Ngày nay trong xu thế toàn cầu hoá, các nước đang trong quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới. Đối với các nước đang phát triển đây vừa là cơ hội, vừa là thách thức. Hiện nay khoảng các giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển đang ngày càng cách xa, sự cách biệt đó một phần do sự phát triển về khoa học công nghệ là khác nhau, trình độ phát triển khoa học công nghệ ở các nước đang phát triển còn thấp và lạc hậu so với các nước phát triển.Vì thế các nước đang phát triển muốn hội nhập vào nền kinh tế thế giới và rút ngắn khoảng cách với các nước phát triển thì phải đầu tư phát triển nền khoa học công nghệ cho mình. Có như vậy kinh tế của các nước này mới đứng vững được trong quá trình hội nhập, giúp cho các doanh nghiệp trong nước cạnh tranh được với các doanh nghiệp nước ngoài, đặc biệt là các doanh nghiệp của các nước có trình độ công nghệ tiên tiến, đồng thời giúp phát triển mọi mặt của đời sống kinh tế xã hội trong nước. Tuy nhiên trong quá trình hội nhập, các nước đang phát triển cũng có lợi thế của những nước đi sau, các nước này có thể phát triển nền khoa học công nghệ của mình nhờ sự áp dụng và phát triển những công nghệ của các nước đi trước bằng chuyển giao công nghệ, song song với việc nghiên cứu và triển khai nền khoa học công nghệ trong nước. Nước ta cũng là nước đang phát triển, nền sản xuất nhỏ, nông nghiệp là chủ yếu, tình trạng công nghệ còn lạc hậu. Hơn 15 năm thực hiện đổi mới, nước ta đã đạt được những thành tựu đáng kể, nhưng nhìn chung tình hình công nghệ còn kém phát triển, trong hoạt động chuyển giao và đổi mới công nghệ ở nước ta nói chung và trong các doanh nghiệp sản xuất nói riêng vẫn còn nhiều hạn chế. Vì vậy với tính cần thiết phải xác định thực trạng hiện nay của công nghệ trong các doanh nghiệp sản xuất đặc biệt là các doanh nghiệp công nghiệp ở nước ta hiện nay, với đề tài này em mong muốn làm rõ một số vấn đề còn tồn tại và có một số giải pháp để khắc phục tình trạng đó. Em xin cảm ơn thầy (cô) đã giúp em hoàn thành đề tài này.
Trang 1THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ TRONG CÁC DOANH
NGHIỆP SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM
Mục lục:
Lời mở đầu
Nội dung
I.Cơ sở lý luận:
1.Công nghệ và đổi mới công nghệ: 1.1.Công nghệ
1.2.Đổi mới công nghệ:
1.2.1.Thực chất của đổi mới công nghệ
1.2.2.Vai trò của đổi mới công nghệ
1.2.3.Các giai đoạn đổi mới công nghệ
1.2.4.Thời điểm đổi mới công nghệ
2.Nội dung chủ yếu của đổi mới công nghệ:
2.1.Lựa chọn công nghệ thích hợp:
2.1.1.Tính tất yếu khách quan của lựa chọn công nghệ thích hợp
2.1.2.Những căn cứ lựa chọn công nghệ thích hợp
2.1.3.Nội dung của lựa chọn công nghệ thích hợp
2.2.Đánh giá công nghệ:
2.2.1.Quan niệm về đánh giá công nghệ
2.2.2.Vai trò của đánh giá công nghệ
2.2.3.Các bước tiến hành đánh giá công nghệ
Trang 22.3.Phân tích năng lực công nghệ:
2.3.1.Năng lực công nghệ và vai trò của việc phân tích năng lực công nghệ.2.3.2.Phương pháp phân tích năng lực công nghệ
2.4.Đổi mới công nghệ:
2.4.1 Đánh giá trình độ công nghệ hiện tại
2.4.2.Các hình thức đổi mới công nghệ
2.4.3.Yêu cầu của đổi mới công nghệ
II.Thực trạng đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp công nghiệp ở Việtnam:
1.Tình hình công nghệ trong các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp ở Việt nam:
1.1.Tình hình công nghệ chung của nền kinh tế quốc dân
1.2.Tình hình công nghệ trong ngành sản xuất công nghiệp ở nước ta
2.Thực trạng công nghệ và đổi mới công nghệ ở một số ngành:
2.1.Ngành cơ khí:
2.1.1.Thực trạng công nghệ của ngành cơ khí
2.1.2.Thực trạng đổi mới công nghệ ngành cơ khí
2.2.Ngành dệt may:
2.2.1.Thực trạng công nghệ ngành dệt may
2.2.2.Thực trạng đổi mới công nghệ ngành dệt may
2.3.Ngành chế biến mía đường:
2.3.1.Thực trạng công nghệ ngành mía đường
Trang 32.3.2.Thực trạng đổi mới công nghệ ngành mía đường.
3.Những kết quả đạt được trong hoạt động đổi mới công nghệ ở nước ta trong những năm qua:
4.Những tồn tại và nguyên nhân trong hoạt động đổi mới công nghệ ở các doanh nghiệp công nghiệp Việt nam:
III.Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động đổi mới công nghệ ở các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp ở Việt nam:
1.Các giải pháp vĩ mô:
2.Các giải pháp vi mô:
Kết luận
Trang 4Lời mở đầu
Ngày nay trong xu thế toàn cầu hoá, các nước đang trong quá trình hộinhập kinh tế khu vực và thế giới Đối với các nước đang phát triển đây vừa
là cơ hội, vừa là thách thức Hiện nay khoảng các giữa các nước phát triển
và các nước đang phát triển đang ngày càng cách xa, sự cách biệt đó mộtphần do sự phát triển về khoa học công nghệ là khác nhau, trình độ pháttriển khoa học công nghệ ở các nước đang phát triển còn thấp và lạc hậu sovới các nước phát triển.Vì thế các nước đang phát triển muốn hội nhập vàonền kinh tế thế giới và rút ngắn khoảng cách với các nước phát triển thì phảiđầu tư phát triển nền khoa học công nghệ cho mình Có như vậy kinh tế củacác nước này mới đứng vững được trong quá trình hội nhập, giúp cho cácdoanh nghiệp trong nước cạnh tranh được với các doanh nghiệp nước ngoài,đặc biệt là các doanh nghiệp của các nước có trình độ công nghệ tiên tiến,đồng thời giúp phát triển mọi mặt của đời sống kinh tế xã hội trong nước.Tuy nhiên trong quá trình hội nhập, các nước đang phát triển cũng có lợi thếcủa những nước đi sau, các nước này có thể phát triển nền khoa học côngnghệ của mình nhờ sự áp dụng và phát triển những công nghệ của các nước
đi trước bằng chuyển giao công nghệ, song song với việc nghiên cứu vàtriển khai nền khoa học công nghệ trong nước
Nước ta cũng là nước đang phát triển, nền sản xuất nhỏ, nông nghiệp làchủ yếu, tình trạng công nghệ còn lạc hậu Hơn 15 năm thực hiện đổi mới,nước ta đã đạt được những thành tựu đáng kể, nhưng nhìn chung tình hìnhcông nghệ còn kém phát triển, trong hoạt động chuyển giao và đổi mới côngnghệ ở nước ta nói chung và trong các doanh nghiệp sản xuất nói riêng vẫncòn nhiều hạn chế Vì vậy với tính cần thiết phải xác định thực trạng hiệnnay của công nghệ trong các doanh nghiệp sản xuất đặc biệt là các doanhnghiệp công nghiệp ở nước ta hiện nay, với đề tài này em mong muốn làm
Trang 5có thể hoà đồng các quan điểm, tạo thuận lợi cho việc phát triển và hoà nhậpcủa các quốc gia trong từng khu vực và trên phạm vi toàn cầu Mỗi lĩnh vực
Trang 6có một cách nhìn riêng về công nghệ để phục vụ cho mục đích của mình.Nhưng nhìn chung một định nghĩa công nghệ cần khái quát đủ 4 đặc trưngsau:
Thứ nhất: Công nghệ là một máy biến đổi, khía cạnh này nhấn mạnh khảnăng làm ra đồ vật của công nghệ, đây cũng là sự khác biệt giữa khoa họcứng dụng với công nghệ Các nhà khoa học ứng dụng chỉ chú trọng tới việckhám phá ra các ứng dụng của các lý thuyết, trong khi các nhà công nghệkhông chỉ quan tâm đến việc làm ra các đồ vật mà còn quan tâm đến hiệuquả kinh tế, tới sự thích hợp với các mục đích sử dụng của công nghệ Do đókhía cạnh máy biến đổi của công nghệ hàm ý vấn đề quản lý có vấn đề đặcbiệt trong việc đạt được kết quả biến đổi mong muốn
Thứ hai: Công nghệ là một công cụ đề cập đến công nghệ thường đượccoi là một cái máy, một trang thiết bị, một thiết bị Vai trò của máy móc, đặcbiệt là sự tác động giữa con người và máy móc có vai trò quan trọng trongcông nghệ
Thứ ba: Công nghệ là kiến thức Đặc trưng này khẳng định vai trò cốt lõicủa khoa học trong công nghệ Nó phủ nhận cách nhìn công nghệ là nhữngthứ phải nhìn thấy được sờ mó được, coi công nghệ là những cái ai cũng cóthể tạo ra nó nếu cần và ai có nó thì cũng có thể sử dụng với một hiệu quảnhư nhau Đó là do công nghệ có những bí quyết và cơ sở khoa học, để sửdụng có hiệu quả công nghệ cần phải được đào tạo và trau dồi các kỹ năngcho con người, đồng thời phải liên tục cập nhật các kiến thức có sẵn
Thứ tư: Công nghệ là hiện thân ở các vật thể Căn cứ vào ba khía cạnhtrên có thể coi công nghệ nằm trong các dạng hiện thân mà nó tồn tại nhưcủa cải, thông tin, sức lao động của con người và do đó thừa nhận công nghệ
là 1 hàng hoá, một dịch vụ, nó có thể được mua và bán như bất cứ các thứhàng hoá khác trên thị trường nội địa cũng như thị trường thế giới
Xuất phát từ các luận điểm trên, hiện nay có một số định nghĩa thôngdụng:
Trang 7+ Định nghĩa của Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên Hiệp Quốc(UNIDO): Công nghệ là việc áp dụng khoa học vào công nghiệp bằng cách
sử dụng các kết quả nghiên cứu và xử lý nó một cách có hệ thống và cóphương pháp
Với tư cách là một tổ chức phát triển công nghiệp, UNIDO nhấn mạnhtính khoa học của công nghệ và xem xét tới khía cạnh hiệu quả khi sử dụngcông nghệ vào mục đích sản xuất công nghiệp
+ Định nghĩa của Uỷ ban Kinh tế và Xã hội Châu á- Thái Bình Dương(ESCAP): Công nghệ là hệ thống kiến thức về qui trình và kỹ thuật dùng đểchế biến vật liệu và xử lý thông tin
Sau đó ESCAP đã mở rộng định nghĩa của mình: “ Công nghệ bao gồm tất
cả các kỹ năng, kiến thức, thiết bị và phương pháp sử dụng trong sản xuấtchế tạo, dịch vụ, quản lý và thông tin”
Định nghĩa này không chỉ gắn công nghệ với sản xuất chế tạo ra sảnphẩm cụ thể mà còn mở rộng ra các lĩnh vực dịch vụ và quản lý Nhữngcông nghệ mới dần hình thành như công nghệ du lịch, công nghệ ngân hàng,công nghệ văn phòng, công nghệ đào tạo, công nghệ truyền thông,…
Hiện nay, ở Việt nam cũng có một số quan niệm về công nghệ, một trong số
đó là: “Công nghệ là kiến thức, kết quả của khoa học ứng dụng nhằm biếnđổi các nguồn lực thành các mục tiêu sinh lợi”
Cuối cùng có một định nghĩa được coi là khái quát nhất về công nghệ là:Công nghệ là tất cả những cái gì dùng để biến đổi đầu vào thành đầu ra Xuất phát từ việc nêu ra được khái quát công nghệ, ta thấy rằng mộtcông nghệ có các bộ phận cấu thành sau:
+ Phần vật tư kỹ thuật (T) bao gồm mọi phương tiện vật chất như cáccông cụ, trang bị máy móc, vật liệu, phương tiện vận chuyển… trong công
Trang 8nghệ chế tạo, các máy móc thiết bị hợp thành dây chuyền công nghệ (phầncứng).
+ Phần con người (H): Công nghệ hàm chứa trong con người làm việctrong công nghệ, bao gồm mọi năng lực của con người về công nghệ như kỹnăng, kinh nghiệm, tính sáng tạo, khả năng lãnh đạo…
+ Phần thông tin của công nghệ (I): Công nghệ hàm chứa trong kiếnthức có tổ chức được và tư liệu hoá như các khái niệm, các thông số, cáccông thức, các ký hiệu…
+ Phần tổ chức của công nghệ (O): Công nghệ hàm chứa trong cáckhung thể chế, tạo nên bộ khung tổ chức của công nghệ như thẩm quyền,trách nhiệm, mối quan hệ, sự phối hợp, liên kết…
Các bộ phận này có quan hệ tương hỗ với nhau, bỗ sung cho nhau, trongbất kỳ công nghệ nào cũng không thể thiếu một trong các bộ phận đó
Phần vật tư kỹ thuật là cốt lõi của bất kỳ công nghệ nào, nó được triểnkhai, lắp đặt bởi con người Con người làm cho công nghệ hoạt động máymóc thiết bị, phương tiện kỹ thuật phát huy hết tính năng của chúng,conngười không ngừng cải tiến, mở rộng, đổi mới các công nghệ đó, đồng thờinhờ đó mà con người ngày càng nâng cao được khả năng về trí tuệ và sứclực của mình Như vậy con người đóng vai trò chủ động trong công nghệ,song lại chịu sự chi phối của thông tin và tổ chức
Phần thông tin thể hiện tri thức tích luỹ trong công nghệ Các thiết bị vàphương tiện có các kiến thức khác nhau thì khi sử dụng trong sản xuất sẽ tạo
ra các sản phẩm khác nhau, đó là những bí quyết của công nghệ Nhờ nhữngtri thức này mà con người rút ngắn được thời gian học tập và tiếp xúc côngnghệ, có thể nói thông tin của một công nghệ là sức mạnh của công nghệ Phần tổ chức đóng vai trò điều hoà, phối hợp 3 yếu tố trên để thực hiệnmột cách có hiệu quả mọi hoạt động biến đổi Phần tổ chức này giúp choviệc quản lý công nghệ được thực hiện một cách có hiệu quả nhất Phần này
Trang 9phụ thuộc vào độ phức tạp của vật tư kỹ thuật và thông tin, song nó lại quyếtđịnh sự cấu thành 3 bộ phận còn lại của công nghệ Có thể nói phần tổ chứcmang tính động lực của công nghệ và bản thân nó biến đổi theo thời gian
1.2 Đổi mới công nghệ:
Ngày nay do công nghệ luôn biến đổi trong chu kỳ sống của nó, trongmỗi giai đoạn nhất định một công nghệ có thể phù hợp với thị trường cónghĩa là sản phẩm do nó sản xuất có thể tồn tại trên thị trường, nhưng đếnmột giai đoạn nào đó, thì công nghệ không còn phù hợp nữa Do đó đổi mớicông nghệ là một nhu cầu tất yếuvà phù hợp với qui luật phát triển
1.2.1 Thực chất đổi mới công nghệ:
Đổi mới công nghệ là sự chủ động thay thế một phần đáng kể (cốt lõi, cơbản) hay toàn bộ công nghệ đang sử dụng bằng công nghệ khác
Muốn đổi mới công nghệ tốt thì phải xác định rõ mục tiêu và hoàn cảnh.Đổi mới công nghệ phải chú ý ba khía cạnh nhất của xã hội đó là: nhu cầu
xã hội, các nguồn lực của xã hội và đặc thù tình cảm của xã hội
Trước hết phải xem xét nhu cầu của xã hội không chỉ về công nghệ màcòn về sản phẩm do công nghệ đó sản xuất ra Bất kỳ một công nghệ nàođược đổi mới đều phải có đủ nhu cầu để thực hiện, nhu cầu đó tạo ra lợi íchsau này cho công nghệ, nó phải lớn hơn chi phí bỏ ra để chế tạo ra côngnghệ đó
Các nguồn lực xã hội cũng có ý nghĩa đối với việc áp dụng công nghệthành công Một công nghệ cần có đủ các nguồn lực- vốn, vật tư và conngười có trình độ - để thực hiện Điều này nói lên rằng xã hội có đủ nguồnvốn để có thể đưa sản phẩm công nghệ ra thị trường hay không, nó có thểđược áp dụng từ một phạm vi nhỏ đến một phạm vi lớn hay không,trình độcủa con người có đủ để áp dụng công nghệ hay không, khi áp dụng vớiphạm vi rộng rãi thì việc đào tạo người sử dụng sẽ như thế nào, đồng thời có
Trang 10thể đưa các nguồn lực sẵn có trong xã hội để cho các công nghệ mới sửdụng hay không.
Đặc thù tình cảm của xã hội muốn nói lên rằng xã hội đó có tiếp nhậncác ý tưởng mới hay không, một môi trường mà các nhóm người sẵn sàngxem xét sự áp dụng một cách nghiêm túc, khách quan, lấy hiệu quả làm tiêuchuẩn hàng đầu Nếu tình cảm xã hội có xu hướng tốt sẽ tạo điều kiện chohoạt động đổi mới công nghệ thuận lợi hơn và ngược lại
1.2.2 Vai trò của đổi mới công nghệ:
Với một công nghệ ở một thời điểm nhất định sẽ có một giới hạn vềnăng lực sản xuất sản phẩm với một lượng đầu vào đã cho Đổi mới côngnghệ là một tiến bộ về công nghệ Tiến bộ đó nằm dưới dạng phương phápmới về sản xuất hay kỹ thuật mới tổ chức, quản lý hay marketing mà nhờ đósản phẩm sẽ được tạo ra với năng suất cao hơn, chất lượng tốt hơn, chi phísản xuất thấp hơn và do đó giá cả có thể giảm xuống Chúng ta đang xét vềmặt hiệu quả kinh tế của công nghệ, bên cạnh đó còn có hiệu quả về mặt xãhội, việc đổi mới công nghệ còn góp phần giảm ô nhiễm môi trường, tạothêm nhiều ngành nghề mới tạo thêm công việc làm cho người lao động, cơcấu lại ngành kinh tế theo vùng lãnh thổ,…
1.2.3 Các giai đoạn đổi mới công nghệ:
Đổi mới công nghệ có thể bằng nhiều cách, có thể phát triển từ nguồncông nghệ trong nước, cũng có thể từ nguồn công nghệ nhập từ nước ngoài.Nhưng nhìn chung đổi mới công nghệ gồm một số giai đoạn sau:
+ Giai đoạn 1: Nhập công nghệ để thoả mãn nhu cầu tối thiểu
+ Giai đoạn 2: Tổ chức cơ sở hạ tầng kinh tế ở mức tối thiểu để tiếp thucông nghệ nhập
+ Giai đoạn 3: Tạo nguồn công nghệ từ nước ngoài thông qua lắp ráp(SKD, CKD và IKD)
Trang 11+ Giai đoạn 4: Phát triển công nghệ nhờ lixăng.
+ Giai đoạn 5: Đổi mới công nghệ nhờ nghiên cứu và triển khai, thíchứng công nghệ nhập, cải tiến cho phù hợp
+ Giai đoạn 6: Xây dựng tiềm lực công nghệ để xuất khẩu công nghệtrên cơ sở nghiên cứu và triển khai
+ Giai đoạn 7: Liên tục đổi mới công nghệ dựa trên đầu tư cao về nghiêncứu cơ bản
Tuy nhiên dưới góc độ xem xét của đề tài, việc nghiên cứu đổi mới côngnghệ chủ yếu tập trung xem xét hoạt động đổi mới công nghệ trong cácdoanh nghiệp sản xuất công nghiệp
1.2.4 Thời điểm đổi mới công nghệ:
Khi đưa một công nghệ mới vào thay thế một công nghệ cũ, cần tuântheo qui luật về trình tự thời gian, diễn biến của giá thành và các yếu tố kinh
tế, kỹ thuật, thị trường, xã hội, môi trường…Sau đâ chúng ta xét quá trìnhđổi mới công nghệ dựa trên qui luật về giá cả của đổi mới công nghệ
Giả sử công nghệ đang sử dụng có giá thành sản phẩm là c1 và giá bánsản phẩm b1 Công nghệ mới có giá thành là c2 và giá bán là b2 (hình vẽ).Giả thiết các đường b và c là song song với nhau, khoảng cách giữa b2c2 nhỏhơn b1c1 thể hiện tính ưu việt của công nghệ mới Đường b1,c1 nằm ngang docông nghệ đang sử dụng đã ổn định, còn b2,c2 dốc xuống do quá trình đưavào sử dụng, kinh nghiệm vận hành, trình độ tay nghề của công nhân và khảnăng quản lý của cán bộ được nâng lên Các đường b2,c2 cắt b1,c1 tại các thờiđiểm t1, t2, t3 và t4
Tại t1, công nghệ mới có giá thành bằng giá bán của công nghệ cũ; lúcnày sản phẩm của công nghệ được giới thiệu trên thị trường Tại t2, côngnghệ mới có giá bán sản phẩm bằng giá bán sản phẩm công nghệ cũ; sảnphẩm công nghệ mới được đưa ra đại trà Tại t3, giá thành công nghệ mới
Trang 12bằng giá thành sản phẩm cũ và giá bán thấp hơn giá bán sản phẩm côngnghệ cũ, nên sản phẩm công nghệ mới sẽ chiếm lĩnh thị trường Tại t4, giábán sản phẩm công nghệ mới bằng giá thành sản phẩm công nghệ cũ; côngnghệ cũ đã lỗi thời và công nghệ mới hoàn toàn thay thế công nghệ cũ.
Trang 132.1.1 Tính tất yếu khách quan của lựa chọn công nghệ thích hợp:
Ngày nay vấn đề đổi mới công nghệ là tất yếu khách quan, cần thiết đốivới sự phát triển của một quốc gia, quá trình đổi mới sẽ tạo điều kiện chocác nước đang phát triển tiến nhanh vào quá trình công nghiệp hoá, hiện đạihoá đất nước, còn các nước phát triển sẽ tạo ra một lực lượng sản xuất pháttriển Tuy nhiên vẫn còn nhiều vấn đề bất cập trong việc đổi mới với việcgiải quyết các mục tiêu kinh tế - xã hội, một công nghệ được đổi mới đòi hỏi
Trang 14phải thích ứng với điều kiện và hoàn cảnh của quốc gia đó Một công nghệmới không chỉ tạo ra được những lợi ích về kinh tế mà còn phải giải quyếtđược mối quan hệ với các nguồn lực hiện có của quốc gia như là nguồn laođộng, nguồn tài nguyên thiên nhiên, hầu hết các nước đang phát triển đều cónguồn nhân lực dồi dào do đó thường thì khi đổi mới một công nghệ nào đócác nước này thường chọn những công nghệ có hàm lương lao động cao đểgiải quyết vấn đề việc làm trong quốc gia đó, nguồn tài nguyên thiên nhiênphong phú, nhiều loại, trữ lượng tương đối lớn, do đó phải có những côngnghệ sử dụng các nguồn tài nguyên đó Ngoài ra còn phải giải quyết mốiquan hệ với nguồn công nghệ hiện có, môi trường văn hoá xã hội, chính trịpháp luật, quan hệ quốc tế… nhưng vấn đề lớn nhất mà công nghệ đó phảiđáp ứng đó là nó phải phù hợp với mục tiêu của quốc gia, của ngành, của địaphương.
Như vậy, để thực hiện đổi mới công nghệ một cách có hiệu quả thì trướchết chúng ta phải lựa chọn được công nghệ thích hợp
Công nghệ thích hợp là công nghệ thoả mãn giải quyết mọi nhu cầu củakinh tế xã hội đặt ra trên cơ sở phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh thực tế
2.1.2 Những căn cứ lựa chọn công nghệ:
Trong hoạt động đổi mới công nghệ, người ta có thể hiểu công nghệthích hợp theo nhiều kiểu khác nhau, bởi một công nghệ sẽ đáp ứng một sốmục tiêu và thích ứng với điều kiện của một quốc gia nhất định, công nghệ
đó có thể thích hợp với quốc gia này, với điều kiện của vùng lãnh thổ nàynhưng lại không thích hợp với quốc gia khác, vùng lãnh thổ khác Vì thếkhi lựa chọn công nghệ thích hợp cần căn cứ vào một số tiêu thức sau:
Thứ nhất là căn cứ vào định hướng theo công nghệ, một công nghệ cóthể xếp vào loại công nghệ thô sơ, thủ công và hiện đại Việc lựa chọn loạicông nghệ nào là tuỳ thuộc vào điều kiện mỗi nước, các nước đang pháttriển nên lựa chọn công nghệ trung gian, dung hoà giữa công nghệ hiện đại
và công nghệ thô sơ, thủ công điều này có thể lý giải là: điều kiện ở các
Trang 15nước đang phát triển không giống với các nước phát triển, nếu các nướcđang phát triển cũng áp dụng công nghệ hiện đại sẽ có nhiều khó khăn (vềvốn, lao động, sự thích nghi), còn áp dụng các công nghệ thấp thì không thểphát triển kịp với các nước phát triển và khó hội nhập quốc tế.
Thứ hai là căn cứ vào định hướng theo nhóm mục tiêu, trong mỗi giaiđoạn, một quốc gia thường có các mục tiêu cho sự phát triển của mình, đểđạt được các mục tiêu đó các quốc gia phải lựa chọn cho mình những côngnghệ thích hợp Các nước đang phát triển thường có một số mục tiêu là: + Thoả mãn nhu cầu và giải quyết công ăn việc làm, nâng cao mức sốngcho nhân dân
+ Tăng năng suất lao động
Thứ tư là căn cứ vào định hướng không gây đột biến, có nghĩa là xemxét sự hài hoà giữa sử dụng, thích nghi, cải tiến và phát triển Phải có kếthợp phát triển không gượng ép, đảm bảo hài hoà tự nhiên, kết hợp côngnghệ bản xứ và công nghệ nhập, tạo lập sự phát triển trong hoà bình và bềnvững, không mâu thuẫn giữa quốc gia và địa phương, hoà hợp giữa côngnghệ truyền thống và hiện đại v.v
2.1.3 Nội dung của lựa chọn công nghệ thích hợp:
Trang 16+ Tìm hiểu nhu cầu về công nghệ và sản phẩm của công nghệ trong nước.+ Xác định, định hướng về công nghệ, nội dung này sẽ xác định được côngnghệ nhập phù hợp với mục tiêu của quốc gia
+ Nghiên cứu và tìm hiểu thông tin về thị trường công nghệ
+ Quyết định lựa chọn công nghệ
2.2 Đánh giá công nghệ:
2.2.1 Quan niệm về đánh giá công nghệ:
Công nghệ không tồn tại một cách biệt lập mà nó nằm trong “môi trườngcon người” Tất cả các công nghệ khi được ứng dụng đều gây ra những thayđổi môi trường xung quanh con người Môi trường thay đổi lại tác động nhưmột lực định hướng cho sự phát triển của những công nghệ mới Nói cáchkhác có sự tác động tương hỗ một cách có hệ thống giữa công nghệ và cácyếu tố khác nhau tạo nên môi trường bao quanh con người như: kinh tế, môitrường tự nhiên, dân số, văn hoá xã hội, chính trị- pháp luật…
Công nghệ khác nhau tác động đến các yếu tố môi trường xung quanh conngười theo những hướng khác nhau, trong những tác động này có những tácđộng tiêu cực có tác dụng kích thích tăng trưởng kinh tế, nâng cao đời sốngkinh tế xã hội…và cũng có những tác động tiêu cực đến môi trường như làm
ô nhiễm môi trường, khai thác cạn kiệt tài nguyên… đến lượt các yếu tố này
sẽ tác động tổng hợp lên hệ thống công nghệ, hệ thống tác động tương hỗnày, các vòng phản hồi và cơ chế quản lý là cực kỳ quan trọng đối với việcđánh giá đúng đắn công nghệ
Do vậy vấn đề đánh giá công nghệ cần được khảo sát bằng phương pháp
có hệ thống và toàn diện Những tiềm năng và hạn chế của công nghệ cầnđược đánh giá trong tổng thể của nó
Vì vậy người ta đưa ra quan niệm về đánh giá công nghệ: Đánh giá côngnghệ không chỉ giới hạn trong “cực tiểu hoá tác hại” của công nghệ và sự
Trang 17phát triển trong sự thích hợp với môi trường mà còn là “cực đại hoá hiệu quảtích cực” của công nghệ và phát triển công nghệ “bền vững với môi trường”xung quanh.
2.2.2 Vai trò của đánh giá công nghệ:
Đến nay ở các nước đang phát triển, ta thấy rằng sự thiếu thốn về côngnghệ tiên tiến đã liên quan tới nhiều vấn đề xã hội đặc biệt vấn đề lớn nhất
là sự tăng trưởng kinh tế thấp, từ đó liên quan đến phúc lợi xã hội thấp, sựlãng phí nguồn tài nguyên thiên nhiên, trình độ văn hoá thấp dẫn đến tốc độtăng dân số lớn, rối loạn xã hội và sự bất ổn về chính trị…Hơn nữa vấn đềvới trình độ công nghệ thấp kém gây ô nhiễm môi trường trầm trọng, đây làvấn đề lâu dài đối với các nước này Vì thế đánh công nghệ có một vai tròhết sức quan trọng Nó thể hiện ở một số vấn đề sau:
+ Nó giúp cho các nước này xác định được công nghệ nào là thích hợp
và khả năng thích ứng để từ đó tiến hành chuyển giao công nghệ, nghĩa làphải xác định công nghệ hiện hành ở các nước đã phát triển có phù hợp vớiđiều kiện và mục tiêu của mình hay không
+ Giúp cho các nước này lựa chọn công nghệ để triển khai, nghĩa là xácđịnh công nghệ vốn có và công nghệ nhập khẩu sao cho phù hợp với cácmục tiêu phát triển quốc gia
+ Nó giúp cho các quốc gia quản lý công nghệ phù hợp để bảo vệ môitrường
2.2.3 Các bước tiến hành đánh giá công nghệ:
Để đánh giá công nghệ ta tiến hành các bước sau:
+ Mô tả công nghệ
+ Liệt kê các yếu tố tác động Yếu tố tác động này được xác định quaviệc phân tích tác động giữa công nghệ với môi trường xung quanh conngười
Trang 18tự nhiên, yếu tố dân số, yếu tố văn hoá xã hội, yếu tố pháp luật- chính trị…trong các yếu tố này có những yếu tố có thể định lượng được, có những yếu
tố chỉ có thể định tính Do vậy để thực hiện đánh giá công nghệ người ta sửdụng 2 loại công cụ và kỹ thuật cơ bản: một số có tính định lượng và một sốkhác là định tính Kỹ thuật phân tích lợi ích chi phí là một công cụ ra quyếtđịnh lựa chọn đầu tư Các bước tiến hành như sau:
Bước 1: Liệt kê các phương án công nghệ có sẵn i = 1,2,…,n n là sốphương án lựa chọn
Bước 2: Xác định tất cả các yếu tố chi phí j =1,2,…,m m là số cáckhoản chi phí (những tác dụng tiêu cực được coi là chi phí)
Bước 3: Biến đổi các chi phí thành tiền tương đương
T y
m j jy
Trang 19
T y
k j jy
B
1 1 ; Bjy khoản lợi ích thứ j ở năm thứ y
Bước 6: So sánh lợi ích và chi phí
Bước 7: Chọn phương án thích hợp dựa trên các mục tiêu và các ràngbuộc
Bước 8: Hiệu chỉnh tập phương án đã chọn dựa trên sự tác động tươnghỗ
Kỹ thuật định tính được sử dụng bằng một số đánh giá chủ quan đối vớitác dụng của một công nghệ tương ứng với các yếu tố khác nhau
2.3 Phân tích năng lực công nghệ:
2.3.1 Năng lực công nghệ và vai trò của việc phân tích năng lực công
nghệ:
Năng lực công nghệ của quốc gia (ngành, cơ sở) là khả năng của nótriển khai những công nghệ đã có một cách có hiệu quả và đương đầu đượcvới những thay đổi công nghệ lớn
Từ những năm 1970 các nhà nghiên cứu bắt đầu chú ý đến các quá trình
có liên quan đến việc làm chủ và thích nghi hoá công nghệ nhập Người tathấy rõ ràng công nghệ có tính ẩn, chuyển giao công nghệ có độ bất địnhđáng kể Để đồng hoá công nghệ nhận từ bên ngoài, người ta phải giải quyếtnhiều vấn đề tự lập theo cách riêng mà không thể dựa hoàn toàn vào bênbán Từ các chuyển hướng suy nghĩ đó, vấn đề năng lực công nghệ của quốcgia, của cơ sở và việc tăng cường năng lực đặc biệt được chú ý
Theo định nghĩa này có hai mức để phân tích năng lực công nghệ đó là:+ Sử dụng hiệu quả năng lực công nghệ sẵn có
+ Thực hiện thành công đổi mới công nghệ
Năng lực công nghệ được đánh giá trên hệ thống 4 nhóm chỉ tiêu sau:
Trang 20+ Nhóm 1: Năng lực vận hành (năng lực sử dụng công nghệ; năng lựcquản lý sản xuất bằng công nghệ đó; năng lực bão hành, bảo dưỡng máymóc thiết bị và năng lực khắc phục sự cố có thể xảy ra).
+ Nhóm 2: Năng lực tiếp thu công nghệ (năng lực tìm kiếm, đánh giá vàlựa chọn công nghệ phù hợp; năng lực lựa chọn hình thức tiếp thu côngnghệ; năng lực đàm phán trong chuyển giao công nghệ; năng lực học tập vàtiếp thu công nghệ mới)
+Nhóm 3: Năng lực hỗ trợ tiếp thu công nghệ (năng lực tổ chức tiếp thucông nghệ; năng lực về đào tạo nguồn nhân lực cho tiếp thu công nghệ; nănglực tìm kiếm quỹ vốn cho phát triển công nghệ; năng lực xác định thị trườngmới cho sản phẩm và đảm bảo đầu vào cho sản xuất)
+ Nhóm 4: Năng lực đổi mới (năng lực thiết kế sản phẩm mới cho côngnghệ được chuyển giao; thay đổi nhỏ hoặc cơ bản công nghệ đã có cho phùhợp với công nghệ nhập; thiết kế các công nghệ mới dựa trên các kết quảnghiên cứu và triển khai)
2.3.2 Phương pháp phân tích năng lực công nghệ:
Trên cơ sở các nhóm chỉ tiêu phản ánh năng lực công nghệ ta tiến hànhphân tích năng lực công nghệ của cơ sở, ngành,và quốc gia Chúng ta có thểphân tích theo định tính hoặc định lượng
Để phân tích năng lực công nghệ quốc gia ta tiến hành các bước sau:Bước 1: Phân tích toàn bộ quá trình sản xuất thành các công đoạn biếnđổi
Bước 2: Biểu diễn cơ cấu công nghệ theo giá trị tạo được do đóng gópcông nghệ
Bước 3: Đánh giá các nguồn lực có thể sử dụng
Trang 21Bước 4: Đánh giá về năng lực kết cấu hạ tầng (năng lực đồng hoá côngnghệ nhập, năng lực sản sinh công nghệ).
Bước 5: Suy ra năng lực công nghệ ngành, quốc gia
Cụ thể ta tiến hành phân tích năng lực công nghệ cơ sở:
Cơ sở của phương pháp này là tập hợp kiến thức để nghiên cứu, phântích, tính toán và xác định giá trị tạo được do đóng góp của công nghệ khithực hiện một công nghệ cụ thể trên một cơ sở cụ thể Căn cứ vào giá trị nàycao hay thấp ta kết luận năng lực công nghệ của cơ sở đó
GTCN=..Q
Trong đó: GTCN: giá trị tạo được do đóng góp của công nghệ
: hệ số ảnh hưởng của môi trường quốc gia (<1)
Q: sản lượng được tính ra bằng tiền
H: giá trị hệ số đóng góp của thành phần con người
I: giá trị hệ số đóng góp của thành phần thông tin
O: giá trị hệ số đóng góp của thành phần tổ chức
Với T,H,I,O xác định được chúng ta có đồ thị biểu diễn khả năng đónggóp của từng thành phần công nghệ so với lý tưởng
T
Trang 222.4 Đổi mới công nghệ:
2.4.1 Đánh giá trình độ công nghệ hiện tại:
Hiện nay sự chênh lệch về trình độ công nghệ giữa các nước phát triển
và các nước đang phát triển là rất lớn Vì vậy việc nhận biết sự chênh lệch
đó là cơ sở cho việc sắp xếp, bố trí các hoạt động phát triển và chuyển giaocông nghệ trong nước và quốc tế
Dấu hiệu về trình độ công nghệ của một ngành có thể xác định đượcbằng cách so sánh nó với cùng ngành của một nước khác có thành tích tốtnhất trong lĩnh vực đó Để làm điều này, đối với một công nghệ cụ thể trướchết phải chọn ra một hoặc một số chỉ số bộ phận định lượng để xác địnhtrình độ công nghệ Trong những chỉ số bộ phận như vậy có thể giúp đánhgiá trình độ công nghệ thì những khác nhau trong giá trị giữa các nước cóthể chứng minh sự tồn tại của khoảng cách công nghệ
Trang 23Bên cạnh đó, để đánh giá toàn diện, đầy đủ và có ý nghĩa hơn về trình độcông nghệ của một ngành công nghệ thì công nghệ phải được xem xét trênquan điểm của 4 thành phần của nó và khoảng cách công nghệ từ đó đượcxác định đối với từng thành phần
Việc đánh giá này là giúp cho các nước nhận thấy được trình độ côngnghệ của mình so với các nước khác, trong quá trình hội nhập kinh tế cácnước cạnh tranh với nhau ngày càng gay gắt, vì thế để duy trì và phát triểnnền kinh tế độc lập, các nước phải có chính sách phát triển khoa học côngnghệ nhằm phát triển nền sản xuất trong nước Đồng thời căn cứ vào thịtrường và nhu cầu thị trường, một số sản phẩm không còn phù hợp nữa buộccác doanh nghiệp phải thay thế công nghệ hiện tại
2.4.2 Các hình thức đổi mới công nghệ:
a Nghiên cứu và triển khai công nghệ trong nước:
Nghiên cứu và triển khai công nghệ trong nước đóng vai trò quan trọngtrong hoạt động đổi mới công nghệ Ngoài những lợi ích về kinh tế mà nóđem lại cho đất nước Nó còn góp phần cho phát triển khoa học công nghệtrong nước tạo ra vị thế cho mỗi quốc gia trong quá trình hội nhập kinh tế,
nó đem lại độc quyền về công nghệ do nước đó tạo ra, đem lại khả năngcạnh tranh cho các doanh nghiệp trong nước
Quá trình nghiên cứu và triển khai là quá trình nhận biết những đòi hỏihay những khả năng tiềm tàng, nảy sinh những ý tưởng sáng tạo Sự nhậnthức được nhu cầu của xã hội là một sự thúc đẩy cơ bản cho nghiên cứu vàtriển khai - đó là sự thúc ép của nhu cầu Để đáp ứng đòi hỏi đó cần nghiêncứu cần dựa trên những kiến thức hiện có Một động cơ khác của nghiên cứu
và triển khai là tìm kiếm những ứng dụng còn tiềm tàng trong khoa học Sựtìm tòi đó góp phần nâng cao kiến thức và làm nảy sinh những ý tưởng côngnghệ; đó là sự thúc đẩy của khoa học công nghệ Tiếp theo quá trình đó làcác quá trình kỹ nghệ hoá: sáng tạo, thiết kế, chế tạo Cuối cùng là quá trìnhMarketing, tức là tìm cách để truyền bá công nghệ
Trang 24
Nghiên cứu Triển khai
Hình thức này có nhiều ưu điểm như tận dụng và khai thác tốt nguồn lực
có sẵn (nhân lực, vật lực, tài lực); tạo ra được công nghệ phù hợp và thíchnghi với điều kiện sẵn có; dễ quản lý, không phụ thuộc vào nước ngoài, tiếtkiệm ngoại tệ dùng để nhập khẩu công nghệ; tạo điều kiện nâng cao nănglực công nghệ trong nước
Bên cạnh đó nó còn có những hạn chế như mất thời gian cho nghiên cứu
và triển khai, dễ mất cơ hội chiếm lĩnh thị trường (vì không có ngay côngnghệ đang cần); hạn chế về năng lực, nguồn lực do đó không tạo ra đượccông nghệ có chất lượng, có khi chi phí còn đắt hơn là nhập từ nước ngoài
kiến thức Nảy sinh ý đồ
Kỹ nghệ hoá
Marketing
Trang 25Những hạn chế này là những vấn đề lớn đối với các nước đang pháttriển do đó hình thức đổi mới công nghệ này chỉ được thực hiện với một tỷ
lệ nhỏ so với toàn bộ hoạt động đổi mới công nghệ, các nước này chủ yếuthực hiện đổi mới công nghệ thông qua hình thức chuyển giao công nghệ
b Chuyển giao công nghệ:
Chuyển giao công nghệ là quá trình chuyển và nhận công nghệ qua biêngiới một quốc gia
Đây là hình thức chủ yếu để thực hiện đổi mới công nghệ ở các nướcđang phát triển Ở các nước này, do trình độ nghiên cứu và triển khai côngnghệ trong nước còn yếu do đó chủ yếu thực hiện chuyển giao công nghệ đểnâng cao trình độ công nghệ trong nước
Như đã thống nhất về mặt định nghĩa, công nghệ gồm có 2 phần: phầncứng và phần mềm Trong chuyển giao công nghệ, phần mềm của côngnghệ là rất trừu tượng, vấn đề là bên nhận công nghệ phải nắm vững đượcphần mềm của công nghệ Qua thực tế chuyển giao công nghệ người ta đưa
ra một số thể loại được coi như là phạm trù của công nghệ như sau:
+ Nghiên cứu khả thi và khảo sát thị trường trước khi đầu tư
+ Thu thập thông tin về một số công nghệ đã có
+ Thiết kế kỹ thuật - công nghệ
+Xây dựng nhà máy và lắp đặt thiết bị
+ Phát triển công nghệ
Ngày nay chuyển giao công nghệ được thực hiện một các rộng rãi trongđiều kiện hợp tác hoá và phân công lao động ngày càng sâu sắc Các nướcthực hiện chuyển giao công nghệ vì một số lý do sau:
Thứ nhất: Các nước phát triển không đồng đều và yêu cầu công nghệ rất
đa dạng Một nước dù là nước phát triển hay đang phát triển thì với nguồn
Trang 26lực có hạn, họ không thể tạo ra được tất cả các công nghệ mà họ cần mà họchỉ có thể phát triển một số công nghệ nào đó để có thể tạo ra lợi thế cạnhtranh so với các nước khác.Vì thế họ cần phải giao lưu công nghệ với cácnước khác để khai thác các nguồn lực trong nước và tận dụng các nguồn vốn
từ bên ngoài để tạo ra những sản phẩm đáp ứng nhu cầu trong nước
Thứ hai: một công nghệ hay hay một sản phẩm của công nghệ đó baogiờ cũng có một chu kỳ sống nhất định, vì thế các nhà sản xuất ra công nghệhay sản phẩm đó mong muốn kéo dài chu kỳ sống đó Có thể công nghệ đóhay sản phẩm không phù hợp với thị trường này nhưng vẫn đang là mới vớimột số thị trường khác Do đó các các nước tiến hành chuyển giao côngnghệ để vừa tạo ra sản phẩm đáp ứng nhu cầu trong nước vừa tận dụng đượccác công nghệ ở cuối chu kỳ sống của nó
Thứ ba: nhu cầu của thị trường biến đổi ngày càng đa dạng vì vậy cácnhà doanh nghiệp cần phải định hướng cho các sản phẩm mới và các sảnphẩm thay thế Muốn vậy không có con đường nào khác là phải luôn đổimới công nghệ Đổi mới từng phần, từng công đoạn, hay đổi mới toàn bộtuỳ thuộc theo chiến lược sản phẩm và năng lực công nghệ Nhưng đổi mớicông nghệ không thể không chú ý tới chuyển giao công nghệ Nói cách khácđổi mới công nghệ là nhu cầu của chuyển giao công nghệ
Thứ tư: tranh thủ vốn đầu tư của nước ngoài Tận dụng chuyển giaocông nghệ để đầu tư chất xám từ nước ngoài, tận dụng liên doanh, liên kết
…
Hiện nay có hai hình thức chuyển giao công nghệ đó là chuyển giao dọc
và chuyển giao ngang
+ Chuyển giao dọc là sự nhận và chuyển công nghệ đang trong giai đoạnquản lý của nghiên cứu có nghĩa là công nghệ chưa đưa vào sản xuất đại trà.+ Chuyển giao ngang là sự chuyển và nhận công nghệ đã sản xuất đạitrà
Trang 27Mỗi hình thức chuyển giao đều có ưu nhược điểm riêng trong một sốtrường hợp thì áp dụng hình thức chuyển giao dọc là có lợi nhưng trongtrường hợp khác thì chuyển giao ngang là có lợi, vì thế khi thức hiện chuyểngiao người ta xét xem nên thực hiện chuyển giao theo hình thức nào là đạthiệu quả cao nhất.
Các bước để tổ chức thực hiện chuyển giao công nghệ:
+ Chuẩn bị: trong bước này đòi hỏi nắm vững những yêu cầu củachuyển giao công nghệ, nghĩa là sau khi thực hiện các công việc của hoạtđộng công nghệ như lựa chọn công nghệ thích hợp, đánh giá công nghệ,phân tích năng lực công nghệ để thực hiện đổi mới công nghệ các nước, cácdoanh nghiệp phải nắm vững được các điều kiện này để tiến hành chuyểngiao công nghệ đạt hiệu quả cao Bên cạnh đó các nước (các doanh nghiệp)còn phải nắm vững các hợp đồng chuyển giao công nghệ như hợp đồnglixăng, hợp đồng chuyển giao công nghệ kèm theo cung cấp máy móc thiết
bị, xây dựng công trình công nghiệp có hoặc không kèm lixăng, hợp đồngdịch vụ, hỗ trợ và tư vấn kỹ thuật, hợp đồng đại lý, hợp đồng tổng hợp.Hợp đồng lixăng là giấy phép mà người chủ sở hữu công nghiệp cấp chongười mua được quyền sở hữu công nghiệp đó của mình Một hợp đồnglixăng chỉ chuyển một quyền sở hữu công nghiệp
Hợp đồng chuyển giao công nghệ kèm theo cung cấp máy móc thiết bị,xây dựng công trình công nghiệp có hoặc không có lixăng: hợp đồng nàybao gồm những nội dung về chuyển giao quyền sở hữu hay sử dụng sángchế, giải pháp hữu ích, hoặc các đối tượng sở hữu công nghệ khác; thông tin
về công nghệ Trong hợp đồng này nhất thiết phải có các thông tin về đặcđiểm kỹ thuật của máy móc và thiết bị, các mô tả chi tiết, rõ ràng về côngnghệ mà bên nhận muốn nhận được, cũng như cách thức để nhận được côngnghệ
Trang 28Hợp đồng cung cấp dịch vụ hỗ trợ và tư vấn kỹ thuật: hợp đồng này chủyếu nhằm thoả thuận về việc cung cấp các dịch vụhỗ trợ và tư vấn côngnghệ kể cả đào tạo và thông tin.
Hợp đồng đại lý: bên nhận làm đại lý cần phải có kiến thức cần thiết về
sử dụng, bảo dưỡng, sữa chữa sản phẩm, cũng như các dịch vụ có liên quan
Vì thế hợp đồng này phải ghi rõ những nội dung đào tạo cụ thể sẽ tiến hànhcho bên đại lý; các tài liệu liên quan (mô tả sản phẩm, cẩm nang vận hành vàbảo dưỡng, cẩm nang sữa chữa…) Các nội dung trong hợp đồng này phảiđược thực hiện trong khi bên đại lý bán máy móc thiết bị
Hợp đồng tổng hợp: nó là tập hợp một hoặc toàn nội dung nói trên.+ Hợp đồng chuyển giao công nghệ
+ Chuẩn y hợp đồng
2.4.3 Yêu cầu của đổi mới công nghệ:
Từ việc đánh giá công nghệ ta có thể nhận thấy yêu cầu tổng quát củađổi mới công nghệ là lợi ích mà công nghệ đem lại phải lớn hơn là chi phí