“ Hoàn thiện vận dụng thủ tục phân tích kiểm toán các khoản mục doanh thu và giá vốn hàng bán trong kiểm toán báo cáo tài chính do công ty TNHH Dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán AASC thực hiện
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Trong sự phát triển bùng nổ của nền kinh tế thì giới hạn trong hoạt độngkinh tế đã thực sự vượt xa biên giới của một quốc gia, chính vì vậy cũng xuấthiện nhiều yêu cầu cho sự minh bạch hóa các thông tin tài chính Hệ thốngchuẩn mực kế toán ra đời làm căn cứ cho việc xây dựng các thông tin tàichính thống nhất Kiểm toán chính là hoạt động xác minh và bày tỏ ý kiến củaKTV về tính trung thực và hợp lý của các Bảng khai tài chính dựa trên hệthống chuẩn mực Hoạt động kiểm toán là một hoạt động cần thiết, đóng vaitrò quan trọng trong nền kinh tế, giúp các nhà quản lý, những người quan tâmđến tính minh bạch của các bảng khai tài chính có được cái nhìn đúng đắn vềtình hình tài chính cũng như hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị, để từ
đó có các quyết định đúng đắn trong quản lý và đầu tư
Kiểm toán báo cáo tài chính luôn là lĩnh vực chiếm tỷ trọng lớn nhấttrong hoạt động kiểm toán Song đây cũng chính là lĩnh vực khó khăn và chứađựng nhiều rủi ro nhất trong hoạt động kiểm toán Ưu cầu về tính trung thực
và hợp lý đòi hỏi KTV phải có được những phương pháp kiểm toán thích hợp
để vừa mang lại chất lượng cao cho hoạt động kiểm toán, đồng thời cũng đemlại lợi ích kinh tế cao Trong số các phưong pháp mà KTV đang sử dụng thìthủ tục phân tích là một thủ tục vừa đơn giản, vừa mang lại hiệu quả cao vàtiết kiệm được nhiều thời gian cũng như chi phí song các bằng chứng thu thậpđược luôn đầy đủ và có tính thuyết phục cao Doanh thu và giá vốn hàng bánluôn là các khoản mục quan trọng của báo cáo tài chính vì nó thể hiện kết quảkinh doanh của doanh nghiệp trong cả một thời kỳ Mặt khác giữa doanh thu
và giá vốn cũng có mối liên hệ mật thiết và logic với nhau, chính vì vậy khikiểm toán khoản mục này sẽ có liên quan trực tiếp đến khoản mục kia Đây
Trang 2chính là yếu tố phù hợp nhất cho việc vận dụng thủ tục phân tích khi thực hiệnkiểm toán các khoản mục này.
Trong qúa trình thực tập tại Công ty TNHH Dịch vụ Tư vấn Tài chính
Kế toán và Kiểm toán AASC, được tiếp cận với thực tế em đã nhận thức đượcvai trò quan trọng của việc vận dụng thủ tục phân tích vào trong quá trìnhkiểm toán, đặc biệt là khi kiểm toán các khoản mục doanh thu và giá vốn hàng
bán trong kiểm toán báo cáo tài chính Chính vì vậy em đã chọn đề tài “ Hoàn thiện vận dụng thủ tục phân tích kiểm toán các khoản mục doanh thu và giá vốn hàng bán trong kiểm toán báo cáo tài chính do công ty TNHH Dịch
vụ Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán AASC thực hiện”
Bài viết của em được chia thành 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về công ty TNHH Dịch vụ Tư vấn Tài chính
Kế toán và Kiểm toán AASC
Chương 2: Thực trạng vận dụng thủ tục phân tích kiểm toán khoản mục doanh thu và giá vốn hàng bán trong kiểm toán báo cáo tài chính do công ty TNHH Dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán AASC thực hiện
Chương 3: Nhận xét và kiến nghị về việc vận dụng thủ tục phân tích kiểm toán khoản mục doanh thu và giá vốn hàng bán trong kiểm toán báo cáo tài chính do công ty TNHH Dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán AASC thực hiện
Em xin trân thành cảm ơn đến thầy cô giáo trong khoa kế toán đặc biệt
là cô giáo Th.s Tạ Thu Trang và các anh chị trong phòng Kiểm toán II củacông ty TNHH Dịch vụ tư vấn Tài chính, Kế toán và Kiểm toán (AASC) đãgiúp em hoàn thành khóa luận này
Trang 3CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY TNHH DỊCH VỤ TƯ VẤN TÀI CHÍNH KẾ TOÁN VÀ KIỂM TOÁN (AASC)
1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của công ty kiểm toán AASC
Công ty TNHH Dịch vụ Tư vấn tài chính kế toán và kiểm toán có tên
giao dịch quốc tế là Auditing and accounting Financial Consultancy Service Company, gọi tắt là AASC Trụ sở chính đặt tại số 1, Lê Phụng Hiểu, Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội AASC là một trong hai tổ chức kiểm toán
đầu tiên và lớn nhất tại Việt Nam hoạt động lập độc trong lĩnh vực dịch vụ kếtoán, kiểm toán, và tư vấn tài chính, thuế Là một trong những công ty Kiểmtoán đầu tiên của Việt Nam, chính vì vậy có thể nói lịch sử hình thành và pháttriển của Công ty Kiểm toán AASC đã gắn liền với sự phát triển chung củangành Kiểm toán tại Việt Nam
Có thể chia lịch sử hình thành và phát triển của AASC gắn liền với cácmốc thời gian đáng chú ý như sau:
- Ngày 13 tháng 5 năm 1991: Công ty AASC chinh thức được thành lậptheo Quyết Định số 164 TC/QĐ/TCCB của bộ trưởng bộ Tài chính với tên
ban đầu là Công ty Dịch vụ kế toán tên giao dịch tiếng Anh là Accounting Service Company – ASC Ngày 14 tháng 9 năm 1991 Công ty ASC chính
thức hoạt động Ban đầu Công ty vẫn thuộc sở hữu của Bộ Tài Chính
- Tháng 3 năm 1992 mở chi nhánh tại Thành phố Hồ Chí Minh
- Tháng 4 năm 1993 mở các chi nhánh tại Vũng Tàu và Đà Nẵng
Trong cùng ngày 13 tháng 5 năm 1991, Bộ tài chính đã ra hai quyếtđịnh thành lập hai công ty, một là Công ty Dịch vụ kế toán ( là tiền thân củaCông ty AASC sau này) và hai là Công ty Kiểm toán Việt Nam-VACO Hai
Trang 4vụ kế toán có trách nhiệm phụ trách cung cấp các dịch vụ chuyên về lĩnh vực
kế toán Do đó trong những ngày đầu này, Công ty chủ yếu chú trọng vào cáclĩnh vực kế toán như:
+ Hướng dẫn các doanh nghiệp áp dụng chế độ, thể lệ tài chính kế toáncủa nhà nước phù hợp với hoạt động của từng loại doanh nghiệp
+Giúp các doanh nghiệp xây dựng và thực hiện các mô hình tổ chức bộmáy kế toán và tổ chức công tác kế toán, về nghiệp vụ kế toán như mở sổ, ghi
sổ kế toán, lập bảng cân đối kế toán lập và phân tích báo cáo quyết toán theoquy định của nhà nước
+Tiến hành các dịch vụ chỉ dẫn về Pháp lệnh Kế toán và Thống kê: chỉdẫn, giải thích cung cấp các văn bản pháp quy về tổ chức kế toán, các văn bảnhướng dẫn về nghiệp vụ tài chính, kế toán, thống kê…theo yêu cầu của kháchhàng
+Cung cấp các thông tin về kinh tế tài chính, các mẫu biểu in sẵn về tàichính kế toán theo qui định của nhà nước…
Ngày 14 tháng 9 năm 1993, Bộ trưởng bộ tài chính đã ban hành Quyết089+Định số 639/TC/QĐ/TCCB, cho phép Công ty Dịch vụ Kế toán triển khai
thêm lĩnh vực dịch vụ kiểm toán và đổi tên thành “Công ty Dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán”- AASC Sự ra đời chình thức của AASC
không phải chỉ đơn thuần là một yếu tố chủ quan, mà là gắn liền với cả mộtgiai đoạn phát triển và đổi mới kinh tế của đất nước, bởi vì trong giai đoạn nàyViệt Nam đang dần chuyển đổi cổ phần hóa doanh nghiệp, đó chính là lý do
mà nền kinh tế cần có vai trò quan trọng của kiểm toán độc lập, mặt khác cùngvới sự lớn mạnh về nhân lực và trình độ của cán bộ nhân viên rõ ràng AASChoàn toàn có thể cung cấp và phát triển lĩnh vực kiểm toán song song với sựtồn tại của VACO Cũng từ đó đến nay, AASC đã không ngừng lớn mạnh và
Trang 5phát triển với nhiều loại hình dịch vụ được cung cấp như dịch vụ kiểm toán,
kế toán, tư vấn tài chính, xác định giá trị doanh nghiệp, tư vấn cổ phần hóa,dịch vụ công nghệ thông tin và dịch vụ đào tạo hỗ trợ tuyển dụng
AASC cũng chính là tiền thân của nhiều công ty kiểm toán sau này, ví
dụ như Công ty Tư vấn tài chính và Kiểm toán Sài Gòn ( AFC Sài Gòn) chính
là chi nhánh của AASC tại Sài Gòn tách ra vào tháng 3 năm 1994, hay Công
ty Tư vấn và Kiểm toán( A&C) chính là chính là sự kết hợp giữa chi nhánhcông ty AASC tại Đà Nẵng và chi nhánh công ty VACO tại Đà Nẵng Do nhucầu mạnh mẽ của nền kinh tế Công ty tiếp tục mở rộng phạm vi hoạt động củamình bằng việc lập thêm các chi nhánh và các văn phòng đại diện tại một sốtỉnh, thành phố:
+ Ngày 13 tháng 3 năm 1997 Công ty mở một văn phòng đại diện mớitại Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 5 năm 1998 văn phòng này được nângcấp nên thành chi nhánh Công ty tại thành phố Hồ Chí Minh
+ Ngày 14 tháng 4 năm 1995, Công ty đã thành lập chi nhánh tại ThanhHóa
+ Năm 1998 mở chi nhánh tại Quảng Ninh và đến nay thì chi nhánhnày vẫn còn hoạt động nhưng chỉ ở dưới hình thức là một văn phòng đại diện
+ Năm 2003 Văn phòng đại diện tại Hải Phòng được nâng cấp lênthành chi nhánh, nhưng từ 31 tháng 12 năm 2004 chi nhánh này đã không cònhoạt động nữa
Một mốc thời gian quan trọng trong sự phát triển của AASC đó chính
là vào Tháng 7/2007, Công ty đã chuyển đổi từ Công ty Dịch vụ Tư vấn Tàichính Kế toán và Kiểm toán là doanh nghiệp Nhà nước trực thuộc bộ Tài
chính thành Công ty kiểm toán độc lập với tên gọi Công ty TNHH Dịch vụ
Trang 6này Công ty đã chia tách ra làm ba Công ty con tại thành phố Hồ Chí Minh,
Hà Nội và Thanh Hóa Trong đó, trụ sở chính tại Hà Nội lấy tên là Công tyTNHH Dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán Và tháng 7 năm
2005, AASC đã chính thức trở thành thành viên của tổ chức INPACT quốc tế,đây chính là một sự ghi nhận về sự phát triển và hội nhập vững mạnh củaAASC trên con đường phát triển hướng tới sự công nhận của thế giới Hiệnnay AASC có hần 200 cán bộ, KTV, thẩm định viên và kỹ thuật viên đượcđào tạo đại học và trên đại học chuyên nghành tài chính, ngân hàng, kế toán-kiểm toán, kỹ thuật xây dựng, công nghệ thông tin và thẩm định giá ở trongnước và ở nước ngoài, trong đó có gần 40 KTV được cấp chứng chỉ KTV cấpnhà nước, 4 thẩm định viên về giá cấp nhà nước và 15 Tiến sĩ, Thạc sĩ đangtheo học cao học, ACCA cùng hàng trăm cộng tác viên bao gồm các Giáo sư,tiến sĩ, chuyên gia đầu ngành với kinh nghiệm và trình độ chuyên môn dàydạn chắc chắn sẽ đáp ứng những yêu cầu cao nhất của khách hàng
1.2 Đặc điểm hoạt động kinh doanh của công ty
vụ chuyên ngành nào có thể thực hiện được Các dịch vụ công ty cung cấpbao gồm:
Dịch vụ kiểm toán;
Dịch vụ kế toán;
Dịch vụ công nghệ thông tin;
Trang 7 Dịch vụ tư vấn tài chính, kế toán, thuế;
Dịch vụ đào tạo và hỗ trợ tuyển dụng;
Xác định giá trị doanh nghiệp và tư vấn cổ phần hóa
Như đã nói ở trên, dịch vụ kiểm toán chính thức được Công ty đưa vàohoạt động từ năm 1993, và từ đó đến nay, kiểm toán được xem là một trongnhững hoạt động truyền thống của AASC Cùng với sự phát triển vững mạnhtrong hơn 15 năm qua, nhất là trong giai đoạn khi Công ty còn trực thuộc Bộtài chính, với số lượng KTV đông đảo, giàu kinh nghiệm và kiến thức chuyênmôn sâu sắc, đã đưa dịch vụ kiểm toán của AASC lên một tầm cao mới Ngàynay, dịch vụ này đã ngày càng hoàn thiện và phát triển cả về chiều rộng vàchiều sâu, tức là cả về phạm vi, quy mô và chất lượng, đáp ứng yêu cầu ngàycàng cao của khách hàng
Các loại hình dịch vụ kiểm toán do AASC cung cấp bao gồm:
Kiểm toán Báo cáo tài chính thường niên;
Kiểm toán hoạt động của các dự án;
Kiểm toán Báo cáo quyết toán vốn đầu tư các công trình xây dựng
cơ bản;
Kiểm toán xác định vốn thành lập hoặc giải thể doanh nghiệp;
Kiểm toán tuân thủ luật định;
Kiểm toán các doanh nghiệp tham gia niêm yết trên thị trườngchứng khoán;
Kiểm toán tỷ lệ nội địa hoá…
Trang 8Với các loại hình kiểm toán đa dạng, Công ty luôn có một nguồn doanhthu lớn từ dịch vụ kiểm toán mang lại Trong đó đáng kể nhất là dịch vụ kiểmtoán báo cáo tài chinh, kiểm toán các công ty tham gia niêm yết trên thịtrường chứng khoán và kiểm toán Báo cáo quyết toán vốn đầu tư xây dựng cơbản Các loại hình kiểm toán này được phân chia cho các phòng ban chuyênmôn thực hiện, và trong mấy năm trở lại đây thì dịch vụ kiểm toán Báo cáoquyết toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản luôn được coi là thế mạnh hàng đầucủa Công ty.
Ngay từ những ngày đầu thành lập thì Công ty có thế mạnh là chuyên
về cung cấo các dịch vụ kế toán, do đó AASC luôn có một đội ngũ chuyên gia
kế toán hàng đầu Việt Nam với thâm niên nhiều năm kinh nghiệm, am hiểusâu sắc chế độ kế toán Việt Nam, nắm bắt chặt chẽ các sự thay đổi trong cácchế độ kế toán và tham gia trong việc xây dựng nên các chuẩn mực kế toánViệt Nam Hiện nay AASC đã và đang cung cấp cho khách hàng nhiều dịch
vụ kế toán như:
Lập và ghi sổ kế toán;
Lập các báo cáo tài chính định kỳ;
Xây dựng các mô hình tổ chức bộ máy kế toán;
Hướng dẫn khách hàng áp dụng chế độ kế toán tài chính,…
1.2.1.3 Dịch vụ tư vấn tài chính, kế toán và thuế
Trong bối cảnh bùng nổ nền kinh tế là cùng với sự gia tăng ngày càngnhiều các doanh nghiệp là sự quản lý chặt chẽ hơn của nhà nước đối với nềnkinh tế Mà sự quản lý chặt chẽ này chủ yếu được thể hiện thông qua các vănbản pháp luật, chính vì vậy ngày càng nhiều các văn bản được ban hành Với
Trang 9đặc điểm của các doanh nghiệp Việt Nam là có tới hơn 90% các doanh nghiệpnhỏ và vừa thì năng lực về quản lý cũng như về khả năng nắm bắt kịp thời cácthay đổi của các văn bản pháp luật là một điều không dễ dàng Chính vì vậy,AASC tự tin rằng với dịch vụ tư vấn tài chính và tư vấn thuế mà công ty đangcung cấp sẽ hỗ trợ đắc lực cho tất cả các doanh nghiệp trên con đường thànhlập, tồn tại và phát triển Các dịch vụ này rất đa dạng, bao gồm: tư vấn soạnthảo phương án đầu tư, đăng kí kinh doanh và thành lập doanh nghiệp mới; tưvấn kiểm kê thẩm định giá trị tài sản; tư vấn quyết toán vốn đầu tư; tư vấntiến hành cổ phần hoá, niêm yết chứng khoán, sát nhập hay giải thể; tư vấntuân thủ các quy định pháp luật, chính sách tài chính, lập kế hoạch thuế, đăng
ký, tính toán và kê khai thuế, vận hành các chính sách thuế Với sự đa dạngcủa các loại hình dịch vụ tư vấn mà AASC cung cấp, các doanh nghiệp sẽ tìm
ra được những giải pháp hưữ hiệu để hoàn thiện hệ thống kế toán cũng như hệthống kiểm soát nội bộ, nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh củacông ty mình mà không trái với các quy định của nhà nước
AASC đã thiết kế và cung cấp một số phần mềm kế toán cho các doanhnghiệp, các đơn vị hành chính sự nghiệp và một số phần mềm quản lý nhưphần mềm quản lý nhân sự, phần mềm quản lý tài sản cố định, phần mềmquản lý công văn, quản lý doanh nghiệp
1.2.1.5 Dịch vụ đào tạo và hỗ trợ tuyển dụng
Đào tạo nhân viên là một chiến lược nhằm nâng cao kỹ năng và chuyênmôn cho nguồn nhân lực của doanh nghiệp AASC cung cấp các chương trìnhđào tạo cho khách hàng nhằm trang bị cho nhân viên của khách hàng nhữngkiến thức, kinh nghiệm và thông tin hữu ích về kế toán, kiểm toán, thuế, quảntrị kinh doanh và công nghệ thông tin kế toán, đặc biệt là các chế độ, quy
Trang 10định, chuẩn mực của Việt Nam hay các thông lệ quốc tế được vận hành chotừng doanh nghiệp, từng ngành và từng lĩnh vực hoạt động cụ thể Hiện nay,AASC đang sử dụng một đội ngũ các chuyên gia có nhiều kinh nghiệm giảngdạy để xây dựng các chương trình đào tạo và tiến hành huấn luyện một cáchhiệu quả nhất.
Cùng với đào tạo nhân viên, AASC còn cung cấp dịch vụ hỗ trợ tuyểndụng Dịch vụ này của AASC sẽ hỗ trợ khách hàng trong việc tìm kiếm vàtuyển dụng các ứng viên có năng lực và thích hợp nhất, dựa trên những hiểubiết cụ thể về vị trí cần tuyển dụng, cũng như các yêu cầu về hoạt động, quản
lý của khách hàng Tuỳ theo yêu cầu của công việc, trình độ kiến thức haykinh nghiệm cần thiết, AASC sẽ lựa chọn phương pháp tuyển dụng hợp lý vớichi phí thấp nhất
1.2.1.6 Dịch vụ xác định giá trị doanh nghiệp và tư vấn
cổ phần hóa
Thực hiện chủ trương của Nhà nước về việc chuyển đổi doanh nghiệpNhà nước sang công ty cổ phần, từ năm 2003 đến nay, AASC đã có nhữngbước phát triển vượt bậc trong cung cấp dịch vụ xác định giá trị doanh nghiệp
và tư vấn cổ phần hóa
AASC đã cung cấp phần lớn các dịch vụ cho các doanh nghiệp thuộc
Bộ Công nghiệp, Bộ Thương mại (nay là Bộ Công thương), Bộ Xây dựng, Bộ
kế hoạch và đầu tư, Tổng công ty xuất nhập khẩu Vinaconex, Tổng công tyđiện lực, Tông công ty Hàng hải, Tổng công ty Hàng không, Tổng công ty Ximăng, Tổng công ty lắp máy Việt Nam…
1.2.2 Đặc điểm về thị trường và khách hàng của AASC
Do tiến trình cổ phần hóa diễn ra rất nhanh chóng nên nhu cầu kiểmtoán trở nên cấp thiết hơn, nên số lượng các Công ty kiểm toán ra đời ngày
Trang 11càng nhiều Hiện nay, tại Việt Nam đã có trên 140 công ty kiểm toán trongnước và quốc tế đang hoạt động, nhưng Công ty AASC với đội ngũ KTV cónhiều năm kinh nghiệm luôn thể hiện được vai trò và vị trí chủ chốt trong thịtrường kiểm toán Việt Nam, và điển hình là vị trí của AASC trên thị trườnghiện nay luôn được coi là chỉ đứng sau 4 Công ty kiểm toán nước ngoài (Big4) và là công ty kiểm toán lớn nhất của Việt Nam.
Với chiến lược tiếp cận khách hàng nhanh chóng, chủ động Công ty đãliên tục mở nhiều chi nhánh và văn phòng đại diện khắp cả nước, chủ độngliên hệ với khách hàng và luôn luôn đặt chất lượng lên hàng đầu số lượngkhách hàng của Công ty ngày càng đông đảo Bên cạnh đó, do tiền thân làdoanh nghiệp Nhà nước thực hiện rất nhiều cuộc kiểm toán cho các tổngCông ty, doanh nghiệp lớn nên Công ty đã có rất nhiều mối quan hệ tốt vớinhiều khách hàng lớn
Hiện nay, sau hơn 17 năm hoạt động Công ty đã có khoảng 1500 kháchhàng trong đó khách hàng thường xuyên có khoảng 500 khách hàng thuộcnhiều lĩnh vực trên khắp cả nước Các khách hàng chủ yếu của AASC thườngtrong các lĩnh vực:
Ngân hàng, bảo hiểm, dịch vụ tài chính;
Năng lượng, dầu khí;
Viễn thông, điện lực;
Công nghiệp, nông nghiệp;
Giao thông, thủy lợi;
Hàng không, hàng hải;
Khách sạn, du lịch, thương mại;
Trang 12Lĩnh vực chiếm tỉ trọng lớn nhất của AASC là kiểm toán xây dựng cơbản So với các Công ty kiểm toán AASC luôn giành được nhiều hợp đồngkiểm toán xây dựng cơ bản nhất.
Ngoài ra, với chất lượng kiểm toán của mình AASC còn được các tổchức quốc tế lớn như Ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng phát triển Châu Á(ADB) chọn kiểm toán các dự án tài trợ của mình tại Việt Nam bên cạnh 3 tổchức kiểm toán lớn trong nước và 4 tổ chức kiểm toán quốc tế lớn nhất tạiViệt Nam
Một số khách hàng lớn và thường xuyên của Công ty như: Công ty ximăng Nghi Sơn, Tổng Công ty xi măng Việt Nam, Công ty cổ phần thiết bịbưu điện, Công ty liên doanh Vietsopetro, Công ty xây lắp điện I, Công tyliên doanh VINAPIPE… luôn đánh giá cao chất lượng cũng như thái độ làmviệc của các nhân viên AASC
1.2.3 Một số kết quả đạt được
Qua hơn 17năm hoạt động, với sự cố gắng của lãnh đạo và cán bộ côngnhân viên, Công ty Dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán đã đạtđược những thành tựu đáng kể:
Năm 2001, Công ty được chủ tịch nước tặng huân chương lao độnghạng ba
Tháng 4 năm 2005, AASC chính thức trở thành Hội viên Hội KTVhành nghề Việt Nam (VACPA)
Tháng 7/ 2005, Công ty chính thức gia nhập Tổ chức Kế toán vàKiểm toán quốc tế INPACT và trở thành đại diện của INPACT tại Việt Nam
Cũng trong năm 2005, Công ty được nhận huân chương lao độnghạng nhì do chủ tịch nước trao tặng
Trang 13Ngoài ra, AASC còn là Công ty kiểm toán được Uỷ ban Chứng khoánNhà nước chấp nhận là tổ chức kiểm toán độc lập được kiểm toán các tổ chứcphát hành và kinh doanh chứng khoán theo quyết định số 68/QĐ – UBCKngày 10/6/2003 Và AASC cũng là một trong bảy công ty kiểm toán đượcNgân hàng Nhà nước Việt Nam chấp nhận là tổ chức kiểm toán độc lập đượckiểm toán các tổ chức tín dụng theo thông báo số 906/TB – TT ngày9/10/2003 Hiện nay trên thị trường chứng khoán Việt Nam thì thị phần cáccông ty niêm yết là khách hàng của AASC chiếm tới hơn 30%, điều đó chothấy uy tín và sự phát triển vững mạnh của AASC trên thị trường cung cấpcác dịch vụ kiểm toán tại Việt Nam.
AASC cũng vinh dự là một trong bốn Công ty kiểm toán Việt Nam vớibốn công ty kiểm toán quốc tế hoạt động tại Vịêt Nam được cho phép và thamgia kiểm toán các dự án được tài trợ bởi các tổ chức tài chính tiền tệ nhưNgân hàng Thế giới (Kiểm toán báo cáo Tài chính hàng năm của Dự án khôiphục quốc lộ 1, Dự án hiện đại hóa Ngân hàng Công thương Việt Nam…),Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB)…
Về doanh thu: doanh thu của Công ty cũng không ngừng tăng trưởngqua các năm, Công ty đã cung cấp cho khách hàng những dịch vụ tốt nhấtđảm bảo uy tín của Công ty trên thị trường đặc biệt là dịch vụ kiểm toán-cũng là dịch vụ đem lại doanh thu cao nhất cho Công ty
Dưới đây là một số chỉ tiêu phản ánh kết quả kinh doanh của Công tyAASC trong những năm gần đây:
Trang 14Bảng 1.1: Một số chỉ tiêu kinh tế chủ yếu của AASC
Đơn vị tính: triệu đồng
2007
Năm 2008 (dự tính)
có doanh thu cao nhất tại Việt Nam (chỉ đứng sau Big 4) Lợi nhuận cũngtăng nhưng chưa thật sự tăng tương xứng với doanh thu, điều đó cho thấy tốc
độ tăng chi phí của Công ty cũng ở mức cao, do đó Công ty cần phải có biệnpháp để có thể giảm chi phí ở mức tối đa nhât Điều này có thể được ký giảibởi chính hoạt động của Công ty Thứ nhất, trong năm 2007 Công ty chuyểnđổi mô hình tổ chức do đó phần nào làm ảnh hưởng tới sự phát triển của Công
ty, còn trong năm 2008 thì có sự khủng hoảng kinh tế trên toàn cầu đã làmcho các doanh nghiệp làm ăn không hiệu quả như trước, do đó để duy trìlượng khách hàng Công ty đã không thể tăng giá phí cao hơn so với các nămtrước (phần doanh thu tăng thêm phần lớn là doanh thu từ các khách hàngmới) Mặt khác, do chi phí sinh hoạt tăng cao nên đã dẫn tới chi phí của mộtcuộc kiểm toán tăng cao hơn so với những năm trước Chính từ những yếu tố
Trang 15này đã làm cho doanh thu và lợi nhuận của Công ty tăng với những tốc độkhông tương xứng Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là hiệu quả kinhdoanh của Công ty đang bị giảm sút, Công ty vẫn xứng đáng là con chim đầuđàn trong ngành kiểm toán Việt Nam
Mặt khác như đã nói ở trên, tính tới năm 2007 thì AASC đang có 40KTV được cấp chứng chỉ CPA và hiện là Công ty kiểm toán có số lượngKTV cao nhất trong số các công ty kiểm toán Việt Nam Sau kỳ thi CPA năm
2008 thì Công ty đã có thêm 14 kiểm toán viên nữa Như vậy tính đến thờiđiểm này rõ ràng AASC luôn xứng đáng là một trong những công ty kiểmtoán hàng đầu Việt Nam về số lượng cũng như cả chất lượng
1.3 Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý
Hội đồng thành viên: là bộ phận có quyền quyết định cao nhất trong
công ty, có nhiệm vụ chỉ đạo, xây dựng chiến lược, xây dựng kế hoạch,phương án kinh doanh, lựa chọn cơ cấu tổ chức cho công ty
Ban thường trực hội đồng thành viên: bao gồm một số thành viên của
hội đồng thành viên, chịu trách nhiệm trước hội đồng thành viên và thay mặthội đồng thành viên giải quyết những công việc quan trọng của công ty nhưngchưa đến mức cần thiết phải họp hội đồng thành viên
Ban kiểm soát: được lập ra nhằm mục đích kiểm soát các hoạt động
của công ty, nhằm phát hiện ra những sai sót và những yếu điểm trong cơ cấu
tổ chức cũng như vận hành của công ty Ban kiểm soát chịu trách nhiệm trướchội đồng thành viên
Tổng giám đốc: Là người đại diện hợp pháp của công ty, chịu trách
nhiệm điều hành công việc hàng ngày của công ty Tổng giám đốc có quyền
ra quyết định điều hành công ty trong một giới hạn cho phép theo điều lệ của
Trang 16Phó tổng giám đốc công ty: Là người thực hiện chỉ đạo chuyên môn,
nghiệp vụ đối với các chi nhánh và các phòng ban Ngoài ra, phó tổng giámđốc còn có nhiệm vụ đưa ra các ý kiến, giải pháp nhằm hỗ trợ, tư vấn chogiám đốc Hiện nay, tại trụ sở chính ở Hà Nội có ba phó tổng giám đốc Trong
đó, phó tổng giám đốc thứ nhất phụ trách điều hành trực tiếp phòng kiểm toán
số 1 và phòng dịch vụ đầu tư nước ngoài Phó tổng giám đốc thứ hai phụ tráchphòng kiểm toán số 2 và số 5 Phó tổng giám đốc thứ ba phụ trách phòngkiểm toán số 3 và văn phòng đại diện ở Quảng Ninh Phó tổng giám đốc thứ
tư của công ty phụ trách chi nhánh ở thành phố Hồ Chí Minh kiêm giám đốcchi nhánh thành phố Hồ Chí Minh
Phòng hành chính tổng hợp: phòng hành chính tổng hợp có nhiệm vụ
quyết định về công tác tổ chức của công ty, tổ chức nhân sự, công tác đào tạo,bảo vệ tài sản và cung cấp hậu cần cho công ty, quản lý công văn đến và đi…Hàng năm sau khi mùa kiểm toán kết thúc, thường là từ tháng 5 tới tháng 9,thì công ty luôn tổ chức các khóa đào tạo để bồi dưỡng chuyên môn nghiệp
vụ cho nhân viên, cập nhật các chính sách vắn bản pháp quy mới của nhànước, và việc đào tạo này sẽ được giao cho phòng hành chính tổng hợp thựchiện
Phòng kế toán tài chính: Có nhiệm vụ trợ giúp Ban giám đốc trong
việc điều hành, quản lý công ty, theo dõi và hạch toán các nghiệp vụ kinh tếphát sinh, cung cấp các báo cáo kế toán, thanh toán lương, tạm ứng cho cáccán bộ công nhân viên…
Phòng Kiểm toán XDCB: là phòng duy nhất cung cấp các dịch vụ
kiểm toán Báo cáo quyết toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản, các hạng mụccông trình hoàn thành… được thực hiện bởi đội ngũ KTV giàu kinh nghiệm
và có trình độ cao
Trang 17Phòng Kiểm toán dự án: gồm 26 nhân viên trong đó có 1 Trưởng
phòng và 3 Phó phòng Phòng Kiểm toán dự án cung cấp các dịch vụ liênquan tới các dự án của các tổ chức Chính phủ và phi Chính phủ… Hiện nay,lĩnh vực kiểm toán các dự án tại Công ty đang rất phát triển và đóng góp 1phần đáng kể cho doanh thu của toàn Công ty
Phòng Kiểm toán số 1, 2, 3, 5: cung cấp các dịch vụ kiểm toán báo cáo
tài chính cho các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ, sản xuất vật chất; tư vấn
hỗ trợ cho khách hàng về tài chính, kế toán…Mỗi phòng nghiệp vụ được cơcấu gồm 30 nhân viên, trong đó có một trưởng phòng và hai phó phòng Mỗiphòng nghiệp vụ được coi như một công ty con, tức là sẽ chủ động trong việctìm kiếm khách hàng mới, duy trì khách hàng cũ, sắp xếp lịch kiểm toán, bốtrí nhân sự cho cuộc kiểm toán Chính vì vậy, cho nên mặc dù khách hàngcủa công ty là rất đa dạng trong nhiều loại hình khác nhau nhưng không có sựphân chia rõ ràng cho từng phòng nghiệp vụ các mảng khách hàng cụ thể
Trang 18Sơ đồ 1.1: Tổ chức bộ máy quản lý
Ban thường trực HĐTV
Tổng giám đốc
Phó tổng giám đốc
Phó tổng giám đốc
Phòng
kiểm
toán 1
Phòng dịch vụ ĐTNN
Phòng kiểm toán 2
Phòng kiểm toán 3
VP đại diện ở QN
Chi nhánh
ở TPHCM
Phòng tổng hợp
Phòng kiểm toán 5
Hội đồngThành viên
Ban kiểm soát
Phòng kiểm toán XDCB
Trang 191.4 Tổ chức công tác kiểm toán tại công ty
1.4.1 Khảo sát và đánh giá khách hàng
Trước khi quyết định ký một hợp đồng Công ty cần tiến hành khảo sát,đánh giá để chấp nhận khách hàng Đối với mỗi một khách hàng tiềm năng cụthể cần thu thập thông tin chi tiết hơn, càng nhiều càng tốt để có căn cứ xácđáng đánh giá chấp nhận khách hàng Các thông tin cần thu thập trong giaiđoạn này bao gồm: nhu cầu của khách hàng về dịch vụ kiểm toán (mục đíchmời kiểm toán, yêu cầu về dịch vụ cung cấp, báo cáo…), các thông tin chung
về khách hàng (lọai hình doanh nghiệp, địa chỉ, hồ sơ pháp lý, ngành nghề sảnxuất kinh doanh chính…), cơ cấu tổ chức hoạt động (địa bàn hoạt động, cơcấu tổ chức nhân sự, các bên có liên quan), tình hình kinh doanh (mặt hàngcung cấp chính, đặc điểm hoạt động kinh doanh, đặc điểm sản phẩm, quytrình sản xuất…), hệ thống kế toán… Sau khi có được những thông tin tổngquát về khách hàng, KTV cần đánh giá rủi ro kiểm toán Nếu mức rủi ro là cóthể chấp nhận được và thỏa thuận được giá phí kiểm toán thì AASC sẽ tiếnhành kí kết hợp đồng kiểm toán
1.4.2 Kí kết hợp đồng cung cấp dịch vụ
Sau khi chấp nhận khách hàng cũng như xác định mục đích của kháchhàng, công ty sẽ ký kết hợp đồng cung cấp dịch vụ trong đó nêu rõ quyền vànghĩa vụ của hai bên Về phía công ty, phải chỉ rõ loại hình dịch vụ mà công
ty sẽ cung cấp cho khách hàng, thời gian thực hiện dịch vụ, thời điểm pháthành báo cáo kiểm toán và thư quản lý, phương thức phát hành báo cáo vàmột số nội dung khác Về phia khách hàng, hợp đồng kiểm toán còn qui định
rõ trách nhiệm của công ty khách hàng là phải cung cấp đầy đủ các tài liệu kếtoán của công ty mình liên quan đến cuộc kiểm toán, thời hạn và phương thức
Trang 201.4.3 Lập kế hoạch và thiết kế chương trình kiểm toán
Đây là giai đoạn có ý nghĩa vô cùng quan trọng quyết định chất lượngcủa cuộc kiểm toán Trong giai đoạn này các KTV phải thực hiện công việc
đó là: Lập chiến lược kiểm toán, xây dựng kế hoạch kiểm toán, thiết kếchương trình kiểm toán
Lập chiến lược kiểm toán
Lập chiến lược kiểm toán là hoạt động đầu tiên của qui trình kiểm toán.Chiến lược kiểm toán do người phụ trách cuộc kiểm toán lập ra và được giámđốc phê duyệt Quá trình lập chiến lược kiểm toán giúp cho KTV:
- Xem xét tới quan điểm của khách hàng, vì thế KTV có thể diễn đạtnhững phát hiện của mình mà khách hàng quan tâm
- Hiểu biết về tình hình kinh doanh, ngành nghề mà khách hàng đanghoạt động, mục tiêu kinh doanh và những rủi ro khiến khách hàng không thểđạt tới mục tiêu này
- Nhận ra tính hiệu lực của hệ thống kiểm soát nội bộ và lập phươngpháp tiếp cận kiểm toán đối với hệ thống kiểm soát nội bộ
- Thu nhận bằng chứng kiểm toán có hiệu lực bằng cách tập trung côngviệc kiểm toán vào những mục tiêu kiểm toán với rủi ro sai sót đáng kể
- Tăng cường trao đổi thông tin với khách hàng và trao đổi thông tingiữa các thành viên trong nhóm kiểm toán
Xây dựng kế hoạch kiểm toán
Quá trình lập kế hoạch kiểm toán bao gồm các bước công việc sau:
- Thu thập thông tin về hoạt động của khách hàng
Trang 21KTV sẽ thu thập các thông tin chung về khách hàng như giấy phép hoạtđộng kinh doanh, lĩnh vực hoạt động, địa bàn hoạt động, tổng số vốn kinhdoanh, vốn đầu tư, số vốn vay, thời gian hoạt động, các thông tin về Ban giámđốc, các đơn vị thành viên …
Sau khi thu thập đầy đủ thông tin chung về khách hàng, KTV sẽ xácđịnh rõ những điểm mạnh, điểm yếu của khách hàng và rút ra những vấn đềcần chú trọng trong cuộc kiểm toán
- Tìm hiểu về hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng
Đối với việc tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng, KTV
sẽ thu thập các thông tin về môi trường kiểm soát, các thủ tục kiểm soát được
áp dụng, và xem xét các thủ tục kiểm soát đó có được thiết lập dựa trên cácnguyên tắc cơ bản hay không Đồng thời KTV sẽ thu thập các thông tin vềchính sách, chế độ kế toán đối với việc hạch toán và lập báo cáo tài chínhtrong năm kiểm toán Ngoài ra, KTV cũng rất chú ý đến các giao dịch và cácnghiệp vụ có thể ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo tài chính, ảnh hưởng củacông nghệ thông tin và hệ thống máy tính đến công tác kế toán của đơn vị
- Đánh giá trọng yếu và rủi ro
Căn cứ vào các thông tin thu thập được trong quá trình tìm hiểu kháchhàng cũng như tìm hiểu về hệ thống kiểm soát nội bộ, KTV phân tích và đánhgiá tính trọng yếu của từng khoản mục trên báo cáo tài chính AASC đã xâydựng được phương pháp cũng như căn cứ để xác định mức độ trọng yếuthống nhất trong toàn công ty
Sau khi tính toán ra được mức trọng yếu tuyệt đối, tùy theo kháchhàng, tùy theo bản chất của từng khoản mục mà mức trọng yếu được phân bổcho các khoản mục theo cách khác nhau Đánh giá mức rủi ro trọng yếu luôn
Trang 22xây dựng được một quy trình kiểm toán chuẩn chung cho toàn công ty nhưng
về đánh giá tính rủi ro thì hoàn toàn phụ thuộc vào kinh nghiệm và trình độcủa KTV Do đó trong mỗi cuộc kiểm toán, tùy theo từng đối tượng kháchhàng mà mức trọng yếu sẽ được tính toán dựa trên tổng tài sản, tổng doanhthu và sau đó sẽ phân bổ mức trọng yếu này cho từng khoản mục Căn cứ đểđánh giá mức trọng yếu là dựa trên các chỉ tiêu về lợi nhuận, tổng doanh thu
và tổng tài sản Mức trọng yếu được tính như sau: đối với doanh thu thì từ 2%: đối với với lợi nhuận là từ 4-8%: đối với tài sản là 2-4%
1-Việc đánh giá rủi ro trong giai đoạn lập kế hoạch của AASC được KTVthực hiện đánh giá đối với rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát, đồng thời thểhiện kết quả đánh giá đó trong kế hoạch kiểm toán tổng thể
- Xác định nhu cầu nhân sự và thời gian kiểm toán
Căn cứ vào các thông tin thu thập được, trưởng nhóm kiểm toán sẽ xácđịnh nhu cầu nhân sự và phân công công việc cho từng KTV và trợ lý kiểmtoán
- Tổng hợp kế hoạch kiểm toán tổng thể
Trong bước này, KTV thực hiện tổng hợp kế hoạch kiểm toán trong đóxác định mức rủi ro, mức trọng yếu, phương pháp kiểm toán, các thủ tục kiểmtoán đối với khoản mục quan trọng
Thiết kế chương trình kiểm toán
Chương trình kiểm toán của công ty được thiết kế cho từng khoản mục
và công ty có các chương trình kiểm toán sẵn Khi tiến hành kiểm toán, KTVthường dựa chủ yếu vào chương trình đó Tuy nhiên tùy vào đặc điểm cụ thểcủa từng đối tượng kiểm toán mà KTV có thể bổ sung hoặc thay đổi một phầnnào đó của chương trình kiểm toán cho phù hợp
Trang 23Ví dụ minh họa một chương trình kiểm toán chuẩn về khoản mục tiền
và tương đương tiền của Công ty AASC ( Phụ lục trang 86)
1.4.4 Thực hiện kế hoạch kiểm toán
Trong giai đoạn này KTV sẽ trực tiếp sử dụng các thủ tục kiểm toán đểthực hiện theo các phần hành cụ thể Trình tự của một cuộc kiểm toán Báocáo tài chính là đi ngược lại với trình tự của kế toán Đầu tiên tiếp cận với hệthống sổ sách của đơn vị Ngày nay các đơn vị thường sử dụng các phần mềm
kế toán, do đó các KTV cần phải lấy được các thông tin cần thiết như sổ nhật
ký chung, bảng cân đối phát sinh các tài khoản, sổ tổng hợp đối ứng các tàikhoản, sổ chi tiết các tài khoản sau đó dựa trên các dữ liệu thu thập được,KTV sẽ tiến hành thu thập thêm các bằng chứng hưữ ích có liên quan, đồngthời thực hiện các thủ tục kiểm toán cần thiết trước khi đưa ra kết luận cuốicùng
Các thủ tục kiểm toán được công ty áp dụng trong quy trình kiểm toánlà: thủ tục kiểm soát, thủ tục phân tích và các thủ tục kiểm tra chi tiết Trong
đó, chủ yếu sử dụng các thủ tục kiểm tra chi tiết đẻ thiết lập các bằng chứng
và căn cứ cho cuộc kiểm toán
Thực hiện thủ tục kiểm soát: rà soát tình hình kiểm soát nội bộ và ràsoát đánh giá việc tuân thủ pháp luật Thủ tục này được xây dựng thành hệthống các câu hỏi cho từng chu trình Dựa vào hệ thống câu trả lời này KTV
sẽ đưa ra được nhận xét, đánh giá về tính hiệu lực của hệ thống kiểm soát nội
bộ của khách hàng
Thực hiện các thủ tục phân tích: xem xét tính độc lập và tin cậy của các
dữ liệu thông tin tài chính, nghiệp vụ bằng cách sử dụng các hệ số, tỷ suất tàichính, ước tính các giá trị ước tính và giá trị ghi sổ, phát hiện và tìm ra các
Trang 24Thực hiện các thủ tục kiểm tra chi tiết : tuỳ từng phần hành và khoảnmục mà chọn mẫu kiểm tra hay kiểm tra toàn bộ, sử dụng phương pháp kỹthuật kiểm tra chi tiết để thực hiện kiểm tra đối với khoản mục đã chọn Xácđịnh chênh lệch và các biện pháp xử lý
Kết thúc giai đoạn này là công việc đánh giá các phát hiện, đưa ra cácbút toán điều chỉnh
1.4.5 Phát hành báo cáo kiểm toán và thư quản lý (nếu có)
Khi kết thúc giai đoạn thực hiện kiểm toán, KTV sẽ thu thập đầy đủ cácthông tin và bằng chứng cần thiết để đưa ra kết luận kiểm toán Kết luận kiểmtoán đóng vai trò chính trong mục đích của cuộc kiểm toán, do đó trước khiđưa ra báo cáo kiểm toán cần phải thực hiện nhiều công việc có liên quan nhưsoát xét hồ sơ, tổng kết kết quả các công việc đã thực hiện được và xem xétcác vấn đề phát sinh sau cuộc kiểm toán, lập tài liệu soát xét ba cấp, gửi vănbản dự thảo cho khách hàng, họp đánh giá và thông qua bản dự thảo và pháthành báo cáo kiểm toán chính thức Số lượng báo cáo kiểm toán là tùy thuộcvào sự quy định trong hợp đồng, nhưng tối thiểu là 4 báo cáo (các báo cáonày giống hệt nhau và có giá trị như nhau), trong đó Công ty sẽ giữ lại 2 bản.Bên cạnh việc phát hành báo cáo kiểm toán, có thể sẽ phát hành cả thư quản
lý nếu thấy cần thiết
1.5 Tổ chức nhân sự cho cuộc kiểm toán
Một cuộc kiểm toán tùy thuộc và quy mô và tính chất mà sẽ có cáchthức tổ chức nhân sự phù hợp riêng Thông thường các nhóm kiểm toán sẽbao gồm 4 thành viên, trong đó có một trưởng nhóm và còn lại là các thaàhviên Trưởng nhóm của một cuộc kiểm toán luôn phải là một KTV có trình
độ chuyên môn cao và kinh nghiệm làm việc(thường ít nhất là sau 4 năm làmtrợ lý kiểm toán viên) Trong công ty có phân mức trợ lý kiểm toán viên và
Trang 25kiểm toán viên Trợ lý thì có từ level 1 tới level 4, kiểm toán viên cũng đựocphân mức tương tự Trong một nhóm thì có thể có nhiều KTV, nhưng chỉ cómột kiểm toán viên đóng vai trò chịu toàn bộ trách nhiệm cho cuộc kiểmtoán và đó là trưởng nhóm kiểm toán (điều đặc biệt là level của kiểm toánviên trưởng nhóm có thể không cao bằng level của một kiểm toán viên kháctrong nhóm nhưng chỉ đóng vai trò là trợ lý của KTV trưởng nhóm) Việcphân nhóm kiểm toán là do các trưởng phòng nghiệp vụ sắp xếp nhưng saukhi có sự phân công chính thức thì danh sách của nhóm kiểm toán và lịchtrình của nhóm kiểm toán sẽ được gửi lên các cấp có thẩm quyền để phêduyệt Bất cứ một thành viên nào trong nhóm kiểm toán mà không đáp ứngđược về yêu cầu công việc thì trưởng nhóm có thể gửi yêu cầu về phòng đểxin đổi trợ lý.
1.6 Tổ chức lưu trữ hồ sơ
Hệ thống hồ sơ kiểm toán của mỗi khách hàng do phòng kiểm toán nào,chi nhánh nào thực hiện sẽ được lưu trữ tại chính đơn vị đó Đơn vị đó cótrách nhiệm đảm bảo việc lưu trữ thông tin và cung cấp thông tin cho kháchhàng nếu được yêu cầu Hồ sơ kiểm toán đã được thực hiện cách đó 2 năm trởlên sẽ được chuyển sang lưu trữ tại Cục lưu trữ Quốc gia để đảm bảo an toàn
và không gian cho văn phòng
Để thuận tiện cho việc đưa ra ý kiến kiểm toán khi hoàn thành côngviệc, hồ sơ kiểm toán sẽ được phân ra thành các mục theo bảng chữ cái tiếngAnh Mỗi chữ cái được quy định là tham chiếu của một phần hành kiểm toán.Ngoài ra trên mỗi hồ sơ kiểm toán còn sử dụng kết hợp các chữ cái đó và các
số để thuận tiện và dễ dàng cho việc quản lý dữ liệu.Sau đó hồ sơ của kháchhàng sẽ được đục lỗ và lưu trong các cặp hồ sơ kiểm toán riêng bên gáy cặp
hồ sơ ghi tên khách hàng, tháng và năm thực hiện kiểm toán Ngoài ra nếu số
Trang 26lượng hồ sơ của khách hàng lớn sẽ được lưu thành nhiều cặp hồ sơ và đượcđánh số thứ tự.
Hồ sơ của khách hàng bao gồm hai loại hồ sơ là Hồ sơ kiểm toán chung
và hồ sơ kiểm toán năm Trong đó hồ sơ kiểm toán chung là hồ sơ được dándán gáy file màu đỏ, trong đó chứa đựng các tài liệu chung nhất về kháchhàng trong nhiều năm kiểm toán nhu: giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh,điều lệ của công ty, các giấy bổ nhiệm, các thông tin chung về hệ thống kiểmsoát nội bộ, hệ thống kế toán, cơ cấu tổ chức, loại hình hoạt động, ngành nghềkinh doanh dựa trên những thông tin này KTV sẽ có một thông tin và sựhiểu biết đầy đủ về khách hàng trước khi bước vào cuộc kiểm toán
Hồ sơ kiểm toán năm đựoc dán gáy file màu trắng Hồ sơ kiểm toánnăm là hồ sơ lưu giữ những bằng chứng kiểm toán của cuộc kiểm toán đượctiến hành hàng năm tại khách hàng và kết luận kiểm toán cho năm kiểm toán,dựa vào hồ sơ kiểm toán năm này các kiểm toán viên thực hiện cuộc kiểmtoán năm sau sẽ nhận diện được các vấn đề còn tồn tại tại khách hàng trongnăm trước, từ đó sẽ nhận diện được các vấn đề trọng yếu hay các rủi ro có thểxảy ra cho cuộc kiểm toán và từ đó sẽ có các thủ tục kiểm toán phù hợp
Nhìn chung việc quản lý hồ sơ của AASC được thực hiện rất khoa học
và thuận tiện khi muốn kiểm tra và tìm lại các thông tin về khách hàng
Trang 271.7 Kiểm soát chất lượng cuộc kiểm toán
Sơ đồ 1.2: Hệ thống kiểm soát chất lượng
Quan hệ chỉ đạo - giám sát
1.7.1 Kiểm soát trong giai doạn chuẩn bị kiểm toán
Trước khi tiến hành kiểm toán, thì các công việc chuẩn bị cho một cuộckiểm toán luôn được kiểm tra một cách chặt chẽ Trước hết là danh sách củanhóm kiểm toán Danh sách này được trưởng phòng sắp xếp, sau đó phải đưalên cấp lãnh đạo để phê duyệt Thành viên của nhóm kiểm toán phải đảm bảođược đầy đủ các yêu cầu về chuyên môn nghiệp vụ cũng như đạo đức nghềnghiệp, tính độc lập đối với khách hàng Nếu có bất cứ ai không đáp ứng thỏamãn các yêu cầu trên thì sẽ bị loại ra khỏi nhóm kiểm toán Như đã biết, kiểmtoán là một ngành dịch vụ đòi hỏi phải có những yêu cầu khắt khe về chuyênmôn, kinh nghiệm, nhưng cũng không tránh khỏi các trợ lý còn thiếu kinhnghiệm, vì vậy sự bố trí sắp xếp nhân sự trong một cuộc kiểm toán bao giờcũng cần có sự bổ xung và hợp lý đối với từng quy mô khách hàng
Ban Giám Đốc
Lãnh đạo phòng
Trưởng nhóm
KTV
Trang 28Sau khi nhóm kiểm toán đã được phê duyệt, thì những cá nhân trongnhóm kiểm toán sẽ được yêu cầu tìm hiểu các thông tin về khách hàng nhưnhững thông tin chung hay những thông tin từ các cuộc kiểm toán trước về hệthống kế toán, hệ thống kiểm soát, loại hình hoạt động kinh doanh của kháchhàng Tiếp theo đó các giấy tờ làm việc của KTV sẽ được nhóm trưởng kiểmtra và soát xét nhằm đảm bảo các kỹ thuật thu thập là đúng quy định và thôngtin thu được là đầy đủ phù hợp với các chuẩn mực kế toán và kiểm toán.
1.7.2 Kiểm soát trong giai đoạn thực hiện kiểm toán
Sau khi khảo sát về đơn vị khách hàng, một kế hoạch kiểm toán sẽđược thiết lập trong đó nêu rõ mục tiêu, nội dung, trọng yếu kiểm toán Căn
cứ vào kế hoạch kiểm toán, trình độ năng lực và thế mạnh của từng KTV, trợ
lý kiểm toán, nhóm trưởng sẽ tiến hành phân công công việc cụ thể Từngngười sẽ được phổ biến rõ về nội dung, phần hành kiểm toán được phân công,các phương pháp kiểm toán cần áp dụng và những trọng tâm cần chú ý khithu thập bằng chứng kiểm toán
Trong giai đoạn này nhóm trưởng giám sát rất chặt chẽ tiến độ thực hiệncông việc, các thủ tục kiểm toán, các phương pháp kiểm toán KTV đã áp dụng,cách ghi chép giấy làm việc của KTV cũng như việc tuân thủ chuẩn mực đạođức, nghề nghiệp Trong giai đoạn này, nhóm trưởng cũng có thể thay đổi lại
sự phân công công việc nếu thấy cần thiết Ngoài ra, nhóm trưởng cũng có thể
hỗ trợ các KTV trong việc đánh giá chất lượng của bằng chứng kiểm toán vàtham gia thảo luận với KTV khác khi có các vấn đề còn nghi vấn để đi tớiquyết định chính xác
1.7.3 Kiểm soát trong giai đoạn kết thúc kiểm toán
Liên quan đến công việc lập báo cáo kiểm toán, nhóm trưởng sẽ thựchiện xem xét các tổng hợp công việc của các KTV để đảm bảo sự chính xác,
Trang 29hợp lý, đầy đủ của kết quả kiểm toán phản ánh trong các biên bản kiểm toán,đồng thời nhóm trưởng cũng xem xét lại tất cả các bằng chứng kiểm toán, cácnhận xét đánh giá của các KTV khác tham gia cuộc kiểm toán nhằm đảm bảotính chính xác của các kết quả đó Một lần nữa các giấy tờ của KTV được soátxét bởi ban lãnh đạo phòng trước khi trình lên Ban giám đốc Nếu kết quảkiểm toán được Ban giám đốc phê duyệt thì công ty sẽ phát hành báo cáokiểm toán cho khách hàng.
Có thể nói, hoạt động kiểm soát ở tất cả các cấp và tất cả các giai đoạncủa quy trình kiểm toán đã hỗ trợ rất nhiều cho công tác kiểm toán, góp phầnnâng cao chất lượng của từng cuộc kiểm toán Hoạt động này được phản ánh vào
hồ sơ chất lượng kiểm toán thông qua “Phiếu soát xét hồ sơ và Báo cáo kiểmtoán”
Trang 30CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VẬN DỤNG THỦ TỤC PHÂN TÍCH KIỂM TOÁN KHOẢN MỤC DOANH THU VÀ GIÁ VỐN HÀNG BÁN TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH DO CÔNG TY AASC
THỰC HIỆN
2.1 Quy trình chung về vận dụng thủ tục phân tích trong kiểm toán khoản mục Doanh thu và Giá vốn hàng bán trong kiểm toán Báo cáo tài chính do AASC thực hiện
2.1.1 Thủ tục phân tích áp dụng trong giai đoạn chuẩn bị kiểm toán 2.1.1.1 Mục tiêu áp dụng thủ tục phân tích cho khoản mục Doanh thu và Giá vốn hàng bán
Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 520 đoạn 09:
“KTV phải áp dụng quy trình phân tích trong quá trình lập kế hoạchkiểm toán để tìm hiểu tình hình kinh doanh của đơn vị và xác định nhữngvùng rủi ro cụ thể
Quy trình phân tích giúp KTV xác định nội dung, lịch trình và phạm vicủa các thủ tục kiểm toán khác.”
Như vậy rõ ràng trong giai đoạn chuẩn bị kiểm toán thì thủ tục phântích luôn đóng một vai trò quan trọng giúp KTV có thể đánh giá được chínhxác các thông tin ban dầu về khách hàng, đặc biệt là các khách hàng mới lầnđầu được kiểm toán Khoản mục doanh thu và giá vốn luôn là những khoảnmục trọng yếu cũng như thường có những sai phạm trọng yếu vì đây là haikhoản mục trực tiếp ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của công ty cũng nhưphản ánh chính xác tình hình hoạt động thực tế của công ty khách hàng.Chính vì vậy theo chuẩn mực đã nêu rõ thì có thể nhận thấy những mục tiêu
Trang 31khi áp dụng thủ tục phân tích trong giai đoạn chuẩn bị kiểm toán cho haikhoản mục doanh thu và giá vốn hàng bán như sau:
- Thu thập hiểu biết về nội dung các BCTC và những biến đổi quantrọng về kế toán và hoạt động kinh doanh của khách hàng vừa mới diễn ra từkiểm toán lần trước Đặc biệt là các yếu tố liên quan đến các chính sách củacông ty về xuất bán hàng hóa và chính sách về ghi nhận doanh thu Các nộidung trên cá BCTC cần chú ý có thể hiểu là các tài khoản hàng tồn kho, cáctài khoản trên báo cáo kết quả kinh doanh…
- Tăng cường hiểu biết của KTV về hoạt động kinh doanh của kháchhàng và giúp KTV xác định các vấn đề nghi vấn về khả năng hoạt động liêntục của công ty khách hàng Hoạt động kinh doanh của khách hàng thườngchịu tác động nhiều từ các yếu tố vi mô lẫn các yếu tố vĩ mô, trong đó sự thayđổi dẫn đến thay đổi lợi nhuận luôn có ảnh hưởng lớn đến khả năng hoạt độngliên tục của công ty, do đó trong giai đoạn này việc đánh gía các vấn đề liênquan trực tiếp đến doanh thu, giá vốn và lợi nhuận luôn là việc cần thiết
Việc áp dụng thủ tục kiểm toán trong giai đoạn này sẽ cho KTV nhậnthấy các yếu tố cần quan tâm đối với khoản mục doanh thu và giá vốn trướckhi bước vào cuộc kiểm toán, từ đó nhận định đánh giá rủi ro và phân bổ cácước tính cho hai khoản mục này Thủ tục phân tích áp dụng trong giai đoạnchuẩn bị này là rất cần thiết nhưng quy mô và phạm vi áp dụng của thủ tụcthay đổi tùy thuộc vào phạm vi và bản chất hoạt động cũng như sự biến độngtrong hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng
Trang 32- Thông tin tài chính và phi tài chính có ảnh hưởng rất lớn đến các thôngtin trên các BCTC nói chung và liên quan trực tiếp đến sự biến đổi của cáckhoản mục doanh thu và giá vốn hàng bán nói riêng, vì vậy khi chuẩn bị kiểmtoán, KTV cần thu thập đầy đủ các thông tin tài chính và phi tài chính củanăm hiện hàng và những năm trước đó Các thông tin này bao gồm:
Các thông tin về nghĩa vụ pháp lý
Các thông tin về tình hình kinh doanh: Các BCTC, các thông tinliên quan đến môi trường kinh doanh, pháp luật, công nghệ ảnhhưởng tới SXKD…
Các thông tin về hệ thống KSNB: Điều lệ, quy chế hoạt động, Sơ
đồ tổ chức bộ máy quản lý, Biên bản họp hội đồng quản trị vàban giám đốc…
Các thông tin về thuế, về nhân sự, về kế toán
Các chính sách tài chính của công ty: chính sách tài chính, giá
cả tín dụngTrong đó các thông tin tài chính chính là các thông tin có ảnh hưởngtrực tiếp đến sự sự đánh giá của KTV khi tiếp cận các khoản mục doạnh thu
và giá vốn hàng bán Giá vốn hàng bán liên quan trực tiếp đến hàng tồn kho,
do đó mỗi sự thay đổi trong chính sách hàng tồn kho như phương pháp tínhgiá hàng tồn kho sẽ làm thay đổi cách tính giá vốn của hàng bán Tương tựnhư vậy, doanh thu lại chịu ảnh hưởng từ các yếu tố về môi trường kinhdoanh, chất luợng sản phẩm, các chính sách tín dụng của công ty trong việcđẩy nhanh bán hàng thu tiền do đó tất cả các thông tin tài chính trong giaiđoạn này cần phải được thu thập một cách chính xác và đầy đủ
Bước 2: So sánh thông tin thu được
Trang 33Sau khi đã thu thập được các thông tin tài chính trong bước 1, KTV cầntiến hành đánh giá và so sánh các thông tin này để từ đó có thể nhận địnhđược các rủi ro đối với các khoản mục doanh thu và giá vốn.
So sánh những biến động bất thường: ví dụ trong năm KTV nhận thấy
số luợng hàng bán ra tăng so với cùng kỳ năm trước nhưng doanh thulại tăng không đáng kể chưa tương xứng với tốc độ luân chuyển củahàng hóa Trong trường hợp này, KTV có thể cân nhắc tới một số khảnăng như: chất lượng hàng bán đang bị giảm sút, hàng lỗi thời dẫn đếngiá bán không tăng, thậm chí cần cân nhắc cả đến khả năng doanh thuđang bị ghi giảm, ghi thiếu
Những biến động bất thường của các tài khoản có liên quan mà theo xétđoán của KTV nó bị ảnh hưởng từ sự biến động các tài khoản khác Ví
dụ doanh thu trong năm tăng lên đáng kể nhưng số dư tài khoản cáckhoản phải thu biến động ít Điều này có thể xem xét đến các chínhsách tín dụng của đơn vị đã áp dụng và có sự thay đổi trong năm qua,đơn vị đã có các biện pháp để thu hồi nợ tốt hơn
KTV có thể thực hiện các phương thức so sánh sau:
So sánh giữa Doanh thu và giá vốn thực tế với kế hoach của đơn vị
So sánh số liệu Doanh thu và giá vốn kỳ này với số liệu của kỳ trước
So sánh giữa Doanh thu và giá vốn thực tế với ước tính của KTV
So sánh giữa Doanh thu thực tế của đơn vị với các đơn vị trong cùngngành có cùng quy mô hoạt động, với số liệu thống kê định mức cùngngành nghề
Xem xét mối quan hệ giữa các thông tin tài chính với nhau
Xem xét mối quan hệ giữa các thông tin tài chính và thông tin phi tàichính
Trang 34Tất cả các chỉ tiêu so sánh trên nhằm mục đích giúp KTV có thể hìnhdung được ban đầu về khả năng và thực tế hoạt động kinh doanh của đơn vịtrong kỳ, từ đó sẽ có thêm các cơ sở để nhận đinh, đánh giá và ước lượng vềcác rủi so cũng như những sai phạm có thể xảy ra trong các khoản mục doanhthu và giá vốn của đơn vị.Tùy vào qui mô và tính chất hoạt động kinh doanhcủa từng đối tượng, loại hình kinh doanh mà có thể áp dụng các mục tiêu, cácloại so sánh khác nhau
Bước 3: Đánh giá kết quả so sánh ban đầu
Trong bước này, KTV sẽ sử dụng các phương pháp chuyên môn và các
kỹ thuật khác như phỏng vấn, quan sát để phân tích và đưa ra kết luận về cácchệnh lệch khi so sánh So sánh giữa các biến động, so sánh giữa ước tính củaKTV với số liệu đơn vị cung cấp, nếu có sự chênh lệch đáng kể, cần tiến hànhthảo luận với nhà quản lý của đơn vị xem những sự giải thích có hợp lýkhông Nếu sự giải thích là chưa thỏa mãn, KTV cần nhận dạng các sai phạmtiềm tàng có thể sảy ra với tài khoản hoặc nghiệp vụ này Ngoài ra KTV cóthể xem xét lại nguồn gốc các thông tin đó hay thực hiện các TTPT ở mức độcao hơn để làm rõ các biến động trên
Qua kết quả áp dụng thủ tục phân tích sơ bộ, KTV có thể đánh giá đượcmức rủi ro đối với các khoản mục doanh thu và giá vốn hàng bán, từ đó xácđịnh được cần tập trung đi sâu cho yếu tố nào trong các khoản mục này
2.1.2 Thủ tục phân tích kiểm toán khoản mục doanh thu và giá vốn hàng bán trong kiểm toán báo cáo tài chính do công ty TNHH Dịch vụ Tư vấn tài chính Kế toán và Kiểm toán AASC thực hiện trong giai đoạn thực hiện kiểm toán
2.1.2.1 Mục tiêu
Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 520 đoạn 11: “ Trong quá trìnhkiểm toán, nhằm bớt rủi ro phát hiện liên quan đến cơ sở dẫn liệu của báo cáo
Trang 35tài chính, KTV phải thực hiện quy trình phân tích hoặc kiểm tra chi tiết hoặckết hợp cả hai Nhằm xác định thủ tục kiểm toán thích hợp cho một mục tiêukiểm toán cụ thể, KTV phải xét đoán hiệu quả của từng thủ tục kiểm toán”
Như vậy mục tiêu chung của việc vận dụng thủ tục phân tích trong giaiđoạn thực hiện kiểm toán nói chung và cho các khoản mục doanh thu và giávốn hàng bán nói riêng là nhằm hạn chế các rủi ro phát hiện liên quan đến cáckhoản mục trọng yếu như doanh thu và giá vốn Doanh thu và giá vốn hàngbán phản ánh trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh luôn gắn chặt với cácchỉ tiêu thu chi tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, nhập xuất vật tư, hàng hóa Đó
là những yếu tố đồng nhất và dễ xảy ra các sai phạm nhất Do đó, thông quaviệc kiểm toán các chỉ tiêu này có thể sẽ phát hiện ra các sai phạm trên cáckhoản mục có liên quan trên bảng cân đối kế toán Chính vì vậy việc vậndụng thủ tục phân tích để hạn chế các rủi ro phát hiện là điều hết sức cần thiếtcho các khoản mục này
2.1.2.2 Phương pháp tiến hành thủ tục phân tích
Doanh thu và giá vốn là hai khoản mục trọng yếu trên bảng báo cáo kếtquả kinh doanh, mà việc vận dụng thủ tục phân tích cho các khoản mục trênbáo cáo kết quả kinh doanh luôn là rất hữu ích, do đó việc vận dụng thủ tụcphân tích cho hai khoản mục này sẽ đem lại hiệu quả cao Cũng tuân theo quytrình chung về vận dụng thủ tục phân tích, thông thường khi tiến hành kiểmtoán cho khoản mục doanh thu và giá vốn sẽ tuân theo các bước sau:
Bước 1:Phát triển mô hình
Khi xây dựng mô hình và phát triển mô hình, KTV sẽ kết hợp giữanhững biến tài chính và những biến hoạt động để đưa ra dự đoán về những sốliệu tài chính hoặc những xu hướng hay những tỷ suất về số liệu tài chính và
số liệu hoạt động Ví dụ; Doanh thu chính là kết quả trong sự kết hợp giữa cácbiến về số lượng hàng hóa bán được và giá bán của mỗi đơn vị hàng hóa, hay
Trang 36tổng doanh thu chính là sự tổng hợp của doanh thu từng loại mặt hàng khácnhau Căn cứ vào mục đích cụ thể của việc vận dụng thủ tục phân tích và cácthông tin dữ liệu, KTV tiến hành xây dựng mô hình Đối với các khoản mụcdoanh thu và giá vốn, KTV có thể xây dựng các mô hình như:
Ước tính doanh thu và giá vốn hàng bán trong năm dựa vào tốc
độ luân chuyển hàng tồn kho và tốc độ hàng bán trong năm
Uớc tính doanh thu và giá vốn hàng bán trong năm dựa vào kếhoạch cũng như tỷ lệ thay đổi doanh thu và giá vốn hàng bántrong kỳ của đơn vị
Việc vận dụng các mô hình là nhằm mục đích dự đoán các số liệu cuối
kỳ trên các tài khoản doanh thu và giá vốn hay để dự đoán sự thay đổi so vớicác năm trước Tùy vào từng loại hình doanh nghiệp cũng như đối tượngkhách hàng mà từng mô hình sẽ được lựa chọn sao cho tối ưu nhất Ví dụ: vớikhách hàng mới, lần đầu kiểm toán nên chưa có các số liệu tin cậy giống nhưnhững số liệu năm trước đã được kiểm toán, do đó KTV có thể lựa chon môhình thứ hai, tức là mô hình ước tính doanh thu và giá vốn hàng bán dựa vào
số liệu kế hoạch của đơn vị và tỷ lệ thay đổi của các số liệu Nhưng đối vớicác khách hàng thường niên, thì việc áp dụng mô hình thứ nhất tức là ước tínhdoanh thu và gía vốn hàng bán dựa trên tốc độ lưu chuyển của hàng bán vàhàng tồn kho là thích hợp hơn Mô hình sẽ cung cấp nhiều thông tin hơn khikết hợp được những biến độc lập có liên quan và vì vậy dự đoán sẽ chính xáchơn Nếu mô hình và dự đoán đơn giản hóa thì sẽ đơn giản hóa các phép sosánh và mức hạn của bằng chứng kiểm toán Vì thế cần phát triển mô hìnhtheo hướng chi tiết hóa dữ liệu và có thể chi tiết hóa thành nhiều mô hình nhỏhơn để có thể tăng tính chính xác cho dự đoán
Bước 2: Xem xét tính độc lập và tin cậy của dữ liệu tài chính và nghiệp
vụ
Trang 37Theo chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam sô 520 đoạn 13 quy định:
“ Khi áp dụng quy trình phân tích, KTV phải xem xét các yếu tố sau:
- Mục tiêu của phân tích và độ tin cậy của kết quả thu được;
- Đặc điểm của đơn vị và mức độ chi tiết hóa thông tin (Ví dụ: Quy trìnhphân tích áp dụng đối với thông tin tài chính của từng đơn vị thành viên sẽhiệu quả hơn là chỉ áp dụng đối với thông tin tổng hợp của các đơn vị…);
- Khả năng sẵn có của các thông tin tài chính, phi tài chính;
- Độ tin cậy của các thông tin (Ví dụ: Sự đúng đắn của các kế hoạchhoặc dự đoán…);
- Tính thích đáng của các thông tin (Ví dụ: Kế hoạch được thiết lập cótính khả thi hơn là kế hoạch chỉ là các mục đích phải đạt được);
- Nguồn gốc thông tin (Ví dụ: Thông tin từ bên ngoài thường có độ tincậy cao hơn thông tin do đơn vị cung cấp…);
- Khả năng so sánh của thông tin (Ví dụ: Thông tin do đơn vị cung cấp
có thể so sánh với thông tin của đơn vị khác trong cùng ngành );
- Những hiểu biết có được từ cuộc kiểm toán các kỳ trước cùng với hiểubiết về tính hiệu quả của hệ thống KSNB và các vấn đề nảy sinh đã dẫn đếncác bút toán điều chỉnh trong những kỳ trước.”
Tính chính xác của dự đoán và bằng chứng thu được từ TTPT phụ thuộcvào tính độc lập và tin cậy của dữ liệu tài chính và nghiệp vụ sử dụng trong
mô hình Đối với Doanh thu thì cần thu thập các hợp dồng bán hàng, các xácnhận đối chiếu công nợ tại thời điểm cuối kỳ đối với giá vốn thì thu thập cácphiếu xuất hàng đem bán đây chính là các tài liệu mang tính độc lập và cóhiệu lực cao mà KTV cần quan tâm
Bước 3: Ước tính giá trị và so sánh với giá trị ghi sổ
So sánh giá trị ghi sổ có thể dựa theo mô hình và trên cơ sở dữ liệu độclập và tin cậy Phép so sánh này cần chú ý các xu hướng:
Trang 38- Tính thường xuyên của việc đánh giá mối quan hệ đang nghiên cứu(chianhỏ số liệu theo thời gian): tính nhất quán cũng như độ tin cậy của mối quan hệtrong phân tích càng cao khi mối quan hệ cụ thể này được đánh giá thườngxuyên Ví dụ phân tích xu hướng biến động của doanh thu bán hàng theo sốlượng bán hoặc cơ cấu của doanh thu từng loại mặt hàng chắc chắn sẽ cung cấpbằng chứng thuyết phục hơn so với việc phân tích biến động này theo năm.
- Tính biến động tất yếu và biến động bất thường: Doanh thu đối vớiphần lớn công ty là theo thời vụ, tính chất thời vụ này dẫn đến doanh thu luônbiến động hàng tháng, hoặc cơ cấu doanh thu của từng nhóm mặt hàng cũng
sẽ thay đổi Khi so sánh số liệu các tháng với nhau chênh lệch có thể là biếnđộng tất yếu theo mùa vì thế không thể có giá trị bất biến hàng tháng Để cóchênh lệch cần so sánh với số liệu cùng kỳ năm trước hoặc số tổng cộng cảnăm
Bước 4: Phân tích nguyên nhân chênh lệch
Nguyên nhân chênh lệch có thể do số dư tài khoản hay loại nghiệp vụđược kiểm toán chứa đựng sai sót và cũng có thể do ước tính trong phân tích.Đối với các khoản mục doanh thu và giá vốn có ảnh hưởng trực tiếp đến cácnghĩa vụ của doanh nghiệp đối với nhà nước, do đó thường xuất hiện nhiềusai phạm như khai giảm doanh thu hoặc khai tăng chi phí để nhằm giảm lợinhuận Những chênh lệch được tìm ra sẽ được đem đối chiếu với mức trọngyếu đã được KTV xác định trong giai đoạn chuẩn bị kiểm toán Mọi sự giảithích cho sự chênh lệch được tìm ra này cần phải được xem xét một cách cẩntrọng, KTV sẽ phải xem xét cả những nguyên nhân từ phía đơn vị cũng như
từ những giả định và dữ liệu dùng để ước tính Cuối cùng nếu quá trình thựchiện thủ tục phân tích vẫn còn những chênh lệch KTV sẽ phải tiến hành kiểmtra chi tiết
Bước 5: Xem xét những phát hiện qua kiểm toán
Trang 39Những phát hiện qua kiểm toán bao gồm những sai sót trong tài khoản,qua quan sát hệ thống KSNB, hệ thống thông tin và những vấn đề khác vì vậybằng chứng kiểm toán thu thập được từ TTPT cần được đánh giá lại Nghĩa làmọi chênh lệch được phát hiện trong kiểm toán cần được điều tra về tính chất
và nguyên nhân cả về cơ sở dẫn liệu cả về mục tiêu kiểm toán và cả tình hìnhkinh doanh của khách hàng
2.1.3 Thủ tục phân tích trong giai đoạn kết thúc kiểm toán
đó giúp KTV đưa ra kết luận tổng quát về tính trung thực, hợp lý của toàn bộBCTC Tuy nhiên, quy trình phân tích cũng chỉ ra những điểm yêu cầu KTVphải thực hiện công việc kiểm toán bổ sung.”
2.1.3.2 Phương pháp tiến hành thủ tục phân tích trong giai đoạn kết thúc kiểm toán
Trong giai đoạn này, TTPT thực hiện các bước sau: So sánh thông tin vàphân tích kết quả
Bước 1: So sánh thông tin
Trong bước này, thủ tục phân tích sẽ giúp KTV đánh gía lại những thôngtin đã thu thập được một cách tổng quát nhất, những thông tin trong giai đoạnnày sẽ được đánh giá một cách cẩn trọng trước khi đi đến kết luận cho cuộckiểm toán Cũng như trong giai đọan chuẩn bị các thông tin được đem so sánhnhưng trong giai đoạn này thường nghiêng về giải thích cho những nhận định
Trang 40ban đầu khi thực hiện so sánh, thủ tục phân tích trong giai đoạn này phải đảmbảo rằng các giải thích là logic và KTV chấp nhận được.
Bước 2: Phân tích kết quả
Bước phân tích kết quả trong giai đoạn này của TTPT chủ yếu dựa vàohiểu biết của KTV và những bằng chứng thu thập được trong qua trình thựchiện kiểm toán Khi đã tìm hiểu được nguyên nhân của sai sót, KTV đưa rakết luận sau khi thực hiện TTPT soát xét Nếu KTV không tìm ra được sự giảithích hợp lý thì KTV cần phải xác định các thủ tục kiểm toán bổ sung nhằmthu thập thêm bằng chứng để làm sáng tỏ vấn đề còn nghi vấn để đưa ra ýkiến và hình thành báo cáo thích hợp
2.2 Quy trình vận dụng thủ tục phân tích khoản mục doanh thu và giá vốn hàng bán cho khách hàng ABC và khách hàng XYZ do công ty TNHH Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán (AASC) thực hiện
2.2.1 Quy trình vận dụng thủ tục phân tích trong kiểm toán khoản mục doạnh thu và giá vốn hàng bán tại khách hàng ABC (khách hàng mới)
2.2.1.1 Giai đoạn chuẩn bị kiểm toán
Tìm hiểu thông tin về khách hàng
Công ty cổ phần thép ABC là đơn vị lần đầu tiên được kiểm toán bởi công tyAASC Abc hoạt động trong các lĩnh vực chủ yếu như: Sản xuất thép và cáckim loại khác, vật liệu chịu lửa, thiết bị phụ tùng luyện kim và sản phẩm thépsau cán; Khai thác quặng sắt, than mỡ và các nguyên liệu trợ dung cho côngnghiệp sản xuất thép;Xuất nhập khẩu và kinh doanh các sản phẩm thép vànguyên nhiên liệu luyện, cán thép; phế liệu kim loại; cao su, xăng, dầu, mỡ,
ga và các loại vật tư, phụ tùng, thiết bị phục vụ cho sản xuất thép, xây dựng,giao thông, cơ khí và các ngành công nghiệp khác;Thiết kế, tư vấn thiết kế,chế tạo, thi công xây lắp các công trình sản xuất thép, các công trình côngnghiệp và dân dụng; sản xuất và kinh doanh vật liệu xây dựng; Kinh doanh