1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số giải pháp và điều kiện chủ yếu nhằm lựa chọn công nghệ phù hợp khi chuyển giao công nghệ ở nước ta

32 496 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một số giải pháp và điều kiện chủ yếu nhằm lựa chọn công nghệ phù hợp khi chuyển giao công nghệ ở nước ta
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn
Thể loại bài luận
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 132 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Công nghệ là sản phẩm của lao động, của tinh hoa trí tuệ con người tạo ra cho xã hội, nó là công cụ, là phương tiện chủ yếu cho con người đạt được những lơị ít cần thiết. Sự phát triển của nhiều nước cho thấy công nghệ là nhân tố quyết định khả năng của một nước đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội với tốc độ cao và ổn định. Công nghệ là phương tiện, là động lực có hiệu lực nhất để mỗi quốc gia sử dụng triệt để và hiệu quả cao nhất các nguồn lực hiện có. Chính vì vậy người ta nói, công nghệ là chìa khoá cho sự phát triển, công nghệ là niềm hy vọng cơ bản để cải thiện đời sống trong mọi xã hội. Do đó, lựa chọn công nghệ là một vấn đề cần thiết và quan trọng khi thực hiện chuyển giao công nghệ. Vì vậy trong phạm vi nhất định chúng ta cần thống nhất một số vấn đề sau: - Khái niệm công nghệ và chuyển giao công nghệ - Sự cần thiết của việc lựa chọn công nghệ trong chuyển giao công nghệ ở Việt Nam. - Thực trạng công nghệ và chuyển giao công nghệ ở nước ta. - Những tồn tại và mâu thuẫn trong chuyển giao công nghệ ở nước ta trong thời gian qua. - Định hướng tính phù hợp của chuyển giao công nghệ được lựa chọn. - Phương pháp lựa chọn công nghệ có hiệu quả. - Những quan điểm chỉ đạo lựa chọn công nghệ phù hợp khi chuyển giao công nghệ. - Một số giải pháp và điều kiện chủ yếu nhằm lựa chọn công nghệ phù hợp khi chuyển giao công nghệ ở nước ta.

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

Công nghệ là sản phẩm của lao động, của tinh hoa trí tuệ con người tạo

ra cho xã hội, nó là công cụ, là phương tiện chủ yếu cho con người đạt đượcnhững lơị ít cần thiết

Sự phát triển của nhiều nước cho thấy công nghệ là nhân tố quyết địnhkhả năng của một nước đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội vớitốc độ cao và ổn định Công nghệ là phương tiện, là động lực có hiệu lực nhất

để mỗi quốc gia sử dụng triệt để và hiệu quả cao nhất các nguồn lực hiện có.Chính vì vậy người ta nói, công nghệ là chìa khoá cho sự phát triển, côngnghệ là niềm hy vọng cơ bản để cải thiện đời sống trong mọi xã hội Do đó,lựa chọn công nghệ là một vấn đề cần thiết và quan trọng khi thực hiệnchuyển giao công nghệ

Vì vậy trong phạm vi nhất định chúng ta cần thống nhất một số vấn đềsau:

- Khái niệm công nghệ và chuyển giao công nghệ

- Sự cần thiết của việc lựa chọn công nghệ trong chuyển giao công nghệ

ở Việt Nam

- Thực trạng công nghệ và chuyển giao công nghệ ở nước ta

- Những tồn tại và mâu thuẫn trong chuyển giao công nghệ ở nước tatrong thời gian qua

- Định hướng tính phù hợp của chuyển giao công nghệ được lựa chọn

- Phương pháp lựa chọn công nghệ có hiệu quả

- Những quan điểm chỉ đạo lựa chọn công nghệ phù hợp khi chuyển giaocông nghệ

- Một số giải pháp và điều kiện chủ yếu nhằm lựa chọn công nghệ phù

Trang 2

I PHẦN THỨ NHẤT TIÊU CHUẨN LỰA CHỌN CÔNG NGHỆ PHÙ HỢP.

1 Khái niệm công nghệ và chuyển giao công nghệ

a Công nghệ: Như chúng ta đã biết, ngày nay định nghĩa về công nghệ

vẫn còn rất nhiều tranh cãi, mỗi người hiểu công nghệ theo một ý riêng củamình Tuy nhiên đa số thống nhất rằng công nghệ chỉ là công cụ phục vụ pháttriển Nó được lựa chọn hay thiết kế để đáp ứng chức năng, mục tiêu và nócần được quản lý một cách đúng đắn

* Những tổ chức quốc tế về công nghệ đã bỏ nhiều công sức để đưa rađược định nghĩa về công nghệ thể hiện được các khía cạnh cơ bản của côngnghệ

- Theo tổ chức phát triển công nghiệp của Liên Hiệp Quốc (UNIDO) thì:Công nghệ là việc áp dụng khoa học và công nghiệp, bằng cách sử dụng cácnghiên cứu và xử lý nó một cách có hệ thống và có phương pháp

- Tổ chức ESCAP - uỷ ban KTvà XH Châu á và Thái Bình Dương - đưa

ra định nghĩa” Công nghệ là hệ thống kiến thức về quy trình và kỹ thuật dùng

để chế biến vật liệu và thông tin Nó bao gồm tất cả các kỹ năng kiến thức,thiết bị và phương pháp sử dụng trong sản xuất , thông tin, dịch vụ côngnghiệp và dịch vụ quản lý”

Ở Việt Nam “Công nghệ là kiến thức, kết quả của khoa học ứng dụngnhằm biến đổi các nguồn lực thành các mục tiêu sinh lợi”

* Có rất nhiều định nghĩa về công nghệ nhưng cuối cùng cúng có mộtđịnh nghĩa được coi là khai quát nhất về công nghệ:

“Công nghệ” là tất cả những cái gì dùng để biến đổi đầu vào thành đầura

Trang 3

b Chuyển giao công nghệ:

Theo quy ước của nhiều quốc gia, nhiều tổ chức quốc tế thì “Chuyểngiao công nghệ là nhận và chuyển công nghệ qua biên giới”

2 Sự cung cầu thiết khách quan của việc lựa chọn công nghệ trong chuyển giao công nghệ ở Việt Nam.

- Ngày nay do sự phát triển mạnh mẽ của KHKT, quan hệ giữa các nướcngày càng mở rộng, đặt biệt trong lĩnh vực kinh tế Quan hệ kinh tế giữa cácnước là cần thiết khách quan trên cơ sở tận dụng lợi thế so sánh của mỗi nước

để thúc đẩy sự phát triển kinh tế nói chung và của từng nước nói riêng Mộttrong những vấn đề quan trọng của quan hệ kinh tế, kinh tế giữa các nướcngày nay, đặc biệt giữa các nước tiên tiến các nước đang phát triển với cácnước nông nghiệp lạc hậu là vấn đề chuyển giao công nghệ - Nước ta là mộtnước nông nghiệp lạc hậu đang trên đường công nghiệp hoá, vì vậy việc nhậpcông nghệ tiên tiến để thúc đẩy phát triển kinh tế của đất nước là một yêu cầuhết sức bức thiết Và việc lựa chọn công nghệ phù hợp, có hiệu qủa là mộtnhiệm vụ rất quan trọng đối với nhà lãnh đạo, các nhà quản lý, và các nhàkhoa học

- Mặt khác, chúng ta đang mở rộng quan hệ hợp tác với nhiều nước trênthế giới, trong đó có cả những nước đang phát triển Sự hợp tác kinh tế vớicác nước cho phép chúng ta có cơ hội tốt để đổi mới công nghệ, áp dụng kỹthuật hiện đại, xây dựng những ngành công nghiệp tiên tiến, tận dụng những

ưu thế vốn có của chúng ta để đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá Song sựphát triển kinh tế của các nước trên thế giới đa dạng, phong phú Vì vậy, lựachọn công nghệ nào, từ nước nào là điều mà chúng ta cần phải nhắc cẩn thận

Do trình độ phát triển các nước mà chúng ta có thể mua công nghệ rất khácnhau, nên kỹ thuật mà chúng ta nhập từ những nước đó cũng không hoàn toàngiống nhau Mặt khác, mỗi nước đều có thế mạnh riêng nên có thể có côngnghệ tiên tiến nhưng lại không phải ở nước có trình độ phát triển cao nhất

Trang 4

- Về phía chúng ta, tham gia vào phát triển công nghệ với tư cách làngười tiêu dùng hàng hoá “công nghệ”, chúng ta mua công nghệ nhằm thoảmãn tốt nhất lợi ích của mình Tức là sự phát triển kinh tế, là công nghiệp hoánước nhà Mục đích chung đó được thể hiện thông qua mục đích của mỗi xínghiệp cần mua công nghệ Mục đích của mỗi xí nghiệp khi mua công nghệ là

để sản xuất sản phẩm và thu lợi nhuận Mục đích riêng của mỗi xí nghiệp phùhợp với mục đích chung của đất nước nếu xí nghiệp sử dụng công nghệ tiêntiến để mang lại lợi ích cho xí nghiệp và góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh

tế của đất nước Thêm vào đó, vì là người tiêu dùng, chúng ta không thể tiêudùng quá khả năng của mình, nghĩa là chúng ta mua công nghệ nhằm pháttriển kinh tế đất nước với những ràng buộc về tài chính, trình độ kỹ thuật vàquản lý hiện thời của mình Do vậy, để phát triển kinh tế đất nước, chúng tacần phải lựa chọn nhưng công nghệ tốt nhất nhưng phải phù hợp với điều kiệncủa ta Vậy công nghệ nào là công nghệ thoả mãn những tiêu chuẩn vừa nêutrên - Có rất nhiều ý kiến trái ngược nhau được đưa ra Chính vì điều đó,chúng ta cần phải có các tiêu thức lựa chọn công nghệ thích hợp

3 Các tiêu thức lựa chọn công nghệ thích hợp.

Công nghệ thích hợp có mục tiêu cơ bản là đáp ứng nhu cầu cos bản củanhân dân, đặc biệt dân nông thôn

Công nghệ thích hợp có khả năng thu hút số lượng lớn lao động, trong

đó có lao động nữ

- Công nghệ thích hợp bảo tồn và phát triển công nghệ truyền thống vàtạo ra các ngành nghề mới

- Công nghệ thích hợp đảm bảo chi phí thấp, kỹ năng thấp

- Công nghệ thích hợp tạo ra khả năng hoạt động cho các cơ sở sản xuấtnhỏ vừa lớn kết hợp

- Công nghệ thích hợp tiết kiệm tài nguyên

Trang 5

- Công nghệ thích hợp có khả năng thu hút sử dụng dịch dụ và nguyênvật liệu trong nước.

- Công nghệ thích hợp phải sử dụng được phế liệu và không gây ô nhiễmmôi trường

- Công nghệ thích hợp tạo cơ hội tăng trưởng kinh tế xã hội và đông đảoquần chúng nhân dân

- Công nghệ thích hợp tạo ra sự phân phối rộng rãi và giảm sự khôngbình đẳng trong thu nhập

- Công nghệ thích hợp không gây xáo trộn đối với VHXH

- Công nghệ thích hợp tạo tiền đề để tăng cường xuất khẩu, phân cônghợp tác quốc tế

- Tạo tiềm năng nâng cao dần năng lực công nghệ

II PHẦN THỨ HAI THỰC TRẠNG CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ Ở VIỆT NAM

1 Thực trạng công nghệ nước ta.

Bức tranh về công nghệ có thể được khắc hoạ qua các khía cạnh sau:

Trang 6

- Tuổi trung bình của máy móc thiết bị là cao, khoảng vài chục năm.Mức hao mòn hữu hình của MMTB phổ biến khoảng 10 - 60%, có nơi cònnhiều hơn như thế Số thiết bị máy móc đạt trình trung bình của thế giới còn

ít Nhìn chung còn lạc hậu và thủ công Hệ số cơ bản khí hoá chung trong nềnkinh tế chỉ vào khoảng 20% Chính tình trạng lạc hậu của MMTB làm chungkhông đáp ứng được yêu cầu của sản xuất - kinh doanh Thêm vào đó, nhữngbiến động của nhu cầu và tình thế đòi hỏi các doanh nghiệp phải chuyểnhướng kinh doanh

- Năng lực nghiên cứu, triển khai và tiếp thu phát triển công nghệ ở cácdoanh nghiệp còn yếu, thiếu Đặc biệt là ở những dây truyền, công đoạn, quytrình sản xuất đòi hỏi tay nghề và kiến thức về công nghệ cao Hiện tại trongnền kinh tế mới chỉ có khoảng hơn 10% lực lượng lao động đã qua đào tạonhưng trong số đó một bộ phận không nhỏ cần phải đào tạo lại và cập nhật kỹnăng mới

- Cơ cấu nhân lực còn bất hợp lý và mất cân đối nghiêm trọng, khôngđáp ứng được yêu cầu của CNH - HĐH

- Kỷ luật và tác phong lao động còn lỏng lẻo, thiếu nghiêm túc đối vớicông việc, thiếu động lực để sáng tạo và lao động

- Mức độ và trình độ tin học hoá và xử lý thông tin còn thấp và chậm làmcho các quyết định về quản lý sản xuất, kinh doanh còn kém chính xác, chậmtrễ, chắp vá dẫn đến ảnh hưởng lớn tới hiệu quả sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp trong bối cảnh cạnh tranh thị trường

- Điều kiện lao động nhìn chung còn chưa đáp ứng tiêu chuẩn về vệ sinh,

an toàn lao động, cũng như về môi trường lao động

Ngoài ra thì còn có một số vấn đề vướng mắc:

- Tiêu hao nhiều nguyên vật liệu, năng lượng Giá thành sản phẩm cao,các chỉ tiêu này so với mức trung bình của thế giới và khu vực thì thua kém từvài lần cho đến vài chục lần tuỳ theo loại sản phẩm

Trang 7

- Chất lượng sản phẩm sản xuất ra còn thấp, khó cạnh tranh với các sảnphẩm cùng loại của nước ngoài.

- Mẫu mã đơn điệu, kém hấp dẫn và chắp vá

Chi phí quản lý trong các ngành sản xuất cao: lắp ráp điện tử: 21 37%; thi công bê tông: 14,5%; thủy tinh 11%

Năng lực và khả năng cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ Việt Nam yếu

- Thị trường cho sản phẩm và dịch vụ Việt Nam còn hạn hẹp

- Sức tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ Việt Nam còn chậm, hàng hoá ứ đọngnhiều

Qua số liệu trên đây đã phần nào khẳng định bức tranh công nghệ khongmấy sáng sủa của các doanh nghiệp Việt Nam

Sau đây là kết quả nghiên cứu, một vài nhận xét có liên quan đến côngnghệ ở các doanh nghiệp chọn lựa ở Việt Nam rút ra từ một dự án do Tổ chứcphát triển công nghiệp của Liên hợp quốc (UNIDO) tài trựo và Viện chiếnlược phát triển thuộc Bộ kế hoạch và đầu tư thực hiện 1998 như sau:

* Các doanh nghiệp chế biến thực phẩm : Vốn cố định nhỏ, quy môdoanh nghiệp nhỏ (62% các doanh nghiệp này có số lao động ít hơn 10 côngnhân) Công nghệ đơn giản cũ kỹ, khả năng cạnh tranh của sản phẩm khôngchấp nhận được

Các doanh nghiệp xay sát gạo cho xuất khẩu: Chỉ có một số ít nhà máynày loại lớn là có khả năng, bảo đảm chất lượng cho xuất khẩu Nhưng hạtầng, bến cảng nơi xuất khẩu gạo Việt Nam còn kém, chi phí bốc xếp cao gấpđôi ở Băngkoc, Thái Lan, trong khi đó tốc độ bốc dỡ lại rất chậm

* Các doanh nghiệp chế biến cà phê: Chất lượng (chỉ có 2% số lượng càphê xuất khẩu ở Việt Nam thoả mãn yêu cầu ngặt nghèo của loại 1) Máy mócchế biến tương đối đơn giản, hệ thống nghiên cứu và triển khai không phùhợp với tầm quan trọng của ngành này

Trang 8

* Các doanh nghiệp chế biến rau quả: Chất lượng sản phẩm còn là mộtvấn đề lớn Công nghệ đóng hộp rất lạc hậu (vẫn sử dụng phương pháp hànthiếc )

* Doanh nghiệp chế biến hải sản: Bảo đảm tiêu chuẩn vệ sinh sản phẩmhải sản chế biến Tỷ lệ sản phẩm có giá trị giá tăng cao còn thấp Công nghệchế biến còn chưa cao và không đồng bộ (rất ít nhà máy có trang thiết bị hợp

lý để xử lý nguyên liệu thô trước khi đưa vào chế biến)

* Doanh nghiệp dệt may: máy móc thiết bị lạc hậu, đặc biệt là ngành dệt(trong số các doanh nghiệp quốc doanh, có khoảng 15% máy móc đạt chấtlượng sản xuất, 45% cần được sửa chữa, 40% còn lại cần được thay thế).Công nghệ quản lý doanh nghiệp nhà nước xơ cứng, kém năng động

* Các doanh nghiệp ngành điện tử: chưa có phát triển thiết kế gốc và chếtác mang tính thương mại ít công nhân đa kỹ năng Chất lượng sản phẩmchưa hoặc ít có sản phẩm đạt tiêu chuẩn ISO 9000 Chưa có khả năng cạnhtranh quốc tế

* Các doanh nghiệp công nghiệp ô tô: Đầu tư cơ bản nhỏ so với mức cầnthiết để đảm bảo chất lượng sản phẩm Công nghệ hầu như là lắp ráp (100% ô

tô được lắp ráp dưới dạng CKD) Chi phí lắp ráp cao (gấp 5 lần so với chínhquốc) Tỷ lệ khai thác năng lực máy móc thiết bị thấp

* Các doanh nghiệp cơ khí: Máy móc cũ kỹ và hỗn tạp, hệ thống sảnxuất lỗi thời Trình độ công nghệ ở tất cả các giai đoạn của quá trình sản xuất

cơ khí không phù hợp để sản xuất các sản pamr có chất lượng và hiệu quảcao

Từ những số liệu trên cho ta thấy nguyên nhân dẫn đến tình trạng đó làdo:

- Công nghệ không đồng bộ, mất cân đối làm cho nhiều loại máy mócthiết bị ít hoặc không được sử dụng

Trang 9

- Máy móc thiết bị cũ kỹ, lạc hậu, hay hư hỏng, thời gian ngừng việc đểsửa chữa lớn.

- Sức ép của đối thủ cạnh tranh nước ngoài, làm doanh nghiệp phải giảmhoặc ngừng sản xuất dẫn đến tình trạng không dùng hết công suất của máymóc thiết bị Đánh giá một cách khách quan tình hình lạc hậu, yếu kém củacông nghệ và thiết bị, sự cạnh tranh gay gắt đã tạo ra sức ép

2 Thực trạng về chuyển giao công nghệ ở nước ta:

a Công nghệ được chuyển giao chưa phải thuộc loại tiên tiến, hiện đại

như đã nên ở trên theo đánh giá chung, số máy móc, thiết bị trong các doanhnghiệp Nhà nước đạt trình độ hiện đại trung bình của TG nhìn chung còn ít

Số công nghệ nhập đạt trình độ hiện đại, tiến tiến lại càng hiếm Nguyên nhâncủa thực trạng này có nhiều, cos trừ giá chuyển giao, cả từ giá nhận chuyểngiao công nghệ

- Về giá chuyển giao công nghệ, các đối tác nước ngoài vì mục tiêu tìmkiếm lợi nhuận cao và nhanh nên ít chịu đầu tư chuyển giao loại công nghệhiện đại tiên tiến thường là đắt tiền, thời gian hoàn vốn dài hơn, Thậm chí cónhiều trường hợp lợi dụng sự kém hiểu biết của bên nhận chuyển giao để trụclợi Theo ý kiến đánh giá của chuyên gia, có tới 25% trong số hàng vạn thiết

bị đã nhập về là đã qua sử dụng, được tân trang lại và nâng cấp bằng các cơcấu điều khiển bán tự động hoặc tự động và trong số các dự án đầu tư nướcngoài đang hoạt động vẫn còn khá nhiều dây chuyền sản xuất sử dụng nhiềulao động thủ công hoặc có trình độ cơ khí hoá thấp

- Về phía nhận chuyển giao công nghệ thường là các doanh nghiệp nhànước, cũng có 2 loại nguyên nhân: chủ quan và khách quan

* Những nguyên nhân chủ quan là:

+ Tâm lý ỷ lạim, trông chờ nhiều vào nhà nước

+ Trình độ hiểu biết về công nghệ mới còn rất hạn hẹp

Trang 10

+ Động cơ trục lợi cá nhân.

+ Thiếu đội ngũ cán bộ chuyên môn

+ Thụ động trong công việc tìm kiếm công nghệ và trong đàm phán, kýkết

+ Thiếu định hướng chiến lược lâu dài về sản xuất kinh doanh

* Những nguyên nhân khách quan đối với doanh nghiệp là:

+ Môi trường kinh tế xã hội (luật, chính sách tài chính, tiền tệ, lao động,đất đai, sở hữu công nghiệp ) còn chưa thật phù hợp và hấp dẫn

+ Bộ máy quản lý nhà nước hoạt động còn nhiều yếu kém, bất cập đốivới hoạt động chuyển giao công nghệ

+ Thiếu hệ thống mạng lưới thông tin về công nghệ và các dịch vụ hỗ trợcần thiết và hữu hiệu khác cho hoạt động chuyển giao công nghệ của cácdoanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp nhà nước nói riêng

+ Năng lực nghiên cứu và triển khai về khoa học công nghệ của đất nướccòn nhiều yếu kém và bất cập, chưa đủ “nội lực” cần thiết để làm cơ sở choviệc tiếp thụ và phát triển các công nghệ nhập trong điều kiện cụ thể của ViệtNam

* Theo thống kê những vấn đề chủ yếu đang cản trở hoạt động đổi mớicông nghệ ở các doanh nghiệp nhà nước cũng như các doanh nghiệp khôngphải nhà nước là:

- Thiếu nguồn lực cần thiết (vốn, nhân lực )

- Thiếu thông tin về công nghệ

- Nhiều vướng mắc và cản trở trong môi trường sản xuất, kinh doanh cònchưa được tháo gỡ

- Thiếu các dịch vụ hỗ trợ cần thiết (tài chính, tín dụng, ngân hàng, thịtrường )

Trang 11

- Thiếu phối hợp giữa các nguồn lực cũng như các tổ chức quản lý và sảnxuất kinh doanh.

b Chưa có thiết kế tổng thể về vấn đề lựa chọn công nghệ.

+ Sự thiếu hụt này bao gồm từ định hướng chiến lược với những ưu tiêncông nghệ cho tới việc xây dựng khung chính sách, tạo môi trường thuận lợicho các doanh nghiệp

+ Về phía nhà nước, còn thiếu một chiến lược phát triển khoa học côngnghệ dài hạn ở tầm quốc gia những quan điểm, định hướng, phối hợp hànhđộng ở cấp bộ, ngành và các doanh nghiệp Do vậy mà sự trùng lắp, thừathiếu đồng bộ, sự thiệt hại lớn về kinh tế trong các hợp đồng mua bán côngnghệ, là hệ quả tất yếu của sự thiếu hụt này

+ Chưa có sự hỗ trợ cần thiết về chính sách, cơ chế cũng như các hỗ trợkhác (những ưu đãi hoặc bảo hộ, hệ thống thông tin về công nghệ) sự lúngtúng trong quản lý công nghệ ở các bộ, ngành có nguyên nhân quan trọng bắtnguồn từ thiếu hụt này

+ Tình trạng thiếu đồng bộ, chắp vá, chồng chéo thậm chí còn mâu thuẫnnhau là những biểu hiện của thiếu hụt này

- Còn chưa xây dựng được một năng lực nội sinh của quốc gia về khoahọc công nghệ, trước hết là về nghiên cứu, triển khai, đủ sức hỗ trợ cho việctiếp thu công nghệ trong nền kinh tế nói chung và trong doanh nghiệp nóiriêng

- Về phía các doanh nghiệp nhà nước:

+ Còn thiếu một chiến lược sản phẩm làm cơ sở định hướng Nhìnchung, những khó khăn chung, hiện tại vẫn làm cho các doanh nghiệp nhànước chủ yếu loay hoay và xoay sở để tồn tại chứ chưa phải là để phát triển

Trang 12

+ Còn thiếu đội ngũ cán bộ KHCN và công nhân kỹ thuật lành nghề đủsức và đủ trình độ nắm bắt, lựa chọn, tiếp thụ và vận hành công nghệ mới,tiên tiến.

c Những công nghệ được chuyển giao đổi mới trong thời gian qua chưa

tạo được lực đẩy cần thiết cho việc tiếp tục nâng cao năng lực công nghệ và tựđổi mới công nghệ thể hiện như sau:

- Những chuyển giao về công nghệ cho đến nay được thực hiện chủ yếutrong lĩnh vực lắp ráp, gia công, chế biến (sản xuất hàng tiêu dùng) Tronglĩnh vực công nghiệp chế biến máy, đặc biệt là máy công cụ, việc chuyển giaocông nghệ được thực hiện chưa được bao nhiêu Nhà máy công cụ số 1 - mộtdoanh nghiệp nhà nước đứng hàng đầu của cả nước với 527 thiết bị gia công

cơ khí chủ yếu nhưng lại không có thiết bị nào mới được chế tạo cách đây 10năm

- Những chuyển giao công nghệ trong thời gian qua còn dừng lại ở khâutiếp nhận, vận hành, chứ chưa tạo ra được mối quan hệ chặt chẽ với các cơquan nghiên cứu, và triển khai công nghệ để nghiên cứu thích nghi, cải tiếncông nghệ

- Những công nghệ được chuyển giao cho đến nay phần lớn do phíanước ngoài giới thiệu Nhiều hợp đồng về chuyển giao công nghệ được ký kếtvới sự soạn thảo sẵn của bên nước ngoài, kèm theo những điều khoản có lợicho bên chuyển giao công nghệ Có thể nói rằng ở lĩnh vực này, doanh nghiệpnhà nước đa phần bị động và thụ động

d Năng lực nội sinh của các doanh nghiệp nhà nước còn yếu, chưa đủ khả năng tự ra quyết định trong vấn đề công nghệ được thể hiện:

- Năng lực nắm bắt và cập nhật cũng như xử lý thông tin có liên quanđến công nghệ còn rất hạn hẹp, do đó sự thiếu hụt này có ảnh hưởng tiêu cực

và lâu dài không chỉ tới hướng phát triển của doanh nghiệp mà trong nhiềutrường hợp còn cả tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Trang 13

- Năng lực lựa chọn và quyết định về công nghệ còn rất hạn chế Sựthiếu hụt này một phần bắt nguồn từ những thiếu hụt về thông tin, về đội ngũcán bộ một phần khác cũng rất quan trọng, đó là ý thức, phẩm chất nhữngcán bộ có trách nhiệm và liên quan tới việc lựa chọn và quyết định công nghệ.

- Năng lực đàm phán trong hoạt động công nghệ còn yếu, điều này thểhiện ở sự bị động, thụ động trong đàm phán ký kết các hợp đồng về chuyểngiao công nghệ

Một báo cáo gần đân của Bộ khoa học công nghệ và môi trường chothấy: Trong số hơn 2000 dự án đầu tư nước ngoài được cấp phép mới chỉ có

94 hợp đồng chuyển giao công nghệ (chiếm 0,047%) được trình lên Bộ khoahọc công nghệ và môi trường

e Sự thiếu đồng bộ, thiếu hoàn chỉnh của cơ sở hạ tầng kinh tế cho hoạt động chuyển giao công nghệ thể hiện:

- Hệ thống giao thông vận tải yếu kém không chỉ làm nản lòng các nhàđầu tư chuyển giao công nghệ mà làm cho hoạt động đổi mới công nghệ bịhạn chế phát huy tác dụng vừa được phân bổ không đều giưã các vùng, khuvực và lãnh thổ của đất nước,

- Hệ thống dịch vụ hỗ trợ (tài chính ngân hàng, xúc tiến đầu tư) còn yếukém

3 Những tồn tại và mâu thuẫn chủ yếu trong chuyển giao công nghệ

ở nước ta trong thời gian qua.

a Chuyển giao công nghệ trong điều kiện đổi mới công nghệ lẻ tẻ.

Thiếu quy hoạch và chiến lược, thiếu sự gắn bó giữa phương hướng đổimới, chuyển giao công nghệ với chiến lược phát triển cũng như chiến lượckinh doanh Điều này thể hiện qua các mặt sau:

- Các doanh nghiệp thực hiện chuyển giao công nghệ do sức ép của thịtrường chứ không phải do chủ động theo kế hoạch

Trang 14

- Các công nghệ được chuyển giao phần lớn do phía nước ngoài giớithiệu chứ không phải tự các doanh nghiệp tìm kiếm hoặc tự nghiên cứu thiếtkế.

- Công nghệ được chuyển giao trong lúc còn nhiều điều kiện, tiền đề cầnthiết (về cơ sở hạ tầng, thị trường, lao động, tièn vốn )

- Tình trạng nhập máy móc, thiết bị lẻ nhiều và phổ biến hơn là các dâychuyền đồng bộ và khép kín

- Các phương hướng, chủ trương và chiến lược của các cơ quan quản lýngành chưa gắn bó với phương hướng, dự án đổi mới công nghệ và kỹ thuậtcủa các doanh nghiệp

- Các doanh nghiệp đang gặp nhiều lúng túng trong việc xác định hướngdoanh nghiệp và chiến lược kinh doanh Nhiều doanh nghiệp thực hiện chọncông nghệ mới cũng chính làthực hiện sự chuyển hướng kinh doanh

⇒Tình trạng này không chỉ hạn chế hiệu quả sản xuất kinh doanh, màcòn hạn chế trình độ kỹ thuật của sản xuất (trong mỗi dây chuyền luôn cónhững thiết bị lạc hậu so với những loại khác) và làm giảm tính đồng bộ cầnthiết của công nghệ

b Trình độ công nghệ và trình độ thiết bị, máy móc sau khi chuyển giao

vẫn thấp; chưa phải là hiện đại Một cuộc khảo sát với hơn 700 thiết bị, 3 dâychuyền tại 42 nhà máy cho thấy kết quả sau:

- 76% số máy mới nhập thuộc thế hệ máy 1950 - 1960

- Hơn 50% máy móc thiết bị là đồ cũ tân trang lại

Kết quả điều tra, đánh giá trình độ công nghệ trong ngành công nghiệpnhẹ cũng cho thấy:

- 46% doanh nghiệp có trình độ công nghệ ở mức trung bình khá

- 40% doanh nghiệp có trình độ công nghệ trung bình cần được cải tiến

- 14% doanh nghiệp có trình độ công nghệ thấp cần được đổi mới

Trang 15

Kết quả này phản ánh trình độ công nghệ của các doanh nghiệp đã có sựđầu tư, đổi mới công nghệ (cũng bằng con đường chuyển giao là chính) ở cácdoanh nghiệp khác, trình độ công nghệ còn thấp hơn, nghĩa là mục tiêu đổimới công nghệ nâng cao trình độ kỹ thuật về cơ bản là chưa đạt hoặc đạt mứcthấp, ngay sau khi chuyển giao công nghệ đã nảy sinh nhu cầu đổi mới hoặctìm kiếm công nghệ khác để thay thế.

Thực tế này không những gây lãng phí mà còn làm tăng thêm sự lạc hậu

về công nghệ của nền kinh tế ở đây có hai nguyên nhân chủ yếu là phía ViệtNam thiếu thông tin về các loại công nghệ cần thiết có thể chuyển giao vànhững tiêu cực nảy sinh trong quá trình chuẩn bị và thực hành chuyển giaocông nghệ

c Những nhân tố tạo ra sức cản nhất định đối với chuyển giao công nghệ Những nhân tố chủ yếu, quan trọng nhất là:

- Cơ sở vật chất phục vụ việc sử dụng công nghệ chưa được nâng câp tớimức độ cần thiết Khâu yếu nhất cần cải tiến là hệ thống giao thông vận tảiphục vụ việc cung ứng NVL và tiêu thụ sản phẩm Bản thân từng doanhnghiệp không thể tự mình giải quyết vấn đề này, vì đây không phải là một vài

km đường nội bộ hoặc đường nhánh nối với các quốc lộ, mà là toàn bộ hệthống đường xá, bến bãi, cầu phà của toàn vùng của cả nước

- Các hoạt động hỗ trợ chuyển giao công nghệ, đào tạo bồi dưỡng laođộng (cả lao động kỹ thuật lẫn lao động quản lý), dịch vụ đời sống xã hội cholực lượng lao động và dân cư có liên quan tới việc sử dụng công nghệ mớiđược chuyển giao (kể cả văn hoá, y tế, giáo dục ) cũng chưa được tăngcường Vấn đề cần lưu ý là khi tiến hành chuyển giao công nghệ, dù muốnhay không cũng sẽ dẫn tới sự hình thành các cụm công nghiệp, các trung tâmcông nghiệp và gắn với chúng là các khu dân cư có quan hệ chặt chẽ với bộphận công nghiệp này

Trang 16

- Sức ép về giải quyết việc làm, tạo thu nhập cho người lao động Vì việcchuyển giao công nghệ không chỉ là vấn đề kỹ thuật đơn thuần, mà có liênquan tới công ăn việc làm, thu nhập và đời sống của công nhân viên nênthông thường các doanh nghiệp ít dám đổi mới triệt để mà lựa chọn nhữngcông nghệ và thiết bị tiên tiến nhất.

- Sự hạn chế về vốn (kể cả vốn tự có và vốn vay) cũng làm chậm tốc độ,giảm quy mô và hiệu quả của chuyển giao công nghệ Thông thường sức ép

và nhu cầu đổi mới công nghệ lớn nhất là ở các doanh nghiệp có khó khăntrong sản xuất kinh doanh, nhưng ở đó, một là các khoản nợ chưa trả chongân hàng lớn, hai là tài sản thế chấp để vay vốn mới hạn chế, ba là phương

án kinh doanh dùng để vay vốn thường có độ rủi ro cao nên khó vay vốn củangân hàng hoặc thu hút vốn liên doanh với nước ngoài và vay vốn của chínhđối tác liên doanh nhằm chuyển giao công nghệ Trong trường hợp này, ViệtNam thường chấp nhận những công nghệ có trình độ kỹ thuật không cao dochính đối tác chuyển giao giới thiệu Hơn thế nữa, giá chuyển giao thường bịtính cao hơn thực tế 15 - 20% chưa kể các tỷ lệ hoa hồng kèm theo (thườngkhoảng 5%) Chỉ tính riêng trong khoảng 300 dự án đầu tư mà phía nướcngoài góp vốn bằng thiết bị, các bên Việt Nam đã thua thiệt 50 triệu USD

- Quy mô và sự báo động của thời gian cũng có những ảnh hưởng tớichuyển giao công nghệ Một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn tới tìnhtrạng các doanh nghiệp Việt Nam thường liên doanh với nước ngoài để nhậpcông nghệ - ngoài chuyện huy động vốn - là các doanh nghiệp nước ta khôngthâm nhập vào thị trường thế quốc tế Thị trường trong nước có sức mua thấp,chưa phát triển làm cho định hướng các doanh nghiệp có xu hướng muốnvươn ra thị trường nước ngoài (đặc biệt là ngành may, giầy) Trong khi đó thịtrường trong nước lại chưa được nghiên cứu chu đáo để có những sản phẩmphù hợp, trên cơ sở đó lựa chọn công nghệ thích hợp Thực tiễn chuyển giao,đổi mới công nghệ định hướng vào thị trường trong nước của các ngành chế

Ngày đăng: 05/08/2013, 11:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w