1. Trang chủ
  2. » Mẫu Slide

bài tiểu luận: đáp ứng miễn dịch của cơ thể đối với virus HIV

39 404 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 39
Dung lượng 3,65 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người viết tắt HIV/AIDS, tiếng Anh: human immunodeficiency acquise, còn gọi là bệnh tê liệt tê liệt khả năng đề kháng, là một bệnh của hệ miễn

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ VẠN XUÂN

ĐÁP ỨNG MIỄN DỊCH CỦA CƠ THỂ ĐỐI VỚI

HIV/AIDS

GVHD: NGUYỄN THỊ VINH SINH VIÊN: VÕ THỊ ÁNH ĐƠN VỊ: KHOA CNSH

Trang 2

III TÀI LIỆU THAM

KHẢO

II VIRUS HIV

VÀ CƠ CHẾ GÂY

BỆNHIII HẬU QUẢ VÀ PHÒNG TRÁNH BỆNH

Trang 3

THINK ABOUT IT?

Trang 4

-

Hiện tại đại dịch HIV/ AIDS là một đại dịch nguy hiểm, là mối nguy hại đối với tính mạng, sức khỏe con người và tương lai của các quốc gia, các dân tộc trên toàn thế giới Nó tác động mạnh mẽ đến sự lớn mạnh về kinh tế, văn hóa, an ninh quy trình và an toàn phát triển bền vững của rất nhiều tất cả các nước trên toàn cầu Đáng lo ngại hơn là HIV/AIDS đang lan tràn mạnh mẽ ở khắp những vùng miền trên toàn thế giới

- Riêng Việt Nam, cục phòng chống HIV/AIDS cho biết: Ước tính cả

năm 2017, nước ta sẽ có khoảng 9.800 người nhiễm HIV mới được phát hiện và khoảng 1.900 người nhiễm HIV tử vong

- HIV/AIDS hay người ta còn gọi là căn bệnh thế kỷ vì hiện tại chưa có

loại thuốc nào chữa khỏi căn bệnh này Người bị nhiễm HIV có thể sống

Trang 5

HIV/AIDS

Trang 6

I GIỚI THIỆU VỀ BỆNH HIV

1.1 Khái niệm.

- Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (viết tắt HIV/AIDS), tiếng Anh: human immunodeficiency acquise), còn gọi là bệnh tê liệt ( tê liệt khả năng đề kháng), là một bệnh của hệ miễn dịch, gây ra do

bị nhiễm virus suy giảm miễn dịch ở người

- HIV là virus gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người Hiv gây tổn thương hệ thống miễn dịch của cơ thể và làm cho cơ thể không còn khả năng chống lại các tác nhân gây bệnh dẫn đến chết

- AIDS là giai đoạn cuối cùng của quá trình nhiễm HIV được thể hiện bởi các bệnh nhiễm trùng cơ hội, ung thư và các bệnh liên quan đến

Trang 7

1.2 Con đường lây lan của bệnh

- Nguyên nhân là một loại virus có tên là HIV (còn gọi là virus

SIDA)

- HIV lây truyền chủ yếu:

• Quan hệ tình dục không an toàn

• Truyền máu từ nguồn đã bị nhiễm bệnh, qua dùng chung kim tiêm

• Mẹ sang con: trong khi mang thai, khi sinh hoặc khi cho con

bú Một số chất dịch của cơ thể như nước bọt và nước mắt không lây truyền HIV

Trang 9

1.3 Biều hiện.

- Quá trình phát triển của virus chia làm 3 giai đoạn khác nhau:

Giai đoạn 1: Được gọi là giai đoạn cửa sổ

Giai đoạn này kéo dài từ 3 – 6 tháng sau hành vi nguy cơ (quan hệ tình dục không sử dụng bao cao su với gái mại dâm, dùng chung

bơm kim tiêm với người bị nhiễm bệnh…) Ở giai đoạn này thì có đến 80% người bị nhiễm virus hoàn toàn không có biểu hiện gì của bệnh, 20% còn lại có một số những biểu hiện nhiễm trùng cấp như: + Sốt (38-40 độ C), đau cơ, đau khớp, vã mồ hôi, mệt mỏi, chán ăn, nôn ói, tiêu chảy, viêm họng, phát ban đỏ ngoài da ( xuất hiện ở 50% bệnh nhân), hạch to, lách to, một số bệnh nhân có biểu hiện thần kinh như: viêm não, viêm màng não, viêm dây thần kinh ngoại biên…Các triệu chứng này hiện diện trong vòng 5-10 ngày tự khỏi

Trang 10

• Trong giai đoạn này, chỉ mới có sự hiện diện của kháng nguyên tức

virus HIV trong máu Lúc này hệ miễn dịch chưa phát hiện ra sự có mặt của virus trong cơ thể nên chưa sản sinh ra kháng thể

Trang 11

Giai đoạn 2:  Được gọi là giai đoạn HIV không triệu chứng (giai đoạn

nhiễm trùng không triệu chứng)

• Sau thời kỳ nhiễm trùng cấp (diễn ra ở 20% số người bị nhiễm) thì người nhiễm HIV rơi vào giai đoạn dài không có triệu chứng lâm sàng, nhưng chẩn đoán huyết thanh (xét nghiệm test nhanh) lại khá

dễ dàng, dựa vào sự hiện diện của kháng thể chống HIV có trong máu của người bị nhiễm

• Tức là trong giai đoạn này bệnh nhân sẽ có kết quả chính xác sau khi làm xét nghiệm máu để tìm kháng thể chống virus HIV

• Lúc này bạch cầu chỉ bị tiêu diệt ít không đáng kể Virus tiếp tục sinh sôi nẩy nở, nhìn bề ngoài không ai có thể biết được bệnh nhân

đã bị nhiễm HIV, ngay cả chính bản thân người bệnh (nếu chưa xét nghiệm máu) Thời gian này kéo dài từ 5-10 năm

Trang 12

Giai đoạn 3: Giai đoạn HIV có triệu chứng

• Hội chứng hạch to toàn thân và kéo dài: Sau khi xét nghiệm huyết

thanh dương tính, 50-70% trường hợp xuất hiện hội chứng hạch to toàn thân và kéo dài Hội chứng này được chẩn đoán khi có đủ các điều kiện sau:

- Có ít nhất 2 hạch khác nhau (không kể hạch bẹn)

- Mỗi hạch thường có đường kính trên 1 cm

- Hiện diện kéo dài trên 1 tháng

- Không giải thích được lý do nổi hạch

• Hay gặp nhất là hạch cổ, rồi đến hạch dưới hàm, hạch nách Một số hạch ít gặp hơn là hạch ở khuỷu tay, trung thất (trong lồng ngực), và trong ổ bụng

Trang 13

• Những biểu hiện lâm sàng của người bị HIV( bệnh chuyển sang giai đoạn AIDS):

• Tiêu chẩy > 1 tháng

• Sút 3 – 5% trọng lượng cơ thể,

• Sốt không rõ nguyên nhân kéo dài…

• Tiếp sau đó là người nhiễm virus HIV bắt đầu mắc các bệnh nhiễm trùng cơ hội từ bên ngoài hay nói cách khác là do HIV đã đi đến giai đoạn cuối cùng là AIDS

Trang 14

II Virus HIV VÀ CƠ CHẾ GÂY BỆNH

2.1 Đặc điểm về virus HIV

• Bệnh do vi rút HIV

+ Vỏ của HIV được cấu tạo bởi lớp lipid kép Chính lớp vỏ kép này giúp cho HIV giữ được sức bền của bề mặt để có thể tồn tại lâu hơn khi nó ở ngoài cơ thể Nhờ đó HIV có thể tồn tại ngoài môi

trường từ vài ngày đến một tuần, nhất là khi nó nằm trong máu dính trong các bơm, kim tiêm đã sử dụng

Trang 15

• Bề mặt của HIV có rất nhiều gai nhú, bản chất là các phân tử

glycoprotein

• Nhân của HIV gồm 2 chuỗi ARN và có men sao chép ngược Nhờ có men sao chép ngược nên khi vào trong tế bào HIV có khả năng sao chép 2 chuỗi ARN thành 2 chuỗi AND và gắn vào nhân tế bào và

nhân lên thành các vi-rút mới

• Kích thước của HIV vô cùng nhỏ bé, chỉ vào khoảng từ 80 – 120

nanomet tính trung bình thì cần khoảng 10000 vi-rút HIV xếp liền nhau để ta có một độ dài 1mm)

Trang 16

2.2 Cơ chế xâm nhập và gây bệnh của virus

• Sau khi xâm nhập cơ thể, HIV tấn công ngay vào các bạch cầu,

nhất là lympho bào T-CD4 HIV sử dụng chính chất liệu di truyền của các tế bào bạch cầu này để nhân lên, để sinh sôi nảy nở

• HIV phá hủy bạch cầu ngày càng nhiều, dẫn đến hệ miễn dịch của cơ thể bị suy giảm dần, cuối cùng là bị “vô hiệu hoá” và điều

đó có nghĩa là cơ thể con người không còn được bảo vệ nữa Lúc

đó, mọi mầm bệnh khác như vi trùng, siêu vi trùng nhân cơ hội

này gây bệnh (nhiễm trùng cơ hội) và cả tế bào ung thư “mặc sức hoành hành” gây nên nhiều bệnh nguy hiểm và cuối cùng dẫn đến tử vong

Trang 18

• Vi rút gắn lên bề mặt tế bào: HIV gắn vào bề mặt tế bào đích nhờ

sự liên kết đặc biệt giữa phân tử gp120 với các thụ thể CD4 và các đồng thụ thể khác

• Virus xâm nhập tế bào: Sau khi bám vào tế bào đích, phân tử

protein gp41 của virus cắm vào màng tế bào

• Virus nhân lên trong tế bào: Nhờ men sao chép ngược, ADN chuỗi

kép của HIV được tạo thành từ khuôn mẫu ARN của nó Sau khi

được tổng hợp, ADN kép chui vào nhân tế bào đích, tích hợp vào ADN tế bào nhờ men integrase au đó, bộ gen và enzym của HIV giải

Trang 19

• Khi vi rút xâm nhập tế bào, có hai khả năng xảy ra:

– Virus “ngủ ” trong tế bào nhiễm, đây là giai đoạn không triệu

chứng Các tế bào T-CD4 bị nhiễm vi rút vẫn có thể lây cho người khác Vi rút gây nhiễm các hạch bạch huyết và các đại thực bào

– Khi virus kết hợp được với tế bào T-CD4, nó gắn ADN của nó vào ADN của tế bào Vì vậy, khi T-CD4 hoạt hóa, nó vô tình trở thành

một nhà máy sản xuất HIV Các vi rút mới được tạo ra sẽ phá vỡ tế bào (đây là cơ chế chính gây giảm tế bào lympho T-CD4 ở người

nhiễm HIV), đồng thời khi ra khỏi tế bào sẽ tiếp tục gây nhiễm các

tế bào lành khác

Trang 20

• ADN bổ sung của HIV được sao chép thành hạt virion mới Đây là trạng thái nhân lên của HIV với các bước tiếp theo như sau:

  Sao mã muộn: ADN bổ sung của HIV được sao mã thành ARN

genom và mARN cho nó (mARN)

  Dịch mã: Nhờ mARN được tạo thành ở giai đoạn trên, các protein

cần của HIV được tổng hợp

  Lắp ráp các hạt virion mới:Từ các thành phần đã được tổng hợp,

các hạt HIV mới được lắp ráp ở bào tương tế bào

Giải phóng các loại HIV mới: Từ các vị trí lắp ráp các hạt HIV tiến

gần đến màng nguyên sinh chất, các màng này nảy chồi và các hạt

Trang 21

2.3 Đáp ứng miễn dịch đối với virus HIV

• HIV là virus chậm, nó cần vài năm để xuất hiện các triệu chứng Có nhiều người bị nhiễm nhưng phải sau nhiều năm mới biết Sau nhiều năm khi hệ thống miễn dịch bị suy yếu, họ sẽ bị nhiễm những bệnh

mà thường thì họ có thể chống lại được

• Một số người HIV mà hàng chục năm không chuyển sang giai đoạn AIDS, đó là do các tế bào miễn dịch CD8 nhân lên rất nhanh khi bị nhiễm HIV, chúng sản sinh ra các protein đặc biệt giúp ức chế sự

nhân lên của virus HIV

• (CD8 là những tế bào lympho T có khả năng tiêu hủy các tế bào

trong máu nhiễm virus nhờ đó ngăn chặn được sự tiến triển của

HIV)

Trang 22

• CD4 có nhiệm vụ cảnh giới và nhận dạng kháng nguyên, nhưng khi HIV xâm nhập thì CD4 mất khả năng nhận dạng kháng nguyên và

cơ thể cũng không thể báo động được hệ miễn dịch.

Trang 23

• Sau khi HIV gắn với thụ thể CD4 rồi xâm nhập và phát triển trong tế bào của vật chủ Khi tế bào T-CD4 hoạt hóa thì đồng thời các HIV mới cũng song song được tạo ra bởi ADN của virus được gắn vào ADN của tế bào T-CD4 Các tế bào bị nhiễm HIV sẽ gây nhiễm cho các tế bào lành khác Sau khi bị nhiễm HIV, các vi rút mới tổng hợp được giải phóng ra sẽ đến gắn vào các thụ thể CD4 của các tế bào lành khác rồi xâm nhập

• Phân tử gp120 được tổng hợp trong tế bào bị nhiễm HIV di chuyển

ra bề mặt và gắn với thụ thể CD4 trên bề mặt tế bào lành gần đó, tạo nên các hợp bào Hợp bào bị thay đổi tính chất, không còn chức năng của tế bào bình thường và sau đó sẽ bị vỡ Vì vậy không chỉ những tế bào bị nhiễm HIV mà cả các tế bào lành khác cũng bị ảnh hưởng một cách nghiêm trọng

Trang 24

• Đại thực bào, tế bào lympho B, tế bào tua gai cũng bị HIV tấn công

và hủy diệt Do đó, phần nào quá trình tương tác và trình diện

kháng nguyên, khâu mở đầu của đáp ứng miễn dịch không thực

hiện được

• Tế bào T-CD4 không được hoạt hoá, không nhận diện được kháng nguyên và vì thế mà không sản xuất được các cytokin để kích thích hoạt hóa các tế bào miễn dịch khác Hậu quả là các tế bào lympho B được hoạt hóa sinh kháng thể một cách yếu ớt, các tế bào T-CD8 (tế bào miễn dịch có vai trò quan trọng trong đáp ứng miễn dịch chống virus) cũng không được hoạt hóa hoặc hoạt hóa không đầy đủ nên không tiêu diệt được virus Khi T-CD4 bị giảm số lượng, giảm chức năng, đáp ứng miễn dịch dịch thể và đáp ứng miễn dịch tế bào cũng

Trang 25

VÒNG ĐỜI CỦA VIRUS HIV

Trang 26

- Tế bào T-CD4 là một phân nhóm quan trọng nhất của tế bào

lympho T Chức năng chính của nó là nhận biết kháng nguyên lạ và điều hòa hệ thống miễn dịch của cơ thể Chức năng nhận biết kháng nguyên Tế bào T-CD4 có vai trò quan trọng bậc nhất trong nhận biết kháng nguyên lạ (kháng nguyên ngoại sinh)

- Khi các kháng nguyên này xâm nhập vào cơ thể, hầu hết bị đại thực bào bắt giữ, cắt thành những mảnh peptid thẳng và hiện lên bề mặt

tế bào nhờ các phân tử MHC lớp II Phân tử này được gắn kết đặc hiệu với phân tử CD4 trên bề mặt tế bào T-CD4 nên các thụ thể của T-CD4 (TCR) mới có điều kiện nhận diện kháng nguyên (mảnh

Trang 27

Đã hơn một thế kỷ kể từ ngày đầu tiên phát hiện virus này Nhiều gia đình, số phận đang bị hủy hoại bởi HIV/AIDS Nhiều quốc gia đang bị suy thoái vì căn bệnh này Hàng triệu USD được dùng cho công tác chăm sóc người bệnh Cho tới thời điểm hiện tại loài người vẫn chưa tìm ra được một loai vacxin hiệu quả để điều trị Tại sao vậy?

Trang 28

• Sau khi lây nhiễm vào cơ thẻ, một số tế bào có HIV sẽ trở thành

“ ngủ đông” và có thể tái hoạt động trở lại sau nhiều năm, gây nguy hiểm đến tính mạng của người bệnh Các nhà nghiên cứu đã không thể

lý giải lý do tại sao những tế bào này trở nên tiềm ẩn và tránh bị hệ

thống miễn dịch phát hiện trong suốt thời gian dài

• Theo đó, virus lây nhiễm tế bào T-CD4, một loại tế bào miễn dịch

và sử dụng AND của tế bào để tạo ra ARN virus, nó vận chuyển các thông tin di truyền để tạo ra các protein Cơ chế này giúp phát tán các virus mới lây nhiễm nhiều hơn

• Các tế bào bị nhiễm bệnh tiềm ẩn là rất hiếm, chỉ chiếm tỷ lệ một trong một triệu tế bào T-CD4 và chúng ta không thể nào xác định được chúng Việc chúng “ ngủ đông” và đột ngột quya trở lại không

Trang 29

• Tuy nhiên, trong giai đoạn tiềm ẩn, một tế bào nhiễm HIV sẽ ngừng sinh sản trong một thời gian dài Bởi chúng không thể tái sản xuất virus Chúng có thể gây tử vong khi quay trở lại hoạt động

• Ngoài ra, cấu trúc HIV có lipit lép khó phá vớ, giúp nó bám vào tế bào T-CD4

• Hiện tại đã có thuốc chống phơi nhiễm HIV

Trang 30

• Phơi nhiễm HIV là thuật ngữ dùng dể chỉ sự tiếp xúc niêm mạc hay

da không nguyên vẹn với máu, mô hay các dịch cơ thể khác có nguy

cơ lây nhiễm HIV

• Các trường hợp của phơi nhiễm HIV:

- Bị kim đâm, vết thương do dao mổ hay dụng cụ sắc gây ra đã dùng cho người bị nhiễm

- Bị người khác dùng kim tiêm đã sử dụng mà bị nhiễm đâm vào…

- Quan hệ tình dục với người bị HIV mà không dùng biện pháp,

bị cưỡng hiếp…

Trang 31

• Cơ chế hoạt động của thuốc chống phơi nhiễm HIV:

- Thuốc kháng virus (ARV) có tác dụng ức chế virus HIV là sẽ làm giảm số lượng virus trong cơ thể, giảm sự xâm nhập, phá hủy các

tế bào miễn dịch của cơ thể

- Giúp hệ thống miễn dịch của cơ thể dần hồi phục, có khả năng chống đỡ lại các tác nhân gây bệnh xâm nhập vào cơ thể

Trang 32

• Điều trị dự phòng phơi nhiễm:

- Việc điều trị ARV ngay cho người bị phơi nhiễm, đặc biệt là những người có nguy cơ lây nhiễm cao, càng sớm càng tốt Tốt nhất là điều trị ARV sớm từ 2-6h sau khi bị phơi nhiễm và không nên điều trị muộn sau 72h

- Thời gian điều trị ARV kéo dài trong 4 tuần

- Trong thời gian điều trị dự phòng ARV, cần theo dõi tác dụng phụ của thuốc của thuốc ARV Đồng thời, nguời bị phơi nhiễm cần xét nghiệm HIV sau 1, 3 và 6 tháng kể từ thời điểm bị phơi nhiễm Trong thời gian, đang điều trị cần thực hiện các biện pháp dự phòng lây nhiễm HIV cho người khác vì vẫn có khả năng lây truyền HIV nếu điều trị

phơi nhiễm thất bại

Trang 33

III HẬU QUẢ VÀ CÁCH PHÒNG NGỪA

3.1 Hậu quả

• Khi HIV vào trong cơ thể, chúng sẽ tự sản sinh ra hàng nghìn virus

khác để tăng khả năng tiêu diệt các tế bào CD4+, khiến không còn khả năng tự bảo vệ mình chống lại nhiễm trùng

• Trong vài tháng nhiễm bệnh, số lượng tế bào CD4+ chỉ giảm nhẹ

Người bệnh gặp các triệu chứng như cúm, sốt, nhức đầu, đau bụng, đau nhức cơ bắp, tiêu chảy, phát ban, nổi hạch Trong khoảng từ 8-10 năm tiếp theo, các tế bào CD4+ giảm mạnh, gây ra các triệu chứng như mệt mỏi, khó thở, ho, sốt, sưng hạch bạch huyết, giảm cân…

• Nếu HIV phát triển thành AIDS (hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải), cơ thể dễ bị nhiễm trùng cơ hội Hệ thống miễn dịch bị tổn hại nghiêm trọng Số lượng CD4+ giảm đáng kể chỉ còn khoảng 200 tế bào/

mm khối máu Người bệnh dễ bị mắc lao, ung thư, viêm phổi và có

nguy cơ tử vong cao

Trang 35

3.2 Cách phòng ngừa

• Dựa vào đường lây nhiễm HIV, có các biện pháp phòng sau:

 Phòng nhiễm HIV/AIDS lây qua đường tình dục:

• Sống lành mạnh, chung thuỷ một vợ một chồng và cả hai người đều chưa bị nhiễm HIV Không quan hệ tình dục bừa bãi

• Trong trường hợp quan hệ tình dục với một đối tượng chưa rõ có bị nhiễm HIV không, cần phải thực hiện tình dục an toàn để bảo vệ

cho bản thân bằng cách sử dụng bao cao su đúng cách

• Phát hiện sớm và chữa trị kịp thời các bệnh lây truyền qua đường tình dục cũng giúp giảm thiểu nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS vì những tổn thương do nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục sẽ là cửa vào lý tưởng cho HIV

Ngày đăng: 07/06/2018, 20:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w