Mô hình nội trú dân nuôi trong giáo dục phổ thông ở huyện yên minh, tỉnh hà giang ( Luận văn thạc sĩ)Mô hình nội trú dân nuôi trong giáo dục phổ thông ở huyện yên minh, tỉnh hà giang ( Luận văn thạc sĩ)Mô hình nội trú dân nuôi trong giáo dục phổ thông ở huyện yên minh, tỉnh hà giang ( Luận văn thạc sĩ)Mô hình nội trú dân nuôi trong giáo dục phổ thông ở huyện yên minh, tỉnh hà giang ( Luận văn thạc sĩ)
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THANH TÙNG
MÔ HÌNH NỘI TRÚ DÂN NUÔI TRONG GIÁO DỤC PHỔ THÔNG
Ở HUYỆN YÊN MINH, TỈNH HÀ GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ DÂN TỘC HỌC
HÀ NỘI - 2018
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ DÂN TỘC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS NGUYỄN NGỌC THANH
HÀ NỘI - 2018
Trang 3i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn này là do tôi viết và chƣa công bố Các tƣ liệu trong Luận văn là trung thực và khách quan Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan của mình
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Học viên cao học
Nguyễn Thanh Tùng
Trang 4Tôi xin gửi lời cảm ơn tới tập thể cán bộ, giảng viên khoa Dân tộc học
và Nhân học của Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam đã giúp đỡ tôi về chuyên môn trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu khoa học
Tôi xin gửi tới các cán bộ công tác ở Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Yên Minh, cán bộ chính quyền, tập thể giáo viên, lãnh đạo trường phổ thông
cơ sở tại các xã Sủng Thài, Sủng Cháng, Lao Và Chải, Na Khê, Phú Lũng, Đường Thượng , cùng cộng đồng người dân tộc thiểu số nơi tôi đến nghiên cứu điền dã đã tạo điều kiện giúp đỡ và cung cấp thông tin, tư liệu
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và biết ơn sâu sắc đến thầy giáo Mua Thiên Sính, Nguyên Hiệu trưởng trường nội trú dân nuôi Sủng Thài, một trong bốn cá nhân có công khởi xướng mô hình nội trú dân nuôi ở Yên Minh nói riêng và tỉnh Hà Giang nói chung hơn 30 năm về trước Sự gặp
gỡ, tiếp xúc với “nhân chứng sống” này là một trong những điều kiện tiên quyết giúp Luận văn được hoàn thành với chất lượng tốt nhất
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Học viên cao học
Nguyễn Thanh Tùng
Trang 5iii
MỤC LỤC
Trang LỜI CAM ĐOAN
1.3 Quá trình hình thành và phát triển của mô hình NTDN ở Yên Minh 24
CHƯƠNG 2: Thực trạng và hiệu quả hoạt động của mô hình nội trú dân nuôi 30
2.1 Thực trạng hoạt động của mô hình NTDN ở Yên Minh 30 2.1.1 Quy chế tổ chức và hoạt động của nhà trường 30 2.1.2 Xây dựng, củng cố cơ sở vật chất cho nhà trường 32 2.1.3 Công tác đảm bảo đời sống sinh hoạt cho học sinh 34 2.1.4 Chế độ học tập, sinh hoạt của học sinh 37 2.1.5 Chế độ chi trả, bồi dưỡng cho giáo viên và người cấp dưỡng 39
2.2.5 Củng cố quan hệ dân tộc và góp phần thực hiện chính sách dân tộc 49 2.3 Yếu tố cơ bản tác động tới hoạt động và hiệu quả của mô hình 51 2.3.1 Đời sống kinh tế của cộng đồng địa phương 51
Trang 6iv
2.3.2 Văn hóa địa phương và tâm lý tộc người 55 2.3.3 Vai trò của nhà trường và hệ thống chính trị cơ sở 59 2.3.4 Trợ cấp giáo dục từ Nhà nước và các đối tượng ngoài Nhà nước 62
CHƯƠNG 3: Bài học kinh nghiệm từ mô hình nội trú dân nuôi và
một số vấn đề đặt ra hiện nay cho trường học cấp xã có nội trú 65
3.1 Một số vấn đề đặt ra hiện nay cho trường học cấp xã có nội trú 65 3.1.1 Đầu tư cơ sở hạ tầng phục vụ học sinh nội trú không đồng đều 65 3.1.2 Người dân địa phương chưa nhận thức tốt về XHHGD 66 3.1.3 Sĩ số học sinh chưa được duy trì ổn định 67 3.1.4 Môi trường rèn luyện kỹ năng ngôn ngữ cho học sinh còn hạn chế 69 3.1.5 Quá trình giảng dạy trên lớp gặp khó khăn bởi sự đa dạng về
3.2 Bài học kinh nghiệm và giải pháp cơ bản cho địa phương về phát triển,
3.2.1 Thực hiện phân cấp trong tuyển sinh căn cứ vào mạng lưới
3.2.2 Thực hiện công bằng trong công tác tuyển sinh 72 3.2.3 Xây dựng chế độ nội trú một cách hệ thống và chặt chẽ 73 3.2.4 Tận dụng nguồn nhân lực địa phương trong bộ máy quản lý nội trú 73 3.2.5 Giáo viên cần chú ý đến hoàn cảnh của từng học sinh 74 3.2.6 Giáo dục nếp sống tiến bộ phải nằm trong chương trình giảng dạy 74 3.2.7 Lồng ghép văn hóa truyền thống tộc người vào chương trình nội trú 75 3.2.8 Lãnh đạo nhà trường và chính quyền địa phương phải là người dẫn đầu
Trang 7Hội đồng nhân dân
Mô hình trường có nội trú dân nuôi Nội trú dân nuôi
Nhà xuất bản Phổ cập giáo dục Phổ thông cơ sở Phổ thông dân tộc bán trú Phổ thông dân tộc nội trú Phổ thông trung học Phỏng vấn sâu Tiểu học Trung học cơ sở Trung học phổ thông Trang
Trường có nội trú dân nuôi UBND
Xã hội hóa giáo dục
Trang 91
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thực tiễn lịch sử cho thấy, nguồn lực con người vừa là chìa khóa, vừa là động lực quan trọng cho sự phát triển kinh tế, xã hội ở bất kỳ địa phương hoặc quốc gia nào Nhận thức sâu sắc những giá trị lớn lao của nguồn lực con người, đặc biệt trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập kinh tế quốc tế, Đảng và Chính phủ đã dành sự quan tâm, đầu tư không nhỏ cho sự nghiệp GD&ĐT, coi đây
là điều kiện tiên quyết góp phần phát triển kinh tế, ổn định chính trị xã hội và đặc biệt là nâng cao nhận thức, chỉ số phát triển của con người Việt Nam Trên nền tảng chung ấy, sự nghiệp giáo dục đối với vùng miền núi, vùng DTTS cũng ngày càng được đẩy mạnh, nhằm nhanh chóng đưa đồng bào nơi đây thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, từng bước rút ngắn khoảng cách phát triển giữa các vùng miền, tiến tới công bằng và hạn chế sự phân hóa trong giáo dục Hàng loạt chủ trương, chính sách GD&ĐT nhằm xây dựng đội ngũ lao động, tri thức là người DTTS miền núi đã được thi hành, qua đó đóng góp trực tiếp vào việc nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các DTTS, góp phần quan trọng cho xây dựng và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc
Song song với những thành tựu to lớn, việc phát triển giáo dục ở các vùng DTTS và miền núi ở nước ta còn tồn tại nhiều vấn đề hết sức nan giải, mà một trong
số đó là ảnh hưởng của đặc điểm địa lý - dân cư đối với nhiệm vụ PCGD cho trẻ em trong độ tuổi đến trường Địa hình hiểm trở, phức tạp ở miền núi làm cho dân cư phân bố không tập trung, đặc biệt là ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa Dân cư sống rải rác ở khe suối, lưng đèo và đỉnh núi đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc mở trường,
mở lớp Đại đa số học sinh phải đi học xa nhà đến 5 - 10km đường rừng núi hoặc hơn Nhiều em đến lớp phải vượt đèo, lội suối rất gian nan, chưa kể nguy hiểm trong mùa mưa lũ Cùng với rào cản về kinh tế gia đình và sự hạn chế của cơ sở hạ tầng giao thông, đây là khó khăn lớn cho việc vận động con em đồng bào các DTTS
đi học, mà hệ quả tất yếu là tỷ lệ học sinh bỏ học ở các cấp vẫn còn phổ biến, tỷ lệ học sinh DTTS được tiếp xúc với giáo dục bậc cao còn rất thấp
Trang 102
Để vượt qua những khó khăn kể trên, đồng bào các DTTS cùng cán bộ, giáo viên ở nhiều vùng sâu, vùng xa đã sáng tạo ra nhiều cách làm hay, những kinh nghiệm quý báu Một trong những sáng tạo đó là việc xây dựng trường nội trú cấp
xã bằng mô hình NTDN Thành công điển hình của trường phổ thông cấp II Đạo Viện (Yên Sơn, Tuyên Quang) những năm 1964 - 1969, trường Sủng Thài (Yên Minh, Hà Giang) những năm 1990 - 1995 đã giúp mô hình lan rộng ra nhiều địa phương trên cả nước, bước đầu mang lại hiệu quả giáo dục, phục vụ cho nhiệm vụ chính trị là đào tạo nguồn nhân lực người DTTS Mô hình còn là sự phù hợp với chủ trương XHHGD của Đảng và Chính phủ trong thời kỳ đổi mới Nhìn nhận về những đóng góp to lớn đó, trong Hội nghị tổng kết giáo dục tổ chức vào năm 2009 tại Điện Biên Phủ, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Nguyễn Thiện Nhân đã khẳng định đây
là “nhân tố quan trọng nhằm đảm bảo an sinh xã hội, đảm bảo tương lai tốt đẹp
hơn cho con em người dân tộc” và “cần phải được toàn ngành Giáo dục và chính quyền các cấp quan tâm, phát triển”
Tuy vậy, có một thực tế được phản ánh qua các phương tiện thông tin đại chúng, đó là mô hình NTDN dù đã xuất hiện và phát triển ở nhiều huyện, tỉnh trên
cả nước, nhưng do tính chất tự phát của nó, trong công tác chỉ đạo triển khai thì mỗi địa phương lại mang một sắc thái riêng, tổ chức hoạt động không đồng nhất, mang tính chủ quan của cán bộ quản lý Hiệu quả giáo dục của mô hình không đồng đều, nơi cao, nơi thấp; nơi nào mạnh thì chất lượng khá, nơi nào ít được quan tâm thì dần
sa sút, thậm chí không thể duy trì được Nhiều địa phương do không xem xét về tính đặc thù và khả năng của mình nên đã thất bại trong việc huy động nguồn lực xã hội hóa phục vụ cho mô hình
Có thể nói, việc nghiên cứu cụ thể, toàn diện về thực trạng, thành tựu và hạn chế trong hoạt động của mô hình NTDN tại “cái nôi” Yên Minh có ý nghĩa đặc biệt quan trọng cho việc đúc rút bài học kinh nghiệm góp phần giải quyết phần nào những khó khăn, vướng mắc của ở các địa phương khác trên cả nước về vấn đề NTDN nói riêng và trường nội trú cấp xã nói chung Trước bối cảnh mà toàn xã hội đang dành sự quan tâm lớn tới việc đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT, tôi quyết
Trang 112 Tổng quan tình hình nghiên cứu
2.1 Nghiên cứu về giáo dục phổ thông vùng DTTS và miền núi
Cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề giáo dục phổ thông ở vùng DTTS, trong đó luận bàn ở nhiều bình diện và góc độ khác nhau Hầu hết các công trình thiên về hướng khái quát các lý luận liên quan đến vai trò của giáo dục dân tộc, ít phân tích có tính phê phán thực trạng và chính sách giáo dục của Nhà nước Tuy nhiên, ở một chừng mực nào đó, các tài liệu này có giá trị tham khảo giúp có được cái nhìn sâu hơn vào thực tế
Đề cập về tình hình giáo dục và thực hiện chính sách giáo dục ở vùng DTTS
từ sau năm 1945 đến nay, những công trình, bài viết như: “Vài nét về sự phát triển
văn hóa giáo dục ở các tỉnh miền núi phía Bắc” của La Công Ý [130], “Một số vấn
đề lý luận và thực tiễn chính sách dân tộc ở nước ta hiện nay” của Bế Viết Đẳng và
cộng sự [25], “Những biến đổi về kinh tế - văn hóa ở các tỉnh miền núi phía Bắc” của Viện Dân tộc học [125], “Những đặc điểm kinh tế xã hội các dân tộc miền núi
phía Bắc” do Khổng Diễn chủ biên [20], “Khảo sát việc thực hiện chính sách giáo dục, y tế đối với trẻ em và phụ nữ dân tộc thiểu số ở các xã đặc biệt khó khăn thuộc Chương trình 135” của Nguyễn Ngọc Thanh và cộng sự [93], “Một số vấn đề về chính sách giáo dục ở vùng cao miền núi phía Bắc Việt Nam” do Nguyễn Ngọc
Thanh chủ biên [96]… đã chỉ rõ khoảng cách chênh lệch giữa các tộc người, nhóm
xã hội, giới, độ tuổi trong việc hưởng dụng chính sách giáo dục Những tiến bộ chung được thừa nhận song hành với các biểu hiện sa sút về chất lượng giáo dục, tỷ
lệ huy động trẻ đến trường, sự xuống cấp của cơ sở vật chất trường học và bất bình đẳng trong việc tiếp cận nền giáo dục quốc dân, bao gồm cả vấn đề dạy, học tiếng Việt và ngôn ngữ DTTS Các kết luận được đưa ra cũng cơ bản phù hợp với số liệu
từ những cuộc tổng điều tra quy mô lớn cho thấy nền giáo dục dân tộc vẫn còn gặp
Trang 124
rất nhiều thách thức ngay cả trong nhiệm vụ cơ bản nhất là nâng cao tỷ lệ trẻ em đến trường [7] [58] [59] [64] [127]
Trong những năm gần đây, một số nghiên cứu trường hợp của các nhà Nhân
học như: “Họ nói đồng bào không biết quý sự học: Những mâu thuẫn trong giáo
dục ở vùng đa dân tộc Tây Nguyên Việt Nam” của Trương Huyền Chi [12], “Học không được hay học để l m gì Trải nghiệm học tập của học sinh dân tộc thiểu số”
của Nguyễn Thu Hương và Nguyễn Trường Giang 47], “The Educational Realities
of Hmong Communities in Vietnam: The Voices of Teachers” Thực tế giáo dục của
các cộng đồng người Hmông ở Việt Nam: Tiếng nói của giáo viên] của Constance
Lavoie [146], “Minority status and schooling of the Hmong in Vietnam” Địa vị
thiểu số và sự giáo dục tại trường của người Hmông ở Việt Nam] của Lương Minh
Phượng và Wolfgang Nieke [150], “Factors associated with low educational
motivation among ethnic minority students in Vietnam” Các yếu tố gắn với động
lực học tập thấp đối với học sinh dân tộc thiểu số ở Việt Nam] của Trần Ngọc Tiến
[168], “Eliminating Inter-Ethnic Inequalities? Assessing Impacts of Education
Policies on Ethnic Minority Children in Vietnam” Loại bỏ bất bình đẳng giữa các
dân tộc? Đánh giá tác động của chính sách giáo dục đối với trẻ em dân tộc thiểu số
ở Việt Nam] của Trương Huyền Chi [170]… đã tìm hiểu sâu về các khía cạnh đa dạng liên quan đến giáo dục ở một số cộng đồng DTTS như Thái, Hmông, Dao, Pà Thẻn, Mnông Dựa trên những phân tích định tính cụ thể trên bình diện nhận thức, hành động và trải nghiệm của người trong cuộc (bao gồm trẻ em không được đi học, học sinh, phụ huynh, giáo viên, cán bộ địa phương…), các nhà nghiên cứu đã làm
rõ sự mâu thuẫn của tình trạng thiếu và yếu trong giáo dục địa phương trong khi các nguồn lực chính sách của nhà nước cho sự phát triển giáo dục ngày càng tăng Rào cản đối với tiếp cận với giáo dục của học sinh DTTS không chỉ giới hạn trong bộ khung phân tích của “tam giác đói nghèo”, mà thực tế chú trọng hơn vào các vấn đề
có tính thời sự như định kiến, va chạm trong quan hệ tộc người, hoặc nhấn mạnh vào ảnh hưởng của những thực hành văn hóa truyền thống dựa theo cách tiếp cận phổ biến của Nhân học giáo dục
Trang 135
2.2 Nghiên cứu về trường NTDN ở vùng DTTS và miền núi
Từ những năm 2000 trở đi, mô hình NTDN ở vùng DTTS và miền núi mới thu hút được nhiều sự chú ý của các nhà nghiên cứu trong nước, trước hết là các ngành Khoa học giáo dục, Quản lý giáo dục Các bài viết, bài báo khoa học của của Trương Xuân Cừ [19], Đoàn Văn Ninh 65], Trần Thanh Phúc [74], Lê Nguyên Quang [77] [78], Lê Nguyên Quang và Tôn Thị Tâm [79], Ngô Quang Sơn 86], Tôn Thị Tâm [91], Trần Thị Thành [97] chủ yếu tập trung vào những vấn đề định danh, vị trí, vai trò, hạn chế, phương pháp quản lý, phát triển và mở rộng mạng lưới trường, lớp Các tác giả đã phân tích sơ bộ đặc thù của vùng DTTS với các điều kiện địa lý, kinh tế, xã hội ảnh hưởng đến hoạt động của trường NTDN
Bên cạnh những bài viết có ý nghĩa giới thiệu, phân tích lý luận, một số công trình mang tính chất điều tra, khảo sát về trường NTDN đã được thực hiện trong cùng thời điểm, với địa bàn nghiên cứu giới hạn ở các tỉnh miền núi phía Bắc Tư liệu thực địa của nhóm tác giả Ngô Văn Doanh được trình bày trong công trình
“Nghiên cứu xây dựng mô hình trường nội trú dân nuôi ở vùng cao” 22] đã cung
cấp một số thông tin về lịch sử hình thành và phát triển của trường NTDN ở 4 tỉnh
Lào Cai, Hà Giang, Sơn La và Yên Bái Công trình “Nghiên cứu các loại hình
trường, lớp vùng dân tộc từ năm 1991 đến nay” do Vi Văn Điểu làm chủ nhiệm cho
thấy sự phát triển nhanh chóng về quy mô của trường, lớp NTDN trên cả nước trong
những năm đầu của thế kỷ XX [27] Trong cuốn “Một số vấn đề về chính sách giáo
dục ở vùng cao miền núi phía Bắc Việt Nam” do Nguyễn Ngọc Thanh chủ biên
[96], các tác giả cũng đề cập nhiều thông tin về hiện trạng cơ sở vật chất, sự khác biệt trong phương thức huy động XHHGD liên quan đến trường NTDN ở các địa phương vùng cao ĐBKK
Các luận văn chuyên ngành Quản lý giáo dục của Hoàng Văn Khánh 49], Lê
Mã Lương 56], Hoàng Đức Quế [82], Ngô Tiến Sỹ [90] và đặc biệt là công trình
“Mô hình quản lý trường phổ thông dân tộc bán trú ở các xã đặc biệt khó khăn của
tỉnh Hà Giang” của Phạm Huy Trà [113] đã trình bày cụ thể hơn về thực trạng công
tác quản lý các trường NTDN Dựa trên phương pháp tiếp cận Sư phạm học, tác giả
Trang 146
của những luận văn đã đánh giá sâu sắc về những mặt yếu - mạnh, những thuận lợi
và khó khăn trong công tác tổ chức hoạt động trong và ngoài giờ học, từ đó đề xuất một số giải pháp cơ bản để khắc phục những vướng mắc đã được nhìn nhận Trong
khi đó, bài viết “Trường phổ thông dân tộc bán trú - sự nỗ lực sáng tạo cộng đồng
để phát triển giáo dục bền vững vùng dân tộc và miền núi” của Nguyễn Hồng Thái
[98] lại đưa ra nhiều nhận xét đáng chú ý về các vấn đề thực tiễn mang tính chính trị, xã hội của trường NTDN ở một phạm vi rộng bằng tư liệu phỏng vấn sâu và điều tra xã hội học ở Đắk Lắk, Hà Giang và Tuyên Quang
Nhìn chung, các tác giả đều khẳng định trường NTDN là một hiện tượng XHHGD điển hình, một mô hình phát triển giáo dục bền vững phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội ở khu vực miền núi nhờ khả năng huy động được một số lượng lớn học sinh trong độ tuổi đến trường và từng bước cải thiện chất lược giáo dục, được đa số nhân dân đồng tình ủng hộ Họ cũng chỉ ra những bất cập phổ biến của
nó như: chất lượng nội trú thấp kém, chưa có cơ chế chính sách thống nhất, chưa có
mô hình quản lý phù hợp, chưa huy động tối đa sức mạnh của cộng đồng trong công tác xây dựng cơ sơ vật chất và quản lý nhà trường Đề xuất và khảo nghiệm một số giải pháp hoàn thiện mô hình quản lý, các tác giả nhấn mạnh vào yêu cầu đảm bảo tính chuyên biệt và đặc thù địa phương, đồng thời phải có sự liên hệ đa chiều, đảm bảo sự tham gia của nhiều thành phần theo cơ chế dân chủ
Tuy có nhiều cố gắng, hạn chế chung của hệ thống tài liệu đã có là chưa quan tâm đưa những yếu tố văn hóa, xã hội đặc thù của địa phương và vai trò của thể chế chính trị vào khung phân tích, đánh giá, cho nên những tồn tại được đưa ra khó có giá trị suy rộng và các giải pháp còn thiếu tính thuyết phục Mặt khác, các nghiên cứu thường thiên về việc đề xuất giải pháp tập trung vào yếu tố Nhà nước trong khi chưa chú ý đến vấn đề XHHGD dân tộc, phát huy sức mạnh cộng đồng và các tổ chức phi chính phủ trong lĩnh vực này Cuối cùng, về mặt phương pháp, các nghiên cứu nói chung thường dựa vào thu thập tài liệu từ các nguồn thứ cấp, tiếng nói của người dân thường chưa được phân tích một cách khoa học và thấu đáo
Trang 157
Như vậy, có một khoảng trống lớn trong nghiên cứu về vấn đề trường NTDN Việc tìm hiểu, phân tích những yếu tố làm nên sự thành công (hoặc chưa được thành công) của nó cũng chưa được quan tâm đúng mức Đây chính là hạn chế lớn về mặt khoa học cho việc định hướng nhân rộng, hoàn thiện loại hình trường nội trú cấp xã tại các địa bàn miền núi vùng sâu, vùng xa trên cả nước
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
- Từ các nguồn tư liệu thành văn và điền dã Dân tộc học, Luận văn bước đầu đánh giá một số mặt hoạt động của mô hình NTDN ở huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang
- Luận văn đóng góp thêm cơ sở khoa học, góp phần nâng cao chất lượng của mô hình NTDN nói riêng và công tác XHHGD nói chung ở tỉnh Hà Giang
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Khái quát, làm rõ bối cảnh ra đời và phát triển của mô hình NTDN trong giáo dục phổ thông ở huyện Yên Minh
- Khảo sát thực trạng và đánh giá hiệu quả, yếu tố tác động đối với hoạt động của mô hình NTDN ở một số trường phổ thông trên địa bàn huyện
- Đề xuất một số giải pháp và bài học kinh nghiệm có giá trị ứng dụng ở các địa bàn miền núi vùng sâu, vùng xa khác
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là mô hình NTDN trong giáo dục phổ thông ở huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: giới hạn không gian nghiên cứu trong địa bàn huyện Yên
Minh, tỉnh Hà Giang, trong đó tập trung vào 6 xã điển hình từng áp dụng mô hình NTDN là: Sủng Thài, Sủng Cháng, Lao Và Chải, Na Khê, Phú Lũng, Đường Thượng
Trang 16Luận văn đầy đủ ở file:Luận văn Full