1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng quỹ đất công ích trên địa bàn huyện mộ đức, tỉnh quảng ngãi

80 290 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 1,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

thống văn bản pháp Luật đất đai được đánh giá là tương đối hoàn chỉnh với những nội dung quy định cụ thể: về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai; về phương pháp xác định giá

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐINH MINH HẢI

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ,

SỬ DỤNG QUỸ ĐẤT CÔNG ÍCH TRÊN ĐỊA BÀN

HUYỆN MỘ ĐỨC, TỈNH QUẢNG NGÃI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, năm 2018

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐINH MINH HẢI

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ,

SỬ DỤNG QUỸ ĐẤT CÔNG ÍCH TRÊN ĐỊA BÀN

HUYỆN MỘ ĐỨC, TỈNH QUẢNG NGÃI

Chuyên ngành : Luật Hiến pháp và Luật Hành chính

Mã số : 838.01.02

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC GS.TS PHẠM HỒNG THÁI

HÀ NỘI, năm 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn “Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp

nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng quỹ đất công ích trên địa bàn huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi” là công trình nghiên cứu độc lập, do chính tôi hoàn

thành Các tư liệu, số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực

và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào, các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc

Vậy tôi viết lời cam đoan này kính đề nghị Học viện khoa học xã hội xem xét cho phép tôi được bảo vệ luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người cam đoan

Đinh Minh Hải

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ, DỤNG QUỸ ĐẤT CÔNG ÍCH 6

1.1 Khái niệm và vai trò của quản lý, sử dụng quỹ đất công ích 6

1.2 Chủ thể, nội dung và phương thức quản lý quỹ đất công ích 14

1.3 Chủ thể, nội dung, yêu cầu sử dụng quỹ đất công ích 21

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ, SỬ DỤNG QUỸ ĐẤT CÔNG ÍCH TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN MỘ ĐỨC, TỈNH QUẢNG NGÃI 34

2.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội và thực trạng quản lý, sử dụng quỹ đất công ích trên địa bàn huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi 34

2.2 Đánh giá thực trạng quản lý quỹ đất công ích trên địa bàn huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi 44

2.3 Đánh giá thực trạng sử dụng quỹ đất công ích trên địa bàn huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi 52

CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ, SỬ DỤNG QUỸ ĐẤT CÔNG ÍCH TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN MỘ ĐỨC, TỈNH QUẢNG NGÃI 57

3.1 Các giải pháp chung nâng cao hiệu quả quản lý quỹ đất công ích 57

3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng quỹ đất công ích trên địa bàn huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi 61

KẾT LUẬN 70 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.3 Thực trạng sử dụng đất nông nghiệp năm 2015 của huyện Mộ Đức 38 Bảng 2.1 Cơ cấu đất công ích trên địa bàn huyện Mộ Đức năm 2015 41 Bảng 2.2 Diện tích đất công ích của các xã trên địa bàn huyện Mộ Đức năm 2015 42

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1 Cơ cấu sử dụng đất năm 2015 tại huyện Mộ Đức 38 Biểu đồ 2.2 Cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp năm 2015 tại huyện Mộ Đức 39

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đất là một bộ phận hợp thành quan trọng của môi trường sống, không chỉ

là tài nguyên thiên nhiên mà còn là nền tảng để định cư và tổ chức hoạt động kinh tế, xã hội, không chỉ là đối tượng của lao động mà còn là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế trong sản xuất nông nghiệp Nông nghiệp là một hoạt động có từ xa xưa của loài người và hầu hết các nước trên thế giới đều phải xây dựng một nền kinh tế trên cơ sở phát triển nông nghiệp dựa vào khai thác tiềm năng của đất, lấy đó làm bàn đạp cho việc phát triển các ngành khác Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường, nhu cầu sử dụng đất ngày càng đa dạng và trở nên là vấn đề cấp thiết, cần có một cơ chế quản lý hiện đại, thích hợp và sử dụng tiết kiệm hơn nguồn nguyên liệu quý giá này Tuy nhiên, với diện tích đất rộng khắp trên cả nước, với nhiều loại đất được phân chia khác nhau, thì đội ngũ quản lý, các cơ quan chức năng về đất đai hiện nay là chưa cân bằng, chưa đủ để làm tốt công tác kiểm tra, giám sát

về khai thác và sử dụng đất Bên cạnh đó, còn có nhiều nguyên nhân khác nữa tác động đến việc quản lý và sử dụng đất ở nước ta hiện nay, do đó mà pháp luật đất đai còn nhiều sơ hở, trong một số lĩnh vực, một số khâu, của hoạt động quản lý, sử dụng còn nhiều thiếu sót và hạn chế

Quản lý nhà nước đối với đất công ích là một vấn đề còn nhiều bất cập,

đó là loại đất được hình thành, với sự tự chủ trong việc xin giao, tự chịu trách nhiệm quản lý và sử dụng đất công ích, của chính quyền địa phương Diện tích đất để lại, chủ yếu nhằm giải quyết tốt việc cải tạo và chỉnh trang diện mạo nông thôn, làm cơ sở hạ tầng phát triển mọi mặt của địa phương Sau hơn

20 năm thực hiện giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân theo Nghị định số 64/NĐ-CP ngày 27/9/1993 của Chính phủ, chủ trương này đã góp

Trang 7

phần phát triển kinh tế - xã hội, giải quyết được mối quan hệ lợi ích giữa người sản xuất nông nghiệp và Nhà nước, không ngừng cải thiện, nâng cao đời sống người nông dân Tuy nhiên, trên thực tế việc quản lý và sử dụng quỹ đất nông nghiệp nhất là đất nông nghiệp công ích còn gặp nhiều khó khăn, bất cập

Pháp luật đất đai quy định, mỗi xã phường, thị trấn được lập và để lại quỹ đất công ích không quá 5% tổng diện tích đất nông nghiệp trên địa bàn xã (Luật Đất đai 1993, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Đất đai năm

1998, 2001, Luật Đất đai năm 2003, Luật Đất đai năm 2013); không quá 5% đối với đất trồng cây hàng năm, lâu năm và đất nuôi trồng thủy sản để phục

vụ cho nhu cầu công ích của địa phương

Khái niệm quỹ đất công ích được quy định thành định chế cụ thể từ khi có Luật Đất đai năm 1993, sửa đổi bổ sung một số điều Luật Đất đai năm 1998, 2001; Luật Đất đai năm 2003, Luật Đất đai năm 2013 Tuy nhiên trong thực tế khái niệm về đất công ích và quản lý sử dụng đất công ích vẫn còn bỏ ngỏ đối với các cấp quản lý và bộc lộ nhiều hạn chế, yếu kém …

Huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi là địa bàn nằm gần trung tâm tỉnh lỵ,

có nhiều điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất, tiêu thụ sản phẩm và nâng cao thu nhập cho người dân Tuy nhiên, do đa số dân cư ở đây sống bằng nông nghiệp trong khi thu nhập từ nông nghiệp không cao, từ đó gây áp lực lên việc

sử dụng đất đai ngày càng lớn

Trong những năm qua, quỹ đất công ích trên địa bàn huyện được khai thác và sử dụng có hiệu quả Tuy nhiên, công tác quản lý quỹ đất nông nghiệp nói chung và quỹ đất công ích nói riêng vẫn còn nhiều bất cập và vướng mắc cần được tháo gỡ trong thời gian tới nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng đất công ích

Xuất phát từ thực tiễn trên, tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Đánh giá thực

Trang 8

trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng quỹ đất công ích trên địa bàn huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi”

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Ở nước ta hiện nay, nội dung quản lý, sử dụng quỹ đất công ích ít có đề tài nghiên cứu chuyên sâu về lĩnh vực này, có một số đề tài nghiên cứu về lĩnh vực này như:

- Luận văn thạc sĩ “Thực trạng quản lý và sử dụng đất công ích tại

thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên” của tác giả Nguyễn Vũ Thụy năm 2015

- Luận văn thạc sĩ “Quản lý quỹ đất công ích trên địa bàn quận Long

Biên, thành phố Hà Nội” của tác giả Ngô Ngọc Tuấn năm 2016

Vì vậy, đây có thể được coi là công trình mới, nghiên cứu cả về lý luận và thực tiễn quản lý nhà nước về quỹ đất công ích ở huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi Tuy nhiên, để nghiên cứu thực hiện đề tài này, trong quá trình nghiên cứu tác giả cũng cần phải kế thừa, vận dụng có chọn lọc những kết quả nghiên cứu của các công trình nêu trên

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3 Mục đích nghiên cứu

Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý, sử dụng quỹ đất công ích trên địa bàn huyện Mộ Đức; đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý sử dụng đất công ích nói chung và ở huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi nói riêng

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Làm rõ cơ sở đề xuất các giải pháp, kiến nghị phù hợp phục vụ việc hoàn thiện chính sách pháp luật, nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng quỹ đất công ích

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quản lý đất công ích của UBND các

Trang 9

xã trên địa bàn huyện Mộ Đức

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Sử dụng phương pháp thu thập tài liệu, số liệu thứ cấp; phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, phương pháp tham vấn ý kiến các chuyên gia

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận

- Góp phần làm rõ thêm cơ sở lý luận về hiệu quả quản lý sử dụng đất

công ích trên các loại hình sử dụng đất

- Cung cấp nguồn thông tin làm cơ sở dữ liệu cho các nghiên cứu tiếp theo về chính sách pháp luật đất đai

7 Cơ cấu của luận văn

Ngoài mục lục, danh mục các bảng biểu, mở đầu và danh mục tài liệu

Trang 10

tham khảo, nội dung của luận văn gồm có 3 chương, cụ thể như sau:

Chương 1 Những vấn đề lý luận và pháp luật về quản lý, sử dụng quỹ

Trang 11

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ,

DỤNG QUỸ ĐẤT CÔNG ÍCH

1.1 Khái niệm và vai trò của quản lý, sử dụng quỹ đất công ích

1.1.1 Khái niệm quản lý, sử dụng quỹ đất công ích

* Khái niệm quỹ đất công ích

Quỹ đất công ích hiện diện trong đời sống nông dân Việt Nam từ rất lâu, tuy có tên gọi khác nhau nhưng mục đích và ý nghĩa gần như nhau: Quỹ đất công làng xã (thời kỳ phong kiến), quỹ đất 5% hoặc quỹ đất phần trăm (thời kỳ Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đến trước Luật Đất đai 1993 có hiệu lực), quỹ đất công ích (từ sau Luật Đất đai 1993 có hiệu lực đến nay); quỹ đất công ích góp phần cải thiện đời sống cho đại bộ phận nông dân nông thôn, là nguồn lực để cơ sở xây dựng cơ sở hạ tầng, ổn định chính trị và phát triển kinh

tế xã hội địa phương, đặc biệt trong việc thực hiện “Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới” trong thời kỳ hiện nay

Trong các quy định của pháp luật đất đai trước kia, cũng như Luật Đất đai hiện hành không có một khái niệm cụ thể nào về quỹ đất công ích, nhưng

có thể rút ra từ các quy định đó một cách khái quát: Quỹ đất công ích là diện

tích đất mà mỗi xã, phường, thị trấn căn cứ vào quỹ đất, đặc điểm và nhu cầu của địa phương, mà được giữ lại không quá năm phần trăm (5%) trong tổng diện tích đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm và đất nuôi trồng thủy sản của địa phương để thực hiện các mục đích công ích tại xã, phường, thị trấn thuộc địa phương đó [18, tr.78-79] Từ khái niệm trên có thể hiểu

rằng đất công ích là loại đất thuộc nhóm đất nông nghiệp, trích ra nhằm sử dụng vào mục đích công ích và chỉ giữ lại trong giới hạn pháp luật cho phép

Trang 12

là từ 5% hoặc ít hơn so với tổng diện tích đất sản xuất nông nghiệp có trong phạm vi địa bàn địa phương

* Khái niệm quản lý quỹ đất công ích

Quản lý

Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng, có mục đích,

có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý để chỉ huy, điều khiển, liên kết các yếu tố tham gia vào hoạt động thành một chỉnh thể thống nhất, điều hoà hoạt động của các khâu một cách hợp quy luật nhằm đạt đến mục tiêu xác định trong điều kiện biến động của môi trường

Quản lý nhà nước

Quản lý nhà nước là một dạng quản lý đặc biệt, theo đó chủ thể quản lý

được sử dụng quyền lực nhà nước gồm lập pháp, hành pháp và tư pháp để quản lý mọi lĩnh vực của đời sống xã hội; có tính tổ chức cao, ổn định, liên tục trên cơ sở các chiến lược, chương trình, kế hoạch nhằm đạt được mục tiêu

đã đặt ra

Quản lý Nhà nước về đất đai

Quản lý đất đai bao gồm những chức năng, nhiệm vụ liên quan đến việc xác lập và thực thi các quy tắc cho việc quản lý, sử dụng và phát triển đất đai cùng với những lợi nhuận thu được từ đất (thông qua việc bán, cho thuê hoặc thu thuế) và giải quyết những tranh chấp liên quan đến quyền sở hữu và quyền

sử dụng đất

Quản lý đất đai là quá trình điều tra mô tả những tài liệu chi tiết về thửa đất, xác định hoặc điều chỉnh các quyền và các thuộc tính khác của đất, lưu giữ, cập nhật và cung cấp những thông tin liên quan về sở hữu, giá trị, sử dụng đất

và các nguồn thông tin khác liên quan đến thị trường bất động sản Quản lý đất đai liên quan đến cả hai đối tượng đất công và đất tư bao gồm các hoạt động đo

Trang 13

đạc, đăng ký đất đai, định giá đất, giám sát và quản lý sử dụng đất đai, cơ sở hạ tầng cho công tác quản lý

Nhà nước phải đóng vai trò chính trong việc hình thành chính sách đất đai và các nguyên tắc của hệ thống quản lý đất đai bao gồm pháp luật đất đai

và pháp luật liên quan đến đất đai Đối với công tác quản lý đất đai, Nhà nước xác định một số nội dung chủ yếu: Sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước; tập trung và phân cấp quản lý; vị trí của cơ quan đăng ký đất đai; vai trò của lĩnh vực công và tư nhân; quản lý các tài liệu địa chính; quản lý các tổ chức địa chính, quản lý nguồn nhân lực; nghiên cứu; giáo dục và đào tạo; trợ giúp

về chuyên gia tư vấn và kỹ thuật; hợp tác quốc tế

Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hoá đặt ra những yêu cầu to lớn đối với công tác quản lý Nhà nước về mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội, trong

đó quản lý nhà nước về đất đai là một trong những lĩnh vực quan trọng hàng đầu Để phù hợp với quá trình đổi mới kinh tế, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm đến vấn đề đất đai và đã ban hành nhiều văn bản pháp luật để quản lý đất đai, điều chỉnh các mối quan hệ đất đai theo kịp với tình hình thực tế

Đất đai, khi tham gia vào nền kinh tế thị trường thì có sự thay đổi căn bản về bản chất kinh tế - xã hội: Từ chỗ là tư liệu sản xuất, điều kiện sống chuyển sang là tư liệu sản xuất chứa đựng yếu tố sản xuất hàng hoá, phương diện kinh tế của đất trở thành yếu tố chủ đạo quy định sự vận động của đất đai theo hướng ngày càng nâng cao hiệu quả Chính vì vậy, việc quản lý nhà nước

về đất đai là hết sức cần thiết, nhằm phát huy những ưu thế của cơ chế thị trường và hạn chế những khuyết tật của thị trường khi sử dụng đất đai, ngoài ra cũng làm tăng tính pháp lý của đất đai

Theo quy định của Luật Đất đai hiện hành có 15 nội dung quản lý Nhà nước về đất đai Bên cạnh đó, Nhà nước đã ban hành các Nghị định, Thông

tư, Chỉ thị … đã tạo ra một hành lang pháp lý cho công tác quản lý đất đai Hệ

Trang 14

thống văn bản pháp Luật đất đai được đánh giá là tương đối hoàn chỉnh với những nội dung quy định cụ thể: về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai; về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất; về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; về thu tiền sử dụng đất; về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; hướng dẫn thực hiện thống

kê, kiểm kê đất đai và xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất; hướng dẫn lập, chỉnh lý, quản lý hồ sơ địa chính; hướng dẫn lập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

Quản lý nhà nước về quỹ đất công ích

Luật Đất đai quy định các loại đất dù là đất nông nghiệp, phi nông nghiệp hay bất cứ loại đất nào thì để tạo lập nên loại đất đó cũng dựa trên hai căn cứ

chủ yếu: thứ nhất, dựa vào quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan

có thẩm quyền xét duyệt; thứ hai, là nhìn vào nhu cầu sử dụng đất cụ thể,

được thể hiện trong dự án đầu tư, đơn xin giao đất, thuê đất, chuyển mục đích

sử dụng đất Đất công ích vì là diện tích được trích từ đất sản xuất nông nghiệp nên không nằm ngoài quy định đó, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cũng được xem là căn cứ quan trọng nhất trong việc tạo lập, quản lý quỹ đất công ích Khi cần diện tích đất thực hiện mục đích công ích cho địa phương, trước đây theo Luật Đất đai năm 2003 thì Uỷ ban nhân dân cấp xã tổ chức lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng trong đó có diện tích đất công ích, cấp xã trình

cơ quan cấp trên phê duyệt, nếu được chấp thuận và có thêm quyết định tỷ lệ đất công ích cho phép để lại của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, thì quỹ đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích của cấp xã đã được tạo lập và đương nhiên nguồn gốc của quỹ đất này là xuất phát từ tổng diện tích đất nông nghiệp của chính địa phương có nhu cầu để lại đất công ích Sau này khi thực hiện Luật Đất đai năm 2013 thì Uỷ ban nhân dân cấp xã không còn thẩm quyền lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất mà Uỷ ban nhân dân cấp huyện

Trang 15

tiến hành tổ chức lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp huyện, trong đó có nội dung đất công ích của các địa phương cấp xã

Ngoài nguồn gốc hình thành nên diện tích đất công ích thì ngoài diện tích được Nhà nước giao, theo nhu cầu trong quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất thì quỹ đất công ích còn được góp lại từ đất không được Nhà nước trực tiếp chuyển giao mà nó vận hành theo con đường ngược lại, tức là các diện tích đất do tổ chức, hộ gia đình, cá nhân tự nguyện trả lại hoặc tặng cho quyền sử dụng đất mà họ không sử dụng hay sử dụng không hết, bên cạnh đó còn có đất khai hoang, đất thu hồi để phục vụ công ích, đất vượt hạn mức,… Tuy nhiên, tổng diện tích được trích để lại không quá 5% trong tổng diện tích đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm, đất nuôi trồng thủy sản của địa phương cấp xã có để lại đất công ích

Nhà nước quản lý đối với quỹ đất công ích thông qua việc lập quy hoạch,

kế hoạch sử dụng đất quỹ đất công ích nêu trên; ngoài ra, còn quản lý theo phương pháp quản lý chung của Luật Đất đai, theo chính sách riêng của từng cấp xã và bằng việc thu tài chính; đồng thời, quy định rõ về thời gian sử dụng đất công ích, diện tích đất công ích được sử dụng, giá đất khi gia đình, cá nhân thuê đất công ích

* Khái niệm sử dụng quỹ đất công ích

Sử dụng đất liên quan đến chức năng hoặc mục đích của loại đất được sử dụng Việc sử dụng đất có thể được định nghĩa là: “những hoạt động của con người có liên quan trực tiếp tới đất, sử dụng nguồn tài nguyên đất hoặc có tác động lên chúng” Số liệu về quá trình và hình thái các hoạt động đầu tư (lao động, vốn, nước, phân hoá học ), kết quả sản lượng (loại nông sản, thời gian, chu kỳ mùa vụ ) cho phép đánh giá chính xác việc sử dụng đất, phân tích tác động môi trường và kinh tế, lập mô hình những ảnh hưởng của việc biến đổi

sử dụng đất hoặc việc chuyển đổi việc sử dụng đất này sang mục đích sử dụng

Trang 16

đất khác Phạm vi sử dụng đất, cơ cấu và phương thức sử dụng đất một mặt bị chi phối bởi các điều kiện và quy luật sinh thái tự nhiên, mặt khác bị kiềm chế bởi các điều kiện, quy luật kinh tế - xã hội và các yếu tố kỹ thuật Vì vậy có thể khái quát một số điều kiện và nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng đất:

Điều kiện tự nhiên: Khi sử dụng đất đai, ngoài bề mặt không gian như

diện tích trồng trọt, mặt bằng xây dựng , cần chú ý đến việc thích ứng với điều kiện tự nhiên và quy luật sinh thái tự nhiên của đất cũng như các yếu tố bao quanh mặt đất như: yếu tố khí hậu, yếu tố địa hình, yếu tố thổ nhưỡng

Điều kiện kinh tế - xã hội: Bao gồm các yếu tố như chế độ xã hội, dân số,

lao động, thông tin, các chính sách quản lý về môi trường, chính sách đất đai, yêu cầu về quốc phòng, sức sản xuất, các điều kiện về công nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp, giao thông, vận tải, sự phát triển của khoa học kỹ thuật, trình độ quản lý, sử dụng lao động, điều kiện và trang thiết bị vật chất cho công tác phát triển nguồn nhân lực, đưa khoa học kỹ thuật vào sản xuất

Yếu tố không gian: Đây là một tính chất “đặc biệt” khi sử dụng đất, do

đất đai là sản phẩm của tự nhiên, tồn tại ngoài ý chí và nhận thức của con người Đất đai hạn chế về số lượng, có vị trí cố định và là tư liệu sản xuất không thể thay thế được khi tham gia vào hoạt động sản xuất của xã hội Tại khoản 2, khoản 3 Điều 132 Luật Đất đai năm 2013 có quy định về đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích như sau:

“2 Quỹ đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích của xã, phường, thị trấn để sử dụng vào các mục đích sau đây:

a) Xây dựng các công trình công cộng của xã, phường, thị trấn bao gồm công trình văn hóa, thể dục thể thao, vui chơi, giải trí công cộng, y tế, giáo dục, chợ, nghĩa trang, nghĩa địa và các công trình công cộng khác theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh;

Trang 17

b) Bồi thường cho người có đất được sử dụng để xây dựng các công trình công cộng quy định tại điểm a khoản này;

c) Xây dựng nhà tình nghĩa, nhà tình thương

3 Đối với diện tích đất chưa sử dụng vào các mục đích quy định tại khoản 2 Điều này thì Ủy ban nhân dân cấp xã cho hộ gia đình, cá nhân tại địa phương thuê để sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản theo hình thức đấu giá để cho thuê Thời hạn sử dụng đất đối với mỗi lần thuê không quá 05 năm

Tiền thu được từ việc cho thuê đất thuộc quỹ đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích phải nộp vào ngân sách nhà nước do Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý và chỉ được dùng cho nhu cầu công ích của xã, phường, thị trấn theo quy định của pháp luật”

Căn cứ quy định trên, thì diện tích đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích tại địa phương do Uỷ ban nhân dân cấp xã quản lý và chỉ dùng

để phục vụ cho mục đích công ích tại địa phương, nếu diện tích đất công ích

đó tạm thời chưa sử dụng thì Ủy ban nhân dân cấp xã cho hộ gia đình, cá nhân

tại địa phương thuê để sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản theo hình thức đấu giá để cho thuê

1.1.2 Vai trò quản lý, sử dụng quỹ đất công ích

* Vai trò quản lý quỹ đất công ích

Vai trò quản lý đất đai nói chung và quỹ đất công ích nói riêng của Nhà

nước thể hiện qua hai nội dung cơ bản sau: thứ nhất, Nhà nước quản lý đất đai

xuất phát từ chức năng của một tổ chức quyền lực và quan hệ đất đai tồn tại

như một lĩnh vực quan hệ xã hội đòi hỏi Nhà nước phải điều tiết; thứ hai, Nhà

nước với cương vị là đại diện chủ sở hữu cho toàn dân sẽ quản lý đất đai với

tư cách là người đại diện sở hữu Dù dưới bất cứ hình thức nào, nội dung nào thì trật tự quản lý nhà nước về đất đai nói chung và đất công ích nói riêng

Trang 18

cũng đi theo con đường luật định, nghĩa là sẽ chịu sự chi phối của Nhà nước

từ Trung ương, đến các cấp ở địa phương

Quản lý Nhà nước về quỹ đất công ích nhằm đảm bảo các yếu tố sau: (1) Đảm bảo sử dụng đất hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả, (2) Đánh giá, phân

loại, phân hạng đất đai, Nhà nước nắm được quỹ đất tổng thể và cơ cấu từng

loại đất, (3) Ban hành các chính sách, các quy định nội dung còn thiếu chưa

phù hợp với thực tế và sử dụng đất công ích tạo ra một hành lang pháp lý cho việc sử dụng đất đai nói chung và quỹ đất công ích nói riêng, bảo đảm lợi ích chính đáng của người sử dụng đất Đồng thời, cũng bảo đảm lợi ích của Nhà

nước trong việc sử dụng, khai thác quỹ đất công ích, (4) Kiểm tra, giám sát

quản lý và sử dụng đất đai; phát hiện những mặt tích cực, tiêu cực để phát huy, điều chỉnh và giải quyết những hành vi có sai phạm

* Vai trò của sử dụng hiệu quả quỹ đất công ích

Có nhiều quan điểm về hiệu quả rất khác nhau Lúc đầu, người ta thường quan niệm kết quả chính là hiệu quả Sau này, khi nhận thức của con người phát triển cao hơn, người ta thấy rõ sự khác nhau giữa hiệu quả và kết quả Hiệu quả là kết quả mong muốn, cái sinh ra kết quả mà con người chờ đợi hướng tới; nó có những nội dung khác nhau Trong kinh doanh, hiệu quả

là lãi suất, lợi nhuận Trong lao động nói chung, hiệu quả lao động là năng suất lao động cần để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm, hoặc bằng số lượng sản phẩm được sản xuất ra trong một đơn vị thời gian

Kết quả hữu ích (gọi chung là kết quả) là một đại lượng vật chất tạo ra do mục đích của con người, được biểu hiện bằng những chỉ tiêu cụ thể, xác định Con người luôn xem xét, nghiên cứu kết quả đó được tạo ra như thế nào? Chi phí bỏ ra bao nhiêu? Có đưa lại kết quả hữu ích hay không?

Trong lĩnh vực sử dụng đất nói chung và sử dụng quỹ đất công ích nói riêng thì hiệu quả là chỉ tiêu chất lượng đánh giá kết quả sử dụng đất trong

Trang 19

hoạt động kinh tế Thể hiện qua lượng sản phẩm, lượng giá trị thu được bằng tiền, đồng thời về mặt xã hội là thể hiện hiệu quả của lực lượng lao động được sử dụng trong cả quá trình hoạt động kinh tế cũng như hàng năm để khai thác đất Đối với ngành nông nghiệp, trong nhiều trường hợp phải coi trọng hiệu quả về mặt hiện vật là sản lượng nông sản thu hoạch được, nhất là các loại nông sản cơ bản có ý nghĩa chiến lược (lương thực, sản phẩm xuất khẩu… để đảm bảo sự ổn định về kinh tế - xã hội đất nước)

Như vậy, hiệu quả sử dụng đất nói chung và hiệu quả sử dụng quỹ đất công ích nói riêng là kết quả của cả một hệ thống các biện pháp tổ chức sản xuất, khoa học, kỹ thuật, quản lý kinh tế và phát huy các lợi thế, khắc phục các khó khăn khách quan của điều kiện tự nhiên, trong những hoàn cảnh cụ thể còn gắn sản xuất nông nghiệp với các ngành khác của nền kinh tế quốc dân, cũng như cần gắn sản xuất trong nước với thị trường quốc tế Sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả cao thông qua việc bố trí cơ cấu cây trồng vật nuôi là một trong những vấn đề bức xúc hiện nay Nó là vấn đề sự quan tâm của các nhà khoa học, các nhà hoạch định chính sách, các nhà kinh doanh nông nghiệp mà còn là mong muốn của nông dân, những người trực tiếp tham gia sản xuất nông nghiệp

Hiện nay, các nhà khoa học đều cho rằng: Vấn đề hiệu quả sử dụng đất không chỉ xem xét đơn thuần ở một mặt hay một khía cạnh nào đó mà phải xem xét trên tổng thể các mặt bao gồm: hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường Để đánh giá hiệu quả sử dụng đất của một loại hình nào

đó chúng ta đánh giá chúng trên ba khía cạnh: (1) Hiệu quả kinh tế, (2) hiệu quả xã hội và (3) hiệu quả môi trường

1.2 Chủ thể, nội dung và phương thức quản lý quỹ đất công ích

1.2.1 Chủ thể quản lý quỹ đất công ích

Ở Trung ương đối với đất công ích cũng được áp dụng theo quy định

Trang 20

chung của pháp luật đất đai, Quốc hội, với chức năng là cơ quan lập pháp, Quốc hội quản lý bằng việc ban hành pháp luật về đất đai, quyết định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cả nước, thực hiện quyền giám sát tối cao đối với việc quản lý và sử dụng đất đai trong phạm vi cả nước Vì nằm trong tổng diện tích đất của quốc giá, đất công ích cũng chịu sự điều tiết chung, nghĩa là thuộc quyền quản lý bao quát ở tầm vĩ mô, bằng các quy định nằm rãi rác trong hàng loạt các văn bản mang tính pháp lý cao nhất của Quốc hội

Hơn thế nữa, đất đai còn chịu sự quản lý ở cấp Trung ương bởi quyền hạn của cơ quan hành pháp, đó là Chính phủ thống nhất quản lý Nhà nước về đất đai trong phạm vi toàn quốc, được coi là thẩm quyền và cũng là trách nhiệm mà Chính phủ đảm đương đối với đất đai, trong đó có quỹ đất 5% phục

vụ nhu cầu công ích của cấp xã Ngoài ra, Chính phủ còn là cấp quyết định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp tỉnh và quy hoạch sử dụng đất vào mục đích quốc phòng, an ninh Cơ quan trực thuộc Chính phủ, hệ thống quản lý đất đất đai chuyên ngành là Bộ Tài nguyên và Môi trường là chủ thể chính, chịu trách nhiệm trước Chính phủ về việc quản lý đất đai trên toàn quốc

Ở địa phương, dựa vào đặc điểm và nhu cầu của từng vùng, từng địa phương mà Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định việc thành lập, hay không thành lập quỹ đất công ích cho xã, phường, thị trấn Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh

có trách nhiệm quản lý nhà nước về quỹ đất công ích tại địa phương, Sở Tài nguyên và Môi trường là cơ quan chuyên ngành, giúp Uỷ ban nhan dân cấp tỉnh quản lý đất đai tại địa phương Bên cạnh đó, Uỷ ban nhân dân cấp huyện đóng vai trò như một cơ quan trung gian, quyết định xét duyệt quy hoạch, kế hoạch của Uỷ ban nhân dân cấp xã trình lên và chuyển cho cấp trên quyết định, Uỷ ban nhân dan cấp huyện quản lý theo dõi thông qua sổ sách, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đối với diện tích đất công ích của xã trên phạm

Trang 21

vi địa bàn huyện Uỷ ban nhân dân cấp xã đóng vai trò quản lý trực tiếp nhất đối với đất đai, mà đặc biệt là quỹ đất công ích được hình thành trong xã

1.2.2 Pháp luật về quản lý quỹ đất công ích

Tại Điều 22 Luật Đất đai năm 2013 quy định 15 nội dung quản lý Nhà

nước về đất đai [18, tr.10-11], bao gồm:

“1 Ban hành văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai

4 Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

5 Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất

6 Quản lý việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi thu hồi đất

7 Đăng ký đất đai, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất

8 Thống kê, kiểm kê đất đai

9 Xây dựng hệ thống thông tin đất đai

10 Quản lý tài chính về đất đai và giá đất

11 Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất

12 Thanh tra, kiểm tra, giám sát, theo dõi, đánh giá việc chấp hành quy định của pháp luật về đất đai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai

13 Phổ biến, giáo dục pháp luật về đất đai

Trang 22

14 Giải quyết tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo trong quản lý và sử dụng đất đai

15 Quản lý hoạt động dịch vụ về đất đai”

Cùng với Luật Đất đai năm 2013, Nhà nước đã ban hành các Nghị định, Thông tư, Chỉ thị … đã tạo ra một hành lang pháp lý cho công tác quản lý đất đai Hệ thống văn bản pháp Luật đất đai được đánh giá là tương đối hoàn chỉnh với những nội dung quy định cụ thể: về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai; về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất;

về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; về thu tiền sử dụng đất; về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; hướng dẫn thực hiện thống kê, kiểm kê đất đai và xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất; hướng dẫn lập, chỉnh lý, quản lý hồ sơ địa chính; hướng dẫn lập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

1.2.3 Phương thức quản lý quỹ đất công ích

Trong công tác quản lý tổng thể đất đai hay quản lý quỹ đất riêng như đất công ích, muốn đạt được kết quả tốt, ngoài việc phân định rạch ròi các thẩm quyền chung hay riêng góp phần đem lại hiệu quả thiết thực và nhanh chóng còn cần phải có phương pháp, vạch ra các đường lối cụ thể, có như vậy thì việc quản lý sẽ gọn nhẹ và minh bạch hơn, mang lại nhiều thành công hơn

* Quản lý theo phương pháp chung của Luật Đất đai

Luật Đất đai ra đời, giải quyết được rất nhiều các khó khăn, vướng mắc trong công tác quản lý đất đai, trong đó văn bản này cũng đồng thời đề ra các phương pháp quản lý đất, để đạt hiệu quả quản lý tối ưu, có cả cái chung và cái riêng được nêu đầy đủ tại Luật Đất đai hiện hành Theo đó, phương pháp được coi là áp dụng chung trong quản lý đất đai là:

Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là yếu tố tiên quyết, là căn cứ chủ yếu cho công tác quản lý, sử dụng đất từ Trung ương xuống địa phương, là cơ sở

Trang 23

pháp lý để thực hiện thống nhất công tác quản lý nhà nước về đất đai Quy hoạch sử dụng đất là việc Nhà nước tính toán, phân bổ về đất đai, về mặt số lượng, chất lượng, vị trí để dùng vào những mục đích nhất định nhằm đạt được những mục tiêu nhất định Quy hoạch sử dụng đất được xem như là cơ

sở khoa học của quá trình xây dựng các chiến lược về khai thác sử dụng đất Thời gian của một kỳ Quy hoạch sử dụng đất của cả nước, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, xã, phường, thị trấn là 10 năm

Kế hoạch sử dụng đất là việc Nhà nước xác định các biện pháp và thời gian để sửu dụng đất theo quy hoạch Thời gian của kỳ kế hoạch sử dụng đất của cả nước, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, xã, phường, thị trấn là 5 năm

Đất công ích nằm trong quỹ đất chung nên quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cũng là phương pháp quản lý hữu hiệu ở từng địa phương Khi được thể hiện trong nội dung của quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, nghĩa là trên cơ bản đã được điều tra nghiên cứu, phân tích, tổng hợp điều kiện tự nhiên, kinh

tế - xã hội, đánh giá về tiềm năng, hiện trạng, xác định mục tiêu, nhu cầu sử dụng, thì tất cả các vấn đề liên quan đến việc hình thành, phương hướng sử dụng đã nằm trong tầm kiểm soát, điều tiết của cơ quan quản lý, kết hợp cùng

kế hoạch và thời gian đã được dự tính trước tạo nên sự đơn giản hóa và hiệu quả trong quản lý quỹ đất công ích

Bên cạnh đó việc thống kê, kiểm kê đất đai cũng là biện pháp quản lý tốt khi diện tích, ô thửa được thể hiện rõ trong hồ sơ địa chính, trong các bảng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất tổng thể của xã, phường, thị trấn là khi công tác quản lý, sử dụng quỹ đất công ích phát huy tốt chức năng

* Quản lý theo chính sách riêng của chính quyền từng xã

Mỗi cấp chính quyền là một tế bào tạo nên sự hoàn chỉnh của một bộ

Trang 24

máy Nhà nước với đầy đủ quyền hạn trong công tác quản lý điều tiết sự vận hành của đất nước, thể hiện một thể chế chính trị vững vàng của quốc gia Một cấp chính quyền sẽ có một phương thức thể hiện quyền hạn khác nhau và bằng các biện pháp, chính sách riêng để quản lý địa phương mình, nhưng đương nhiên vẫn nằm trong khuôn khổ pháp luật, không trái với đạo đức xã hội là nguyên tắc hàng đầu

Đối với đất đai là lĩnh vực cần nhiều sự quan tâm, quản lý chặt chẽ của toàn Đảng, toàn dân Ở từng nơi, chính sách về đất đai là khác nhau, có thể xem đây là lĩnh vực đại diện cho đặc điểm chung, về sự khác nhau trong công tác quản lý, cũng như thể hiện quyền hành của các đơn vị hành chính nhà nước Đất công ích, vì được tồn tại theo nhu cầu ở từng nơi nên có thể xem là loại đất thể hiện nhiều nhất đường lối quản lý khác nhau ở cấp xã

Dù chỉ là đơn vị hành chính thấp nhất trong cơ cấu bộ máy hành chính nhà nước nhưng cấp xã cũng có chính sách pháp luật riêng, độc lập được thừa nhận và không tách rời so với cơ chế chung của cả nước Ở mỗi xã, đất công ích hiện diện ở mức khác nhau, vì tùy theo điều kiện của từng nơi và nhu cầu

sử dụng khác nhau, mà được giữ lại diện tích đất khác nhau, thậm chí có xã không có đất công ích 5% Có thể coi chủ trương không để lại đó như là một cách thể hiện chính sách riêng quản lý của cấp xã, khi nhu cầu sử dụng đất ở địa phương đó không nhiều, không cần thiết phải đưa vào quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của xã để lập quỹ đất công ích Có xã xin được để lại nhưng với diện tích nhỏ hơn và trong khi cho thuê hay sử dụng trực tiếp thì mỗi xã, phường, thị trấn có những tiêu chuẩn khác nhau về diện tích đất được thuê, về chủ thể và giá đất công ích cho thuê Chính những biện pháp riêng như vậy, đã đem lại hiệu quả không kém trong công tác điều hành của cấp địa phương Kết quả đạt được đó một phần cũng do chính quyền địa phương gần dân nhất, hiểu rõ tình hình của cấp mình quản lý

Trang 25

* Quản lý đất công ích bằng việc thu tài chính

Tài chính là vấn đề không kém phần quan trọng để duy trì hoạt động chung của Nhà nước và trong các lĩnh vực khác Có tiền thì mới có kinh phí thực hiện việc cần làm, đó là vấn đề không thể phủ nhận Muốn có tài chính, cần xác định nguồn thu chủ yếu của nước ta, thông qua việc Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất, thu thuế sử dụng đất, cho các chủ thể

sử dụng vào xây dựng, kinh doanh, canh tác, đem về cho ngân sách quốc gia những khoản tiền khá, phục vụ chi cho hoạt động đất nước

Bên cạnh tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước, các hoạt động thu tiền

sử dụng từ đất đai cũng được xem như một cách quản lý đất đai, cụ thể là dưới hình thức Nhà nước thu tiền sử dụng đất Hiện nay, đất đai rất có giá trên thị trường, Nhà nước xác định khung giá các loại đất làm căn cứ để tính tiền sử dụng đất cho các chủ thể sử dụng, nhằm tạo nguồn thu cho quỹ tiền tệ quốc gia, đồng thời để thực hiện các biện pháp quản lý Nhà nước đối với đất đai Việc quy định các đối tượng sử dụng phải trả tiền sử dụng đất, còn nhằm khắc phục tình trạng sử dụng đất kém hiệu quả, lãng phí do việc giao cấp đất sử dụng không phải trả tiền như trước đây thúc đẩy hơn nữa các doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất kinh doanh Bên cạnh đó, còn có biện pháp cùng mục đích như thu tiền sử dụng đất, thu thuế sử dụng đất đối với đất Thực tế tìm hiểu thì thuế đất là một trong những loại thuế ra đời sớm nhất trong lịch

sử thế khóa, ở Việt Nam ra đời và tồn tại hơn 20 năm, có thể nói đây là sắc thuế ít có sự sửa đổi, bổ sung nhất so với các sắc thuế khác, trong hệ thống pháp luật thuế hiện hành Điều này còn thấy rõ mục đích chủ yếu của Nhà nước khi ban hành loại thuế này là nhằm thể hiện sự quản lý nhà nước đối với

đất đai [19, tr.12]

Mỗi loại đất khác nhau thì mức thuế suất được định ra là khác nhau Tùy theo từng mục đích sử dụng và mục đích điều tiết của Nhà nước, trong sử dụng

Trang 26

các loại đất đó, mà chính sách thuế sẽ đi theo, làm tiền đề tốt cho công tác quản

lý, cụ thể đối với đất phi nông nghiệp, đất phục vụ hoạt động kinh doanh, thì thuế sẽ cao hơn, vì một mặt nó sinh ra nhiều lợi nhuận hơn, mặt khác nó làm tổn hại đất, môi trường nhiều hơn và cả việc tránh đầu cơ về đất Trong khi đó, đất nông nghiệp thì mức thuế sẽ thấp hơn và thường xuyên được xem xét miễn giảm khi sử dụng, đó là cách Nhà nước bảo vệ quỹ đất nông nghiệp, khuyến khích sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, nhất là trồng lúa, đất công ích cũng được

áp dụng bằng biện pháp này vì nó có một chính sách thuế riêng, thuộc trường hợp ưu tiên khi sử dụng và chỉ có Ủy ban nhân dân là người nộp thuế cho Nhà nước, còn với danh nghĩa người thuê đất các chủ thể sử dụng như hộ gia đình,

cá nhân sẽ không chịu trách nhiệm nộp khoản thuế này

1.3 Chủ thể, nội dung, yêu cầu sử dụng quỹ đất công ích

1.3.1 Chủ thể sử dụng đất công ích

Sử dụng đất là việc người có quyền đã dùng các quyền đó của mình, với các hình thức, phương tiện trực tiếp hoặc gián tiếp tác động lên diện tích đất thuộc mình quản lý, sử dụng nhằm khai thác các công dụng, tính năng của đất, phục vụ các nhu cầu cần thiết của mình Theo quy định chung của pháp luật về đất đai, nằm trong khuôn khổ đó, đối với đất công ích là được chỉ định vào mục tiêu công ích nên ngoài các quy định về đối tượng sử dụng, hình thức sử dụng chung sẽ có tham các đặc trưng riêng và một số yếu tố khác hơn

so với các loại đất

Đối tượng được trở thành chủ thể sử dụng đất trong quan hệ pháp luật đất đai, nhìn chung rất đa dạng bao gồm các đối tượng trong và ngoài nước như: hộ gia đình, cá nhân, tổ chức, cơ sở tôn giáo,… Tùy theo từng nhu cầu

và tư cách chủ thể mà các đối tượng này được xem xét trở thành chủ thể sử dụng đối với đất Nhìn vào tổng thể thì đất công ích được sử dụng bởi hai đối tượng là Uỷ ban nhân dân cấp xã và hộ gia đình, cá nhân

Trang 27

(1) Đối tượng sử dụng đất công ích là Uỷ ban nhân dân cấp xã: Uỷ ban

nhân dân cấp xã là người sử dụng đất, được Nhà nước giao đất sử dụng vào các mục đích: đất nông nghiệp để sử dụng vào mục đích công ích; đất làm trụ

sở Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị -

xã hội của cấp xã; đất được Nhà nước giao cho Uỷ ban nhân dân cấp xã xây dựng các công trình công cộng về văn hóa, giáo dục, y tế, thể dục - thể thao, vui chơi giải trí, chợ, nghĩa trang, nghĩa địa và các công trình công cộng khác của địa phương

Là chủ thể được giao quyền quản lý, sử dụng đất công ích tạo lập trên cơ

sở nhu cầu thực tế của chính quyền địa phương mình, chính quyền cấp xã vừa

là cơ quan giữ vai trò quản lý, vừa có quyền sử dụng đất đối với đất công ích Nhờ vào mức độ tham gia đặc biệt đó, mà chính quyền địa phương cụ thể là

Uỷ ban nhân dân cấp xã trở thành đối tượng chủ yếu và trực tiếp nhất được phép sử dụng đất công ích

Vấn đề còn lại là xác định, Uỷ ban nhân dân cấp xã có được coi là một tổ chức mà Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất khi đặt cơ quan này trong vai trò là chủ thể sử dụng đất công ích Sở dĩ cần tìm hiểu điều này, là

để có thể phân định được các mức độ quyền cũng như nghĩa vụ của các đối tượng được sử dụng đất công ích kèm theo đó là công tác quản lý Theo quy định của Luật Đất đai hiện hành, các tổ chức được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất bao gồm các tổ chức sử dụng đất vào mục đích nghiên cứu, thí nghiệm, thực nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản và làm muối, xây dựng các công trình sự nghiệp, đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, giao thông thủy lợi, thể thao, y tế, văn hóa, đất làm nghĩa trang, nghĩa địa phục vụ lợi ích công cộng và các công trình công cộng khác không nhằm mục đích kinh doanh

Trang 28

Tổng hợp lại các đặc tính của tổ chức sử dụng đất dưới hình thức được giao không thu tiền sử dụng đất, có thể thấy rằng Uỷ ban nhân dân cấp xã giống như một tổ chức sử dụng đất công ích do Nhà nước giao thuộc vào mục đích công cộng tại xã và không phải trả tiền sử dụng đất Tuy nhiên, khi sử dụng đất mà Nhà nước giao không thu tiền sử dụng đất thì các tổ chức không được công nhận các quyền chuyển dịch đất như chuyển nhượng, chuyển đổi, tặng cho, cho thuê quyền sử dụng đất,… Trong khi Uỷ ban nhân dân cấp xã ngoài cái quyền được khai thác công dụng của đất công ích còn có thể đem diện tích đất công ích chưa sử dụng cho hộ gia đình, cá nhân trong địa bàn thuê Như vậy, mặc dù có nhiều điểm tương đồng với tổ chức sử dụng đất như cái ngoại lệ trên về quyền của chủ thể sử dụng đã không đồng hóa chính quyền cấp xã vào nhóm các tổ chức sử dụng đất do Nhà nước giao không thu tiền sử dụng đất Uỷ ban nhân dân cấp xã là một đối tượng đặc biệt trong quan hệ pháp luật về đất đai, thay mặt Nhà nước trong cả quản lý, sử dụng đất công ích

(2) Đối tượng sử dụng đất công ích là hộ gia đình, cá nhân, xét về mục

đích cũng như tên gọi của loại đất này có thể nhận thấy, sở dĩ nó được lập thành quỹ đất riêng, phân biệt với tổng diện tích đất nông nghiệp là vì nó chỉ chủ yếu dùng vào mục đích công ích của cấp xã nên chỉ có Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi có đất công ích được quyền sử dụng Nhưng thực tế, để tránh việc quỹ đất này đã được xây dựng nên mà không sử dụng, nói đúng hơn là chưa

có nhu cầu xây dựng các công trình công ích nói chung và trong tình trạng bỏ hoang, trong khi các chủ thể khác cần đất để sử dụng mà không có Để giải quyết tình trạng trên, Uỷ ban nhân dân cấp xã được quyền cho hộ gia đình, cá nhân thuê có thời hạn diện tích đất công ích chưa sử dụng đó

Nói như vậy không có nghĩa là bất kỳ hộ gia đình, cá nhân nào cũng đều được thuê đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích để sử dụng,

Trang 29

mà đối tượng đó phải có một số điều kiện nhất định Thứ nhất, do đất công

ích hình thành trên phương hướng chính được xác định là tạo quỹ đất trong phạm vi địa phương phục vụ cho nhu cầu công ích, thúc đẩy sự phát triển của cấp xã Có sự kế thừa tiêu chí trước đây của loại đất công làng xã, đất làng nào thuộc quyền sử dụng của làng đó cho nên đất công ích chỉ là giải pháp phục vụ riêng cho địa bàn có quỹ đất đó, chỉ hộ gia đình, cá nhân sinh sống tại

xã, phường, thị trấn đó mới được thuê đất công ích sử dụng Tuy không là một quy định khung nhưng dường như nó đã trở thành cái lệ ở hầu hết các địa phương có quỹ đất, chỉ cho người trong xã mình thuê đất công ích tại địa phương Cũng có trường hợp áp dụng quy chế hộ gia đình, cá nhân ngụ trên địa bàn khác lân cận đó có thể đến thuê đất công ích của xã nếu có nhu cầu sử dụng và chỉ khi diện tích đất đó không sử dụng hoặc người dân địa phương sử

dụng không hết Thứ hai, điều kiện được quy định rõ là chỉ những cá nhân, hộ

gia đình nào sống gắn bó với nghề nông, thiếu đất sản xuất dẫn đến có nhu cầu sử dụng đất công ích đó thì mới được vào vị trí chủ thể đi thuê đất của Uỷ ban nhân dân cấp xã và mục đích chủ yếu của việc thuê đất công ích không gì khác hơn mà phải đúng với cái gốc ban đầu của đất công ích, đất nông nghiệp, tức là chỉ được phép trồng cây hàng năm, trồng cây lâu năm và nuôi trồng thủy sản

1.3.2 Nội dung sử dụng quỹ đất công ích

Đất công ích xem xét từ góc độ tạo lập nên quỹ đất này, cùng với đối tượng sử dụng bao gồm Uỷ ban nhân dân cấp xã và hộ gia đình, cá nhân, quỹ đất công ích có nội dung sử dụng phù hợp với bản chất và mục đích của nó

Uỷ ban nhân dân cấp xã có thể được coi như là một chủ thể đặc biệt trong quan hệ pháp luật đất đai, vì là cơ quan duy nhất được trao quyền vừa quản lý, vừa sử dụng trực tiếp hoặc tự quyết định cho thuê đất đối với một

Trang 30

diện tích tương đối trong tổng diện tích đất nông nghiệp hiện có của địa phương

Hình thức sử dụng trực tiếp là hình thức Uỷ ban nhân dân cấp xã sử dụng đất đúng hiện trạng và diện tích theo quy hoạch chi tiết đã lập của từng địa phương Khi có nhu cầu sử dụng vào mục đích phát triển của xã, chính quyền sở tại đã trình bày các phương hướng phát triển đó của mình một cách khá cụ thể và chi tiết vào kế hoạch sử dụng đất do cấp huyện hoạch định, nghĩa là xin để lại bao nhiêu đất cho quỹ đất công ích nhằm xây dựng xây dựng công trình gì,… khi các dự kiến đó được chấp thuận, quyết định thành lập quỹ đất theo yêu cầu nghĩa là Uỷ ban nhân dân cấp xã sẽ căn cứ đúng vào

kế hoạch ban đầu đặt ra, để sử dụng đất công ích mà chủ yếu nhất là xây dựng các cơ sở phục vụ công cộng gắn liền với lợi ích chung trên địa bàn địa phương nơi đất công ích tọa lạc Với hình thức sử dụng đất này cũng là cách Nhà nước đại diện cho người dân thể hiện các nhu cầu sử dụng đất, thông qua vai trò của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn Nói như vậy vì khi xây dựng các công trình gọi là để phục vụ công ích chính là các sản phẩm được làm ra để cho chính người dân trong địa phương đó dùng trong đời sống và sinh hoạt hàng ngày

Một hình thức sử dụng khác được xem là gián tiếp của Uỷ ban nhân dân cấp xã đó là việc cơ quan này tạm thời cho hộ gia đình, cá nhân thiếu đất sản xuất thuê diện tích đất công ích còn trống chưa sử dụng vào mục đích công ích nào, tiền thu được từ hoạt động cho thuê đất đó cũng sẽ được sử dụng giống như khoản tiền được hỗ trợ khi có đất công ích bị thu hồi, nghĩa là

sử dụng để trả cho các chi phí xây dựng các công trình công ích trong xã hoặc nộp vào ngân sách của Nhà nước nếu không sử dụng hoặc sử dụng không hết

Ngoài ra, còn có hình thức sử dụng đất công ích của hộ gia đình, cá nhân thông qua hợp đồng thuê đất mà hộ gia đình, cá nhân có nhu cầu sử

Trang 31

dụng là người thuê và Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi có đất công ích là bên cho thuê Hình thức này được coi như là giải pháp giải quyết tạm thời tình trạng lãng phí đất của bên cho thuê và đáp ứng nhu cầu sử dụng đất của chủ thể thuê, tạo sự ổn định và phát triển cân đối của địa phương Hộ gia đình, cá nhân khi có nhu cầu về đất để sản xuất nông nghiệp thì nộp đơn xin thuê đất

và nếu đủ điều kiện sẽ ký hợp đồng thuê Ở đây cần làm rõ, tính chất của hình thức sử dụng này là kém ổn định, một mặt là do chỉ là giao dịch mang tính chất tạm thời, mặt khác hợp đồng thuê đất không có cơ sở bền vững như các hợp đồng thuê đất của các tổ chức, cá nhân khác được Nhà nước cho thuê đối với các loại đất ngoài quỹ đất công ích này

Việc Ủy ban nhân dân cấp xã cho thuê đối với đất công ích thường thông qua hình thức đấu giá quyền sử dụng đất, theo đó Uỷ ban nhân dân cấp

xã lập phương án đấu giá quyền sử dụng đất để nhận thầu cho thuê đất công ích, trình Ủy ban nhân dân cấp huyện phê duyệt Sau khi phương án đấu giá được duyệt, Ủy ban nhân dân cấp xã thuê đơn vị tổ chức cuộc đấu giá tiến hành tổ chức đấu giá theo quy định của pháp luật Sau khi có kết quả đấu giá, đơn vị tổ chức đấu giá gửi kết quả đấu giá nhận thầu đất công ích cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất, căn cứ vào kết quả đấu giá Ủy ban nhân dân cấp

xã mời cá nhân, hộ gia đình trúng đấu giá nhận thầu đất công ích đến Ủy ban nhân dân cấp xã để ký hợp đồng thuê đất

Việc cho thuê đất phải lập thành hợp đồng bằng văn bản nêu rõ quyền

và nghĩa vụ của người thuê đất và các vấn đề khác có liên quan, Ủy ban nhân dân cấp xã ký bên cho thuê với thời hạn cho thuê đất mỗi lần không quá năm (05) năm Ủy ban nhân dân cấp xã, cấp huyện không ban hành quyết định cho thuê đất, người được thuê đất không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất

Trang 32

Trong thời hạn thuê, khi nhà nước có nhu cầu sử dụng thì sau khi văn bản thu hồi đất của cơ quan có thẩm quyền, trong thời hạn 90 ngày người được thuê đất phải trả lại đất, trường hợp người được thuê đất sử dụng đúng mục đích thì được bồi thường thiệt hại cây trồng, vật nuôi, di dời vật kiến trúc, chi phí đầu tư vào đất quy định pháp luật Đối với tiền thuê đất đã trả trước thì được khấu trừ lại đến thời điểm trả lại đất

Ngoài ra, Nhà nước còn ban hành quy định khác về sử dụng đất công ích như:

* Về thời gian sử dụng đất công ích

Thời gian sử dụng đất là thời hạn mà người sử dụng có quyền khai thác,

sử dụng loại đất, diện tích đất được Nhà nước cho phép sử dụng, được xác định theo từng loại đất, diện tích và phương thức tạo lập Thời gian sử dụng đất có các loại đất sử dụng ổn định lâu dài, đất sử dụng có thời hạn

Dưới hình thức tạo lập, đất công ích cũng là loại đất mà Nhà nước giao cho chính quyền của từng xã, phường, thị trấn quản lý, sử dụng, là loại đất đặc biệt theo tiêu chí chung của Nhà nước dùng vào mục đích công ích, nhưng lại không quy định rõ trong danh mục loại đất nào, ổn định lâu dài hay sử dụng

có thời hạn Nếu xem xét trong Luật Đất đai năm 2013 quy định đất làm nghĩa trang, nghĩa địa là đất sử dụng không có thời hạn, bên cạnh đó các công trình công ích mà đất công ích được dùng để xây dựng lên cũng có phần đất dùng

để xây dựng nghĩa trang, nghĩa địa Như vậy, có thể xem đất công ích là loại đất được sủ dụng với thời gian ổn định lâu dài

Nhưng mặt khác, khi xét đến hình thức sử dụng dưới dạng hợp đồng thuê đất công ích của hộ gia đình, cá nhân thuê của Uỷ ban nhân dân cấp xã thì thời hạn sử dụng không còn là vô thời hạn nữa Vào thời gian có hiệu lực của Luật Đất đai năm 1993 thì không có quy định cụ thể về thời gian sử dụng đất của đất công ích, mà chỉ chủ yếu dựa vào sự thỏa thuận giữa chủ thể đi thuê

Trang 33

và người cho thuê Cụ thể là Uỷ ban nhân dân cấp xã và hộ gia đình, cá nhân, căn cứ vào nhu cầu và mục đích sử dụng của hộ gia đình cá nhân khi xin thuê đất, Uỷ ban nhân dân cấp xã sẽ quyết định cho thuê đất, thời gian thuê có thể

là 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa nếu có nhu cầu sử dụng Sau đó, tại Khoản 7 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai năm

1998 đã có quy định giới hạn lại thời gian sử dụng trong trường hợp này là không quá 05 năm và được áp dụng cho đến hiện nay Luật Đất đai năm 2013 giới hạn thời gian sử dụng của đất công ích không quá 05 năm là việc Nhà nước muốn khẳng định lại đây chỉ là một hình thức sử dụng mang tính chất tạm thời của đất công ích, là giải pháp trước mắt để tránh được tình trạng hoang phí đất khi chính quyền địa phương chưa có nhu cầu, cũng như chưa có chính sách kịp thời để sử dụng đối với diện tích đất công ích đã được thành lập đó Cho hộ gia đình, cá nhân thuê đất công ích chủ yếu là để sản xuất, hoạt động nông nghiệp nên thời hạn năm năm là hợp lý vừa giải quyết được nhu cầu sử dụng đất của người sử dụng vừa tạo nguồn thu cho ngân sách không có tình trạng bỏ đất hoang hóa, có thể coi đây là một quy trình phù hợp với thực

tế và có hiệu quả cả về công tác quản lý và trong việc sử dụng tốt quỹ đất công ích của xã, phường, thị trấn

* Về diện tích quỹ đất công ích được sử dụng

Quy định về diện tích sử dụng đất là việc Nhà nước đặt ra giới hạn cụ thể cho người sử dụng biết để sử dụng đất Đối với đất công ích vấn đề hạn mức

sử dụng đất là không có quy định, mà chỉ được giới hạn tỷ lệ trích ra từ đất sản xuất nông nghiệp của xã, phường, thị trấn Giới hạn tối đa mà cấp xã được quản lý, sử dụng chỉ là không quá 5% trong tổng diện tích đất trồng cây hàng năm, trồng cây lâu năm và đất dùng trong nuôi trồng thủy sản mà cấp xã quản

lý Trước đây, khi với hình thức là đất phần trăm, trong quy định của Luật Đất đai năm 1987, tỷ lệ diện tích đất được lập và sử dụng gấp hai lần so với đất

Trang 34

công ích, cụ thể là không quá 10% so với tổng quỹ đất nông nghiệp của địa phương

Sở dĩ đất công ích được lập với diện tích nhỏ hơn so với đất phần trăm trước kia cũng là lẽ hiển nhiên, theo sự thay đổi của đất nước và nhu cầu sử dụng đất như hiện nay Trước kia diện tích đất đai còn rộng, chưa sử dụng nhiều vào các mục đích công nghiệp hóa, chủ yếu là sản xuất nông nghiệp làm tiền đề phát triển kinh tế, đặc biệt là hình thức sản xuất của hợp tác xã nông nghiệp Với chính sách “dân giàu, nước mạnh” việc để lại nhiều đất cho hộ gia đình làm nông nhiều đất canh tác được xem là cơ sở khuyến khích làm giàu, cải thiện đời sống người dân trong hợp tác xã, góp phần phát triển nước nhà Về sau, khi sự xuất hiện của nhiều hình thức kinh tế khác nhau, với công nghiệp, khoa học kỹ thuật là những ngành nghề không giữ vai trò chủ chốt đối với một nước có truyền thống sản xuất nông nghiệp như Việt Nam, nhưng cũng thể hiện được vai trò đưa đất nước lên tầm phát triển mới, các hoạt động diễn ra trong lĩnh vực phi nông nghiệp càng nhiều, càng đem lại nhiều lợi ích kinh tế thì đòi hỏi nhiều hơn diện tích đất sử dụng, vì đất là tư liệu sản xuất quan trọng Thu hẹp diện tích đất 10% làm kinh tế hộ gia đình là cách giải quyết tốt cho nhu cầu sử dụng đất, suy cho cùng đây cũng chỉ là tiêu chí nhằm thúc đẩy làm giàu cho đất nước, việc nào có lợi hơn thì nên tập trung đầu tư, bên cạnh đó vẫn giữ lại 5% tuy mục đích sử dụng có khác hơn so với đất làm kinh tế hộ gia đình, không còn thuần túy là chỉ phục vụ sản xuất nông nghiệp,

mà đưa vào xây dựng các công trình công ích, nhưng vẫn giữ lại được một diện tích đất nông nghiệp theo tên gọi cho xã Tạo sự cân đối giữa nông nghiệp và phi nông nghiệp

Đối với trường hợp để lại, sử dụng đất công ích vượt quá mức diện tích quy định thì hướng giải quyết được đưa ra từ các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Đất đai năm 1993, là sẽ đưa phần diện tích vượt khỏi giới hạn cho phép

Trang 35

đó vào quỹ đất chung hay gọi là đất công để giao cho hộ gia đình, cá nhân Đối với những nơi đã để lại quỹ đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích vượt quá 5% thì diện tích ngoài mức 5% được sử dụng để xây dựng hoặc bồi thường khi sử dụng đất khác để xây dựng các công trình công cộng của địa phương; giao cho hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản tại địa phương; giao cho hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản tại địa phương chưa được giao đất hoặc

thiếu đất sản xuất [1, tr.13]

Cho đến nay, với các văn bản về đất đai hiện hành, không tìm thấy quy định mới về vấn đề này, vậy nên có thể áp dụng cách xử lý đã có đó để quyết định cho diện tích đất công ích quá 5% mà Luật Đất đai năm 2013 đã đề ra

* Về giá đất khi hộ gia đình, cá nhân thuê đất công ích

Giá đất hay giá quyền sử dụng đất là số tiền tính trên một đơn vị diện tích đất do Nhà nước quy định hoặc được hình thành trong một giao dịch về quyền

sử dụng đất Được khái quát như trên, tuy nhiên trong việc sử dụng đất công ích, do là hình thức thuê đất từ chính quyền cấp xã, nên giá thuê được xác định theo một cơ chế riêng Như đã được khẳng định từ đầu, đất công ích là loại đất khi tiến hành khai thác, canh tác, các chủ thể sử dụng không phải trả tiền sử dụng đất theo quy định chung về tiền sử dụng đất của pháp luật đất đai, cho dù đó là UBND hay các đối tượng đi thuê diện tích đất này Theo đó, trong việc xác định giá đất cho đất công ích chỉ đơn thuần là tìm hiểu giá mà

Uỷ ban nhân dân đưa ra cho hộ gia đình, cá nhân có nhu cầu thuê đất công ích Khác với các hợp đồng thuê các loại đất khác của Nhà nước, giá tiền thuê đất công ích sẽ không xác định căn cứ vào khung giá của Nhà nước, mà các chủ thể đi thuê sẽ dựa vào kết quả đấu giá, đấu thầu dự án có sử dụng đất được Uỷ ban nhân dân tổ chức, theo đó có thể thấy rằng giá đất công ích khi cho thuê là khoản tiền mà người sử dụng phải trả theo giá đã trúng đấu giá

Trang 36

Tiền thuê đất công ích: Khác với tiền sử dụng đất, tiền thuê đất là khoản tiền mà người sử dụng đất phải trả khi khai thác diện tích đất thuê, hai loại nghĩa vụ tài chính này được phân riêng, bởi vì nó phát sinh từ hai hình thức tạo lập đất khác nhau Tiền sử dụng đất được trả khi chủ thể sử dụng đất được Nhà nước giao Tiền thuê đất giống với tên gọi là khoản tiền người sử dụng phải trả cho hoạt động thuê đất của mình đối với đất công ích, đây là loại đất

mà Uỷ ban nhân dân cho người dân trong xã thuê để sản xuất nông nghiệp, tiền thuê đất là một nghĩa vụ tài chính bắt buộc mà người đi thuê phải trả cho

Uỷ ban nhân dân ngay sau khi ký xong hợp đồng thuê đất công ích Giá đất công ích cho thuê được xác định với hình thức đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu dự án có sử dụng đất nên giá thuê được xác định căn cứ vào giá đấu thầu như đã đề cập trong phần quy định về giá đất công ích khi cho thuê Việc xác định hình thức mà người sử dụng trả tiền thuê đất cho Nhà nước theo quy định chung thì có nhiều lựa chọn khác nhau, tùy theo đối tượng sử dụng và loại đất

sử dụng mà có thể lựa chọn trả trước cho nhiều năm, trả trước tất cả thời gian

sử dụng hoặc trả theo từng năm Đối với đất công ích, khi trả tiền thuê đất tuy không có quy định cụ thể nhưng theo nguyên tắc chung khi hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất với hình thức thuê thì không được lựa chọn mà theo luật định là trả tiền thuê đất hằng năm Thêm nữa, tính chất của hợp đồng thuê đất công ích chỉ là tạm thời với thời gian thuê không quá 5 năm và diện tích thuê thường không lớn, nên việc trả tiền thuê đất có thể sẽ được thanh toán từng năm khi ký xong hợp đồng thuê

1.3.3 Yêu cầu sử dụng đất quỹ đất công ích

Thứ nhất, sử dụng quỹ đất công ích đảm bản đúng quy hoạch, kế hoạch

sử dụng đất và đúng mục đích sử dụng đất đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt

Trang 37

Thứ hai, sử dụng quỹ đất công ích đảm bảo tiết kiệm, có hiệu quả, bảo vệ

môi trường và không làm tổn hại đến lợi ích chính đáng của người sử dụng

đất xung quanh

Thứ ba, cơ quan, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất thực hiện

quyền và nghĩa vụ của mình trong thời hạn sử dụng đất theo quy định của pháp luật

Kết luận Chương 1

Đất công ích là diện tích đất mà mỗi xã, phường, thị trấn căn cứ vào quỹ đất, đặc điểm và nhu cầu của địa phương, mà được giữ lại không quá năm phần trăm (5%) trong tổng diện tích đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm và đất nuôi trồng thủy sản của địa phương để thực hiện các mục đích công ích tại xã, phường, thị trấn thuộc địa phương đó

Quỹ đất công ích được giữ lại nhằm đáp ứng nhu cầu xây dựng các công trình văn hóa, y tế, thể dục thể thao, vui chơi giải trí công cộng, nghĩa trang, nghĩa địa và các công trình khác; bên cạnh đó còn sử dụng vào việc xây dựng nhà tình thương, nhà tình nghĩa cho những gia đình nghèo, neo đơn hoặc gia đình có công với cách mạng, bồi thường khi sử dụng đất khác để xây dựng các công trình nói trên Ngoài ra, đất công ích còn được sử dụng như là cơ sở

hạ tầng, nhằm phục vụ cho Nhà nước trong việc chỉnh trang, phát triển các khu dân cư nông thôn cùng các mục đích khác phát sinh trực tiếp trong nhu cầu sử dụng tại địa phương như trường hợp cho người dân diện tích đất công ích làm nhà ở theo dạng cấp đất dãn dân hoặc do Chính phủ quy định

Ở nước ta, Nhà nước luôn thể hiện vai trò quản lý đối với đất đất đai nói chung và đất công ích nói riêng, đó là việc Nhà nước sử dụng các biện pháp, công cụ quản lý của mình tác động đất công ích nhằm làm cho các đối tượng

Trang 38

quản lý, sử dụng đất công ích phải tuân thủ theo đúng pháp luật, đúng định hướng và đúng mục tiêu mà Nhà nước mong muốn

Nhà nước quản lý đối với đất công ích được thông qua phương pháp quản lý chung của Luật Đất đai, theo chính sách riêng của từng cấp xã và bằng việc thu tài chính; đồng thời, quy định rõ về thời gian sử dụng đất công ích, diện tích đất công ích được sử dụng, giá đất khi hộ gia đình, cá nhân thuê đất công ích

Đất công ích là một thành phần của đất đai nói chung, nên việc quản lý nhà nước ở cấp Trung ương đối với đất công ích cũng được áp dụng theo quy định chung của pháp luật đất đai, Quốc hội quản lý đất đai bằng việc ban hành pháp luật về đất đai, quyết định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cả nước, thực hiện quyền giám sát tối cao đối với việc quản lý và sử dụng đất đai trong phạm vi cả nước Chính phủ thống nhất quản lý Nhà nước về đất đai trong phạm vi toàn quốc, trong đó có quỹ đất 5% phục vụ nhu cầu công ích của cấp

Ở địa phương, dựa vào đặc điểm và nhu cầu của từng vùng, từng địa phương mà Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định việc thành lập, hay không thành lập quỹ đất công ích cho xã, phường, thị trấn Uỷ ban nhân dân tỉnh có trách nhiệm quản lý nhà nước về quỹ đất công ích tại địa phương Bên cạnh

đó, chính quyền cấp huyện đóng vai trò như một cơ quan trung gian, quyết định xét duyệt quy hoạch, kế hoạch của cấp xã trình lên và chuyển cho cấp trên quyết định, cấp huyện quản lý theo dõi thông qua sổ sách, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đối với diện tích đất công ích của xã trên phạm vi địa bàn huyện Cấp xã là cấp chính quyền địa phương đóng vai trò quản lý trực tiếp nhất đối với đất đai, mà đặc biệt là quỹ đất công ích được hình thành trong xã

Trang 39

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ, SỬ DỤNG QUỸ ĐẤT CÔNG ÍCH TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN MỘ ĐỨC, TỈNH QUẢNG NGÃI

2.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội và thực trạng quản lý, sử dụng quỹ đất công ích trên địa bàn huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi

2.1.1 Khái quát về đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi

* Điều kiện tự nhiên

Huyện Mộ Đức là huyện đồng bằng cách trung tâm của tỉnh (thành phố Quảng Ngãi) khoảng 25 km và cách Khu Kinh tế Dung Quất 60 km về phía Nam, nằm trong tọa độ địa lý từ 15000'00" đến 15007'30" vĩ độ Bắc, 108036'40" đến 108054'21" kinh độ Đông Phía Đông giáp Biển Đông; phía Tây giáp huyện Ba Tơ; phía Nam giáp huyện Đức Phổ, huyện Nghĩa Hành và huyện Minh Long; phía Bắc giáp huyện Tư Nghĩa

Toàn huyện có 13 đơn vị hành chính gồm 12 xã, 01 thị trấn Tổng diện

tích tự nhiên là 22.779,72 ha (chiếm 14,43% tổng diện tích tự nhiên toàn

tỉnh), dân số trung bình năm 2015 là 167.506 người, mật độ dân số trung bình

735,3 người/km2 (Niên giám thống kê huyện Mộ Đức năm 2015)

Với tuyến quốc lộ 1A và đường sắt Bắc - Nam chạy qua; đồng thời, nằm trong vùng ảnh hưởng của Khu Kinh tế Dung Quất và thành phố Quảng Ngãi, Mộ Đức có điều kiện thuận lợi cho việc khai thác những thế mạnh về tiềm năng đất đai, lao động, giao lưu trao đổi hàng hóa, thu hút vốn đầu tư nước ngoài,… tạo động lực để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, hoà nhập vào xu thế phát triển chung của tỉnh và khu vực miền Trung - Tây nguyên Bên cạnh đó, với 6 km bờ biển, diện tích ngư trường lớn với nhiều loại hải sản quý hiếm, là điều kiện để Mộ Đức phát triển kinh tế thủy hải sản để cung

Trang 40

cấp sản phẩm cho chế biến và xuất khẩu

Huyện Mộ Đức có đầy đủ các loại địa hình như núi, gò đồi, đồng bằng duyên hải và ven biển Địa hình thấp dần từ Tây sang Đông và nghiêng dần xuống triền sông Trà Khúc với ba dạng địa hình chính:

- Dạng địa hình đồi núi trung bình, có một số đỉnh cao ở phía Tây Nam của huyện, chiếm 23,8% tổng diện tích toàn huyện, độ cao trung bình từ 150 -

250 m Địa hình đồi núi cao có độ dốc tương đối lớn, lớp phủ thực vật kém nên khả năng xói mòn mạnh

- Dạng địa hình đồi núi thấp phía Tây Bắc, có độ cao trung bình từ 15-25

m so với mực nước biển, chiếm 34,8% tổng diện tích toàn huyện Trong khu vực địa hình này có nhiều cánh đồng bằng nhỏ xen kẽ, tạo điều kiện cho việc

đa dạng hóa các loại hình sản xuất nông lâm nghiệp

- Dạng địa hình đồng bằng nằm phía Đông Nam và ven biển, có độ cao trung bình từ 2 - 5 m, chiếm 41,4% tổng diện tích toàn huyện, phân bố ở các

xã và thị trấn còn lại

Huyện Mộ Đức nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình, nền

nhiệt độ cao (nhiệt độ trung bình ở đồng bằng là 25,9 0 C, vùng núi là 22,2 0 C) và

ít biến động, mưa nhiều Chế độ ánh sáng, mưa, ẩm phong phú, gồm 2 tiểu vùng khí hậu là vùng đồng bằng và vùng núi Nền nhiệt độ vùng núi thường thấp hơn vùng đồng bằng, thời gian xuất hiện sương mù ở vùng núi cũng muộn hơn vùng đồng bằng

* Điều kiện kinh tế - xã hội

Mặc dù gặp nhiều khó khăn liên quan đến điều kiện sản xuất, giá cả và thị trường tiêu thụ, khủng hoảng kinh tế thế giới, những năm qua nền kinh tế

xã hội của huyện vẫn đạt được những thành tựu đáng khích lệ, vị trí, vai trò của huyện Mộ Đức trong nền kinh tế của tỉnh ngày càng được nâng cao

Ngày đăng: 07/06/2018, 15:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w