Thực tế cho thấy giáo viên mầm non có kỹ năng giao tiếp tốt sẽ thiết lập được mối quan hệ hợp lý với từng trẻ, với từng nhóm trẻ, với đồng nghiệp, phụ huynh và với cộng đồng… Mối quan hệ
Trang 1Lời Cảm Ơn Hoàn thành khóa luận này, tôi đã nhận được nhiều sự quan tâm giúp đỡ của thầy, cô giáo và bạn bè, qua đây tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến các thầy, cô giáo Khoa Sư phạm Tiểu học – Mầm non, những người đã trực tiếp giảng dạy, giúp đỡ
và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các giáo viên và các cháu Trường mầm non Đồng Phú đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận này
Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè và những người thân đã quan tâm, động viên, khích lệ tôi trong suốt thời gian thực hiện khóa luận
Đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến giảng viên hướng dẫn Thạc sĩ Nguyễn Thị Diễm Hằng – người đã dành cho tôi sự chỉ bảo tận tình, góp phần giúp tôi hoàn thành khóa luận này
Bước đầu làm công tác nghiên cứu khoa học nên không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định, vì vậy tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp của quý thầy cô giáo và quý bạn đọc để khóa luận của tôi được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Đồng Hới, tháng 05 năm 2018
Tác giả
Đinh Thị Hoa Lài
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu này là của riêng tôi, các số liệu và kết quả trong khóa luận này là trung thực và chƣa đƣợc công bố trong bất kỳ một công trình nào khác
Đồng Hới, tháng 05 năm 2018
Tác giả
Đinh Thị Hoa Lài
Trang 3MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN I LỜI CAM ĐOAN II DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT VIII DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU IX
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 2
3 KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 3
4 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC 3
5 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 3
6 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3
7.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4
8 ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI 5
9 CẤU TRÚC CỦA KHÓA LUẬN 5
PHẦN 2 NỘI DUNG 6
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ GIAO TIẾP VÀ KỸ NĂNG GIAO TIẾP SƯ PHẠM 6
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 6
1.1.1 Ở nước ngoài 6
1.1.2 Ở trong nước 6
1.2 Vấn đề chung về giao tiếp 7
1.2.1 Một số quan niệm chung về giao tiếp 7
1.2.2 Phân biệt giao tiếp với các khái niệm khác có liên quan 8
1.2.3 Chức năng của giao tiếp 9
1.2.4 Phương tiện trong giao tiếp 11
1.2.4.1 Phương tiện ngôn ngữ 11
1.2.4.2 Phương tiện phi ngôn ngữ 13
1.3 Kỹ năng giao tiếp 23
Trang 41.3.1 Một số khái niệm 23
1.3.2 Phân loại kỹ năng giao tiếp 23
1.3.3 Trò chơi đóng vai theo chủ đề 27
1.3.3.1 Khái niệm trò chơi đóng vai theo chủ đề 27
1.3.3.2 Cấu trúc trò chơi đóng vai theo chủ đề 28
1.3.3.3 Đặc điểm của trò chơi ĐVTCĐ 32
1.3.3.4 Ý nghĩa của TCĐVTCĐ đối với sự phát triển của trẻ 34
1.3.4 Yếu tố tác động đến sự hình thành và phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ 38
1.3.5 Đặc điểm tâm lý trẻ 5 – 6 tuổi 40
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 44
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KỸ NĂNG GIAO TIẾP CỦA GIÁO VIÊN VỚI TRẺ MẪU GIÁO 5 – 6 TUỔI THÔNG QUA TRÕ CHƠI ĐÓNG VAI THEO CHỦ ĐỀ Ở TRƯỜNG MẦM NON ĐỒNG PHÚ 45
2.2 Tổ chức và phương pháp nghiên cứu thực trạng 45
2.2.1 Cách thức tiến hành 45
2.2.2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể 46
2.2.2.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết 46
2.2.2.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn 46
2.2.2.3 Phương pháp thống kê toán học 49
2.3 Thực trạng kỹ năng giao tiếp của giáo viên với trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề ở Trường mầm non Đồng Phú, Đồng Hới, Quảng Bình 49
2.3.1 Nhận thức của giáo viên, cán bộ quản lý về kỹ năng giao tiếp của giáo viên với trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề 49
2.3.1.1 Nhận thức của giáo viên mầm non về tính cần thiết kỹ năng giao tiếp của giáo viên với trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề 49
Trang 52.3.1.3 Nhận thức của giáo viên về tầm quan trọng kỹ năng giao tiếp với trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề ở Trường mầm non Đồng Phú 50 2.3.1.2 Nhận thức của giáo viên về tầm quan trọng của các kỹ năng bộ phận của kỹ năng giao tiếp của giáo viên thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề ở Trường mầm non Đồng Phú 52 2.3.2 Thực trạng biểu hiện kỹ năng giao tiếp của giáo viên với trẻ mẫu giáo 5
- 6 tuổi thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề ở Trường mầm non Đồng Phú, Đồng Hới, Quảng Bình 55 2.3.2.1 Đánh giá chung mức độ kỹ năng giao tiếp của trẻ 5-6 tuổi thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề ở Trường mầm non Đồng Phú, Đồng Hới, Quảng Bình 55 2.3.2.2 Thực trạng biểu hiện kỹ năng giao tiếp của trẻ 5- 6 tuổi thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề ở Trường mầm non Đồng Phú, Đồng Hới, Quảng Bình 56 2.3.2.2.1 Kỹ năng nghe hiểu lời nói giao tiếp của trẻ 5-6 tuổi thông qua trò chơi ĐVTCĐ ở Trường mầm non Đồng Phú, Đồng Hới, Quảng Bình 56 2.3.2.2.3 Kỹ năng sử dụng lời nói giao tiếp của trẻ 5-6 tuổi thông qua trò chơi ĐVTCĐ ở Trường mầm non Đồng Phú, Đồng Hới, Quảng Bình 57 2.3.2.3 Những khó khăn giáo viên mầm non gặp phải trong quá trình giao tiếp sư phạm với trẻ mẫu giáo lớn thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề ở trường mầm non Đồng Phú 60 2.3.3 Nguyên nhân của thực trạng kỹ năng giao tiếp của giáo viên với trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề ở Trường mầm non Đồng Phú 61
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 65 CHƯƠNG 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ KỸ NĂNG GIAO TIẾP CỦA GIÁO VIÊN VỚI TRẺ MẪU GIÁO 5 – 6
Trang 6TUỔI THÔNG QUA TRÕ CHƠI ĐÓNG VAI THEO CHỦ ĐỀ Ở
TRƯỜNG MẦM NON ĐỒNG PHÖ, ĐỒNG HỚI, QUẢNG BÌNH 66
3.1 Các nguyên tắc đề xuất biện pháp 66
3.1.1 Tiếp thu những lý luận cơ bản và kề thừa những kết quả nghiên cứu của các công trình đi trước 66
3.1.2 Biện pháp đặt ra phải xuất phát từ thực tiễn công tác giáo dục và kết quả nghiên cứu thực trạng ở các trường mầm non 66
3.1.3 Giáo viên cần nhận thức đúng đắn và đầy đủ mục đích, ý nghĩa của xu hướng đổi mới các phương pháp trong việc hình thành kĩ năng giao tiếp cho trẻ 67
3.2 Một số biện pháp nâng cao kỹ năng giao tiếp sư phạm của giáo viên với trẻ 5 – 6 tuổi thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề 67
3.2.1 Biện pháp 1: Xây dựng quy trình tổ chức trò chơi đóng vai theo chủ đề nhằm phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi khi tổ chức trò chơi ĐVTCĐ 67
3.2.2 Biện pháp 2: Tổ chức trò chơi với nhiều chủ đề và nội dung chơi phong phú, hấp dẫn cho trẻ tham gia nhằm rèn luyện kỹ năng giao tiếp của giáo viên với trẻ 5 – 6 tuổi 68
3.2.3 Biện pháp 3: Tăng cường cơ sở vật chất, sử dụng linh hoạt các phương pháp giáo dục để phát triển kỹ năng giao tiếp của giáo viên với trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi 69
3.2.4 Biện pháp 4: Tăng cường sự liên kết giữa trẻ, gia đình trẻ – nhà trường để phát triển kỹ năng giao tiếp của giáo viên với trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi thông qua TCĐVTCĐ 70
3.3 Bước đầu thử nghiệm 70
3.3.1 Mục đích thử nghiệm 70
3.3.2.1 Cơ sở để xác định nội dung thử nghiệm 70
3.3.2.2 Nội dung chương trình thử nghiệm 71
3.3.2.3 Thời gian thử nghiệm 71
Trang 73.3.3 Tiến hành thử nghiệm 72
3.3.3.1 Các tiêu chí đánh giá 72
3.3.3.2 Biện pháp xử lý kết quả thử nghiệm 72
3.3.3.3 Tiến hành thử nghiệm 72
3.4 Phân tích kết quả thử nhgiệm 73
3.4.1 Kết quả đo trước khi thử nghiệm 73
3.4.2 Kết quả đo sau khi thử nghiệm 75
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 81
1.KẾT LUẬN 81
2 KIẾN NGHỊ 82
TÀI LIỆU THAM KHẢO 84
PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Nhận thức của giáo viên về tính cần thiết kỹ năng giao tiếp của giáo
viên với trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề 49
Bảng 2.2 Nhận thức của giáo viên về tầm quan trọng của kỹ năng giao tiếp 51 Bảng 2.3 Nhận thức của giáo viên về tầm quan trọng của các kỹ năng bộ phận của kỹ năng giao tiếp 53
Bảng 2.4 Đánh giá chung mức độ biểu hiện KNGT của trẻ 5-6 tuổi qua trò chơi ĐVTCĐ 55
Bảng 2.5 Biểu hiện kỹ năng nghe hiểu lời nói giao tiếp của trẻ 5-6 tuổi qua trò chơi ĐVTCĐ 56
Bảng 2.6 Biểu hiện kỹ năng sử dụng lời nói giao tiếp của trẻ 5-6 tuổi thông qua trò chơi ĐVTCĐ 58
Bảng 2.7 Biểu hiện kỹ năng thực hiện một số qui tắc giao tiếp của trẻ 5-6 tuổi thông qua trò chơi ĐVTCĐ 59
Bảng 2.8 Những khó khăn giáo viên mầm non gặp phải trong quá trình 60
giao tiếp với trẻ mẫu giáo lớn thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề 60
Bảng 2.9 Nguyên nhân chủ quan 62
Bảng 2.10 Nguyên nhân khách quan 63
Bảng 3.1 So sánh mức độ hình thành KN sử dụng lời nói trong giao tiếp của 2 nhóm trước thử nghiệm trong TCĐVTCĐ 73
Bảng 3.2 So sánh biểu hiện KN sử dụng lời nói trong giao tiếp của 2 nhóm trước thử nghiệm trong TCĐVTCĐ 74
Bảng 3.3 So sánh mức độ KN sử dụng lời nói trong giao tiếp của 2 nhóm đối chứng và thử nghiệm sau khi tiến hành thử nghiệm 75 Bảng 3.4: So sánh mức độ hình thành KN sử dụng lời nói trong giao tiếp của
Trang 10PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Cùng với lao động, ngôn ngữ, giao tiếp là những nhân tố không thể thiếu được trong cuộc sống của mỗi cá nhân và của cộng đồng xã hội loài người Giao tiếp có lịch sử lâu đời cùng với lịch sử hình thành và phát triển con người Chính
vì thế mà nhiều ngành khoa học khác nhau đã bàn về vấn đề giao tiếp của con người: Triết học, đạo đức học, tâm lý học, xã hội học, điều khiển học,… Mỗi lĩnh vực khoa học khác nhau có những quan điểm cụ thể về giao tiếp
Đối với trẻ lứa tuổi Mầm non – giai đoạn đầu tiên của quá trình hình thành nhân cách, giao tiếp với những người xung quanh giữ vị trí khá quan trọng Việc giáo dục cho trẻ có được những KNGT với bạn b và người lớn càng trở nên cần thiết hơn Nó trở thành một nội dung giáo dục không thể thiếu được trong các trường mầm non Vì vậy, làm thế nào để hình thành KNGT cho trẻ một cách đúng đắn và có hiệu quả cần được đặt ra để nghiên cứu giúp các giáo viên c ng như các bậc phụ huynh giáo dục con em mình trở thành những công dân gương mẫu, có ích cho xã hội Muốn đạt được điều này thì mỗi giáo viên phải chăm lo rèn luyện, phát triển năng lực cho bản thân, bởi vì giáo viên là nhân tố quyết định trực tiếp đến kết quả thực hiện mục tiêu giáo dục Để có được năng lực sư phạm người giáo viên phải có những kiến thức và kỹ năng cần thiết, trong đó kỹ năng giao tiếp sư phạm là một trong những kỹ năng ảnh hưởng rất lớn đến kết quả của công tác dạy học và giáo dục Chính vì vậy, đỏi hỏi người giáo viên mầm non phải có kỹ năng giao tiếp phù hợp với yêu cầu giáo dục trẻ
Nghề giáo viên mầm non là một nghề lao động đa năng, hoạt động sư phạm của giáo viên mầm non có một sắc thái riêng, khác hẳn so với giáo viên của các bậc học khác là tạo bước đầu quan trọng trong việc hình thành và phát triển nhân cách của con người Trong nhân cách của họ vừa có cả những nét của người mẹ vừa có cả những nét của nhà giáo dục, của người nghệ sĩ, người thầy thuốc… và người bạn của trẻ mầm non Đặc điểm quan trọng nhất của lao động
sư phạm mầm non là trong suốt quá trình lao động luôn có sự tương tác giữa cô
và trẻ, trẻ với trẻ, giáo viên với giáo viên, giáo viên với phụ huynh Đối tượng
Trang 11của giáo viên mầm non chính là trẻ em, công cụ chủ yếu của lao động sư phạm
là nhân cách của giáo viên, sản phẩm của lao động sư phạm là nhân cách của trẻ mầm non theo mô hình mà xã hội đòi hỏi Đặc điểm này cho thấy, nhân cách và năng lực giao tiếp của người giáo viên mầm non là những tiêu chuẩn quan trọng trong đánh giá chất lượng giáo viên
Thực tế cho thấy giáo viên mầm non có kỹ năng giao tiếp tốt sẽ thiết lập được mối quan hệ hợp lý với từng trẻ, với từng nhóm trẻ, với đồng nghiệp, phụ huynh và với cộng đồng… Mối quan hệ này, không chỉ giúp giáo viên có nhiều thuận lợi trong việc thực hiện các nhiệm vụ chăm sóc giáo dục trẻ mà còn là một trong những điều kiện quan trọng góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu giáo dục
đã đề ra Song bên cạnh đó không ít giáo viên còn hạn chế về kỹ năng này, đặc biệt là kỹ năng giao tiếp của cô với trẻ như: cô chưa tạo được mối quan hệ tốt đẹp với trẻ, chưa gần g i để hiểu được nhu cầu, suy nghĩ, tình cảm, sở thích… của trẻ, hành vi giao tiếp chưa dịu dàng, cởi mở, dể bực tức, cáu gắt, quát nạt trẻ, thậm chí có những hành động thiếu tôn trọng, xúc phạm đến nhân cách của trẻ…
từ đó ảnh hưởng đến hiệu quả và chất lượng của việc tổ chức các hoạt động chăm sóc và giáo dục trẻ Tuy nhiên, để có được kỹ năng giao tiếp tốt với trẻ là vấn đề đầy khó khăn và thách thức đối với đa số giáo viên mầm non hiện nay
Do đó, việc rèn luyện nâng cao kỹ năng giao tiếp sư phạm của giáo viên mầm non với trẻ là vấn đề cần phải đặc biệt quan tâm, bởi đây là một trong những yêu cầu quan trọng của ngành học nhằm giúp giáo viên mầm non nâng cao phẩm chất, năng lực của mình, qua đó góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, đáp ứng yêu cầu của xã hội đặt ra
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài:“Thực trạng kỹ năng giao tiếp của giáo viên với trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề ở trường mầm non Đồng Phú, thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng
Bình” làm hướng nghiên cứu của mình
2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Đề tài nhằm điều tra thực trạng KNGT của giáo viên với trẻ mẫu giáo lớn thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề ở trường mầm non Đồng Phú Trên cơ
Trang 12sở đó, đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao KNGT của giáo viên với trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi ở Trường mầm non Đồng Phú
3 KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
3.1 Khách thể nghiên cứu
- 170 trẻ mẫu giáo lớn (5 - 6 tuổi) Trường mầm non Đồng Phú
- 36 giáo viên Trường mầm non Đồng Phú
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Quá trình thực hiện kỹ năng giao tiếp của giáo viên với trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề ở Trường mầm non Đồng Phú
4 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Giáo viên mầm non ở Trường mầm non Đồng Phú đã có kỹ năng giao tiếp với trẻ nhưng thể hiện trong thực tế chỉ đạt mức trung bình do nhiều nguyên nhân khác nhau Nếu nghiên cứu và đánh giá đúng thực trạng kỹ năng giao tiếp của giáo viên mầm non với trẻ thì sẽ đưa ra được những biện pháp góp phần nâng cao kỹ năng giao tiếp cho trẻ mẫu giáo ở Trường mầm non Đồng Phú
5 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về giao tiếp và kỹ năng giao tiếp sư phạm của giáo viên với trẻ mầm non
- Nghiên cứu thực trạng kỹ năng giao tiếp của giáo viên với trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề ở Trường mầm non Đồng Phú
- Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao kỹ năng giao tiếp của giáo viên với trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề ở Trường mầm non Đồng Phú
6 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
6.1 Giới hạn về khách thể nghiên cứu
- Thực hiện nghiên cứu trên 170 trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi Trường mầm non Đồng Phú, Đồng Hới, Quảng Bình
- Khách thể điều tra: 36 giáo viên Trường mầm non, Đồng Phú, Đồng Hới, Quảng Bình
Trang 136.2 Thời gian nghiên cứu
- Thực hiện nghiên cứu từ tháng 12/2017 đến tháng 05/2018
7.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Nghiên cứu cơ sở lý luận về thu thập các nguồn tài liệu, sách, báo, tạp chí, các công trình nghiên cứu,… có liên quan đến đề tài để tìm hiểu về vấn đề nghiên cứu
Nghiên cứu, phân tích, tổng hợp và hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến đề tài nghiên cứu
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Đây là phương pháp của đề tài sử dụng bảng câu hỏi để tìm hiểu ý kiến của giáo viên mầm non, cán bộ quản lý Trường mầm non Đồng Phú
Đánh giá về kỹ năng giao tiếp của giáo viên mầm non và những khó khăn trong quá trình giao tiếp của giáo viên mầm non với trẻ Tìm hiểu những nguyên nhân ảnh hưởng đến kỹ năng giao tiếp của giáo viên mầm non và đề xuất của giáo viên mầm non đối với nhà trường và bản thân trong việc nâng cao KNGT cho giáo viên với trẻ
7.2.2 Phương pháp quan sát
Tiến hành quan sát một số hoạt động giao tiếp của cô và trẻ ở Trường mầm non Đồng Phú để tìm hiểu rõ hơn về thực trạng kỹ năng giao tiếp của giáo viên mầm non đối với trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi thông qua trò chơi đóng vai theo chủ
đề
7.2.3 Phương pháp phỏng vấn
Tiến hành phỏng vấn một số giáo viên ở Trường mầm non Đồng Phú nhằm tìm hiểu thêm về thực trạng kỹ năng giao tiếp của giáo viên mầm non đối với trẻ, đặc biệt là nguyên nhân của thực trạng và đề xuất biện pháp cần thực hiện để nâng cao kỹ năng giao tiếp của giáo viên mầm non đối với trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề
Trang 147.2.4 Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng một số công thức toán học để phân tích và xử lý các số liệu đã thu thập được về mặt định lượng, làm cơ sở để đưa ra những nhận định , đánh giá khách quan, định tính về các kết quả nghiên cứu
8 ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
Đề tài góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và làm rõ thực trạng kỹ năng giao tiếp của giáo viên với trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi, xây dựng một số biện pháp nâng cao hiệu quả giao tiếp của giáo viên với trẻ thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề ở trường mầm non
9 CẤU TRÚC CỦA KHÓA LUẬN
Chương 2 Thực trạng kỹ năng giao tiếp của giáo viên với trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề ở Trường mầm non Đồng Phú, Đồng Hới, Quảng Bình
Chương 3 Một số biện pháp nâng cao hiệu quả kỹ năng giao tiếp của giáo viên với trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề ở Trường mầm non Đồng Phú, Đồng Hới, Quảng Bình
Phần 3 Kết luận và kiến nghị
Trang 15PHẦN 2 NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ GIAO TIẾP VÀ KỸ NĂNG
Vấn đề giao tiếp đã được con người xem xét từ thời cổ đại, nhà triết học Socrate (470- 399TCN) và Platon (428-347 TCN) đã nói tới đối thoại như là sự giao tiếp trí tuệ, phản ánh mối quan hệ qua lại giữa con người với con người Khoa học ngày càng phát triển, những tri thức về lĩnh vực giao tiếp c ng không ngừng tăng lên Các nhà triết học, xã hội học, tâm lý học… càng quan tâm nghiên cứu đến vấn đề này, chúng tôi thấy nổi lên một số hướng nghiên cứu sau đây: [4]
- Hướng thứ nhất: Nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về giao tiếp như:
bản chất, cấu trúc, cơ chế, phương pháp luận nghiên cứu giao tiếp, mối quan hệ giữa giao tiếp và hoạt động…Thuộc xu hướng này có công trình của A.A.Bođaliov, Xacopnhin, A.A.Léonchiev, B.Ph.Lomov
- Hướng thứ hai: Nghiên cứu giao tiếp với nhân cách có công trình của
A.A.Bohnheva
- Hướng thứ ba: Nghiên cứu các dạng giao tiếp nghề nghiệp như giao tiếp sư
phạm có công trình của A.A.Leonchiev, A.V.Petropxki, V.A.Krutetxki, Ph.N.Gonobolin…
1.1.2 Ở trong nước
Tại Việt Nam, tâm lý học là khoa học còn non trẻ Việc nghiên cứu giao tiếp phát triển mạnh mẽ và đi theo xu hướng khác nhau, thể hiện các công trình
Trang 16nghiên cứu lý luận và thực tiễn Vấn đề giao tiếp được nghiên cứu từ những năm
60 của thế kỷ XX, có thể phân thành một số hướng nghiên cứu sau: [4]
- Hướng thứ nhất: Nghiên cứu bản chất tâm lý học của giao tiếp, đặc điểm
giao tiếp của con người, chỉ ra nội dung, hiệu quả, phương tiện giao tiếp…có công trình của Phạm Minh Hạc, Ngô Công Hoàn, Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Ngọc Bích, Trần Trọng Thuỷ…
- Hướng thứ hai: Nghiên cứu giao tiếp như là một tiến trình truyền đạt thông
tin, các đặc điểm giao tiếp của người tham gia vào truyền thông, có công trình của Nguyễn Văn Lê, Nguyễn Thị Oanh, Nguyễn Khắc Viện…
- Hướng thứ ba: Nghiên cứu thực trạng đặc điểm giao tiếp của một số đối
tượng đặc biệt là các giáo viên, đề xuất những tác động nhằm nâng cao hiệu quả giao tiếp của họ như đề tài của Tống Duy Riêm, Bùi Ngọc Thiết, Trần Thị Kim Thoa…
1.2 Vấn đề chung về giao tiếp
1.2.1 Một số quan niệm chung về giao tiếp
Hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau về giao tiếp Mỗi quan niệm có những cơ sở khoa học riêng của nó
* Các quan niệm về giao tiếp của các nhà tâm lý học Tư sản
M.Ac Gain (Anh) xem giao tiếp như là một quá trình hai mặt của sự thông báo, thiết lập, sự tiếp xúc và trao đổi thông tin [4]
T.Stecren (Pháp) quan niệm giao tiếp là sự trao đổi ý nghĩ, tình cảm, cảm xúc giữa con người với nhau [4]
T.Chuc Con (Mỹ) quan niệm giao tiếp là sự tác động qua lại trực tiếp lên nhân cách và dẫn đến việc hình thành những ý nghĩa, biểu tượng, chuẩn mực và mục đích hành động [4]
* Các quan niệm về giao tiếp của các nhà tâm lý học Liên Xô
L.X.Vưgôtxki, X.L.Rubinstêin, A.G.Côvaliôp, K.K.Platônôp, G.G.Gôlubép
đã quan niệm giao tiếp là sự tiếp xúc giữa người và người để trao đổi thông tin, tác động lẫn nhau trên cơ sở phản ánh tâm lý của nhau Quan niệm này có xu hướng thu hẹp khái niệm giao tiếp [15]
Trang 17B.V.Xôcôlop, xem giao tiếp như là một yếu tố chung có cả người và động vật, ông cho rằng: “Giao tiếp là sự tác động lẫn nhau giữa những con người với nhau và những động vật có tâm lý với nhau, nếu thu hẹp hơn thì có thể coi giao tiếp là mối quan hệ giữa con người và những động vật nuôi trong nhà” Quan niệm này có xu hướng mở rộng khái niệm giao tiếp [15]
* Các quan niệm về giao tiếp của các tác giả Việt Nam
Hai tác giả Diệp Quang Ban, Đinh Trọng Lạc (1991), mở rộng khái niệm giao tiếp, cho rằng động vật c ng có giao tiếp Hai ông quan niệm: “Giao tiếp là
sự tiếp xúc với nhau giữa cá thể này với cá thể khác trong cộng đồng xã hội” Tác giả Trần Trọng Thủy và tác giả Nguyễn Sinh Huy trong quyển: “Nhập môn khoa học giao tiếp” đã viết: “Giao tiếp của con người là một quá trình chủ đích hay không có chủ đích, có ý thức hay không có ý thức mà trong đó các cảm xúc
và tư tưởng được diễn đạt trong các thông điệp bằng ngôn ngữ hoặc phi ngôn ngữ” [6]
1.2.2 Phân biệt giao tiếp với các khái niệm khác có liên quan
* Giao tiếp và quan hệ xã hội
Quan hệ xã hội là quan hệ khách quan, con người quan hệ với nhau trên cơ
sở vị trí của mỗi người trong hệ thống xã hội Quan hệ xã hội gồm có: quan hệ sản xuất, quan hệ chính trị, quan hệ đạo đức, quan hệ pháp quyền… Còn giao tiếp là sự tiếp xúc, quan hệ giữa các nhân cách cụ thể, là sự hiện thực hoá các
quan hệ xã hội
* Giao tiếp và thông tin
Khái niệm giao tiếp rộng hơn khái niệm thông tin Giao tiếp là sự tiếp xúc tâm lý có biểu hiện ở thông tin, thông báo hay nói cách khác thông tin, thông báo
là một mặt cơ bản không thể thiếu được của giao tiếp Nếu căn cứ vào tính chất của mối quan hệ cơ bản tham gia vào hệ thống tác động qua lại thì thông tin là mối quan hệ thông báo của chủ thể với đối tượng khác Còn giao tiếp chỉ quan hệ chủ thể - khách thể, trong đó có sự tác động và điều khiển lẫn nhau
* Giao tiếp và ứng xử
Ứng xử thuộc về lĩnh vực giao tiếp nên nó c ng mang những dấu hiệu chung
Trang 18của giao tiếp, tuy nhiên trong giao tiếp chú ý đến nội dung công việc, thước đo của giao tiếp là hiệu quả công việc Còn ứng xử chú ý đến nội dung tâm lý và thước đo ứng xử là thái độ của cá nhân và cách biểu hiện hành vi, cử chỉ… cứ có
sự tiếp xúc giữa con người với con người là có giao tiếp nhưng trong sự tiếp xúc
ấy phải có tình huống tác động mới có ứng xử Trong ứng xử có sự diễn ra trạng thái tâm lý căng thẳng ở con người, buộc con người phải tư duy để giải quyết
1.2.3 Chức năng của giao tiếp
Có nhiều cách phân loại chức năng giao tiếp
* Xét dưới góc độ cá nhân, theo B.Ph.Lômôp giao tiếp có 3 chức năng sau đây: [7]
Chức năng thông tin: Con người trao đổi thông tin cho nhau qua giao tiếp Nội dung thông tin có thể là hiện tượng, vấn đề trong đời sống sinh hoạt hằng ngày, những suy nghĩ, tâm tư, tri thức…
Chức năng điều chỉnh: Qua giao tiếp con người có thể điều chỉnh thái độ, hành vi, nhận thức của bản thân, của đối tượng giao tiếp Sự điều chỉnh hành vi lẫn nhau là nhân tố quan trọng trong các chủ thể tham gia giao tiếp thành chủ thể hoạt động chung
Chức năng cảm xúc: Con người biểu lộ tình cảm, thái độ, tác động đến trạng thái cảm xúc của nhau, nhờ đó mà con người ta có thể thay đổi trạng thái tình cảm của mình, hiểu thái độ của người khác làm cho hiệu quả giao tiếp tốt hơn
* Xét dưới góc độ nhóm, giao tiếp có những chức năng:
Chức năng nhận thức: Thông qua giao tiếp con người nhận thức lẫn nhau, so sánh, đối chiếu mình với người khác, do đó biết được mình là người thế nào Chức năng tổ chức hoạt động chung: giao tiếp có ảnh hưởng đến việc lựa chọn mục đích, hình thành kế hoạch chung, phân công, nhiệm vụ cụ thể cho từng người Trong quá trình hoạt động chung có sự trao đổi thông tin, khích lệ, kiểm tra, uốn nắn hành động của nhau
Trang 19Chức năng thiết lập quan hệ: Trong giao tiếp có thể hình thành các quan hệ đồng chí, bạn bè, hay quan hệ thù địch… các mối quan hệ này có ảnh hưởng tới
sự phát triển cá nhân
* Xét dưới góc độ tâm lí học xã hội, giao tiếp có hai chức năng:
Chức năng liên kết: Nhờ chức năng này con người hiểu được nhau, liên hệ, xây dựng mối quan hệ với nhau
Chức năng đồng nhất: Thực hiện sự hoà hợp của cá nhân vào trong nhóm
Chức năng phối hợp các hoạt động: trong giao tiếp con người cùng đối tượng giao tiếp của mình có thể trao đổi, phối hợp hoạt động với nhau để giải quyết một nhiệm vụ nào đó, đạt tới mục đích đã định
Chức năng thông tin: Trong quá trình giao tiếp mỗi cá nhân có thể vừa là nguồn phát thông tin tới đối tượng giao tiếp nhưng đồng thời c ng là nơi tiếp nhận thông tin từ đối tượng giao tiếp
Chức năng cảm xúc: Trong giao tiếp chủ thể bộc lộ quan điểm của mình đối với một vấn đề, hiện tượng nào đó, đồng thời biểu lộ rung cảm, thái độ, tâm trạng của mình đối với chủ thể khác
Trang 20Chức năng nhận thức, đánh giá lẫn nhau: Trong giao tiếp mỗi cá nhân tự bộc lộ nhận thức, tình cảm, tư tưởng, quan điểm của mình, đó là cơ sở để đối tượng giao tiếp đánh giá, nhận xét và ngược lại đối phương c ng đánh giá, nhận xét lại chính bản thân
Chức năng điều chỉnh hành vi: Trong giao tiếp con người có thể điều chỉnh hành vi của mình và tác động đến động cơ, quá trình ra quyết định, hành động của đối tượng giao tiếp nên đối tượng giao tiếp c ng phải điều chỉnh hành vi của
họ cho phù hợp với mục đích giao tiếp
1.2.4 Phương tiện trong giao tiếp
1.2.4.1 Phương tiện ngôn ngữ
* Ngôn ngữ là gì ?
Trong giáo trình Tâm lý học đại cương do Nguyễn Quang Uẩn chủ biên (1996) định nghĩa: ngôn ngữ là một hệ thống ký hiệu từ ngữ Ký hiệu từ ngữ tác động vào hoạt động, làm thay đổi hoạt động nhưng là hoạt động tinh thần, hoạt động trí tuệ, hoạt động bên trong con người, nó hướng vào và làm trung gian hóa cho các hoạt động tâm lý cấp cao của con người như tri giác, trí nhớ, tưởng tượng, tư duy… Ký hiệu từ ngữ làm được điều đó là nhờ vào đặc tính bên trong nội dung từ ngữ của từ - một đặc tính ngay từ đầu chỉ là do quy ước, võ đoán với hình thức âm thanh bên ngoài của từ mà thôi Những nghĩa này mang tính khái quát, chỉ cả một lớp sự vật, hiện tượng của hiện thực Ký hiệu từ ngữ là một hệ thống, mỗi ký hiệu chỉ có ý nghĩa và thực hiện một chức năng nhất định trong hệ thống của mình [17]
Ngôn ngữ gồm 3 bộ phận là ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp Các đơn vị của ngôn ngữ là âm vị, hình vị, từ, câu, ngữ đoạn, văn bản… Bất cứ thứ ngôn ngữ nào c ng chứa đựng hai phạm trù là phạm trù ngữ pháp và phạm trù logic Phạm trù ngữ pháp là một hệ thống quy định việc thành lập từ, câu, cách phát âm, phạm trù này ở các ngôn ngữ khác nhau là khác nhau Phạm trù logic là quy luật, phương pháp tư duy đúng đắn của con người, nó chung cho cả loài người vì vậy tuy dùng các thứ ngôn ngữ khác nhau nhưng các dân tộc khác nhau vẫn hiểu được nhau
Trang 21Ngôn ngữ của mỗi người được hình thành trong quá trình sống và hoạt động trong môi trường lịch sử văn hóa nhất định, phụ thuộc vào môi trường sống, do đó có sự khác biệt cá nhân về ngôn ngữ
* Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp chủ yếu của con người
Phương tiện giao tiếp chủ yếu của con người chính là ngôn ngữ Hiệu quả giao tiếp ở chừng mực nào đó là do trình độ của người sử dụng ngôn ngữ Nếu việc diễn đạt ngôn ngữ rõ ràng, dễ hiểu, thích hợp với trình độ người nghe, diễn
tả được tình cảm, thái độ mà mình muốn thể hiện thì đạt mục đích giao tiếp Ngôn ngữ cá nhân thể hiện thành phong cách ngôn ngữ từng người Phong cách ngôn ngữ mang dấu ấn của đặc điểm nghề nghiệp, tuổi tác, giới tính, vị thế xã hội của từng cá nhân Việc sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp của cá nhân nói lên những thông tin chính về tính cách, trạng thái, đặc điểm tâm lý của cá nhân đó Hai loại ngôn ngữ thường dùng làm phương tiện giao tiếp đó là ngôn ngữ viết và ngôn ngữ nói Với ngôn ngữ viết, là ngôn ngữ nhìn thấy, ngôn ngữ sơ đồ được thể hiện ở ngữ pháp của câu, mệnh đề, một từ và được sử dụng trong các ngữ cảnh, văn cảnh khác nhau, cấu trúc câu khác nhau mang một ý nghĩa khác nhau, thậm chí đối lập nhau về nghĩa Do đó ngôn ngữ viết sẽ trở thành một phương tiện giao tiếp hiệu quả nếu người giao tiếp chuẩn về ngữ pháp, dừng từ thể hiện được sự trong sáng, tế nhị, thanh tao, dễ đọc, dễ hiểu
Ngôn ngữ nói là ngôn ngữ âm thanh c ng chứa đựng nghĩa xã hội, chính là nội hàm của khái niệm từ, thực hiện chức năng nhận thức Phương tiện giao tiếp
là ngôn ngữ nói có hiệu quả khi các ý trong từ thể hiện thái độ thiện cảm, phù hợp với không gian giao tiếp Đặc điểm rõ nhất của ngôn ngữ nói là giọng điệu Giọng điệu tự nó phản ánh chân thật tình cảm, giọng điệu có thể khuyến khích, động viên, răn đe, ngăn cấm, kích thích tính tích cực hoạt động nhận thức hoặc ngược lại làm đối tượng giao tiếp buồn tẻ, thụ động…
Trong cuốn “Tâm lý học xã hội” A.G.Covaliop đã khẳng định nếu như nội dung của lời nói tác động vào ý thức, thì ngữ điệu của nó tác động vào tình cảm con người C ng vấn đề này V.A.Xukhomlinxki nhấn mạnh: “Bằng lời nói con người có thể giết chết hoặc làm sống lại, có thể gây tổn thương hoặc làm lành
Trang 22bệnh, có thể gieo rắc sự bất ngờ và thất vọng có thể tạo ra nụ cười sung sướng hoặc làm rơi những giọt nước mắt đau khổ có thể động viên con người làm việc hoặc kìm hãm sức mạnh tinh thần…” Vì thế cần rèn luyện ngôn ngữ để giao tiếp [10]
1.2.4.2 Phương tiện phi ngôn ngữ
* Khái niệm:
Giao tiếp phi ngôn ngữ là sự trao đổi thông tin được thể hiện thông qua vận động cơ thể như cử chỉ, tư thế Giao tiếp phi ngôn ngữ có cội nguồn sinh học dựa trên cơ sở hành vi bản năng gắn liền với quá trình tiến hoá - di truyền từ thế giới động vật Trong giao tiếp phi ngôn ngữ, không phải lúc nào c ng có sự tham gia của ý thức, mà phần nhiều lại là vô thức nên"chân thật" hơn Tuy vậy, ý nghĩa biểu hiện của nó thiếu chính xác, kém rành mạch hơn so với giao tiếp ngôn ngữ
* Các chức năng cơ bản của giao tiếp phi ngôn ngữ
+ Biểu hiện trạng thái cảm xúc nhất thời: thông qua nét mặt, điệu bộ chủ thể giao tiếp biểu hiện các tâm tư, sắc thái, cảm xúc khác nhau, các trạng thái cảm xúc này lan truyền sang đối tượng giao tiếp làm ảnh huởng rất lớn đến hiệu quả giao tiếp
+ Biểu hiện các đặc trưng cá nhân: thông qua "ngôn ngữ cơ thể" như cử chỉ, ánh mắt, giọng nói một cách vô tình hay hữu ý, chủ thể giao tiếp nhận biết được đối tượng giao tiếp của mình là ai, tính cách như thế nào, trình độ văn hoá của họ
* Phân loại giao tiếp phi ngôn ngữ
Dựa vào mục đích của giao tiếp, có thể phân thành:
+ Giao tiếp phi ngôn ngữ không chủ định: là những biểu hiện mang tính bản năng của các hành vi như tư thế, nét mặt, ánh mắt xuất hiện theo phản xạ tự nhiên không có sự kiểm soát của ý thức Đó là những biểu hiện của hành vi vô thức
+ Giao tiếp phi ngôn ngữ có chủ định: là những biểu hiện của hành vi, cử chỉ, các biểu cảm ý thức, có mục đích với sự điều khiển của ý chí Các biểu hiện
Trang 23phi ngôn ngữ có chủ định thường thấy ở những người có sự hiểu biết, những người có nhiều kinh nghiệm ứng xử xã hội, những người lớn tuổi
* Các kênh giao tiếp phi ngôn ngữ
- Giao tiếp qua giọng nói:
Thể hiện ở âm điệu, ngữ điệu, nhịp độ của giọng nói - đó là những dấu hiệu cận ngôn ngữ, thường đi cùng với lời nói Thông qua giọng nói nhỏ nhẹ, ôn tồn hay đanh thép, dõng dạc; thông qua nhịp độ của giọng nói nhanh hay chậm, cao hay thấp ở trạng thái vui mừng, ngữ điệu trở nên nhiệt thành, tiếng nói trong trẻo, hồ hởi Ngược lại, khi con người cảm thấy sợ hãi, buồn rầu thì nhịp độ lời nói chậm lại Như vậy âm điệu của lời nói có ý nghĩa lớn trong việc truyền đạt các cảm xúc từ người này sang người kia
Tính cách của con người c ng thể hiện đến hoạt động sinh lý thần kinh của con người Qua giọng nói ta xác định được tình trạng sức khoẻ của đối tượng giao tiếp - những lúc căng thẳng, mệt mỏi, giọng nói cáu gắt, bất thường Những khi đợi chờ giọng thường bồn chồn, thổn thức Còn khi trong người có triệu chứng cảm cúm "bị ấp úng", khó nghe
- Giao tiếp qua nét mặt:
Cảm xúc của con người: vui mừng, ngạc nhiên, đau khổ, buồn rầu, căm giận thể hiện rất rõ trên bộ mặt ở con người, sự thể hiện qua nét mặt mang tính bẩm sinh, phổ biến và đáng tin cậy Tuy vậy, mức độ biểu hiện của nó còn phụ thuộc vào phong tục, tập quán và trình độ văn hoá xã hội của mỗi dân tộc
Trong giao tiếp phi ngôn ngữ, biểu cảm ở vùng trán, lông mày, mặt thể hiện các trạng thái cảm xúc khác nhau của con người như môi mím chặt thể hiện
sự tức giận, phẫn nộ
Nụ cười là sự biểu hiện hình thức của giao tiếp phi ngôn ngữ Nụ cười thể hiện sự đồng ý, tâm đắc; nhưng đôi khi c ng thể hiện sự giễu cợt, mỉa mai Tuỳ thuộc từng bối cảnh mà các chủ thể giao tiếp sử dụng nụ cười để phản ánh tâm trạng và thái độ của bản thân
- Giao tiếp qua ánh mắt:
Trang 24Ánh mắt phản ánh trạng thái cảm xúc Con người bộc lộ tình cảm, tâm trạng và ước nguyện qua đôi mắt một cách vô thức Chẳng thế mà người ta vẫn
có câu:"Con mắt là cửa sổ tâm hồn" Con mắt phản ánh trạng thái cảm xúc: giận
dữ hay vui vẻ, mặt vui vẻ với ánh mắt mở rộng và ngược lại
Ánh mắt mở to nhìn thẳng vào người đối diện còn là dấu hiệu của sự cảm xúc giới tính Thói quen nhìn vào mắt người khác khi nói chuyện là chứa đựng nhiều thông tin về tính cách con người Có ánh mắt lạnh lùng, bi quan, cảnh giác, chính chắn
Cái nhìn có thể là tín hiệu của tình thương, tình yêu
Các cuộc thí nghiệm cho thấy, hai người yêu nhau thường nhìn lâu, hoặc nhìn nhanh vào mắt nhau, nhưng sâu và nhiều lần
Ngoài ra cái nhìn có chức năng điều chỉnh hành vi Thông qua ánh mắt có thể nắm được thái độ của nguời tiếp chuyện để sắp xếp cách ứng xử tiếp theo
C ng như vậy bằng ánh mắt, chúng ta có thể tác động đến đối tượng giao tiếp, bắt đối tượng phải có sự thay đổi nhất định, nếu điều đó là cần thiết
Cách nhìn, cách đưa mắt c ng biểu hiện tính cách con người Những người thẳng thắn, bộc trực, tự tin, khi nói chuyện thường nhìn thẳng vào mắt người đối thoại Ngược lại, người hay cảnh giác, nghi ngờ, tự ti khi giao tiếp thường không nhìn thẳng vào mắt người nói chuyện Còn người lắm mưu mô, mắt hay đảo điên, liếc ngang, liếc dọc Người đa tình thường có mắt đẹp nhưng hay nhìn lẳng
lơ, lúng tiếng
- Giao tiếp bằng cử chỉ bao gồm:
Vận động của đầu: là nét đặc trưng trong giao tiếp phi ngôn ngữ, có ý nghĩa quan trọng của con người Đối với nhiều dân tộc khác nhau trên thế giới,
có một số động tác vận động ở đầu được hiểu như sau" Thí dụ như lắc đầu thể hiện sự không đồng ý Lắc đầu kết hợp với l lưỡi thể hiện sự thán phục hoặc ngạc nhiên Nếu lắc đầu đi với bĩu môi thể hiện sự coi thường, còn nếu kết hợp với vẻ mặt hầm hầm là tức giận Còn gật đầu thể hiện sự đồng ý Nếu kết hợp với vỗ tay là thể hiện sự tán đồng, khen ngợi Trong giao tiếp, ngẩng đầu hất ra
Trang 25phía sau nói lên sự kiêu hãnh, cúi đầu xuống thể hiện sự xấu hổ hay hối tiếc, đầu gục xuống ngực tỏ nổi buồn phiền, thất vọng
Vận động của hai bàn tay: là phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ không thể thiếu được Khi tỏ ra thân thiện, người ta thường bắt tay Ngay khi bắt tay, bản thân các chủ thể c ng cảm nhận được cảm xúc, tình cảm (hờ hững hay nhiệt tình) của đối tượng giao tiếp Vận động của bàn tay có tác dụng nhắc đối tượng giao tiếp tiếp tục nói hay ngừng; nhanh lên hay chậm đi (cử chỉ giao tiếp này thể hiện rất rõ ở người chỉ huy dàn nhạc)
Thông qua các vận động của tay chân và thân thể trạng thái cảm xúc của các chủ thể giao tiếp được thể hiện rõ rệt Như khi vui vẻ, sảng khoái thì cất bước mau lẹ và nguợc lại
- Giao tiếp bằng tư thế:
Các tư thế vận động trong giao tiếp phi ngôn ngữ có chức năng truyền đạt thông tin về quan hệ, trạng thái hay vai trò, vị trí xã hội của cá nhân
Trong giao tiếp, việc ta đứng thẳng hay khom người; đầu ngẩng lên hay cúi xuống; đứng ngồi tự do, thả lỏng các cơ hay ở tư thế căng thẳng, nghiêm trang đều biểu lộ vị thế khác nhau trong quan hệ xã hội Khi tiếp xúc với người thân, tư thế thường thoải mái, đứng ngồi tự do
Tư thế giao tiếp c ng thể hiện tính cách của người Chẳng hạn, đầu cúi xuống là tỏ ý phục tùng, quỳ mọp thể hiện sự van xin, còn nếu ngẩng đầu cao thể hiện sự kiêu hãnh, tự tin Những người chống cằm, trần ngâm thể hiện tính cách suy tư, chín chắn
Các tâm trạng lo lắng, bằng lòng, vui vẻ của đối tượng c ng thể hiện qua
tư thế giao tiếp Ngồi nhẹ mà tay mân mê đồ vật, lục lọi các thứ trên bàn, gõ thể hiện trạng thái "sốt ruột", "bồn chồn" hay "khó nói"
Vị trí xã hội của cá nhân c ng được thể hiện qua các tư thế giao tiếp Chẳng hạn như nghe cấp dưới trình bày, tư thế của cấp trên thường thoải mái, đầu ngẩng lên cao, thường nhìn lơ là chỗ này chỗ khác Còn cấp dưới nghe cấp trên nói, tư thế thường nghiêng về phía cấp trên, mặt "không dám" nhìn lung tung Việc sử dụng tư thế ở các giới khác nhau là vấn đề thuần phong mỹ tục của
Trang 26mỗi nền văn hoá Ở Việt Nam, phụ nữ thường không ngồi bắt chéo chân, rung đùi, dáng đi ưỡn ẹo Có các tư thế đặc trưng cho các nền văn hoá khác nhau: kiểu bắt chân chữ ng đặc trưng cho người Mỹ, người Nhật khi bắt tay bao giờ
c ng gập người về phía trước, người á Đông vốn thường đi chùn gối khác với người Châu Âu Không biết từ bao giờ, người Việt Nam có thói quen khi bắt tay người trên thường giao cả hai tay để tỏ lòng kính trọng Những hiện tượng này gắn liền với lịch sử phát triển của mỗi nền văn hoá mà chỉ có những cứ liệu lịch
sử và dân tộc học mới có thể giúp chúng ta tìm được nguồn gốc phát sinh ra chúng
- Giao tiếp qua trang phục:
Trong giao tiếp hàng ngày, trang phục của mọi người rất phong phú, đa dạng, mang sở thích cá nhân, không có mọt sự quy định, ràng buộc nào cả Tuy vậy, trong giao tiếp chính thức, trang phục của các chủ thể ít nhiều bị quy định bởi mục đích giao tiếp Mục đích của giao tiếp nhằm trao đổi thông tin mang tính vụ việc, hội họp, bàn luận thì cách ăn mặc phải khác với các cuộc đi chơi, tham quan Các trang phục của con người c ng mang tính đặc trưng đại diện cho nghề nghiệp, lứa tuổi, giới tính trong địa vị xã hội Khi tâm trạng thoải mái, vui vẻ người ta thường trang phục các màu sặc sỡ, ngược lại khi có nỗi buồn, đau khổ thường mặc đồ tối Như vậy, phong cách giao tiếp c ng bị ảnh hưởng bởi cách phục sức trên người
- Khung cảnh xã hội
Trong vấn đề khung cảnh xã hội có hai yếu tố cần lưu ý đó là: Thưòi gian,
Trang 27khen và chê:
+ Thời gian
Đến đúng giờ chứng tỏ anh là người lịch sự, nghiêm túc, có thể tin cậy được, ngược lại, sự sai hẹn là một điều xấu cho người giao tiếp Dĩ nhiên không
ai thích giao tiếp với người thất hứa
- Phê bình, khen chê:
Ai c ng có những điểm yếu, điểm mạnh, làm thế nào để khơi sự thể hiện năng lực của họ, phù hợp với vị thế mà họ đang giữ Ngay cả chủ đề phê bình
c ng phải hết sức tế nhị, phê bình phải giúp họ nhận ra lỗi của mình và cố gắng khắc phục, phê bình phải xuất phát từ tâm, tránh tình trạng "vạch áo cho người xem lưng" Ngược lại khen ai c ng phải có cơ sở , căn cứ, đừng thổi phồng vấn
đề, bởi vì "Khi chúng ta khen hay chê c ng là lúc chúng ta đã gieo vào lòng người khác một niềm tin"
Trong giao tiếp bên cạnh tín hiệu ngôn ngữ thì tín hiệu phi ngôn ngữ giúp cho đối tượng giao tiếp cho đi rất nhiều thông điệp có ý nghĩa Tín hiệu phi ngôn ngữ đó là những cử chỉ, điệu bộ (nhún vai, vẩy tay, chỉ tay); cái bắt tay; thái độ (ân cần, thân thiện, cởi mở, hồ hởi, lạnh lùng, thờ ơ, lãnh đạm, nhạt nhẽo); nụ cười; ánh mắt, nheo mắt; ngôn ngữ không gian; ngôn ngữ thời gian Mặc dù những cử chỉ điệu bộ của con người có thể luyện tập và che đậy được, nhưng nhìn từ một góc độ nào đó khi đã tham gia vào cuộc giao tiếp thì cử chỉ, điệu bộ của con người được điều khiển bởi thói quen và vô thức
Mặt khác, giao tiếp phi ngôn ngữ giữa con người là sự giao tiếp bằng cách gửi và nhận những tín hiệu phi ngôn ngữ Khi trẻ em biết giao tiếp bằng ngôn ngữ, chúng c ng bắt đầu nhìn biểu cảm của khuôn mặt, âm điệu của giọng nói
và những yếu tố phi ngôn ngữ một cách vô thức hơn
1.2.5 Vai trò của giao tiếp trong sự hình thành và phát triển nhân cách
* Vai trò của giao tiếp trong sự hình thành và phát triển nhân cách con người
Giao tiếp là một nhu cầu không thể thiếu được của con người, đó là nhu cầu muốn được tiếp xúc với người khác Một nhu cầu mang tính người sâu đậm
Trang 28Nhu cầu này là nhu cầu xuất hiện đầu tiên ở con người vì khi mới lọt lòng mẹ đứa trẻ có phản xạ rúc đầu vào bụng, vào ngực mẹ: một mặt là muốn tìm vú mẹ nhưng mặt khác là muốn áp vào da thịt để được ôm ấp, vỗ về Có thể nói mối quan hệ với người mẹ qua xúc giác là quan trọng bậc nhất của con người Hiện tượng đó được gọi là sự gắn bó mẹ - con Nếu vì một lý do nào đó con người không được thõa mãn nhu cầu này, thiếu đi mối quan hệ mối quan hệ thiêng liêng gắn bó thì sẽ gây nên ở con người dù bất kỳ lứa tuổi nào những trãi nghiệm tiêu cực, những lo âu chờ đợi cái gì đó không hay xảy ra mặc dù không có cái gì
đe dọa họ cả nghĩa là đứa bé sẽ phát triển không bình thường, ngay cả khi sống đứa trẻ sẽ gặp nhiều khó khăn, làm tổn thương tâm lý đứa trẻ sau này (ở nước
ta, một số bệnh viện phụ sản chủ trương thay vì nuôi trẻ đẻ thiếu tháng trong lồng kính bằng việc cho mẹ ấp ủ trong lòng Kết quả là tỷ lệ sống và phát triển ở trẻ rất cao) Chúng ta có thể kết luận rằng: vắng mẹ từ những ngày đầu mới ra đời là nỗi bất hạnh to lớn đối với trẻ em Trong trường hợp bé bị tách ra khỏi mẹ sớm (do bị chết, do bị ốm cần phải cách li hay do một lý do nào khác), thì điều cần thiết là phải giúp cho trẻ tạo ra được mối quan hệ gắn bó mẹ - con Nhu cầu gắn bó lúc này c ng có thể được thõa mãn bởi người khác, miễn là người đó có lòng yêu thương, miễn là người đó có lòng yêu thương, sẵn sàng ôm ấp vỗ về như chính người mẹ của bé
Giao tiếp tạo ra cơ sở cho sự tồn tại của con người, giúp con người nhận thức và phát triển Con người học làm người thông qua giao tiếp, nói cách khác giao tiếp là phương tiện để con người xã hội hóa thông qua giao lưu lao động và học tập
Giao tiếp là điều kiện tất yếu của sự hình thành và phát triển tâm lý con người, nó là cơ sở để phân biệt giữa thế giới động vật và xã hội loài người, giao tiếp có mặt trong mọi hoạt động của con người và qua đó con người phát triển động cơ, mục đích, nguyện vọng, tình cảm
Nền tảng cho sự tồn tại và phát triển của xã hội là giao tiếp bởi vì xã hội không phải là con số cộng của các cá thể mà là mối quan hệ và sự tương tác của các thành viên trong xã hội thông qua hoạt động lao động và hoạt động giao tiếp
Trang 29Không có sự giao lưu hợp tác giữa các cá nhân, các tổ chức, các quốc gia, xã hội loài người sẽ không phát triển Chính giao tiếp giúp con người truyền đạt những kinh nghiệm, tri thức lịch sử xã hội từ người này sang người khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác, từ quốc gia này sang quốc gia khác Như vậy giao tiếp là để hợp tác và phát triển
* Vai trò của giao tiếp trong sự hình thành, phát triển nhân cách của giáo viên
Giáo viên là người tổ chức, điều khiển quá trình giáo dục trong nhà trường được gọi là chủ thể giao tiếp với nghĩa chung nhất Học sinh là người lĩnh hội tri thức khoa học, kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp do giáo viên truyền đạt cho Với ý nghĩa này học sinh là khách thể trong hoạt động giao tiếp sư phạm Tuy nhiên,
để giáo dục, dạy học đạt kết quả cao, chúng ta không thể coi học sinh là khách thể thụ động, mà các em thực sự là một chủ thể có ý thức, hoạt động tích cực để đón nhận tri thức khoa học của giáo viên Quá trình giao tiếp giữa giáo viên và học sinh bao gồm giữa giáo viên và học sinh, giữa chủ thể và khách thể, giữa chủ thể giao tiếp và chủ thể tiếp nhận, giữa chủ thể và chủ thể Các tiếp xúc tâm lý
mà giáo viên cần tạo ra cho học sinh là tiếp cận được tâm tư; xây dựng không khí tâm lý thuận lợi là tạo cho học sinh có được tâm lý thoải mái khi chuẩn bị tiếp thu những tri thức mới, các em không bị ức chế khi phải tiếp nhận thông tin
từ giáo viên; các quá trình tâm lý khác ở đây được hiểu là trí tưởng tượng, kích thích trí nhớ, sự tư duy và hoạt động của tri giác Từ các vấn đề đó ta thấy rằng giao tiếp sư phạm là điều kiện đảm bảo hoạt động sư phạm Về mục đích của giao tiếp sư phạm thì nằm ngay chính trong khái niệm giao tiếp sư phạm : Nhằm truyền đạt vốn sống, kinh nghiệm, những tri thức khoa học, kỹ năng, kỹ xảo, thói quen nghề nghiệp, xây dựng và phát triển nhân cách toàn diện ở học sinh Còn mục đích của giáo dục là nhằm khơi gợi hoặc biến đổi nhận thức, năng lực, tình cảm và thái độ của người dạy và người học theo hướng tích cực, góp phần hoàn thiện nhân cách người học bằng những tác động có ý thức từ bên ngoài, góp phần đáp ứng các nhu cầu tồn tại và phát triển của con người trong xã hội, nhằm xây dựng nguồn lực con người trở thành động lực cho sự phát triển bền vững
Trang 30Như đã đề cập ở trên: Hoạt động giáo dục chỉ diễn ra trong nhà trường, trong đó chủ yếu là sự giao tiếp giữa giáo viên và học sinh Muốn đạt được mục đích của giáo dục thì trước hết phải đạt được mục đích của giao tiếp sư phạm, chính vì vậy không có giao tiếp sư phạm thì không đạt được mục đích giáo dục Giao tiếp
sư phạm có vị trí quan trọng trong cấu trúc năng lực sư phạm của người giáo viên, là phương tiện thực hiện các nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục và phát triển: thức khoa học, kỹ năng, kỹ xảo, thói quen nghề nghiệp, xây dựng và phát triển nhân cách toàn diện ở học sinh Còn mục đích của giáo dục là nhằm khơi gợi hoặc biến đổi nhận thức, năng lực, tình cảm và thái độ của người dạy và người học theo hướng tích cực, góp phần hoàn thiện nhân cách người học bằng những tác động có ý thức từ bên ngoài, góp phần đáp ứng các nhu cầu tồn tại và phát triển của con người trong xã hội, nhằm xây dựng nguồn lực con người trở thành động lực cho sự phát triển bền vững Như đã đề cập ở trên: Hoạt động giáo dục chỉ diễn ra trong nhà trường, trong đó chủ yếu là sự giao tiếp giữa giáo viên và học sinh Muốn đạt được mục đích của giáo dục thì trước hết phải đạt được mục đích của giao tiếp sư phạm, chính vì vậy không có giao tiếp sư phạm thì không đạt được mục đích giáo dục Giao tiếp sư phạm có vị trí quan trọng trong cấu trúc năng lực sư phạm của người giáo viên, là phương tiện thực hiện các nhiệm
vụ giảng dạy, giáo dục và phát triển: Bác Hồ đã từng nói: “Không có thầy giáo thì không có giáo dục, không có giáo dục, không có cán bộ thì không nói gì đến kinh tế và văn hóa” Bác khẳng đinh vai trò quang trọng, không thể thiếu của người giáo viên Người giáo viên có giỏi hay không được nhận định dựa trên năng lực sư phạm của họ, trong đó giao tiếp sự phạm có vị trí quan trọng Giao tiếp nói chung có nhiều chức năng Trong hoạt động giao tiếp sư phạm c ng có nhiều chức năng, nó là phương tiện phục vụ công việc giảng dạy, là điều kiện xã hội – tâm lý bảo đảm quá trình giáo dục, là phương thức tổ chức các mối quan hệ qua lại giữa thầy và trò Trong việc thực hiện các nhiệm vụ giảng dạy, giao tiếp
sư phạm đảm bảo sự tiếp xúc tâm lý với học sinh: hình thành động cơ học tập tích cực, tạo ra hoàn cảnh tâm lý cho lớp học hay nhóm để tìm tòi, nhận thức và cùng nhau suy nghĩ Trong việc thực hiện các nhiệm vụ giáo dục, nhờ có giao
Trang 31tiếp sư phạm mà có thể giải quyết tốt các mối quan hệ giáo dục và sư phạm, tiếp xúc tâm lý giữa giáo viên và học sinh; hình thành xu hướng nhận thức trong nhân cách; vượt qua sự ngăn cách về tâm lý, hình thành các mối quan hệ trên nhân cách trong tập thể học sinh Trong thực hiện các nhiệm vụ phát triển, giao tiếp sư phạm tạo ra các hoàn cảnh tâm lý kích thích việc hoàn thiện bản thân và
tự giáo dục nhân cách Từ đó, ta thấy rằng giao tiếp sư phạm có tác động khá rộng rãi trong hoạt động sư phạm Giao tiếp sư phạm giữ một vị trí hết sức quan trọng và nổi bật trong cấu trúc năng lực sự phạm, trong dạy học và giáo dục Giao tiếp sư phạm là một khâu quan trọng trong quá trình hình thành nhân cách, phát triển tích cực nhận thức và xã hội của học sinh trong quá trình hình thành tập thể học sinh: Giao tiếp sư phạm gồm những nguyên tắc, những biện pháp và
kỹ xảo tác động lẫn nhau giữa giáo viên với tập thể học sinh mà nội dung cơ bản của nó là trao đổi thông tin, sự tác động về giáo dục và học tập, việc tổ chức mối quan hệ lẫn nhau và c ng là quá trình người giáo viên xây dựng và phát triển nhân cách của học sinh Giao tiếp sư phạm có những đặc thù như sau: Thứ nhất, giáo viên không chỉ giao tiếp với học sinh qua nội dung bài giảng mà họ mà còn phải là tấm gương sáng mẫu mực về nhân cách Phải thống nhất giữa lời nói, việc làm với hành vi ứng xử Có như vậy, giáo viên mới tạo cho mình có uy tín,
uy tín là phương tiện tinh thần giúp giáo viên thực hiện nhiệm vụ đạt hiệu quả cao Thứ nhì, trong giao tiếp sư phạm, giáo viên dùng các biện pháp giáo dục tình cảm, thuyết phục, vận động đối với học sinh Thứ ba, Nhà nước và xã hội ta rất tôn trọng giáo viên Nhân dân ta có truyền thống tôn sư trọng đạo, trọng đạo
lí làm người nên rất tôn trọng đối với nghề thầy giáo: “ Muốn sang thì bắc cầu kiều, Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy ” Ngoài ra, giao tiếp sư phạm còn là một thành tố trong nội dung giáo dưỡng đòi hỏi cần phải dạy cho học sinh Chúng ta cần phải dạy cho học sinh cả nghệ thuật giao tiếp Sự gương mẫu rất quan trọng cho sự thành công của dạy học và giáo dục Từ những vấn đề nêu trên, chúng ta thấy rằng hoạt động giao tiếp sư phạm là một khâu quan trọng, không thể thiếu đối với người giảng viên
Trang 321.3 Kỹ năng giao tiếp
1.3.1 Một số khái niệm
* Kỹ năng
Có hai quan niệm khác nhau về kỹ năng:
Quan niệm thứ nhất: Xem xét kỹ năng nghiêng về mặt kỹ thuật của hành động, người có kỹ năng là người nắm vững tri thức về hành động và thực hiện hành động theo đúng yêu cầu của nó mà không cần tính đến kết quả hành động Quan niệm thứ hai: Xem xét kỹ năng là một biểu hiện năng lực con người chứ không phải đơn thuần là mặt kỹ thuật của hành động Xem kỹ năng là năng lực thực hiện một công việc kết quả với chất lượng cần thiết trong một thời gian nhất định Trong đề tài của mình, chúng tôi chọn quan niệm thứ hai về kỹ năng
* Kỹ năng giao tiếp
Kỹ năng giao tiếp là hệ thống những thao tác, cử chỉ, điệu bộ, hành vi được con người phối hợp hài hòa, hợp lý nhằm đảm bảo kết quả cao trong hoạt động
có sự tiếp xúc giữa con người với con người
Trong kỹ năng giao tiếp bao gồm cả tri thức và logic các thao tác, hành động và hướng tới thực hiện mục đích của hoạt động giao tiếp Khi thực hiện kỹ năng giao tiếp, con người phải sử dụng các phương tiện giao tiếp (ngôn ngữ và phi ngôn ngữ) phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh giao tiếp
Tham khảo các khái niệm về kỹ năng giao tiếp, chúng tôi nêu một định
nghĩa về kỹ năng giao tiếp như sau: Kỹ năng giao tiếp là sự thực hiện có hiệu quả một hành động trong đó hoạt động giao tiếp bằng cách sử dụng các phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ để tác động đến đối tượng, điều khiển bản thân,
tổ chức quá trình giao tiếp nhằm đạt được mục đích đề ra
1.3.2 Phân loại kỹ năng giao tiếp
Dựa vào căn cứ này người ta chia kỹ năng giao tiếp thành ba nhóm kỹ năng chính là:
* Nhóm kỹ năng định hướng: Kỹ năng dựa vào biểu lộ bên ngoài như sắc
thái biểu cảm, ngữ điệu, thanh điệu lời nói, nội dung cử chỉ, điệu bộ, động tác,
Trang 33thời gian, không gian giao tiếp mà phán đoán chính xác về nhân cách c ng như mối quan hệ giữa chủ thể với đối tượng giao tiếp
* Nhóm kỹ năng định vị: Biểu thị kỹ năng biết xác định vị trí giao tiếp, biết
đặt vị trí mình vào vị trí của đối tượng và biết tạo ra điều kiện để đối tượng chủ động giao tiếp với mình
* Nhóm kỹ năng thiết lập mối quan hệ trong giao tiếp
- Biết cách làm quen với người lạ; biết làm cho người lạ gần g i mình
- Biết cách mở đầu câu chuyện đối với đối tượng giao tiếp
- Có khả năng tiếp xúc đám đông
- Có khả năng thích nghi với môi trường mới
- Tiếp xúc với mọi người dễ dàng và tự nhiên
* Kỹ năng biết cân bằng nhu cầu của chủ thể và đối tượng giao tiếp
- Biết kết hợp hài hòa nhu cầu, sở thích của mình với mọi người khi giao tiếp
- Biết quan tâm tới nhu cầu, sở thích của họ
- Thường cố gắng tìm hiểu nhu cầu của người khác
* Kỹ năng lắng nghe đối tượng giao tiếp
- Trong lúc nghe đối tượng giao tiếp thì không suy nghĩ việc riêng
- Nhắc lại được bằng lời những gì đối tượng giao tiếp đã nói
- Diễn đạt chính xác ý đồ trong lời nói của đối tượng giao tiếp
- Nhận biết được ý nghĩa giọng điệu của lời nói
- Nhận ra ngụ ý trong lời nói của đối tượng giao tiếp
- Tập trung lắng nghe
Để có kỹ năng lắng nghe tốt cần tuân thủ các bước sau đây:
- Tập trung: Yếu tố đầu tiên để lắng nghe hiệu quả là tập trung Tập trung
có nghĩa là trong một thời điểm chỉ làm một việc Đối với nhiều người giao tiếp không thành công vì trong khi lắng nghe người khác truyền tải thông điệp thì để các công việc khác xen vào Kết quả là thông điệp được truyền tải từ người nói đến người nghe không có một cách hiểu như nhau Tập trung lắng nghe c ng là
Trang 34biểu hiện tôn trọng người nói, giúp người nói có thêm sự tin tưởng để giao tiếp cởi mở hơn
- Tham dự: Có người nói phải có người nghe, người gửi phải có người nhận Tham dự trong lắng nghe được biểu hiện bằng sự chú ý của đôi mắt, những cái gật đầu của người nghe; về ngôn từ là những từ đệm: dạ, vâng, ạ, thế
à, thật không?
- Hiểu: Nhiều cuộc giao tiếp diễn ra theo kiểu “Ông nói gà, bà nói vịt” vì không hiểu được thông điệp của giao tiếp Để hiểu được thông điệp của người gửi, yêu cầu người nghe phải xác định lại thông điệp bằng cách trình bày lại nội dung của người nói theo ý hiểu của mình hoặc bằng cách đặt câu hỏi để xác định như: tôi hiểu như thế này có đúng không?
- Ghi nhớ: Ghi nhớ thông điệp chính
- Hỏi đáp: Giao tiếp là quá trình tương tác 2 chiều giữa người gửi và người nhận Sau khi nhận thông điệp, bước tiếp theo cần có sự hồi đáp với người gửi Như vậy mới có thể hoàn chỉnh quá trình giao tiếp c ng như lắng nghe
- Phát triển: Giao tiếp không phải là một thời điểm mà là một quá trình Quá trình hồi đáp là sự chấm dứt cho một chu trình mới Chu trình lắng nghe vừa miêu tả là một mô hình khép kín và diễn ra theo chiều xoáy trôn ốc đi lên
Lắng nghe một cách hiệu quả là lắng nghe như thể bạn là người Bác sỹ đang chẩn đoán triệu chứng của bệnh nhân, hoặc là một phi công đang tiếp xúc với đài kiểm soát trong một cơn bão Người biết lắng nghe là người biết tiếp nhận những thông tin mới, những ý kiến mới và lợi điểm là nắm được thông tin, cập nhật hoá thông tin, và giải quyết được vấn đề
* Kỹ năng tự chủ cảm xúc hành vi
- Kiềm chế được trêu chọc, khích bác, nói xấu
- Giữ được bình tĩnh khi người tiếp xúc có định kiến, chụp m mình
- Tự chủ cảm xúc, hành vi của mình khi tranh luận
- Không bị mất cân bằng cảm giác
* Kỹ năng tự kiềm chế kiểm tra đối tượng giao tiếp
- Áy náy khi xen vào chuyện người khác
Trang 35- Biết hay khuyên bảo, chỉ dẫn người khác trong giao tiếp là không tốt
- Biết cách an ủi những người đang có điều gì lo lắng, buồn phiền
- Biết ngăn cản người hay nói
- Biết cách tác động vào người đang lúng túng, bối rối
- Biết làm cho người nói chuyện bị xúc động chi phối ngừng lời
* Kỹ năng diễn đạt cụ thể, dễ hiểu
- Nói chuyện hấp dẫn, có duyên
- Diễn đạt ngắn gọn ý kiến của mình
- Biết nhiều lời trong giao tiếp là không tốt
- Nhận ra người khác nói chuyện rời rạc Khi trao đổi thông tin với ai đó, để đạt được mục đích giao tiếp ta phải trải qua quá trình truyền thông Tuy nhiên, làm thế nào để thông điệp bạn muốn gửi cho người nhận đến “đích” và đạt hiệu quả cao, bạn phải hiểu được quá trình truyền thông và kỹ năng diễn đạt Trong giao tiếp, chúng ta không nên lạm dụng lời nói quá nhiều dẫn đến nhiều lời, dong dài; chỉ nên nói những gì cần nói, nói nhiều quá sẽ làm giảm giá trị lời nói của bản thân
* Kỹ năng linh hoạt mềm dẻo trong giao tiếp
- Tiếp thu ý kiến, quan điểm của người khác
- Chú ý tới lý lẽ mới của đối tượng giao tiếp
- Không bảo thủ giữ khư khư ý kiến trong tranh luận nếu biết sai lầm
- Biết được “gió chiều nào che chiều đó” là không tốt
- Biết được thái độ, phản ứng của đối tượng giao tiếp là những thông tin rất quan trọng cần để ý tới
- Thay đổi quan điểm trong tình thế câu chuyện đã theo hướng khác
* Kỹ năng thuyết phục đối tượng trong giao tiếp
Thuyết phục là khả năng dùng các công cụ gây ảnh hưởng làm cho người khác làm một điều gì đó
Tác giả Dale Carnegie cho rằng, thuyết phục được hiểu là: “cách duy nhất buộc người khác làm bất cứ điều gì là khiến cho họ thích làm điều đó” [7]
Để thuyết phục hiệu quả có rất nhiều cách:
Trang 36- Sử dụng uy tín: trình độ, chú tâm, danh tiếng, nhân cách
- Lập luận lôgic: Để lập luận lôgic thì luận cứ, chứng cứ giữ vai trò rất quan trọng
- Thể hiện tình cảm Ông bà ta có câu: “Một bồ cái lý không bằng một tí cái tình” V.P.Dakharop cho rằng một người có kỹ năng thuyết phục trong lúc giao tiếp là người có những năng lực sau:
- Biết dùng tình cảm để tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của người khác
- “Nói có sách, mách có chứng” khi tranh luận
- Biết đầu tư thời gian thuyết phục người trái ý với mình
* Kỹ năng điều khiển quá trình giao tiếp
- Biết cách tạo bầu không khí tin tưởng, giúp đỡ nhau trong lớp
- Tổ chức, đề xướng các hoạt động tập thể và các cuộc vui của bạn bè
- Giữ vai trò tích cực, sôi nổi trong hoạt động chung
- Hướng mọi người tập trung dứt điểm việc nào đó khi chuyển sang việc khác
- Tự tin trong khi trò chuyện
* Sự nhạy cảm trong giao tiếp
- Áy náy khi làm phiền người khác
- Biết được thái độ của đối tượng giao tiếp đối với mình
- Động lòng trước đứa trẻ khóc
- Nhạy cảm với nỗi đau của bạn b và người thân
- Áy náy, băn khoăn với sự khó chịu của bạn b , người thân
- Nắm bắt trạng thái của người khác
- Động lòng khi thấy người bên cạnh đau khổ Trong khóa luận này, chúng tôi chọn cách phân loại kỹ năng giao tiếp của V.P.Dakkarop để tìm hiểu thực trạng về kỹ năng giao tiếp của giáo viên với trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi ở Trường mầm non Đồng Phú, Đồng Hới, Quảng Bình
1.3.3 Trò chơi đóng vai theo chủ đề
1.3.3.1 Khái niệm trò chơi đóng vai theo chủ đề
Trò chơi đóng vai theo chủ đề là một loại hoạt động mà trẻ mô phỏng lại
Trang 37một mảng nào đó của cuộc sống người lớn trong xã hội bằng việc nhập vào các vai, tức là ướm mình vào một người nào đó để hành động theo chức năng của họ trong mối quan hệ xã hội Bản chất của trò chơi đóng vai theo chủ đề là một mô phỏng những quan hệ xã hội, mà trẻ chịu sự chi phối của chúng Đó là quan hệ giữa người lớn với nhau trong xã hội, cách ứng xử, hành vi ứng xử văn minh được trẻ em quan tâm và trở thành đối tượng hành động của chúng
1.3.3.2 Cấu trúc trò chơi đóng vai theo chủ đề
Cấu trúc của trò chơi đóng vai theo chủ đề gồm 4 phần:
* Chủ đề và nội dung chơi trò chơi đóng vai theo chủ đề
Chủ đề chơi được phát triển không chỉ theo số lượng mà còn được phức tạp hóa dần và được mở rộng Chẳng hạn, c ng là trò chơi theo chủ đề sinh hoạt của gia đình, nhưng ở trẻ Mẫu giáo bé thường chỉ thể hiện rất đơn giản như: Mẹ cho con ăn, mẹ bế con, cho con ngủ, đưa con đi học… Còn đến Mẫu giáo nhỡ - Mẫu giáo lớn không chỉ dừng ở quan hệ mẹ con mà còn quan hệ với những nhân vật khác nữa như: Mẹ đưa con đi học gặp cô giáo, mẹ đưa con đi khám bệnh gặp các cô y tá và bác sỹ… như vậy cùng một chủ đề chơi nhưng ở mỗi lứa tuổi trẻ lại tái tạo các mặt khác nhau của hiện thực cuộc sống, ở lứa tuổi sau càng sâu sắc
và đa dạng hơn so với lứa tuổi trước
Chính vì thế, bên cạnh các chủ đề chơi cần chú ý đến mặt nội dung chơi Nội dung của trò chơi là những hoạt động của người lớn mà đứa trẻ nhận thức và phản ánh trò chơi của mình Đó là hoạt động của người lớn với các đồ vật, mối quan hệ giữa người với người, những yếu tố đạo đức thẩm mỹ Nội dung trò chơi
ta cần xem xét khía cạnh tiêu cực hay tích cực của mảng hiện thực mà trẻ em tái tạo bởi lẽ đời sống xã hội của người lớn hết sức phong phú và phức tạp Bên cạnh những việc tốt, người tốt còn có nhiều việc tiêu cực xen lẫn vào Điều này
c ng được phản ánh nhạy bén vào trò chơi của trẻ Nếu không kịp thời quan tâm, giáo dục thì trẻ sẽ có những trò chơi tiêu cực như: cãi nhau hoặc những cảnh đánh nhau, tranh giành nhau…
Vai trò của người giáo dục không những giúp trẻ có được những chủ đề chơi ngày càng phong phú, rộng lớn mà còn giúp trẻ nắm được những hành động
Trang 38của người lớn trong cuộc sống thực, hiểu được những mối quan hệ qua lại giữa người lớn trong xã hội theo chức năng của mỗi người và đặc biệt là giúp trẻ phân biệt được cái tốt cái xấu, cái đúng, cái sai trong những mối quan hệ ấy, nhằm giúp trẻ tạo được cái hay, cái đẹp trong mảng hiện thực xung quanh và tránh bắt chước những hành vi sai trái thô bạo mà trong xã hội vẫn còn tồn tại
* Vai chơi và hành động chơi:
Như chúng ta đã biết, trò chơi đóng vai theo chủ đề xuất hiện là để thỏa
mãn nhu cầu của trẻ muốn được như người lớn Trong thực tế trẻ chưa thực hiện chức năng xã hội của con người nào đó mà trẻ đã trông thấy bằng cách nhập vai vào một lúc là ướm mình vào vị trí của người lớn và bắt chước hành động của người đó Vai chơi là yếu tố quan trọng để tạo nên trò chơi Đóng vai có ý nghĩa
là tái tạo lại hành động của một người lớn với đồ vật trong những mối quan hệ nhất định với những người xung quanh Trong vui chơi trẻ nhận làm chức năng
xã hội của một người nào đó, thường là chức năng mang tính chất nghề nghiệp như: lái xe, dạy học,chữa bệnh, bán hàng… Đây chính là con đường để trẻ xâm
nhập vào cuộc sống của người lớn xung quanh
Muốn trở thành một vai trò trong trò chơi, điều quan trọng nhất là phải biết thực hiện hành động của vai chơi đó, ví dụ: bác sỹ phải biết khám bệnh, người bán hàng phải biết bán hàng… Những hành động này phải xuất phát từ hành động thực tế mà trẻ đã trông thấy trong cuộc sống đời thực hay được nghe kể lại, nhưng thao tác của hành động lại phụ thuộc vào đồ chơi Chẳng hạn trong trường hợp trẻ lấy cây gậy thay cho con ngựa, khi đó thao tác của trẻ phù hợp với cái gậy chứ không phải là con ngựa Điều này chứng tỏ hành động chơi và thao tác chơi đều phải phù hợp vào điều kiện thực tế Vai chơi trong trò chơi quy định
hành động của trẻ đối với đồ vật và cả hành động của trẻ đối với bạn cùng chơi
Tuy nhiên đây chỉ là hành động mô phỏng, nó không hoàn toàn giống như hành động của người lớn, bởi vì mục đích động cơ của hành động chơi không nhằm vào kết quả chơi mà nó nằm trong quá trình chơi Do đó hành động chơi không đòi hỏi phải có thao tác đúng kỹ thuật mà chỉ cần phỏng theo hình thức của nó và mang tính chất khái quát
Trang 39Chính tính khái quát mang tính ước lệ của hành động chơi cho phép trẻ tiến hành trò chơi trong những điều kiện các đồ chơi khác nhau Ví dụ: Khi làm đoàn tàu trẻ có thể xếp các ghế lại với nhau để tạo thành đoàn tàu và trẻ c ng có thể xếp các khối gỗ lại với nhau để tạo thành đoàn tàu…
*Những mối quan hệ qua lại giữa trẻ và trò chơi:
Trò chơi là một hoạt động chung đầu tiên và cơ bản của trẻ Mẫu giáo,trong
đó có hai mối quan hệ qua lại giữa những trẻ cùng tham gia trò chơi đó là quan
hệ thực và quan hệ chơi
+ Những mối quan hệ thực: Đó là mối quan hệ qua lại giữa những trẻ là những người cùng tham gia vào trò chơi, cùng thực hiện một công việc chung, trẻ tập hợp thành một nhóm để bàn bạc với nhau về chủ đề chơi, việc phân vai, thỏa thuận với nhau về quy tắc, hành vi của vai này vai nọ và giải quyết các vấn
đề nảy sinh trong quá trình chơi
+ Những mối quan hệ chơi: Đó là những mối quan hệ qua lại của các vai trong trò chơi theo một chủ đề nhất định mô phỏng lại mối quan hệ của người lớn trong xã hội như quan hệ giữa mẹ và con trong trò chơi gia đình,quan hệ giữa người bán hàng và người mua hàng trong trò chơi bán hàng hay quan hệ giữa bác sỹ và bệnh nhân trong trò chơi bác sỹ… Đó là những mối quan hề được trẻ quan tâm và trở thành đối tượng hành động của chúng
Trò chơi đóng vai theo chủ đề là một mô hình của những mối quan hệ người lớn và phương tiện định hướng cho trẻ em vào những mối quan hệ ấy Trong đó trò chơi đóng vai theo chủ đề, các quan hệ được diễn ra rõ rệt Việc thực hiện hành động của vai chơi là phải tạo ra các mối quan hệ với vai khác, sức sống của trò chơi đóng vai theo chủ đề là ở chỗ nó tạo ra được những mối quan
hệ giữa các vai Đó chính là bản chất xã hội của trò chơi đóng vai theo chủ đề Trò chơi của trẻ đó chính là cái xã hội người lớn thu nhỏ và c ng chứa đầy những mối quan hệ phức tạp Những mối quan hệ xã hội được mô phỏng vào trò chơi có một đặc điểm đáng lưu ý là nó làm nảy sinh luật lệ buộc trẻ phải tuân theo như những quy tắc của xã hội (luật chơi), chơi như thế đứa trẻ tự chấp nhận những chuẩn mực của cuộc sống xã hội, của những quan hệ giữa người lớn với
Trang 40nhau, giữa trẻ em với người lớn, giữa trẻ với trẻ… Chẳng hạn khi chơi trò chơi
“Bán hàng” người chơi phải trả tiền (dù tiền chỉ là mảnh giấy nhỏ) mới được lấy hàng, vì nếu không tuân thủ theo luật lệ ấy thì bị coi là đồ ăn cắp Như vậy luật
lệ hành động của các vai được nảy sinh từ các mối quan hệ được xác lập giữa những đứa trẻ tham gia trò chơi Những trò chơi theo nhóm như vậy làm bộc lộ lên những mối quan hệ xã hội và hành vi của trẻ phải phục tùng các luật lệ do các mối quan hệ đó quy định sự phát triển đó là điều kiện quan trọng nhất để nhận biết chính nguyên lý của luật chơi và đó c ng là cơ sở làm nảy sinh ra bản thân: “trò chơi có luật”
* Đồ chơi và hoàn cảnh chơi: Để có một buổi hoạt động vui chơi được
tiến hành đúng luật có kết quả tốt trước hết phải có đồ chơi Có 2 loại đồ chơi:
Một là do người lớn làm cho trẻ, mô phỏng theo những đồ vật thật như con búp bê, đồ dùng nấu ăn bằng nhựa, đồ chơi bác sỹ, các loại phương tiện giao thông…
Hai là những đồ vật thay thế cho đồ vật thực Trong khi thực hiện hành động vui chơi, trẻ không có những đồ vật tương ứng Để cho hành động chơi được tiến hành theo chủ đề và nội dung chơi đã được đặt ra, trẻ cần phải lấy các
đồ vật khác để thay thế cho vật thật tương ứng Chẳng hạn, trẻ dùng cái gối thay cho em bé, dùng ghế thay cho toa tàu, dùng gậy thay cho con ngựa…
Do đồ chơi không phải là đồ vật thực tương ứng vơi hành động của vai mà chỉ là vật thay thế nên khi trẻ thao tác với đồ vật thay thế thì những thao tác này không tương ứng với hành động chơi từ đó buộc trẻ phải tưởng tượng ra một hoàn cảnh chơi tương ứng, chẳng hạn khi đóng vai người lái xe do không có “vô lăng” thực mà chỉ là vật thay thế bằng ghế, trẻ cầm vào thành ghế thay cho “vô lăng” miệng kêu “píp píp” thay cho ôtô từ đó nảy sinh ra một hoàn cảnh tưởng tượng trong đầu đứa trẻ đang lái ôtô
Nhiều công trình nghiên cứu trò chơi của trẻ Mẫu giáo đã nhận định rằng:
Do đồ chơi là vật thay thế nên thao tác chơi của trẻ không trùng khớp với hành động chơi, đó là lí do làm nảy sinh hoàn cảnh tưởng tượng (tức là hoàn cảnh chơi) Từ đó, cần phải nhấn mạnh rằng hành động chơi không được nảy sinh ra