CHỈ ĐỊNH 8
1.1.Những vấn đề lý luận về bào chữa chỉ định trong luật tố tụng hình sự 8
1.2 Khái quát về bào chữa chỉ định trong lịch sử pháp luật tố tụng hình sự
Việt Nam 20
Chương 2: THỰC TRẠNG BÀO CHỮA CHỈ ĐỊNH TẠI THÀNH PHỐ
HỒ CHÍ MINH 42
2.1 Kết quả đạt được 42 2.2 Những hạn chế, vướng mắc trong việc bào chữa chỉ định và nguyên nhân 48
Chương 3: CÁC GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM THỰC HIỆN TỐT BÀO CHỮA CHỈ ĐỊNH TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ TẠI THÀNH PHỐ
HỒ CHÍ MINH 57
3.1 Tăng cường triển khai các biện pháp bảo đảm thực hiện tốt quy định của
Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 về bào chữa chỉ định tại thành phố Hồ Chí Minh 57 3.2 Tiếp tục hoàn thiện quy định của pháp luật tố tụng hình sự về bào chữa chỉ định 61 3.3 Các giải pháp khác 64
KẾT LUẬN 76 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 5Bộ luật tố tụng hình sự Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
GCNNBC : Giấy chứng nhận người bào chữa
CQTHTT : Cơ quan tiến hành tố tụng
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU Bảng 2.1: Thống kê số lượng vụ án hình sự do người dưới 18 tuổi thực hiện
trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2012 đến năm 2016 43
Bảng 2.2: Thống kê số lượng bị cáo là người CTN trong tổng số bị cáo bị xét
xử từ năm 2012 đến 2016 tại thành phố Hồ Chí Minh 44
Bảng 2.3: Thống kê số lượng bị cáo thuộc đối tượng bào chữa chỉ định tại
thành phố Hồ Chí Minh 45
Bảng 2.4 Kết quả khảo sát lý do khiến người bào chữa chỉ định có được các
cơ quan tiến hành tố tụng tạo thuận lợi hơn người bào chữa được mời 46
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Quyền được xét xử công bằng thực chất là một tập hợp các bảo đảm tố tụng nhằm bảo đảm quá trình xét xử được công bằng, trong đó bao gồm các khía cạnh như được bình đẳng trước tòa án, được suy đoán vô tội; không bị áp dụng hồi tố; và không bị bỏ tù chỉ vì không hoàn thành nghĩa vụ theo hợp đồng Mỗi bảo đảm này được coi như một quyền con người
Trong những năm vừa qua, việc bảo đảm thực hiện quyền bào chữa nói chung cũng như bào chữa chỉ định đã đạt được những kết quả nhất định Cụ
thể là, về thể chế, hệ thống pháp luật hiện hành đã quy định khá đầy đủ nội
dung, phạm vi của quyền bào chữa cũng như cơ chế bảo đảm thực hiện quyền
này trên thực tế Về thực tiễn, việc bào chữa cho người bị buộc tội được các
luật sư tích cực tham gia góp phần cải thiện một bước chất lượng hoạt động tố tụng, làm tăng tính dân chủ, công bằng tại các phiên tòa, giảm tình trạng oan, sai; cơ chế phối hợp và tạo điều kiện thuận lợi của các CQTHTT trong việc bảo đảm thực hiện bào chữa chỉ định được cải thiện đáng kể Về các bảo đảm của nhà nước, đội ngũ luật sư, trợ giúp viên pháp lý dưới sự quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp không ngừng phát triển cả về số lượng và trình độ chuyên môn, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu bào chữa chỉ định trong tố tụng hình
sự [6, tr 2]
Bên cạnh những kết quả đạt được, việc bào chữa chỉ định vẫn còn tồn tại những hạn chế như quy định của pháp luật chưa kịp thời theo kịp thực tiễn cải cách tư pháp; nhận thức của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng về
vị trí, vai trò của người bào chữa chưa đầy đủ nên hoạt động bào chữa còn những khó khăn nhất định Số lượng luật sư hiện có so với số dân còn thấp với sự chênh lệch khá lớn giữa các vùng, miền
Đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp thể hiện qua các Nghị quyết số NQ/TW về Một số nhiệm vụ trọng tâm Công tác tư pháp trong thời gian tới,
Trang 808-Nghị quyết số 49-NQ/TW về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 cũng như yêu cầu hội nhập quốc tế, Bộ luật hình sự năm 2015 và Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đã được thông qua và có hiệu lực vào ngày 01/01/2018 thể hiện chính sách hình sự của Đảng và nhà nước ta mang tính nhân đạo, hướng thiện, giúp đỡ người phạm tội trở thành người có ích trong xã hội [2] Pháp luật tố tụng hình sự nước ta quy định những trường hợp chỉ định tham gia của người bào chữa chính là một biểu hiện sinh động của việc đề cao quyền con người Sự tham gia chỉ định của người bào chữa không chỉ là việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội mà nhằm bảo vệ công
lý, bảo vệ sự thật khách quan của vụ án Sự tham gia của người bào chữa không phụ vào ý chí của người bị buộc tội đối với những trường hợp đặc biệt theo luật định không làm mất đi quyền bào chữa của họ mà còn là sự bảo đảm
bổ sung cho quyền bào chữa của họ Quy định này là một biểu hiện của giá trị nhân văn cao nhất trong tiến trình lập pháp của nhà nước ta
Từ thực tiễn tham gia bào chữa các vụ án hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh, tác giả nhận thấy quy định của pháp luật TTHS hiện hành đã bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập và trong thực tiễn áp dụng
Do đó, tác giả chọn đề tài: “Bào chữa chỉ định theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tại thành phố Hồ Chí Minh” làm đề tài luận văn
thạc sĩ cho mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Xuất phát từ vai trò quan trọng chế định bào chữa trong TTHS, người bào chữa chỉ định tại Việt Nam trong các vụ án mà pháp luật đòi hỏi phải có người bào chữa Trong khoa học pháp lý TTHS, qua khảo sát cho thấy chưa thấy công trình nghiên cứu cụ thể nào về bào chữa chỉ định trong tố tụng hình
sự, đối với bào chữa nói chung trong tố tụng hình sự thì có một số công trình nghiên cứu đã được công bố như sau:
Trang 9- Đỗ Quang Thái (1998), Bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo
trong tố tụng hình sự Việt Nam, luận văn thạc sĩ Luận văn phân tích về những biện pháp nhằm bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo trong TTHS, còn về bào chữa chỉ định trong TTHS thì luận văn chưa đề cập [34]
- Đào Thị Thu Hương (2009), Sự tham gia bắt buộc của người bào chữa trong tố tụng hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ, luận văn có sự phân tích sâu sắc về việc bào chữa chỉ định trong TTHS, tuy nhiên luận văn chỉ phân tích về quyền và nghĩa vụ của người bào chữa trong trường hợp bào chữa chỉ định mà chưa phân tích sâu sắc về quyền của bị can, bị cáo trong trường hợp bào chữa chỉ định [18]
- Nguyễn Phạm Duy Trang (2007), Sự tham gia người bào chữa trong các giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố vụ án hình sự, Luận văn thạc sị Luận văn tập trung phân tích quyền và nghĩa vụ của của những người bào chữa trong TTHS, cụ thể ở các giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố mà không đề cập đến vấn đề bòa chữa chỉ định trong TTHS [37]
- Vũ Văn Thìn (1996), Người bào chữa trong TTHS, Luận văn thạc sĩ, Luận văn tập trung phân tích về quyền và nghĩa vụ của người bào chữa trong TTHS Đối với bào chữa chỉ định trong TTHS ít đề cập đến [35]
- Phạm Thế Hùng (2017), Hoạt động của Luật sư trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự từ thực tiễn thành phố Hà Nội Luận văn đã làm rõ một số
vấn đề lý luận về hoạt động của luật sư trong giai đoạn điều tra vụ án vụ án hình sự; phân tích được quy định của pháp luật tố tụng hình sự về hoạt động của luật sư trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự và đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động của luật sư trong giai đoạn điều tra vụ án vụ án hình sự ở thành phố Hà Nội [15]
- Hoàng Thị Sơn (2003), Thực hiện quyền bào chữa của bị can, bị cáo trong TTHS, luận án Tiến sĩ Luận án tập trung phân tích về quyền bào chữa
Trang 10trong TTHS của bị can, bị cáo nói chung, luận án cũng có phân tích về những trường hợp bào chữa chỉ định, tuy nhiên vấn đề này chỉ một khía cạnh nhỏ của đề tài [32]
- Ngô Thị Ngọc Vân (2016), “Hoạt động bào chữa của luật sư trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự”, Luận án tiến sĩ luật học, Luận án đã làm
rõ một số vấn đề lý luận về hoạt động bào chữa của luật sư trong giai đoạn xét
xử sơ thẩm vụ án vụ án hình sự; đánh giá được thực trạng hoạt động hoạt động bào chữa của luật sư trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án vụ án hình sự
ở Việt Nam; đồng thời phân tích, chỉ ra một số bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về hoạt động bào chữa của luật sư trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án vụ án hình sự, những vướng mắc trong áp dụng cũng như nguyên nhân của nó Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, luận án
đã đề xuất được một số giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động bào chữa của luật sư trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án vụ án hình sự [44]
- Trường Đại học Luật Hà Nội (2016), Tài liệu Hội thảo khoa học “Nâng cao vai trò của Luật sư trong tố tụng hình sự”, Hà Nội Trong hội thảo, nhiều tác giả cho rằng, vai trò của luật sư trong tố tụng hình sự Việt Nam còn hết sức
mờ nhạt và không thể trở thành đối trọng cân bằng với bên buộc tội [40]
Ngoài ra cũng có một số tác giả nghiên cứu về vấn đề bào chữa chỉ định theo luật TTHS như: Nhóm nghiên cứu của văn phòng luật sư NH Quang & Cộng sự thực hiện trong khuôn khổ của Dự án “Tăng cường Năng lực Hội luật gia Việt Nam” nghiên cứu khảo sát Luật sư chỉ định theo pháp luật TTHS và thực tiễn tại Việt Nam; PGS.TS Phạm Hồng Hải (1999), Đảm bảo quyền bào chữa của người bị buộc tội Nôi dung cuốn sách cũng phân tích những biện pháp nhằm bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội trong
tố tụng hình sự
Nhìn chung, với những đề tài trên của các tác giả chỉ đề cập đến một số khía cạnh cụ thể về quyền bào chữa của bị can, bị cáo, về chức năng bào chữa
Trang 11và người bào chữa trong TTHS, về chế định tham gia bắt buộc của người bào chữa trong TTHS, mà chưa có công trình nghiên cứu một cách khái quát và toàn diện về cả lý luận và thực tiễn về bào chửa chỉ định trong TTHS Việt Nam Do vậy, việc nghiên cứu về bào chữa chỉ định trong TTHS Việt Nam có một ý nghĩa rất quan trong cả về lý luận và thực tiễn
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Từ việc nghiên cứu một vấn đề lý luận chung về bào chữa chỉ định, phân tích, đánh giá, so sánh và tổng hợp với những quy định của pháp luật về bào chữa chỉ định của người bị buộc tội và thực trạng thực hiện bào chữa chỉ định của người bị buộc tội tại thành phố Hồ Chí Minh, tác giả đưa ra những
đề xuất bào đảm thực hiện quyền bào chữa chỉ định của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, nhiệm vụ yêu cầu được đặt ra là:
- Phân tích một số vấn đề lý luận cơ bản về bào chữa chỉ định trong tố tụng hình sự như khái niệm, đặc điểm, nội dung, ý nghĩa và cơ sở của bào chữa chỉ định trong tố tụng hình sự;
- Nghiên cứu, làm rõ quy định của pháp luạt tố tụng hình sự về bào chữa chỉ định trong tố tụng hình sự Việt Nam;
- Nghiên cứu thực tiện thực hiện quy định của BLTTHS năm 2003 về bào chữa chỉ định tại thành Phố Hồ Chí Minh
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của đề tài là lý luận, quy
định của pháp luật về bào chữa chỉ định và thực tiễn bào chữa chỉ định tại
thành phố Hồ Chí Minh
Trang 12Phạm vi nghiên cứu:
Về nội dung: Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận và quy định của BLTTHS năm 2003 trong mối liên quan với BLTTHS năm 2015, chỉ ra những bất cập trong quy định của BLTTHS năm 2003 về bào chữa chỉ định
đã được khắc phục trong quy định của BLTTHS năm 2015 và những bất cập chưa được khắc phục cần tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiện; Ngoài ra, những văn bản pháp lý quốc tế liên quan trực tiếp đến đề tài nghiên cứu cũng được
đề cập nhằm làm sáng tỏa mức độ vận dụng của pháp luật Viện Nam so với chuẩn mực quốc tế
Về Thời gian: Luận văn nghiên cứu thực trạng thực hiện quy định của BLTTHS năm 2003 về bào chữa chỉ định trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
từ năm 2012 đến năm 2016 tại thành phố Hồ Chí Minh
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành luận văn, tác giả đã vận dụng các quan điểm, phương pháp luận của chủ nghĩa Mác Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về pháp luật, về quyền con người nói chung, quyền công dân trong xã hội, phát huy dân chủ, bảo đảm thực hiện quyền công dân có hiệu quả
Ngoài ra, luận văn còn sử dụng một số phương pháp khác như: phương pháp phân tích, tổng hợp để phân tích các quy định của pháp luật liên quan đến bào chữa chỉ định và sau đó tổng hợp lại những vấn đề đã phân tích để có cái nhìn để tổng quan về vấn đề; phương pháp thống kê nhằm cung cấp số liệu thực tiễn làm cho luận văn có tính thuyết phục cao; phương pháp trao đổi
ý kiến với chuyên gia với mục đích tham khảo thêm những quan điểm của những người nghiên cứu pháp luật tăng thêm tính khách quan cho việc nghiên cứu nhựng quy định của pháp luật về bào chữa chỉ định trong quá khứ đạt kết quả cao; phương pháp kết hợp giữa lý luận với thực tiễn để tạo cơ sở cho việc
đề xuất những kiến nghị có tính khoa học và phù hợp với thực tiễn
Trang 136 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn góp phần bổ sung và làm rõ hơn những vấn đề lý luạn về bào chữa chỉ định trong tố tụng hình sự;
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong việc sữa đổi, bổ sung BLTTHS, đồng thời có ý nghĩa như một đề xuất mang tính khoa học góp phần hoàn thiện chế định bào chữa chỉ định trong TTHS Việt Nam Luận văn cũng có thể làm tài liệu tham khảo cho việc học tập, nghiên cứu, giảng dạy những vấn đề liên quan đến bào chữa chỉ định; cho những người tiến hành tố tụng và đặc biệt là cho các luật sư khi tham gia tố tụng
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm ba chương:
Chương 1 Những vấn đề lý luận và lịch sử pháp luật về bào chữa chỉ định
Chương 2 Thực trang bào chữa chỉ định tại thành phố Hồ Chí Minh Chương 3 Các giải pháp đảm bảo thực hiện bào chữa chỉ định tại
thành phố Hồ Chí Minh
Trang 14
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ PHÁP LUẬT
VỀ BÀO CHỮA CHỈ ĐỊNH 1.1 Những vấn đề lý luận về bào chữa chỉ định trong luật tố tụng hình sự
1.1.1 Khái niệm về bào chữa chỉ định
Vấn đề quyền con người và bảo đảm quyền con người là những vấn đề
quan trọng trong mỗi quốc gia và là biểu thị của một xã hội văn minh Các vấn đề này được ghi nhận trong hầu hết các văn bản pháp lý về quyền con người Cụ thể một số văn bản quốc tế như: Tuyên ngôn thế giới về quyền con người, công ước châu Mỹ về quyền con người, công ước Châu Phi về quyền con người và công dân… Các bản Hiến pháp của Việt Nam năm từ trước đến nay điều có quy định Nhà nước có nghĩa vụ bảo đảm quyền bào chữa của
người bị buộc tội trong quá trình tố tụng hình sự
Trong các giai đoạn khác nhau của lịch sử, Nhà nước luôn có những quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ của công dân Một trong các hình thức thực hiện quyền công dân được Nhà nước bảo đảm thực hiện chính là quyền được bảo vệ mình trước cơ quan pháp luật, trong đó có quyền bào chữa Quyền bào chữa được ghi nhận trong BLTTHS là cần thiết, giúp CQTHTT giải quyết vụ án được khách quan và tránh được việc làm oan người vô tội Hơn nữa, việc tranh tụng công bằng giữa bên buộc tội (Nhà nước) với bên gỡ tội (Người bị buộc tội, Người bào chữa) trong quá trình giải quyết vụ án hình
sự sẽ tạo ra cơ chế thuận lợi cho hoạt động TTHS được tiến hành có hiệu quả
Đó cũng là một trong những cơ sở giúp Tòa án giải quyết vụ án được chính xác
Xung quanh khái niệm quyền bào chữa, hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau Cụ thể như:
Trang 15- Quan điểm thứ nhất cho rằng, quyền bào chữa là tổng hòa các hành vi
tố tụng đối với việc bác bỏ sự buộc tội và xác định bị can không có lỗi hoặc làm giảm trách nhiệm của bị can [8, tr.14]
- Quan điểm thứ hai cho rằng, quyền bào chữa được hiểu rộng hơn, nó không chỉ dừng lại ở việc bác bỏ sự buộc tội và xác định bị can không có lỗi hay làm giảm trách nhiệm của bị can mà nó còn được thể hiện trong cả việc bảo đảm các quyền và lợi ích được pháp luật bảo vệ của bị can kể cả khi chúng không trực tiếp liên quan đến việc làm giảm nhẹ trách nhiệm của bị can trong vụ án [7, tr.18]
- Quan điểm thứ ba cho rằng, quyền bào chữa không chỉ thuộc về bị can, bị cáo mà còn thuộc về người bị tinh nghi phạm tội, người bị kết án, người bào chữa, bị đơn dân sự và người đại diện hợp pháp của họ [11, tr.20]
- Quan điểm thư tư cho rằng, quyền bào chữa trong tố tụng hình sự là tổng hòa các hành vi tố tụng do người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị kết
án thực hiện trên cơ sở phù hợp với quy định của pháp luật nhằm phủ nhận một phần hay toàn bộ sự buộc tội của CQTHTT, làm giảm nhẹ hoặc loại trừ trách nhiệm của mình trong vụ án hình sự [8, tr 29-30]
- Quan điểm thứ năm cho rằng, trong TTHS, bị can, người bị tình nghi cũng như những công dân tham gia trong TTHS khác, trong đó có cả người bị hại đều cần tới sự bảo vệ các lợi ích có thể bị xâm hại [11, tr 17]
Quan điểm thứ sáu cho rằng, “không chỉ có bị cáo mà cả người bị hại cũng cần đến việc bào chữa Nhân chứng, giám định viên và cả những người khác cũng vậy, nếu quyền lợi của họ bị xâm hại” [18, tr 107]
- Quan điểm thứ bảy cho rằng: “Quyền bào chữa là tổng hòa các hành
vi tố tụng hướng tới việc bãi bỏ sự buộc tội và xác định bị can không có lỗi hoặc nhằm làm giảm trách nhiệm của bị can” [11, tr 67] Quyền này được
hiểu rộng, nó không chỉ dừng lại ở việc bãi bỏ sự buộc tội và xác định bị can
Trang 16không có lỗi hay làm giảm trách nhiệm của bị can mà nó còn được thể hiện trong việc đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp được pháp luật bảo vệ của
bị can kể cả khi chúng không trực tiếp liên quan đến việc làm giảm trách nhiệm của bị can trong vụ án Quan điểm này quá hẹp và không chính xác vì một người tham gia tố tụng với tư cách bị can khi cơ quan có thẩm quyền có
đủ căn cứ xác định họ là người thực hiện hành vi phạm tội và ra quyết định khởi tố bị can Trong tố tụng hình sự, khái niệm bị can chỉ tồn tại cho đến thời điểm trước khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử sau đó vụ án được tiếp tục thì tư cách là bị cáo Nếu thừa nhận quan điểm về quyền bào chữa của bị can thì vô hình chung đã tước đi quyền bào chữa của bị cáo, trong giai đoạn họ là người bị buộc tội thể hiện ở việc truy tố của VKS và Tòa án xem xét có tôi hay không có tội
- Quan điểm thứ tám cho rằng: “Quyền bào chữa không thuộc về bị can, bị cáo mà còn thuộc về người bị tình nghi, người bị kết án, người bào chữa, bị đơn dân sự và nguyên đơn dân sự” [30, tr 40]
Hiện nay, khái niệm về quyền bào chữa trong TTHS được hiểu rất khác nhau và thực tế nó cũng được quy định khác nhau trong TTHS của các nước Qua việc nghiên cứu các quan điểm khác nhau về quyền bào chữa cũng như những quy định về quyền bào chữa trong pháp luật TTHS của một số nước, tác giả hoàn toàn đống ý với quan điểm cho rằng, quyền bào chữa là quyền của người bị buộc tội Tại Điều 11 BLTTHS 2003 quy định về đảm bảo
quyền bào chữa như sau: “Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa” Như vậy, theo quy định của BLTTHS
2003 thì người bị buộc tội là người bị tạm giữ, bị can, bị cáo Họ thực chất là một người, nhưng ở từng giai đoạn tố tụng khác nhau thì có tên gọi khác nhau Trên cơ sở này, BLTTHS 2015 quy định theo tinh thần Hiến pháp 2013
về việc mở rộng người bị buộc tội còn bao gồm cả người bị bắt và ngoài việc
họ có quyền được nhận sự trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật
Trang 17Như vậy: Quyền bào chữa của người bị buộc tội có thể hiểu là tổng thể các quyền mà pháp luật quy định, cho phép họ có thể sử dụng nhằm bác bỏ một phần hay toàn bộ sự buộc tội và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
Quyền bào chữa là một chuẩn mực bắt buộc [16] trong quyền được xét
xử công bằng [17], có tính chất quan trọng được pháp luật nhân quyền quốc tế
và tập quán quốc tế bảo vệ Quyền bào chữa được ghi nhận trong các công ước Quốc tế và có hiệu lực ràng buộc về nghĩa vụ pháp lý với các quốc gia thành viên
Bản chất pháp lý của quy định bào chữa chỉ định là xuất phát từ yêu cầu bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự Đối với một số trường hợp một số trường hợp đặc biệt như mức khung hình phạt là tử hình; bị can, bị cáo
là người chưa thành niên; người có nhược điểm về thể chất và tinh thần thì Nhà nước đã chủ động tạo ra sự đối trọng giữa hai bên: bên buộc tội và bên
gỡ tội để bảo đảm quyền bào chữa cho người bị buộc tội được thực hiện quyền của họ
Chủ thể của quyền bào chữa chỉ định bao gồm những đối tượng sau:
- Bị can, bị cáo về theo khung hình phạt có mức cao nhất là tử hình được quy định tại Bộ luật hình sự;
- Bị can, bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất hay tâm thần
Chủ thể thực hiện bào chữa chỉ định là Luật sư, bào chữa viên nhân dân và người đại diện của người bị buộc tội và trợ giúp viên pháp lý
“Chỉ định” theo nghĩa phổ thông là cấp hoặc người có thẩm quyền quyết định chọn hay cử ra để làm một việc Trong tố tụng hình sự Việt Nam thì, Trong những trường hợp nói trên, bếu bị can, bị cáo không mời người bào chữa thì cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát hoặc Tòa án phải yêu cầu Đoàn luật
sư phân công Văn phòn luật sư cử người bào chữa cho họ hoặc đề nghi Ủy
Trang 18ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của mặt trận cư người bào chữa cho thành viên của tổ chức mình [23, Đ 57]
Bào chữa chỉ định xuất phát từ quy định của pháp luật TTHS về quyền bào chữa của người bị buộc tội
Theo quan điểm của nhà làm luật Việt Nam, người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo được quyền sử dụng tất cả những biện pháp nhằm chống lại, bác bỏ, phủ nhận lời buộc tội của CQĐT, Viện kiểm sát, Tòa án hoặc để giảm nhẹ TNHS của mình trong vụ án Theo PGS.TS Nguyễn Thái Phúc thì, thông thường sự tham gia của luật sư phụ thuộc vào ý chí của bị can, bị cáo, người bị tạm giữ Họ có thể trực tiếp mời hoặc ủy quyền cho người thân của mình mời luật sư bào chữa Tuy nhiên, trong một số trường hợp đặt biệt luật quy định sự tham gia của người bào chữa vào trong vụ án không phụ thuộc vào ý chí của bị can, bị cáo [20]
Trong một số trường hợp đặc biệt luật quy định sự tham gia của người bào chữa trong vụ án là bắt buộc như: Bị can, bị cáo về tội mà BLHS quy định phạt tù cao nhất đến 20 năm, tù chung thân, tử hình; hoặc người bị buộc tội là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần, người có nhược điểm về thể chất mà không thể tự bào bữa Khi các chủ thể này hoặc người đại diện hợp pháp của họ không mời người bào chữa cho họ hoặc đề nghị Ủy ban mặt trận tổ quốc cử người bào chữa cho thành viên của tổ chức mình Trong lý luận gọi đây là trường hợp người bào chữa bắt buộc, còn trong thực tiễn gọi đây là bào chữa chỉ định
Các trường hợp bào chữa chỉ định trước hết, người bị buộc tội phải được bảo đảm đầy đủ quyền bào chữa như tất cả những người bị buộc tội khác, tức là vẫn có quyền tự bào chữa và nhờ người khác bào chữa, và các CQTHTT phải đảm bảo cho họ được thực hiện quyền này Tuy nhiên, sự tham gia của người bào chữa trong các trường hợp bào chữa chỉ định có những điểm khác biệt so với trường hợp thông thường ở những điểm sau:
Trang 19- Cơ sở pháp lý đầu tiên để người bào chữa tham gia vào vụ án là sự chủ động thực hiện nghĩa vụ đảm bảo quyền bào chữa của người bị buộc tội
từ phía CQTHTT bằng cách yêu cầu hoặc đề nghị Đoàn luật sư hoặc Ủy ban mặt trận tổ quốc cử người bào chữa;
- Quyết định quản lý của Đoàn luật sư hoặc Ủy ban mặt trận tổ quốc là
cơ sở pháp lý tiếp theo để người bào chữa tham gia vào vụ án chứ không phải
là sự thỏa thuận giữa bị can, bị cáo với người bào chữa
- Bào chữa chỉ định trong TTHS là quy định rất nhân đạo và tiến bộ của BLTTHS nước ta Quy định của luật về các trường hợp bào chữa chỉ định là nhằm bảo vệ một cách tốt nhất quyền của người bị buộc tội và cũng được xem
như là: “sự nhân đôi đảm bảo quyền bào chữa của họ” [20, tr.41] Quyền bào
chữa không chỉ cần thiết cho người bị buộc tội mà còn cần thiết và có lợi cho chính các CQTHTT, cho nhiệm vụ xác định sự thật khách quan của vụ án, xét
xử đúng người đúng tội, không để lọt tội phạm và không là oan người vô tội Bào đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội là nguyên tắc của TTHS và là nghĩa vụ của các CQTHTT phải thực hiện trên thực tế
Bào chữa chỉ định trong tố tụng thể hiệnsự đảm bảo tuyệt đối quyền có người bào chữa của người bị buộc tội từ CQTHTT theo quy định của pháp luật Đây là một phương thức bảo đảm quyền bào chữa; không là trường hợp đương nhiên được đảm bảo mà chỉ áp dụng cho một số đối tượng theo quy định pháp luật
Từ sự phân tích trên có thể đưa ra khái niệm bào chữa chỉ định như sau:
Bào chữa chỉ định trong tố tụng hình sự là hoạt động của người bào chữa cho người bị buộc tội trong những trường hợp do pháp luật quy định, được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng yêu cầu hoặc đề nghị Đoàn luật sư, Trung tâm trợ giúp pháp lý của nhà nước, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận cử người bào chữa cho thành viên của tổ chức mình
Trang 20Đặc điểm bào chữa chỉ định
- Bào chữa chỉ định trong tố tụng hình sự là một trong những hình thức bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội
Trong tố tụng hình sự, Người bào chữa do người bị buộc tội hoặc người đại diện hợp pháp của họ lựa chọn Ngoài ra, trong một số trường hợp, nếu bị can, bị cáo hoặc người đại diện hợp pháp của họ không mời người bào chữa thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải đảm bảo có người bào chữa tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người bị buộc tội Trong những trường hợp này nếu không có sự tham gia của người bào chữa là
- Trong trường hợp bào chữa chỉ định thì người bị buộc tội không phải trả chi phí cho việc bào chữa
Theo quy định của Thông tư liên tịch số 191/2014/TTLT của Bộ Tư pháp và Bộ tài chính hướng dẫn về kinh phí để chi trả thù lao và các khoản chi phí cho luật sư tham gia tố tụng theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng thì: Kinh phí để chi trả thù lao và các khoản chi phí cho luật sư tham gia
tố tụng theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng được bố trí trong dự toán ngân sách hàng năm của các cơ quan tiến hành tố tụng Cơ quan tố tụng nào yêu cầu luật sư bào chữa thì lập dự toán và trực tiếp chi trả cho luật sư, cụ thể:
Trang 21Cơ quan điều tra yêu cầu cử luật sư tham gia vụ án ở giai đoạn điều tra, thì cơ quan điều tra có trách nhiệm chi trả cho luật sư đối với những hoạt động của luật sư trong giai đoạn điều tra; Viện Kiểm sát nhân dân có trách nhiệm chi trả cho luật sư đối với những hoạt động của luật sư ở giai đoạn truy tố; Toà án nhân dân có trách nhiệm chi trả cho luật sư đối với những hoạt động của luật
sư ở giai đoạn xét xử
1.1.2 Cơ sở và ý nghĩa của hoạt động bào chữa chỉ định trong tố tụng hình sự
1.1.2.1 Cơ sở của việc bào chữa chỉ định trong tố tụng hình sự
Thứ nhất, xuất phát từ tầm quan trọng của việc bảo vệ quyền con
người Nhân quyền là những quyền tự nhiên của con người và không bị tước
bỏ bởi bất cứ ai và bất cứ chính thể nào.Trong mỗi quốc gia, quyền công dân
là một quyền cơ bản của con người, là sự thể hiện cụ thể của quyền con người Các quyền của công dân bao gồm: Quyền tự do, dân chủ về chính trị; Quyền về kinh tế-xã hội; Quyền dân sự
Thứ hai, bản chất của nhà nước CHXHCN Việt Nam là nhà nước của
dân, do dân và vì dân vì thế quyền công dân rất được coi trọng Chính vì thế Nhà nước bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân là rất cần thiết Người bị buộc tội trong tố tụng hình sự có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người bào chữa cho mình
Thứ ba, xuất phát từ các nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự như
nguyên tắc bảo đảm quyền có người bào chữa; nguyên tắc bảo đảm tranh tụng trong tố tụng hình sự; nguyên tắc suy đoán vô tội Đây là những nguyên tắc
có liên quan chặt chẽ với việc bào chữa chỉ định, giúp cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng giải quyết vụ án một cách khách quan, đồng thời bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội
Thứ tư, trong hoạt động TTHS, chức năng bào chữa tồn tại song song
với chức năng buộc tội như một nhu cầu tất yếu khách quan Quyền bào chữa
Trang 22được xem như là phương tiện pháp lý cần thiết để người bị tạm giữ, bị can, bị cáo bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.Thừa nhận quyền bào chữa là thừa nhận tính tranh tụng trong hoạt động tố tụng Càng mở rộng phạm vi quyền bào chữa thì càng mở rộng tính tranh tụng và kết quả tương ứng là hạn chế khả năng làm oan sai người vô tội trong xét xử
1.1.2.2 Ý nghĩa của hoạt động bào chữa chỉ định trong tố tụng hình sự Thứ nhất, thực hiện quy định về bào chữa chỉ định trong TTHS là thể
hiện của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, con người luôn được đặt vào vị trí trung tâm của chính sách phát triển kinh tế - xã hội Bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo nói chung và nhất là đối với bị can, bị cáo thuộc các trường hợp bào chữa chỉ định theo quy định của BLTTHS là nội dung quan trọng của chính sách vì con người của Đảng và Nhà nước ta Thực hiện quy định về bào chữa chỉ định trong TTHS còn thể hiện của tính nhân văn trong chính sách hình sự, quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo luôn luôn được bảo đảm trong quá trình tố tụng, ngay cả khi họ không có điều kiện mời người bào chữa
Thứ hai, quy định về quyền bào chữa chỉ định trong TTHS là bảo vệ
quyền con người, quyền công dân trong TTHS Quyển bào chữa và đảm bảo quyền này của người bị tạm giữ, bị can bị cáo là người chưa thành niên, người
có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc trường hợp bị can, bị cáo có khung hình phạt cao nhất là tử hình theo quy định của BLHS năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009 hay khung hình phạt từ 20 năm tù, chung thân hoặc
tử hình theo BLHS năm 2015 mang ý nghĩa chính trị sâu sắc, nó là một trong những nguyên tắc hiến định quan trọng Trên cơ sở của Hiến pháp năm 2013, BLTTHS quy định cụ thể hơn nữa quyền bào chữa và những bảo đảm cần thiết cho bị can, bị cáo nói chung và bị can, bị cáo trong những trường hợp bắt
Trang 23buộc có sự tham gia của người bào chữa nòi riêng Đó là những quy định tại
Điều 11 BLTTHS năm 2003: “CQĐT,VKS,TA có nhiệm vụ bảo đảm cho người bị tạm giam, bị can, bị cáo không mời người bào chữa thì CQĐT,VKS,TA phải yêu cầu Đoàn luật sư phân công luật sư cử người bào chữa cho họ” Ngoài ra, quyền bào chữa còn ghi nhận cụ thể cơ chế bảo đảm
thực hiện quyền bào chữa của bị can, bị cáo theo khoản 2 Điều 57 BLTTHS năm 2003 chứng tỏ quyền dân chủ của công dân và cơ chế tự do dân chủ ngày càng phát triển và mở rộng ở nước ta, đặc biệt trong thời kỳ mở cửa và hội nhập, các quyền của công dân ngày càng được tôn trọng và bảo đảm
Thứ ba, thực hiện quy định về bào chữa chỉ định trong TTHS thể hiện
chính sách nhân đạo của Nhà nước ta trong cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung và quá trình giải quyết vụ án hình sự nói riêng Cụ thể là:
- Bảo đảm công bằng xã hội đối với các trường hợp bào chữa chỉ định, thực tiễn tố tụng cho thấy các CQTHTT khi thu thập chứng cứ thường chú trọng đến việc thu thập chứng cứ buộc tội mà xem nhẹ đến chứng cứ gỡ tội cho bị can, bị cáo Vì vậy, việc pháp luật quy định cơ chế pháp lý đảm bảo sự
có mặt của người bào chữa trong các trường hợp bào chữa chỉ định là nhằm tạo thế cân bẳng trong việc đưa ra chứng cứ, quan điểm giữa “bên buộc tội”
và “bên gỡ tội”, giúp CQTHTT xác định sự thật của vụ án một cách khách quan và toàn diện Một bản án công bằng phải là kết quả của việc xem xét đầy
đủ chứng cứ của các bên trong các giai đoạn của quá trình giải quyết vụ án
- Thực hiện quy định về bào chữa chỉ đinh là thực hiện dân chủ trong hoạt động TTHS Bảo đảm quyền tự do dân chủ của công dân là một trong những nội dung và cũng là mục đích xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta Hoạt động tố tụng hình sự là một hoạt động của Nhà nước liên quan rất chặt chẽ với quyền tự do, dân chủ của công dân đó cũng là nơi các quyền tự do dân chủ của công dân có nguy cơ dễ bị xâm hại nhất
Trang 24- Thực hiện quy định về bào chữa chỉ định trong TTHS là góp phần vào việc giáo dục và nâng cao ý thức pháp luật của người bị buộc tội, những người tiến hành và tham gia tố tụng nói riêng cũng như quần chúng nhân dân nói chung Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mình một cách tốt nhất, người bị buộc tội phải biết mình được pháp luật trao những quyền năng tố tụng gì Điều này thực chất là một trong những hình thức nâng cao kiến thức pháp luật cho người bị buộc tội Mặt khác, nó có tác dụng nhắc nhở những người THTT thường xuyên phải nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ để đáp ứng nhu cầu trong công tác
Thứ tư, thực hiện quy định về bào chữa chỉ định trong TTHS là góp
phần tích cực vào việc bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa Bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội, đặc biệt là người bị buộc tội theo các trường hợp quy định của BLTTHS là thể hiện sự tôn trọng việc bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, nâng cao trách nhiệm của CQTHTT trong quá trình giải quyết vụ án hình sự Nó không chỉ góp phần vào việc xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội mà còn góp phần vào việc hạn chế những vi phạm pháp luật của các CQTHTT, tránh được tình trạng oan, sai đáng tiếc có thể xảy ra làm tổn hại uy tín của các CQTHTT và giảm lòng tin của nhân dân đối với sự công minh của pháp luật
Thứ năm, quy định về bào chữa chỉ định trong TTHS là góp phần vào
việc quy định sự thật khách quan của vụ án, bảo đảm trong quá trình tố tụng không để lọt kẻ phạm tội, không làm oan người vô tội, bảo đảm điều tra, truy
tố, xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; thực hiện quy định về bào chữa chỉ định là thực hiện nguyên tắc cơ bản của luật TTHS như: Nguyên tắc đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng hình sự, nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân; Bảo đảm quyền bình đẳng
Trang 25của mọi công dân trước pháp luật; Bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân; Bảo hộ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của công dân; Bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội
Thứ sáu, thực hiện quyền bào chữa chỉ định là thực hiện chức năng cơ bản của pháp luật TTHS: “Chức năng bào chữa” Bảo đảm quyền bào chữa
của người bị buộc tội là khẳng định sự song song tồn tại hai chức năng cơ bản không thể thiếu được của pháp luật TTHS bên cạnh chức năng xét xử, đó là chức năng buộc tội và chức năng bào chữa Hai chức năng này không chỉ tồn tại song song mà nó còn đối lập và chế ước nhau tạo ra một cơ chế tranh tụng
có hiệu quả nhất trong hoạt động tố tụng nhằm giải quyết đúng đắn vụ án hình
sự Việc quy định các trường hợp bào chữa chỉ định chính là bảo đảm cho việc thực hiện chức năng bào chữa trong TTHS
Như đã trình bày, các đối tượng được quy định tại khoản 2 Điều 57 BLTTHS năm 2003 là những đối tượng đặc biệt mà việc bảo đảm quyền bào chữa cho họ có một ý nghĩa rất quan trọng về chính trị, xã hội Chính vì thế, pháp luật TTHS đã có sự quan tâm thỏa đáng về vấn đề này Điều này hoàn toàn phù hợp với các quyền dân sự và chính trị Theo quy định tại điểm d khoản 3, khoản 4 Điều 14 Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị ngày 16/1/2/1966, có hiệu lực kể từ ngày 23/3/1976, thì “Trong quá trình xét
xử về một tội hình sự, mỗi người điều có quyền đòi hỏi một cách hoàn toàn
bình đẳng những đảm bảo tối thiểu sau đây: “…Được có mặt trong khi xét xử
và được tự bào chữa hoặc được sự giúp đỡ về pháp lý do mình chọn; trong trường hợp do lợi ích của công lý thì phải trả tiền nếu không có đủ điều kiện trả;… Tố tụng áp dụng đối với những người chưa thành niên phải xem xét tới
độ tuổi của họ và mục đích khuyên khích họ trở về với đời sống xã hội…”
Theo Công ước về quyền trẻ em ngày 20/11/1989, có hiệu lực kể từ
ngày 02/09/1990, tại điểm d Điều 37 thì “Tất cả trẻ em bị tước đoạt tự do sẽ
có quyền đòi hỏi được nhanh chóng hưởng sự giúp đỡ khác…”
Trang 26Chế định bào chữa chỉ định không chỉ chứa đựng sự nhân đạo mà còn góp phần nâng cao vai trò, trách nhiệm của các CQTHTT Vấn đề này đã được thể hiện rất rõ ràng trong BLTTHS năm 2003 tại các Điều 57, 305… Để thực hiện tốt chế định này các CQTHTT phải có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi để bị can, bị cáo và người đại diện hợp pháp của họ thực hiện được các quyền mà pháp luật đã dành cho họ Có như vậy, thì nguyên tắc “Bảo đảm quyền bào chữa” mới thực sự phát huy tác dụng và mang lại những lợi ích thiết thực cho người bị buộc tội
1.2 Khái quát về bào chữa chỉ định trong lịch sử pháp luật tố tụng
Tuy nhiên BLTTHS năm 2015 vẫn chưa có hiệu lực thi hành
1.2.1 Quy định về bào chữa chỉ định trước khi ban hành Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988
Căn cứ vào quá trình hình thành và phát triển của nghề luật sư tại nước
ta trong giai đoạn từ năm 1987 đến trước tháng 9 năm 1945, có thể nói việc bảo vệ quyền lợi của người bị tòa án xét xử đã được công nhận, thực thi, tồn tại và phát triển ở nước ta bởi người Pháp Sau khi cuộc cánh mạng tháng 8 năm 1945 thành công, về cơ bản, chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa vẫn duy trì hoạt động xét xử tại Tòa án – trong đó có sự bảo đảm cho sự tham gia bào chữa cho người bị xét xử - theo các quy định về tố tụng của chế độ trước
Trang 27Điều này có thể thấy rõ trong sắc lệnh số 33c ngày 13 tháng 09 năm 1945 do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký về việc thành lập Tòa án quân sự khi mà kể cả trong
việc “xử tất cả những người nào vi phạm vào một việc gì có phương hại đến một nền độc lập của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa” (Điều II) tại các Tòa
án quân sự thì “Bị cáo có thể tự bào chữa hoặc nhờ người khác bênh vực cho họ” (Điều V)
Sau đó, tại sắc lệnh số 13 ngày 24/01/1946 quy định về cách tổ chức các tòa án và các ngạch thẩm phán đã có quy định đối với các vụ án có khung hình phạt nghiêm khắc (đại hình) mà trước tòa Thượng thẩm một bị can không có ai bênh vực thì chánh án sẽ cử một luật sư để bào chữa cho người
đó (Điều 44, Mục B – Xử các việc hình, Tiết thứ 4 – Tòa thượng thẩm) Như vậy, chỉ khi xét xử phúc thẩm các vụ án “đại hình” đã được xét xử sơ thẩm ở tòa án cấp tỉnh (đệ nhị cấp), bị can mới có quyền được bào chữa chỉ định về việc đảm bảo cho quyền này là do chánh án quyết định Và sắc lệnh số 21 ngày 14/02/1946 và việc đảm bảo cho quyền này là do Chánh án quyết định, khi mở rộng thẩm quyền xét xử của các tòa án quân sự sang “xử cả những tội phạm khác do sắc lệnh ấn định sau” (Điều 3) thì quyền bào chữa vẫn được đảm bảo như sau: “Bị cáo có quyền tự bênh vực lấy hoặc nhờ luật sư hoặc nhờ người khác bênh vực cho” (Điều 5) Xét trong bối cảnh ra đời của Sắc lệnh này có thể khẳng định rằng dù trong hoàn cảnh cấp thiết đến đâu thì quyền bào chữa của bị cáo vẫn được Nhà nước Việt Nam bảo đảm ở một gốc
độ nhất định
Sắc lệnh số 69/SL ngày 18/06/1949 là văn bản mở rộng diện người bào chữa cho bị can bị xét xử tại Tòa án thường và Tòa án đặc biệt xử cả việc tiểu hình lẫn việc đại hình không chỉ giới hạn là luật sư mà có thể là một công dân khác nhưng người đó phải được chánh án thừa nhận (Điều 1 của Sắc lệnh số
69/SL) Quan trọng hơn là “nếu không có ai bênh vực, ông chánh án có thể tự
Trang 28mình hay theo yêu cầu của bị can, cử một người ra bào chữa cho bị can”
(Điều 2 Sắc lệnh số 69/SKL)
Như vậy, bào chữa chỉ định ở giai đoạn xét xử sơ thẩm đã trở thành một quy định cụ thể nhưng cũng mới chỉ dừng lại ở mức độ tùy nghi mà khi còn tùy thuộc vào ý chí của ông Chánh án Chỉ ở giai đoạn xét xử phúc thẩm các vụ án có tính chất đặc biệt nghiêm trọng thì bào chữa chỉ định mới chính thức trở thành một quy định bắt buộc phải đảm bảo
Không chỉ dừng lại ở việc đảm bào quyền bào chữa của người bị buộc tội tại phiên tòa mà việc bảo vệ quyền lợi của người bị bắt đã được quy định trong sắc lệnh số 40 ngày 29/03/1946 về việc bảo vệ quyền tự do cá nhân Cụ thể, là tại Điều 11 quy định đối với việc bắt giam đương sự để đảm bảo cho việc điều tra xét xử thì người bị bắt có quyền đề nghị cấp phúc thẩm xem xét (được gọi là nghị quyết) áp dụng biện pháp tạm giam dối với mình Ngoài ra, quy định này còn mở rộng phạm vi người bào chữa, cho phép bị cáo có thể nhờ vợ hay chồng, cha mẹ, con cháu, anh em ruột, chú bác, cô dì… bào chữa
cho mình “Hội đồng phúc thẩm sẽ báo ngay cho người đương sự biết ngày hội đồng sẽ xét đơn kháng nghị (đối với nghị định giam) Người đó có quyền gửi bày trầm tình hoặc nhờ vợ hay chồng, cha mẹ, ông bà, con cháu, anh em ruột, chu bác, cô dì, anh em thúc bá hay luật sư đại diện bào chữa cho mình”
Những văn bản pháp luật đầu tiên nêu trên của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa quy định về bào chữa là cơ sở pháp lý để bảo vệ và cũng cố các quyền của công dân, trong đó có quyền bào chữa của người bị buộc tội trước Tòa án ở các giai đoạn tố tụng khác nhau Có thể nói, mặc dù vẫn còn bị hạn chế ở các mức độ khác nhau về giai đoạn tố tụng, chủ thể thực thi nhưng đây chính là những quy định đầu tiên về bào chữa chỉ định trong tố tụng hình sự nước ta
Những văn bản pháp lý nêu trên là một trong những tiền đề quan trọng
để đến ngày 09/11/1946, Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa chính
Trang 29thức ban hành bản hiếp pháp đầu tiên của nước ta, trong đó khẳng định một
cách chính thức về quyền được bào chữa bằng quy định tại Điều 67 “các phiên tòa phải công khai, trừ những trường hợp đặc biệt Nguời bị cáo, được quyền tự bào chữa lấy hoặc mướn luật sư” Từ đây, việc pháp điển hóa hoạt
động bào chữa chỉ định chính thức trở thành nhu cầu đảm bảo cho quyền công dân và tính hợp hiến của quy định pháp luật trong thời kỳ sau
Sau sự kiện toàn quốc kháng chiến chống sự tái xâm lược của thực dân Pháp, nước ta trải qua một thời kỳ tồn tại nhiều hệ thống pháp luật tư pháp khác nhau tùy thuộc vào từng miền (Bắc, Trung, Nam) và từng giai đoạn khác nhau (chiến tranh, hòa bình) nên khó xác định một cách chính thức các quy định pháp lý về đảm bảo quyền bào chữa chỉ định Đến sau khi hòa bình lập lại vào năm 1945 và sau đó là thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc thì hệ thống pháp luật ở nước ta mới chính thức bước vào thời kỳ hoàn thiện hóa một cách toàn diện, trong đó có vấn đề đảm bào quyền bào chữa Một văn bản quan trọng đã được thông qua tại Hội nghị tư pháp toàn quốc ngày 20/06/1946 Đó là “Đề án về quyền bào chữa của bị cáo”, đặc biệt trong đề án
đã ghi nhận các quyền cụ thể của người bào chữa khi tham gia tố tụng Ngoài
ra, ngày 24/10/1956, Bộ tư pháp đã có thông tư số 2225/HCCP quy định một
số vấn đề, trong đó có hướng dẫn về việc bàn giao cáo trạng cho bị cáo và tất
cả người bào chữa chậm nhất là 03 ngày trước khi mở phiên tòa Quy định này là cần thiết nhằm tạo điều kiện cho bị cáo và người bào chữa có đủ thời gian chuẩn bị bào chữa tại phiên tòa
Kế thừa tinh thần của Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959 tiếp tục khẳng định và mở rộng hơn về việc đảm bảo cho quyền công dân khi thay
thế hẳn chương VI về “Cơ quan tư pháp” với chỉ 7 Điều quy định về hệ
thống tòa án thành chương VIII với 12 Điều quy định về hệ thống Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân nhằm phục vụ cho việc xử lý các hành vi
Trang 30phạm tội Đồng thời, khẳng định một bước tiến về kỹ thuật lập pháp khi qui
định gọn gàng, súc tích hơn rằng “Quyền bào chữa của người bị cáo được đảm bảo” (Điều 101)
Chi tiết hơn, văn bản pháp lý quan trọng nhất xác lập chế định về bào chữa chỉ định đã được ban hành là Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 1960,
trong d91 xác định “ngoài việc tự bào chữa, bị cáo có thể nhờ người bào chữa cho mình Bị cáo có thể nhờ người công dân hoặc đoàn thể nhân dân giới thiệu hoặc được Tòa án nhân dân chấp nhận bào chữa cho mình Khi cần thiết, Tòa án nhân dân chỉ định người bào chữa cho bị cáo” Tuy nhiên, theo
các nhà nghiên cứu về mô hình tố tụng hình sự thì trong giai đoạn này, hệ thống pháp luật nước ta chịu ảnh hưởng rất lớn từ pháp của Liên Xô và các nước XHCN nên có sự hạn chế về vấn đề tranh tụng trong tố tụng hình sự nên vai trò của người bào chữa mà cụ thể hơn là đội ngủ luật sư tương đối hạn chế Do đó, quy định về việc bào chữa chỉ định cũng chỉ dừng lại ở mức độ tùy nghi như trước
1.2.2 Quy định về bào chữa chỉ định trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988
Sau năm 1975, khi chính thức thống nhất đất nước, nhà nước ta đã ban hành Hiến pháp 1980, trong đó xác nhận đảm bảo về quyền bào chữa và bổ sung về thể chế hoạt động của các luật sư là “tổ chức luật sư” Đồng thời, Việt Nam cũng bắt đầu quá trình gia nhập các Công ước quốc tế, trong đó có Công ước về Quyền chính trị và Dân sự (ICCPR) năm 1982 để bắt đầu quá trình phát triển, hội nhập và đảm bảo cho quyền con người Triển khai thực thi các quy định của Hiến pháp 1980, ngày 18/12/1987, Hội đồng nhà nước (có cơ chế hoạt động như Ủy ban thường vụ quốc hội hiện nay) đã ban hành pháp lệnh về tổ chức hành nghề luật sư và bắt đầu xây dựng quá trình phát triển ngành luật TTHS lên một tầm cao mới
Trang 31BLTTHS đầu tiên của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Quốc hội thông qua ngày 28/06/1988 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1989 Đây là một bước tiến lớn trong lịch sử lập pháp TTHS nói chung
và chế độ bào chữa chỉ định nói riêng ở nước ta BLTTHS năm 1988 đã dần trở thành văn bản pháp lý cao nhất chính thức quy định về vấn đề bào chữa
chỉ định khi nêu rõ tại khoản 2 Điều 37: “ 2 Trong những trường hợp sao đây, nếu bị can, bị cáo hoặc người đại diện hợp pháp của họ không mời người bào chữa thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án phải yêu cầu Đoàn luật sư cử người bào chữa cho họ:
a) Bị can, bị cáo về tội theo khung hình phạt có mức cao nhất là tử hình được quy định tại Bộ luật hình sự
b) Bị can, bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất và tinh thần
Trong những trường hợp quy định tại điểm a và b, khoản 2 Điều này, bị can, bị cáo và người đại diện hợp pháp của họ vẫn có quyền yêu cầu thay đổi hoặc từ chối người bào chữa”
Có thể nói, mặc dù vẫn chưa xác lập một khái niệm chính xác về bào chữa chỉ định, nhưng Điều 37 BLTTHS năm 1988 này đã chính thức quy định
về yêu cầu bảo đảm cho việc bào chữa chỉ định trong những trường hợp cụ thể trong các quá trình thực thi các giai đoạn TTHS chính thống đối với một công dân Nó đã chấm dứt một thời kỳ tồn tại các quy định mang tính tùy nghi về bào chữa chỉ định trước đó Kể từ thời điểm này, bào chữa chỉ định đã được phát triển trên cơ sở toàn thể các văn bản pháp lý trong hệ thống pháp luật nước ta
Trong các bản Hiến pháp, vấn đề quyền bào chữa tiếp tục được xác lập
và khẳng định được đảm bảo Hiến pháp năm 1992 và nghị quyết số 51/2001/QH10 của Quốc hội ngày 25/12/2001 sửa đổi, bổ sung Hiến pháp
Trang 321992 quy định: “Quyền bào chữa của bị cáo được đảm bảo Bị cáo có thể tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa cho mình Tổ chức luật sư được thành lập để giúp bị cáo và các đương sự khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình và bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa”
Văn bản cụ thể nhất thể hiện sự ra đời chính thức của định nghĩa khái niệm luật sư vào ngày 18/12/1987, Hội đồng Nhà nước đã thông qua pháp lệnh tổ chức luật sư Pháp lệnh cụ thể hóa quy định của Hiến pháp, tạo cơ sở cho việc hình và phát triển của đội ngũ luật sư Ở Việt Nam có thể nói từ khi thành lập nước cho đến nay, đây là văn bản pháp luật tương đối hoàn chỉnh quy định về tổ chức hoàn động luật sư Pháp lệnh đã chứa đựng những quy định cơ bản liên quan đến tổ chức và hoạt động luật sư, phù hợp với điều kiện đất nước ta lúc bây giờ
Để cụ thể hóa và hướng dẫn thi hành pháp lệnh tổ chức luật sư, Hội đồng bộ trưởng (nay là chính phủ) đã ban hành quy chế Đoàn luật sư kèm theo nghị định 15/HĐBT ngày 21/02/1989, Bộ tư pháp ban hành Thông tư 313/TT/LS ngày 15 tháng 04 năm 1989 hướng dẫn thực hiện quy chế Đoàn luật sư
Theo pháp lệnh tổ chức luật sư năm 1987 và các văn bản hướng dẫn, bên cạnh hoạt động bào chữa, luật sư luật sư có thể thực hiện tư vấn pháp luật
và các dịch vụ pháp lý khác Công dân và tổ chức nhờ luật sư giúp đỡ phải trả tiền thù lao, trừ trường hợp đặc biệt theo quy định của Quy chế Đoàn luật sư được miễn Pháp lệnh cũng quy định rõ điều kiện, tiêu chuẩn trở thành luật
sư, đạo đức nghề nghiệp, quyền và nghĩa vụ của luật sư khi tham gia tư vấn cũng như khi tham gia tố tụng hình sự Với sự ra đời của Pháp lệnh tổ chức luật sư, hoạt động của luật sư nói chung và hoạt động của bào chữa nói riêng
có hướng đi mới; vị trí, vai trò, chức năng được xác định rõ ràng, cụ thể hơn
Đó cũng là một trong những điều kiện góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của luật sư
Trang 331.2.3 Quy định về bào chữa và bào chữa chỉ định trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003
Sự ra đời của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 đánh dấu một bước ngoặc lớn trong quá trình phát triển của ngành luật tố tụng hình sự nói riêng
và hệ thống pháp luật nước ta nói chung.Với những quy định rất tiến bộ thể hiện xu thế đổi mới và quá trình dân chủ hóa mọi mặt của đời sống xã hội do Đảng khởi xướng, Bộ luật tố tụng hình sự là một công cụ đảm bảo cho quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự ở nước ta theo một hướng mới: vừa kiên quyết triệt để đấu tranh với tội phạm, vừa bảo vệ hiệu quả quyền và lợi ích hợp pháp của công dân
Mới đây nhất, Hiến pháp năm 2103 tiếp tục khẳng định vai trò của quyền bào chữa đã chính thức quy định về việc công dân có quyền được bào chữa trong mọi giai đoạn tố tụng hình sự trước khi có bản án có hiệu lực pháp luật đối với họ Tại khoản 4 Điều 31 Hiến pháp năm 2013 đã quy định rất cụ
thể: “Người bị bắt giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa” Nói cách khác, Hiến pháp
mới đã mở rộng phạm vi các đối tượng được bảo đảm quyền bào chữa, không chỉ bị cáo mới có quyền bào chữa như các bản Hiến pháp củ quy định, mà ngay khi một người bị bắt, đã phát sinh quyền bào chữa, hoặc nhờ luật sư bào chữa đối với họ
Quyền tự bào chữa và nhờ người khác bào chữa của một công dân đã được quy định khá đầy đủ và cụ thể trong hệ thống pháp luật của Nhà nước,
đã được xác định từ nguyên tắc cơ bản trong Hiến phap cho đến những quy định cụ thể trong BLTTHS và các văn bản hướng dẫn thi hành Tiếp tục phát huy thành quả ban đầu của BLTTHS năm 1988, BLTTHS năm 2003 tiếp tục hoàn chỉnh hệ thống các quy định đảm bảo cho quyền bào chữa của công dân
1.2.3.1 Quy định về bào chữa
Trang 34* Quy định về chủ thể có quyền bào chữa (người bị buộc tội)
Để trở thành người bào chữa trong TTHS cần phái có hai điều kiện, đó
là điều kiện về chủ thể và điều kiện về hình thức Về chủ thể họ phải là một trong những người bào chữa hợp pháp như luật sư, người đại diện hợp pháp của người bị buộc tội hoặc bào chữa viên nhân dân Riêng đối với bào chữa chỉ định, người bào chữa còn phải có thêm một điều kiện đặc biệt nửa là họ phải là chủ thể đặc biệt như quy định tại khoản 2 Điều 57 BLTTHS năm
2003 Về hình thức, họ phải được người buộc tội mời hay CQTHTT yêu cầu hoặc đề nghị Đoàn Luật sư, Trung tâm trợ giúp pháp lý, UBMTTQ Việt Nam phân công, cử đồng thời phải được CQTHTT cấp giấy chứng nhận hoặc giấy đăng ký người bào chữa trong vụ án
* Quy định về chủ thể bào chữa - người bào chữa (Điều 56 BLTTHS năm 2003)
Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 BLTTHS năm 2003 thì người bào chữa gồm có: Luật sư, người đại diện hợp pháp và bào chữa viên nhân dân
Thứ nhất, luật sư là người có đủ điều kiện hành nghề theo quy định của
pháp luật và tham gia hoạt động tố tụng, theo yêu cầu của cá nhân, tổ chức nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ theo quy định của pháp luật [27, Đ.2] Như vậy, luật sư là người bào chữa chuyên nghiệp phải có đủ các điều kiện sau đây thì có thể gia nhập Đoàn luật sư: Là công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam hoặc ở nước ngoài được Việt Nam công nhận; có phẩm chất đạo đức tốt; không là cán bộ công chức theo quy định của pháp luật về cán bộ công chức
Thứ hai, người đại diện hợp pháp của người bị buộc tội cũng có thể
tham gia với tư cách là người bào chữa để bào vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị buộc tội
Trang 35Thứ ba, bào chữa viên nhân dân cũng có thể tham gia tố tụng với ưt
cách là người bào chữa Hoạt động bào chữa của bào chữa viên nhân dân không phải là chuyên nghiệp mà chỉ mang tính chất nghiệp dư.từ khi BLTTHS năm 2003 có hiệu lực thi hành đến nay vẫn chưa có văn bản nào hướng dẫn thi hành hoạt động của bào chữa viên nhân dân
* Quy định về quyền và nghĩa vụ của người bào chữa
Người bào chữa tham gia TTHS với nhiệm vụ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị buộc tội người bào chữa cùng một lúc phải thực hiện hai nhiệm vụ, đó là nhiệm vụ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội và nhiệm vụ tôn trọng sự thật, bảo vệ pháp luật Thông thường thì giữa người bào chữa và người bị buộc tội mặc nhiên hình thành một hợp đồng
ủy thác, trong đó người bị buộc tội là người ủy thác cho người bào chữa quyền sử dụng mọi biện pháp do pháp luật quy định để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình Người bào chữa nhận sự ủy thác đó là nghĩa vụ làm tròn trách nhiệm đối với người bị buộc tội [40, tr 23] Nhưng trong trường hợp bào chữa chỉ định thì mối quan hệ ủy thác không chỉ giữa hai chủ thể nói trên mà còn có sự xuất hiện của chủ thể thứ ba là các cơ quan tiến hành tố tụng
Về cơ bản thì người bào chữa trong bào chữa chỉ định cũng vẫn chỉ được sử dụng những biện pháp bào chữa do pháp luật quy định chứ không phải bằng bất cứ biện pháp nào và để thực hiện nhiệm vụ của mình khi bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị buộc tội, người bào chữa có những quyền tố tụng theo quy định của pháp luật Tuy nhiên, trong bào chữa chỉ định, đã và đang tồn tại quan điểm cho rằng cần phải xem các quyền của người bào chữa đối với những trường hợp tố tụng đặc biệt này đã chuyển hóa thành nghĩa vụ của người bào chữa Các quyền của người bào chữa theo quy định của BLTTHS cụ thể như sau:
Trang 36- Người bào chữa có quyền tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can hoặc
từ khi có quyết định tạm giữ trong các trường hợp bắt người trong trường hợp khẩn cấp; bắt người phạm tội quả tang hoặc đang truy nã Trong các trường hợp cần phải đảm bảo bào chữa chỉ định, để có thể thực hiện được quyền này trân thực tế vào đúng thời điểm quy định, đòi hỏi các CQTHTT phải thực hiện đúng trách nhiệm của mình trong việc thông báo cho người thân của người bị tạm giữ về việc bắt người; giải thích rõ để người bị tạm giữ, người bị buộc tội, người đại diện hợp pháp của họ hiểu về quyền nhờ người khác bào chữa để họ kịp thời mời người bào chữa
- Người bào chữa có quyền có mặt khi hỏi cung bị can và trong các hoạt động điều tra khác, nếu được ĐTV đồng ý thì được hỏi bị can; có quyền
đề nghị CQĐT báo trước về thời gian và địa điểm hỏi cung bị can để có mặt khi hỏi cung bị can;
- Người bào chữa có quyền xem các biên bản về hoạt động tố tụng có
sự tham gia của mình và các quyết định tố tụng liên quan đế người mà mình bào chữa
- Người bào chữa có quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch;
- Người bào chữa có quyền thu thập tài liệu, tình tiết liên quan đến việc bào chữa từ người bị buộc tôi;
- Người bào chữa có quyền gặp người bị buộc tội đang bị tạm giam;
- Người bào chữa được đọc hồ sơ vụ án và ghi chép những điều cần thiết sau khi kết thúc điều tra;
- Người bào chữa có quyền khiếu nại quyết định CQTHTT, khiếu nại đối với hoạt động của ĐTV, VKS;
- Người bào chữa có quyền tham gia xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa; quyền kháng cáo bản án và quyết định của Tòa án
Trang 37Quy định về nghĩa vụ của người bào chữa chỉ định:
Nghĩa vụ của người bào chữa trong những trường hợp bào chữa chỉ định cũng như đối với các trường hợp thực hiện bào chữa thông thường khác
và được được quy định tại BLTTHS năm 2003 như sau:
- Người bào chữa có nghĩa vụ sử dụng mọi biện pháp do pháp luật quy định để làm sáng tỏa những tình xác định người bị buộc tội vô tội, những tình tiết giảm nhẹ TNHS của người bị buộc tội;
- Người bào chữa có nghĩa vụ giao cho CQĐT, VKS, Tòa án những tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án mà mình thu thập được;
- Người bào chữa có nghĩa vụ giúp người bị buộc tội về mặt pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ
- Người bào chữa có nghĩa vụ không được từ chối bào chữa cho người
bị buộc tội mà mình đảm nhận bào chữa;
- Người bào chữa có nghĩa vụ tôn trọng sự thật và pháp luật;
- Người bào chữa không được tiết lộ điều tra mà mình biết được khi thực hiện việc bào chữa;
- Người bào chữa có nghĩa vụ có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án
* Quy định về lựa chọn và thay đổi người bào chữa
- Căn cứ quy định tại Điều 57, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, người bào chữa do người bị tạm giữ, bị can, bị cáo hoặc người đại diện hợp pháp của họ lựa chọn Trong những trường hợp sau đây, nếu bị can, bị cáo hoặc người đại diện hợp pháp của họ không mời người bào chữa thì cơ quan điều tra, viện kiểm sát hoặc tòa án phải yêu cầu đoàn luật sư phân công văn phòng luật sư cử người bào chữa cho họ hoặc đề nghị Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của Mặt trận, cử người bào chữa cho thành viên của tổ chức mình:
a) Bị can, bị cáo về tội theo khung hình phạt có mức cao nhất là tử hình được quy định tại Bộ luật Hình sự;
Trang 38b) Bị can, bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất Trong các trường hợp quy định tại điểm a và điểm b, khoản 2 điều này, bị can, bị cáo và người đại diện hợp pháp của họ vẫn có quyền yêu cầu thay đổi hoặc từ chối người bào chữa
- Do đó, trong trường hợp bị can chưa thành niên, người đại diện hợp pháp của bị can không mời người bào chữa thì cơ quan tiến hành tố tụng phải yêu cầu đoàn luật sư phân công văn phòng luật sư cử người bào chữa cho họ Tuy nhiên, bị can, bị cáo và người đại diện hợp pháp của họ vẫn có quyền yêu cầu thay đổi hoặc từ chối người bào chữa
- Theo quy định tại điểm c 1, tiểu mục c, mục 3, phần II, Nghị quyết 03/2004/NQ-HĐTP ngày 2-10-2004 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao về hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ nhất
“Những quy định chung” của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 thì trước khi
mở phiên tòa, bị can, bị cáo, người đại diện hợp pháp của họ có yêu cầu thay đổi hoặc từ chối người bào chữa thì người có yêu cầu phải làm văn bản, trong
đó cần ghi rõ lý do yêu cầu thay đổi hoặc từ chối người bào chữa Trường hợp
họ trực tiếp đến Tòa án yêu cầu thay đổi hoặc từ chối người bào chữa thì phải lập biên bản ghi rõ lý do của yêu cầu thay đổi hoặc từ chối người bào chữa và người có yêu cầu phải ký tên hoặc điểm chỉ vào biên bản
- Văn bản về yêu cầu thay đổi hoặc từ chối người bào chữa phải được lưu vào hồ sơ vụ án Thẩm phán được phân công làm chủ tọa phiên tòa căn cứ vào khoản 2 và khoản 3, Điều 56 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, hướng dẫn tại mục 1, phần II của nghị quyết này để xem xét, quyết định chấp nhận hoặc không chấp nhận Nếu không chấp nhận thì phải thông báo bằng văn bản cho người yêu cầu biết, trong đó cần nêu rõ căn cứ của việc không chấp nhận Nếu chấp nhận thì yêu cầu đoàn luật sư phân công văn phòng luật
sư cử người khác bào chữa cho bị can, bị cáo hoặc đề nghị Ủy ban Mặt trận
Trang 39Tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của Mặt trận, cử bào chữa viên nhân dân khác bào chữa cho thành viên của tổ chức mình
1.2.3.2 Quy định về bào chữa chỉ định
Mặc dù BLTTHS đã quy định rất cụ thể nhưng trên thực tế thì hầu như đối với các trường hợp quy định tại điểm a,b khoản 2 Điều 57 BLTTHS 2003 điều không được CQĐT yêu cầu ĐLS cử người bào chữa thực sự được tham gia từ giai đoạn điều tra nên người bào chữa không có cơ hội để thực hiện các quyền của mình như quyền có mặt khi hỏi cung bị can và có mặt trong các hoạt động điều tra khác [3, tr 2] Thực tế này có thể nói rằng người bào chữa chỉ tiếp xúc với hồ sơ và chứng cứ do CQĐT đã thu thập được chứ chưa có cơ hội để thu thập chứng cứ ngoài những tài liệu, những tình tiết có sẵn
Đánh giá quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về bào chữa và bào chữa chỉ định
Các quy định của BLTTHS năm 2003 đã tạo cơ sở pháp lý hữu hiệu cho các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo quy định của pháp luật, hạn chế oan, sai và bỏ lọt tội phạm, bảo đảm tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng, đặc biệt là người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bào chữa, bảo
đảm tính minh bạch, khách quan trong tố tụng hình sự
Việc tham gia của tổ chức hành nghề luật sư, các trung tâm trợ giúp pháp lý vào hoạt động bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người
bị buộc tội trong các vụ án hình sự ngày càng tăng về số lượng và chất lượng, góp phần bảo đảm yêu cầu dân chủ, bình đẳng, khách quan của hoạt động tố tụng hình sự
Tuy nhiên, qua nghiên cứu những quy định của BLTTHS năm 2003 về
bào chữa, trong đó có bào chữa chỉ định cho thấy còn một số hạn chế sau:
+ Quy định diện người bào chữa còn hẹp, không bao gồm Trợ giúp viên pháp lý Quy định về Bào chữa viên nhân dân chưa cụ thể nên chưa phát
Trang 40huy tác dụng trong thực tiễn Quy định về người đại diện hợp pháp của người
bị tạm giữ, bị can, bị cáo không cụ thể, rõ ràng nên thực tiễn áp dụng chưa thống nhất Quy định cấp giấy chứng nhận cho người bào chữa theo từng giai
đoạn tố tụng là không cần thiết, rườm rà về thủ tục, lãng phí thời gian, giấy tờ
+ Quy định quyền và nghĩa vụ của người bào chữa chưa bảo đảm để người bào chữa thực hiện tốt nhiệm vụ gỡ tội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của người bị buộc tội
+ Quy định người bào chữa được tham gia vào một số hoạt động điều tra chưa cụ thể nên chưa tạo điều kiện thuận lợi cho họ trong quá trình tham
+ Quy định về quyền của người bào chữa gặp mặt người bị tạm giữ, bị
can, bị cáo đang bị tạm giam chưa cụ thể nên gặp nhiều khó khăn trong thực tế
+ Thiếu quy định về các trường hợp người bào chữa được quyền chủ động đề xuất người làm chứng, chứng cứ, cũng như triệu tập những người tham gia tố tụng khác đến phiên tòa [48]
Những bất cập, thiếu sót trên trong BLTTHS năm 2003 đã được khắc
phục trong quy định của BLTTHS năm 2015 Cụ thể là, BLTTHS năm 2015
xây dựng một chương mới để điều chỉnh vấn đề này với những nội dung sửa
đổi, bổ sung chủ yếu sau đây [51]:
- Mở rộng diện người được bảm đảm quyền bào chữa: BLTTHS năm
2003 chỉ quy định 03 diện người mới có quyền bào chữa gồm (người bị tạm
giữ, bị can, bị cáo) Để phù hợp với Hiến pháp năm 2013, ngoài 03 đối tượng được bảo đảm quyền bào chữa như hiện hành, BLTTHS năm 2015 bổ sung