Cùng với sự phát triển của kinh tế , khoa học và kỹ thuật thì các nhu cầu của con người được đáp ứng nhiều hơn đầy đủ hơn . cuộc sống của con người do đó cũng tốt hơn . tuy nhiên mặt trái của sự phát triển kinh tế , khoa học kỹ thuật lại làm cho cuộc sống của con người phải đối mặt với nhiều vấn đề phát sinh đe doạ cuộc sống như ốm đau , bệnh tật , tai nạn ,… Đặc biệt khi kinh tế , khoa học kỹ thuật phát triển nhiều ngành kinh tế ra đời thu hút ngày càng nhiều người tham gia vào lực lượng lao động . Song song với nó vấn đề tai nạn lao động ,bệnh nghề nghiệp ngày một ra tăng . Điều này do nhiều nguyên nhân nhưng tựu lại do vấn đề lao động còn chưa được chú ý nhiều và các chế độ đảm bảo từ phía nhà nước và người sử dụng lao động còn chưa hoạt động một cách có hiệu quả . Nhất là đối với các nước đang phát triển trong đó có việt nam . Mà mục tiêu của chúng ta là tiến lên xã hội chủ nghĩa , một xã hội đáp ứng đầy đủ mọi nhu cầu của con người . Để đạt được mục tiêu này chúng ta phải cân đối giữa phát triển kinh tế với phát triển các vấn đề phúc lợi cho mọi người .Chính vì vậy mà hiện nay khi toàn dân đang tập trung xây dựng kinh tế chúng ta cũng cần quan tâm phát triển và hoàn thiện chế độ đảm bảo xã hội . Trong đó phải kể đến chế độ đối với những người lao động bị tai nạn lao động , bệnh nghề nghiệp . Vì vậy tôi đã lựa chọn đề tài “Tình hình triển khai chế độ tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp ở việt nam-thực trạng và giải pháp ” với hy vọng cung cấp cho các bạn những thông tin về tình hình triển khai chế độ tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp ở việt nam cũng như một vài suy nghĩ của tôi nhằm hoàn thiện chế độ này . Mặc dù đã cố gắng nhiều song đề tài của tôi chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót . Rất mong sự đóng góp ý kiến của các bạn cho để tài của tôi thêm hoàn thiện
Trang 1Phần mở đầu
Cùng với sự phát triển của kinh tế , khoa học và kỹ thuật thì các nhucầu của con người được đáp ứng nhiều hơn đầy đủ hơn cuộc sống của conngười do đó cũng tốt hơn tuy nhiên mặt trái của sự phát triển kinh tế , khoahọc kỹ thuật lại làm cho cuộc sống của con người phải đối mặt với nhiều vấn
đề phát sinh đe doạ cuộc sống như ốm đau , bệnh tật , tai nạn ,… Đặc biệtkhi kinh tế , khoa học kỹ thuật phát triển nhiều ngành kinh tế ra đời thu hútngày càng nhiều người tham gia vào lực lượng lao động Song song với nóvấn đề tai nạn lao động ,bệnh nghề nghiệp ngày một ra tăng Điều này donhiều nguyên nhân nhưng tựu lại do vấn đề lao động còn chưa được chú ýnhiều và các chế độ đảm bảo từ phía nhà nước và người sử dụng lao động cònchưa hoạt động một cách có hiệu quả Nhất là đối với các nước đang pháttriển trong đó có việt nam Mà mục tiêu của chúng ta là tiến lên xã hội chủnghĩa , một xã hội đáp ứng đầy đủ mọi nhu cầu của con người Để đạt đượcmục tiêu này chúng ta phải cân đối giữa phát triển kinh tế với phát triển cácvấn đề phúc lợi cho mọi người Chính vì vậy mà hiện nay khi toàn dân đangtập trung xây dựng kinh tế chúng ta cũng cần quan tâm phát triển và hoànthiện chế độ đảm bảo xã hội Trong đó phải kể đến chế độ đối với nhữngngười lao động bị tai nạn lao động , bệnh nghề nghiệp Vì vậy tôi đã lựa
chọn đề tài “Tình hình triển khai chế độ tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp ở việt nam-thực trạng và giải pháp ” với hy vọng cung cấp cho các
bạn những thông tin về tình hình triển khai chế độ tai nạn lao động và bệnhnghề nghiệp ở việt nam cũng như một vài suy nghĩ của tôi nhằm hoàn thiệnchế độ này
Mặc dù đã cố gắng nhiều song đề tài của tôi chắc chắn không tránh khỏinhững thiếu sót Rất mong sự đóng góp ý kiến của các bạn cho để tài của tôithêm hoàn thiện
Trang 2Tôi xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn chỉ bảo của cô Nguyễn NgọcHuyền và các thầy cô giáo bộ môn kinh tế bảo hiểm đã giúp tôi thực hiện đềtài này
I lý luận chung
1- Bảo hiểm xã hội (BHXH) và các chế độ bảo hiểm xã hội
bảo hiểm xã hội , ưu đãi xã hội và cứu trợ xã hội là ba phương pháp cơ bảntrong hệ thống các phương pháp bảo đảm xã hội Trong đó bảo hiểm xã hội
có vai trò to lớn trong việc thực hiện các chính sách đảm bảo đời sống chongười lao động và gia đình họ góp phần đảm bảo an toàn xã hội
Đối tượng được bảo đảm trong bảo hiểm xã hội rất rộng là người lao động
Mà người lao động lại là đại bộ phận dân cư Trong khi cứu trợ xã hội , ưuđãi xã hội đối tượng được bảo đảm rất nhỏ bé :cứu trợ xã hội đó là người gặpphải hoàn cảnh khó khăn,còn ưu đãi xã hội là những người có cống hiến đặcbiệt cho quê hương đất nước ,xã hội trong sự nghiệp đấu tranh bảo vệ tổ quốchay xây dựng đất nước
với vai trò to lớn trong chính sách đảm bảo xã hội mà nó được ra đời từ rấtlâu Năm 1883 nước phổ (cộng hoà liên bang Đức ngày nay) đã ban hànhluật bảo hiểm ốm đau đầu tiên trên thế giới , đánh dấu sự ra đời của bảo hiểm
xã hội Ngày 4 tháng 6 năm1952, tổ chức lao động quốc tế (ILO) đã ký công
ước Giơnevơ (công ước 102 ) về “Bảo hiểm xã hội cho người lao động ” đã
khẳng định tất yếu các nước phải triển khai bảo hiểm xã hội cho người laođộng và gia đình họ Tại việt nam , sau cách mạng tháng 8 năm 1945 có banhành sắc lệnh 29/SL ngày 12/3/1947 thực hiện bảo hiểm ốm đau , tai nạn laođộng và hưu trí Nhưng do chiến tranh và khả năng kinh tế nên chỉ một bộphận người lao động được hưởng quyền lợi bảo hiểm Sau ngày hoà bình lậplại nhà nước ban hành nghị định 128/CP của chính phủ về điều lệ tạm thờicác chế độ từ đó đến nay bảo hiểm xã hội đã dần được hoàn thiện
Theo các quy định về bảo hiểm xã hội thì bảo hiểm xã hội được hiểu là sựbảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với người lao động khi
họ gặp phải những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động , mất việc
Trang 3làm trên cơ sở hình thành và sử dụng một quỹ tiền tệ tập trung nhằm đảm bảođời sống cho người lao động và gia đình họ góp phần đảm bảo an toàn xã hội Đối tượng bảo hiểm xã hội chính là thu nhập của người lao động Nó có ảnhhưởng lớn tới cuộc sống của người lao động và gia đình họ nên chính sáchđảm bảo được thể hiện khá rõ
Chính sách bảo hiểm xã hội ngoài mục đích phân phối lại thu nhập còn mụcđích đảm bảo công bằng cho người lao động Thu nhập của người lao độngchịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như : ốm đau, bệnh tật ,tai nạn hoặc bị mấtviệc… Các yếu tố này có thể do bản thân người lao động hoặc sự tác động từphía người sử dụng lao động Từ yếu tố này để đảm bảo quyền lợi cho ngườilao động , bảo hiểm xã hội quy định đối tượng tham gia là :
người lao động đóng 5% tiền lương
Đầu năm 2003 khi bảo hiểm y tế sát nhập vào bảo hiểm xã hội thì người sửdụng lao động phải đóng 2% quỹ lương trên, còn người lao động đóng 1%tiền lương của họ vào quỹ BHXH
Theo quy định của bảo hiểm thì những người được hưởng quyền lợi bảohiểm là khi có rủi ro mất hoặc làm giảm thu nhập trên cơ sở bị suy giảm khảnăng lao động và có đóng bảo hiểm xã hội
Theo công ước 102 tháng 6 năm1952 tổ chức lao động quốc tế cho triển khai
9 chế độ bảo hiểm xã hội Bao gồm:
Trang 48 Trợ cấp khi tàn phế
9 Trợ cấp trợ tuất
9 chế độ này hình thành nên hệ thống bảo hiểm xã hội Tuy nhiên việc ápdụng những chế độ nào lại tuỳ thuộc vào điều kiện về kinh tế xã hội của từngnước Hiện nay ở việt nam theo quy định của chính phủ về các chế độ bảohiểm xã hội thì việt nam tiến hành 6 chế độ Bao gồm :
1 Chăm sóc sức khoẻ ( bảo hiểm y tế )
2-Chế độ tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp
a-Sự cần thiết khách quan triển khai chế độ trợ cấp tai nạn lao động (TNLĐ)
và bệnh nghề nghiệp (BNN) ở việt nam
Trong mọi hoạt động của con người luôn tiềm ẩn các nguy cơ rủi ro đe doạtới cuộc sống mặc cho chúng ta có cố gắng né tránh nó , nhưng nó vẫn luôntồn tại Trong quá trình sản xuất cũng vậy, tai nạn lao động và bệnh nghềnghiệp luôn song hành Mặc dù tới nay con người đã tìm mọi biện pháp cảithiện điều kiện lao động , nhưng chỉ có thể hạn chế được tai nạn lao động ,giảm thiểu những hậu quả do tai nạn lao động gây ra chứ không thể ngănchặn được tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp Hay nói cách khác , còn
Trang 5hoạt động sản xuất kinh doanh thì còn tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp.
Vì vậy tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp được coi là một hiện tượng phổbiến chứ không phải là một hiện tượng cá biệt của một quốc gia nào và do đóngăn chặn tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp có tính toàn cầu Để bảo vệngười lao động trước các rủi ro trong quá trình làm việc, các quốc gia đều cóchính sách và các biện pháp khác nhau, nhiều công ước của tổ chức lao độngquốc tế đã quy định các tiêu chuẩn , các biện pháp nhằm ngăn ngừa và hạnchế tình trạng trầm trọng của tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp cũng nhưcác biện pháp hỗ trợ giúp đỡ những người bị tai nạn lao động, bệnh nghềnghiệp , trong đó có các trợ cấp bảo hiểm xã hội Trong công ước 102 của tổchức lao động quốc tế có quy định mọi nước thành viên chịu hiệu lực củacông ước này phải áp dụng ít nhất là 3 trong số 9 nhánh chế độ và 3 trong số
đó phải có ít nhất 1 trong các chế độ là :
-Trợ cấp thất nghiệp
-Trợ cấp tuổi già (hưu trí )
-Trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp
-Trợ cấp tàn tật
-Trợ cấp tuất
Điều này cho thấy tầm quan trọng của chế độ trợ cấp TNLĐ -BNN trong hệthống các chế độ trợ cấp BHXH của mỗi quốc gia
Việt nam cũng như nhiều quốc gia khác đang trong giai đoạn phát triển kinh
tế và mặc dù các nước đã có cố gắng nhiều trong việc ngăn chặn và hạn chếtai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp song nó vẫn cứ sảy ra Chính vì vậymột chính sách bảo đảm sẽ là hợp lý nhất Chính sách này nhằm khắc phục
và giúp người lao động ổn định cuộc sống sau tai nạn và bệnh nghề nghiệp Tại việt nam chế độ tai nạn lao động được đảng và nhà nước ta cho phép thựchiện trong sắc lệnh 29/CL ngày 12/3/1947 nhưng còn nhiều hạn chế Từ đóđến nay chính phủ cho ban hành rất nhiều các sắc lệnh , nghị định , thông tư
đã khắc phục rất nhiều những điểm còn hạn chế trong sắc lệnh 29/CL
b-Khái niệm chế độ tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp
*Tai nạn lao động :
Trang 6Trong hoạt động sản xuất kinh doanh người lao động phải kề cận với nhiềurủi ro như : bị thương, bị ngã, bỏng, nhiễm độc…những rủi ro này có thể làmcho người lao động bị suy giảm khả năng lao động , bị tàn phế , có thể bịchết Đây chính là tai nạn mà người lao động thường hay gặp phải Nhữngtai nạn này có thể do lỗi của người lao động cũng có thể do lỗi của chủ sửdụng lao động hoặc do không may sảy ra trong quá trình người lao động làmviệc Tuy nhiên , để có được các chính sách đối với người lao động thì mỗiquốc gia lại có cách tiếp cận riêng kể cả khái niệm và nội dung Tại việt nam,theo các văn bản của chính phủ về chế độ tai nạn lao động và bệnh nghề
nghiệp thì tai nạn lao động được hiểu: là các tai nạn gây tổn thương bất kỳ
một bộ phận hay chức năng nào của cơ thể người lao động hoặc gây tử vong , sảy ra trong quá trình lao động , gắn với việc thực hiện công việc , nhiệm vụ lao động Trong thực tế hoạt động sản xuất kinh doanh vấn để tai
nạn lao động thường rất phức tạp vì nó liên quan tới vấn đề bồi thường nênkhái niệm này được mở rộng cho những loại tai nạn nào được coi là tai nạnlao động Những tai nạn được coi là tai nạn lao động bao gồm:
+ Tai nạn sảy ra khi người lao động đang thực hiện công việc do người
sử dụng lao động giao cho: tại nơi làm việc thường xuyên, sảy ra trênđường người lao động đi công tác hoặc sảy ra trong thời gian ngườilao động ở nơi công tác theo yêu cầu của chủ sử dụng lao động (trongthời gian làm việc ,chuẩn bị hoặc thu dọn sau thời gian làm việc)+ Tai nạn trên đường đi Đây là tai nạn sảy ra trên đường từ nơi cư trúđến nơi làm việc mà người lao động thường xuyên đi làm về ; tai nạnsảy ra từ nơi làm việc tới nơi người lao động thường ăn cơm theoca…
+ Tai nạn khi người lao động thực hiện các nhu cầu sinh hoạt cá nhântheo quy định của pháp luật hoặc theo quy định của doanh nghiệp
Trang 7Người lao động làm việc trong các ngành nghề : hoá chất , xi măng, luyệnkim, khai thác khoáng sản,sản xuất thuốc trừ sâu…thường xuyên phải tiếpvới hoá chất độc hại nên rất dễ mắc các bệnh: nhiễm độc chì ,hoá chất …Người lao động làm việc trong các ngành nghề thường xuyên tiếp xúc với bụi, tiếng ồn
Tuy nói người lao động làm việc trong môi trường độc hại dễ mắc các bệnhnghề nghiệp ,nhưng để thực hiện được chế độ chính sách thì phải quy địnhdanh mục bệnh nghề nghiệp .Tại việt nam, theo thông tư 08/TT-LB ngày19/5/1976 của liên bộ y tế –tổng công đoàn và lao động –thương binh và xãhội có 8 loại hình Qua mấy lần sửa đổi bổ sung tới năm 1997 đưa tổng sốdanh mục bệnh nghề nghiệp nên 21 bệnh và có thể phân thành 3 nhóm bệnhnghề nghiệp sau:
1 Do quang tuyến X và các chất phóng xạ
2 Điếc nghề nghiệp do tiếng ồn
3 loét da , rách ngăn mũi
4 rung chuyển
5 giảm áp
1 Bụi phổi do nhiễm bụi silic
2 Bụi phổi do nhiễm bụi Amiăng
3 Bụi phổi bông
Trang 81 chủ sử dụng lao động
2 cơ quan BHXHViệc thực hiện chế độ tai nạn lao động- bệnh nghề nghiệp này phần nào bảo
vệ được quyền lợi của người lao động song cũng còn rất nhiều những vấn đềđang trong quá trình hoàn thiện , nhất là trong giai đoạn nền kinh tế nước tađang có nhiều biến đổi
-Chế độ tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp
Chế độ tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp là một chế độ thuộc hệ thốngcác chế độ của bảo hiểm xã hội Tuỳ theo điều kiện kinh tế của mỗi nước màviệc thực hiện nó khác nhau Tại việt nam chế độ tai nạn lao động là một chế
độ bắt buộc theo quy định của nhà nước ,được hiểu là một chế độ bảo vệ chongười lao động khi không may gặp phải rủi ro là tai nạn lao động và bệnhnghề nghiệp do chủ sử dụng lao động có trách nhiệm đóng góp Hiện naychế độ này được thực hiện từ 2 hệ thống :
*Chủ sử dụng lao động có trách nhiệm đối với người lao động khi không maygặp phải rủi ro trên từ khi người lao động bị tai nạn lao động và bệnh nghềnghiệp tới khi người lao động được điều trị ổn định
*Cơ quan BHXH có trách nhiệm đối với người lao động khi người lao độngđược xác định là có tỷ lệ suy giảm khả năng lao động tại một mức nào
Trang 9đó Tuy nhiên nguồn kinh phí chi cho các khoản do cơ quan BHXH chi cũnglấy từ sự đóng góp của người sử dụng lao động
c- Nguyên tắc thiết kế chế độ tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp
Chế độ tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp được ra đời nhằm bảo vệ quyềnlợi của người lao động , giúp họ ổn định cuộc sống khi bị tai nạn lao động vàbệnh nghề nghiệp Đồng thời tạo điều kiện để người lao động nhanh chóngthích nghi với cuộc sống mới và tái hoà nhập với cộng đồng
Để đạt được mục tiêu đã đề ra khi thiết kế chế độ này phải tuân thủ một sốnguyên tắc sau:
- Khi người lao động gặp phải tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp thìtrách nhiệm chính khắc phục sự cố chủ yếu thuộc về người chủ sử dụng laođộng mà không xét nguyên nhân tai nạn là do lỗi của người chủ sử dụng laođộng hay của người lao động
Vì suy cho cùng người lao động không thể tự cố ý gây ra tai nạn lao động vàbệnh nghề nghiệp cho mình và rủi ro này người lao động chỉ gặp phải khingười lao động tiến hành một số công việc cho người sử dụng lao động Hơnnữa với quy định này thì người sử dụng lao động sẽ có trách nhiệm hơn vớivấn đề đảm bảo an toàn lao động cho người lao động
Nguyên tắc này giúp bảo vệ người lao động và tạo ra mối quan hệ tốt đẹp cótrách nhiệm của chủ sử dụng lao động với người lao động
- Mức trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp phải căn cứ vào mức độsuy giảm lao động chung hoặc tỷ lệ thương tật Tai nạn lao động và bệnhnghề nghiệp là các rủi ro sảy ra đối với người lao động khi đang làm việc sẽlàm cho người lao động bị suy giảm về sức khoẻ Do bị suy giảm về sứckhoẻ mà người lao động sẽ không còn khả năng lao động như trước được nữadẫn tới thu nhập của anh ta bị giảm, hơn nữa sau khi tai nạn lao động và bệnhnghề nghiệp anh ta còn gặp phải một số phiền phức phát sinh trong cuộc sốngnhư thường xuyên đau đầu đau lưng khi thay đổi thời tiết , không thể tự đi lại, không nhìn được .Các phiền toái phát sinh này phụ thuộc rất nhiều vàomức độ suy giảm khả năng lao động Do đó với mục tiêu là để ổn định cuộcsống cho người lao động thì phải trợ cấp căn cứ vào mức độ suy giảm sứckhoẻ hay tỷ lệ thương tật Mức độ suy giảm khả năng lao động phải đượcgiám định tại cơ quan y tế có thẩm quyền
Trang 10- Trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp từ cơ quan bảo hiểm y tế chỉbắt đầu khi người lao động đã được điều trị ổn định , để lại di chứng hoặcchết Còn giai đoạn trước người sử dụng lao động có trách nhiệm các khoảnchi phí cấp cứu ,sơ cứu …Nguyên tắc này xuất phát từ :Tai nạn lao động vàbệnh nghề nghiệp sảy ra trách nhiệm chính khắc phục thuộc về người sửdụng lao động nên người sử dụng lao động có trách nhiệm cho các khoảnđiều trị để người lao động phục hồi sau tai nạn Sau khi người lao động đãđược điều trị ổn định cơ quan y tế xác định mức độ suy giảm khả năng laođộng thì mới phát sinh trách nhiệm của bảo hiểm xã hội đối với tai nạn laođộng và bệnh nghề nghiệp.
- Người lao động khi tham gia vào quá trình lao động được hưởng lươngnên mức lương làm căn cứ để tính trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghềnghiệp Tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế của từng nước mà mức lương nàođược tính làm căn cứ Một số mức lương thường được tính làm căn cứ như:
1 Lương tối thiểu
- Bảo hiểm xã hội phải có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi cho ngườilao động nhanh chóng thích nghi với điều kiện sống mới và tái hoà nhập cuộcsống Đây là nguyên tắc rất quan trọng và không phải nước nào khi triểnkhai chế độ này đều có thể thực hiện được nó
- Người lao động dù mới tham gia lao động hay đã tham gia lao động mộtthời gian đều có nguy cơ gặp phải tai nạn lao động , và để đảm bảo côngbằng giữa những người tham gia lao động do đó mà chế độ tai nạn lao động
và bệnh nghề nghiệp không quy định thời gian người lao động tham gia bảohiểm xã hội Nguyên tắc này cũng xuất phát từ việc người sử dụng lao động
có trách nhiệm chính đối với các tai nạn lao động sảy tới người lao động
Trang 11Đây là những nguyên tắc cơ bản để triển khai chế độ tai nạn lao động vàbệnh nghề nghiệp Tuy nhiên từ nguyên tắc để triển khai ra chế độ lại tuỳthuộc vào điều kiện kinh tế và chính sách của từng nước
d- Nội dung chế độ trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp ở việt nam
Chế độ trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp ra đời nhằm bảo vệquyền lợi cho người lao động khi không may gặp phải tai nạn lao động vàbệnh nghề nghiệp giúp họ ổn định cuộc sống Xuất phát từ điều này mà bộlao động-thương binh và xã hội phối hợp với một số bộ ngành có liên quanliên tục ban hành các văn bản , nghị định ,thông tư hướng dẫn thi hành chế
độ trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp Nhờ đó mà quyền lợi củangười lao động dần được chú ý nhiều hơn
Hiện nay ở việt nam chế độ TNLĐ-BNN là chế độ bắt buộc trong hệ thốngchế độ BHXH
Sau đây là nội dung cơ bản của chế độ trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghềnghiệp đang được thực hiện ở việt nam
- Về đối tượng áp dụng chế độ bồi thường tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp: Hiện nay tại việt nam đối tượng áp dụng chế độ này được mở rộng ra
nhiều đối tượng hơn so với đối tượng được áp dụng tại nghị định NĐ 06/CPngày 20/1/1995 của chính phủ.Ngày 28/4/2003 Bộ lao động thương binh và
xã hội ban hành thông tư số 10/2003/TT-LĐTBXH hướng dẫn thực hiện nghịđịnh số 110/2002/NĐ-CP ngày 27/12/2002 của chính phủ thì đối tượng ápdụng bao gồm:
Người lao động làm việc theo chế độ hợp đồng lao động trong các doanhnghiệp thành lập , hoạt động theo luật doanh nghiệp nhà nước , doanh nghiệpthành lập theo luật doanh nghiệp , doanh nghiệp thành lập và hoạt động theoluật đầu tư nước ngoài , các tổ chức chính trị xã hội ,hộ sản xuất , hợp tác xã,
cơ quan sự nghiệp …Kể cả cơ quan ,tổ chức nước ngoài quốc tế tại việt namtrừ trường hợp điều ước quốc tế
Cán bộ , công chức ,viên chức theo pháp lệnh cán bộ công chức ; Người laođộng xã viên hưởng tiền công theo hợp đồng lao động trong các hợp tác xãthành lập , hoạt động theo luật hợp tác xã bao gồm cả người học nghề , tậpnghề để làm việc tại doanh nghiệp , cơ quan , tổ chức
Trang 12- Về chế độ bồi thường :Theo quy định của bộ luật lao động kể từ ngày
1/1/1995 chế độ bồi thường đối với người lao động khi họ bị tai nạn lao độnghoặc mắc bệnh nghề nghiệp được thực hiện từ 2 hệ thống :
- Từ người sử dụng lao động
- Từ cơ quan BHXH
*Từ người sử dụng lao động theo quy định của bộ luật lao động và các văn
bản dưới luật như:
thì người sử dụng lao động phải có trách nhiệm về các khoản mục sau:
+Chi phí y tế : Tiền khám , chữa trị thương tật từ khi sơ cứu đến khi điềutrị ổn đị
+ Trả tiền lương trong suốt thời gian chữa trị thương tật
+Chi giám định mức độ suy giảm khả năng sau khi thương tật đã ổn định +Chi bồi thường 1 lần cho người lao động
+Có trách nhiệm xắp xếp công việc phù hợp cho người lao động sau khi bịtai nạn kể cả chi phí đào tạo lại nếu chuyển sang ngành khác
Riêng khoản chi bồi thường 1 lần cho người lao động theo nghị định mớinhất NĐ 110/2002/NĐ-CP ngày 27/12/2002 nêu rõ:
Nếu người lao động bị tai nạn lao động ,bệnh nghề nghiệp mà suy giảm khảnăng lao động từ 5%-10% được người sử dụng lao động bồi thường ít nhấtbằng 1.5 tháng tiền lương và phụ cấp lương (nếu có) không do lỗi của ngườilao động
Nếu bị suy giảm khả năng lao động từ 10%-81% thì cứ tăng 1% được cộngthêm 0.4 tháng tiền lương và phụ cấp lương (nếu có) không do lỗi của ngườilao động
Nếu do lỗi của người lao động thì người sử dụng lao động sẽ trợ cấp mộtkhoản tiền ít nhất bằng 40% mức bồi thường đã quy định theo các tỷ lệ tươngứng nêu trên
Trang 13Người sử dụng lao động có trách nhiệm bồi thường ít nhất bằng 30 thánglương và phụ cấp (nếu có) cho người lao động bị suy giảm khả năng lao động
từ 81% trở lên hoặc cho thân nhân người chết do tai nạn lao động – bệnhnghề nghiệp mà không do lỗi của người lao động Còn nếu do lỗi của ngườilao động thì người sử dụng lao động cũng phải bồi thường ít nhất bằng 12tháng tiền lương và phụ cấp (nếu có )
*Từ hệ thống bảo hiểm xã hội có một số quy định sau:
Trách nhiệm của cơ quan BHXH sẽ phát sinh khi người lao động bị tai nạnlao động,bệnh nghề nghiệp đã được điều trị ổn định
Đối tượng được hưởng trợ cấp là những người có tham gia BHXH bị chếthoặc bị suy giảm khả năng lao động do tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp
Nếu bị suy giảm khả năng lao động từ 5%-30% được trợ cấp 1 lần cóbảng sau:
5%-10% 4 tháng tiền lương tối thiểu11%-20% 8 tháng tiền lương tối thiểu21%-30% 12 tháng tiền lương tối thiểu
Nếu bị suy giảm khả năng lao động từ 31% trở lên được hưởng trợ cấp hàngtháng kể từ ngày ra viện
31%-40% 0.4 tháng tiền lương tối thiểu41%-50% 0.6 tháng tiền lương tối thiểu51%-60% 0.8 tháng tiền lương tối thiểu61%-70% 1 tháng tiền lương tối thiểu
Trang 1471%-80% 1.2 tháng tiền lương tối thiểu81%-90% 1.4 tháng tiền lương tối thiểu
từ 91% trở lên 1.6 tháng tiền lương tối thiểu
Ngoài ra người bị tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp còn được hưởng một
số quyền lợi khác như:
Người hưởng trợ cấp hàng tháng nếu nghỉ việc mà không đủ điều kiện hưởnglương hưu sẽ được quỹ BHXH đài thọ về bảo hiểm y tế
Người lao động bị tai nạn lao động tổn thương tới các chức năng hoạt độngcủa chân , tay , tai , mắt , răng , cột sống thì được trang cấp phương tiện trợgiúp cho sinh hoạt phù hợp với các tổn thương chức năng theo niên hạn.Người bị tai nạn lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên mà
bị liệt cột sống , mù hai mắt , cụt hai chi , tâm thần nặng ngoài trợ cấp hàngtháng còn được phụ cấp phục vụ (chi phí cho người phục vụ) bằng 80% mứctiền lương tối thiểu
Người hưởng trợ cấp 1 lần hoặc hàng tháng khi vết thương tái phát được cơquan BHXH giới thiệu đi giám định lại mức độ suy giảm khả năng lao độngĐối với trường hợp bị chết do tai nạn lao động , bệnh nghề nghiệp thì ngoàikhoản mai táng phí 8 tháng tiền lương tối thiểu , thân nhân của người chếtđược hưởng trợ cấp 1 lần bằng 24 tháng tiền lương tối thiểu và trợ cấp chothân nhân mà khi còn sống họ phải trực tiếp nuôi dướng sẽ được hưởng trợcấp tiền tuất theo quy định của trợ cấp tuất
Trong trường hợp người sử dụng lao động chưa đóng BHXH cho người laođộng thì phải có trách nhiệm trợ cấp cho người lao động các khoản tươngđương do cơ quan BHXH trợ cấp cho người lao động
II-Thực trạng triển khai chế độ tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp ở việt nam
1-Thực trạng về Tai nạn lao động – Bệnh nghề nghiệp
-về tai nạn lao động :
Trang 15Theo thống kê của bộ lao động –thương binh và xã hội , tình hình tai nạn laođộng trong những năm gần đây có xu hướng tăng cả về số vụ , số người bị tainạn ,số người chết Không chỉ có sự gia tăng mà tai nạn lao động trongnhững năm qua đã sảy ra ở mọi ngành nghề , mọi loại hình doanh nghiệp ,trong tất cả các thành phần kinh tế Mỗi năm nước ta có hàng ngàn người bịtai nạn lao động và hàng trăm người chết Và các con số tăng lên liên tụcqua các năm Có thể nói xu hướng tăng nhanh nhất là từ năm 1995 tới nay.
Từ năm 1995 cho tới nay tai nạn lao động luôn gia tăng qua các năm Từ
1995 đến năm 2000 số vụ tai nạn lao động sảy ra trong quá trình lao động sảnxuất dao động từ 2500 đến 3000 vụ lớn nhỏ Nhưng mới chỉ có 3 năm từ
2000 tới 2002 số vụ tai nạn lao động đã dao động trong khoảng lớn từ 3405
vụ năm 2000 tới 4298 vụ trong năm 2002 Đây thực sự là những con số đángbáo động
Để thấy rõ hơn tình hình tai nạn lao động tại việt nam những năm gần đây taxem bảng số liệu sau:
Tình hình tai nạn lao động giai đoạn 1995-1999
Tổng số (Người )
Số người chết (Người )
(Nguồn : Số liệu thống kê về tai nạn lao động MOLISA)
Tuy nhiên của bộ lao động –thương binh và xã hội có một chút sự sai khác vềtình hình tai nạn lao động so với số liệu trên như : năm 1998 số vụ tai nạn là
2727, số vụ gây chết người là 312 năm 1999 số vụ gây chết người là 335, sốngười chết là 399
Theo b lao ộ lao động thương binh và xã hội tình hình tai nạn lao động từ độ lao động thương binh và xã hội tình hình tai nạn lao động từng thương binh và xã hội tình hình tai nạn lao động từng binh v xã h i tình hình tai n n lao à xã hội tình hình tai nạn lao động từ ộ lao động thương binh và xã hội tình hình tai nạn lao động từ ạn lao động từ độ lao động thương binh và xã hội tình hình tai nạn lao động từng từ
n m 2000-2002 ăm 2000-2002 được thể hiện qua bảng sau: được thể hiện qua bảng sau:c th hi n qua b ng sau:ể hiện qua bảng sau: ện qua bảng sau: ảng sau:
năm
người
Số người bị TN
Số người chết
Trang 16Còn về số người chết nhìn chung tăng qua các năm riêng tới năm 2001 sốngười chết là 395 giảm 8 người so với năm 2000 Nhưng tới năm 2002 con sốngười chết lại tăng đột biến 514 người
Tuy nhiên đây mới chỉ là con số thống kê được , con số thực tế có thể cònlớn hơn và còn chưa tính tới số người lao động bị tai nạn giao thông trongthời gian đi và về từ nơi làm việc về nhà Chỉ tính riêng trong tổng số ngườitham gia BHXH số người bị tai nạn trên đường năm 2000 là 466 người có 98người chết , 190 người bị thương nặng ,tàn phế suốt đời
Một nét nổi lên đó là tai nạn lao động mặc dù sảy ra ở hầu hết các ngànhnghề song mật độ sảy ra là khác nhau Điều này có thể lý giải bởi điều kiệnlàm việc ở các ngành nghề là khác nhau Một số ngành có số vụ tai nạn laođộng , số người chết do tai nạn lao động lớn hơn so với các ngành khác như:ngành xây dựng , ngành điện , khai thác khoáng sản , lĩnh vực có các thiết bịyêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động …Sau đây là bảng thống kê về tìnhhình tai nạn lao động sảy ra ở một số ngành sảy ra nhiều tai nạn:
Trang 17Để thấy rõ hơn mức độ sảy ra tai nạn lao động ở các ngành nghề này ta phântích số liệu trên theo một số tiêu thức như : tỷ lệ số vụ tai nạn lao động , sốngười chết của các ngành trên so với cả nước qua hai năm:
2001 2002
Tỷ lệ về số vụ tai nạn lao động : 15.24% 12.17%
Tỷ lệ về số người chết : 45.57% 42.02%
Tỷ lệ người bị thương nặng : 17.3% 19.07% Với bốn ngành nhưng số người chết từ các ngành này về tai nạn lao động đãchiếm một nửa trong tổng số người chết vì tai nạn lao động Các nguyênnhân thì có nhiều song có thể nói các ngành này người lao động thườngxuyên tiếp xúc với các mối nguy hiểm như: ngã ,điện giật , sập hầm…Điềunày chứng tỏ mức độ đặc biệt nguy hiểm của các ngành này Hơn nữa số vụtai nạn lao động , số người bị thương nặng cũng chiếm tỷ lệ đáng kể Do đóvới các ngành này cần phải đặc biệt chú ý an toàn lao động cho người laođộng
Tai nạn lao động cũng không sảy ra đồng đều giữa các khu vực trong phạm vi
cả nước Do các nhà máy ,xí nghiệp , tổ sản xuất …thường tập chung tại cácthành phố lớn Theo số liệu điều tra của bộ lao động thương bình và xã hộithì tai nạn nước ta tập chung chủ yêú tại 6 tỉnh thành phố lớn như: Hà nội ,Hải phòng ,Quảng ninh,thành phố HCM, Đồng nai , thái nguyên Với số liệuđiều tra thì năm 2000 số người tai nạn lao động tại các khu vực này chiếm65.6% trong tổng số người lao động bị tai nạn lao động trong cả nước Số vụtai nạn gây chết người chiếm 34%, số người chết chiếm 36.5% so với cả nước.Sang năm 2001 số liệu thống kê 6 tỉnh thành phố có nhiều tai nạn là: thànhphố HCM; Hà nội ; Quảng ninh; Bà rịa –vũng tàu ; khánh hoà ; đồng nai Có
số liệu thống kê như sau:
Trang 18mà phần lớn lại là lao động chưa được đào tạo sâu về kỹ thuật và an toàn laođộng
Do tình hình tai nạn lao động tăng liên tục qua các năm mà số tiền chi trả chochế độ tai nạn lao động cũng gia tăng qua các năm Sau đây là thống kêkhông đầy đủ của vụ BHXH về tình hình chi bồi thường được thực hiện từ cơquan BHXH Q4 từ năm 1995-1999
năm Số người hưởng (người ) Số tiền trợ cấp (triệu đồng)
Theo th ng kê c a b lao ống kê của bộ lao động thương binh và xã hội thì từ năm 2000- ủa bộ lao động thương binh và xã hội thì từ năm 2000- ộ lao động thương binh và xã hội tình hình tai nạn lao động từ độ lao động thương binh và xã hội tình hình tai nạn lao động từng thương binh và xã hội tình hình tai nạn lao động từng binh v xã h i thì t n m 2000-à xã hội tình hình tai nạn lao động từ ộ lao động thương binh và xã hội tình hình tai nạn lao động từ ừ ăm 2000-2002 được thể hiện qua bảng sau:
2002 các chi phí thi t h i do tai n n lao ện qua bảng sau: ạn lao động từ ạn lao động từ độ lao động thương binh và xã hội tình hình tai nạn lao động từng l :à xã hội tình hình tai nạn lao động từ
Có thể nói đây mới chỉ là những số liệu thống kê không đầy đủ song có thể
dễ nhận thấy thiệt hại to lớn do tai nạn lao động cho xã hội và cho ngànhBHXH nói riêng
Bệnh nghề nghiệp