Thực hiện Nghị quyết 11-NQ/TW, Ban Thường vụ Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Chương trình hành động số 31-CTr/TU về thực hiện Nghị quyết 11-NQ/TW của Bộ Chính trị về công tác phụ
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
_
ĐỖ THỊ THU CÚC
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BÌNH ĐẲNG GIỚI TỪ THỰC TIỄN
QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI - 2018
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
_
ĐỖ THỊ THU CÚC
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BÌNH ĐẲNG GIỚI TỪ THỰC TIỄN
QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành : Chính sách công
Mã số : 8340402
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS PHẠM HỮU NGHỊ
HÀ NỘI - 2018
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong khoảng thời gian tôi được học tập và hoàn thành luận văn này, tôi
đã nhận được sự quan tâm, hướng dẫn tận tình của quý thầy, cô giáo đã trực tiếp giảng dạy tại Học viện Khoa học xã hội Với tinh thần trách nhiệm, sự tận tụy và bề dày kinh nghiệm đã truyền đạt cho tôi và các bạn học viên những kiến thức hữu tích, giúp học viên được tiếp cận những vấn đề thực tiễn và đặc biệt là rèn luyện những kỹ năng phân tích, tổng hợp, luận biện, qua đó đã giúp tôi nhận ra bản thân cần phải cố gắng, nổ lực học hỏi, nghiên cứu nhiều hơn nữa để vững bước với những kiến thức mà thầy cô đã truyền đạt, góp phần phục vụ tốt công tác chuyên môn được phân công tại cơ quan, đơn vị
Bằng tấm lòng chân thành, tôi xin tri ân đối với Phó Giáo sƣ, Tiến sĩ Phạm Hữu Nghị đã luôn tích cực, hỗ trợ và hướng dẫn cho tôi về những vấn
đề cơ bản, cốt lõi cũng như về hình thức và nội dung cần thể hiện trong luận văn, đảm bảo tính khoa học và logic tổng thể các vấn đề cần trình bày, giúp tôi hoàn thành luận văn như mong muốn
Tôi gửi lời cảm ơn đến Ban Giám đốc, lãnh đạo và các phòng ban chuyên môn Học viên Khoa học xã hội đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Trân trọng cảm ơn
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của luận văn 1
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 5
7 Kết cấu của luận văn 7
1.1 Các khái niệm bình đẳng giới và chính sách bình đẳng giới 8
1.1.1 Khái niệm bình đẳng giới 8
1.1.2 Khái niệm thực hiện chính sách bình đẳng giới 11
1.4 Các công cụ thực hiện chính sách bình đẳng giới 16
1.5.1 Năng lực thực hiện chính sách 17
1.5.2 Đặc điểm của đối tượng thụ hưởng chính sách 18
Chương 2 20
THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BÌNH ĐẲNG GIỚI 20
TẠI BÌNH TÂN 20
2.1 Tình hình các bước thực hiện chính sách bình đẳng giới ở Quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh 20
Như đã trình bày ở Mục 1.3, thực hiện chính sách bình đẳng giới nói chung gồm 4 bước cơ bản: (1) hình thành kế hoạch thực hiện chính sách; (2) tổ chức thực hiện; (3) đánh giá quá trình tổ chức thực hiện; (4) kiến nghị điều chỉnh chính sách bình đẳng giới Ở nội dung này, tác giả luận văn tập trung phân tích tình hình các bước thực hiện chính sách bình đẳng giới ở Quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh 20
2.3.2 Thực trạng đặc điểm của đối tượng thụ hưởng chính sách 43
2.4 Đánh giá chung về thực hiện chính sách bình đẳng giới tại quận Bình Tân 45
2.4.1 Mặt được 45
Trang 54.4.2 Mặt hạn chế 47
2.5 Nguyên nhân của những hạn chế 49
Tiểu kết chương 2 51
Chương 3 52
ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY THỰC HIỆN 52
CHÍNH SÁCH BÌNH ĐẲNG GIỚI TỪ THỰC TIỄN QUẬN BÌNH TÂN, 52
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 52
3.1 Định hướng thúc đẩy thực hiện chính sách bình đẳng giới và nâng cao hiệu quả việc thực hiện chính sách bình đẳng giới 52
3.2 Các giải pháp thúc đẩy thực hiện chính sách bình đẳng giới tại quận Bình Tân 53
3.2.1 Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục các vấn đề về bình đẳng giới 53
3.2.2 Hỗ trợ cán bộ Hội phụ nữ 55
3.2.4 Tăng cường vai trò phản biện của Hội liên hiệp phụ nữ Quận 57
3.2.5 Một số kiến nghị cụ thể 58
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
PHỤ LỤC 1: PHIẾU KHẢO SÁT
PHỤ LỤC 2: CÂU HỎI PHỎNG VẤN
PHỤ LỤC 3:
ĐẶC ĐIỂM ĐỐI TƯỢNG KHẢO SÁT
PHỤ LỤC 4:
TÓM TẮT KẾT QUẢ PHỎNG VẤN SÂU
Trang 6DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2 1 Số lượng cán bộ nữ thuộc khối Đảng 24
Bảng 2 2 Số lượng nữ tham gia Hội đồng nhân dân Quận và Phường 25
Bảng 2 3 Số lượng nữ trung bình trong Hội đồng nhân dân của cả nước 25
Bảng 2 4 Số lượng nữ trong cơ quan nhà nước 26
Bảng 2 5 Tỷ số giới tính khi sinh 28
Bảng 2 6 Tình hình sử dụng công cụ tuyên truyền 30
Bảng 2 7 Thực trạng năng lực tuyên truyền, phổ biến 36
Bảng 2 8 Năng lực xây dựng kế hoạch triển khai 38
Bảng 2 9 Năng lực phối thực hiện 39
Bảng 2 10 Năng lực duy trì việc thực hiện chính sách 42
BIểu đồ 2 1 Số vụ bạo lực gia đình của Quận Bình 29
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của luận văn
Từ góc độ nguồn nhân lực xã hội, thực hiện bình đẳng giới là góp phần giải phóng và cải thiện chất lượng của gần một nửa lao động của xã hội Về mặt phát triển bền vững kinh tế - xã hội, thực hiện bình đẳng giới là một trong những yếu tố, điều kiện thể hiện sự tiến bộ của xã hội Nhận thấy được vai trò quan trọng của bình đẳng giới trong sự nghiệp xây dựng đất nước, ngày 27/4/2007, Bộ Chính trị (khoá X) đã ban hành Nghị quyết 11-NQ/TW về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Nghị quyết này một lần nữa thể hiện sự quan tâm thường xuyên, xuyên suốt
và sâu sắc của toàn bộ hệ thống chính trị đối với công tác bình đẳng giới Thực hiện Nghị quyết 11-NQ/TW, Ban Thường vụ Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Chương trình hành động số 31-CTr/TU về thực hiện Nghị quyết 11-NQ/TW của Bộ Chính trị về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nhằm đảm bảo tính thống nhất trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện bình đẳng từ Trung ương tới địa phương Với phạm vi của Quận Bình Tân, Ban Chấp hành Đảng bộ Quận đã xác
định “Phát huy vai trò, tiềm năng của phụ nữ trong sự nghiệp công nghiệp
hoá, hiện đại hóa, xây dựng, bảo vệ và phát triển Quận, nâng cao địa vị phụ
nữ, thực hiện bình đẳng giới trên mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội là một trong những nhiệm vụ và mục tiêu quan trọng của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Quận trong thời kỳ mới”, qua đó đã quan tâm lãnh đạo,
chỉ đạo về công tác phụ nữ; đề ra các chủ trương, giải pháp cụ thể nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn nghiệp vụ và công tác quy hoạch, đào tạo cán
bộ nữ nhằm tạo điều kiện để phụ nữ thực hiện việc bình đẳng giới [23]
Trang 8Việc tổ chức thực hiện chính sách bình đẳng giới của Quận Bình Tân trong thời gian qua có nhiều ưu điểm Công tác lãnh đạo, chỉ đạo của Quận ủy trong việc tổ chức, quán triệt, tuyên truyền triển khai thực hiện kịp thời và nhất quán Công tác triển khai ở tất cả các cấp chính quyền, các ngành, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể được tổ chức thực hiện một cách chặt chẽ và hiệu quả Vai trò của Hội liên hiệp phụ nữ Quận và cơ sở cũng được thể hiện hết sức tích cực và có trọng tâm
Thế nhưng, việc thực hiện chính sách bình đẳng giới ở Quận Bình Tân vẫn còn những hạn chế nhất định, trong đó chưa phát huy hết tính chủ động trong việc tham mưu đề xuất của tổ chức Hội phụ nữ đối với cấp ủy Đảng, chính quyền ở một vài cơ sở Hội Cụ thể, chi hội trưởng phụ nữ chưa chủ động tham mưu đề xuất và tranh thủ sự lãnh đạo của cấp ủy chi bộ khu phố nên chưa tạo được sự quan tâm của chi ủy, nhất là việc tạo điều kiện để tổ trưởng phụ nữ tham gia tổ trưởng, tổ phó dân phố, tỷ lệ này vẫn còn thấp Việc tham gia thực hiện quy chế dân chủ cơ sở, thực hiện chức năng giám sát, phản biện xã hội còn khá lúng túng và đôi lúc chưa kịp thời
Nói cách khác, công tác thực hiện chính sách bình đẳng giới ở Quận Bình Tân vẫn còn nhiều việc cần tiếp tục hoàn thiện để làm cho chính sách bình đẳng giới thực sự trở thành động lực thật sự thúc đẩy việc thực hiện các mục tiêu chiến lược quốc gia về bình đẳng giới của Quận Với mong muốn như vậy, tác giả nhận thấy việc tiếp tục nghiên cứu về thực hiện chính sách
bình đẳng giới là cần thiết nên đã lựa chọn đề tài: “Thực hiện chính sách bình
đẳng giới từ thực tiễn quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh” làm luận văn
thạc sĩ chuyên ngành chính sách công
2 Tình hình nghiên cứu của luận văn
Trang 9Việc thực hiện chính sách Bình đẳng giới là một chủ đề quan trọng, và nhận được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu Tuy nhiên, phần lớn các nghiên cứu tập trung vào nghiên cứu bình đẳng giới hơn là thực hiện chính sách bình đẳng giới
Về bình đẳng giới, có thể kể ra một số công trình nghiên cứu Tác giả Lê Thị Quý [24] với nghiên cứu “Bình Đẳng giới ở Việt Nam hiện nay” Nghiên cứu tập trung làm rõ khái niệm về bình đẳng giới, đồng thời tác giả phân tích những thành tựu và thách thức về bình đẳng giới ở Việt Nam Tác giả Phạm Thị Tuyết [32] có nghiên cứu “Bình đẳng giới trong giáo dục ở Trà Vinh, Thực trạng
và giải pháp” Nghiên cứu này tập trung phân tích bình đẳng giới trong một lĩnh vực cụ thể gắn với một địa bàn cụ thể là giáo dục ở tỉnh Trà Vinh.Tương tự với
đề tài này, tác giả Mạc Thị Cẩm Tú [31] có nghiên cứu “Bình đẳng giới trong giáo dục ở Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp”
Tác giả Nguyễn Lệ Thu [30] có nghiên cứu “Bình đẳng giới trong lao động gia đình dân tộc thiểu số miền núi phía bắc Việt Nam hiện nay” Tác giả
đã đưa ra cơ sở lý thuyết khá toàn diện về bình đẳng giới và áp dụng vào thực tiễn để tìm hiểu, đánh giá vấn đề bình đẳng giới ở một số tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam hiện nay, nhưng trong lĩnh vực lao động gia đình Nghiên cứu
có giá trị tham khảo rất lớn cho luận văn này
Ngoài ra còn có thể kể ra một số nghiên cứu khác Các tác giả Đỗ Thị Bình, Lê Ngọc Va n và Nguyễn Linh Khiếu [4] có nghiên cứu Gia đình Viẹ t Nam và ngu ời phụ nữ trong gia đình thời kỳ công nghiẹ p hóa, hiẹ n đại hóa đất
nu ớc Trần Thị Minh Đức [9] có nghiên cứu “Định kiến và phân biẹ t đối xử theo giới: l thuyết và thực tiễn” Phạm Thị Ngọc Anh [2] có nghiên cứu “Vai trò giới và lu ợng hóa giá trị lao đọ ng gia đình” Tác giả Nguyễn Thị Ngân, có nghiên cứu “Thực hiẹ n quan điểm của Đảng và chính sách của Nhà nu ớc về
Trang 10bình đẳng giới” [13] và “Chủ tru o ng của Đảng, Nhà nu ớc về giải phóng phụ
nữ và bình đẳng giới ở Viẹ t Nam” [14] Ngoài ra còn có Báo cáo phát triển thế giới 2012: Bình đẳng giới và phát triển” của Ngân hàng thế giới [15] Một công trình nghiên cứu có uy tín khác là Báo cáo nghiên cứu hướng tới bình đẳng giới ở Việt Nam do cơ quan Liện hợp quốc về Bình đẳng giới
và Trao quyền cho phụ nữ chủ trì biên soạn Báo cáo xem xét, đánh giá vấn
đề bình đẳng giới ở Việt Nam trong phát triển và tăng trưởng kinh tế Từ đó đưa ra những khuyến nghị chính sách giúp hoàn thiện hơn, làm tốt hơn vấn đề bình đẳng giới tại Việt Nam Nghiên cứu này giúp tác giả Luận văn nhìn nhận
ra được tình hình bình đẳng giới nói chung, nhưng lại thiếu hẳn nội dung chuyên sâu về thực hiện chính sách này
Một nghiên cứu khác liên quan trực tiếp đến bình đẳng giới tại Thành phố Hồ Chí Minh là đề tài: “Bình đẳng giới trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh: Thực trạng và giải pháp” do Nguyễn Thị Hà (2014) làm chủ nhiệm đề tài Đề tài nghiên cứu, đánh giá thực trạng bình đẳng giới ở một số lĩnh vực như giáo dục, y tế, văn hoá trên địa bàn Tp Hồ Chí Minh Đây cũng là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị, giúp nhìn ra được bức tranh tổng thể về bình đẳng giới ở Việt Nam Tuy nhiên, vấn đề thực hiện chính sách vẫn chưa được
đề cập trong nghiên cứu này
Tóm lại, có nhiều nghiên cứu về bình đẳng giới những chưa có nghiên cứu vào về thực hiện chính sách bình đẳng giới tại Quận Bình Tân, Thành phố
Hồ Chí Minh, cho nên đề tài này vẫn còn mới và cần tiếp tục nghiên cứu
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là trên cơ sở làm sáng tỏ những vấn đề l luận về thực hiện chính sách bình đẳng giới và phân tích, đánh giá việc thực
Trang 11hiện chính sách bình đẳng giới ở Quận Bình Tân để từ đó đề xuất một số giải pháp thúc đẩy thực hiện chính sách bình đẳng giới tại Quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động tổ chức thực hiện chính sách bình đẳng giới ở Quận Bình Tân
Phạm vi nghiên cứu về nội dung: Hoạt động tổ chức thực hiện chính sách bình đẳng giới ở Quận Bình Tân
Phạm vi về thời gian:
- Thời gian thu thập số liệu thứ cấp từ năm 2015 đến 2017
- Thời gian thực hiện khảo sát bảng câu hỏi và phỏng vấn sâu: Từ tháng 12/2017 đến tháng 1/2018
Phạm vi về không gian: Ở Quận Bình Tân thuộc Thành phố Hồ Chí Minh
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, tác giả tập trung sử dụng 03 phương pháp chính:
Thứ nhất là phương pháp thu thập số liệu thứ cấp Ở phương pháp này,
tác giả thu thập số liệu sẵn có từ các bài báo, sách chuyên khảo, nghiên cứu,
và báo cáo có liên quan đến đề tài Trong những tài liệu thứ cấp này, tác giả
sử dụng 03 Báo cáo chính để thu thập nhiều số liệu quan trọng về thực hiện chính sách bình đẳng giới ở Quận Bình Tân, bao gồm: Báo cáo số 562/BC-UBND của Ủy ban nhân dân Quận Bình Tân ngày 21 tháng 12 năm 2015 về tổng kết 05 năm triển khai thực hiện Chiến lược, Chương trình quốc gia về bình đẳng giới, vì sự tiến bộ phụ nữ giai đoạn 2011-2015 và Kế hoạch giai đoạn 2016-2020 trên địa bàn quận Bình Tân; Báo cáo về tổng kết thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 (Khoá VIII) về chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh
Trang 12công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; Báo cáo về tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết 11-NQ/TW, ngày 27/4/2007 của Bộ Chính trị khoá X về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; Báo cáo về tổng kết 10 năm thực hiện Luật Bình đẳng giới trên địa bàn Quận giai đoạn 2007-2017
Thứ hai là phương pháp phỏng vấn sâu Tác giả tiến hành phỏng vấn sâu
một số đối tượng có liên quan đến việc thực hiện chính sách như: đảng, chính quyền và Hội Liên hiệp Phụ nữ Ở cơ quan Đảng, tác giả lựa chọn 03 đối tượng là Bí thư Quận ủy và 02 đồng chí Quận ủy viên Ở cơ quan chính quyền, tác giả chọn phỏng vấn 5 cán bộ phường phụ trách về công tác bình đẳng giới Ở Hội liên hiệp phụ nữ, tác giả khảo sát 1 cán bộ ở Hội phụ nữ Quận, 6 cán bộ ở chi hội phụ nữ phường
Thứ ba là phương pháp khảo sát bằng bảng câu hỏi Tác giả tiến hành
xây dựng bảng câu hỏi khảo sát và tiến hành khảo sát trên 03 nhóm đối tượng
là Đảng, chính quyền và đoàn thể theo phương pháp lựa chọn xác xuất ngẫu nhiên thuận tiện Số phiếu phát ra là 400 phiếu, trong đó Đảng 80 phiếu, chính quyền 80 phiếu và Hội liên hiệp phụ nữ 240 phiếu Số phiếu thu về là 390 phiếu Số phiếu hợp lệ là 380 phiếu.Trong đó, khảo sát các Quận ủy viên và Đảng ủy viên là 75 phiếu Lãnh đạo phường, cán bộ phụ trách công tác phụ
nữ là 75 phiếu Hội Liên hiệp Phụ nữ là 230 phiếu Kết quả khảo sát được xử
lý bằng phần mềm SPSS, 20.0 Số liệu chủ yếu được tính theo đơn vị % ở từng mục câu hỏi
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Về mặt lý luận, đề tài góp phần làm phong phú thêm lý thuyết về thực hiện chính sách ở một lĩnh vực cụ thể là bình đẳng giới Chẳng hạn như khái niệm thực hiện chính sách bình đẳng giới và lý thuyết về đánh giá thực
hiện chính sách bình đẳng giới
Trang 13Về mặt thực tiễn, những phân tích, đánh giá và kiến nghị của luận văn là
cơ sở cho Quận trong việc nhìn nhận lại quá trình tổ chức thực hiện chính sách bình đẳng giới ở Quận Bình Tân và giúp Quận hoàn thiện hơn quá trình thực hiện chính sách bình đẳng giới của Quận
Bên cạnh đó, luận văn còn là tài liệu tham khảo trong việc giảng dạy và nghiên cứu về chính sách công và quàn lý công
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn có kết cấu gồm ba chương:
- Chương 1 Những vấn đề l luận về thực hiện chính sách bình đẳng giới
- Chương 2 Thực trạng thực hiện chính sách bình đẳng giới ở Quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh
- Chương 3 Định hướng và giải pháp thúc thực hiện chính sách bình đẳng giới từ thực tiễn Quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 14Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN
CHÍNH SÁCH BÌNH ĐẲNG GIỚI
1.1 Các khái niệm bình đẳng giới và chính sách bình đẳng giới
1.1.1 Khái niệm bình đẳng giới
Khái niệm bình đẳng giới lần đầu tiên xuất hiện trong ông u ớc về Xóa
b tất cả các hình thức phân bi t đối x chống lại phụ nữ năm 1981 (The
Convention on the Elimination of All Forms of Discrimination Against Women
- CEDAW) [30] và từ đó đến nay, khái niệm này trở thành một khái niệm cốt lõi trong các chính sách và chương trình nghị sự về bình đẳng giới Ở Việt Nam, thuật ngữ bình đẳng giới cũng được nhà nước ghi nhận từ rất sớm Hai
tháng kể từ sau ngày ông u ớc về Xóa b tất cả các hình thức phân bi t đối
x chống lại phụ nữ được thông qua, Việt Nam phê chuẩn công ước này [2]
Tuy nhiên trước đó, tư tưởng bình đẳng giới được đề cập rất sớm trong Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà năm 1946 [17] Trong Hiến pháp năm 1946, quan điểm bình đẳng giới đã được thể hiện bằng nguyên tắc “không phân biệt giống nòi, gái trai” và đã quy định: “Tất cả các công dân Việt Nam đều ngang quyền về mọi phương diện chính trị, kinh
tế, văn hoá, xã hội” (Điều 6) và “Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện” (Điều 9) [15] Qua các lần sửa đổi Hiến pháp năm 1959, 1980,
1992 và đặc biệt, tại Hiến pháp nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, tư tưởng bình đẳng giới tiếp tục được khẳng định mạnh mẽ tại Điều 26 [21]
- Công dân nam nữ bình đẳng về mọi mặt Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền và cơ hội bình đẳng giới
Trang 15- Nhà nước, xã hội và gia đình tạo điều kiện để phụ nữ phát triển toàn diện, phát huy vai trò của mình trong xã hội
- Nghiêm cấm phân biệt đối xử về giới
Từ việc được ghi nhận trong Hiến pháp, tư tưởng bình đẳng giới tiếp tục được cụ thể hoá bằng các chính sách pháp luật của Nhà nước như Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Bộ luật Lao động, Luật Bảo hiểm xã hội, Luật dạy nghề, Luật Giáo dục, Luật Khoa học và công nghệ, Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hình sự, Luật Hôn nhân và Gia đình, Luật Chăm sóc sức khoẻ nhân dân, Luật Khiếu nại, tố cáo, Luật Cư trú, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, Luật cán
bộ công chức, … và nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác như các nghị định, quyết định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các thông tư hướng dẫn của các Bộ, ngành Bên cạnh đó, để thực hiện mục tiêu bình đẳng giới, Chính phủ đã có nhiều giải pháp như ban hành các chính sách đặc thù; lồng ghép vào các chiến lược, chương trình mục tiêu quốc gia như: Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và giảm nghèo (CPRGS), Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo, về việc làm, về bảo hộ lao động, về giáo dục, về dạy nghề, về y tế cộng đồng; nhiều văn bản quy phạm pháp luật thuộc các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và gia đình đã có những quy định riêng cho phụ nữ, tạo điều kiện đảm bảo cho viêc thực hiện bình đẳng giới một cách thực chất; thành lập Ủy ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ, ban hành Chiến lược quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam đến năm 2010, Đặc biệt, ngày 29 tháng 11 năm 2006, Luật Bình đẳng giới đã được Quốc hội khoá XI thông qua và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2007 [22] Luật Bình đẳng giới tiếp tục thể chế hoá quan điểm, đường lối của Đảng, Nhà nước Việt Nam về bình đẳng giới nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nam và nữ; đồng thời tiếp tục khẳng định quyết tâm mạnh mẽ của Việt Nam
Trang 16trong việc cụ thể hoá và thực hiện các điều ước quốc tế về quyền con người
và bình đẳng giới mà Việt Nam là thành viên Với hệ thống pháp luật ngày càng được hoàn thiện phù hợp với đặc điểm, tình hình của đất nước, nhận thức xã hội về bình đẳng giới ngày càng được nâng cao, góp phần đảm bảo sự bình đẳng trong đời sống xã hội cũng như của cộng đồng dân cư Theo đánh
giá của Ngân hàng Thế giới thì: “Việt Nam là một trong những nước dẫn đầu
thế giới về tỷ lệ phụ nữ tham gia các hoạt động kinh tế, là một trong những nước tiến bộ hàng đầu về bình đẳng giới… là quốc gia đạt được sự thay đổi nhanh chóng nhất về xoá b khoảng cách giới trong hai mươi năm qua ở khu vực Đông Á” [15]
Về mặt nghiên cứu khoa học, là khái niệm trung tâm trong phong trào giới, bình đẳng giới được hiểu tương đối thống nhất Theo Bùi Thị Kim Cúc [6, tr.15], “bình đẳng giới là tình trạng (điều kiẹ n sống, sinh hoạt, làm viẹ c ) mà trong đó phụ nữ và nam giới đu ợc hu ởng vị trí nhu nhau,
họ có co họ i bình đẳng để tiếp cạ n, sử dụng các nguồn lực để mang lại lợi ích cho mình, phát hiẹ n và phát triển tiềm na ng của mỗi giới nhằm cống hiến cho sự phát triển của quốc gia và đu ợc hu ởng lợi từ sự phát triển đó”
Về mặt pháp lý, Luật Bình đẳng giới có hiệu lực ngày 01/7/2007 cũng cho rằng “Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó” (Khoản 3, Điều 5)[22]
Nhìn chung, những khái niệm về bình đẳng giới đều có những điểm nhấn thống nhất với nhau: bình đẳng giới không phải là tình trạng cào bằng giữa nam và nữ, không phải nam có gì, nữ cũng phải có đó và ngược lại Trọng
Trang 17tâm của bình đẳng giới là cơ hội Đó là sự ngang nhau về điều kiện để hưởng các cơ hội ở mọi khía cạnh, lĩnh vực của cuộc sống Nhờ vào đó mà nam cũng như nữ đều có thể phát triển mà không bị cản trở bởi bất kì tác nhân nào trong
xã hội
Tóm lại, trong luận văn này, tác giả sử dụng khái niệm được ghi nhận
trong Luật Bình đẳng giới, “Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò
ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó”
1.1.2 Khái niệm thực hiện chính sách bình đẳng giới
Theo các tác giả Nguyễn Hữu Hải và Lê Văn Hoà [11, tr.334], sau khi một vấn đề chính sách công được đưa vào chương trình nghị sự, các phương
án giải quyết vấn đề chính sách được đề xuất, nhà nước lựa chọn phương án Kết thúc quá trình này là đưa phương án đó vào thực tiễn Theo hai tác giả
này, “thực thi chính sách công bao gồm các hoạt động có tổ chức được chính
phủ thực hiện hướng tới đạt được các mục đích và mục tiêu được tuyên bố trong chính sách”
Nói cách khác, đây là quá trình biến đồ của chính sách thành hiện thực,
là giai đoạn được các nhà nghiên cứu gọi là hiện thực hoá các mục tiêu của chính sách Thực thi còn là quá trình khẳng định, kiểm chứng lại xem một chính sách công do nhà nước đề ra có đúng đắn hay không hoặc đúng đắn ở mức nào Quá trình thực hiện chính sách là giai đoạn phản biện chính sách, là giai đoạn giúp cho chính sách công ngày càng hoàn thiện hơn [11, tr.334-337] Một khi chính sách được hình thành, cơ quan ban hành tiếp tục tìm cách thức để tổ chức và triển khai nó vào thực tế để tạo ra các kết quả thực sự
Trang 18nhằm mang lại lợi ích cho kinh tế - xã hội Đối với chính sách bình đẳng giới, việc thực hiện chính sách này chính là hướng tới mình đích giảm bớt tình trạng bất bình đẳng, hình thành nên một bức tranh bình đẳng về giới một cách thật sự và đúng bản chất
Nói cách khác, thực thi chính sách bình đẳng giới là quá trình triển khai các nội dung về bình đẳng giời được ghi nhận trong các Nghị quyết, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước ở các cấp vào thực tế để làm cho nam và nữ có vị trị, vai trò ngang nhau trong các hoạt động, lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội Đồng thời đảm bảo cả nam và nữ được tạo điều kiện và
cơ hội phát triển năng lực của họ cũng như cơ hội hưởng thụ như nhau từ thành quả của sự phát triển kinh tế - xã hội
1.2 Các yêu cầu thực hiện chính sách bình đẳng giới
Bình đẳng là một chính sách xã hội rộng lớn có liên quan đến tất cả các ngành các cấp và toàn bộ các lĩnh vực của đời sống chính trị xã hội [28], chính vì vậy mà việc thực hiện chính sách bình đẳng giới phải tuân thủ và đảm bảo một số yêu cầu sau:
Thứ nhất, việc thực hiện chính sách bình đẳng giới phải đảm bảo yêu cầu
có sự tham gia rộng rãi của mọi đối tượng và thành phần trong xã hội Yêu cầu này xuất phát từ bản chất của vấn đề bình đẳng giới là liên quan đến xã hội, đến nhận thức của các đối tượng trong xã hội Kết quả của việc tổ chức thực hiện chính sách bình đẳng giới không nằm ở số lượng các văn bản được ban hành, số buổi tuyên truyền được tổ chức thực hiện, cũng như số tài liệu về bình đẳng giới được ấn hành, mà nằm ở chính sự thay đổi nhận thức của người dân về giới và bình đẳng giới Chính vì vậy, việc thực hiện chính sách bình đẳng giới phải bắt nguồn và đi lên từ người dân, các đối tượng trong xã
Trang 19hội, phải xem họ là một lực lượng chính, quan trọng nhất, tương tác mạnh nhất trong việc thực hiện chính sách này [12]
Thứ hai, việc thực hiện chính sách bình đẳng giới phải đảm bảo yêu cầu
lồng ghép trong các chương trình chính sách và hoạt động của các ngành các cấp Để đạt được bình đẳng giới, làm cho vấn đề bình đẳng giới trở thành một nhận thức phổ biến trong xã hội, cần thiết phải được lồng ghép trong mọi chương trình, chính sách, kế hoạch hành động của tất cả các cơ quan nhà nước bởi không có ngành nào, lĩnh vực nào thiếu vắng vai trò của nữ giới Không những vậy, bản chất của bình đẳng giới là tạo cơ hội như nhau trên tất
cả các lĩnh vực nên không thể thiếu sự tham gia, lồng ghép của toàn bộ hệ thống cơ quan nhà nước
Thứ ba, việc thực hiện chính sách bình đẳng giới phải đảm bảo sự phối
hợp chặt chẽ, thường xuyên và liên tục của toàn bộ hệ thống chính trị Sự phối hợp thể hiện ở nhiều khía cạnh Phối hợp trong việc lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng vào thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội Phối hợp trong việc lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng các văn bản của nhà nước Phối hợp trong việc thống kê, thu thập, cung cấp thông tin, số liệu về giới và bình đẳng giới Phối hợp trong việc xây dựng các báo cáo quốc gia về bình đẳng giới.Phối hợp trong việc bảo đảm điều kiện về nguồn tài chính cho hoạt động bình đẳng giới Tuy nhiên việc phối hợp này cần phải tuân thủ những nguyên tắc nhất định Theo Tài liệu tập huấn thực hiện Luật Bình đẳng giới của Ban Quản lý dự án Ô [3, tr.58-59], các nguyên tắc phối hợp thực hiện bao gồm: nội dung phối hợp phải liên quan đến chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan phối họp; bảo đảm tính khách quan trọng quá trình phối hợp; bảo đảm yêu cầu chuyên môn, chất lượng và thời hạn phối hợp; bảo đảm kỷ luật, kỷ cương trong hoạt động
Trang 20phối hợp; và nguyên tắc đề cao trách nhiệm của thủ trường cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp
Thứ tư, việc thực hiện chính sách bình đẳng giới phải đảm bảo việc sử
dụng linh hoạt và hiệu quả các biện pháp, trong đó, nhấn mạnh đến biện pháp tuyên truyền, giáo dục và thuyết phục Về thực hiện chính sách bình đẳng giới, có nhiều biện pháp như biện pháp hành chính, biện pháp kinh tế, và biện pháp giáo dục, tuyên truyền, thuyết phục Tuy nhiên, đặc thù của việc thực hiện chính sách này là liên quan và tác động đến nhận thức, nên những biện pháp như kinh tế và hành chính không phải là biện pháp chủ đạo mà chỉ là những biện pháp mang tính chất hỗ trợ Biện pháp giáo dục, tuyên truyền và thuyết phục cần phải là biện pháp chủ động trong quá trình thực hiện chính sách bình đẳng giới
1.3 Các bước thực hiện chính sách bình đẳng giới
Thực hiện chính sách nói chung và chính sách bình đẳng giới nói riêng là một quá trình gồm nhiều bước được tổ chức hết sức chặt chẽ và thường xuyên, liên tục Trong khoa học chính sách, các nhà nghiên cứu gọi là quy trình thực hiện chính sách hoặc chu trình thực hiện chính sách Theo tác giả Nguyễn Hữu Hải [10, tr 131-137] quy trình thực hiện chính sách gồm (1) xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách, đây là bước chuẩn bị kế hoạch cho quá trình thực hiện; (2) phổ biến, tuyên truyền chính sách giúp đối tượng thực hiện chính sách hiểu được thông điệp của chính sách; (3) phân công, phối hợp thực hiện chính sách; (4) đôn đốc thực hiện chính sách; (5) đánh giá, tổng kết rút kinh nghiệm Dựa theo các bước mà tác giả Nguyễn Hữu Hải [10] đưa ra, tác giả luận văn cho rằng thực hiện chính sách bình đẳng giới được thực hiện theo các bước sau đây:
Trang 21Thứ nhất là cụ thể hoá chính sách của nhà nước, chủ trương của Đảng
bằng các văn bản hành động cụ thể Đây là những văn bản mang tính triển khai như kế hoạch thực hiện, chương trình hành động được ban hành bởi những cơ quan thực hiện chính sách có thẩm quyền Giai đoạn này giữ vai trò bản lề, nền tảng cho toàn bộ hoạt động thực hiện chính sách bình đẳng giới
Thứ hai, giai đoạn tổ chức thực hiện chính sách bình đẳng giới Đây là
giai đoạn huy động các nguồn lực như tài chính, nhân lực, kỹ thuật, cũng như huy động các chủ thể trong hệ thống chính trị và xã hội tham gia vào việc đưa các phương án chính sách vào thực tế nhằm đạt được các mục tiêu đề ra Giai đoạn tổ chức thực hiện là một lộ trình, quá trình tương tác và điều phối lẫn nhau giữa các bên
Thứ ba, giai đoạn đánh giá quá trình tổ chức thực hiện chính sách bình
đẳng giới Đây là giai đoạn nhìn nhận lại quá trình thực hiện chính sách bình đẳng giới Giai đoạn này thường đánh dấu bằng các hoạt động tổng kết và các báo cáo tổng kết Giai đoạn đánh giá thực hiện chính sách bình đẳng giới được tiến hành định kỳ xuyên suốt quá trình thực hiện Giai đoạn này gắn liền với việc thu thập, xử lý số liệu và viết báo cáo Cho nên chất lượng của giai đoạn đánh giá quá trình thực hiện chính sách phụ thuộc phần lớn vào chất lượng thu thập và xử lý số liệu Về mặt quản l nhà nước, giai đoạn đánh giá quá trình thực hiện còn gắn với tuyên dương, khen thưởng những chủ thể có thành tích tốt trong quá trình này
Thứ tư là giai đoạn điều chỉnh chính sách bình đẳng giới Kết quả của
quá trình thực hiện chính sách không những giúp cho chủ thể ban hành và thực hiện chính sách nhìn thấy được đã đạt được những gì trên thực tế về bình đẳng giới, mà còn là cơ hội để nhìn nhận lại những hạn chế và lỗ hổng của chính sách bình đẳng giới, từ đó có những kiến nghị giúp cơ quan ban hành
Trang 22điều chỉnh cho phù hợp với thực tiễn bình đẳng giới, văn hoá, phong tục tập quán và điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội ở Việt Nam
1.4 Các công cụ thực hiện chính sách bình đẳng giới
Công cụ chính sách là những hành động cụ thể để đưa các giải pháp chính sách vào thực tế Nó là cầu nối trung gian giữa giải pháp và kết quả đạt được, là những yếu tố vật chất giúp các giải pháp chính sách đưa ra đạt được những tác động trên thực tế Công cụ chính sách được thể hiện ở nhiều dạng như luật, chương trình, dự án và công cụ tài chính
Để thực hiện chính sách bình đẳng giới, cần kết hợp nhiều công cụ chính sách có thể kể ra như sau:
Thứ nhất, các công cụ liên quan đến yếu tố kinh tế, là những công cụ sử
dụng yếu tố kinh tế để thực hiện chính sách bình đẳng giới Chẳng hạn như đó
là những công cụ liên quan đến hỗ trợ tài chính để phát huy vai trò kinh tế của phụ nữ Hoặc đó là công cụ tín dụng để tạo điều kiện cải thiện mức sống và chất lượng sống của phụ nữ
Thứ hai, là các chương trình hành động Đây có thể được xem như là
một dạng kế hoạch thực hiện, góp phần đưa chính sách bình đẳng giới vào thực tế, tạo ra những kết quả thực tế
Thứ ba, các dự án, chương trình do nhà nước đưa ra để thực hiện chính
sách bình đẳng giới, như chương trình kinh tế cho phụ nữ, chương trình bà mẹ nuôi dạy trẻ em tốt,…
Thứ tư, là công cụ tổ chức thông qua tổ chức và phát triển hệ thống Hội
liên hiệp phụ nữ Đây là chủ thể tham gia tích cực trong việc thực hiện chính sách bình đẳng giới, chủ thể này huy động các thành viên là nữ giới tham gia
Trang 23sinh hoạt, phát triển kinh tế gia đình, chia sẻ kinh nghiệm làm ăn, chăm sóc con cái,…
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách bình đẳng giới
Việc thực hiện hính sách bình đẳng giới chịu chi phối bởi nhiều yếu tố như bản thân chính sách, đặc điểm của đối tượng thụ hưởng chính sách và năng lực của chủ thể thực hiện chính sách bình đẳng giới
Năng lực xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách là những kỹ năng và hiểu biết của chủ thể chính sách để tạo ra một kế hoạch hành động thiết thực, phụ hợp với đối tượng, chủ thể và nguồn lực thực hiện chính sách Năng lực phổ biến, tuyên truyền chính sách được thể hiện qua khả năng chuẩn bị và tổ chức các hoạt động phổ biến, tuyên truyền các nội dung chính sách đến đối tượng thụ hưởng chính sách và các bên có liên quan khác nhằm làm cho việc thực hiện chính sách tốt hơn
Năng lực phân công, phối hợp thực hiện chính sách là khả năng tổ chức điều hành thực hiện chính sách một cách chặt chẽ, khoa học và hợp lý Đối với chính sách bình đẳng giới, ngoài chủ thể thực hiện chính là cơ quan nhà nước, còn cá cả sự tham gia thường xuyên và liên tục của các đoàn thể, trong
Trang 24đó vai trò quan trọng thuộc về Hội liên hiệp phụ nữ Cho nên sự phối hợp của các chủ thể này và năng lực của họ là yếu tố không thể thiếu có ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách bình đẳng giới
Năng lực duy trì chính sách là toàn bộ khả năng, kiến thức, kỹ năng của
cơ quan thực hiện chính sách để có thể đưa ra những giải pháp làm sao cho chính sách được có thể ảnh hưởng tốt đến đối tượng thụ hưởng trong một thời gian dài mà không tốn nhiều chi phí hoặc bị gián đoạn giữa chừng
Năng lực điều chỉnh chính sách là khả năng (hay kiến thức, kỹ năng, thái độ) của cơ quan thực hiện chính sách Nó bao gồm năng lực nhận diện vấn đề xuất hiện trong quá trình thực hiện, để từ đó đề xuất các giải pháp, biện pháp nhằm khắc phục những sai lệch trong quá trình thực hiện này
Năng lực theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện chính sách được biểu hiện, bao gồm năng lực kiểm tra, năng lực động viên các chủ thể thực hiện
Nó còn là việc lựa chọn phương án đánh giá, kiểm soát quá trình thực hiện chính sách Đó còn là kỹ năng thu thập, cập nhập đầy đủ thông tin trong quá trình triển khai và kết quả thực hiện chính sách
Một trong những yếu tố khác tác động đến chính sách bình đẳng giới là năng lực thực hiện chính sách Đó là mức độ am hiểu về chính sách phát và tiềm lực về tài chính, con người, tổ chức được sử dụng trong quá trình thực hiện chính sách này
1.5.2 Đặc điểm của đối tượng thụ hưởng chính sách
Đối tượng thụ hưởng là một bộ phận không thể thiếu của quá trình tổ chức thực hiện chính sách nói chung và chính sách bình đẳng giới nói riêng Vai trò của đối tượng thụ hưởng chính sách thể hiện ở hai khía cạnh Trước hết họ là thước đo sự thành công của một chính sách Kết quả thực tế của chính sách thể hiện ở những “thay đổi” của họ trước và sau khi chính sách
Trang 25được thực hiện Sau nữa, họ còn là chủ thể tích cực tham gia và tương tác vào quá trình thực hiện chính sách Những đặc điểm và khuynh hướng tham gia của họ là căn cứ để cơ quan tổ chức thực hiện điều chỉnh phù hợp Đặc điểm của đối tượng thụ hưởng chính sách có thể là các điều kiện xã hội như cơ cấu dân số, trình độ dân trí, cơ cấu gia đình, dân tộc, tôn giáo vốn có thể ảnh hưởng đến thực hiện chính sách công nói chung và chính sách bình đẳng giới nói riêng Đó còn là các đặc điểm về văn hoá của địa phương, đặc tính tâm lý
- xã hội của người dân, lối tư duy và hành xử của người dân liên quan đến giới và bình đẳng giới
Tiểu kết chương 1
Trong Chương 1, tác giả tập trung trình bày khái niệm bình đẳng giới, thực hiện chính sách bình đẳng giới Thực hiện chính sách bình đẳng giới bao gồm tập hợp những hành động để đưa chính sách vào thực tế nhằm tạo ra kết quả trên thực tế Thực hiện chính sách bình đẳng giới cần đảm bảo các yêu cầu như (1) việc thực hiện chính sách bình đẳng giới phải đảm bảo yêu cầu có
sự tham gia rộng rãi của mọi đối tượng và thành phần trong xã hội; (2) việc thực hiện chính sách bình đẳng giới phải đảm bảo yêu cầu lồng ghép trong các chương trình chính sách và hoạt động của các ngành các cấp; (3) việc thực hiện chính sách bình đẳng giới phải đảm bảo sự phối hợp chặt chẽ, thường xuyên và liên tục của toàn bộ hệ thống chính trị; (4) việc thực hiện chính sách bình đẳng giới phải đảm bảo việc sử dụng linh hoạt và hiệu quả các biện pháp, trong đó, nhấn mạnh đến biện pháp tuyên truyền, giáo dục và thuyết phục Không những vậy, việc thực hiện chính sách bình đẳng giới còn diễn ra theo bốn bước cơ bản: (1) hình thành kế hoạch thực hiện chính sách; (2) tổ chức thực hiện; (3) đánh giá quá trình tổ chức thực hiện; (4) kiến nghị điều chỉnh chính sách bình đẳng giới Quá trình thực hiện chính sách bình
Trang 26đẳng giới chịu sự tác động của nhiều yếu tố khác nhau cũng như được cụ thể
hoá bằng nhiều công cụ chính sách
Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BÌNH ĐẲNG GIỚI
Bước 1 là xây dựng kế hoạch thực hiện
Do liên quan đến toàn bộ hệ thống chính trị nên quá trình tổ chức thực hiện chính sách bình đẳng giới cũng hết sức đặc thù Theo lý thuyết, quá trình thực hiện thường khởi động bằng các bản kế hoạch, trường hợp của chính sách bình đẳng giới cũng vậy nhưng điểm khác biệt ở chỗ rất nhiều cơ quan
có liên quan đều có kết hoạch thực hiện
Quá trình thực hiện chính sách bình đẳng giới ở Quận Bình Tân khởi phát từ các văn bản chỉ đạo của Quận ủy và các cơ quan có liên quan Cụ thể
là sau khi có Nghị quyết 11-NQ/TW của Bộ Chính trị và Chương trình hành động số 31-CTr/TU của Ban Thường vụ Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh, Quận ủy Bình Tân đã xây dựng Chương trình hành động số 18-CTr/QU ngày
20 tháng 6 năm 2008, đồng thời Quận ủy chỉ đạo Ban Tuyên giáo xây dựng
Trang 27Kế hoạch số 10-KH/BTG ngày 10 tháng 7 năm 2008 triển khai quán triệt, tuyên truyền Nghị quyết 11-NQ/TW của Bộ Chính trị trên địa bàn
Về phía chính quyền, nhằm tiếp tục triển khai các nội dung về hoạt động bình đẳng giới, Ủy ban nhân dân Quận đã xây dựng Chương trình số 12/CTr-UBND ngày 30 tháng 12 năm 2011 về thực hiện Chiến lược Quốc gia về bình đẳng giới trên địa bàn quận Bình Tân giai đoạn 2011-2020 và cụ thể hóa kế hoạch triển khai thực hiện hàng năm Kế hoạch số 365/KH-UBND ngày 29 tháng 10 năm 2014 của Ủy ban nhân dân quận về truyền thông nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi về Bình đẳng giới, Vì sự tiến bộ phụ nữ trên địa bàn quận năm 2014 Kế hoạch số 101/KH-UBND ngày 13 tháng 3 năm 2015 của
Ủy ban nhân dân quận về triển khai thực hiện Chiến lược, Chương trình quốc gia
về bình đẳng giới, vì sự tiến bộ phụ nữ trên địa bàn quận Bình Tân năm 2015
Về phía Hội Liên hiệp phụ nữ Quận, ngày 28 tháng 6 năm 2008, Hội cũng đã xây dựng Chương trình hành động số 16/CTr-HPN nhằm chủ động triển khai thực hiện hiệu quả “Công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” trong hệ thống Hội phụ nữ Quận và cơ sở
Tóm lại, công tác xây dựng kế hoạch thực hiện chính sách bình đẳng giới
ở Quận Bình Tân thể hiện trong hàng loạt những văn bản và chương trình hành động của Quận như để thực hiện có hiệu quả Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2015, Ban Vì sự tiến bộ phụ nữ và bình đẳng giới quận Bình Tân đã tham mưu Ủy ban nhân dân quận ban hành các văn bản triển khai thực hiện như sau: Chương trình số 12/CTr-UBND ngày 30 tháng 12 năm 2011 của Ủy ban nhân dân quận Bình Tân về Chương trình thực hiện Chiến lược Quốc gia về Bình đẳng giới trên địa bàn quận Bình Tân giai đoạn 2011-2020”;Kế hoạch số 73/KH-UBND ngày 07 tháng 3 năm 2011 của Ủy ban nhân dân quận Bình Tân về triển khai công tác Bình đẳng giới
Trang 28năm 2011 trên địa bàn quận Bình Tân; Kế hoạch số 110/KH-UBND ngày 29 tháng 3 năm 2012 của Ủy ban nhân dân quận Bình Tân về triển khai công tác Bình đẳng giới năm 2012 trên địa bàn quận Bình Tân; Kế hoạch số 60/KH-UBND ngày 18 tháng 02 năm 2013 của Ủy ban nhân dân quận về triển khai thực hiện Chiến lược, Chương trình quốc gia về Bình đẳng giới, Vì sự tiến bộ phụ nữ trên địa bàn quận Bình Tân năm 2013 Kế hoạch số 139/KH-UBND ngày 18 tháng 4 năm 2014 của Ủy ban nhân dân quận về triển khai thực hiện Chiến lược, Chương trình quốc gia về Bình đẳng giới, vì sự tiến bộ phụ nữ trên địa bàn quận Bình Tân năm 2014 và các kế hoạch hàng năm của Quận
Bước 2 là triển khai thực hiện chính sách bình đẳng giới ở Quận Bình
Tân Toàn bộ hệ thống chính trị của Quận Bình Tân tập trung thực hiện chính sách bình đẳng giới trên địa bàn Quận Tham gia vào quá trình tổ chức thực hiện chính sách bình đẳng giới, có một số chủ thể quan trọng với những vai trò và trách nhiệm cụ thể như sau:
- Chủ thể đầu tiên là Quận ủy Quận ủy tham gia vào việc thực hiện
chính sách bình đẳng giới với hai tư cách Tư cách thứ nhất là cơ quan lãnh
đạo, chỉ đạo toàn bộ hệ thống chính trị trên địa bàn của Quận Bình Tân để
thực hiện chính sách bình đẳng giới Tư cách thứ hai là thực hiện bình đẳng
giới trong nội bộ của Quận ủy nhằm đảm bảo những cán bộ nữ trong Quận ủy
có cơ hội như nhau với những cán bộ nam
- Chủ thể thứ hai là Ủy ban nhân dân Quận Bình Tân và Ủy ban nhân dân các Phường trên địa bàn của Quận Đây là chủ thể thực hiện chính với hàng loạt những hoạt động phổ biến, tuyên truyền, tổ chức và chịu trách nhiệm báo cáo về bình đẳng giới
- Chủ thể thứ ba là Hội liên hiệp phụ nữ Quận và các Phường Hội giữ vai trò là cánh tay nối dài, tham gia cùng Ủy ban nhân dân Quận và các
Trang 29phường trong việc tổ chức các phong trào, tuyên truyền, vận động hội viên phụ nữ nhằm thay đổi nhận thức của họ về giới và bình đẳng giới
- Ngoài ra còn có Ban Tuyên giáo và Đoàn Thanh niên cùng các đoàn thể khác trong hệ thống chính trị Những tổ chức này góp phần tuyên truyền, phổ biến chính sách bình đẳng giới tới các thành viên trong xã hội và các thành viên thuộc tổ chức của mình
Quá trình tổ chức thực hiện chính sách bình đẳng giới còn liên quan đến việc huy động nguồn lực tài chính Theo báo cáo của Ủy ban nhân dân Quận Bình Tân (2017, tr.15), tổng kinh phí cấp cho hoạt động bình đẳng giới và vì sự tiến bộ phụ nữ trong giai đoạn từ năm 2007 đến 2017 là 1.029.580.000 đồng, trong đó:
- Kinh phí từ nguồn hỗ trợ của Thành phố là 115,79 triệu đồng
- Kinh phí từ nguồn ngân sách Quận là139,79 triệu đồng
- Kinh phí từ Phường là 774 triệu đồng
Quá trình tổ chức thực hiện chính sách bình đẳng giới được trải đều trên mọi lĩnh vực của đời sống nhằm tạo ra sự bình đẳng toàn diện trên mọi mặt giữa nam và nữ
Thực hiện chính sách bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị Đây được
xem là lĩnh vực quan trọng nhất của bình đẳng giới Bởi theo tác giả Dương Kim Anh [1]“bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ chính là chìa khóa thúc đẩy sự phát triển bền vững và tiến bộ lâu dài của xã hội Kể từ khi Cương lĩnh hành động Bắc Kinh ra đời vào năm 1995, được 189 nước ký kết tham gia tại Đại hội Phụ nữ thế giới lần thứ 4, trao quyền cho phụ nữ trở thành một giải pháp quan trọng Phát biểu trước Ủy ban Địa vị Phụ nữ của Liên hợp quốc vào tháng 3/2010, Tổng thư k Liên hợp quốc Ban Ki-moon đã nhấn mạnh rằng
Trang 30việc trao quyền cho phụ nữ là cấp thiết và chỉ đến khi phụ nữ được giải phóng khỏi nghèo đói và bất bình đẳng thì những mục tiêu khác của Liên hợp quốc
về hòa bình, an ninh, phát triển bền vững mới thực hiện được” Kết quả thực hiện chính sách bình đẳng giới của Quận trong thời gian qua đã đạt được một
số kết quả khả quan Điều này thể hiện trước hết trong nhận thức của cấp ủy, chính quyền, mặt trận, các đoàn thể chính trị - xã hội về vị trí, vai trò của cán
bộ nữ Những đối tượng này hiểu đúng hơn, nhận thức đầy đủ hơn về vai trò của cán bộ nữ Đây là yếu tố mang tính chất khởi động giúp tỷ lệ cán bộ nữ lãnh đạo đương nhiệm, quy hoạch dự bị trên nhiều lĩnh vực đều tăng so với nhiệm kỳ trước, thể hiện ở Bảng sau:
Bảng 2 1 Số lƣợng cán bộ nữ thuộc khối Đảng Chức vụ, vị trí Số lƣợng nữ Tỷ lệ (%)
Ban chấp hành Đảng bộ quận nhiệm kỳ
(Nguồn: Báo cáo năm 2017 của Quận ủy Quận Bình Tân)
Bảng trên cho thấy qua hai nhiệm kỳ, số lượng nữ giới trong ban chấp hành ở Đảng ủy Quận giữ nguyên nhưng số lượng nữ giới trong Đảng ủy phường tăng đáng kể lên tới 10 người tương đương gần 5%
Trang 31Số lượng phụ nữ tham gia hội đồng nhân dân cấp quận và phường thể hiện ở Bảng sau:
Bảng 2 2 Số lượng nữ tham gia Hội đồng nhân dân Quận và Phường
Chức vụ, vị trí Số lượng nữ Tỷ lệ (%)
(Nguồn: Báo cáo năm 2017 của Quận ủy Quận Bình Tân)
Ở Hội đồng nhân dân hai cấp, tỷ lệ nữ đều chiếm gần 1/3 trong tổng số đại biểu Hội đồng nhân dân so với tỷ lệ chung của cả nước, tỷ lệ này ở Quận Bình Tân cao hơn ở cả hai cấp quận và cấp xã
Bảng 2 3 Số lượng nữ trung bình trong Hội đồng nhân dân của cả nước
Trang 32Số lượng nữ giới trong cơ quan nhà nước thể hiện ở Bảng sau:
Bảng 2 4 Số lượng nữ trong cơ quan nhà nước
Cơ quan công tác Số lượng nữ Tỷ lệ (%)
(Nguồn: Báo cáo năm 2017 của Quận ủy Quận Bình Tân)
Nhìn vào những Bảng số liệu trên, có thể khẳng định rằng “trong 10 năm qua, cùng với việc lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế
- xã hội, Ủy ban nhân dân Quận đã quan tâm đào tạo, bồi dưỡng, đề bạt, bổ nhiệm, quy hoạch đối tượng nữ tham gia các lớp nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, giữ các chức danh lãnh đạo, quản l , đảm bảo cân bằng tỷ lệ
nữ trong các cấp lãnh đạo, nâng cao và ngày càng khẳng định vị trí, vai trò của phụ nữ trong gia đình và xã hội” [24]
- Thực hiện bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động Trong lĩnh vực này,
toàn bộ hệ thống chính trị của Quận Bình Tân bao gồm Quận ủy, Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể đã tổ chức thực hiện chính sách bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động nhằm giảm khoảng cách giới trong lĩnh vực kinh tế, lao động, việc làm, tăng cường sự tiếp cận của phụ nữ nghèo, phụ nữ người dân tộc thiểu số góp phần cải thiện cuộc sống của phụ nữ và khả năng tiếp cận được các dịch vụ xã hội của họ ngày càng tốt hơn Việc thực hiện chính sách trong lĩnh vực này tập trung vào các hoạt động như hướng dẫn sản xuất kinh doanh, cho vay vốn với lãi suất thấp từ các quỹ quốc gia giải quyết việc làm, tạo điều kiện để người lao động tìm việc làm mới hoặc tự tạo việc làm mới; tổ chức Sàn giao dịch việc làm, thông tin nhu cầu
Trang 33tuyển dụng lao động của các doanh nghiệp, triển khai các chương trình đi làm việc ở nước ngoài cho người dân trên địa bàn quận … giải quyết việc làm giúp người lao động có việc làm ổn định, cải thiện cuộc sống, thoát nghèo căn
cơ Kết quả là từ năm 2007 đến 2017 Quận đã giải quyết việc làm mới cho 119.849 lao động, trong đó nữ 61.620 người, chiếm tỷ lệ 51,7% [25]
Ngoài ra, Quận còn lồng ghép thực hiện chính sách bình đẳng giới với đề
án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020” Theo đó, Ủy ban nhân dân quận giao phòng Lao động - Thương binh và Xã hội là cơ quan Thường trực phối hợp với các ban, ngành đoàn thể quận và phường, tổ chức triển khai thống kê nhu cầu học nghề để xác định nhu cầu thật sự của người lao động từ đó triển khai đào tạo nghề cho phù hợp Để thực hiện nội dung lồng ghép này, Ủy ban nhân dân Quận sử dụng kinh phí của Quận Về mặt bình đẳng giới, trong số đối tượng tham gia học tập nghề có tới 70% là nữ [23]
- Thực hiện bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo Trong
thời gian qua, nhờ lồng ghép thực hiện bình đẳng giới vào hoạt động giáo dục hiệu quả nên Quận Bình Tân đạt được những chuyển biến tích cực, tỷ lệ nữ trong độ tuổi đi học vượt chỉ tiêu kế hoạch đề ra, đảm bảo mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trên địa bàn, đặc biệt tập trung mọi nguồn lực, tạo điều kiện thuận lợi cho nam giới và nữ giới bình đẳng tham gia lĩnh vực giáo dục - đào tạo, nghiên cứu khoa học Đối với cán bộ là
nữ đang công tác trong hệ thống chính trị của Quận, Ủy ban nhân dân quận đã
có nhiều chủ trương quan tâm và tạo điều kiện cho cán bộ nữ tham gia học tập nâng cao trình độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ Xây dựng đề án đưa chỉ tiêu cụ thể về công tác cán bộ nữ, các giải pháp để phát triển cả về số lượng
và chất lượng cán bộ lãnh đạo, quản lý là nữ đáp ứng yêu cầu thời kỳ đổi mới
- Tình hình thực hiện bình đẳng giới trong lĩnh vực văn hóa, thông tin, thể dục, thể thao Ở nội dung này, Quận tập trung đẩy mạnh công tác thông
Trang 34tin, tuyên truyền về bình đẳng giới, định kiến giới, khảng định, quảng bá và ca ngợi phẩm chất người phụ nữ thời hiện đại
Quận tích cực thực hiện nhiều biện pháp để thu hút phụ nữ tham gia phong trào tập luyện thể dục và các hoạt động thể thao để không những cải thiện sức khoẻ về thể chất mà còn nâng cao sức khoẻ về tinh thần Tính đến nay trên địa bàn quận có 42 cơ sở đã thu hút 47.130 lượt người tham gia luyện tập thể dục thể thao (trong đó có 20.172 nữ/47.130, tỷ lệ 42,8%)[24]
- Tình hình thực hiện bình đẳng giới trong lĩnh vực y tế Ở lĩnh vực này,
Quận kết hợp giữa tuyên truyền và kiểm tra, giám sát để đảm bảo tình trạng phân biệt trẻ em nam và nữ không xảy ra, đảm bảo sự cân đối, hài hoà về giới tính ở trẻ sơ sinh Trong các năm qua, tỷ lệ giới tính trẻ khi sinh ra trên địa bàn quận được cân bằng, đảm bảo được tỷ số giới tính khi sinh không vượt quá 113 trẻ sơ sinh trai/100 trẻ sơ sinh gái; cụ thể thể hiện ở Bảng dưới đây:
Bảng 2 5 Tỷ số giới tính khi sinh Năm Tỷ số giới tính khi sinh (trai/gái)
(Nguồn: Báo cáo năm 2017 của Quận ủy Quận Bình Tân)
Ngoài ra, Quận còn chương trình chăm sóc sức khỏe cho phụ nữ và làm
mẹ an toàn đã được triển khai rộng rãi, tỷ lệ phụ nữ có thai khám đủ ba lần là 100%; tỷ lệ tử vong bà mẹ liên quan đến thai sản là 0/100.000 trẻ sinh ra
Trang 35sống; 100% tỷ lệ phụ nữ mang thai được tiếp cận thông tin về dịch vụ chăm
sóc và dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con [23]
- Thực hiện bình đẳng giới trong lĩnh vực gia đình Trong 10 năm, Ủy
ban nhân dân quận đã chỉ đạo các ngành, đoàn thể từ quận đến phường tổ chức nhiều hoạt động từ việc thành lập Câu lạc bộ gia đình hạnh phúc, đến tổ chức toạ đàm về quyền trẻ em, Luật hôn nhân gia đình, nạn bạo hành gia đình, trao đổi kinh nghiệm kiến thức và kỹ năng gia đình Ngoài ra, trên địa bàn quận có 10 địa chỉ tin cậy cộng đồng (tại 10 phường) đi vào hoạt động, nhằm tạo điều kiện tạm lánh, chăm sóc sức khỏe ban đầu cho các nạn nhân bị bạo lực gia đình Các địa chỉ này đã tiếp nhận 47 nạn nhân bị bạo lực gia đình đến tạm lánh [24] Nhờ những hoạt động tích cực này mà số vụ bạo lực gia đình giảm xuống đáng kể qua các năm, thể hiện ở đồ thị sau:
BIểu đồ 2 1 Số vụ bạo lực gia đình của Quận Bình
(Nguồn: Báo cáo năm 2017 của Quận ủy Quận Bình Tân)
Theo Bảng trên, số vụ bạo lực gia đình sau mỗi năm giảm xuống còn khoảng 2/3 số vụ của năm trước
Trang 362.2 Thực trạng các công cụ thực hiện chính sách bình đẳng giới tại quận Bình Tân
Để thực hiện chính sách bình đẳng giới vào thực tế Quận Bình Tân, nhiều công cụ chính sách đã được huy động
Thứ nhất là công cụ tuyên truyền Công cụ tuyên truyền được sử dụng để
thực hiện chính sách bình đẳng giới như ấn phẩm; pano, băng rôn, cờ phướn, (hình thức tuyền tuyên truyền di động), biểu dương gương điển hình, tuyên truyền qua website, tuyên tuyền luật; câu lạc bộ; hội nghị nhân dân; và mô hình, học tập chuyên đề Tình hình sử dụng các công tuyên truyền từ năm
2007 đến năm 2017 được thể hiện ở Bảng dưới đây:
Bảng 2 6 Tình hình sử dụng công cụ tuyên truyền
Tin và bài viết liên quan đến công tác
bình đẳng giới đăng trên website của Quận
250
(Nguồn: Báo cáo năm 2017 của Quận ủy Quận Bình Tân)
Ngoài ra, Quậnthường xuyên tuyên truyền bằng xe loa về chính sách pháp luật về giới và bình đẳng giới; về phòng chống bạo lực gia đình; bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động xã hội; biểu dương các gương điển hình, gương người tốt việc tốt Các bài viết tuyên truyền về 2 đề án: “Giáo dục 5
Trang 37triệu Bà mẹ nuôi dạy con tốt”, “Tuyên truyền, giáo dục phẩm chất đạo đức Phụ nữ Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” Tổ chức tọa đàm với chủ đề “Thắp sáng tình yêu thương trong mỗi gia đình”, qua đó trao đổi ý kiến của gia đình trong việc thực hiện quyền trẻ em, Luật hôn nhân gia đình, nạn bạo hành gia đình, trao đổi kinh nghiệm kiến thức và kỷ năng xây dựng gia đình theo tiêu chí “No ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc và bền vững” Bên cạnh đó, quận còn tổ chức Hội nghị nhân dân nhằm tìm các giải pháp thực hiện có hiệu quả các mục tiêu và chỉ tiêu theo quyết định 106/2005/QĐ-TTg ngày 16/5/2005 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt
“Chiến lược xây dựng Gia đình Việt Nam giai đoạn 2005-2010” [25]
Thứ hai là công cụ tổ chức và phát triển Hội liên hiệp phụ nữ Nhận thấy
vai trò chủ chốt của Hội liên hiệp phụ nữ, lãnh đạo Quận tập trung chỉ đạo xây dựng Hội vững mạnh để trở thành chủ thể tích cực và năng động trong thực hiện chính sách bình đẳng giới ở Quận Theo đó, lãnh đạo Quận chỉ đạo
rà soát quy hoạch nguồn cán bộ Hội, để chủ động bố trí, luân chuyển nâng chất lượng cán bộ chủ chốt Hội Phụ nữ phường; đồng thời, thông qua tiêu chuẩn chức danh để xây dựng đề án nhân sự đảm bảo chất lượng Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Hội cấp Quận Qua đó, đảm bảo công tác nhân sự Đại hội nhiệm kỳ 2011-2016 và nhiệm kỳ 2016-2021 của các cấp Hội trên địa bàn Nhìn chung, từ việc có tập trung lãnh đạo, chỉ đạo từ cơ sở cho nên sau đại hội đến nay, hoạt động của tổ chức Hội theo tinh thần Nghị quyết và mục tiêu đề ra
từ Chương trình hành động số 31-CTr/TU của Thành ủy và Chương trình hành động số 18-CTr/QU của Quận ủy đã phát huy được hiệu quả tích cực Hoạt động xây dựng tổ chức Hội vững mạnh được các cấp hội phụ nữ từ Quận đến cơ sở quan tâm, tập trung kiện toàn củng cố nhân sự đối với chi hội, tổ hội tại các phường, đã ổn định về mặt nhân sự và được tổ chức tập huấn trang bị nghiệp vụ kỹ năng công tác Hội hàng năm Trong 10 năm qua,
Trang 38phát triển 19.662 hội viên, không ngừng đổi mới nội dung và phương thức hoạt động, xây dựng các loại hình tập hợp, sinh hoạt hội viên và đã có nhiều
mô hình hoạt động có hiệu quả phù hợp với đặc điểm và môi trường hoạt động của các tầng lớp phụ nữ đã thu hút hàng ngàn hội viên và phụ nữ các giới tham gia Toàn quận, hiện nay có 130/130 chi hội, 1.610/1.666 tổ hội, với 23.698 hội viên, có 33 mô hình với hơn 23.000 lượt thành viên tham gia
sinh hoạt Phạm vi hoạt động của mô hình tập trung chủ yếu ở cấp cơ sở (câu
lạc bộ, tổ, nhóm, ngành nghề), cấp quận có Câu lạc bộ nữ doanh nghiệp, Câu
lạc bộ cán bộ nữ quận
Nâng cao chất lượng hoạt động của chi hội và tổ trưởng phụ nữ thông
qua hội thi “Tổ trưởng Phụ nữ gi i” thu hút 1.165 chị tham dự thi đạt tỷ lệ
85,28%, với nhiều nội dung, hình thức thi phong phú liên quan đến chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của tổ trưởng phụ nữ Tổ chức diễn đàn hội viên
với các chủ đề “Làm thế nào xây dựng tổ chức Hội vững mạnh”,“Vai trò của
phụ nữ trong việc tham gia bảo vệ môi trường”… tại 10 phường thu hút đông
đảo hội viên tham dự và đóng góp nhiều giải pháp thiết thực, hiệu quả gắn với tình hình thực tiễn địa phương
Tổ chức hội nghị chuyên đề công tác tổ chức hàng năm trong hệ thống của Hội, qua đó trao đổi những kinh nghiệm và những khó khăn trong công tác xây dựng và nâng cao chất lượng hoạt động cơ sở Hội Hàng năm tập huấn đào tạo cho 130 chi hội trưởng về nghiệp vụ công tác Hội, lý luận chính trị, cập nhật thông tin thời sự trong nước và quốc tế, hướng dẫn học tập trên
hệ thống đào tạo trực tuyến của Hội Liên hiệp Phụ nữ thành phố, hội nghị chuyên đề công tác tổ chức hàng năm góp kiến trao đổi những kinh nghiệm
và những khó khăn trong công tác xây dựng và nâng cao chất lượng hoạt động
cơ sở Hội Xây dựng 4.870 cán bộ hội viên nòng cốt tỷ lệ 21% tạo điều kiện cho hội viên nòng cốt phấn đấu rèn luyện về phẩm chất đạo đức, tác phong,
Trang 39uy tín với quần chúng phụ nữ; qua đó tạo nguồn, bồi dưỡng và giới thiệu 163 hội viên ưu tú sang đảng xem xét, trong đó có 90 chị được kết nạp Đảng Quan tâm công tác vận động phụ nữ dân tộc và phụ nữ có đạo, chủ động nắm bắt tình hình tư tưởng, tâm tư nguyện vọng của phụ nữ; chăm lo, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của phụ nữ dân tộc và phụ nữ có đạo có hoàn
cảnh khó khăn với nhiều hoạt động phong phú, đa dạng như: vận động “Học
tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ hí Minh”,“Gương sáng phụ nữ dân tộc”, “Ngày hội nữ tu với công tác xã hội từ thiện”, tham gia các
hoạt động “Liên hoan Phụ nữ dân tộc thành phố” nâng chất phong trào “Tự
rèn luyện” trong nữ tu các tôn giáo; tập trung xây dựng lực lượng nòng cốt và
nâng chất hoạt động 09 Tổ Hội nữ tu ở các cơ sở tôn giáo với 114 hội viên,
nhằm vận động nữ tu, phụ nữ có đạo tích cực thực hiện phương châm “Sống
tốt đời, đ p đạo”và góp phần tăng cường khối đại đoàn kết các dân tộc, mở
rộng tính liên hiệp của tổ chức Hội
Nhìn chung, trong 10 năm qua chất lượng hoạt động của Hội ngày càng
đa dạng, thu hút phụ nữ các giới tham gia và vai trò, vị trí của cán bộ Hội ngày càng khẳng định hơn, cấp ủy cơ sở tạo điều kiện giới thiệu chi hội trưởng, chi hội phố, tổ trưởng, tổ phó phụ nữ để nhân dân bầu làm trưởng khu phố, tổ trưởng dân phố ngày càng tăng, cụ thể: có 12/130 chi hội trưởng phụ nữ tham
gia trưởng, phó khu phố (so năm 2007 có 07/109 chị tham gia); có 445/1.610 tổ trưởng phụ nữ tham gia tổ trưởng dân phố (so năm 2007 có 388/1.366 chị
tham gia) Qua đánh giá chất lượng hàng năm có 12/12 (100%) cơ sở Hội trực
thuộc đạt vững mạnh; 99% chi hội vững mạnh; không có chi, tổ hội yếu kém
Công cụ thứ ba là các chương trìnhhoạt động, đề án Để thực hiện hiệu
quả chính sách bình đẳng giới, Quận Bình Tân tiến hành tổ chức các chương trình hoạt động, đề án và phong trào thi đua liên quan đến phụ nữ như chương