1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Chính sách trợ cấp trợ cấp tai nạn lao động từ thực tiễn tỉnh bình dương

92 214 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 349,84 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tính cấp thiết của đề tài Có thể nói chính sách trợ TNLĐ là một trong những chế độ BHXH ra đờisớm nhất trong lịch sử phát triển của BHXH, có vai trò quan trọng trong việc đảmbảo đời sống

Trang 1

VIỆN HÀN LÂMKHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 3

VIỆN HÀN LÂMKHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS TS LÊ THANH SANG

HÀ NỘI, 2018

Trang 4

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

AT,VSLĐ An toàn, vệ sinh lao động

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Có thể nói chính sách trợ TNLĐ là một trong những chế độ BHXH ra đờisớm nhất trong lịch sử phát triển của BHXH, có vai trò quan trọng trong việc đảmbảo đời sống cho NLĐ sau khi bị rủi ro do quá trình lao động Trong bối cảnh nềnkinh tế nước ta đang trải qua quá trình cơ giới hóa, manh nha giai đoạn tự động hóa,

sự phát triển của các ngành công nghiệp chủ yếu dựa vào máy móc, thiết bị thay chothao tác thủ công của NLĐ làm cho tình hình TNLĐ cũng tăng nhanh qua các năm.TNLĐ gây ra những tổn thất lớn lao về người và của cho các cá nhân, gia đình vàtoàn xã hội

Theo quy định hiện hành, khi bị TNLĐ, NLĐ sẽ được hưởng hai chế độ; thứnhất là chế độ bồi thường hoặc trợ cấp từ phía NSDLĐ tùy thuộc vào yếu tố lỗi củacác bên trong vụ TNLĐ; thứ hai là chế độ trợ cấp TNLĐ từ tổ chức BHXH Trongnhững năm qua, chính sách, chế độ BHXH đối với người bị TNLĐ đã nhiều lầnđược bổ sung, sửa đổi cho phù hợp, đặc biệt là sau khi có Luật BHXH Tuy nhiên,thực trạng chính sách TNLĐ còn tồn tại nhiều hạn chế như: chưa có cơ chế tạo điềukiện cho người bị TNLĐ tìm việc làm phù hợp; mức hưởng thấp; chưa có nhữngbiện pháp hiệu quả để hạn chế TNLĐ; chưa có cơ chế thưởng, phạt rõ ràng đối vớicác đơn vị thực hiện tốt hoặc không tốt công tác AT,VSLĐ; số lượng NLĐ tham giachế độ thấp

Nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, Bình Dương là một tỉnh côngnghiệp có tốc độ phát triển cao so với các địa phương khác trong cả nước, đóng gópđáng kể vào ngân sách nhà nước, là một trong những địa phương giữ vai trò đầu tàukinh tế Tốc độ thu hút đầu tư và phát triển kinh tế của tỉnh kéo theo sự gia tăng rấtnhanh số lượng doanh nghiệp và NLĐ, là những đối tượng trực tiếp chịu tác độngcủa chính sách BHXH và chính sách trợ cấp TNLĐ Chính vì vậy, việc nghiên cứu

đề tài “Chính sách trợ cấp trợ cấp tai nạn lao động từ thực tiễn tỉnh Bình Dương”, từ đó đưa ra những kiến nghị, giải pháp nhằm khắc phục những bất cập,

yếu điểm của chính sách, chế độ hiện hành là hết sức cần thiết

6

Trang 7

do TS Dương Xuân Triệu làm Chủ nhiệm Đề tài đã khái quát những vấn đề

lý luận về BHXH và quỹ BHXH; phân tích thực trạng hoạt động chi trả cácchế độ BHXH và quỹ BHXH; phân tích thực trạng hoạt động chi trả các chế

độ BHXH ở Việt Nam giai đoạn 1995 - 1996 thông qua việc phân tích cácmặt như: cơ sở vật chất phục vụ công tác chi trả, hệ thống sổ sách biểu mẫuchi trả BHXH, quản lý đối tượng chi trả, quy trình chi trả và lệ phí chi trả;đồng thời qua việc phân tích các phương thức chi trả BHXH, phương hướnghoàn thiện các phương thức chi trả BHXH ở nước ta Kết quả của đề tài nàylà:

+ Nêu lên được những ưu điểm và nhược điểm của phương thức chi trả trựctiếp và gián tiếp

+ Đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện tác nghiệp chi trả các chế độBHXH cho người lao động như: hoàn thiện các văn bản pháp lý để cơ quan BHXHcác cấp có cơ sở thực hiện; xây dựng hệ thống tổ chức bộ máy chi trả hoàn chỉnh từTrung ương đến cơ sở; tính toán mức phí chi trả giữa các vùng, các khu vực cho hợp

lý hơn; tăng cường cơ sở vật chất cho cơ quan BHXH cấp huyện phục vụ cho côngtác chi trả trực tiếp; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát tài chính trong khâunghiệp vụ, chuyên môn; đẩy mạnh công tác học tập, rèn luyện, năng cao trình độnghiệp vụ chuyên môn, phẩm chất đạo đức của cán bộ làm công tác BHXH; tăngcường công tác tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng về chính sách,chế độ BHXH

- Đề tài khoa học “Hoàn thiện phương thức tổ chức, quản lý chi trả chế độ ốmđau, thai sản, TNLĐ và BNN cho người tham gia BHXH”, năm 1998, do TS.Dương Xuân Triệu làm Chủ nhiệm Đề tài đã hệ thống hóa các vấn đề lý luận

7

Trang 8

cơ bản về chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và BNN cả trước và saukhi BHXH

Việt Nam đi vào hoạt động Đề tài đã phản ánh được quá trình tổ chức quản lý chi

ba chế độ theo cơ chế cũ, cũng như từ khi BHXH Việt Nam ra đời, đã phân tíchđược những mặt mạnh, mặt yếu cùng với những tồn tại do các văn bản pháp luật vềBHXH gây ra Qua đó, đề tài cũng đã đưa ra những kiến nghị làm cơ sở cho việcsửa đổi các văn bản pháp luật hiện hành để đáp ứng các yêu cầu đổi mới cơ chếchính sách về BHXH

- Đề tài khoa học “Thực trạng và giải pháp về chế độ chính sách BHXHTNLĐ, BNN đối với người lao động tham gia BHXH”, năm 2000, chủnhiệm: Hà Văn Chi, BHXH Việt Nam

Đề tài đã nghiên cứu các nội dung:

+ Khái quát những vấn đề có tính lý luận về BHXH và chế độ TNLĐ, BNNtrên thế giới và ở Việt Nam như khái niệm, vai trò, nguyên tắc hoạt động củaBHXH, mối quan hệ giữa chế độ TNLĐ, BNN với các chế độ khác trong hệ thốngcác chế độ BHXH

+ Phân tích thực trạng TNLĐ, BNN ở nước ta giai đoạn năm 1998 - 2000 vàcác nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến TNLĐ, BNN và đề tài phân tích hai nhóm nhân

tố cơ bản là điều kiện lao động và công tác an toàn lao động

+ Đánh giá thực trạng thực hiện chế độ TNLĐ, BNN ở Việt Nam, bao gồmđánh giá nội dung chế độ theo quy định tại Nghị định số 12/CP ngày 26/01/1995 và

tổ chức thực hiện chế độ trên cơ sở đó đưa ra những hạn chế và nguyên nhân

+ Đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện chế độ BHXH, TNLĐ, BNNnhư giải pháp hoàn thiện chính sách, giải pháp về tổ chức thực hiện và giải phápnhằm hạn chế những nhân tố gây ra TNLĐ, BNN

Tuy nhiên, do đề tài thực hiện nghiên cứu vào năm 2000, khi đó chưa có Bộluật Lao động bổ sung, sửa đổi, Luật BHXH nên đề tài đánh giá chế độ, chính sáchBHXH theo Điều lệ BHXH kèm theo Nghị định số 12/CP ngày 26/01/1995, cónhiều hạn chế mà đề tài đưa ra đã được sửa đổi, bổ sung ở BLLĐ và Luật BHXH

8

Trang 9

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống hoá cơ sở lý luận về chế độ BHXH, chế độ trợ cấp TNLĐ

- Nghiên cứu thực tiễn áp dụng chế độ trợ cấp TNLĐ tại tỉnh Bình Dương, từ

đó chỉ ra những mặt tồn tại và nguyên nhân

- Đưa ra những giải pháp hoàn thiện chế độ trợ cấp TNLĐ và đề xuất cụ thể cơquan chịu trách nhiệm chính, cơ quan phối hợp thực hiện, nhằm phát huy hơnnữa vai trò của chế độ TNLĐ trong việc đảm bảo đời sống của người laođộng sau khi bị TNLĐ, thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đấtnước

Tác giả luận văn tiến hành nghiên cứu những tài liệu khoa học đã công bố,những văn bản pháp luật hiện hành và những tư liệu, báo cáo kết quả công tác thựchiện chính sách trợ cấp TNLĐ tại tỉnh Bình Dương trong giai đoạn 2012 - 2016; tiếpcận, khảo sát trực tiếp đối với NLĐ, nhân viên phụ trách thủ tục BHXH ở một sốdoanh nghiệp tại tỉnh Bình Dương để lắng nghe sự phản hồi, đánh giá và kiến nghị,

đề xuất của họ đối với chính sách BHXH và chính sách trợ cấp TNLĐ trong thờigian sắp tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu về chính sách BHXH nói chung và chính sách trợ cấpTNLĐ nói riêng, tình hình thực tiễn áp dụng tại tỉnh Bình Dương và đánh giá phảnhồi của đối tượng có liên quan (NLĐ, nhân viên phụ trách thủ tục BHXH làm việctại một số doanh nghiệp)

Luận văn nghiên cứu chế độ BHXH, chế độ trợ cấp TNLĐ của Việt Nam vàthực tiễn áp dụng tại tỉnh Bình Dương trong giai đoạn 2012 - 2016

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Phương pháp luận:

Luận văn sử dụng kết hợp đồng thời cả phương pháp diễn dịch và phươngpháp quy nạp trong quá trình phân tích làm rõ vấn đề đặt ra hoặc chứng minh mộtkết luận, một nhận xét của tác giả

Phương pháp nghiên cứu:

9

Trang 10

Luận văn sử dụng các phương pháp thu thập và phân tích thông tin nghiêncứu sau:

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp: Phương pháp này được sử dụng

để thu thập thông tin khoa học trên cơ sở nghiên cứu các công trình khoa học, tàiliệu, các sách, báo, tạp chí, các văn kiện Nghị quyết, các chương trình nghiên cứu đãđược xuất bản, các kết quả nghiên cứu đã công bố của các cơ quan nghiên cứu, cácnhà khoa học trong và ngoài nước, các tài liệu trên internet, các số liệu thu thập từcác phòng nghiệp vụ của BHXH tỉnh Bình Dương, Sở Lao động - Thương binh và

Xã hội tỉnh Bình Dương Sau đó, tác giả tiến hành phân loại, sắp xếp thông tin theothứ tự ưu tiên về độ quan trọng của thông tin và bằng các thao tác tư duy logic để rút

ra các kết luận

- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Phương pháp này được sử dụng để phântích và tổng hợp các nội dung lý thuyết và các số liệu về tình hình doanhnghiệp, NLĐ, TNLĐ; tình hình thực hiện chế độ TNLĐ tại tỉnh BìnhDương để đánh giá thực trạng chính sách và đưa ra các giải pháp về chế độTNLĐ

- Phương pháp nghiên cứu sơ cấp: Khảo sát thông qua phiếu đối với 500 NLĐđang làm việc tại các doanh nghiệp, trong đó có 18 người đã từng bị TNLĐ

và 482 người chưa từng bị TNLĐ nhưng có sự đánh giá về sự quan tâm, chấphành quy định của NSDLĐ khi có NLĐ bị TNLĐ, để thu thập thông tin về sựhài lòng của họ đối với việc thực hiện chế độ trợ cấp TNLĐ tại tỉnh BìnhDương Những số liệu này được chính tác giả thu thập từ việc điều tra, khảosát đối tượng chi trả chế độ BHXH và nhân viên phụ trách thủ tục BHXH tạimột số doanh nghiệp Phiếu điều tra sau khi hoàn thành được kiểm tra về độchính xác và sẽ được nhập vào máy tính bằng phần mềm Excel để tiến hànhtổng hợp, xử lý và phân tích thông tin thu thập được Kết quả phân tích các

số liệu này cung cấp cho tác giả những phản ánh về công tác chi trả chế độTNLĐ và những bất cập về công tác chi trả chế độ TNLĐ tại tỉnh BìnhDương Phiếu khảo sát nhằm tìm hiểu sự hài lòng, sự hy vọng có thể hiện yếu

1 0

Trang 11

tố định lượng của NLĐ đối với chính sách trợ cấp TNLĐ và việc thực hiệncủa cơ quan chức năng tại tỉnh Bình Dương.

- Phương pháp phỏng vấn sâu: Phỏng vấn trực tiếp 10 người phụ trách thủ tụcBHXH đang làm việc tại một số doanh nghiệp và 10 người lao động đanghưởng chế độ trợ cấp TNLĐ để lắng nghe những đánh giá, đề xuất từ phíanhững người lập thủ tục chế độ TNLĐ, qua đó làm rõ hơn các vấn đề nghiêncứu và để nhận định, lập luận của tác giả mang tính khách quan Đối với mỗiđối tượng được phỏng vấn sâu thì tác giả thiết kế nội dung các câu hỏi có nộidung phù hợp, gắn với hoạt động thực tiễn mà họ tiếp cận liên quan đếnchính sách trợ cấp TNLĐ, trong đó có nhấn mạnh sự đề xuất, nguyện vọng vềchính sách trợ cấp TNLĐ của họ trong thời gian sắp tới

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn của chế độ BHXH và chế độ trợ cấpTNLĐ

- Đưa ra những cơ sở hoàn thiện chính sách trợ cấp TNLĐ

- Thông qua thực trạng chính sách trợ cấp TNLĐ ở tỉnh Bình Dương trong giaiđoạn 2012 - 2016, đề xuất những giải pháp để hoàn thiện chính sách trợ cấpTNLĐ

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận kết cấu luận văn được kết cấu 3

chương: Chương 1: Lý luận cơ bản về chi trả chế độ TNLĐ

Chương 2: Thực hiện chính sách chi trả chế độ TNLĐ tại tỉnh Bình Dươnggiai đoạn 2012 - 2016

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện chính sách trợ cấp TNLĐ đến năm 2020

1 1

Trang 12

Chương 1

LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHÍNH SÁCH TRỢ CẤP TAI NẠN LAO ĐỘNG

.1 Tổng quan vê bảo hiểm xã hội

1.1.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về chính sách bảo hiểm xã hội

Quyền được đảm bảo ASXH của công dân xuất phát từ quyền con người ỞViệt Nam, bảo đảm quyền con người luôn được Đảng và Nhà nước chú trọng bằngviệc ngày càng hoàn thiện các quy định của Hiến pháp và hệ thống các văn bản phápluật có liên quan, tạo ra cơ chế pháp lý đảm bảo những điều kiện cần thiết để hiệnthực hóa các quyền đó như Luật Người cao tuổi, Luật Bảo vệ và chăm sóc trẻ em,Luật Người khuyết tật, Luật BHXH, Luật Việc làm, Luật AT,VSLĐ Quyền đượcđảm bảo ASXH cho người dân đã được xác định như một phần trách nhiệm của Nhànước, Nhà nước luôn là người đóng vai trò chủ đạo, tích cực trong việc tổ chức thựchiện các biện pháp nhằm đảm bảo các quyền về ASXH cho người dân; và một tấtyếu khách quan là để đạt đạt được hiệu quả cao nhất thì không thể thiếu sự chung tayđồng lòng của các tổ chức, cá nhân khác trong xã hội

Xuất phát từ nhận thức rằng ASXH đóng vai trò quan trọng cho sự phát triểncủa xã hội, Nhà nước ta xác định Chiến lược ASXH là một bộ phận cấu thành củaChiến lược tổng thể phát triển kinh tế - xã hội Trong chiến lược tổng thể về ASXHgiai đoạn 2011 - 2020, chúng ta đã xác định sáu mục tiêu lớn được thực hiện trongmười năm là: Hỗ trợ tốt hơn người nghèo và các đối tượng dễ bị tổn thương tham giađào tạo để có việc làm, cải thiện cuộc sống; phát triển hệ thống BHXH tiên tiến; tăngcường hiệu quả chăm sóc y tế công; phát triển hệ thống trợ giúp xã hội linh hoạt đểứng phó kịp thời với những rủi ro, biến cố; thực hiện giảm nghèo bền vững, ngănchặn gia tăng bất bình đẳng; nâng cao chất lượng và hiệu quả của các dịch vụ xã hộitại các vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc [2]

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Đảng ta đã xác định một trongnhững nhiệm vụ quan trọng để đảm bảo quyền ASXH là “Tiếp tục sửa đổi, hoànchỉnh hệ thống BHXH, bảo hiểm thất nghiệp, trợ giúp và cứu trợ xã hội đa dạng, linhhoạt, có khả năng bảo vệ, trợ giúp mọi thành viên trong xã hội, nhất là các

Trang 13

nhóm yếu thế, dễ bị tổn thương vượt qua khó khăn hoặc các rủi ro trong đời sống” [2].

Trong mục tiêu tổng thể phát triển vấn đề ASXH thì BHXH đóng một vai tròhết sức quan trọng vì nó tác động vào lực lượng nòng cốt trong cơ cấu dân số củamột quốc gia, bao gồm những người đang làm việc và đã nghỉ hưu sau một quá trìnhcống hiến sức lao động của mình để tạo ra của cải vật chất cho xã hội

Tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 22/11/2012 của Bộ Chính trị về tăngcường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác BHXH giai đoạn 2012 - 2020, Đảng taxác định rõ:

- BHXH là một chính sách xã hội quan trọng, là trụ cột chính của hệ thốngASXH, góp phần thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm ổn địnhchính trị - xã hội và phát triển kinh tế - xã hội

- Mở rộng và hoàn thiện chế độ, chính sách BHXH có bước đi, lộ trình phù hợpvới phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Phát triển hệ thống BHXH đồng

bộ với phát triển các dịch vụ xã hội, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu củanhân dân; tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người tham gia và thụ hưởng cácchế độ BHXH

- BHXH phải theo nguyên tắc có đóng, có hưởng, quyền lợi tương ứng vớinghĩa vụ, có sự chia sẻ giữa các thành viên, bảo đảm công bằng và bền vữngcủa hệ thống BHXH

- Thực hiện tốt các chế độ, chính sách BHXH là trách nhiệm của các cấp uỷđảng, chính quyền, đoàn thể, tổ chức xã hội, doanh nghiệp và của mỗi ngườidân

Nhằm cụ thể hóa những quan điểm trên, Đảng ta đề ra mục tiêu là phải thựchiện có hiệu quả các chính sách, chế độ BHXH; tăng nhanh diện bao phủ đối tượngtham gia BHXH, nhất là BHXH tự nguyện Phấn đấu đến năm 2020, có khoảng 50%lực lượng lao động tham gia BHXH, 35% lực lượng lao động tham gia bảo hiểm thấtnghiệp Sử dụng an toàn và bảo đảm cân đối quỹ BHXH trong dài hạn Xây dựng hệthống BHXH hiện đại, chuyên nghiệp, hiệu quả cao, đáp ứng yêu cầu công nghiệphoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế [1]

Trang 14

1.1.2 Khái niệm và vai trò của bảo hiểm xã

hội 1.1.21 Khái niệm bảo hiểm xã hội

Trong quá trình tồn tại và phát triển, con người luôn có nhu cầu tối thiểu về

ăn, mặc, ở, đi lại, vui chơi, giải trí Muốn thỏa mãn được tất cả các nhu cầu này, conngười phải không ngừng lao động tạo sản phẩm cung ứng cho xã hội và mang lại thunhập cho bản thân Tuy nhiên, không phải lúc nào con người cũng gặp thuận lợi, cóđầy đủ thu nhập như mong muốn và đáp ứng điều kiện sống bình thường của mình vìđôi khi họ sẽ gặp những tình huống bất lợi, khó khăn như bị TNLĐ, ốm đau, mấtviệc, tuổi già, sức khỏe giảm sút Và những lúc này học sẽ cần đến sự san sẻ, đùmbọc lẫn nhau trong nội bộ cộng đồng hoặc dựa vào sự cứu trợ của Nhà nước Đây lànhững cách này hoàn toàn thụ động và không có sự đảm bảo chắc chắn trong mọitình huống

Khi chuyển sang nền sản xuất hàng hóa, việc thuê mướn nhân công trở nênphổ biến thì mối quan hệ lao động giữa NLĐ làm thuê và giới chủ cũng trở nên phứctạp hơn Lúc này, ngoài việc cam kết trả công cho NLĐ thì NSDLĐ phải cam kếtnhững đảm bảo mở rộng như hỗ trợ thu nhập cho NLĐ trong khoảng thời gian khôngmay gặp rủi ro như ốm đau, tai nạn, thai sản Tuy nhiên, việc này không phải đượcgiới chủ thực hiện một cách đầy đủ trong mọi tình huống nên tất yếu sẽ phát sinhmâu thuẫn chủ - thợ, dẫn đến hiện tượng giới thợ liên kết lại đấu tranh đòi hỏi giớichủ phải thực hiện cam kết Và cuộc đấu tranh này ngày càng diễn ra gay gắt, sâurộng ảnh hưởng tiêu cực đến mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội Do vậy, đến lúcNhà nước phải đứng ra can thiệp và điều hòa mâu thuẫn bằng cách buộc cả giới chủ

và giới thợ đóng góp một khoản tiền nhất định hàng tháng được tính toán chặt chẽdựa trên cơ sở xác suất rủi ro đối với người làm thuê Số tiền đóng góp của giới chủ

và giới thợ đã hình thành một quỹ tiền tệ tập trung, quỹ này còn được bổ sung từngân sách Nhà nước khi cần thiết để đảm bảo đời sống của NLĐ khi gặp những rủi

ro, bất lợi Chính nhờ những mối quan hệ ràng buộc đó mà rủi ro, bất lợi của NLĐđược phân tán, cuộc sống của NLĐ và thân nhân ngày càng được đảm bảo ổn định.Lúc này, giới chủ cũng nhận thấy được lợi ích của chính sách này Vì vậy, quy định

Trang 15

về việc phải đóng góp vào nguồn quỹ tiền tệ tập trung được sự ủng hộ của số đôngtrong giới chủ và giới thợ, quy mô của quỹ ngày càng phát triển và được đảm bảo.

Toàn bộ những hoạt động với mối quan hệ chặt chẽ như trên được thế giới quan niệm là BHXH đối với NLĐ.

Ngày nay, hầu hết các nước trên thế giới đều thực hiện chính sách BHXH vàđược các nước coi là trụ cột chính trong hệ thống ASXH Mặc dù đã có quá trìnhphát triển tương đối lâu dài, nhưng do tính phức tạp và đa dạng của BHXH nên đếnnay vẫn còn có sự nhận thức khác nhau về vấn đề này Điều này được phản ánh quacác khái niệm về BHXH từ các góc độ khác nhau Cụ thể:

- BHXH là biện pháp bảo đảm, thay đổi hoặc bù đắp một phần thu nhập củaNLĐ do gặp phải những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mấtviệc làm thông qua một quỹ tiền tệ được tập trung từ sự đóng góp của NLĐ

và gia đình họ, đồng thời góp phần đảm bảo ASXH BHXH là trụ cột chínhtrong hệ thống ASXH ở mỗi nước

Các chế độ của BHXH đã hình thành khá lâu trước khi xuất hiện thuật ngữASXH Hệ thống BHXH đầu tiên được thiết lập tại nước Phổ (nay là Cộng hòa Liênbang Đức) dưới thời của Thủ tướng Otto Von Bismarck (1850) và sau đó được hoànthiện (1883-1889) với chế độ bảo hiểm ốm đau; bảo hiểm rủi ro nghề nghiệp; bảohiểm tuổi già, tàn tật và sự hiện diện của cả ba thành viên xã hội: NLĐ, NSDLĐ vàNhà nước Kinh nghiệm về BHXH ở Đức, sau đó, được lan dần sang nhiều nước trênthế giới, đầu tiên là các nước Châu Âu (Anh: 1991, Ý: 1919, Pháp: từ 1918 ), tiếpđến là các nước Châu Mỹ La Tinh, Hoa Kỳ, Canada (từ sau 1930) và cuối cùng làcác nước châu Phi, Châu Á (giành độc lập sau chiến tranh thế giới lần thứ 2) [5]

- Theo ILO thì BHXH là sự bảo vệ đối với các thành viên của mình thông quacác biện pháp công cộng, nhằm chống lại các khó khăn về kinh tế - xã hội do

bị ngừng hoặc giảm thu nhập, gây ra bởi ốm đau, thai sản, TNLĐ, thất nghiệp,thương tật, tuổi già, chết; đồng thời đảm bảo các chăm sóc y tế và trợ cấp chocác gia đình đông con Với khái niệm này, đối tượng được bảo vệ bằng hệthống BHXH thường là những NLĐ và thân nhân của họ, không phải là tất cả

Trang 16

các thành viên trong xã hội nói chung Biện pháp công cộng được sử dụngtrong BHXH thông thường là biện pháp lập quỹ chuyên dùng, từ sự đóng gópcủa NLĐ và NSDLĐ, không bao hàm sự chu cấp từ ngân sách nhà nước hoặc

từ các quỹ xã hội

- Theo cách tiếp cận từ góc độ chính sách, chính sách BHXH là những nguyêntắc và biện pháp của Nhà nước về vấn đề BHXH cho NLĐ nhằm đảm bảothực hiện quyền tham gia và thụ hưởng BHXH cho mọi thành viên xã hội,góp phần ổn định, công bằng và phát triển xã hội

- Theo cách tiếp cận từ góc độ tài chính, BHXH là quá trình thành lập và sửdụng quỹ tiền tệ dự trữ của cộng đồng những NLĐ, có sự bảo trợ của Nhànước, để san sẻ rủi ro, đảm bảo thu nhập cho họ và thân nhân trong nhữngtrường hợp cần thiết theo quy định của pháp luật

- Theo cách tiếp cận từ góc độ pháp luật, BHXH được hiểu là sự bảo đảm thaythế hoặc bù đắp một phần thu nhập của NLĐ khi họ bị giảm hoặc mất thunhập do ốm đau, thai sản, TNLĐ, BNN, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ

sở đóng vào quỹ BHXH

Các khái niệm nêu trên đều có nội hàm tương đối thống nhất, thể hiện ở một

số điểm sau đây:

BHXH là sự bảo vệ của xã hội, của Nhà nước đối với NLĐ;

• NLĐ sẽ được BHXH trợ giúp vật chất và các dịch vụ y tế cần thiết để ổn định cuộc sống cho bản thân và gia đình họ;

• Chỉ trong các trường hợp có những rủi ro liên quan đến thu nhập của NLĐ thì mới được hưởng BHXH;

BHXH được thực hiện trên cơ sở một quỹ tiền tệ.

Qua nghiên cứu Luật BHXH năm 2014 và Luật Kinh doanh bảo hiểm năm

2000, được sửa đổi, bổ sung năm 2009, tác giả rút ra những điểm khác biệt cơ bảngiữa BHXH và bảo hiểm thương mại:

Trang 17

Bảng 1.1: Phân biệt bảo hiểm xã hội với bảo hiểm thương mại

BHXH là biện pháp ASXH mà Nhà nước sử dụng nhằm đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập từ lao động của NLĐ khi họ bị giảm hoặc mất khả năng lao động

do gặp phải các rủi ro như ốm đau, thai sản, TNLĐ, BNN, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết dựa trên cơ sở hình thành quỹ tiền tệ tập trung từ sự tham gia đóng góp của NSDLĐ, NLĐ và được sự bảo trợ của Nhà nước nhằm ổn định đời sống cho NLĐ và thân nhân.

Tiêu thức

Bảo hiêm thương mại

Bảo hiêm xã hôi

Đối tượng được bảo hiểm

NSDLĐ, NLĐ.

NSNN và nguồn viện trợ khác.

Cơ quan chủ quản

- Nhà nước và các doanh nghiệp tư nhân (các tập đoàn, công ty, chi nhánh, đại lý ).

- Nhà nước và các doanh nghiệp tư nhân (các tập đoàn, công ty, chi nhánh, đại lý.).

- Nhà nước là chủ thể duy nhất (thực hiện bởi cơ quan BHXH được tổ chức

từ trung ương đến địa phương).

- - 1 - V——— -f 1—f

Từ các khái niệm nêu trên nghiên cứu về BHXH có thể hiểu:

Trang 18

1.1.2.2 Vai trò của bảo hiểm xã hội

Trong nền kinh tế thị trường, BHXH là một lĩnh vực không thể thiếu được đối vớiNLĐ và NSDLĐ, bởi vì:

- Thứ nhất, đối với NLĐ:

Có thể nói, TNLĐ, đặc biệt là những vụ TNLĐ nghiêm trọng, là một biến cố lớnlao đối với cuộc đời của NLĐ, nó có thể khiến cho cuộc sống của NLĐ bước sang mộtgiai đoạn mới đầy khó khăn, đòi hỏi một nghị lực, tinh thần phấn đấu, sự lạc quan mới cóthể vượt qua và thích nghi trong quãng đời còn lại Chế độ BHXH đã trực tiếp góp phần

ổn định cuộc sống cho NLĐ và thân nhân khi NLĐ gặp rủi ro hay sự kiện bảo hiểm.Đồng thời, thông qua quỹ BHXH, NLĐ thực hiện trách nhiệm tương trợ cho những khókhăn của các thành viên khác Từ đó, các rủi ro trong lao động sản xuất và trong đời sốngNLĐ được khống chế và dàn trải, hậu quả của rủi ro được khắc phục kịp thời

Tham gia BHXH còn giúp NLĐ nâng cao hiệu quả trong chi dùng cá nhân, giúp

họ tiết kiệm những khoản tiền nhỏ, đều đặn để có nguồn dự phòng cần thiết chi dùng khituổi già hay mất sức lao động Đó không chỉ là nguồn hỗ trợ vật chất mà còn là nguồnđộng viên tinh thần to lớn đối với mỗi cá nhân khi gặp khó khăn, làm cho họ ổn định vềtâm lý, giảm lo lắng khi ốm đau, tai nạn, tuổi già Nhờ có BHXH, cuộc sống của nhữngthành viên trong gia đình NLĐ, nhất là trẻ em, những người tàn tật, goá bụa cũng đượcđảm bảo an toàn hơn

Chính vì tính chất quan trọng, thiết yếu đối với đời sống của tất cả mọi người,ngay tại Điều 34 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 quyđịnh: “Công dân có quyền được đảm bảo ASXH” Trong đó, BHXH được xem là một nộidung cơ bản trong các quyền về ASXH mà con người phải được hưởng theo luật định

- Thứ hai, đối với NSDLĐ:

Mặc dù phải đóng góp vào quỹ BHXH một khoản tiền nhất định để bảo hiểm choNLĐ làm việc cho mình, điều đó ít nhiều cũng ảnh hưởng đến thu nhập của NSDLĐ.Song về lâu dài, BHXH giúp họ ổn định sản xuất kinh doanh thông qua việc quản lýđược một nguồn nhân lực ổn định, có tay nghề, đồng hành gắn bó và nhiệt tình trong laođộng Nếu không có BHXH, các đơn vị sử dụng lao động trả tiền bảo hiểm cùng với tiền

Trang 19

lương hàng tháng để NLĐ tự lo thì nguồn tiền này có thể bị NLĐ sử dụng vào nhữngmục đích khác Đến khi NLĐ ốm đau, tai nạn không có nguồn thu nhập, không có chi phíthuốc men , đời sống của họ bị ảnh hưởng thì quan hệ lao động, chất lượng lao động sẽ

bị ảnh hưởng

BHXH còn làm cho NSDLĐ có trách nhiệm với NLĐ, không chỉ khi trực tiếp sửdụng lao động mà trong suốt cuộc đời họ Nếu không có quy định chế độ BHXH bắtbuộc thì sẽ có nhiều trường hợp vì những khoản lợi trước mắt mà NSDLĐ cắt xén quyềnlợi, thiếu trách nhiệm với NLĐ

BHXH còn giúp cho NSDLĐ ổn định nguồn chi, ngay cả khi có rủi ro lớn xảy rathì cũng không lâm vào tình trạng nợ nần hay phá sản Nhờ đó, các chi phí được chủđộng hạch toán, ổn định và tạo điều kiện để phát triển không phụ thuộc nhiều vào hoàncảnh khách quan Tuy nhiên, BHXH hầu như không mang lại các lợi ích trực tiếp và tácđộng ngắn hạn nên không phải lúc nào NSDLĐ cũng nhận thức đúng được điều này

- Thứ ba, đối với Nhà nước và xã hội:

Trước tiên, BHXH tạo ra cơ chế chia sẻ rủi ro, nâng cao tính cộng đồng xã hội,củng cố truyền thống đoàn kết, gắn bó giữa các thành viên trong xã hội, từ đó góp phầnnâng cao chất lượng nguồn nhân lực, một yếu tố quan trọng nhất của lực lượng sản xuất.Điều đó đã thúc đẩy sự ra đời và trở thành lý do tồn tại của BHXH Tuy không nhằm mụcđích mang lại lợi nhuận nhưng BHXH là công cụ phân phối, sử dụng nguồn quỹ dựphòng hiệu quả nhất cho việc giảm hậu quả rủi ro, tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội.Thông qua BHXH, những rủi ro trong đời sống của NLĐ được dàn trải theo nhiều chiều,tạo ra khả năng giải quyết an toàn nhất, với chi phí thấp nhất

BHXH còn là sự phản ánh trình độ phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia.Nếu kinh tế chậm phát triển, xã hội lạc hậu, đời sống nhân dân thấp kém thì hệ thốngBHXH cũng chậm phát triển ở mức tương ứng Khi kinh tế càng phát triển, đời sống củaNLĐ được nâng cao thì nhu cầu tham gia BHXH càng lớn Thông qua hệ thống BHXH,trình độ tổ chức, quản lý rủi ro xã hội của các nhà nước cũng ngày càng được nâng caothể hiện bằng việc mở rộng đối tượng tham gia, đa dạng về hình thức bảo hiểm, quản lýđược nhiều trường hợp rủi ro trên cơ sở phát triển các chế độ BHXH

Trang 20

Hoạt động BHXH còn góp phần vào việc huy động vốn đầu tư, làm cho thị trườngtài chính phong phú và kinh tế - xã hội phát triển Đặc biệt, với bảo hiểm hưu trí, nguồnvốn tích luỹ trong thời gian dài, kết dư tương đối lớn, có thể đầu tư vào các doanhnghiệp, các dự án cần huy động vốn, mang lại lợi ích cho tất cả các bên: người tham giaBHXH, cơ quan BHXH và nền kinh tế xã hội.

1.1.3 Bản chất của bảo hiểm xã hội

BHXH là phạm trù kinh tế - xã hội tổng hợp, là một trong những chính sáchASXH cốt lõi củanhiều quốc gia trên thế giới, là một tiêu chí đánh giá chỉ số “lý tưởng”của một đất nước, là nhân tố quan trọng đóng góp vào chỉ số hạnh phúc của người dân

Nó thể hiện trình độ văn minh và sức mạnh nội lực của nền kinh tế một đất nước, khảnăng tổ chức và quản lý của Chính phủ Để thấy rõ bản chất của BHXH, cần phải xemxét trên tất cả các phương diện: xã hội, kinh tế, chính trị và pháp lý

Về phương diện xã hội: BHXH ra đời là tất yếu khách quan, xuất hiện trongnhững điều kiện nhất định của quá trình phát triển kinh tế - xã hội Khi tất cả sản phẩmcung ứng cho xã hội đều thông qua quá trình sản xuất công nghiệp đồng nghĩa với nhữngrủi ro nghề nghiệp phát sinh càng nhiều và ảnh hưởng đến NLĐ ngày càng nghiêm trọng.Rủi ro trong BHXH bao gồm cả những rủi ro thuần túy, phát sinh ngẫu nhiên như: ốmđau, TNLĐ và cả những rủi ro về việc làm như NLĐ bị thất nghiệp Điều đó làm choNLĐ ngày càng cần đến các hình thức chia sẻ rủi ro của bảo hiểm nói chung và BHXHnói riêng Trong BHXH, sự chia sẻ rủi ro được thực hiện theo nhiều chiều và giữa nhiềuđối tượng Cụ thể:

- Sự chia sẻ giữa những NSDLĐ với nhau và giữa Nhà nước, NSDLĐ với NLĐ.Bởi vì, trong các đơn vị sử dụng lao động, có những đơn vị, trong những khoản thời giannhất định nhưng không phát sinh những rủi ro liên quan đến NLĐ hoặc khả năng xảy rarủi ro là rất thấp Ngược lại, có những đơn vị do đặc thù ngành nghề sản xuất nặng nhọc,độc hại, nguy hiểm, nên quá trình lao động của NLĐ tiềm ẩn nhiều rủi ro Giữa nhữngđơn vị này cần san sẻ rủi ro cho nhau thông qua quỹ bảo hiểm TNLĐ, quỹ ốm đau để

có thể vừa làm tròn trách nhiệm với NLĐ, vừa chủ động kiểm soát về chi phí sản xuất,

Trang 21

góp phần đảm bảo mục tiêu lợi nhuận đề ra Bên cạnh đó, Nhà nước luôn là người bảotrợ để đề phòng rủi ro cho quỹ BHXH.

- Thông qua BHXH, các rủi ro còn được chia sẻ cả về mặt không gian và thờigian Chẳng hạn, trên cơ sở mức đóng góp vào quỹ BHXH là thống nhất, nhưng tại mộtthời điểm nhất định, những vùng phát triển kinh tế vượt trội, những ngành nghề sản xuất

có mức độ rủi ro thấp hoặc ít khi gánh chịu các rủi ro thiên nhiên khác như thiên tai, dịchbệnh., thì cần san sẻ cho những vùng, ngành nghề còn lại; trong khi đó, sau những khoảnthời gian phát triển ổn định, trong từng vùng, từng ngành, cũng không thể tránh khỏinhững biến cố rơi vào giai đoạn kém phát triển, tỷ lệ thất nghiệp gia tăng, sẽ lại cần có sựsan sẻ rủi ro của thời kỳ trước đó và của những đơn vị, những vùng, những ngành kinh tếkhác

- Việc chia sẻ rủi ro còn được thực hiện ngay trong nội bộ những NLĐ như: chia

sẻ giữa lao động nam với lao động nữ; giữa NLĐ trẻ, khoẻ, ổn định với NLĐ hay bị ốmđau, tai nạn rủi ro; giữa những người còn trong độ tuổi lao động với người già yếu đãnghỉ hưu, giữa những NLĐ có việc làm với những NLĐ bị thất nghiệp

- Chia sẻ rủi ro còn được thực hiện trong việc chia sẻ nguồn tài chính, nguồn thunhập trong cuộc đời mỗi NLĐ, giữa giai đoạn khoẻ mạnh với những lúc ốm đau, bệnhtật; giữa lúc trẻ trung với lúc già yếu, hết tuổi lao động; giữa thời điểm thu nhập cao vớithời điểm việc làm bấp bênh, thất nghiệp

Như vậy, BHXH cũng mang bản chất chung của bảo hiểm, đó là sự chia sẻ rủi ro, trước hết là giữa các đối tượng tham gia bảo hiểm Tuy nhiên, khác với hình thức bảo

hiểm thương mại, những rủi ro cần sự chia sẻ thông qua BHXH thường là những rủi roliên quan đến thu nhập của NLĐ Nó có thể đồng thời là những rủi ro thuần túy của họnhu ốm đau, tai nạn, cũng có thể là những sự kiện trong cuộc sống nhu: thai sản, tuổigià Ngoài ra, tính xã hội của BHXH còn thể hiện ở mục đích của nó, thể hiện qua việcBHXH chỉ nhằm đáp ứng nhu cầu đuợc chia sẻ rủi ro của NLĐ, không nhằm mục đíchhuớng tới yếu tố lợi nhuận, đối với cả nguời tham gia và tổ chức thực hiện bảo hiểm Vì

vậy, bản chất xã hội của BHXH là quá trình quản lý và chia sẻ các rủi ro giữa những

Trang 22

người tham gia BHXH, góp phần bảo đảm đời sống cho NLĐ và thân nhân họ, từ đó đảm

bảo ASXH nói chung

Về phuơng diện kinh tế: BHXH là quá trình phân phối lại thu nhập giữa nhữngnguời tham gia, thông qua việc hình thành quỹ tiền tệ dùng để đáp ứng nhu cầu chi trảbảo hiểm cho NLĐ và thân nhân khi gặp rủi ro về thu nhập trong lao động sản xuất hoặcmất nguồn nuôi duỡng Vì vậy, thực hiện BHXH là quá trình tính toán, cân đối các yếu

tố kinh tế nhu thu nhập, khả năng đóng góp, mức huởng có thể đảm bảo, thông qua thống

kê xác xuất rủi ro và dự toán, hạch toán quỹ BHXH

Quỹ BHXH là một bộ phận của thu nhập quốc nội, truớc hết, đuợc sử dụng đểđảm bảo an toàn đời sống cho NLĐ, tái sản xuất sức lao động Quỹ BHXH còn có thểdùng để đầu tu, phát triển sản xuất, đóng góp một khối luợng nhất định nguồn lực phục

vụ cho nhiệm vụ tăng truởng kinh tế đất nuớc Đó là quá trình tổ chức, sử dụng thu nhập

cá nhân và tổng sản phẩm quốc nội nhằm thoả mãn nhu cầu an toàn về tài chính trong đờisống NLĐ và an toàn trong đời sống kinh tế - xã hội nói chung

Về phuơng diện chính trị, pháp lý: BHXH khi đuợc Nhà nuớc điều chỉnh bằngpháp luật, đã trở thành quyền cơ bản của NLĐ, xét trên cả bình diện quốc gia và quốc tế.Đồng thời, đó cũng là trách nhiệm của bản thân NLĐ và NSDLĐ Đây đuợc xem là cơ sởthực tiễn và khoa học cho chế định về tính bắt buộc của chế độ BHXH hiện hành ở nuớcta

1.1.4 Đặc điểm của chế độ bảo hiểm xã hội

Chính sách BHXH là một trong những chính sách xã hội cơ bản nhất của mỗiquốc gia Nó là những quy định chung, rất khái quát về cả đối tượng, phạm vi các mốiquan hệ và những giải pháp lớn nhằm đạt được mục tiêu chung đã đề ra Chế độ BHXH

là sự cụ thể hoá chính sách BHXH, là hệ thống các quy định cụ thể và chi tiết, là sự bốtrí, sắp xếp các phương tiện để thực hiện chính sách BHXH đối với NLĐ Nói cách khác,

đó là một hệ thống các quy định được pháp luật hoá về đối tượng thụ hưởng, nghĩa vụ vàmức đóng góp cho từng trường hợp BHXH cụ thể Chế độ BHXH thường được biểu hiệndưới dạng các văn bản pháp quy (luật, nghị định, thông tư ) Tuy nhiên, dù có cụ thể đếnmức nào thì các chế độ BHXH cũng khó có thể bao hàm được đầy đủ mọi tình huống

Trang 23

phát sinh trong quá trình thực hiện chính sách BHXH Vì vậy, khi thực hiện mỗi chế độthường phải nắm vững những quan điểm mang tính cốt lõi của chính sách BHXH, đểđảm bảo tính đúng đắn và nhất quán trong toàn bộ hệ thống các chế độ BHXH.

Hệ thống các chế độ BHXH có những đặc điểm chủ yếu:

- Số lượng các chế độ và nội dung mỗi chế độ đều được luật hoá như là một chếđịnh bắt buộc, tuỳ theo điều kiện kinh tế - xã hội của từng quốc gia Việc quy định cácchế độ cụ thể do nhận thức của Đảng chính trị cầm quyền trong từng thời điểm nhất định,được xem như là một thành tố hình thành bắt buộc trong cương lĩnh xây dựng và pháttriển đất nước Chế độ BHXH là công cụ trực tiếp để Nhà nước thực hiện vai trò chăm lo,bảo hộ đối với người dân

- Hệ thống chế độ BHXH thực chất là sự san sẻ rủi ro, san sẻ tài chính giữa NLĐvới NLĐ, giữa NLĐ với NSDLĐ và giữa những NSDLĐ với nhau

Đặc điểm này biểu hiện khá rõ giữa những người khoẻ mạnh với những NLĐ bị

ốm đau; giữa nam và nữ; giữa những ngành nghề nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm dễ xảy

ra TNLĐ hoặc BNN với những ngành nghề hoặc công việc bình thường; giữa nhữngNLĐ có công ăn việc làm và thu nhập cao với những NLĐ không may bị thất nghiệp.Phân tán rủi ro, san sẻ tài chính còn biểu hiện giữa những doanh nghiệp sử dụng nhiềulao động nữ với những doanh nghiệp sử dụng lao động nữ ít hơn; giữa các doanh nghiệplàm ăn phát đạt có mức lợi nhuận cao với các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ gặp nhiều khókhăn bị phá sản Tuy nhiên, sự san sẻ này không phải lúc nào cũng nhận được sự đồngthuận của tất cả các đối tượng trong cùng nhóm hoặc giữa các nhóm khác nhau nên việcquy định BHXH như là một chế định có giá trị bắt buộc áp dụng trong quan hệ lao động

là cần thiết để đảm bảo tính ổn định cho quá trình quản lý kinh tế - xã hội ở tầm vĩ mô

- Mỗi chế độ đều có sự tương quan giữa mức đóng góp và mức thụ hưởng BHXH.BHXH hoạt động theo nguyên tắc có đóng góp mới được hưởng, đóng nhiều hưởngnhiều, đóng ít hưởng ít Mức đóng góp và mức trợ cấp BHXH theo các chế độ phải luônluôn tỷ lệ thuận với nhau Mối quan hệ này là cơ sở chủ yếu để cân đối quỹ BHXH.Ngoài ra, hoạt động tái đầu tư trong quá trình điều hành quản lý của Hội đồng quản lýquỹ cũng đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc duy trì và nâng cao các chế độ

Trang 24

BHXH Việc tái đầu tư hiệu quả sẽ bảo tồn và gia tăng nguồn quỹ để giải quyết chế độ,trong trường hợp ngược lại, Nhà nước sẽ phải chi ngân sách để bổ sung vào nguồn quỹnày, đảm bảo quyền lợi của NLĐ, duy trì sự ổn định của xã hội.

- Hầu hết các chế độ BHXH đều được chi trả định kỳ, đồng tiền được sử dụnglàm phương tiện chi trả và thanh quyết toán Điều này xuất phát từ đối tượng của BHXH

là thu nhập của NLĐ do NSDLĐ chi trả hàng tháng Chính vì thế, khoản trợ cấp BHXH

để bù đắp, thay thế phần thu nhập bị giảm hoặc mất đi được tiến hành định kỳ theo tháng

là rất phù hợp với chu kỳ tiếp nhận thu nhập của NLĐ

- Trong hệ thống chế độ BHXH, có cả các chế độ ngắn hạn và dài hạn Các chế độBHXH ngắn hạn chỉ mang tính nhất thời đột xuất nhằm hỗ trợ NLĐ khi các rủi ro và sựkiện bảo hiểm xảy ra như: nghỉ ốm đau, nghỉ thai sản, suy giảm khả năng lao động doTNLĐ và BNN, mất việc làm Các chế độ BHXH dài hạn được thực hiện nhằm đảmbảo nguồn thu nhập cho NLĐ khi đã già yếu hết tuổi lao động, mất sức lao động vĩnhviễn và qua đời mà bất kỳ NLĐ nào cũng phải trải qua Các chế độ BHXH dài hạn đượcthực hiện sau quá trình lao động, quan hệ phân phối có tính chất hoàn trả, lợi ích hưởngthụ tương ứng với nghĩa vụ đóng góp

- Mỗi chế độ trong hệ thống thường được hoàn thiện dần theo thời gian cho phùhợp với điều kiện cụ thể

Nhìn chung hệ thống chế độ BHXH có tính ổn định tương đối Tuy nhiên, theothời gian, khi có những biến động lớn về kinh tế - xã hội, các chính sách kinh tế - xã hộiliên quan có nhiều thay đổi thì mỗi tất yếu các chế độ trong hệ thống các chế độ BHXH

sẽ có sự điều chỉnh ngày càng hoàn thiện, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể củađất nước

1.1.5 Nguyên tắc quản lý bảo hiểm xã hội

Quản lý quỹ BHXH được chia theo chức năng: quản lý nhà nước và hoạt động sựnghiệp

Chức năng quản lý nhà nước về BHXH chủ yếu được giao cho Bộ Lao động Thương binh và Xã hội đảm nhận, bao gồm:

-• Xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển BHXH

Trang 25

• Xây dựng chính sách, pháp luật về BHXH; trình cơ quan nhà nước có thẩmquyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền văn bản pháp luật về BHXH.

• Xây dựng và trình Chính phủ chỉ tiêu phát triển đối tượng tham gia BHXH

• Tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về BHXH

• Chỉ đạo, hướng dẫn tổ chức triển khai thực hiện chính sách, pháp luật vềBHXH

• Thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật, giải quyết khiếu nại, tố cáo vềBHXH

• Trình Chính phủ quyết định biện pháp xử lý trong trường hợp cần thiết đểbảo vệ quyền, lợi ích chính đáng về BHXH của NLĐ

• Thực hiện công tác thống kê, thông tin về BHXH

• Tổ chức tập huấn, đào tạo về BHXH

• Tổ chức nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế về BHXH

• Hằng năm, báo cáo Chính phủ về tình hình thực hiện BHXH

Hoạt động sự nghiệp về BHXH được giao cho cơ quan BHXH, tổ chức bộ máy từtrung ương đến địa phương, bao gồmnhiệm vụquản lý về thu, chi, bảo toàn, phát triển vàcân đối quỹ

Từ 01/01/2016, cơ quan BHXH được giao thêm nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành

về đóng BHXH [6]

Ngoài ra, tham gia vào quá trình tổ chức và giám sát thực hiện chính sách, chế độBHXH còn có các cơ quan liên quan như đại diện chủ sử dụng lao động, đại diện NLĐ

1.2 Lý luận cơ bản về chính sách trợ cấp tai nạn lao động

1.2.1 Khái niệm về tai nạn lao động

TNLĐ xuất hiện cùng với quá trình lao động sản xuất của con người TNLĐ cóthể xảy ra ở mọi ngành, nghề, mọi quốc gia Mặc dù đã có nhiều biện pháp được thựchiện nhằm giảm thiểu TNLĐ như sử dụng máy móc thay thế, trang bị phương tiện bảo hộlao động nhưng dù cố gắng đến đâu thì TNLĐ vẫn xảy ra Chính vì vậy, TNLĐ khôngchỉ là vấn đề quan tâm của mỗi quốc gia mà là vấn đề quan tâm chung của toàn cầu ILO

Trang 26

đã thông qua nhiều Công ước và Khuyến nghị quy định các tiêu chuẩn, các biện phápnhằm ngăn ngừa và hạn chế TNLĐ cũng như sự trợ giúp cho người bị TNLĐ.

Có nhiều khái niệm về TNLĐ:

- TNLĐ là tai nạn xảy ra gây tác hại đến cơ thể NLĐ do tác động của yếu tố nguyhiểm và có hại trong sản xuất [19]

- TNLĐ là tai nạn gây tổn thương cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thểhoặc gây tử vong cho NLĐ, xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền với việc thực hiệncông việc, nhiệm vụ lao động [10]

- TNLĐ là tai nạn bất ngờ xảy ra do lao động hay trong quá trình lao động, có thểgây tử vong hoặc gây cho cơ thể một tổn thương hoặc một rối loạn chức năng vĩnh viễnhay tạm thời [18]

Mặc dù khái niệm về TNLĐ có thể không thống nhất nhưng các khái niệm đều cóđiểm chung, đó là tai nạn được xem là TNLĐ khi thỏa mãn cả ba điều kiện:

+ Ngoài nơi làm việc hoặc ngoài giờ làm việc khi thực hiện công việc theo yêucầu của NSDLĐ hoặc người được NSDLĐ ủy quyền bằng văn bản trực tiếp quản lý laođộng;

Trang 27

+ Trên tuyến đường đi từ nơi ở đến nơi làm việc hoặc từ nơi làm việc về nơi ởtrong khoảng thời gian và tuyến đường hợp lý.

Việc đưa ra một khái niệm thống nhất về TNLĐ và chỉ ra phạm vi xác định TNLĐ

là rất quan trọng trong việc xây dựng chính sách đối với người bị TNLĐ, đặc biệt là trongviệc xác định trách nhiệm của các bên liên quan

Chính sách trợ cấp tai nạn lao động được hình thành dựa trên những cơ sở sau:

1.2.1.1 Cơ sở sinh học

Cơ sở sinh học tồn tại ngay trong bản thân những NLĐ tham gia BHXH Đâyđược coi là cơ sở khách quan nhất, vì nó liên quan đến độ tuổi, giới tính, sự suy giảm sứckhoẻ tự nhiên và những nhu cầu tối thiểu trong cuộc sống của mỗi con người

- Độ tuổi của mỗi con người luôn có giới hạn Đứng trên góc độ quản lý dân số vànguồn lao động, người ta thường phân chia dân số thành 3 nhóm tuổi: Nhóm dân số trẻ(từ 0 đến 14 tuổi); nhóm dân số trong độ tuổi lao động (từ 15 đến 60 tuổi) và nhóm dân

số già (từ 61 tuổi trở lên) Việc phân chia này có vai trò rất lớn khi xây dựng hệ thống chế

độ BHXH và đặc biệt là chế độ trợ cấp tuổi già

- Giới tính có liên quan đến nhiều chế độ BHXH Đối với chế độ trợ cấp tuổi già,tuổi nghỉ hưu của nam giới thường cao hơn nữ giới, vì khả năng lao động của nữ giới bịsuy giảm khá nhiều sau khi sinh đẻ và nuôi con nhỏ Đối với chế độ trợ cấp thai sản, giớitính liên quan trực tiếp đến sự kiện mang thai và sinh con của phụ nữ, đến nhu cầu sinhhọc của họ trong toàn bộ thời gian được trợ cấp BHXH

- Một yếu tố khác cũng làm suy giảm khả năng lao động của NLĐ nói chung đó làhiện tượng ốm đau Ồm đau có thể xảy ra với bất cứ ai, trong bất cứ thời gian và khônggian nào Khi xây dựng chế độ chăm sóc y tế và chế độ trợ cấp ốm đau phải nắm đượcxác suất ốm đau cho NLĐ, các chi phí y tế bình quân của một lần ốm đau và thời giannghỉ ốm bình quân trong năm

1.2.1.2 Môi trường và điều kiện lao động

Môi trường và điều kiện lao động giữa các ngành nghề, công việc và các vùng,miền khác nhau thường có sự khác nhau rất lớn Chẳng hạn, cùng làmviệc trong ngànhkhai khoáng, nhưng những người làm các công việc gián tiếp như: thống kê, kế toán,

Trang 28

cung ứng vật tư sẽ ít chịu sự tác động của độ bụi của tiếng ồn và xác suất xảy ra TNLĐcũng thấp hơn so với những người công nhân trực tiếp làm việc dưới hầm lò Hoặc, cùnglàm một công việc nào đó giống nhau nhưng nếu ở vùng sâu, vùng xa, nơi biên cương,hải đảo thì điều kiện lao động và điều kiện sống sẽ khác hẳn so với làm việc ở vùng đồngbằng hay đô thị Chính vì vậy, môi trường và điều kiện lao động cũng là một trong những

cơ sở rất quan trọng khi thiết lập hệ thống chế độ BHXH

1.2.1.3 Điều kiện kinh tế - xã hội

Khi ban hành chính sách BHXH và đặc biệt là khi thiết lập hệ thống các chế độBHXH, điều kiện kinh tế - xã hội có tác động rất lớn và đôi khi đóng vai trò quyết định.Điều kiện kinh tế - xã hội biểu hiện ở trình độ dân trí và nhận thức xã hội của NLĐ cũngnhu NSDLĐ, ở tiềm lực và sức mạnh kinh tế của đất nuớc cũng nhu NSDLĐ, ở khả năng

tổ chức và quản lý xã hội của mỗi quốc gia Những yếu tố này không chỉ quyết định mộtquốc gia nào đó có thể thực hiện đuợc bao nhiêu chế độ BHXH; mà còn ảnh huởng trựctiếp đến nội dung của từng chế độ

1.2.14 Luật pháp và thể chế chính trị

Hệ thống các chế độ BHXH phải đuợc cụ thể hoá trong các văn bản pháp luật vềBHXH Các văn bản này phải nằm trong mối quan hệ với các bộ luật khác có liên quancủa từng nuớc, nhu: Luật Lao động, Luật Sỹ quan quân đội; Luật Công chức; Luật Doanhnghiệp Vì vậy, tính thống nhất, tính đồng bộ giữa các văn bản pháp luật, mà trong đócác văn bản pháp luật về BHXH chỉ là một bộ phận phải đuợc đảm bảo

Ngoài ra, thể chế chính trị cũng ít nhiều ảnh huởng đến sự hình thành và nội dung

hệ thống các chế độ BHXH Chẳng hạn, ở các nuớc xã hội chủ nghĩa truớc đây nguời takhông xây dựng chế độ trợ cấp thất nghiệp trong hệ thống các chế độ BHXH vì họ quanniệm rằng duới chế độ xã hội chủ nghĩa không có tình trạng NLĐ bị thất nghiệp Hoặc, vìmục tiêu bình đẳng và sự tiến bộ của phụ nữ, vì tính chất uu việt của chế độ xã hội chủnghĩa, nên khi xây dựng chế độ trợ cấp thai sản, thời gian nghỉ đẻ đuợc huởng trợ cấpBHXH quy định quá dài (có thời kỳ quy định 6 tháng trở lên)

1.2.2 Phân loại tai nạn lao động

Dựa vào mức độ tổn hại đối với cơ thể NLĐ, TNLĐ đuợc chia làm ba loại sau [8]:

Trang 29

- TNLĐ làm chết NLĐ là TNLĐ mà NLĐ bị chết thuộc một trong các trường hợpsau đây:

+ Chết tại nơi xảy ra tai nạn;

+ Chết trên đuờng đi cấp cứu hoặc trong thời gian cấp cứu;

+ Chết trong thời gian điều trị hoặc chết do tái phát của vết thuơng do TNLĐ gây

ra theo kết luận tại biên bản giám định pháp y;

+NLĐ được tuyên bố chết theo kết luận của Tòa án đối với trường hợp mất

tích

- TNLĐ làm NLĐ bị thương nặng là TNLĐ làm NLĐ bị ít nhất một trong nhữngchấn thương được quy định tại Phụ lục 1

- TNLĐ làm NLĐ bị thương nhẹ là TNLĐ không thuộc trường hợp quy định tạihai loại TNLĐ trên

1.2.3 Đặc điểm của chính sách trợ cấp tai nạn lao động

1.2.3. L Về thời gian hưởng / thời gian cân đối quỹ

Chế độ TNLĐ vừa mang tính ngắn hạn, vừa mang tính dài hạn

Trong hệ thống các chế độ BHXH, nếu căn cứ theo thời gian hưởng hoặc thời giancân đối quỹ, có thể phân chia các chế độ BHXH ra thành hai loại: ngắn hạn và dài hạn.Với các chế độ ngắn hạn, NLĐ chỉ tạm thời bị suy giảm khả năng lao động (hoặc mấtviệc làm), sau đó họ lại quay trở lại lao động sản xuất, do đó thời gian hưởng chế độngắn, thường là nhận trợ cấp một lần hoặc thời gian hưởng được giới hạn trước Với loạichế độ này quỹ thường được quản lý theo kỹ thuật phân chia và được cân đối trong thờigian ngắn (thường là một năm) Còn đối với các chế độ dài hạn, NLĐ bị mất khả nănglao động vĩnh viễn, họ không có khả năng tiếp tục lao động để có thu nhập hoặc nếu cótìm kiếm được việc làm thì thu nhập từ lao động cũng thấp hơn rất nhiều, nên thường lànhận trợ cấp thường xuyên, trong thời gian dài Với loại chế độ này quỹ thường đượcquản lý theo kỹ thuật tồn tích và được cân đối trong thời gian dài

I.2.3.2 Về nguồn hình thành quỹ

Trách nhiệm đóng góp vào quỹ TNLĐ chủ yếu là NSDLĐ

Trang 30

Khi đề cập đến trách nhiệm đền bù cho người bị nạn thì trước tiên mọi ngườithường nghĩ tới trách nhiệm của NSDLĐ NSDLĐ là người thuê lao động, có quyền tổchức và quản lý lao động của NLĐ, vì vậy hệ quả tất yếu là họ phải chịu trách nhiệm vềnhững rủi ro xảy ra trong quá trình lao động làm ảnh hưởng tới sức khoẻ, tính mạng, đờisống của NLĐ, đặc biệt trong trường hợp NLĐ bị TNLĐ Vì vậy, từ cuối thế kỷ XIX,pháp luật của nhiều nước đã quy định việc đền bù đối với rủi ro nghề nghiệp là thuộctrách nhiệm của NSDLĐ Khi chế độ TNLĐ ra đời, trách nhiệm đền bù của NSDLĐđược chuyển sang cho tổ chức bảo hiểm với điều kiện là NSDLĐ phải đóng phí cho tổchức bảo hiểm Vì vậy, hiện nay, các nước đều quy định trách nhiệm đóng góp vào quỹTNLĐ là của NSDLĐ.

1.2.3.3 về xác định mức phí

Mức phí đóng góp ban đầu của NSDLĐ được quy định dựa trên nguyên tắc đảmbảo chi trả đầy đủ cho đối tượng thụ hưởng khi phát sinh tình huống rủi ro TNLĐ và hoạtđộng đầu tư phát triển quỹ trong dài hạn Trong quá trình thực hiện chế độ TNLĐ, Nhànước xem xét thực trạng quy mô đối tượng thụ hưởng từ chế độ TNLĐ, tình hình chấphành quy định về AT,VSLĐ của NSDLĐ trong một giai đoạn nhất định và khả năng cânđối bộ phận quỹ BHXH dành cho chế độ TNLĐ này mà Nhà nước sẽ có sự điều chỉnhquy định về mức phí đóng góp của NSDLĐ ở mức phù hợp

1.2.3.4 về xác định mức hưởng

Xét về bản chất thì BHXH nói chung và chế độ TNLĐ nói riêng nhằm bù đắpphần thu nhập từ lao động cho NLĐ khi gặp rủi ro, do đó, khi xác định mức hưởng,người ta thường căn cứ vào mức tiền lương, tiền công bị giảm hoặc mất của NLĐ Tuynhiên, đối với chế độ TNLĐ thì rất khó để xác định mức tiền lương, tiền công của NLĐ

bị giảm đi bao nhiêu, bởi có nhiều NLĐ sau khi bị TNLĐ, mặc dù mức suy giảm khảnăng lao động như nhau, nhưng do điều kiện cá nhân của từng người nên cơ hội tìm việclàm và có thu nhập sẽ khác nhau, trong khi một nhóm khác không thể kiếm việc làm để

có thu nhập Hơn nữa, đối với người bị TNLĐ, những tổn thất trên cơ thể (cụt chân, cụttay, mù mắt ) là không thể lượng hóa bằng tiền Vì vậy, mức trợ cấp chỉ mang tính

Trang 31

tương đối, phụ thuộc vào mức độ đóng góp và mức độ rủi ro (căn cứ vào mức độ suygiảm khả năng lao động).

1.2.4 Phân loại chính sách trợ cấp tai nạn lao động

♦ Phân loại chi trả chế độ TNLĐ theo số lần chi trả, chia thành:

s Chi trả chế độ TNLĐ một lần: NLĐ nhận trợ cấp một lần (khi NLĐ tạm thời suy

giảm khả năng lao động)

s Chi trả chế độ TNLĐ thường xuyên (hay nhiều lần): NLĐ sẽ được nhận trợ cấp

hàng tháng đến cuối đời

♦ Phân loại chi trả chế độ TNLĐ theo nội dung, chia thành:

S Chi trợ cấp do suy giảm khả năng lao động: Khi NLĐ bị TNLĐ có thể bị mất

một phần hoặc toàn bộ khả năng lao động, do đó thu nhập NLĐ bị giảm hoặc không cònthu nhập Vì vậy, NLĐ cần một khoản trợ cấp tương xứng để đảm bảo cuộc sống cho bảnthân và gia đình

S Trợ cấp thương tật: Cấp phương tiện trợ giúp sinh hoạt, dụng cụ chỉnh hình.

NLĐ bị TNLĐ gây khiếm khuyết chức năng hoạt động của một số bộ phận trên cơ thể(chân, tay, mắt, cột sống ) thì được cấp phương tiện trợ giúp sinh hoạt, dụng cụ chỉnhhình theo niên hạn căn cứ vào tình trạng thương tật, bệnh tật

S Trợ cấp phục vụ: Những trường hợp NLĐ bị thương tật nặng không thể tự phục

vụ những nhu cầu sinh hoạt thiết yếu trong cuộc sống cần phải có người trợ giúp, chẳnghạn khi bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên mà bị liệt cột sống hoặc mù haimắt hoặc cụt, liệt hai chi hoặc bị bệnh tâm thần, thì hàng tháng sẽ được thêm khoảnhưởng trợ cấp phục vụ bằng mức lương cơ sở hiện hành

S Trợ cấp cho thân nhân: Thu nhập của NLĐ được sử dụng để nuôi sống không

chỉ bản thân NLĐ mà cả con, vợ/chồng, bố mẹ Khi NLĐ chết, đời sống của những thânnhân này sẽ gặp rất nhiều khó khăn, họ cần một khoản trợ cấp để ổn định đời sống

♦ Phân loại chi trả chế độ TNLĐ theo phương thức chi trả, chia thành:

S Chi trả trực tiếp: cơ quan BHXH trực tiếp chi trả chế độ cho đối tượng

hưởng

Trang 32

S Chi trả gián tiếp: việc chi trả chế độ cho đối tượng hưởng thông qua đại lý chi

trả (bưu điện) hoặc chuyển khoản qua thẻ ATM

1.2.5 Quy trình chi trả trợ cấp tai nạn lao động

Quy trình thực hiện chi trả thường được thực hiện qua các bước như sau:

Bước 1: Phân cấp chi trả

Thông thường cơ quan BHXH được tổ chức theo ngành dọc, cấp trung ương là cơquan BHXH quốc gia, cấp địa phương bao gồm cơ quan BHXH cấp tỉnh, cấp huyện Cơquan BHXH địa phương có trách nhiệm tổ chức chi trả trợ cấp các chế độ BHXH Do đó,

để thực hiện chi trả trợ cấp đến tận tay đối tượng, người ta phải phân cấp rõ ràng cơ quanBHXH cấp tỉnh làm gì, cơ quan BHXH cấp huyện làm gì, tránh sự chồng chéo

Bước 2: Lập và xét duyệt dự toán chi

Cơ quan BHXH trung ương chịu trách nhiệm cấp nguồn kinh phí để cơ quanBHXH địa phương thực hiện chi trả Vì thế, để có nguồn kinh phí, định kỳ cơ quanBHXH địa phương phải lập báo cáo về số đối tượng tăng, giảm, số đốitượng hưởng trợcấp BHXH trong kỳ và dự toán khoản phải chi để chuyển lên cơ quan BHXH trung ươngxét duyệt, sau đó cấp phát nguồn kinh phí

Bước 3: Tổ chức chi trả đến tay đối tượng hưởng trợ cấp BHXH

Đây là bước rất quan trọng vì liên quan trực tiếp đến quyền lợi của NLĐ tham giaBHXH Tuỳ thuộc vào điều kiện hoạt động của ngành mà cơ quan BHXH lựa chọn cáchthức tổ chức chi trả phù hợp trên từng địa bàn cụ thể sao cho chi phí tiết kiệm nhất nhưngvẫn đảm bảo được chi trả kịp thời, nhanh chóng đến tay đối tượng hưởng

Bước 4: Lập báo cáo, quyết toán chi

Kết thúc mỗi kỳ tổ chức chi trả, cơ quan BHXH địa phương phải lập báo cáo vềthực trạng chi, những vấn đề phát sinh trong quá trình chi trả Sau đó, gửi lên cơ quanBHXH trung ương để tổng hợp và quyết toán

Bước 5: Thẩm định quyết toán chi

Đây là bước cuối cùng trong quy trình tổ chức chi trả Cơ quan BHXH và các cơquan chức năng khác của quốc gia thường xuyên hoặc đột xuất kiểm tra, thanh tra vấn đề

Trang 33

chi trả các chế độ BHXH ở cơ quan BHXH các cấp nhằm phát hiện những tình trạng gianlận về tài chính BHXH, góp phần đảm bảo an toàn cho nguồn quỹ BHXH.

1.2.6 Các nhân tố ảnh hưởng tới chính sách trợ cấp tai nạn lao động

I.2.6.2 Nhân tố khách quan

Việc hoàn thiện chế độ TNLĐ cũng cần có sự ủng hộ của các bên liên quan Điềunày phụ thuộc vào nhận thức của các bên về vai trò, quyền lợi và nghĩa vụ của họ trongchính chế độ ấy Đối với chế độ TNLĐ nhận thức này thể hiện như sau:

+ Nhận thức của các cơ quan quản lý nhà nước trong hệ thống chính trị trong việcxây dựng, hoạch định chính sách và ban hành văn bản quy phạm pháp luật về chính sáchchế độ TNLĐ và công tác thanh kiểm tra, xử lý vi phạm về việc giải quyết chế độ TNLĐtại đối với NSDLĐ

+ Các yếu tố kinh tế vĩ mô:

Xét về khía cạnh kinh tế, các yếu tố kinh tế vĩ mô có tác động đến việc hoàn thiệnchế độ BHXH đó là: mức độ tăng trưởng kinh tế, thu nhập bình quân đầu người, tỷ lệ lạmphát trong mối quan hệ vĩ mô giữa tăng trưởng và phát triển kinh tế với công bằng vàtiến bộ xã hội Khi xây dựng chế độ TNLĐ cần phải đảm bảo nguyên tắc công bằng, bìnhđẳng để mọi người đều được bảo vệ trước những rủi ro nghề nghiệp Nếu quy định mứcđóng cho chế độ TNLĐ cao hơn khả năng của người có trách nhiệm đóng góp hoặc mứchưởng chế độ TNLĐ quá thấp không đảm bảo mức sống tối thiểu của người thụ hưởngthì khó khả thi của chính sách

+ Chính sách kinh tế - xã hội: Các chính sách kinh tế - xã hội cũng tác động tớimức độ bảo trợ của nhà nước đối với chế độ TNLĐ, đặc biệt là sự hỗ trợ đối với quỹ

Trang 34

TNLĐ, một nền kinh tế phát triển được xem là một hậu phương vững chắc cho quỹTNLĐ của mọi quốc gia.

+ Nhận thức của NSDLĐ trong việc trích nộp BHXH hàng tháng và về vấn đềAT,VSLĐ; chất lượng công tác huấn luyện AT,VSLĐ cho NLĐ; công nghệ sản xuất (máymóc, thiết bị, công cụ sản xuất); quy trình, biện pháp ATLĐ cho NLĐ; điều kiện làm việc

và môi trường làm việc; công tác tổ chức sản xuất (bố trí lao động), trang bị phương tiện

cá nhân cho NLĐ; thực hiện khám sức khỏe định kỳ Sự quan tâm, chỉ đạo của chủ sửdụng lao động và sự nhiệt huyết của nhân viên phụ trách việc liên hệ thủ tục giải quyếtchế độ TNLĐ cho NLĐ giúp cho việc giải quyết chế độ được nhanh chóng, kịp thời

+ Nhận thức của NLĐ liên quan đến việc đòi hỏi các quyền lợi khác ngoài lương,trong đó có quyền lợi tham gia và hưởng chế độ BHXH nói chung và chế độ TNLĐ nóiriêng và do ý thức chấp hành kỷ luật lao động của NLĐ Trong quá trình sản xuất NLĐtuân thủ theo đúng quy định về công tác AT,VSLĐ, sử dụng trang thiết bị bảo hộ laođộng đúng cách thì sẽ hạn chế TNLĐ

1.3 Sự cần thiết phải hoàn thiện chính sách trợ cấp tai nạn lao động

1.3.1 Nhu cầu của người lao động

Trong quá trình sống, có thể nói nhu cầu được bảo đảm an toàn về tính mạng, sứckhỏe, việc làm, tài sản luôn được con người đánh giá cao, nghĩa là họ có nhu cầu phảiđược bảo hiểm Khi tham gia vào quá trình lao động sản xuất thì con người sẽ phải đứngtrước nguy cơ gặp rủi ro TNLĐ khi thao tác làm việc, tiếp xúc với máy móc, nghĩa lànhững nhu cầu trên có nguy cơ không được đảm bảo nếu không có một tổ chức độc lậpđứng ra làm nhiệm vụ hỗ trợ NLĐ vượt qua tình huống khó khăn này như thanh toán chiphí điều trị TNLĐ, bù đắp một phần thu nhập bị mất do không còn khả năng lao độngnhư trước đó hoặc hỗ trợ thu nhập cho một số thân nhân nhất định mà lúc còn sống NLĐ

có trách nhiệm nuôi dưỡng, nếu NLĐ tử vong vì TNLĐ

Với tiêu chí không vì mục tiêu lợi nhuận khi tính toán giữa hai yếu tố mức phíđóng góp và mức thanh toán bù đắp rủi ro khi phát sinh tình huống cần bảo hiểm thìBHXH được xem là một giải pháp chọn lựa tối ưu cho NLĐ Quỹ BHXH không hạchtoán để tính toán lợi nhuận phát sinh hàng năm mà nhằm mục đích bảo tồn và phát triển

Trang 35

quỹ ngày càng lớn mạnh để đảm bảo chức năng thanh toán các chế độ cho NLĐ trongchiến lược dài hạn.

Từ những phân tích trong Chương 2, chúng ta thấy rằng việc thực thi chính sáchtrợ cấp TNLĐ tại tỉnh Bình Dương tuy đã có nhiều nỗ lực trong một thời gian dài nhưngkết quả đạt được vẫn chưa đáp ứng sự mong đợi của NLĐ Khi đến liên hệ làm thủ tụcgiải quyết chế độ trợ cấp TNLĐ thì NLĐ thỉnh thoảng vẫn chịu phiền hà vì cách cư xửkhông chuẩn mực của một bộ phận nhỏ viên chức cơ quan BHXH Trong hiện tại vàtương lai, với khuynh hướng đội ngũ lao động sẽ chuyển dần sang nhóm chính thức (cóhợp đồng lao động và tham gia BHXH), NLĐ luôn mong muốn có sự cải tiến hơn nữatrong việc ban hành và tổ chức thực hiện chính sách trợ cấp TNLĐ để mang lại lợi íchthiết thực cho họ Như vậy, việc hoàn thiện chính sách trợ cấp TNLĐ trước tiên phải xuấtphát từ chính nhu cầu của NLĐ

1.3.2 Mục tiêu của Nhà nước

Sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước phụ thuộc vào nhiều yếu tố chủ quan

và khách quan nhưng có thể nói nguồn nhân lực tham gia vào hoạt động lao động sảnxuất là một yếu tố then chốt để tạo sức mạnh nội lực cho nền kinh tế quốc dân Một nềnkinh tế phát triển không thể dựa vào nguồn nhân lực không ổn định mà Nhà nước phảixây dựng được một lực lượng lao động đủ chất lượng để đáp ứng yêu cầu cho hoạt độngsản xuất kinh doanh Để có một nguồn nhân lực dồi dào và ổn định thì Nhà nước phảithực hiện tốt vai trò đảm bảo an toàn về tính mạng, sức khỏe, việc làm và sự bù đắp thunhập cho NLĐ khi gặp rủi ro TNLĐ thông qua quỹ bảo hiểm TNLĐ quốc gia, tạo được

sự yên tâm, tập trung làm việc, góp phần nâng cao năng suất lao động Không thể có mộtđội ngũ lao động vừa đảm bảo về chất và lượng khi mà mỗi NLĐ hàng ngày làm việctrong sự băn khoăn, lo lắng về những chi phí phải bỏ ra và những khoản thu nhập bị mất

đi nếu chẳng may bị TNLĐ trong khi TNLĐ có thể xảy ra bất cứ lúc nào mà bản thân họkhông thể kiểm soát được Chính vì vậy, bên cạnh việc xây dựng chính sách quản lý vềAT,VSLĐ một cách hiệu quả để giảm thiểu TNLĐ, Nhà nước phải không ngừng hoànthiện chính sách trợ cấp TNLĐ để giảm thiểu hậu quả truớc mắt và lâu dài do TNLĐ gây

ra cho NLĐ

Trang 36

1.4 Các nội dung cần hoàn thiện

Tất cả mọi nội dung chế độ, chính sách muốn tác động đến xã hội để thực hiện vaitrò quản lý của Nhà nuớc đều phải thông qua những hình thức văn bản pháp quy nhấtđịnh do cơ quan nhà nuớc có thẩm quyền ban hành Do vậy, truớc tiên chúng ta cần phảihoàn thiện hệ thống pháp luật (luật, nghị định, thông tu) điều chỉnh chế độ trợ cấp TNLĐ.Đây sẽ là cơ sở để hệ thống cơ quan BHXH triển khai thực thi giải quyết chế độ TNLĐ

Tiếp theo, tổ chức, bộ máy, quy trình thực hiện công tác giải quyết chế độ TNLĐphải kịp thời đuợc điều chỉnh cho phù hợp với những biến đổi của thực tiễn xã hội nhằmđạt đuợc tiêu chí tinh gọn, tiết kiệm, chất luợng, hiệu quả, giảm thiểu chi phí quản lý của

bộ máy, tăng nguồn kinh phí cho giải quyết chế độ, nâng cao hiệu quả hoạt động bảo tồn

và phát triển quỹ bảo hiểm TNLĐ Quy trình nghiệp vụ nội bộ giữa các bộ phận, giữa cáccấp trong ngành BHXH và quy trình tiếp nhận, trả kết quả cho đối tuợng NLĐ, đại diệnNSDLĐ phải đuợc không ngừng đuợc nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung phù hợp

Tiểu kết chuơng 1Chuơng 1 đã hệ thống hóa và làm rõ các vấn đề lý luận liên quan đến BHXH, hệthống tổ chức và hoạt động chi trả các chế độ BHXH Cụ thể, phần này đã nêu lên quanđiểm của Đảng và Nhà nuớc ta hiện nay đối với vấn đề chính sách và định huớng pháttriển hệ thống BHXH, làm rõ và có đóng góp bổ sung khái niệm về BHXH và bản chấtcủa BHXH Vai trò của BHXH đuợc làm rõ trên ba khía cạnh: vai trò của BHXH đối vớiNLĐ, NSDLĐ và xã hội Hoạt động BHXH không nhằm mục đích huớng đến lợi nhuận.Chính sách BHXH chịu sự chi phối trực tiếp của Luật BHXH cũng nhu các định huớngchính sách phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia BHXH là loại hình bảo hiểm đóng vaitrò hết sức quan trọng bởi nó liên quan trực tiếp đến NLĐ và NSDLĐ BHXH có tínhcộng đồng xã hội, tính nhân đạo và nhân văn sâu sắc, tạo nên sự công bằng và bình đẳngtrong xã hội

về hệ thống tổ chức và hoạt động chi trả các chế độ BHXH, tác giả đã làm rõ kháiniệm, chức năng nhiệm vụ và các mối quan hệ của hệ thống tổ chức chi trả BHXH Kếtquả của Chương 1 là tác giả đã làm rõ được khái niệm về hệ thống tổ chức chi trả các chế

độ BHXH cũng như mô hình tổ chức chi trả BHXH tại tỉnh Bình Dương

Trang 37

Chương 2THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH CHI TRẢ CHẾ ĐỘ TAI NẠN LAO ĐỘNG TẠI

TỈNH BÌNH DƯƠNG GIAI ĐOẠN 2012 - 2016

2.1 Lịch sử hình thành và phát triển bảo hiểm xã hội tỉnh Bình Dương

2.1.1 Giới thiệu về bảo hiểm xã hội tỉnh Bình Dương

Cùng với sự ra đời của BHXH Việt Nam và BHXH các tỉnh, thành trong cả nước,BHXH tỉnh Sông Bé được thành lập và chính thức đi vào hoạt động từ ngày 15/8/1995với chức năng nhiệm vụ chủ yếu là thực hiện chế độ, chính sách BHXH cho NLĐ cótham gia BHXH trên địa bàn tỉnh

Đến ngày 01/01/1997, tỉnh Bình Dương được tái lập, từ đó BHXH tỉnh BìnhDương ra đời và hoạt động ổn định đến nay [20]

2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ và quyền

hạn Chức năng:

BHXH tỉnh Bình Dương là cơ quan sự nghiệp nhà nước trực thuộc BHXH ViệtNam (là cơ quan sự nghiệp trực thuộc Chính phủ), đặt tại tỉnh nằm trong hệ thống tổchức của BHXH Việt Nam, có chức năng giúp Tổng giám đốc tổ chức thực hiện cácchính sách, chế độ BHXH, bảo hiểm y tế (BHYT) và quản lý quỹ BHXH, BHYT, chịu sựlãnh đạo, quản lý trực tiếp, toàn diện của Tổng giám đốc BHXH Việt Nam; chịu sự quản

lý hành chính nhà nước trên địa bàn lãnh thổ của UBND tỉnh Bình Dương

BHXH tỉnh có tư cách pháp nhân, có trụ sở đặt tại tỉnh lỵ, có mộc dấu, tài khoảnriêng

Nhiệm vụ - quyền hạn:

BHXH tỉnh Bình Dương là cơ quan đại diện cho BHXH Việt Nam tại địa phươngthực hiện việc thu các khoản đóng BHXH, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp của các tổchức và cá nhân tham gia và trực tiếp tổ chức chi trả các chế độ BHXH, bảo hiểm y tế,bảo hiểm thất nghiệp cho đối tượng được hưởng theo quy định; chủ trì, phối hợp với các

cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội ở địa phương, các tổ chức, cá nhân thamgia BHXH, bảo hiểm y tế, để giải quyết các vấn đề có liên quan đến việc thực hiện cácchế độ BHXH, bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật

Trang 38

Nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể được quy định chi tiết tại Phụ lục 2.

2.1.3 Cơ cấu tổ chức của Bảo hiểm xã hội tỉnh Bình Dương

BHXH tỉnh Bình Dương gồm có Ban giám đốc (Giám đốc và 03 phó giám đốc),Văn phòng, Phòng Tổ chức - Cán bộ, 09 phòng nghiệp vụ và 09 cơ quan BHXH cấphuyện

Sơ đồ cơ cấu tổ chức quản lý được trình bày tại Phụ lục 3

• Chức năng của từng phòng, đơn vị trực thuộc: Bộ phận Văn phòng, Tổ chức Cán bộ thực hiện chức năng tham mưu lĩnh vực hành chính, nhân sự; bộ phận Kế hoạch -Tài chính thực hiện chức năng thu, chi, tham mưu đề xuất kế hoạch phát triển hàng năm;

-bộ phận công nghệ thông tin hỗ trợ các phòng nghiệp vụ ứng dụng công nghệ thông tinvào hoạt động chuyên môn, bộ phận Thanh tra - Kiểm tra thực hiện chức năng kiểm soát,

xử lý những sai phạm trong quá trình chấp hành các quy định về BHXH; các bộ phậnthực hiện chức năng thu gồm: Quản lý thu, Cấp sổ - thẻ, Khai thác thu nợ; các bộ phậnthực hiện chức năng giải quyết chế độ gồm: Chế độ, Giám định, Tiếp nhận - quản lý hồ

sơ Chức năng cụ thể của từng bộ phận được trình bày tại Phụ lục 4

2.2 Thực trạng về thực hiện chi trả chế độ tai nạn lao động tại tỉnh Bình Dương

2.2.1 Thực trạng về thực hiện chi trả chế độ tai nạn lao động tại tỉnh Bình Dương

2.2.1.1 Khái quát tình hình doanh nghiệp và lao động tại tỉnh Bình Dương

Đến nay, toàn tỉnh có 28 khu công nghiệp và 8 cụm công nghiệp, với tổng diệntích khoảng 10.000 ha Trong đó có những khu công nghiệp tiêu biểu cho cả nước về xâydựng kết cấu hạ tầng hoàn chỉnh, đồng bộ và hiện đại, về tốc độ thu hút đầu tư, quản lýsản xuất và bảo vệ môi trường như VSIP 1, 2, Mỹ Phước, Đồng An Nhiều khu đô thị vàdân cư mới văn minh, hiện đại được hình thành, trong đó tiêu biểu nhất là thành phố mớiBình Dương với điểm nhấn là Trung tâm hành chính tập trung của tỉnh đã chính thức đivào hoạt động từ ngày 20/02/2014 [22] Trong những năm qua, với chính sách “trải thảmđỏ” thu hút đầu tư, Bình Dương đã đi đầu và trở thành mô hình kiểu mẫu trong thu hútđầu tư nước ngoài khi được xếp vào nhóm các địa phương dẫn đầu cả nước về thu hútđầu tư trực tiếp nước ngoài Trong thời gian qua, chính quyền tỉnh Bình Dương luôn nhận

Trang 39

thức và quán triệt quan điểm là để phát triển cần phải đẩy mạnh công nghiệp hóa gắn vớikhai thác có hiệu quả các lợi thế về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, nguồn nhân lựccủa tỉnh, thông qua việc cụ thể hóa trong từng chủ trương, chỉ đạo, điều hành đến các quyhoạch, kế hoạch, chương trình phát triển của từng ngành, từng cấp Trong giai đoạn 2012đến 2016, số lao động nhập cư ngoài tỉnh chiếm khoảng 85% lực lượng lao động toàntỉnh [14] Có thể nói, đây là một nguồn lực vô cùng quan trọng để giúp tỉnh Bình Dươngduy trì được tốc độ phát triển kinh tế khởi sắc trong 20 năm tái lập tỉnh (1997) Cùng vớichính sách kêu gọi đầu tư trong và ngoài nước, chính quyền tỉnh cũng đã tiến hành đồng

bộ nhiều giải pháp về ASXH (xây dựng nhà ở xã hội cho công nhân có thu nhập thấp,tăng cường phát triển mạng lưới y tế tư nhân, quy hoạch phát triển mở rộng hệ thốngtrường học công lập và tư thục, xây dựng nhiều thiết chế văn hóa phục vụ công nhân )

để đáp ứng nhu cầu của NLĐ Đây là một trong những nội dung mà chính quyền tỉnhBình Dương cam kết thực hiện khi thực

thi chính sách kêu gọi đầu tư các nhà đầu tư, được xem như một chính sách hỗ trợ hậu đầu tư

• Tình hình các doanh nghiệp và số lao động tại tỉnh Bình Dương Số lượng doanh

nghiệp và lao động tại tỉnh Bình Dương không ngừng tăng lên, qua đó số lao động tham gia BHXH cũng tăng tương ứng Có thể thấy các thành quả này qua tốc độ tăng trong 5 năm gần đây qua bảng số liệu bên dưới

Bảng 2.1: Tình hình doanh nghiệp và lao động tham gia BHXH tại tỉnh Bình Dương

Trang 40

số doanh nghiệp đăng ký và hoạt động (chiếm khoảng một phần ba), nguyên nhân là donhóm doanh nghiệp sử dụng dưới 10 lao động thường không tham gia BHXH Nhữngdoanh nghiệp này có nhân viên phụ trách vấn đề nhân sự, tiền lương, BHXH và được các

cơ quan chức năng kiểm tra, nhắc nhở nên thực hiện thủ tục tham gia BHXH cho NLĐ

Số còn lại là những doanh nghiệp sử dụng ít lao động, không nắm rõ quy định và cũngkhông có nhân viên văn phòng để thực hiện thủ tục tham gia BHXH nên thường chỉ thỏathuận và trả tiền lương hàng tháng với NLĐ

Số doanh nghiệp tham

gia BHXH

Doanhnghiệp 5.687 5.966 6.403 6.986 8.136Tốc độ tăng

Số lao động tham gia

BHXH Người 657.337 715.800 769.064 834.448 861.329Tốc độ tăng

Nguồn: BHXH tỉnh Bình Dương, năm 2012 - 2016 [3]

Số lượng doanh nghiệp và lao động tại tỉnh Bình Dương có tốc độ tăng trưởng đều

qua các năm Số lượng doanh nghiệp tham gia BHXH thấp so với tổng

Ngày đăng: 07/06/2018, 17:27

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w