1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA CHẤT LƯỢNG CÁM GẠO LÊN TĂNG TRƯỞNG, HIỆU QUẢ SỬ DỤNG THỨC ĂN VÀ MÀU SẮC CƠ THỊT CÁ BASA (PANGASIUS BOCOURTI)

63 149 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 467,97 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Tháng 09/2006 ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA CHẤT LƯỢNG CÁM GẠO LÊN TĂNG TRỌNG, HIỆU QUẢ SỬ DỤNG THỨC ĂN VÀ MÀU SẮC CƠ THỊT CÁ BASA PANGASIUS BOCOUTI thực hiện bởi Đinh

Trang 1

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

ĐỀ TÀI:

ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA CHẤT

LƯỢNG CÁM GẠO LÊN TĂNG TRƯỞNG, HIỆU QUẢ SỬ DỤNG THỨC ĂN VÀ MÀU

SẮC CƠ THỊT CÁ BASA (PANGASIUS

Trang 2

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Tháng 09/2006 ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA CHẤT LƯỢNG CÁM GẠO LÊN TĂNG TRỌNG, HIỆU QUẢ SỬ DỤNG THỨC

ĂN VÀ MÀU SẮC CƠ THỊT CÁ BASA (PANGASIUS

BOCOUTI)

thực hiện bởi

Đinh Quốc Việt

Luận văn được đệ trình để hoàn tất yêu cầu cấp bằng Kỹ Sư Nuôi Trồng Thủy Sản

Giáo viên hướng dẫn: Lê Thanh Hùng

Trang 3

Thành phố Hồ Chí Minh

03 lần, gồm 05 nghiệm thức C0, C25, C50, C75, C100 Nghiệm thức C0 là nghiệm thức đối chứng với thành phần cám gạo có trong khẩu phần hoàn toàn là cám mới không bị ôi dầu, Các nghiệm thức còn lại thành phần cám gạo mới có trong khẩu phần ăn sẽ được thay thế bằng cám ôi dầu với tỉ lệ lần lược là 25%, 50%, 75% và 100% Sau 06 tuần nuôi kết quả thu được như sau:

- Tỉ lệ sống, tăng trọng của cá thí nghiệm giữa các nghiệm thức không có sự khác biệt về mặt thống kê Điều này có nghĩa là cám gạo ôi dầu khi được sử dụng

làm thành phần thức ăn của cá Basa (Pangasius bocourti) thì không ảnh hưởng đến tỉ lệ sống và tăng trọng của cá Basa (Pangasius bocourti) Tuy nhiên hiệu quả sử dụng

thức ăn (thông qua chỉ số FCR và PER) giữa các nghiệm thức có sự khác biệt thống kê Hiệu quả sử dụng thức ăn của các nghiệm thức có chứa cám gạo ôi dầu kém hơn nghiệm thức đối chứng không chứa cám gạo ôi dầu và trong các nghiệm thức có sử dụng cám gạo ôi dầu thì nghiệm thức nào sử dụng khẩu phần ăn có chứa cám gạo ôi dầu nhiều hơn sẽ có hiệu quả sử dụng thức ăn thấp hơn

- Về kết quả đánh giá cảm quan màu sắc cơ thịt phi lê, màu sắc gan, màu sắc mỡ, mùi cơ thịt sau khi luộc và cảm quan mô của cá thí nghiệm thì có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê giữa các nghiệm thức Điều này có nghĩa khi sử dụng cám gạo

ôi dầu làm thức ăn cho cá Basa (Pangasius bocourti) sẽ ảnh hưởng đến màu sắc cơ

thịt, màu sắc mỡ, màu sắc gan, mùi thịt cá sau khi luộc và cấu trúc của mô gan Màu sắc cơ thịt, mỡ sẽ bị vàng, màu sắc gan sẽ bị đỏ sậm, cơ thịt sau khi luộc sẽ có mùi hôi, ngoài ra gan còn bị thoái hóa, cấu trúc gan bị thay đổi

Trang 4

ABSTRACT

The research subject tiltled “Evaluating effects of rice bran quality on growth feed efficiency and muscle coloration of Basa catfish” was carried out at the Experimental Station of Fishery Faculty of University of Agriculture and Forestry – HCM city

Experiment conducted in order to determine the effective usage rice bran’s oil in gain weight and muscle color of Basa catfish The experiment has 5 treatment: C0, C25, C50, C75, C100 C0 is a control treatment It doesn’t contain old rice bran The others replace fresh rice bran by old rice bran at the rate of 25%, 50%, 75%, 100% After 6 weeks, the results of study shows that:

• There were no statiscially significant diffrences in survival rate, weight gain This means rice bran rancidity in ingredient doesn’t effect on survival rate and weight gain of Basa catfish However, feed efficiency among treatment (through PER and FCR) has statiscially significant diffirences The feed efficiency of diet contain rice bran rancidity is lower than those of control diet The more rice bran rancidity contained the worse effect are

• There were statiscial significant diffirence among treatment in respeds of color of fillet, liver and fat, smell meat after boiling Fat color was yellow to dark-red Tissue structure of liver was changed at high level of old rice bran

Trang 5

CẢM TẠ

Tôi xin chân thành gửi lời cảm tạ đến:

- Ban Giám Hiệu Trường Đại Học Nông Lâm TP.HCM

- Ban Chủ Nhiệm Khoa Thủy Sản

- Quý thầy cô trong và ngoài Khoa Thủy Sản đã tận tình giảng dạy và cung cấp kiến thức cho tôi trong suốt quá trình học tập

Gửi lời biết ơn sâu sắc đến thầy Lê Thanh Hùng đã tận tâm hướng dẫn và

giúp đỡ chúng tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp này

Cảm ơn các anh chị cán bộ công nhân viên Khoa Thủy Sản Trường Đại học Nông Lâm Tp.HCM, các bạn sinh viên trong và ngoài lớp NTTS 28 đã giúp đỡ tôi trong thời gian thực hiện đề tài

Trong suốt thời gian thực hiện đề tài, mặc dù tôi đã hết sức cố gắng nhưng không thể tránh khỏi thiếu xót Mong nhận được sự đóng góp ý kiến quý báu của quý thầy cô và các bạn

Trang 6

MỤC LỤC

DANH SÁCH HÌNH ẢNH VÀ BIỂU ĐỒ 8

1.2 Mục Tiêu Đề Tài 10

2.1 Đặc Điểm Sinh Học Cá Basa 11

2.1.3 Đặc điểm hình thái 11 2.1.4 Đặc điểm sinh lí 12 2.1.5 Đặc điểm dinh dưỡng 12 2.1.6 Đặc điểm sinh trưởng 13 2.1.7 Đặc điểm sinh sản 13

2.2.1 Thành phần của cám gạo 14 2.3 Quá Trình Ôi Của Cám Gạo 16 2.3.1 Cơ chế của sự ôi hóa 16 2.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự oxi hóa 18 2.4 Tác Hại Của Cám Bị Ôi Dầu 18 2.4.1 Đối với động vật trên cạn 18 2.4.2 Đối với động vật thủy sản 19

III VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM

20

Trang 7

3.1 Thời Gian Và Địa Điểm 20 3.2 Vật Liệu Thí Nghiệm 20

3.2.4 Thức ăn 22 3.2.5 Đối tượng nghiên cứu 23 3.3 Phương Pháp Thí Nghiệm 23 3.3.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 23 3.3.2 Các chỉ tiêu theo dõi về môi trường 24 3.3.3 Phương pháp thu thập số liệu 24 3.3.4 Phương pháp tính toán và xử lý số liệu 24

4.1 Các Thông Số Môi Trường 26 4.2 Thành Phần Dinh Dưỡng Các Công Thức Thức Ăn 28 4.3 Tăng Trọng Và Tỉ Lệ Sống 29 4.3.1 Tỉ lệ sống 29

4.4 Hiệu Quả Sử Dụng Thức Aên 33 4.5 Hệ Số Gan/Thể Trọng (HIS), Hệ Số Mỡ/Thể Trọng (ASI) 35 4.6 Đánh Giá Cảm Quan Màu Sắc Gan, Mỡ, Cơ Thịt 37 4.7 Đánh Giá Cảm Quan Mùi, Màu Cơ Thịt Cá Sau Khi Luộc Và Mô Gan 39

Trang 8

DANH SÁCH CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Thành phần thức ăn trong ruột cá Basa

(Pangasius bocourti) ngoài tự nhiên (Mohsin,1965) 13 Bảng 2.2 Thành phần các amino acid thiết yếu có trong cám gạo (g/16gN) 15 Bảng 2.3 Khả năng tiêu hóa cám gạo của một số loài đôïng vật thủy sản 16 Bảng 3.1 Công thức thức ăn của các nghiệm thức 23 Bảng 4.1a Nhiệt độ nước (trung bình) vào buổi sáng của các nghiệm thức 26 Bảng 4.1b Nhiệt độ nước (trung bình) vào buổi chiều của các nghiệm thức 26 Bảng 4.2a DO vào buổi sáng của các nghiệm thức 27 Bảng 4.2b DO vào buổi chiều của các nghiệm thức 27 Bảng 4.3 pH, NH4, amoni tổng số của các nghiệm thức 28 Bảng 4.4 Thành phần (%) dinh dưỡng các công thức thức ăn 29 Bảng 4.5 Tăng trưởng của cá Basa (Pangasius bocourti) 30

Bảng 4.6 Hiệu quả sử dụng thức ăn 33 Bảng 4.7 Hệ số gan/thân (HIS), hệ số mỡ/thân (ASI) 35 Bảng 4.8 Đánh giá cảm quan màu sắc gan, mỡ, cơ thịt

cá Basa (Pangasius bocourti) 38

Bảng 4.9 Đánh giá cảm quan mùi, màu cơ thịt sau khi luộc và mô gan

cá Basa (Pangasius bocourti) 39

Trang 9

DANH SÁCH HÌNH ẢNH VÀ BIỂU ĐỒ

HÌNH ẢNH NỘI DUNG

TRANG

Hình 2.1 Cá Basa (Pangasius bocourti) 11 Hình 3.1 Hệ thống bố trí thí nghiệm 21

Hình 4.1 Màu sắc gan và cơ thịt của cá Basa (Pangasius bocourti) 37

Hình 4.2 Mô gan cá Basa (Pangasius bocourti) 40

BIỂU ĐỒ NỘI DUNG TRANG

Biểu đồ 4.1 Tốc độ tăng trưởng của cá basa 30

Biểu đồ 4.2 Tỉ lệ tăng trọng trung bình của cá 31

Biểu đồ 4.3 Tỉ lệ tăng trọng hàng ngày của cá 32

Biểu đồ 4.4 Tốc độ tăng trưởng đặc biệt giữa các nghiệm thức 32

Biểu đồ 4.5 Hệ số biến đổi thức ăn 33

Biểu đồ 4.6 Hiệu quả sử dụng protein thức ăn 34

Biểu đồ 4.7 Hệ số gan/thân (HIS) 35

Biểu đồ 4.8 Hệ số mỡ/thân (ASI) 36

Biểu đồ 4.9 Đánh giá cảm quan màu sắc gan, mỡ, cơ thịt cá

Basa (Pangasius bocourti) 39

Trang 10

I GIỚI THIỆU

1.1 Đặt Vấn Đề

Để đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn cho ngành nuôi trồng thủy sản và cũng để thay thế bột cá là một trong những thành phần phối trộn cung cấp protein chính cho thức ăn cho tôm cá ngày càng cạn kiệt, người nuôi có xu hướng sử dụng các nguồn protein thực vật có giá thành rẻ trong đó cần phải kể đến là cám gạo

Trên thế giới đã có nhiều nước sử dụng cám gạo làm thức ăn cho cá như Aán Độ, Malaysia, Philippines, Srilanka, Thái Lan Các quốc gia này sử dụng số lượng lớn cám gạo dùng nuôi cá, ở Aán Độ hằng năm có ít nhất 06 triệu tấn gạo được sử dụng để nuôi cá, ở Thái Lan cám gạo là nguyên liệu chính để nuôi nhiều loại cá (Boy và Goodyear, 1971) Mark (1975) báo cáo rằng các quốc gia trên dùng cám gạo làm nguyên liệu phối trộn với nguyên liệu làm thức ăn trong sản xuất thức ăn công nghiệp hoặc dùng cho cá ăn trực tiếp

Ở nước ta, vài năm gần đây sản lượng cám gạo ở Đồng Bằng Sông Cửu Long gia tăng đáng kể, ước tính có khoảng vài triệu tấn cám gạo trong năm và con số này sẽ tiếp tục tăng trong những năm tới Đây cũng là điều kiện thuận lợi để cám gạo là nguồn phụ phẩm chính từ lúa gạo được sử dụng cho chăn nuôi gia súc, gia cầm Ngoài ra cám gạo còn là nguyên liệu dùng để chế biến thức ăn cho tôm, cá Trong qui trình sản xuất thức ăn cho tôm, cá cám gạo được sử dụng như một nguyên liệu phối chế chủ yếu cung cấp chất dinh dưỡng và làm giảm giá thành thức ăn bởi giá cám gạo thấp Thực tế có thể sử dụng cám gạo đến 80 – 90% làm thành phần thức ăn cho cá Basa nuôi bè thâm canh ở An Giang đem lại kết quả khả quan

Tuy nhiên cám gạo có hàm lượng béo cao mà phần lớn là các acid béo không

no nên dễ dàng bị oxy hóa(ôi dầu) tạo các sản phẩm trung gian như peroxyde, andehyde và ceton… (Frankel,1984 trích bởi Loan, 2004), việc bảo quản cám gạo khỏi bị oxi hóa lại không dễ dàng Vì vậy cá có nhiều khả năng sử dụng cám gạo đã

bị ôi dầu Theo nghiên cứu của Watanabe và ctv, 1966 (trích bởi Hùng, 2000) cá chép ăn dầu mỡ bị ôi dẫn đến bệnh “sekoke” với biểu hiện tăng trưởng chậm, cơ thoái hóa và tỉ lệ chết rất cao

Ở Việt Nam vẫn chưa có một nghiên cứu nào về ảnh hưởng của cám gạo cũ bị ôi dầu đối với động vật thủy sản khi được sử dụng làm thức ăn, từ đó có những khuyến cáo thích hợp với người nuôi

Trang 11

Xuất phát từ suy nghĩ trên, được sự chấp thuận của Khoa Thủy Sản Trường

Đại Học Nông Lâm, chúng tôi đã tiến hành đề tài: “Đánh giá ảnh hưởng của chất lượng cám gạo lên tăng trưởng, hiệu quả sử dụng thức ăn và màu sắc cơ thịt cá Basa (Pangasius bocourti)”

1.2 Mục Tiêu Đề Tài

Đề tài được thực hiện nhằm đánh giá những ảnh hưởng của cám gạo ôi dầu

khi được sử dụng làm thức ăn lên sự tăng trọng và màu sắc cơ thịt cá Basa (Pangasius bocourti) (là loài cá nước ngọt có khả năng sử dụng cám gạo và cũng là loại cá có giá

trị xuất khẩu cao nhất hiện nay) Từ đó có những khuyến cáo cho người nuôi nhằm nâng cao năng suất và giá trị xuất khẩu cho sản phẩm nuôi

Trang 12

II TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Đặc Điểm Sinh Học Cá Basa

Loài: Pangasius bocouti (Sauvage, 1880)

Tên địa phương: Cá Basa, cá Bụng

2.1.2 Phân bố

Cá Basa (Pangasius bocourti) phân bố ở lưu vực sông Mê Kông, có mặt ở cả 4

nước Lào, Việt Nam, Campuchia và Thái lan Ở Thái Lan thường gặp cá Basa có ở sông Chaophraya Ở nước ta những năm trước đây khi chưa có cá sinh sản nhân tạo,

cá bột và cá giống Basa (Pangasius bocourti) được vớt trên sông Tiền và sông Hậu

Cá trưởng thành chỉ thấy trong ao nuôi, rất ít gặp trong tự nhiên địa phận Việt nam,

do cá có tập tính di cư ngược dòng sông Mê kông để sinh sống và tìm nơi sinh sản tự nhiên (Bộ Thủy Sản, 2006)

2.1.3 Đặc điểm hình thái

Hình 2.1 Cá Basa (Pangasius bocourti)

Cá Basa (Pangasius bocourti) là cá da trơn Theo Mai Đình Yến và ctv (1992) thì cá Basa (Pangasius bocourti) có thân ngắn dẹp về phía đuôi và vảy thoái hóa

Trang 13

Lưng có màu xanh xám nhạt Đầu rộng, mõm dẹp và nhô ra, miệng cận dưới Dãy răng hàm trên bày ra khi miệng khép lại, răng khẩu cái và răng lá mía chia làm 4 đám Có 4 đôi râu với 2 đôi râu hàm dưới dài không quá 1/2 chiều dài đầu, hai đôi râu hàm trên dài không quá 1/2 chiều dài đầu có khi dài đến gốc vây ngực Gai mang hơi tù đầu, số lượng gai mang trên cung mang thứ nhất của cá biến thiên từ 37-43 gai Sự biến thiên này tỉ lệ thuận với sự gia tăng kích thước

2.1.4 Đặc điểm sinh lí

Cá Basa (Pangasius bocourti) có khả năng chịu đựng các yếu tố môi trường

như sau:

Oxy hòa tan: Cá Basa (Pangasius bocourti) là loài cá sống ở sông với môi

trường dồi dào Oxy Ngưỡng Oxy của cá 1,2±0,15mg/L Khi hàm lượng Oxy trong môi trường nước trên dưới 1mg/L cá nổi đầu hàng loạt (Nguyễn Tuần 2000)

Nhiệt độ: Cá Basa (Pangasius bocourti) chịu lạnh kém, Ở nhiệt độ 180C thì cường độ bắt mồi giảm nhưng cá vẫn sống bình thường, khi nhiệt độ hạ 170C thì 100% cá bị hôn mê Ở nhiệt độ 400C, sau 15 phút cá bơi lội không bình thường, sau 1 giờ toàn bộ cá hôn mê

Như vậy, nhiệt độ gây chết cho cá Basa (Pangasius bocourti) là dưới 180C và trên 400C Khả năng chịu lạnh của cá Basa (Pangasius bocourti) tương đối kém, vì

chúng là một trong những loài cá đặc trưng phân bố trong vùng nhiệt đới (Nguyễn Tuần, 2000)

pH: pH = 5 cá có biểu hiện mất nhớt, các đôi râu teo dần, hoạt động chậm

chạp Ở pH = 5,5 sức chịu đựng có khá hơn, tuy nhiên hoạt động chậm chạp, lờ đờ Ở

pH = 11 cá hoạt động lờ đờ, có biểu hiện mất nhớt, xuất huyết ở mặt và vây, sau 8

giờ thì cá chết Như vậy, ngưỡng pH gây chết của cá Basa (Pangasius bocourti) thấp

nhất là 5,5 và cao nhất là 11

Khả năng chịu mặn: Cá Basa (Pangasius bocourti) có khảû năng chịu độ mặn

tương đối cao, độ mặn càng cao thì thời gian sống giảm dần (Nguyễn Tuần, 2000)

2.1.5 Đặc điểm dinh dưỡng

Cá Basa (Pangasius bocourti) có tính ăn tạp thiên về động vật Hệ tiêu hóa

của cá thực sự hoàn chỉnh 3 ngày sau khi bắt đầu ăn thức ăn bên ngoài Cá háu ăn Sau khi hết noãn hoàng, cá ăn phù du động vật là chính Trong điều kiện nuôi nhân tạo thức ăn thích hợp giai đoạn đầu là ấu trùng Artemia, Moina, đạt được tỷ lệ sống tới 91-93%, trong khi dùng thức ăn nhân tạo thì tỷ lệ sống chỉ đạt 67% và tốc độ tăng trưởng cũng kém hơn Từ ngày tuổi thứ 7 có thể chuyển sang ăn thức ăn nhân tạo Hệ số tiêu hóa protein khoảng 80-87% và hệ số tiêu hóa chất béo khá cao 90-98% Nhu

Trang 14

cầu protein của cá Basa (Pangasius bocourti) khoảng 28,6% khẩu phần (Lê Thanh

Hùng, 2002)

Giai đoạn lớn cá cũng có khả năng thích ứng nhanh với các loại thức ăn có nguồn gốc động vật, thực vật và dễ kiếm như hỗn hợp tấm, cám, rau, cá vụn và phụ phẩm nông nghiệp

Khi phân tích thức ăn trong ruột cá đánh bắt ngoài tự nhiên thì cho thấy thành

phần thức ăn khá đa dạng, nhưng nhìn chung thức ăn của cá Basa (Pangasius bocourti) thiên về động vật

Bảng 2.1 Thành phần thức ăn trong ruột cá Basa (Pangasius bocourti) ngoài tự nhiên

(Mohsin,1965 trích bởi Kim, 2004)

Loại thức ăn Thành phần %

Mùn bã hữu cơ 53,1%

2.1.6 Đặc điểm sinh trưởng

Ở cá Basa (Pangasius bocourti), thời kỳ cá giống cũng lớn khá nhanh, sau 60

ngày cá đạt chiều dài 8-10,5 cm, sau 7-8 tháng đạt thể trọng 400-550 gam, sau 1 năm

đạt 700-1.300 gam Nghiên cứu về tăng trưởng cá Basa (Pangasius bocourti) cho thấy

trong 2 năm đầu tiên cá tăng trưởng nhanh về chiều dài thân, càng về sau tốc độ này giảm dần Khi đạt đến một kích thước nhất định thì chiều dài thân hầu như ngừng tăng Ngược lại trong 2 năm đầu tốc độ tăng trưởng về thể trọng chậm nhưng tăng dần về sau Nuôi trong bè sau 2 năm có thể đạt tới 2.500 gam Trong tự nhiên đã gặp cỡ cá có chiều dài thân 0,5m (Bộ Thủy Sản, 2006)

2.1.7 Đặc điểm sinh sản

Vào mùa thành thục, cá có tập tính bơi ngược dòng di cư tìm bãi đẻ, nơi có điều kiện sinh thái phù hợp cho sự phát triển của tuyến sinh dục và đẻ trứng.Vì vậy cá không đẻ tự nhiên ở phần sông Mê Kông của Việt Nam mà khu vực bãi đẻ của cá thuộc địa phận tỉnh Cratie của Campuchia trở lên (Báo cáo của ủy ban sông Mê Kông, 1992 trích bởi Phạm Văn Khánh, 2000)

Trang 15

Cá Basa (Pangasius bocourti) thành thục ở tuổi 3+- 4+ Trong tự nhiên cá sinh

sản vào tháng 3-4 hằng năm Cá Basa (Pangasius bocourti) không có cơ quan sinh

dục phụ nên khó phân biệt cá đực cái khi nhìn hình dạng ngoài Khi cá đã ở giai đọan thành thục có thể phân biệt bằng cách vuốt tinh dịch cá đực và thăm trứng cá cái Hệ số thành thục của cá (nuôi vỗ trong ao và bè) đạt 2,72-6,2%, sức sinh sản tuyệt đối đạt tới 67.000 trứng (cá 7 kg), đường kính trứng từ 1,6-,8 mm Trứng cá Basa

(Pangasius bocourti) cũng có tính dính

Mùa vụ sinh sản cá Basa (Pangasius bocourti) ngoài tự nhiên có tính chu kỳ

rõ rệt Vào tháng 8, sau khi kết thúc mùa sinh sản, tiếp theo là quá trình thoái hoá và

cơ thể sẽ hấp thu những sản phẩm sinh dục còn sót lại, buồng trứng chỉ còn là các nang rỗng và vào những tháng cuối năm trở về giai đọan II Các tháng tiếp theo sau đó là quá trình hình thành các hạt trứng mới, buồng trứng tăng dần kích thước và đạt lớn nhất vào tháng 4-5 năm sau Vào tháng 6-7, đường kính trứng đạt 1,5-1,7mm và cá bước vào thời kỳ sinh sản khi đường kính trứng đạt 1,8-2mm Từ tháng 7 trở đi là thời kỳ cá đẻ trứng Trong nuôi vỗ sinh sản nhân tạo, mùa vụ thành thục và đẻ của cá

Basa (Pangasius bocourti) thường sớm hơn trong tự nhiên từ 2-3 tháng, cá thành thục

và bước vào mùa vụ sinh sản nhân tạo từ tháng 3 và kéo dài đến tháng 7, tập trung vào tháng 4-5 (Bộ Thủy Sản, 2006)

2.2 Cám Gạo

Cám gạo bao gồm một lớp vỏ bao bên ngoài hạt gạo và phôi của hạt lúa Khi đem xay lúa thu được khoảng 50% gạo, 10% cám gạo, 5-6,5% là tấm, phần còn lại là cám bổi và trấu ( Lê Hồng Mận, 2001 trích bởi Loan, 2004)

2.2.1 Thành phần của cám gạo

Tuy là phụ phẩm nhưng cám gạo có thành phần dinh dưỡng tương đối cao nên đã được sử dụng rộng làm thức ăn cho gia súc, gia cầm và thủy sản

Theo viện chăn nuôi quốc gia thành phần dinh dưỡng của cám gạo gồm: Protein: 9,76-13,7%; Béo: 9,89-17,9% (30% béo no chủ yếu là palmitic acid, 70% béo không no chủ yếu là oleic acid và iso linoleic acid) Xơ: 6,8–18,57%; NFE: 37,00–46,41%; Khoáng tổng số: 8,37–15,09%; Ca: 0,054–0,32%; P: 0,054–0,32%;

ME (kcal/kg): 2527–2621

Ngoài ra, cám gạo còn chứa một số vitamin và vi khoáng sau: A, D, E, B……;

Cu, Fe, Zn, Mo… ( Lê Hồng Mận, 2001 trích bởi Loan, 2004)

Cám chứa 12-15% dầu với hàm lượng acid béo không bão hòa cao Dầu chứa trong cám gạo rất nhanh biến đổi thành acid béo tự do Do đó, cám gạo không khử

Trang 16

béo không để được lâu nhưng nếu đã khử béo rồi thì có thể trữ được trong thời gian dài

Khử béo làm nồng độ các chất dinh dưỡng khác tăng lên trên 20% Trong cám gạo không khử béo, mỗi ngày có khoảng 5-6% dầu chuyển thành acid béo tự do Hiện tượng này xảy ra trong cám gạo là 13,7% và tăng lên đến 43% khi trữ ở 230C trong 3 tháng

Hàm lượng xơ cao là yếu tố giới hạn khả năng sử dụng cám gạo

Bảng 2.2 Thành phần các amino acid thiết yếu có trong cám gạo (g/16gN)

Cám gạo Khử béo Không khử béo Arginine 1,1 0,9

(Nguồn: Joachim W Hertrampf và Felicitas Piedad-Pascual)

Cám gạo chứa hàm lượng phospho từ 3 – 5% Với hàm lượng đó trong cám gạo thì chỉ có 25% là có giá trị đối với cá chép và 19% đối với cá hồi Cám gạo khử dầu và không khử dầu đều chứa hàm lượng Fe và Mn cao Ngoài ra cám gạo còn giàu vitamin B

Cám gạo không khử béo có chứa 2,760kcal/kg (năng lượng thô)

Cá chép tiêu hóa cám gạo tốt hơn là cá trắm cỏ Cá da trơn nhiệt đới sử dụng protein cám gạo tốt hơn cá da trơn Mỹ

Khả năng tiêu hóa vật chất khô của cám gạo ở tôm thẻ chân trắng là 40% và độ tiêu hóa protein là 76,4% trong khi tiêu hóa acid amin là từ 73–85% (Nguồn: Joachim W Hertrampf và Felicitas Piedad-Pascual)

Trang 17

Bảng 2.3 Khả năng tiêu hóa cám gạo của một số loài đôïng vật thủy sản

Cá chép Cá trắm cỏ Cá da trơn

Mỹ

Cá trê Tôm thẻ

chân trắng Vật chất khô

-

- 21,5

-

-

-

- 85,1 82,6 73,4 74,9 81,0 74,9 73,2 75,9 (Nguồn: Joachim W Hertrampf và Felicitas Piedad-Pascual)

Đối với cá:

Cám gạo được sử dụng nhiều trong khẩu phần của loài ăn thực vật và ăn tạp hơn là loài ăn động vật Nó là loại thức ăn rẻ tiền để nuôi các loài cá như: Cá Rô Phi, Cá Trắm Cỏ, Mè Trắng, Cá Vàng, Cá Mú, Cá Măng Biển

Theo các khẩu phần thức ăn thực tế cám gạo được sử dụng từ 10–70%, cao nhất đối với cá chép, thấp nhất đối với cá Măng Biển và cá Mú

2.3 Quá Trình Ôi Dầu Của Cám Gạo

Cám gạo có hàm lượng béo cao mà phần lớn là các acid béo không no nên dễ dàng bị oxy hóa tạo các sản phẩm trung gian như peroxyde, andehyde và ceton…Đây là nguyên nhân gây mùi của cám (Frankel,1984 trích bởi Loan, 2004)

2.3.1 Cơ chế của sự ôi hóa

Cơ chế của sự ôi hóa diễn ra như sau:

Trang 18

Dưới tác dụng của bức xạ tử ngoại, các ion kim loại có hóa trị thay đổi như:

Cu++, Fe++, … một số phân tử hữu cơ biến thành gốc tự do (đây là những phân tử có mang điện tử độc thân) (phản ứng 1) Gốc tự do tạo thành sẽ tác kích lên phân tử cơ chất ở vị trí carbon kề với carbon mang nối đôi, lấy đi một nguyên tử hidro để được ổn định ở dạng ban đầu (RH), phân tử cơ chất bị mất một nguyên tử hidro hình thành gốc tự do mới (phản ứng 2) Đến đây một phân tử oxy sẽ tác kích vào gốc tự do vừa mới tạo thành để cho ra một peroxyde (phản ứng 3), peroxyde mới được hình thành tự ổn định bằng cách lấy một hidro của một phân tử hữu cơ khác để cho ra hydro peroxyde (phản ứng 4) Đồng thời một gốc tự do mới được tái tạo, gốc tự do này tiếp tục tác kích vào cơ chất để lấy một nguyên tử hydro (quá trình này quay lại phản ứng ban đầu, phản ứng 1) Các hidro peroxyde tạo thành (phản ứng 4) về mặt cơ cấu thì không bền vững nên có khuynh hướng tự sắp xếp lại các nhóm nguyên tử của nó để đạt được cơ cấu bền vững hơn vì thế andehyde và alcol được tạo thành (phản ứng 5) Các alcol sau đó cũng bị oxy hóa để cho ra andehyde (phản ứng 6)

Trang 19

• Các ion kim loại có hóa trị thay đổi

2.4 Tác Hại Của Cám Bị Ôi Dầu

2.4.1 Đối với động vật trên cạn

Khi các chất béo bị oxy hóa hình thành nên các peroxyde và aldehyde gây mùi khét Chính mùi này làm giảm tính ngon miệng của vật nuôi đối với thức ăn Thức ăn bị oxy hóa làm giảm năng suất vật nuôi kinh tế

• Giảm sinh trưởng

• Giảm đẻ trứng và cho sữa

• Tăng chỉ số biến chuyển thức ăn

Theo của Voreck và Kirch Gessner, 1981 (trích bởi Loan, 2004), khi đưa chất béo biến chất vào khẩu phần thí nghiệm gà đẻ làm giảm tỉ lệ đẻ từ 90% ở lô đối chứng xuống còn 18% ở lô thí nghiệm

Chất béo bị oxy hóa làm hư hỏng các vitamin trong thức ăn Vị trí oxy hóa trong phân tử vitamin là ở những chỗ nối đôi

Chất béo bị peroxyde còn là tác nhân làm hư hỏng các DNA trong tế bào gây

ra ung thư Chất béo bị oxy hóa sinh ra các gốc tự do, gốc tự do tấn công phá hủy thành tế bào tạo điều kiện cho các chất độc hại khác xâm nhập vào DNA gây nên ung thư

Trang 20

Peroxyde dễ phản ứng với nhóm NH3 của lysine làm mất tác dụng của lysine, đây là một loại acid amine thường giới hạn trong thức ăn

Peroxyde hấp thu vào cơ thể sẽ tấn công oxy hóa thành tế bào làm hư hỏng mao mạch, huyết tương thẩm thấu ra ngoài mô, tích tụ trong xoang bụng, trong bao tim, hình thành chứng tích nước ngoài mô Bệnh này thường thấy trên gia cầm

2.4.2 Đối với động vật thủy sản

Theo Lê Thanh Hùng (2000) thì chất béo bị oxy hóa có những tác hại sau đây:

• Giảm giá trị dinh dưỡng của thức ăn Trước hết làm giảm giá trị acid béo không bảo hòa mức độ cao (PUFA) như 22:3n3, 22:5n3

• Sự ôi dầu còn tạo ra hợp chất độc cho cá như: Cá chép ăn dầu mỡ bị ôi dẫn đến bệnh “sekoke” với biểu hiện tăng trưởng chậm, cơ thoái hóa và tỉ lệ chết rất cao (Watanabe và ctv,1966)

• Cá ăn thức ăn bị ôi dầu để lại mùi vị khó chịu trên thịt cá do đó làm giảm giá trị sản phẩm

Trang 21

III VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM

3.1 Thời Gian Và Địa Điểm

Đề tài thực hiện tại Trại Thực Nghiệm khoa Thủy Sản, trường Đại Học Nông Lâm Tp.HCM

Thời gian bố trí thí nghiệm: Từ ngày 14/04/2006 đến ngày 28/05/2006

3.2 Vật Liệu Thí Nghiệm

3.2.1 Hệ thống bố trí thí nghiệm

Thí nghiệm được bố trí trong 8 bể xi măng, mỗi bể có kích thước 1 x2 x0,5m đuợc ngăn đôi bằng lưới vèo và khung gỗ Các bể được vệ sinh sạch sẽ trước khi thí nghiệm

Cá được bố trí với số lượng 30 con/ngăn Cá thả có trọng lượng tương đối đồng cỡ với nhau

Sơ đồ bố trí thí nghiệm:

C50-3 C75-1 C0-2 C100-3 C0-3 C25-2 C25-1 C100-1 C100-2 C50-1 C75-3 C25-3 C75-2 C50-2 C0-1

Bể 1 Bể 2 Bể 3 Bể 4 Bể 5 Bể 6 Bể 7 Bể 8 Trong đó:

• C0 là nghiệm thức đối chứng sử dụng 100% cám gạo cũ

• C25 là nghiệm thức thay thế 25% cám gạo mới bằng cám gạo cũ

• C50 là nghiệm thức thay thế 50% cám gạo mới bằng cám gạo cũ

• C75 là nghiệm thức thay thế 75% cám gạo mới bằng cám gạo cũ

• C100 là nghiệm thức thay thế 100% cám gạo mới bằng cám gạo cũ

Trang 22

Hình 3.1 Hệ thống bố trí thí nghiệm

3.2.2 Nguồn nước

Nước sử dụng cho hệ thống bể là nước máy sinh hoạt được lắng trong thời gian

48 giờ nhằm làm mất lượng chlorine có sẵn trong nguồn nước Nước trong bể nuôi

Trang 23

3.2.3 Vật liệu

• Hệ thống bể ximăng bố trí thí nghiệm

• Bể lắng

• Lưới vèo và khung gỗ ngăn cách

• Cá Basa bố trí thí nghiệm

• Nguyên liệu làm thức ăn: Cám gạo cũ, cám gạo mới, bột cá, tinh bột khoai mì, bánh dầu đậu nành, premix khoáng, vitamin C, dầu cá, dầu đậu nành, CMC (Cacboxy methyl Cellulose), DCP (Di-calciphosphat), lysine, methionine

• Cân đồng hồ, cân tiểu li

• Máy ép viên thức ăn, máy sấy thức ăn

• Máy đo DO

• Máy đo pH

• Bộ test NH4+/NH3

• Nhiệt kế thủy ngân

• Thuốc gây mê (Ethylen glycol monophenylether)

• Hệ thống sục khí, thau nhựa, vợt vớt cá, ống siphon và một số dụng cụ khác có liên quan

3.2.6 Thức ăn

Thức ăn của thí nghiệm được tổng hợp từ các nguyên liệu sau đây: Cám gạo cũ, cám gạo mới, bột cá, tinh bột khoai mì, bánh dầu đậu nành, premix khoáng, vitamin C, dầu cá, dầu đậu nành, CMC (Cacboxy methyl Cellulose), DCP (Di-calciphosphat), lysine, methionine

Công thức thức ăn được thiết kế trên phần mềm Excel Các nghiệm thức thức ăn đều có cùng hàm lượng Protein là 27% và cùng có mức năng lượng là 16,83 kJ/g Trước khi bố trí thí nghiệm, thức ăn phối trộn, ép viên, sấy khô tại Trại Thực Nghiệm

Trang 24

Thủy Sản, Khoa Thủy Sản, trường Đại Học Nông Lâm và sau đó được đem phân tích

thành phần hóa học tại phòng phân tích Khoa Môi Trường, trường Đại Học Nông

Lâm Ngoài ra thức ăn còn được đem đi phân tích chỉ số peroxyde tại Trung Tâm

Công Nghệ Và Quản Lí Môi Trường Tài Nguyên Tp.HCM

Bảng 3.1 Công thức thức ăn của các nghiệm thức

Nghiệm thức Thành phần thức ăn (%)

C0 C25 C50 C75 C100

Bánh dầu đậu nành 36,04 36,04 36,04 36,04 36,04

Cám gạo cũ 0 12,37 24,73 37,09 49,46

Cám gạo mới 49,46 37,09 24,73 12,37 0

Tinh bột khoai mì 5 5 5 5 5

Cám gạo cũ được chuẩn bị bằng cách bảo quản trong điều kiện tiếp xúc với

không khí trong khoảng thời gian 6 tháng (không trộn chất chống oxy hóa)

3.2.7 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là cá Basa (Pangasius bocourti) ở giai đoạn cá cỡ

(5 – 6g/con) Cá được nuôi trong điều kiện và chế độ chăm sóc như nhau

3.3 Phương Pháp Thí Nghiệm

3.3.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm

Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp hoàn toàn ngẫu nhiên Mỗi nghiệm

thức có 3 lần lặp lại Vị trí các nghiệm thức được bốc thăm bố trí ngẫu nhiên vào từng

bể, mỗi bể có số lượng cá và trọng lượng cá tương đương nhau

Thí nghiệm được bố trí trên 5 nghiệm thức, nghiệm thức đối chứng chứa hoàn

toàn cám mới (không bị oxy hóa) Các nghiệm thức còn lại được thay thế cám mới

Trang 25

bằng cám cũ (đã bị oxy hóa) với tỉ lệ lần lượt là: 25%, 50%, 75% và 100% Mức độ cố định hàm lượng protein trong khẩu phần là 27%

3.3.2 Các chỉ tiêu theo dõi về môi trường

• Nhiệt độ nước được đo mỗi ngày bằng nhiệt kế thủy ngân 00C – 1000C

• Oxy hòa tan được đo 1 lần/tuần

• Hàm lượng NH3/NH4+ được đo 1 lần/tuần

• pH được đo 1 lần/tuần

3.3.3 Phương pháp thu thập số liệu

Tiến hành cân, đếm số lượng cá trước khi bố trí thí nghiệm Sau khi nuôi 2 tuần thì tiếp tục cân trọng lượng cá để theo dõi tốc độ tăng trưởng

Trong mỗi lần kiểm tra chúng tôi có sử dụng thuốc gây mê Ethylenglycol monophenylether với liều 300 – 500ppm Cứ mỗi hai tuần cá được kiểm tra 1 lần

Sau khi kết thúc thí nghiệm, bắt ngẫu nhiên 10 cá thể mỗi ngăn đem mổ, cân trọng lượng thân, gan, mỡ cá để so sánh hệ số gan/thể trọng (Hepato – Somatic Index) hệ số mỡ/thể trọng (Adipose – Somatic Index) cảm quan màu sắc của gan, màu sắc của cơ thịt và màu sắc của mỡ Số cá còn lại (10 con) tiếp tục được đem cân, luộc sơ, phi lê để đánh giá cảm quan màu sắc, mùi vị của cơ thịt sau khi luộc

Ngoài ra mỗi nghiệm thức sẽ được lấy 5 mẫu gan đem làm tiêu bản mô tại bệnh viện Phụ Sản Tp.HCM để quan sát sự thoái hóa cấu trúc mô gan

3.3.4 Phương pháp tính toán và xử lý số liệu

Các công thức tính:

Tăng trọng (g) – WG (weight gain)

WG = Wt – W0

Trong đó Wt: trọng lượng sau thời gian nuôi t

W0: trọng lượng ban đầu

Tỷ lệ tăng trọng (%) – PWG (percent weight gain)

Trang 26

Hệ số biến đổi thức ăn – FCR (food conversion ratio):

FCR = lượng thức ăn sử dụng/tăng trọng cá trong thí nghiệm

Hiệu quả biến đổi protein – PER (protein efficiency ratio):

PER = (Wt – W0)/trọng lượng protein ăn vào

Tỉ lệ sống (%)

TLS = (Nt/N0) x 100 Trong đó Nt: số lượng cá sau thí nghiệm tại thời điểm t

N0: số lượng cá đầu thí nghiệm tại thời điểm 0

Hệ số gan/tỉ trọng (hepato – somatic index) của cá thí nghiệm

Trọng lượng gan

HSI (%) = x 100 Trọng lượng thân

Hệ số mỡ/thể trọng (Adipose – Somatic Index) của cá thí nghiệm

Trọng lượng mỡ

ASI (%) = x 100 Trọng lượng thân

Trang 27

IV KẾT QUẢ THẢO LUẬN

4.1 Các Thông Số Môi Trường

Môi trường luôn tác động mạnh mẽ đến quá trình sinh trưởng và phát triển của sinh vật Do đó việc kiểm tra môi trường thường xuyên là rất cần thiết Việc kiểm tra môi trường cũng đồng nghĩa với việc quản lí chất lượng nước Mục tiêu của việc quản

lí chất lượng nước là để tạo ra môi trường sống phù hợp đáp ứng các nhu cầu tối thiểu về vật lí, hóa học, sinh học cho hiệu quả và sản xuất bình thường của cá nuôi

Trong thời gian nuôi thí nghiệm các thông số môi trường đươc chúng tôi theo dõi và trình bày sau đây:

Bảng 4.1a Nhiệt độ nước (trung bình) vào buổi sáng của các nghiệm thức

Trang 28

khác nhau Để đảm bảo cho sự sinh trưởng và các quá trình biến đổi sinh hóa học xảy

ra bình thường thì cá cần được nuôi dưỡng trong môi trường nước có nhiệt độ nằm trong giới hạn nhiệt độ này Như vậy, qua bảng trên ta thấy nhiệt độ trong 6 tuần ổn định ở mức từ 26,03 – 27,330C, đây là khoảng nhiệt độ nằm trong giới hạn chịu đựng về nhiệt độ của cá Basa

Tuy nhiên ta thấy tuy nhiệt độ môi trường nước nằm trong giới hạn chịu dựng của cá Basa nhưng nhiệt độ giữa các nghiệm thức là không giống nhau Vào buổi sáng, nhiệt độ môi trường nước cao nhất là ở nghiệm thức C100 và thấp nhất là ở nghiệm thức C25 nhưng sự chênh lệch này là rất nhỏ (0,170C) nên có thể xem nhiệt độ vào buổi sáng giữa các nghiệm thức là giống nhau Vào buổi chiều, do có sự chiếu sáng của ánh nắng mặt trời vào các nghiệm thức C50-3, C50-1, C100-2, C75-1 nên tạo ra sự chênh lệch lớn giữa các nghiệm thức, đặc biệt nhất là giữa nghiệm thức C50 và các nghiệm thức còn lại Điều này có thể sẽ ảnh hưởng làm cho cá ở nghiệm thức này ăn mạnh hơn các nghiệm thức còn lại

DO trong suốt thời gian thí nghiệm dao động từ 4,3 – 7,5 thích hợp cho hoạt động sống của cá Tuy nhiên do có sự khác biệt giữa các nghiệm thức về thời gian chiếu sáng của mặt trời nên DO giữa các nghiệm thức cũng có sự khác biệt

Bảng 4.2a DO vào buổi sáng của các nghiệm thức

Trang 29

Qua bảng và ta thấy: vào buổi sáng DO giữa các nghiệm thức không có sự chênh lệch lớn Sự chênh lệch lớn nhất xảy ra ở hai tuần cuối thí nghiệm giữa hai nghiệm thức C75 và C25, DO của hai nghiệm thức này chênh lệch nhau 0,27 mg/l Sự chênh lệch này là rất nhỏ nên ta có thể xem hàm lượng DO của các nghiệm thức vào

buổi sáng là giống nhau Vào buổi chiều, do các bể được chiếu sáng nhiều hơn tảo phát triển mạnh, quá trình quang hợp của tảo làm cho hàm lượng DO của các nghiệm thức được chiếu sáng nhiều hơn có sự khác biệt lớn với các nghiệm thức còn lại

Vào buổi chiều hàm lượng DO cao nhất ở nghiệm thức C50, điều này dễ hiểu bởi nghiệm thức C50 được chiếu sáng nhiều nhất (có 2 nghiệm thức C50-3 và C50-1 được nhận ánh nắng mặt trời) Kế đến là nghiệm thức C100 và C75 vì hai nghiệm thức này cũng nhận được ánh nắng mặt trời Hàm lượng DO của nghiệm thức C100 cao hơn so với nghiệm thức C25 từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc thí nghiệm và khác biệt lớn nhất là 1,84 mg/l (vào 2 tuần cuối) Ngoài ra hàm lượng DO của 2 nghiệm thức C75 và C100 cũng có sự khác biệt lớn so với nghiệm thức C25 và C0 Điều này cũng có thể làm ảnh hưởng đến cường độ bắt mồi của cá giữa các nghiệm thức

pH dao động từ 6,4 – 7,3, amonia dao động từ 0,2 – 0,7 đảm bảo cho sự phát triển bình thường của cá

Bảng 4.3 pH, NH4, amoni tổng số của các nghiệm thức

4.3 Thành Phần Dinh Dưỡng Các Công Thức Thức Ăn

Trươc khi bố trí thí nghiệm, thức ăn được chúng tôi phối trộn, ép viên, sấy khô tại Trại Thực Nghiệm Thủy Sản, Khoa Thủy Sản, trường Đại Học Nông Lâm và sau đó được đem phân tích thành phần hóa học tại phòng phân tích Khoa Môi Trường, trường Đại Học Nông Lâm Kết quả như sau:

Trang 30

Bảng 4.4 Thành phần (%) dinh dưỡng các công thức thức ăn và chỉ số peroxyde

Nghiệm thức

Thành phần

VCK 91,98 90,99 92,49 92,29 90,98 Đạm 27,05 27,41 27,58 27,93 28,87 Béo 12,42 10,97 9,94 9,36 8,46

KTS 10,34 10,00 10,08 9,75 9,55 Peroxyde

(meq/kg) 4,89 5,45 24,78 27,88 29,49

Chú thích:

VCK: Vật chất khô

KTS: Khoáng tổng số

Kết quả phân tích cho ta thấy hàm lượng đạm gần bằng với thiết kế ban đầu, tuy hàm lượng đạm ở các nghiệm thức thay thế có cao hơn nhưng sai biệt này không có ý nghĩa, các chất Xơ, VCK, KTS tương đương nhau giữa các nghiệm thức Tuy nhiên thành phần chất béo giữa các nghiệm thức có sự sai khác Hàm lượng chất béo giảm dần từ nghiệm thức C0 cho đến nghiệm thức C100 Điều này cho ta thấy các nghiệm thức có thành phần cám cũ bị ôi dầu càng cao thì hàm lượng chất béo càng giảm Như vậy, điều ta nhận biết được chính hiện tượng ôi dầu làm giảm thành phần chất béo ở cám gạo cũ

Ngoài ra thức ăn còn được đem đi phân tích chỉ số peroxyde tại Trung Tâm Công Nghệ Và Quản Lí Môi Trường Tài Nguyên Tp.HCM, kết quả như sau:

4.3 Tăng Trọng Và Tỉ Lệ Sống

Trang 31

Thí nghiệm được tiến hành trong 6 tuần, các số liệu về tăng trọng, lượng thức ăn sử dụng của cá được thu thập 2 tuần/1lần Tất cả các số liệu thu thập được đều được tính toán dựa theo kết quả trung bình của các lần lặp lại và được xử lí bằng chương trình Staraphics để so sánh kết quả giữa các nghiệm thức Sau 42 ngày thí nghiệm, kết quả xử lí số liệu tăng trọng được trình bày ở bảng sau:

Bảng 4.5 Tăng trưởng của cá Basa (Pangasius bocourti)

Nghiệm thức Chỉ tiêu

C0 C25 C50 C75 C100 Trọng lượng ban đầu 5,97a 6,07a 6,17a 6,10a 6,03a

Tăng trọng cuối (42 ngày) 40,80a 40,69a 48,24a 43,50a 42,80Tăng trọng (g) 34,83a 34,63a 42,07a 37,40a 36,77a

PWG (%) 581,68a 570,74a 682,19a 613,76a 614,55DWG (g/ngày) 0,83a 0,83a 1,00a 0,90a 0,86a

SGR (%) 4,51a 4,53a 4,89a 4,67a 4,63a

Tỉ lệ sống (%) 100 100 100 100 100 Tăng trọng

so với đối chứng (%) 100 100,44 108,4 103,5 102,67

Ghi chú: những giá trị có cùng hàng ngang có chữ cái giống nhau thì khác nhau

không có ý nghĩa (P>0,05)

Từ kết quả của bảng trên cho ta thấy:

Trọng lượng ban đầu của cá bố trí thí nghiệm tương đối đồng đều giữa các nghiệm thức, sai khác về trọng lượng trung bình ban đầu của cá bố trí thí nghiệm không có ý nghĩa thống kê (P>0,05)

Sau 6 tuần nuôi ta thấy trọng lượng của cá dao động từ 42,80 đến 48,24, trong đó cao nhất là nghiệm thức C50 (48,24g) và thấp nhất là nghiệm thức C0 (42,80g) Tuy nhiên xét về mặt thống kê thì sự khác biệt về trọng lượng trung bình giữa các nghiệm thức là không có ý nghĩa với mức độ tin cậy 95%

Ngày đăng: 07/06/2018, 16:48

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w