ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ YẾU TỐ MÔI TRƯỜNG TRONG ƯƠNG NUÔI CÁ BỐNG TƯỢNG Oxyeleotris marmoratus Bleeker, 1852 thực hiện bởi Bùi Văn Hên Lê Hữu Hiệp Luận văn được đệ trình để hoàn tất yêu
Trang 1LUẬN VĂN TỐT
NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ YẾU TỐ MÔI TRƯỜNG TRONG ƯƠNG NUÔI CÁ BỐNG TƯỢNG
(Oxyeleotris marmorata Bleeker, 1852)
NGÀNH: THỦY SẢN
KHÓA: 2002 – 2006
SINH VIÊN THỰC HIỆN: BÙI VĂN HÊN
LÊ HỮU HIỆP
Trang 2ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ YẾU TỐ MÔI TRƯỜNG TRONG ƯƠNG NUÔI CÁ BỐNG TƯỢNG
(Oxyeleotris marmoratus Bleeker, 1852)
thực hiện bởi
Bùi Văn Hên Lê Hữu Hiệp
Luận văn được đệ trình để hoàn tất yêu cầu cấp bằng Kỹ Sư Thủy Sản
Giáo viên hướng dẫn: Ths Nguyễn Phú Hòa
Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 09/2006
Trang 3TÓM TẮT
Đề tài “Khảo sát ảnh hưởng của một số yếu tố môi trường trong ương
nuôi cá bống tượng (Oxyeleotris marmoratus Bleeker, 1852)” được thực hiện nhằm
tìm hiểu sự tác động của nước trong, nước xanh, giá thểõ và nền đáy đến tăng trưởng, tỷ lệ sống và sự phân đàn của cá bống tượng giai đoạn cá hương 3-8 cm
Để tìm hiểu ảnh hưởng của những yếu tố trên chúng tôi tiến hành ba thí nghiệm.Thí nghiệm I: Khảo sát lượng ăn của cá bống tượng trong hai môi trường nước trong và nước xanh.Thí nghiệm II: Khảo sát ảnh hưởng của các yếu tố nước trong, nước xanh và giá thể trong ương nuôi cá bống tượng với bốn nghiệm thức (NT) là: NT1 (nước trong); NT2 (nước trong và bèo-lục bình); NT3 (nước xanh); NT4 (nước xanh và bèo-lục bình).Thí nghiệm III: Khảo sát ảnh hưởng của nền đáy trong ương nuôi cá bống tượng với bốn NT là: NT1 (nền đáy cát); NT2 (nền đáy sỏi); NT3 (nền đáy bùn); NT4 -NT đối chứng- (không bố trí nền đáy)
Đề tài được thực hiện tại Trại Thực Nghiệm Thủy Sản thuộc Khoa Thủy Sản, Trường Đại Học Nông Lâm TP HCM từ ngày 10/02/2006 đến ngày 02/06/2006
Sau bốn tháng thực hiện đề tài kết quả cho thấy:
Lượng ăn của cá ở môi trường nước xanh cao hơn ở nghiệm thức môi trường nước trong nhưng sự khác biệt này không có ý nghĩa về mặt thống kê.)
Cá đạt tăng trưởng cao nhất là ở nghiệm thức nước trong (NT1) kế đến là nghiệm thức nước xanh có bèo (NT4) và nghiệm thức nước xanh, thấp nhất là nghiệm thức nước trong có bèo với các giá trị tăng trọng trung bình lần lượt là 2,28g,1,98g, 1,78g và 1,67g Không có sự khác biệt có ý nghĩa về tỷ lệ sống giữa bốn nghiệm thức môi trường với tỷ lệ sống trung bình ở các nghiệm thức lần lượt là 76,67% (NT3), 71,975 (NT4), 63,33% (NT1 và NT2)
Có sự khác biệt có ý nghĩa về tỷ lệ sống và tăng trưởng của cá ở bốn nghiệm thức nền đáy Tỷ lệ sống cao nhất là ở nghiệm thức đối chứng (83,33%) và thấp nhất là ở nghiệm thức nền đáy sỏi (50%), hai nghiệm thức nền đáy cát và nền đáy bùn có tỷ lệ sống lần lượt là 61,67% và 70% Ngược lại tăng trọng trung bình ở NT2 cao hơn các nghiệm thức còn lại với các giá trị lần lượt là 2,35g (NT2), 2,04g (NT1), 1,68g (NT3) và 1,26g (NT4) Tỷ lệ cá cỡ trên 2 g cao nhất là ở nghiệm thức nền đáy sỏi
Trang 4ABSTRACT
A study “Effect of some environmental factors in rearing marble goby
(Oxyeleoris marmoratus Blecker, 1852)” was carried out to investigate effects of
clear water, green water, substrate and bottom condition on growth, survival and grade in rearing juvenile marble goby
To survey effect of those environmental factors, we carried out three experiments The first (TNI): Survey food intake of fish in clear water and green water The second (TNII): Survey the effects of clear water, green water and substrate with four treatments: clear water (NT1), clear water added water hyacyth (NT2), green water (NT3), green water added water hyacyth (NT4) The third (TNIII): Survey the effects of bottom condition with also four treatments: sandy bottom (NT1), bottom of cobble (NT2), muddy bottom(NT3), and control (bottom of lined plastic)
The study was carried out in Experimental Farm for Aquacultre belongs to
Falculty of Fishery, Agriculture and Forestry University, Ho Chi Minh City
After four months expericeced, the result of the study shows that:
Food intake of fish in green water environtment is much than clear water There was no difference in mean survival between four treatments environment The highest was green water treatment (76,67%), and the lowest (63%) was in the clear water added water hyacyth treatment But there was significant different in growth between juvenile reared at any of the four treatments Fish had highest growth at clear water treatment, the next were green water added water hyacyth treatment and green water treatment, the lowest at green water treatment with value weigh gain in each treatment were 2,28 g; 1,96 g; 1,78 g; 1,67 g, respectively In the third experience, there was significant difference in survival and growth among the four bottom condition treatments The growth of fish at bottom of cobble treatment is better than three remains, however, it was also treatment had lowest survival (50%); the highest is 83,77% of conditioning treatment
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Chúng tôi xin gởi lòng biết ơn sâu sắc đến:
Ba mẹ đã động viên và giúp đỡ về mặt vật chất và tinh thần trong suốt thời gian học tập
Ban Giám Hiệu, quý thầy cô khoa Thủy Sản, quý thầy cô khoa Cơ Bản đã dạy dỗ, truyền đạt kiến thức, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho chúng tôi hoàn thành tốt chương trình học tập tại trường
Và đặc biệt, với lòng biết ơn sâu sắc xin gửi đến cô Nguyễn Phú Hòa đã tận tình hướng dẫn chúng tôi hoàn thành tốt đề tài tốt nghiệp
Xin chân thành cảm ơn thầy Trần Tấn Việt-Phó trưởng khoa Nông Học, bác Nguyễn Văn Tiếu (Trại sản xuất giống cá bống tượng Tám Tiếu-Tiền Giang) đã giúp đỡ chúng tôi rất nhiều trong thời gian thực hiện đề tài
Chân thành cảm ơn các anh chị cùng các bạn trong và ngoài lớp Nuôi trồng thủy sản khóa 28 đã động viên, giúp đỡ chúng tôi trong suốt thời gian học tập
Do thời gian thực tập có hạn và kiến thức còn hạn chế nên luận văn này không thể tránh khỏi những sai sót Rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến quý báu của quý thầy cô và các bạn để luận văn được hoàn chỉnh hơn
Trang 6MỤC LỤC
TÊN ĐỀ TÀI
2.2 Một Số Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Ương Nuôi những Loài Cá Ăn
2.3 Các Công Trình Nghiên Cứu Trong và Ngoài Nước về Sản Xuất
2.4 Tình Hình Nuôi Cá Bống Tượng Trong Những Năm Gần Đây 10
Trang 7III VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 12
3.5.3 Phương pháp cân đo và thu thập số liệu 17
4.1 Các Thông Số Môi Trường trong Quá Trình Thí Nghiệm 21
4.2 Lượng Ăn của Cá ở Môi Trường Nước Trong và Nước Xanh 22
4.3 Aûnh Hưởng Của Nước Trong, Nước Xanh và Giá Thể đến Tỉ Lệ
Sống, Tăng Trưởng, sự Phân Đàn của Cá Bống Tượng 24
4.4 Ảnh Hưởng của Môi Trường Nền Đáy đến Tỷ Lệ Sống,
sự Phân Đàn và Tăng Trưởng của Cá Bống Tượng 32
Trang 8
PHỤ LỤC
Phụ lục 1 : Chiều dài và trọng lượng ban đầu của cá thí nghiệm
Phụ lục 2 : Các thông số môi trường trong quá trình thí nghiệm
Phụ lục 3 : Chiều dài và trọng lượng cá sau thí nghiệm
Phụ lục 4 : Kết quả xử lý thống kê
Trang 9DANH SÁCH CÁC BẢNG
Bảng 4.1 Sự biến động nhiệt độ nước trong thời gian thí nghiệm 21Bảng 4.2 Sự biến động pH trong thời gian thí nghiệm 21
Bảng 4.6 Tăng trưởng về trọng lượng của cá thí nghiệm 26 Bảng 4.7 Tỷ lệ phân bố các cỡ cá ở mỗi nghiệm thức 30 Bảng 4.8 Sự phân đàn của cá các nghiệm thức 35 Bảng 4.9 Tỷ lệ phân bố của các cỡ cá trong mỗi nghiệm 35
Bảng 4.11 Sự tăng trưởng về chiều dài của cá thí nghiệm 40 Bảng 4.12 Tăng trưởng đặc biệt về chiều dài và trọng lượng của cá 41
Trang 10DANH SÁCH CÁC ĐỒ THỊ
Đồ thị 4.1 Sự biến động hàm lượng oxy hòa tan ở các nghiệm thức 22 Đồ thị 4.2 Sự tương quan giữa trọng lượng cá và lượng ăn của cá 24
Đồ thị 4.4 Trọng lượng trung bình của cá sau thí nghiệm 27 Đồ thị 4.5 Tỷ lệ tăng trọng đặc biệt của cá thí nghiệm 29 Đồ thị 4.6 Sự phân đàn của cáở thí nghiệm II 32Đồ thị 4.7 Tỷ lệ sống trung bình của cá thí nghiệm 33
Đồ thị 4.10 Sự tăng trưởng chiều dài của cá sau thí nghiệm 40
Trang 11DANH SÁCH CÁC HÌNH ẢNH
Hình 1.1 Bản đồ phân bố cá bống tượng ở các nước 3
Hình 3.2 Trùn quế sử dụng làm thức ăn cho cá thí nghiệm 13 Hình 3.3 Hệ thống bể cho thí nghiệm II và thí nghiệm III 17
Hình 4.2 Cá cuối thí nghiệm ở các nghiệm thức nền đáy 38
Trang 12I GIỚI THIỆU 1.1 Đặt Vấn Đề
Trong những năm gần đây, nghề nuôi trồng thủy sản ở nước ta phát triển không ngừng, theo mục tiêu phát triển của quốc gia là đa dạng hóa đối tượng nuôi trồng thủy sản để đạt sự bền vững và tạo ra những sản phẩm có giá trị kinh tế và xuất khẩu Một trong những đối tượng rất có giá trị kinh tế hiện nay được nhiều hộ nuôi
quan tâm đến là cá bống tượng (Oxyeleotris marmoratus Bleeker) Đây là loài cá
nước ngọt đặc trưng của khu vực Đông Nam Á như: Indonesia, Malaysia, Singapore, Thái Lan, Việt Nam
Nắm bắt được lợi nhuận từ việc nuôi cá bống tượng, nhiều hộ nông dân ở các tỉnh Nam Bộ như: Đồng Nai, Tiền Giang, An Giang, Trà Vinh, Vĩnh Long, Cà Mau,… đã đầu tư vào nuôi cá bống tượng Tuy nhiên họ gặp phải một số khó khăn như nguồn giống chủ yếu từ đánh bắt tự nhiên và ngày một khan hiếm, kích cỡ cá thả nuôi không đồng đều, cá thường bị xây xát nên dễ chết khi nuôi Đã có nhiều nơi sản xuất giống thành công đáp ứng một phần nhu cầu nhưng tỷ lệ sống đến giai đoạn cá giống không cao, chất lượng con giống không ổn định, khi người dân mua giống về nuôi thì cá chết nhiều ở những tháng nuôi đầu và cá lớn không đồng đều Vấn đề này có thể là do môi trường nuôi, mật độ, thức ăn ở mỗi giai đoạn phát triển của cá
Một trong những yếu tố tác động lớn đến quá trình ương nuôi là yếu tố môi trường Nhiều nghiên cứu cho thấy khả năng tìm mồi, bắt mồi của cá phụ thuộc vào các yếu tố vật lý, hóa học và sinh học của môi trường Hầu hết những nghiên cứu trên cá bống tượng đều tiến hành đến giai đoạn cá một tháng tuổi Các nghiên cứu ở những giai đoạn sau đó rất ít
Để có những đánh giá ban đầu về những yếu tố môi trường ảnh hưởng trong giai đoạn ương nuôi và được sự phân công của Ban chủ nhiệm KhoaThủy Sản Trường
Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh chúng tôi đã thực hiện đề tài: “Aûnh hưởng của một số yếu tố môi trường trong ương nuôi cá bống tượng”
Trang 131.2 Mục Tiêu Đề Tài
Đánh giá về khả năng ăn mồi của cá bống tượng trong môi trường nước trong và nước xanh với thức ăn là trùn quế
Tìm hiểu về tăng trưởng, tỉ lệ sống, sự phân đàn của cá bống tượng được ương nuôi trong môi trường nước trong, nước xanh, nước trong có bèo và nước xanh có bèo
Tìm hiểu về tăng trưởng, tỉ lệ sống, sự phân đàn của cá bống tượng được ương nuôi trong môi trường có nền đáy khác nhau
II TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Trang 142.1 Một Số Đặc Điểm Sinh Học Cá Bống Tượng
Loài: Oxyeleotris marmorata Bleeker, 1852
Tên tiếng Việt: Cá Bống tượng
2.1.2 Phân bố
Cá bống tượng là loài cá nước ngọt bản địa ở khu vực Đông Nam Á bao gồm: Thái Lan, Malaysia, Singapore, Brunei, Indonesia, Lào, Campuchia và Việt Nam (Cheach và ctv, 1994) Ở nước ta, cá bống tượng hiện diện tự nhiên ở trong sông, kênh rạch, ao hồ có nước lưu thông thuộc đồng bằng sông Cửu Long (nhiều nhất ở vùng Châu Đốc, Hồng Ngự) Ngoài ra nó cũng được tìm thấy ở vùng hạ lưu sông Sài Gòn, sông Vàm Cỏ và sông Đồng Nai nhưng sản lượng không đáng kể Cá bống tượng sống ở hạ lưu và cửa sông (Mai Đình Yên, 1983; trích bởi Nguyễn Hữu Tân,1998)
(Nguồn: http://www.obis.org.au/cgi-bin/cs_map.pl)
Hình 1.1 Bản đồ phân bố cá bống tượng ở các nước
2.1.3 Đặc điểm hình thái
Trang 15Theo Nguyễn Hữu Tân (1998), cá bống tượng là loài cá có kích thước lớn nhất trong họ cá bống nước ngọt Thân cá mập, phần thân trước hơi dẹp bằng, phần sau dẹp ngang về phía đuôi Vảy nhỏ, phủ khắp thân và đầu (trừ mõm) Đầu và trán trước của thân phủ vảy tròn, phần sau phủ vảy lược, vảy phủ lên gốc vây ngực và quá ½ vây đuôi Đầu rộng, hơi dẹp miệng chẻ rộng và sâu hướng lên trên Chiều dài đầu gần bằng ¼ chiều dài thân Mắt nằm ở mặt trên của đầu, hơi lồi Các vây to và mềm Vây đuôi tròn, cơ gốc vây đuôi phát triển Vây ngực màu cam với nhiều hàng chấm đen nằm song song với tia vây, rìa vây bụng màu cam Cá có màu nâu đỏ hoặc nâu vàng, trên thân có những đám vân lớn như da beo
Hình 1.2 Hình dạng ngoài cá bống tượng
2.1.4 Đặc điểm sinh thái
Cá bống tượng sống trong các thủy vực nước ngọt như sông ngòi, kênh rạch,
ao, đìa, các hồ chứa tự nhiên hoặc nhân tạo và cả nước lợ với nhiệt độ thích hợp
26-320 C, pH từ 6,5-7,5, độ sâu không quá 10 m (Kottelat và ctv, 1993; trích bởi Nguyễn Phú Hòa, 2006)
Cá bống tượng có tập tính sống đáy, hoạt động nhiều vào ban đêm, ban ngày thường vùi mình dưới lớp bùn non Chúng có thể sống và sinh trưởng bình thường trong môi trường có pH = 5 và nước nhiễm mặn có độ muối lên đến 15o/oo nếu được thuần hóa tốt (Huỳnh Thị Mỹ Hương, Phan Bá Lộc, 1986; trích bởi Nguyễn Hữu Tân, 1998) Trong ao nuôi, cá thích sống ẩn náu ven bờ, những nơi có hang hốc, cỏ rong và những thực vật thủy sinh làm giá đỡ, đặc biệt khi gặp nguy hiểm, chúng hay chúi sâu có khi đến 1 m vào lớp bùn đáy và có thể sống hàng chục giờ trong đó (Phùng Thị Lan, Huỳnh Văn Mừng, 1987; trích bởi Nguyễn Hữu Tân, 1998) Cá cần có dưỡng khí trên 3 mg/l, song cá có thể chịu đựng ở môi trường dưỡng khí thấp vì cá có
cơ quan hô hấp phụ (Dương Tấn Lộc, 2000)
2.1.5 Đặc điểm dinh dưỡng
Trang 16Cá bống tượng có miệng rộng, trong hàm có nhiều răng mọc thành dãy Cơ quan tiêu hóa có dạ dày to, ruột ngắn; tỷ lệ chiều dài ruột trên chiều dài chuẩn (Li/L0) là 0,4 (Xuân và ctv, 1994; trích bởi Nguyễn Phú Hòa, 2006) Cá bống tượng là loài có tính ăn động vật là chủ yếu Khi một tháng tuổi cá có tính ăn đặc trưng và ổn định của loài là cá, tôm tép nhỏ, cua con Tuy là loài cá dữ nhưng cá bống tượng không rượt đuổi mồi như cá lóc mà chỉ nằm rình mồi Ngoài thành phần thức ăn chủ yếu là động vật, chiếm 79,02% về khối lượng, trong dạ dày của chúng thức ăn cũng có nguồn gốc thực vật như hạt cỏ, hạt lúa, rễ mầm thực vật thủy sinh, các mảnh vụn của khoai lang và một số thức ăn khác không rõ nguồn gốc (Huỳnh Thị Mỹ Hương, Phan Bá Lộc, Võ Phước Hưng, 1986; trích bởi Nguyễn Hữu Tân, 1998)
Cá bống tượng thuộc nhóm cá dữ, thức ăn là các động vật không xương sống và cá con (Mai Đình Yên, 1983, trích bởi Nguyễn Hữu Tân, 1998)
2.1.6 Đặc điểm sinh sản
Theo Nguyễn Văn Hảo và ctv (1994), mùa sinh sản của cá kéo dài từ tháng 4 đến tháng 10 (tập trung từ tháng 5 đến tháng 8) Cá đẻ nhiều lần trong năm, thời gian tái thành thục khoảng 30 ngày Cá đẻ trứng dính, trứng bám vào giá thể, cây cỏ thủy sinh, gốc thân cây chìm trong nước Ở tuổi dưới một năm cá dễ thành thục hơn và thời gian tái phát dục ngắn
Tuổi thành thục và tham gia sinh sản lần đầu của cá bống tượng là 8-9 tháng tuổi Hệ số thành thục của cá thấp chỉ 1,5-2% nhưng sức sinh sản cao 70-220 trứng/g thể trọng, trung bình 137-197 trứng/g Khi đã thành thục, cá cái có gai sinh dục thon nhọn về phía sau và kéo dài đến vây hậu môn, cá đực có gai sinh dục hình tam giác, dẹt thon về sau Cá có tập tính chăm sóc trứng (Nguyễn Tuần, 1993) Bãi đẻ của cá nằm ven bờ và sâu trong nước nơi có cây cỏ thủy sinh hay các gốc thân cây chìm (Dương Tấn Lộc, 2000)
2.1.7 Đặc điểm sinh trưởng
So với các loài cá khác, cá bống tượng có tốc độ tăng trưởng chậm ở giai đoạn cá dưới 100 g, cá từ 100 g trở lên tốc độ tăng trưởng khá hơn Ở giai đoạn từ cá bột đến cá hương cá phải mất thời gian 2-3 tháng mới đạt được chiều dài 3-4 cm Từ cá hương cần phải nuôi 4-5 tháng cá đạt kích cỡ cá giống 100g/con Để có cỡ 100g từ lúc đẻ phải mất thời gian nuôi từ 7-9 tháng Trong tự nhiên, những cá sống sót sau khi nở cần khoảng 1 năm để có thể đạt kích cỡ từ 100-300 g/con Để có cá thương phẩm 400g trở lên, cá giống có trọng lượng 100 g, phải nuôi ở ao từ 5-8 tháng, ở bè 3-6 tháng (Dương Tấn Lộc, 2000)
2.2 Một Số Yếu Tố Aûnh Hưởng Đến Lượng Ăn ở Cá Aên Động Vật
Trang 17Lượng ăn của cáphụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố môi trường Khả năng của cá để tìm mồi, bắt mồi, tiêu hóa thức ăn và hấp thụ các dưỡng chất có lẽ phụ thuộc vào các yếu tố vật lý, hóa học và sinh học trong môi trường như ở sơ đồ 2.1 (Kestemont và Baras, 2001) Một số yếu tố chỉ tác động đến một giai đoạn của quá trình từ tìm mồi,bắt mồi đến tiêu hóa thức ăn, hấp thụ, chuyển đổi thức ăn.Ngược lại có những yếu tố khác, chẳng hạn như nhiệt độ, đã được biết có ảnh hưởng đến khả năng tìm mồi, bắt giữ con mồi, quá trình tiêu hóa, hấp thụ và chuyển đổi các dưỡng chất
Sơ đồ 2.1 Tổng quan các yếu tố môi trường ảnh hưởng đến lượng ăn của cá
(Kestemont và Baras, 2001)
2.2.1 Ánh sáng
Ánh sáng mặt trời là nguồn ánh sáng tự nhiên thiết yếu đối với đời sống mọi sinh vật Những tác động của cường độ chiếu sáng, thời gian chiếu sáng lên sự phát triển ở giai đoạn ấu trùng và ấu niên của một số loài cá đã được nghiên cứu Kết quả cho thấy, ngưỡng cường độ ánh sáng yếu là cần thiết cho phép ấu trùng phát triển và tăng trưởng bình thường Như ở cá hồi là 200-600 lux (Mortensen and Damsgard, 1993; trích bởi Kestemont và Baras, 2001) Có rất ít những nghiên cứu về ảnh hưởng của ánh sáng trên giai đoạn ấu niên Wallace và ctv (1998; trích bởi Kestemont và Baras, 2001) nhận thấy sự tăng trưởng cao hơn ở cáhồi cỡ 0,7 g duy trì trong thời
Quan hệ cùng loài
- Mật độ
- Cỡ cá
Sinh học
- Phiêu sinh
- Sinh vật cạnh tranh
- Sinh vật ăn mồi
- Màu sắc bể
- Vận tốc nước
Lượng ăn
Trang 18gian 35 ngày ở cường độ ánh sáng 700 lux (so với 200, 50 và10 lux) Ở cá trê
(Clarias garpriepinus) cỡ 0,79 g ở mật độ thấp cho tăng trưởng cao hơn một cách có ý
nghĩa trong điều kiện cường độ ánh sáng giảm ở những nơi có giá đỡ (Hossain và ctv, 1998; trích bởi Kestemont và Baras, 2001 ) Menasveta (2000; trích bởi nguyễn Phú Hòa, 2006) cũng cho rằng cá bống tượng thường ẩn nấp ở đáy ao trong suốt cả ngày và trở lên hoạt động vào ban đêm như thể chúng không ưa ánh sáng mạnh
Ngưỡng cường độ độ ánh sáng khác nhau ở các loài cá, cường độ ánh sáng cao
như ở cá vược Perca fluviatilis là 1500 lux (Dabrowski, 1982; trích bởi Kestemont và Baras, 2001 ) hoặc 860 lux ở cá bơn Psetta maxima (Huse, 1994; trích bởi Kestemont và Baras, 2001); ngược lại cá tuyết đại tây dương Gadus morhua có khả năng bắt mồi
ở cường độ ánh sáng thấp (0,1-1,0 lux) Những thay đổi về cường độ ánh sáng có thể dẫn đến những khác biệt trong đặc điểm bắt mồi của cá như kích cỡ con mồi, sự vận động, màu sắc của con mồi
Độ đục của môi trường ngăn cản ánh sáng xuyên sâu vào môi trường và khả năng phát hiện con mồi của cá vì vậy nó được cho rằng có ảnh hưởng tiêu cực đến lượng ăn của cá (Ang và Petrell, 1997; Mallekh và ctv, 1998; trích bởi Kestemont và
Baras, 2001) Tuy nhiên ở một số loài, chẳng hạn như cá vược măng Stizostedion
lucioperca, việc giảm cường độ ánh sáng do tăng độ đục đã cho thấy thúc đẩy việc
bắt mồi (Bristow và Summerfelt,1994; trích bởi Kestemont và Baras, 2001)
Sự phản chiếu ánh sáng từ bên ngoài bể nuôi có thể dẫn đến sinh ra những bóng do các hoạt động của con người, những sự lay động này có thể dẫn đến cá ngừng ăn trong nhiều giờ ở cá vược măng (Nagel, 1978; trích bởi Kestemont và Baras, 2001 1976) và cá vược vàng (Malison và Held, 1992; trích bởi Kestemont và Baras, 2001) Nhiều loài cá ăn động vật nổi được quan sát cho thấy rằng dường như chúng bị hạn chế trong đáp ứng ăn mồi khi sự phản chiếu là đủ cho sự nhận biết con
mồi chẳng hạn như cá chẽm Lates calcarifer (Davis, 1985; trích bởi Kestemont và
Baras, 2001)
2.2.2 Giá thể và nền đáy
Herbert và ctv (2003; trích bởi Nguyễn Phú Hòa, 2006) đã nghiên cứu ảnh
hưởng của giá thể và mật độ thả lên sự tăng trưởng của cá Oxyeleotris lineolatus, một loài có quan hệ gần với cá bống tượng Oxyeleotris marmoratus Kết quả cho thấy
việc cho thêm giá thể trong quá trình ương nuôi cá hương (62,8 ± 0,8 mm) có ảnh hưởng một mức nào đó đến tăng trưởng nhưng không có sự khác biệt rõ nét, cá trong
ao được cho thêm giá thể có tăng trọng nhỉnh hơn cá trong ao không có giá thể Giá
thể cũng làm tăng tỷ lệ sống và tăng trưởng của cá trê Clarias gariepinus trong điều kiện của trại giống (Hossain và ctv , 1998)
2.2.3 Mật độ ương nuôi
Trang 19Mật độ cao trong ương nuôi được xem như một yếu tố gây stress với những ảnh hưởng xấu đến lượng ăn, tăng trưởng và tiến trình sinh lý trong cơ thể cá (Wedermeyer, 1997) Những ảnh hưởng xấu có thể do hậu quả của chất lượng nước suy giảm hoặc sự giảm tương xứng trong phân phối thức ăn khi nuôi ở mật độ cao Chẳng hạn trong môi trường mà thức ăn giới hạn về số lượng và sự phân bố của chúng trong môi trường thì mật độ nuôi cao có thể dẫn đến làm giảm tăng trưởng, gia tăng mức độ phân đàn và thậm chí thúc đẩy sự ăn lẫn nhau khi không phải tất cả cá đều lấy được thức ăn như nhau như ở cá hồi (Thorpe và ctv, 1990, trích bởi Kestemont và Baras, 2001) Tuy nhiên, trong một số nghiên cứu lại cho thấy rằng, thả cá ở mật độ nuôi cao dẫn đến gia tăng tỷ lệ sống, tăng trưởng tốt hơn và giảm kích cỡ cá không đồng nhất trong quần đàn như ở cá rô phi (Merlard, 1986; trích bởi Kestemont và Baras, 2001) hay cá hồi núi (Jorgensen, 1993; trích bởi Kestemont và Baras, 2001 )
2.3 Các Công Trình Nghiên Cứu Trong và Ngoài Nước về Sản Xuất Giống Cá Bống Tượng
Có nhiều nghiên cứu về sản xuất giống và nuôi cá bống tượng ở các nước trong khu vực Đông Nam Á Năm 1973 K.K Tan và T.J Lam lần đầu tiên cho đẻ nhân tạo cá bống tượng thành công bằng HCG với phương pháp thụ tinh ướt, tỷ tệ thụ tinh và tỷ lệ nở rất cao (90%), nhưng tất cả cá bột đã chết sau đó vài ngày Nghiên cứu của C.K.Kweilin và Tavarutmaneegul (1988) đã thành công trong ương nuôi cá bống tượng trong giai đoạn 1 (30 ngày tuổi) đạt tỷ lệ sống 7-55% (trung bình 20%) bằng thức ăn kết hợp lòng đỏ trứng và rotifer Ương giai đoạn 2 (30 - 60 ngày) với thức ăn Moina sp đạt tỷ lệ sống 60-99% và cỡ cá 3,8 cm
Ở nước ta cũng có nhiều nghiên cứu về sinh học và sinh sản cá bống tượng Từ năm 1985 Khoa Thủy sản trường Đại Học Cần Thơ bắt đầu nghiên cứu khả năng sinh sản của cá bống tượng Năm 1985, Đại Học Cần Thơ nghiên cứu ương cá bống tượng trên bể ciment với thức ăn từ gây màu nước và moina, kết quả đạt tỷ lệ sống 5% (sau
30 ngày ương), năm 1986 các tác giả Bùi Lai, Trương Trọng Nghĩa, Bùi Văn Bốn đã tiến hành ương cá bột trong ao đất và đạt tỷ lệ sống 3-4% sau 60 ngày tuổi Năm
1988, Khoa thủy sản trường Đại Học Cần Thơ nghiên cứu ương cá bống tượng trong
ao đất và đạt tỷ lệ sống 11,4% sau 30 ngày ương
Năm 1985, Khoa Thủy sản trường Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh cũng đã bắt đầu tiến hành nghiên cứu về sinh sản và ương nuôi cá bống tượng Năm 1988, Ngô Bá Thành và ctv đã thí nghiệm thành công trong kích thích sinh sản nhân tạo cá bống tượng bằng HCG và ương nuôi cá bống tượng bột thành cá giống Kết quả tiêm kích thích bằng não thùy đạt tỷ lệ cá đẻ 87%, tỷ lệ thụ tinh 96,5%; bằng HCG đạt tỷ lệ cá đẻ 90%, tỷ lệ thụ tinh 98% Trong ương nuôi cá bột thành cágiống sau 60 ngày
Trang 20tuổi đạt tỷ lệ sống từ 20,62 tới 23,92% bằng thức ăn là lòng đỏ trứng và đạt tỷ lệ sống từ 10,20% đến 18,605% bằng thức ăn là bột đậu nành
Năm 1985, các tác giả Vương Học Vinh, Nguyễn Duy Thanh, Nguyễn Thị Dung của UBKHKT và Sở Thủy sản An Giang cũng đã nghiên cứu sinh sản và ương nuôi cá bống tượng Trong sinh sản nhân tạo, các tác giả đã sử dụng nghiệm thức tiêm kết hợp não + HCG và nghiệm thức tiêm một lọai kích dục tố HCG, kết quả cả hai nghiệm thức cá đều đẻ tốt Trong thí nghiệm ương với thức ăn là lòng đỏ trứng, bột đậu xanh … giai đoạn cá bột lên cá hương đạt tỷ lệ sống không đáng kể sau 15 ngày, ương giai đoạn từ 15 lên 20 ngày đạt tỷ lệ sống là 25%
Năm 1992-1993, Nguyễn Hữu Tân đã nghiên cứu sinh sản và ương nuôi cá bống tượng tại Trại Thực nghiệm thủy sản Tân Xân (Đồng Tháp) Trong sinh sản bằng phương pháp kích thích nước làm tổ cho cá sinh sản đặt cạnh bờ kết quả cá đẻ tự nhiên rất tốt Trong ương nuôi ở trại này cũng đã thành công ương cá bột đến 30 ngày tuổi trong bể ciment đạt tỷ lệ sống 12% năm 1993 và sau đó năm 1994 tỷ lệ này được nâng cao lên 22%
Năm1986, Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản II cũng nghiên cứu sinh sản và ương nuôi cá bống tượng Trong sinh sản, kết quả phương pháp cho sinh tự nhiên trong ao và cho sinh nhân tạo đều thu được trứng Trong ương nuôi, kết quả ương trong bể ciment đạt được giai đoạn cá bột lên cá hương (sau 50 ngày tuôi tỷ lệ sống là 2,8% và giai đọan cá hương lên cá giống (sau 48 ngày tiếp theo) là 81% (Nguyễn Gia Ban,1986) Năm 1994, tác giả Nguyễn Văn Hảo cùng nhóm cộng tác viên của viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II đã nghiên cứu giải quyết thức ăn của ấu trùng cá bống tượng và kết quả ương bằng thức ăn gồm lòng đỏ trứng và bột đậu nành có bổ sung rotifer (dưới 18 ngày) hoặc moina (trên 18 ngày) đạt tỷ lệ sống 20-25% so với mật độ ương 1-3 con/lít trong 30 ngày ương
Năm 1999, tác giả Phạm Văn Khánh nghiên cứu hoàn thiện quy trình sản xuất giống và nuôi thành phẩm cá bống tượng ở TP Hồ Chí Minh Về sinh sản, tác giả đã cho cá đẻ tự nhiên trong ao bằng cách làm tổ cho cá đẻ, kết quả cá đẻ tốt trong ao Về ương nuôi cá bột lên cá giống đã đạt kết quả ương nuôi trong bể ciment đến 35 ngày tỷ lệ sống từ 31,9-53%, ương nuôi cá 35 ngày đến 120 ngày đạt tỷ lệ sống 35-42% Thức ăn trong tuần lễ đầu và tuần lễ thứ hai là lòng đỏ trứng và bột đậu nành, trong tuấn thứ ba có bổ sung thêm moina
Mặc dầu các kết quả trên cho thấy có một số nghiên cứu ương cá bống tượng đạt tỷ lệ sống cao Tuy nhiên đến nay việc ứng dụng các kết quả này vào sản xuất hầu như chưa có Hiện nay, tại Tiền Giang có một nông hộ đã sản xuất đại trà cá bống tượng giống để cung cấp cho người nuôi ở các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, theo ý kiến của nông hộ thì tỷ lệ sống trong giai đọan ương nuôi đến 45 ngày tuổi đạt 10-15%
Trang 212.4 Tình Hình Nuôi Cá Bống Tượng những Năm Gần Đây
2.4.1 Ở Campuchia
Cá bống tượng gần đây trở thành giống loài nuôi đầy triển vọng do chính giá cả trên thị trường của nó Ở Campuchia, cá bống tượng là một trong những loài quan trọng trong hình thức nuôi lồng (Department of Fisheries, Campuchia, 2001; trích bởi Nguyễn Phú Hòa, 2006) Vật liệu làm lồng là gỗ hoặc tre Nguồn cá giống phụ thuộc vào tự nhiên theo mùa vụ Một số báo cáo cho thấy, nông dân nuôi cá đang phải đối mặt với những vấn đề như thiếu nguồi đầu vào, cá giống, thức ăn, kỹ thuật nuôi, công thức thức ăn, cho ăn và quản lý lồng nuôi Sản lượng cá nuôi ao trong năm 2001 là 21 tấn và con giống cũng chủ yếu là từ tự nhiên
2.4.2 Ở Thái Lan
Hình thức nuôi chủ yếu là trong các lồng nổi đặt ở sông, hồ chứa, kênh dẫn nước (Lin và Kaewpuitoon, 2000; trích bởi Nguyễn Phú Hòa, 2006) Cá bống tượng được nuôi thâm canh trong những lồng nổi hình hộp (10-30 m3) làm từ gỗ hoặc tre Mật độ thả từ 30-180 cá/m2 với kích cỡ 100 g/con Cá được cho ăn với cá biển băm nhỏ một ngày một lần vào lúc chiều tối Với tỷ lệ sống 90%, sản lượng cá thương phẩm (500g/con) có thể đạt 20-60 kg/m2 sau 8 tháng nuôi (Lin và Kaewputoon, 2000; trích bởi Nguyễn Phú Hòa, 2006) Năm 1979 sản lượng xuất khẩu tính được 165 tấn đạt giá trị 1,5 triệu đôla Sản lượng năm 1990 là 522 tấn và nhanh chóng giảm xuống còn 15 tấn vào năm 1996 (Menasveta, 2000; trích bởi Nguyễn Phú Hòa, 2006) Dù thế nào đi nữa, bệnh và nguồn cá giống đã làm giảm sản lượng và giới hạn việc nuôi cá bống tượng giá trị cao
2.4.3 Ở Việt Nam
Nông dân ở các tỉnh Đồng Nai, Đồng Tháp, Tiền Giang ứng dụng kỹ thuật nuôi lồng cá bống tượng đã có được mùa vụ bội thu và lợi nhuận cao từ loài cá này Cá được nuôi trong lồng bằng gỗ hoặc tre có kích thước 1 x 1,5 x 1,2 m hoặc 3 x 4 x 1,5 m Mật độ thả 25-40 cá/m2 ở kích cỡ 50-200 g/con (Lộc, 2001) Thức ăn là tép, cá tạp, trùn quế, ốc, cua cho ăn vào buổi sáng sớm và chiều tối Sau 5-7 tháng có thể đạt được 400 g/con Tuy nhiên đợt bùng phát dịch đã làm suy tàn nghề nuôi cá lồng vào những năm 1990 ( Nguyễn Văn Hảo và ctv, 1996)
Ở Đồng Nai, nông dân đã thu được lợi nhuận cao từ nuôi cá bống tượng trong
eo ngách ở hồ chứa Trị An Cá giống (ở kích cỡ trung bình 81 g) chủ yếu thu từ lòng hồ và thả nuôi ở mật độ 960 cá/ha Cá được nuôi ghép với cá mè hoa, mè trắng, mè vinh, trắm cỏ; mật độ cá nuôi ghép là 2540 cá/ha Phân bón và thức ăn được cho thêm vào khu vực nuôi Sau bảy tháng nuôi, cá bống tượng đạt trọng lượng trung bình
Trang 22353 g/cá với năng suất thuần 172 kg/ha/vụ, tỷ lệ sống 73,7% Lợi nhuận thu từ việc bán cá là 6405,5 dola trong đó cá bống tượng chiếm khoảng 88% lợi nhuận (Lương và ctv, 2005; trích bởi Nguyễn Phú Hòa, 2006)
Ở Cà Mau, nông dân được khuyến khích nuôi cá bống tượng trong ao Họ thả cá hơn 100 g/con với thời gian nuôi 5-12 tháng và con giống cũng được thu từ tự nhiên Kích cỡ ao nuôi từ 300-400 m2 độ sâu 1,5-1,8 m Mật độ trong ao nước chảy là 8-10 cá/m2 và trong ao có trao đổi nước nhờ thủy triều là 4-5 cá/m2 Thức ăn tươi sống như tép, cá tai tượng, rohu cũng được thả trong ao để cá bống tượng tìm được thức ăn cả ngày với hệ số thức ăn bằng 6
3 Vài nét về trùn quế
Trùn quế rất dễ nuôi vì kỹ thuật nuôi đơn giản, không cần những kỹ năng đặc biệt, nguồn thức ăn phong phú và rẻ tiền Chuồng trại đơn giản Có thể nuôi trong nhà ngoài trời với qui mô lớn nhỏ khác nhau Trùn quế qua thực tế đã tỏ ra thích ứng với mọi vùng khi hậu ở nước ta nhất là các tỉnh phía Nam
Nuôi trùn quế đã tạo ra một nguồn thức ăn giàu đạm động vật cho các đối tượng thủy sản như tôm, cá, lươn, ếch, ba ba Trùn quế được ưa chuộng và được nuôi
phổ biến hiện nay là loài Perionyx exkavatus loài này có thân hơi dẹt, nhọn hai đầu
rất hoạt động, dài từ 150-250 mm, đường kính vòng thân từ 1,5-2 mm, màu mận chín (Ngô Trọng Lư, 1994)
Trong trùn quế khô có 6,1% protein, 7,9% mỡ, 14,2% chất đường Trùn tươi có 80,18% nước, 11,76% protein thô, 1,32% béo thô, 6,64% glucid thô, 0,11% xơ thô (Ngô Trọng Lư, 1994)
Trang 23III VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Thời Gian và Địa Điểm Thực Hiện Đề Tài
Đề tài được tiến hành từ ngày 20/3/2006 đến ngày 2/7/2006 tại Trại thực nghiệm khoa Thủy sản trường Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh
3.2 Đối Tượng Nghiên Cứu
Đối tượng nghiên cứu là cá bống tượng cỡ 0,5 g và0,8 g Cá được lấy từ trại giống cá bống tượng Tám Tiếu thuộc ấp Tân Thuận xã Bình Đức huyện Châu Thành tỉnh Tiền Giang
Hình 3.1 Cá bống tượng cỡ 0,5 g
3.3 Thức Ăn Cho Cá
Thức ăn cho cá thí nghiệm là trùn quế
Trước khi sử dụng mồi trùn quế, chúng tôi đã tiến hành thí nghiệm trên đối tượng là trùn chỉ – một loại mồi được sử dụng hàng ngày trong giai đoạn ương nuôi cá bống tượng cỡ 1-5 cm Mặc dù trùn chỉ đã được sửa sạch và khử trùng bằng Iod nhưng chỉ sau một tuần thí nghiệm, cá bắt đầu xuất hiện nấm ở đầu và và gốc vây đuôi Tiến hành tắm cá với NaCl 3% nhưng ngày sau cá bắt đầu chết với những đốm đỏ ở bụng bệnh lây lan rất nhanh, cá chết với tỷ lệ cao 40-50% ở hai ngày tiếp theo
Trang 24Chúng tôi tiến hành bố trí lại thí nghiệm nhưng một lần nữa không thành công Kết quả trên bắt buộc chúng tôi phải lựa chọn một loại thức ăn khác để thay thế Hai loại thức ăn ưa thích của cá bống tượng là tép bò và cá con thì số lượng không ổn định và giá khá cao Nên chúng tôi thử tiến hành thí nghiệm với thức ăn mới là trùn quế – một loại thức ăn cũng đã được sử dụng ở một số trại giống
Hình 3.2 Trùn quế sử dụng làm thức ăn cho cá thí nghiệm
3.4 Vật Liệu và Trang Thiết Bị Thí Nghiệm
Để tiến hành thí nghiệm chúng tôi cần một số trang thiết bị và vật liệu thí nghiệm sau:
- Nguồn nước: lấy từ nguồn nước máy được trữ hai ngày
-Bể ximăng có kích thước 2 x 1x 0.5 m dùng để nuôi dưỡng cá trước khi bố trí thí nghiệm
- Bể thí nghiệm: là những thùng xốp được lót bạt có kích thước 36x56x40 cm
- Bể composite dùng để nuôi tảo
- Hệ thống sục khí, thau nhựa, vợt, kéo
-Cân tiểu li với độ chính xác mg, thước, giấy kẻ ôli
- Máy đo nhiệt độ-pH, máy đo DO
Trang 253.5 Phương Pháp Nghiên Cứu
3.5.1 Cá thí nghiệm
Cá sau khi mua về được nuôi dưỡng một tuần trước khi bố trí thí nghiệm Lựa chọn những cá khỏe mạnh, không bị dị hình, dị tật và đồng đều về cỡ để bố trí thí nghiệm
3.5.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm
Nhằm khảo sát lượng trùn quế cho cá ăn; ảnh hưởng của nước trong, nước xanh, nước trong và nước xanh kết hợp với bèo và ảnh hưởng của nền đáy trong ương nuôi cá bống tượng chúng tôi bố trí các thí nghiệm như sau:
3.5.2.1 Thí nghiệm I : Khảo sát lượng ăn của cá theo ngày đêm trong môi trường nước trong và nước xanh
Thí nghiệm được thực hiện trên các cỡ cá sau: 0,5 g; 0,8 g; 1,8 g; 2,5 g; 3,0 g;và 4,0 g Mỗi cỡ cá đều thí nghiệm với hai nghiệm thức (NT):
NTI: Nghiệm thức nước trong (nghiệm thức đối chứng)
NTII: Ngiệm thức nước xanh
Mỗi nghiệm thức được lặp lại ba lần, cá được bố trí ngẫu nhiên vào mỗi bể với mật độ 10 cá/bể Thể tích bể 0,36 x 0,56 x 0,4 m Thí nghiệm được tiến hành trong ba ngày
Hằng ngày theo dõi màu nước tảo ở NTII và bổ sung tảo vào bể để duy trì màu nước trong bể thí nghiệm Qua một số tài liệu, chúng tôi được biết, trong ao ương có độ trong khoảng 30 cm, vì vậy chúng tôi bổ sung nước xanh vào các bể của NTII đến khi không còn nhìn thấy đáy bể
Theo tài liệu nghiên cứu của các tác giả Phạm Văn Khánh (1999), Dương Tấn Lộc (2000), lượng ăn của cá bống tượng cỡ 3-10 cm (3,5-9 g) từ 8-12% trọng lượng thân Nên chúng tôi cho cá ăn với lượng 30% trọng lượng thân để đảm bảo rằng cá luôn tìm được thức ăn suốt cả ngày
Trang 263.5.2.2 Thí nghiệm II : Khảo sát ảnh hưởng của nước trong, nước xanh và bèo đến sự tăng trưởng, tỉ lệ sống, tỉ lệ phân đàn của cá bống tượng
Thí nghiệm được bố trí với bốn nghiệm thức:
NT1: Nghiệm thức nước trong (nghiệm thức đối chứng)
NT2: Nghiệm thức nước trong có lục bình
NT3: Nghiệm thức nước xanh
NT4: Nghiệm thức nước xanh có lục bình
Đối với các bể của NT2 và NT4, chúng tôi sử dụng bèo lục bình cỡ nhỏ để che phủ 50% mặt nước bể Do trong thí nghiệm này có sử dụng yếu tố nước xanh nên chúng tôi không che phủ bèo hết toàn bộ bể để yếu tố nước xanh được thể hiện ảnh hưởng của nó trong thí nghiệm Bèo được rửa sạch và ngâm nước muối trước khi cho vào bể (hình 3.3)
Ở các bể của NT3 và NT4, chúng tôi bổ sung nước xanh vào các bể đến khi không còn nhìn thấy rõ đáy bể để có được độ đục cần thiết như một số tác giả đã tiến hành nghiên cứu trên cỡ cá 3 cm Thường xuyên theo dõi màu nước ở NT3, NT4 và bổ sung tảo để duy trì được màu nước trong thí nghiệm
Bể thí nghiệm là những thùng xốp có lót bạt với kích thước: 0,36 x 0,56 x 0,36
m Cá đưa vào thí nghiệm có chiều dài trung bình là 3,64 cm, và trọng lượng trung bình là 0,51 g Thí nghiệm được bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên
Cá được cho ăn với lượng ăn tối đa thỏa mãn nhu cầu của cá Thức ăn cho cá ăn trong suốt hai tháng thí nghiệm là trùn quế được cắt thành đoạn nhỏ để cá dễ ăn
Các yếu tố ban đầu của thí nghiệm được thể hiện trong bảng:
Cỡ cá TN
Mật độ ban đầu
Điều kiện nuôi
Thời gian nuôi
Số lần lặp lại
0,51 g
20 cá/bể Nước trong
2 tháng
3 lần
0,51 g
20 cá/bể Nước trong+bèo
2 tháng
3 lần
0,51 g
20 cá/bể Nước xanh
2 tháng
3 lần
0,51 g
20 cá/bể Nước xanh+bèo
2 tháng
3 lần
Trang 27Sơ đồ bố trí thí nghiệm
Nước xanh + Bèo
Nước trong
Nước trong + Bèo
Nước xanh
Nước xanh + Bèo
Nước trong
Nước trong + Bèo
Nước xanh
Nước xanh + Bèo
3.5.2.3 Thí nghiệm III : Khảo sát sự tăng trưởng, tỉ lệ sống, tỉ lệ phân đàn của cá
khi ương nuôi cá trong các bể có nền đáy khác nhau
Cá bống tượng có tập tính sống đáy nên chúng tôi tiến hành khảo sát ảnh hưởng của những nền đáy khác nhau với bốn nghiệm thức là:
NT1: Nghiệm thức nền đáy cát
NT2: Nghiệm thức nền đáy sỏi
NT3: Nghiệm thức nền đáy bùn
NT4: Nghiệm thức nền đáy bạt ( Nghiệm thức đối chứng)
Kích thước bể thí nghiệm: 0,36 x 0,56 x 0,4 m Nền đáy ở NT1, NT2, NT3 được bố trí với độ dày là 4 cm
Trọng lượng trung bình cá đem thí nghiệm là 0,8 g và chiều dài trung bình là 4,42 cm Số lượng cá được bố trí trong mỗi bể thí nghiệm là 20 con Mỗi nghiệm thức được lặp lại ba lần Cá được bố trí ngẫu nhiên vào mỗi nghiệm thức Thời gian thí nghiệm là hai tháng Thức ăn cho cá trong suốt thời gian thí nghiệm là trùn quế
Sơ đồ bố trí thí nghiệm
Đáy
Cát Đáy Sỏi Đáy Bùn Đối chứng Đáy Sỏi Đáy Cát Đáy Bùn Đối chứng Đối chứng Đáy Bùn Đáy Sỏi Đáy Cát
Trang 28Hình 3.3 Hệ thống bể cho thí nghiệm II và thí nghiệm III
3.5.2.4 Cách cho ăn và quản lý
Với các thí nghiệm đo lượng ăn của cá, chúng tôi cho cá ăn với lượng trùn bằng 30% trọng lương cá đem thí nghiệm Trùn được rửa sạch đất, cắt thành khúc nhỏ cho cá dễ ăn, sau đó để trùn ráo nước, đem cân và cho cá ăn
Với thí nghiệm I và thí nghiệm II, chúng tôi cho cá ăn với lượng ăn tối đa Trùn được rửa sạch, cắt khúc cho cá dễ ăn siphon nền đáy hằng ngày và siphon hút bỏ trùn dư trước khi cho cá ăn trùn mới
Cách duy trì màu nước ở nghiệm thí nghiệm II:
Tảo được nuôi trong bể composite có thể tích là 1 m3 và có bón phân vô cơ P-K Tảo giống lấy từ các bể nuôi cá trong trại thực nghiệm Lượng phân bón vào bể nuôi tảo là 10 g/m3 Thời gian giữa hai lần bón phân là 4 ngày Bể nuôi tảo để nơi có đủ ánh sáng Hằng ngày theo dõi màu nước ở mỗi bể, bổ sung tảo để duy trì màu nước của bể
Trang 29N-3.5.3 Phương pháp cân đo và thu thập số liệu
3.5.3.1 Cách cân đo
Đo chiều dài (cm) bằng cách sử dụng giấy kẻ ô li, và đo chiều dài toàn thân của cá
Cân trọng lượng cá (g) bằng cân điện tử hai chữ số thập phân
3.5.3.2 Thu thập số liệu
Với thí nghiêm khảo sát lượng trùn cho cá ăn vào ban ngày và ban đêm Chúng tôi cho cá ăn với lượng trùn 30% trọng lượng cá thí nghiệm vào 7 giờ sáng; siphon thu lượng trùn dư vào 17 giờ cùng ngày Tiếp tục cho cá ăn vào 17 giờ 30 phút và thu lượng trùn dư vào 6 giờ 30 sáng ngày hôm sau Trùn dư được rửa sạch phân cá, để ráo nước và đem cân để tính lượng trùn mà cá ăn theo ban ngày và ban đêm
(BW: Body Weight - Trọng lượng thân)
Với thí nghiệm II và thí nghiệm III, khi bắt đầu thí nghiệm, ở mỗi nghiệm thức chúng tôi đo chiều dài và trọng lượng của 10 cá ngẫu nhiên Cá đưa vào thí nghiệm ở giai đoạn tăng trưởng chậm, bên cạnh đó cá rất nhạy cảm với những tác động bên ngoài nên chúng tôi tiến hành lấy số liệu lần thứ hai khi kết thúc thí nghiệm
3.5.4 Các chỉ tiêu theo dõi
3.5.4.1 Các chỉ tiêu thủy lý hóa
Các chỉ tiêu được theo dõi bao gồm:
Nhiệt độ và pH: được đo hai lần trong ngày vào 7 giờ sáng và 4 giờ chiều bằng máy đo nhiệt độ – pH
Độ oxy hòa tan (DO): được đo hai lần trong ngày vào 7 giờ sáng và 4 giờ chiều bằng máy đo DO
3.5.4.2 Tốc độ tăng trưởng của cá
Lượng trùn ban đầu – lượng trùn còn dư
Trọng lượng cá
Trang 30Sau khi kết thúc thí nghiệm, tiến hành đo chiều dài tổng của cá (cm) bằng giấy kẻ ô li và đo trọng lượng (g) bằng cân tiểu li Để xử lý số liệu về tăng trưởng của cá thí nghiệm chúng tôi sử dụng các công thức sau:
+ Chiều dài trung bình (cm):
Li
1
Ltb: Chiều dài trung bình
Li: Chiều dài cá thứ i
n: Tổng số cá
+ Tăng trưởng chiều dài tuyệt đối (cm):
L = Lt –Lo
Lo: Chiều dài ban đầu của cá thí nghiệm
Lt: Chiều dài cá khi kết thúc thí nghiệm
+ Tỷ lệ tăng trưởng đặc biệt về chiều dài (%/ngày) : SGR L
(Length_ Specific Growth Rate)
Wi
1
Wi: Trọng lượng cá thứ i
n: Tổng số cá
+ Tăng trọng tuyệt đối (g)
W = Wt – Wo Wo: Trọng lượng ban đầu của cá thí nghiệm (g)
Wt: Trọng lượng cá khi kết thúc thí nghiệm (g)
Trang 31+ Tỷ lệ tăng trọng đặc biệt (%/ngày) - SGR W - Weigh_Specific Growth
3.5.4.3 Về tỉ lệ sống
3.5.4.4 Về tỉ lệ phân đàn
Hệ số biến động trọng lượng C V
Hệ số biến động trọng lượng là một chỉ số thể hiện tính phân đàn trong nghiệm thức Hệ số biến động càng lớn thì tính phân đàn càng cao
C V (%) = x100
Wtb Sd
Sd: Độ lệch chuẩn của trọng lượng (g) – Standard deviation
Wtb: Trọng lượng trung bình
Để biết sự sự phân bố của của các cỡ cá sau khi kết thúc thí nghiệm, chúng tôi chia số cá trong mỗi nghiệm thức thành những cỡ sau: 1-2 g, 2-4 g, 4-6 g Và được tính theo công thức sau:
3.5.5 Phương pháp xử lý số liệu
Chúng tôi sử dụng phần mềm Excel để xử lý số liệu và Statgraphic 7.0 xử lý thống kê xem xét sự khác biệt của yếu tố thí nghiệm giữa các nghiệm thức bằng phương pháp phân tích ANOVA một nhân tố với mức độ tin cậy LSD 95%
Số cá ở mỗi cỡ trong mỗi nghiệm thức
S (%) =
Tổng số cá của mỗi nghiệm thức x100
Số cá ban đầu – Số cá còn lại Số cá ban đầu
Trang 32IV KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN4.1 Các Thông Số Môi Trường trong Quá Trình Thí Nghiệm
Các thông số môi trường được ghi nhận gồm: nhiệt độ, pH, hàm lượng oxy
hòa tan (DO) Các thông số này được đo mỗi ngày vào 7 giờ sáng và 4 giờ chiều
Bảng 4.1 Sự biến động nhiệt độ nước trong thời gian thí nghiệm
Nhiệt độ nước trong các bể thí nghiệm nhìn chung không có sự biến động lớn Nhiệt độ thấp nhất là 26oC và cao nhất là 31oC, rất thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển bình thường của cá bống tượng (26-32oC – Phạm Văn Khánh, 1999)
Bảng 4.2 Sự biến động pH trong thời gian thí nghiệm
NT1 NT2 NT3 NT4 Thời gian
Max Min Max Min Max Min Max Min Từ 02.04-16.04 6,9 6,6 6,8 6,7 7,3 6,5 7,1 6,6
6,5-Nhiệt độ (oC)
Thời gian
Max Min Từ 02.04 – 16.04
Từ 16.04 – 30.04 Từ 30.04 – 14.05 Từ 14.05 – 02.06
30,0 31,0 31,0 29,0
26,8 27,5 27,0 26,0
Trang 33Đồ thị 4.1 Sự biến động hàm lượng oxy hòa tan ở các nghiệm thức
Cá bống tượng cần có dưỡng khí trên 3 mg/l (Dương Tấn Lộc, 2000) nên hàm lượng oxy hòa tan trong các bể tương đối cao, tuy rằng có sự biến động khá rõ ở các bể của NT3 (nước xanh)
Như vậy các yếu tố chất lượng nước ở các nghiệm thức đều thích hợp cho sự phát triển bình thường của cá thí nghiệm
Bảng 4.3 Các thông số môi trường của TN III
4.2 Lượng Ăn Của Cá Ở Môi Trường Nước Trong và Nước Xanh
Kết quả thí nghiệm cho thấy lượng ăn trung bình ở mỗi cỡ cá của nghiệm thức
nước xanh (NTII) nhiều hơn nghiệm thức nước trong (NTI) nhưng sự khác biệt này không có ý nghĩa về mặt thống kê (P > 0,05) Ở môi trường nước trong cá thường hoảng sợ, bơi hoảng loạn khi có người đến gần Ngược lại ở môi trường nước xanh, cá
ít bị hoảng sợ hơn, cá vẫn nằm yên ở đáy khi có tác động xung quanh Điều này được
Trang 34thể hiện rõ qua sự chênh lệch về lượng ăn giữa ban ngày và ban đêm của hai nghiệm thức
Bảng 4.4 Lượng ăn trung bình của cá bống tượng (g trùn quế/10 cá/buổi)
Baras, 2001) cho rằng ở một số loài như cá vược măng Stizostedion lucioperca, việc
giảm cường độ ánh sáng do gia tăng độ đục cho thấy thúc đẩy việc ăn mồi của cá Như vậy vào ban ngày ở môi trường nước xanh lượng ăn của cá nhiều hơn ở môi trường nước trong Còn vào ban đêm lượng ăn của cá ở hai môi trường là gần như nhau Cá bống tượng là loài thích sống ẩn nấp, kém hoạt động vào ban ngày nên chỉ có mộ sự khác biệt nhỏ về lượng ăn của cá ở hai môi trường
Qua bảng số liệu, chúng tôi tính được tỷ lệ phần trăm lượng ăn của cá vào ban ngày là 44,5% và 55,5% vào ban đêm Sự khác biệt này là có ý nghĩa về mặt thống kê (P < 0,05) Điều này cũng hoàn toàn phù hợp với nhận định của nhiều tác giả rằng cá bống tượng hoạt động nhiều vào ban đêm, ban ngày thường vùi mình để trú ẩn (Huỳnh Thị Mỹ Hương, Phan Bá Lộc, 1986; trích bởi Nguyễn Hữu Tân, 1998)
Từ số liệu ở bảng 4.5, chúng tôi đưa ra phương trình hồi qui thể hiện mối liên hệ giữa lượng ăn và cỡ cá
Phương trình ở NTI là: y = 0,9209x + 0,2129 R2 = 0,99
Phương trình ở NTII là: y = 0,9693x + 0,2445 R2 = 0,99
Trang 35
y = 0,9693x + 0,2445
R 2 = 0,9951
0 1 2 3 4 5
Đồ thị 4.2 Sự tương quan giữa lượng ăn và cỡ cá
Với hệ số tương quan R2 bằng 0,99 ở cả hai nghiệm thức, qua đó cho thấy lượng ăn và cỡ cá ở mỗi nghiệm thức có mối quan hệ chặt chẽ Từ phương trình hồi qui chúng ta có thể dự đoán lượng trùn quế cho cá ăn khi biết cỡ cá (cá dưới 10g)
Qua số liệu, chúng tôi nhận thấy lượng ăn của cá ở NTI thấp nhất là 9,55%, cao nhất là 11,667% và tương tự ở NTII là 10,01% và 12,375% Tính chung cho hai nghiệm thức thì phần trăm lượng trùn quế cho cá ăn trên trọng lượng thân nằm trong khoảng 9,55%-12,375% Theo tài liệu nghiên cứu của tác giả Phạm Văn Khánh (1999), Dương Tấn Lộc (2000), lượng ăn của cá bống tượng cỡ 3-10 cm (3,5-9 g) từ 8-12% Như vậy trùn quế hoàn toàn có thể sử dụng cho cá bống tượng trong giai đoạn 3-8 cm
4.3 Aûnh Hưởng Của Nước Trong, Nước Xanh và Bèo đến Tỷ Lệ Sống, Tăng Trưởng, sự Phân Đàn của Cá
Để có những đánh giá sâu hơn về ảnh hưởng của nước trong, nước xanh lên cá, chúng tôi tiến hành thí nghiệm trên cá 0,5 g với bốn nghiệm thức: nước trong (NTĐC), nước trong có bèo (NT2), nước xanh (NT3), nước xanh có bèo (NT4) Thời gian thí nghiệm là hai tháng, với thức ăn là trùn quế
4.3.1 Tỷ lệ sống của cá thí nghiệm
Trong quá trình nuôi tỉ lệ sống của cá phụ thuộc vào nhiều yếu tố như chất lượng con giống, thức ăn, điều kiện môi trường thí nghiệm, cách quản lý, chăm sóc… Trong tất cả các yếu tố này thì yếu tố môi trường sống là yếu tố mà chúng tôi muốn tìm hiểu tác động của nó lên tỉ lệ sống cũng như tăng trưởng cúa cá Còn các yếu tố khác được giữ như nhau giữa các nghiệm thức
Sau khi kết thúc thí nghiệm, chúng tôi tiến hành tính tỉ lệ sống của cá, tỉ lệ sống được trình bày ở bảng 4.5