Trong thời kì bao cấp chất lượng sản phẩm không phải là vấn đề quyết định vì sản phẩm sản xuất ra đã có nhà nước tiêu thụ, vì vậy mà các doanh nghiệp chỉ quan tâm đến việc chạy đua tăng năng suất để vượt mức kế hoạch, còn chất lượng sản phẩm thì bị lơi lỏng bỏ quên. Nhưng ngày nay trong cơ chế thi trường có sự quản lý của nhà nước, trong xu thế toàn cầu hoá về kinh tế, sự cạnh tranh trên thị trường ngày càng trở nên quyết liệt thì chất lượng sản phẩm và dịch vụ, sự thoả mãn nhu cầu của khách hàng, sự hợp lí về giá cả đảm bảo đúng thời gian giao hàng sẽ là những nhân tố quyết định sự thành bại của doanh nghiệp. Vì vậy ngày nay chất lượng sản phẩm là một trong ngững mối quan tâm hàng đầu của doanh nghiệp. Đặc biệt là ngành may mặc, một ngành sản xuất hàng hoá tiêu dùng có tính thời vụ thì chất lượng sản phẩm càng trở thành một vấn đề quan trọng. Với tính chất quan trọng của chất lượng sản phẩm và đặc điểm của ngàmh may mặc thì ta thấy rằng vấn đề chất lượng và quản lý chất lượng sản phẩm ngành may mặc cần được quan tâm nghiên cứu và giải quyết. Tuy rằng đây là một công trình nghiên cứu còn sơ sài, trình độ còn nhiều hạn chế nên không tránh khỏi những thiếu sót, song tôi cũng hy vọng rằng đây sẽ là một tài liệu tham khảo hữu ích cho những ai quan tâm đến vấn đề này. Rất mong sẽ được sự tham gia góp ý của cá thầy các cô và các bạn.Tôi xin chân thành cảm ơn.
Trang 1
LỜI NÓI ĐẦU
Trong thời kì bao cấp chất lượng sản phẩm không phải là vấn đề quyết
định vì sản phẩm sản xuất ra đã có nhà nước tiêu thụ, vì vậy mà các doanh nghiệp chỉ quan tâm đến việc chạy đua tăng năng suất để vượt mức kế hoạch, còn chất lượng sản phẩm thì bị lơi lỏng bỏ quên Nhưng ngày nay trong cơ chế thi trường có sự quản lý của nhà nước, trong xu thế toàn cầu hoá về kinh
tế, sự cạnh tranh trên thị trường ngày càng trở nên quyết liệt thì chất lượng sản phẩm và dịch vụ, sự thoả mãn nhu cầu của khách hàng, sự hợp lí về giá
cả đảm bảo đúng thời gian giao hàng sẽ là những nhân tố quyết định sự thành bại của doanh nghiệp Vì vậy ngày nay chất lượng sản phẩm là một trong ngững mối quan tâm hàng đầu của doanh nghiệp Đặc biệt là ngành may mặc, một ngành sản xuất hàng hoá tiêu dùng có tính thời vụ thì chất lượng sản phẩm càng trở thành một vấn đề quan trọng Với tính chất quan trọng của chất lượng sản phẩm và đặc điểm của ngàmh may mặc thì ta thấy rằng vấn đề chất lượng và quản lý chất lượng sản phẩm ngành may mặc cần được quan tâm nghiên cứu và giải quyết Tuy rằng đây là một công trình nghiên cứu còn sơ sài, trình độ còn nhiều hạn chế nên không tránh khỏi những thiếu sót, song tôi cũng hy vọng rằng đây sẽ là một tài liệu tham khảo hữu ích cho những ai quan tâm đến vấn đề này Rất mong sẽ được sự tham gia góp ý của cá thầy các cô và các bạn.Tôi xin chân thành cảm ơn.
Trang 2Phần I : Cơ sở lý luận về chất lượng và quản lý chất lượng
1.Chất lượng sản phẩm là gì?
1.1 Các quan điểm về chất lượng
Có thể nói chất lượng sản phẩm là một phạm trù kinh tế kĩ thuật khá trừutượng Khi nhìn nhận sản phẩm trên những góc độ khác nhau ta lại có nhữngquan niệm khác nhau về chất lượng sản phẩm
Quan niệm siêu việt về chất lượng : chất lượng là sự tuyệt hảo của sảnphẩm so với sản phẩm cùng loại
Quan niệm chất lượng sản phẩm theo hướng sản phẩm: đứng trên góc độnày người ta cho rằng chất lượng sản phẩm là một tập hợp các thuộc tínhphản ánh tính năng tác dụng của sản phẩm đó
Quan niệm chất lượng hướng theo người sản xuất: đứng trên góc độ ngườisản xuất thì họ cho rằng chất lượng sản phẩm là sự phù hợp và đạt được củamột sản phẩm so với một tập hợp các yêu cầu và hệ thống tiêu chuẩn đã đượcthiết kế từ trước
- Quan niệm chất lượng theo thị trường cho rằng chất lượng sản phẩm là sự
phù hợp với mục đích và yêu cầu của người sử dụng (xuất phát từ nhu cầu củathị trường)
- + Xuất phát từ giá cả (mối quan hệ giữa lợi ích của sản phẩm với chi phí
phải bỏ ra ) chất lượng là cung cấp những sản phẩm dịch vụ ở mức giá màkhách hàng có thể chấp nhận được
- + Xuất phát từ cạnh tranh ta lại có định nghĩa : chất lượng đó là cung
cấpnhững đặc điểm của sản phẩm và dịch vụ mà đối thủ cạnh tranh không có
Trang 3- Mỗi định nghĩa trên đều xuất phát từ một khía cạnh nhất định vì vậy tuy
ở mỗi cách đêù có những ưu điểm nhất định song cũng đều không tránh khỏinhững hạn chế nhất định để đưa ra một định nghĩa dễ hiểu, loại bỏ đượcnhững hạn chế trên thì tổ chức tiêu chuẩn hoá quốc tế (ISO) có định nghĩatrong ISO 9000 như sau: ” chất lượng là một tập hợp các tính chất và đặctrưng của sản phẩm có khả năng thoả mãn những nhu cầu đã nêu ra hoạc tiềmẩn”
- 1.2 Các yếu tố cấu thành chất lượng sản phẩm
- Trong một sản phẩm có nhiều nhóm thuộc tính thể hiện chất lượng sản
phẩm như:
- - Các thuộc tính phản ánh chức năng tác dụng của sản phẩm thể hiện
khả năng của sản phẩm có thể thực hiện chức năng hoạt động như mongmuốn
- - Tuổi thọ sản phẩm thể hiện khả năng giữ được tính năng tác dụng
trong điều kiện hoạt động bình thường trong khoảng thời gian nhất định
- - Tính thẩm mĩ của sản phẩm : là các thuộc tính thể hiện sự gợi cảm thu
hút khách hàng như hình dáng màu sắc kích thước, cách trang trí, tính thờitrang…
- - Độ tin cậy của sản phẩm : là khả năng thực hiện đúng tính năng hoạt
động như thiết kế và hoạt động chính xác
- - Tính kinh tế của sản phẩm thể hiện ở tiết kiệm chi phí tổng sản xuất và
tiêu thụ sản phẩm
- -Tính tiện dụng của sản phẩm thể hiện ở khả năng dễ bảo quản, dễ vận
chuỷên, dễ sửa chữa, dễ sử dụng
- - Tính an toàn của sản phẩm khác với các thuộc tính trên đối với tính an
toàn của sản phẩm do nhà nước qui định các sản phẩm phải tuân thủ qui định
về tính an toàn sản phẩm
Trang 4- - Mức độ gây ô nhiễm của sản phẩm do các tổ chức các quốc gia qui
định
- - Các dịch vụ kèm theo như bảo hành vận chuyển hướng dẫn
- 1.3 Đặc điểm của chất lượng sản phẩm
- Chất lượng sản phẩm được cấu thành bởi nhiều yếu tố vì vậy nó sẽ có rất
nhiều đặc điểm khác nhau Dưới đây là một vài đặc điểm chung nhất
- - Chất lượng sản phẩm là một phạm trù tổng hợp các yếu tố kinh tế xã hội
kĩ thuật vì vậy nó được thể hiện thông qua một hệ thống các chỉ tiêu kinh tế kĩthuật văn hoá của sản phẩm
- - Chất lượng có ý nghĩa tương đối có nghĩa là chất lượng thường xuyên
thay đổi theo không gian và thời gian
- Có thể ở giai đoạn này sản phẩm có chất lượng được đánh giá là cao
nhưng ở giai đoạn sau thì không chắc đã cao do khoa học kĩ thuật ngày càngphát triển và nhu cầu của con người cũng ngày càng cao hơn Vì vậy chấtlượng chỉ được đánh giá theo từng thời điểm Các nhà sản xuất phải nắmchắc đặc điểm này để luôn luôn đổi mới và cải tiến công nghệ để ngày càngnâng cao chất lượng sản phẩm để ngày càng đáp ứng tốt hơn nhu cầu của thịtrường
- - Chất lượng chỉ phù hợp ở từng thị trường cụ thể do nhu cầu và sở thích
của người dân ở mỗi vùng là khác nhau Vì vậy khi đưa sản phẩm mới vào thitrường thì doanh nghiệp phải nghiên cứu kỹ thị trường đó
- - Chất lượng vừa mang tính trừu tượng vừa mang tính cụ thể Tính trừu
tượng thông qua sự phù hợp, nó phản ánh mặt chủ quan của sản phẩm và phụthuộc vào nhận thức của khách hàng Nâng cao chất lượng loại này sẽ có tácdụng tăng khả năng hấp dẫn thu hút khách hàng nhờ đó tăng khả năng tiêu thụsản phẩm Chất lượng phải thông qua các chỉ tiêu kinh tế kĩ thuật, cụ thể đượcthể hiện thông qua chất lượng tuân thủ thiết kế, thông qua tính khách quan
Trang 5của sản phẩm Nâng cao chất lượng loại này làm giảm chi phí và tạo điều kiệncho doanh nghiệp có khả năng thực hiện chính sách giá cả linh hoạt.
- - Chất lượng sản phẩm chỉ thể hiện đúng trong điều kiện tiêu dùng cụ
thể, phù hợp với mục đích sử dụng nhất định
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm Chất lượng sản phẩm là một phạm trù tổng hợp kinh tế kĩ thuật xã hộinên nó chịu sự tác động, ảnh hưởng của rất nhiều nhân tố kinh tế, kĩ thuật, xãhội Vì vậy nhà sản xuất cần quan tâm đến các yếu tố đó để ngày càng đápứng tốt nhu cầu về chất lượng sản phẩm của thị trường
1.4.1 Các nhân tố bên ngoài
- Tình hình thị trường : tình hình thị trường tác động đến sản phẩm có ýnghĩa quyết định đến định hướng xác định sản phẩm thông qua
Thứ nhất là đặc điểm của nhu cầu thị trường, đây là căn cứ để xác địnhđặc điểm của sản phẩm Có xác định được đặc điểm của nhu cầu thị trườngthì sản phẩm sản xuất ra mới phù hợp với thị trường có như vậy sản phẩmmới dược thị trường chấp nhận
Thứ hai là sự cạnh tranh trên thị trường tạo ra sức ép buộc các doanhnghiệp phải đổi mới nâng cao chất lượng sản phẩm
- Tiến bộ khoa học công nghệ: tiến bộ khoa học công nghệ tác động toàndiện nhất đến chất lượng sản phẩm: khoa học công nghệ tạo khả năng để nângcao chất lượng sản phẩm thông qua:
Thứ nhất thông qua việc tạo ra được các nguyên vật liệu mới thay thếnguyên vật liệu truyền thống tạo ra đầu vào có chất lượng cao hơn
Thứ hai là tạo ra thiết bị sản xuất mới có khả năng sử dụng tiết kiệmnguyên vật liệu hơn, có tính chính xác hơn nên tạo ra sản phẩm có thuộc tínhchỉ tiêu chất lượng cao hơn
Trang 6- Cơ chế và chính sách quản lý : cơ chế hoạt động và chính sách quản lý
có tác động rất lớn đến chất lượng sản phẩm của mỗi doanh nghiệp thông qua: + Tạo ra môi trường bình đẳng bảo vệ lợi ích của những nhà sản xuấttrong việc đầu tư nghiên cứu để nâng cao chất lượng sản phẩm
+ Tạo ra môi trường cạnh tranh, đây là điều kiện cần thiết để các doanhnghiệp phải nâng cao chất lượng sản phẩm
+Tạo ra môi trường thuận lợi để kích thích và định hướng cho sự pháttriển của doanh nghiệp
1.4.2 Các nhân tố bên trong doanh nghiệp
Doanh nghiệp là người trực tiếp tạo ra sản phẩm vì vậy tất cả khâu cácgiai đoạn của quá trình sản xuất các yếu tố tham gia vào quá trình sản xuấtđều có tác động đến chất lượng sản phẩm Nói đến các nhân tố bên trongdoanh nghiệp tác động đến chất lượng sản phẩm người ta thường nghĩ đếnnguyên tắc 4M
-Con người(Men): con người là chủ thể của mọi hoạt động, của quá trìnhsan xuất vì vậy con người là yếu tố quan trọng trong việc quản lý để nâng caochất lượng sản phẩm thông qua: tay nghề, lòng nhiệt tình, tính sáng tạo…
- Máy móc thiết bị (Machinezy): là công cụ phương tiện để tạo ra sảnphẩm vì vậy chất lượng sản phẩm phụ thuộc vào trình độ kĩ thuật và tính đồng
bộ của máy móc thiết bị của doanh nghiệp
- Nguyên vật liệu(Materials): là thứ cấu thành sản phẩm nên chất lượngsản phẩm phụ thuộc vào chất lượng nguên vật liệu, thời gian cung ứngnguyên vật liệu, bảo quản nguyên vật liệu …
- Quản lý( Management): trong doanh nghiệp nếu có 3 điều kiện trên đãtốt mà khâu quản lý kém, sự kết hợp giữa các khâu không tốt thì chất lượngsản phẩm cũng không cao Vì vậy khâu quản lý cũng có vai trò quyết địnhđến chất lượng sản phẩm
Trang 71.5 Vai trò của chất lượng sản phẩm
Chất lượng sản phẩm có vai trò quyết định sự sống còn của doanhnghiệp, nó thể hiện ở
- Chất lượng sản phẩm thể hiện sức cạnh tranh của sản phẩm trên thịtrường Sản phẩm có sức cạnh tranh lớn sẽ được tiêu thụ nhiều làm tăng thunhập cho doanh nghiệp
- Chất lượng sản phẩm có ảnh hưởng trực tiếp đến tài sản vô hình (uytín) của doanh nghiệp trên thị trường…
*Shewharts : ông là người đề xuất việc sử dụng các công cụ thống kêtrong kiểm soát chất lượng Theo ông tất cả mọi quá trình hoạt động đều có
sự biến động, chính sự biến động làm sản phẩm sản xuất ra có chất lượngkhông đồng đều nhau Nhưng điều quan trọng là có thể nhận biết được vấn đềbiến động đó và kiểm soát được nó bằng những công cụ thống kê đơn giảnnhờ đó đảm bảo chất lượng sản phẩm sản xuất ra là luôn nằm trong giới hạntiêu chuấn sản phẩm cho phép
*E Deming : ông cho rằng
- Quản lý chất lượng là một hoạt động cải tiến liên tục được thực hiệntheo vòng tròn chất lượng :hoạch định chất lượng ,thực hiện chất lượng kiểmtra chất lượng điều chỉnh cải tiến chất lượng
Trang 8- Quản lý chất lượng là trách nhiệm trước tiên là của cán bộ quản lý cấpcao của doanh nghiệp
- Giảm sự lệ thuộc vào các biện pháp kiểm tra chất lượng sản phẩm cuốicùng
- Xây dựng các trương trình đào tạo giáo dục khuyến khích người laođộng tham gia vào quá trình quản lý chất lượng
*P Crosby: quan điểm của ông về quản lý chất lượng
-Phòng ngừa là biện pháp cơ bản để thực hiện quản lý chất lượng trongdoanh nghiệp Tiêu chuẩn để đánh giá tìng hình quản lý chất lượng trong cácdoanh nghiệp là không sai lỗi
-Tất cả mọi vấn đề chất lượng đều có thể đánh giá đo đếm được thôngqua chi phí nhờ đó căn cứ để đưa các quyết định cải tiến chất lượng
*Feigenbaun: ông là người đầu tiên đề xuất phương pháp quản lý chấtlượng toàn diện Tức là quản lý chất lượng phải được thực hiện ở tất cả mọikhâu, mọi hoạt động trong doanh nghiệp và quản lý chất lượng là trách nhiệmcủa mọi thành viên trong doanh nghiệp, quản lý chất lượng cần có sự phốihợp chặt chẽ với khách hàngvà người cung ứng
*K Ishikawa: ông là người đề xuất việc sử dụng sơ đồ nhân quả (sơ đồxương cá) trong quản lý chất lượng và ông cũng là người đề xuất cũng nhưtrực tiếp tổ chức nhóm chất lượng trong các doanh nghiệp
* Theo tổ chức tiêu chuẩn hoá quốc tế(ISO)” Quản lý chất lượng là hệthống các hoạt động Các biện pháp, phương pháp và qui định hành chính,kinh tế kĩ thuật tổ chức … dựa trên những thành tựu khoa học kĩ thuật, nhằn
sử dụng tối ưu các tiếm năng trong kinh doanh để bảo đảm duy trì và khôngngừng nâng cao chất lượng sản phẩm (thiết kế , sản xuất ,tiêu thụ và tiêudùng ), thoả mãn nhu cầu của xã hội.” (định nghĩa về quản lý chất lượng trongISO 9000)
Trang 92.2 Các giai đoạn phát triển của quản lý chất lượng
Cho đến nay quản lý chất lượng đã chải qua ba giai đoạn phát triểnkhácnhau
*Giai đoạn 1 (từ đầu thập kỉ 20 dến 1939) :đây là quá trình hình thành vàphát triển của quản lý chất lượng Ở giai đoạn này chưa có khái niện về quản
lý chất lượng mà chỉ có khái niệm kiểm tra chất lượng Đây là giai đoạn màngười ta đòng nghĩa quản lý chất lượng và kiểm tra chất lượng, quản lý chấtlượng được hiểu theo nghĩa hẹp vì vậy chức năng chủ yếu là kiểm tra chấtlượng
Mục đích của quản lý chất lượng ở giai đoạn này là phát hiện sản phẩmkhông đạt tiêu chuẩn ,tách ra khỏi những sản phẩm tốt để đảm bảo sản phẩmcuối cùng khi xuất xưởng luôn đạt tiêu chuẩn
Xuất phát từ mục đích quản lý chất lượng ở giai đoạn này mà nhiệm vụquản lý chất lượng được giao cho các cán bộ kĩ thuật, bộ phận kiểm tra chấtlượng được tăng cường củng cố, với những doanh nghiệp lớn thường thànhlập phòng kiểm tra chất lượng riêng
Vì phương pháp thực hiện quản lý chất lượng ở giai doạn này là kiểm trachất lượng nên ở giai đoạn này quản lý chất lượng kém hiệu quả, chỉ thựchiện trong khâu sản xuất
Cho đến cuối giai đoạn này một số doanh nghiệp đã bước đầu sử dụngcông cụ thống kê đơn giản trong quản lý chất lượng
*Giai đoan 2 (từ 1947 đến cuối những năm 60) ở giai đoạn này quản lýchất lượng có những đặc đIểm sau:
- Đã có sự thay đổi về nhận thức trong quản lý chất lượng, khái niệmquản lý chất lượng ra đời thay cho khái niệm kiểm tra chất lượng Quản lýchất lượng được hiểu theo nghĩa rộng hơn, nó bao gồm bốn chức năng chủ
Trang 10yếu: hoạch định chất lượng, thực hiện chất lượng kiểm tra chất lượng, điềuchỉnh cải tiến chất lượng (thể hiện bằng vòng tròn chất lượng
- Quản lý chất lượng trở thành trách nhiệm cơ bản của cán bộ quản lýđồng thời có phân định rõ ràng về nhiệm vụ quản lý chất lượng giữa cán bộ kĩthuật cán bộ quản lý và người lao động
- Các hoạt dộng quản lý tập chung vào các biện pháp phòng ngừa, làmgiảm vai trò của kiểm tra chất lượng
- Tiếp tục mở rộng các công cụ thống kê trong quản lý chất lượng
*Giai đoạn 3 (từ 1970 đến nay) : ở giai doạn này quản lý chất lượng cónhững đặc điểm nổi bật sau
- Chuyển từ quản lý chất lượng thông thường sang quản lý chất lượngtoàn diện (TQM): đây là phương pháp quản lý chất lượng mà quá trình quản
lý chất lượng được thực hiện ở tất cả mọi khâu mọi hoạt động trong doanhnghiệp
- Quản lý chất lượng là trách nhiệm của tất cả mọi thành viên trongdoanh nghiệp
- quản lý chất lượng cần có sự phối hợp chặt chẽ với khách hàng vàngười cung ứng
2.3 Hệ thống quản lý chất lượng và nội dung quản lý chất lượng theo hệ thốngquản lý chất lượng
2.3.1 Thực chất và vai trò của hệ thống quản lý chất lượng
*Khái niệm hệ thống quản lý chất lượng: hệ thống quản lý chất lượng làmột tập hợp các cơ cấu tổ chức, quản lý, trách nhiệm, thủ tục, phương pháp,
và nguồn lực cần thiết để thực hiện quản lý chất lượng của doanh nghiệp
* Cấu trúc của hệ thống quản lý chất lượng
- Cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp bao gồm
Trang 11+Vai trò trách nhiệm của cán bộ lãnh đạo cấp cao trong doanh nghiệp vềvấn đề chất lượng
+ Quyền hạn và trách nhiệm của các đơn vị bộ phận trong doanh nghiệp + Mối quan hệ giữa các đơn vị bộ phận trong việc thực hiện các nhiệm
- Mục tiêu chất lượng : đó là một cáI đích mà doanh nghiệp phải đạtđược trong một thời gian nhất định (bao gồm mục tiêu tổng quát và mục tiêu
cụ thể)
- Kế hoạch chất lượng là một tài liệu đề cập đến từng hoạt động sảnxuất, cung cấp ra sản phẩm, dịch vụ Trong đó chỉ ra những hoạt động cụ thểcần thiết để đảm bảo về chất lượng sản phẩm, dịch vụ đó
- Hệ thống tài liệu chất lượng là một hệ thống tài liệu gồm có: sổ taychất lượng, quá trình thủ tục, các hướng dãn công việc Cụ thể
+ Sổ tay chất lượng là bản mô tả về chính sách chất lượng, những điều lệ
về chất lượng thuộc doanh nghiệp
+ Qui trình thủ tục là sự mô tả về toàn bộ qui trình hoạt động của mộtcông việc nào đó cần thực hiện
+ Các hướng dẫn công việc là bản hướng dẫn được dùng để thực hiệnnhững công việc phức tạp: bản vẽ kĩ thuật, hướng dẫn kĩ thuật…
*Những hệ thống quản lý chất lượng đang được áp dụng
Trang 12- QS 9000 là hệ thống quản lý chất lượng áp dụng cho các doanh nghiệpsản xuất ô tô
- Hệ thống quản lý chất lượng tổng hợp (TQM)
- Hệ thống quản lý chất lượng ISO 9000
- Hệ thống quản lý chất lượng HCCAD áp dụng cho doanh nghiệp chếbiến thực phẩm
- Hệ thống quản lý chất lượng GMP áp dụng cho các doanh nghiệp dượcphẩm
- Hệ thống quản lý chất lượng Q Bass áp dụng cho doanh nghiệp vừa vànhỏ
- Hệ thống quản lý chất lượng ISO 14000 là hệ thống quản lý chất lượngmôi trường
* Yêu cầu trong tổ chức hệ thống quản lý chất lượng
- Hệ thống quản lý chất lượng phải dựa trên phòng ngừa là chính
- Hệ thống quản lý chất lượng phải có cấu trúc rõ ràng, xây dựng rõ chứcnăng nhiệm vụ của từng bộ phận trong doanh nghiệp nhưng phải đảm bảo sựphối hợp, hợp tác chặt chẽ giữa các đơn vị
- Hệ thống quản lý chất lượng phải phù hợp với lĩnh vực kinh doanh vàqui mô hoạt động của doanh nghiệp
- Hệ thống quản lý chất lượng phải đảm bảo tính đồng bộ và toàn diện
- Hệ thống quản lý chất lượng phải có sự tham gia trực tiếp của mọithành viên, mọi đơn vị bộ phận vào quá trình xây dựng và triển khai
* Vai trò của hệ thống quản lý chất lượng
- Hệ thống quản lý chất lượng là một phân hệ cơ bản trong hệ thống sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp nó có mối quan hệ chặt chẽ với các hệthống khác và đảm bảo liên kết với các hệ thống khác trong quá trình sản xuất
Trang 13- Hệ thống quản lý chất lượng là một phương tiện quan trọng cần thiết
để thực hiện chức năng quản lý chất lượng trong các doanh nghiệp
- Hệ thống quản lý chất lượng sẽ giúp các doanh nghiệp đảm bảo được
hệ thống tiêu chuẩn chất lượng đã đặt ra và thoả mãn được khách hàng
- Xây dựng và áp dụng hệ thống quản lý chất lượng giúp cho các doanhnghiệp giảm sự biến động của các quá trình, các hoạt động nhờ đó tiết kiệmđược chi phí sai hỏng
- Hệ thống quản lý chất lượng nó còn có ý nghĩa rất lớn trong các doanhnghiệp trong việc đảm bảo sự thống nhất giữa chính sách chất lượng chungcủa doanh nghiệp với các bộ phận phân tán
2.3.2 Nội dung của quản lý chất lượng theo hệ thống quản lý chất lượng
* Nâng cao mức thoả mãn của khách hàng trên cơ sở tiết kiệm chi phí(Vấn đề đẩm bảo chất lượng và cải tiến chất lượng)
Đó là toàn bộ những hoạt động nhằm đưa chất lượng sản phẩm lên mứccao hơn trước, giảm dần khoảng cách giữa những mong muốn của khách hàng
và thực tế chất lượng đạt được thoả mãn nhu cầu của khách hàng ở mức caohơn
Theo tiêu chuẩn Việt Nam 5200-90, đảm bảo chất lượng chia ra làm haiphần:
- Đảm bảo chất lượng nội bộ
Xem xét đánh giá các vấn đề về chất lượng trong mối quan hệ với cácyếu tố khác của hoạt động quản lý chất lượng Là các hoạt động đảm bảo
Trang 14lòng tin cho lãnh đạo của doanh nghiệp rằng các sản phẩm, dịch vụ đã đạtchất lượng mong muốn, đúng tiêu chuẩn thiết kế.
Để đảm bảo chất lượng nội bộ doanh nghiệp phải có một tổ chức hợp lý,phải có ban lãnh đạo đủ tài năng, có mục tiêu chất lượng, chính sách chấtlượng rõ ràng, có các kế hoạch chi tiết để thực hiện mục tiêu chất lượng vàchính sách chất lượng đó, phải quản lý tốt chất lượng ở các khâu marketing,thiết kế, sản xuất thử nghiệm, bao gói, bảo quản, vận chuyển bán và mua,quản lý tốt chất lượng các nguồn lực, quản lý tốt chi phí, áp dụng linh hoạtcác biện pháp quản lý chất lượng, đặc biệt áp dụngcác biện pháp phòng ngừa
- Đảm bảo chất lượng với bên ngoài
Là các hoạt động đảm bảo cho người mua và người đặt hàng tin rằng hệthống chất lượngcủa người cung cấp chắc chắn đảm bảo cho sản phẩmvà dịch
vụ phù hợp với các yêu cầu chất lượng Để đảm bảo chất lượng với bên ngoàidoanh nghiệpphải thỉa thuận với người mua các yếu tố sau: hệ thống bảo đảmchất lượngcủa người cung cấp để người mua tin rằng hàng hoá, dịch vụ thoảmãn các yêu cầu của họ về phương tiện kỹ thuật và thủ tục tiến hành phòngngừa thử nghiệm, kiểm tra và xuất trinh các tài liệu kiểm tra, tiến hành kiểmtra hàng hoá khi giao nhận, chính sách chất lượng của doanh nghiệp Các điềukhoản đảm bảo chất lượng cá thể thay đổi tuỳ thuộc vào từng loại sản phẩm
cụ thể
Hai phân hệ này không hề cô lập với nhau mà ngược lại chúng hỗ trợ chonhau, ràng buộc nhau và thống nhất với nhau trong hệ thống chất lượng.Chúng đều nhằm nâng cao khả năng tiêu thụ sản phẩm và dịch vụ, nâng caokhả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
* Cải tiến và hoàn thiện chất lượng