1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ mẫu giáo 5 6 tuổi thông qua chế độ sinh hoạt hàng ngày ở trường mầm non bảo ninh, đồng hới, quảng bình

90 763 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 1,32 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Biện pháp 4: Phối hợp chặt chẽ giữa gia đình - nhà trường trong việc giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi thông qua chế độ sinh hoạt hằng ngày ..... Thực tế hiện nay, tro

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khóa luận này, tôi xin tô lòng biết ơn såu sắc đến Cô giáo ThS Nguyễn Thị Xuån Hương đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện

Tôi xin chån thành câm ơn quý Thæy, Cô trong khoa Sư phäm Tiểu học

- Mæm non, Trường Đäi Học Quâng Bình đã tận tình truyền đät kến thức

trong những năm tôi học tập Với vốn kiến thức được tiếp thu trong quá trình học không chî là nền tâng cho quá trình nghiên cứu khóa luận læn này mà còn là hành trang quý báu để tôi bước vào nghề một cách vững chắc và tự tin

Kính chúc quý Thæy, Cô dồi dào sức khôe và thành công trong sự nghiệp của

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu này là của riêng tôi, các số liệu và kết quả trong khóa luận này là trung thực và chƣa đƣợc công bố trong bất kỳ một công trình nào khác

Đồng Hới, tháng 05 năm 2018

Tác giả

Lê Thị Mỹ Hạnh

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 2

3.1 Đối tượng nghiên cứu 2

3.2 Khách thể nghiên cứu 2

4 Giả thuyết khoa học 2

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

6 Phương pháp nghiên cứu 3

6.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận 3

6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn 3

7 Phạm vi và thời gian nghiên cứu 4

7.1 Phạm vi nghiên cứu 4

7.2 Thời gian nghiên cứu 4

8 Đóng góp mới của đề tài nghiên cứu 4

9 Cấu trúc đề tài 4

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐẠO ĐỨC VÀ GIÁO DỤC HÀNH VI ĐẠO ĐỨC TRẺ MẪU GIÁO THÔNG QUA CHẾ ĐỘ SINH HOẠT HẰNG NGÀY 6

1.1 Tổng quan về lịch sử nghiên cứu vấn đề 6

1.1.1 Những nghiên cứu ở nước ngoài 6

1.1.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam 7

1.2 Một số vấn đề lý luận về giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi thông qua chế độ sinh hoạt hằng ngày 9

1.2.1 Đạo đức và giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ mẫu giáo 9

1.2.2 Ý nghĩa giáo dục đạo đức đối với trẻ em lứa tuổi mẫu giáo 14

1.2.3 Nội dung cơ bản của giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi 17

1.2.4 Phương pháp giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi 18

1.2.5 Đặc điểm hoạt động giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi 21

Trang 4

1.2.6 Khái quát đặc điểm tâm lý trẻ 5 - 6 tuổi 22

1.3 Chế độ sinh hoạt của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi tại trường mầm non 25

1.3.1 Chế độ sinh hoạt và ý nghĩa của nó đối với quá trình giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi 25

1.3.2 Yêu cầu đối với việc xây dựng chế độ sinh hoạt hằng ngày cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi 26

1.3.3 Nội dung chế độ sinh hoạt của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi tại trường mầm non 26

1.4 Giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ mẫu giáo thông qua chế độ sinh hoạt hàng ngày 27

1.4.1 Đón trẻ, hoạt động tự chọn, thể dục sáng, điểm danh 28

1.4.2 Hoạt động học 29

1.4.3 Hoạt động ngoài trời 30

1.4.4 Chơi, hoạt động ở các góc 31

1.4.5 Vệ sinh - ăn trưa 32

1.4.6 Ngủ trưa 33

1.4.7 Vệ sinh - ăn phụ 33

1.4.8 Chơi, hoạt động theo ý thích 33

1.4.9 Trẻ chuẩn bị ra về và trả trẻ 34

1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ mẫu giáo thông qua chế độ sinh hoạt hằng ngày ở trường mầm non 35

1.5.1 Yếu tố chủ quan 35

1.5.2 Yếu tố khách quan 35

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 37

CHƯƠNG 2 TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 38

2.1 Vài nét về địa bàn và khách thể nghiên cứu 38

2.1.1 Vài nét về địa bàn nghiên cứu 38

2.1.2 Vài nét về khách thể nghiên cứu 39

2.2 Tổ chức nghiên cứu 40

2.3 Triển khai nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu cụ thể 40

2.3.1 Nghiên cứu lý luận 40

Trang 5

2.3.2 Nghiên cứu thực trạng 40

2.4 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể 41

2.4.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận 41

2.4.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn (thực trạng) 41

2.4.3 Phương pháp thống kê toán học 44

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 46

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VÀ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC HÀNH VI ĐẠO ĐỨC CHO TRẺ MẪU GIÁO 5 - 6 TUỔI THÔNG QUA CHẾ ĐỘ SINH HOẠT HẰNG NGÀY Ở TRƯỜNG MẦM NON BẢO NINH - ĐỒNG HỚI - QUẢNG BÌNH 47

3.1 Thực trạng giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi thông qua chế độ sinh hoạt hằng ngày ở trường mầm non Bảo Ninh - Đồng Hới - Quảng Bình 47

3.1.1 Nhận thức của giáo viên về tầm quan trọng của GDHVĐĐ cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi? 47

3.1.2 Đánh giá của giáo viên về một số biểu hiện HVĐĐ của trẻ thông qua CĐSHHN 48 3.1.3 Mức độ sử dụng các nội dung CĐSHHN để GDHVĐĐ cho trẻ 52

Vệ sinh - Ăn phụ 52

3.1.4 Nội dung giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ thông qua CĐSHHN 53

3.1.5 Phương pháp giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ thông qua CĐSHHN 55

3.1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình GDHVĐĐ cho trẻ thông qua CĐSHHN 57

3.1.7 Những khó khăn và thuận lợi trong quá trình giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ thông qua chế độ sinh hoạt hằng ngày 60

3.2 Biện pháp giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi thông qua chế độ sinh hoạt hằng ngày 61

3.2.1 Biện pháp 1: Sử dụng các tình huống giáo dục trong quá trình thực hiện chế độ sinh hoạt tại trường mầm non 61

3.2.2 Biện pháp 2: Lựa chọn nội dung giáo dục hành vi đạo đức vào kế hoạch tổ chức các hoạt động trong chế độ sinh hoạt hằng ngày 63

3.2.3 Biện pháp 3: Tổ chức cho trẻ đánh giá và tự đánh giá hành vi đạo đức thông qua các hoạt động tại trường mầm non 64

Trang 6

3.2.4 Biện pháp 4: Phối hợp chặt chẽ giữa gia đình - nhà trường trong việc giáo dục hành

vi đạo đức cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi thông qua chế độ sinh hoạt hằng ngày 66

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 68

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 69

1 Kết luận 69

2 Kiến nghị 70

TÀI LIỆU THAM KHẢO 72

PHỤ LỤC 1 73

PHỤ LỤC 2 80

PHỤ LỤC 3 81

Trang 7

DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

1 CĐSHHN Chế độ sinh hoạt hằng ngày

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

1 Bảng 3.1 Tầm quan trọng của GDHVĐĐ đối với trẻ mẫu giáo

2 Bảng 3.2 Biểu hiện hành vi đạo đức của trẻ mẫu giáo lớn thông qua CĐSHHN

3 Bảng 3.3 Mức độ sử dụng các nội dung CĐSHHN để GDHVĐĐ cho trẻ

4 Bảng 3.4 Nội dung giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ thông qua CĐSHHN

5 Bảng 3.5 Phương pháp giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ thông qua CĐSHHN

6 Bảng 3.6 Các yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến quá trình GDHVĐ Đ cho trẻ thông qua CĐSHHN

7 Bảng 3.7 Các yếu tố khách quan ảnh hưởng đến quá trình GDHVĐĐ cho trẻ thông qua CĐSHHN

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân với nhiệm vụ trọng tâm là góp phần phát triển toàn diện nhân cách trẻ Chủ tịch

Hồ Chí Minh lúc sinh thời luôn quan tâm, dành tình cảm đặc biệt và nhắc nhở

mọi người chăm lo cho thế hệ tương lai, Bác nói: “Trẻ em là hạnh phúc của mọi

gia đình, là người chủ tương lai của dân tộc, là người kế tục sự nghiệp xây dựng

và bảo vệ tổ quốc” Nhà nước, xã hội, gia đình và mọi công dân phải có trách

nhiệm nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục để các em phát triển toàn diện cả Đức – Trí – Thể - Mỹ Giáo dục mầm non là những mắt xích đầu tiên của hệ thống giáo dục Nhân cách của trẻ cũng được hình thành và phát triển trong giai đoạn lứa tuổi này Vì vậy, giáo dục trẻ trong độ tuổi mầm non vô cùng quan trọng Đặc biệt là việc giáo dục đạo đức cho trẻ mầm non

Giáo dục đạo đức thực sự có vai trò quan trọng trong sự hình thành và phát triển nhân cách của trẻ lứa tuổi mầm non Giáo dục đạo đức giúp hình thành những nét tính cách tốt ở trẻ như: Lòng nhân ái, thói quen giúp đỡ người khác, thói quen nhường nhịn chia sẻ cùng bạn bè giúp hoàn thiện năng lực đánh giá mình và người khác, năng lực tự điều chỉnh hành vi của mình, năng lực tự kiềm chế Tất cả những nét tính cách và năng lực trên tạo nên bản sắc và giá trị xã hội của một người hay nói rõ hơn nó tạo thành nhân cách của một con người Chính vì vậy, để nâng cao chất lượng giáo dục nói chung và giáo dục đạo đức cho trẻ mầm non nói riêng thì việc tìm ra phuong thức giáo dục đạo đức đạt hiệu quả là vấn đề cần thiết, rất quan trọng và được quan tâm, chú ý một cách đặc biệt trong trường mầm non hiện nay

Giáo dục hành vi đạo đức là một bộ phận của giáo dục đạo đức cho trẻ Có rất nhiều phương tiện, cách thức để giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ mầm non, song nên tận dụng môi trường hoạt động thực tế để giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ, ví dụ như thông qua chế độ sinh hoạt hằng ngày của trẻ tại trường Với trẻ nhỏ, việc lĩnh hội chuẩn mực thông qua hành vi, từ hành vi sẽ hình thành thói quen, từ thói quen đạo đức sẽ hình thành nên những nét nhân cách tốt đẹp của

Trang 10

trẻ sau này Như nhà thơ Scotland Samuel Smiles từng nói: “Gieo suy nghĩ gặt thành công, gieo hành động gặt thói quen, gieo thói quen gặt tính cách, gieo tính cách gặt số phận”

Thực tế hiện nay, trong các trường mầm non việc giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ thông qua chế độ sinh hoạt hằng ngày đã được quan tâm, song vẫn còn nhiều hạn chế trong việc lựa chọn nội dung cũng như cách thức tiến hành giáo dục nên chưa đạt hiệu quả cao Chính vì vậy, chúng tôi lựa chọn đề tài “Giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi thông qua chế độ sinh hoạt hằng ngày ở trường Mầm non Bảo Ninh - Đồng Hới - Quảng Bình” để làm đề tài khóa luận của mình

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi thông qua chế độ sinh hoạt hằng ngày ở trường Mầm non Bảo Ninh - Đồng Hới - Quảng Bình, từ đó đề xuất một số biện pháp góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Quá trình giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi thông qua chế độ sinh hoạt hằng ngày ở trường Mầm non Bảo Ninh - Đồng Hới - Quảng Bình

3.2 Khách thể nghiên cứu

Trẻ mẫu giáo lớn (5 - 6 tuổi) ở trường Mầm non Bảo Ninh - Đồng Hới - Quảng Bình

Giáo viên trường Mầm non Bảo Ninh - Đồng Hới - Quảng Bình

4 Giả thuyết khoa học

Việc tổ chức chế độ sinh hoạt hàng ngày cho trẻ ở trường mầm non có ý nghĩa vô cùng quan trọng: Góp phần phát triển thể chất, tinh thần cho trẻ; góp phần giáo dục nề nếp sinh hoạt chuẩn mực, từ đó góp phần giáo dục hành vi đạo đức ở trẻ Nếu việc tổ chức chế độ sinh hoạt hằng ngày cho trẻ một cách khoa học, hợp lý thì sẽ góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ

Trang 11

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi thông qua chế độ sinh hoạt hằng ngày

- Khảo sát, đánh giá thực trạng giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ mẫu giáo 5

- 6 tuổi thông qua chế độ sinh hoạt hằng ngày ở trường Mầm non Bảo Ninh - Đồng Hới - Quảng Bình

- Đề xuất một số biện pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi thông qua chế độ sinh hoạt hàng ngày

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

Sử dụng các phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát hóa, hệ thống hóa những vấn đề lý luận liên quan đến nội dung nghiên cứu

6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

6.2.1 Phương pháp quan sát

Dự giờ, quan sát, ghi chép lại cách tổ chức chế đội sinh hoạt hằng ngày cho trẻ ở trường mầm non Đặc biệt theo dõi kỹ năng thực hiện hành vi của trẻ trong quá trình thực hiện chế độ sinh hoạt theo yêu cầu của giáo viên

6.2.2 Phương pháp điều tra viết (Ankét)

- Sử dụng phiếu điều tra Ankét để tìm hiểu thực trạng giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi thông qua chế độ sinh hoạt hằng ngày ở trường Mầm non

- Nhằm khảo sát, tìm hiểu nhận thức, đánh giá của giáo viên về biểu hiện hành vi đạo đức của trẻ trong chế độ sinh hoạt hằng ngày ở trường mầm non Những yếu tố ảnh hưởng và các biện pháp giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ thông qua chế độ sinh hoạt hằng ngày

6.2.3 Phương pháp trò chuyện

- Trao đổi với giáo viên nhằm thu thập thêm những thông tin cụ thể về trẻ, những thuận lợi và khó khăn trong quá trình giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ và

Trang 12

những nhận xét đánh giá một cách trực tiếp về các biểu hiện hành vi đạo đức của trẻ thông qua chế độ sinh hoạt hằng ngày

- Trao đổi với phụ huynh để tìm hiểu thêm về biểu hiện và cách giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ ở gia đình

6.2.4 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm

Trao đổi, hỏi kinh nghiệm của giáo viên về biện pháp giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ ở độ tuổi mẫu giáo lớn

6.2.5 Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động

6.2.6 Phương pháp thống kê toán học

Sử dụng một số công thức toán học để phân tích, xử lý các số liệu thu thập được, làm cơ sở đưa ra những nhận định, đánh giá về mặt định tính một cách khách quan về các kết quả nghiên cứu

7 Phạm vi và thời gian nghiên cứu

7.2 Thời gian nghiên cứu

Bắt đầu nghiên cứu từ tháng 12/2017 đến tháng 5/2018

8 Đóng góp mới của đề tài nghiên cứu

- Góp phần hệ thống hóa lý luận về đạo đức và giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi thông qua chế độ sinh hoạt hằng ngày

- Đánh giá thực trạng giáo dục hành vi đạo đức thông qua chế đội sinh hoạt

hằng ngày ở trường Mầm non Bảo Ninh - Đồng Hới - Quảng Bình

- Xây dựng một số biện pháp giáo dục hành vi đạo đức thông qua chế độ sinh hoạt hằng ngày

9 Cấu trúc đề tài

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và kiến nghị thì nội dung của khóa luận gồm có 3 chương, cụ thể:

Trang 13

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về đạo đức và giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ mẫu giáo thông qua chế độ sinh hoạt hằng ngày

Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Thực trạng và biện pháp giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi thông qua chế độ sinh hoạt hằng ngày ở trường mầm non Bảo Ninh - Đồng Hới - Quảng Bình

Trang 14

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐẠO ĐỨC VÀ GIÁO DỤC HÀNH VI ĐẠO ĐỨC TRẺ MẪU GIÁO THÔNG

QUA CHẾ ĐỘ SINH HOẠT HẰNG NGÀY

1.1 Tổng quan về lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Những nghiên cứu ở nước ngoài

Ở các quốc gia trên thế giới, việc GDHVĐĐ cho học sinh đều được đặc biệt quan tâm từ xưa cho đến nay Các nhà tư tưởng, các nhà khoa học giáo dục đều nghiên cứu để tìm ra các con đường, phương pháp giáo dục hiệu quả về giáo dục hành vi trong đó có HVĐĐ, tiêu biểu như: Khổng tử (551 - 479 TCN), L.S Vygoxtky (1896 - 1934), C.Rogers (1902 - 1978), B F Skiner (1904 - 1990), J.Piaget (1896 - 1980), F Dolto (1908 - 1988), J Delore, T.A Ilina, N.S Savin…

Quan điểm về đạo đức, HVĐĐ của Khổng tử bao gồm rất nhiều mặt như nhân, lễ, nghĩa, tín, trí, dũng… nhưng trong đó quan trọng hơn là “nhân” Nhân, một mặt là lòng thương con người, “điều mà mình không muốn thì đừng làm cho người khác”, trái lại “mình muốn lập thân thì giúp người khác lập thân, mình uốn thành đạt thì cũng giúp người khác thành đạt” Đồng thời đối với ản thân thì phải “kiềm chế mình làm đúng theo lễ”, “không hợp lễ thì không làm” [7] L.S Vưgôtxki cho rằng, con người sinh ra đã có tính xã hội, tính xã hội phát triển sớm ở trẻ qua trung gian của người lớn mà trẻ em tham gia vào các hoạt động do nó tiến hành Một cách tuyệt đối, mọi thứ gì đó trong hành vi ứng

xử của trẻ đều được hòa tan, đều được bắt rễ trong cái xã hội Theo ông, giáo dục hành vi ứng xử cho trẻ phải nhìn nhận và đặt trong các mói quan hệ với cộng đồng, để cộng đồng tiếp nhận và điều chỉnh hành vi đó dưới sự quan sát cuả nhà sư phạm Qua đây ta thấy GDHVĐĐ được L.S Vưgôtxki thể hiện rõ qua việc nghiên cứu hành vi của trẻ và sự bộ lộ hành vi đó qua môi trường văn hóa - xã hội

Trang 15

Harikv nghiên cứu việc giáo dục đạo đức cho học sinh trong đó có GDHVĐĐ bằng việc đưa ra những phương pháp gắn với thực tiễn Theo ông, gắn liền việc dạy học cho học sinh trong sách vở là tổ chức cho học snh đi vào thực tiễn hoạt động, thể hiện bằng những việc làm, với môi trường… Như vậy,

tư tưởng của Harikv trong việc GDHVĐĐ cho học sinh được thể hiện trong cuộc sống của chúng, cho chúng trải nghiệm, vận dụng để từ đó chúng có những hành vi phù hợp và có lợi ích với cộng đồng

B.F Skiner, nhà tâm lý học hành vi, trong hai tác phẩm “Hành vi của các thứ thể sống” (1938) và “Khoa học hành vi con người” (1953) đã chỉ ra cơ chế hoạt động và hành vi của con người, trong đó HVĐĐ là phải xuất phát từ những hoàn cảnh khách quan của cuộc sống

Các nhà nghiên cứu trên cho thấy, GDHVĐ Đ cho trẻ đã có những cơ sở lý luận cơ bản và rất cần thiết cho việc vận dụng vào trong thực tiễn GDHVĐĐ cho học sinh ở nước ta hiện nay Đó là, cần phải đưa trẻ trải nghiệm trong thực tiễn cuộc sống, vào trong các mối quan hệ của trẻ

1.1.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam

Ở Việt Nam, GDHVĐĐ được quan tâm và có nhiều công trình nghiên cứu, ngoài ra còn thể hiện trong những quan điểm của các nhà tư tưởng lớn

Trong tư trưởng giáo dục hiện đại, GDHVĐĐ cho học sinh được thể hiện rất rõ trong tư tưởng giáo dục Hồ Chí Minh Nghiên cứu về cấu trúc tư tưởng đạo đức của Người HVĐĐ được Người đề cập đến 5 nguyên tắc cơ bản là

những chuẩn mực, những nguyên tắc trong quan hệ, cách ứng xử… đối với mình (bản thân), đối với người khác, đối với công việc, đối với Tổ quốc và nhân dân,

và đối với tự nhiên – môi trường [8]

Việc GDHVĐĐ cho học sinh trong nhà trường được Người đề cập đến, đó

là tổ chức các hoạt động giáo dục trong nhà trường như công tác Trần Quốc Toản Người chỉ ra cho học sinh, “Từ 5 đến 10 cháu tổ chức thành một đội, giúp nhau học hành Khi học rảnh, mỗi tuần cả đội đem nhau đi giúp đồng bào [5] Người yêu cầu học sinh phải thi đua học tập; thi đua tăng gia sản xuất, thi đua giúp gia đình thương binh, liệt sĩ, tử sĩ [1]

Trang 16

Bên cạnh đó, nhiều nhà khoa học giáo dục đã nghiên cứu và đạt được những kết quả nhằm GDHVĐĐ cho học sinh, được thể hiện trong một số tài liệu, công trình nghiên cứu, tiêu biểu như:

Tác giả Ngô Công Hoàn nghiên cứu khía cạnh tâm lý của hành vi, HVĐĐ của trẻ em Tác giả chỉ ra những đặc điểm hành vi và việc hình thành hành vi, HVĐĐ ở học sinh Ngoài ra, các tác giả còn chỉ ra những tác động có ảnh hưởng đến việc hình thành hành vi của trẻ như bạn bè, kĩ năng sư phạm và ứng xử của giáo viên [3]

Và với cuốn Giá trị giá trị đạo đức và giáo dục giá trị đạo đức cho trẻ lứa

tuổi mầm non, tác giả Ngô Công Hoàn có nêu lên nội dung và cách thức tiến

hành giáo dục những giá trị đạo đức cho trẻ mầm non ở trong gia đình và trường mầm non Bên cạnh đó, phần lý luận về giá trị và giá trị đạo đức cũng được tác giả đề cập và làm sáng tỏ, điều này giúp ích rất nhiều trong việc xây dụng cơ sở

lý luận trong đề tài nghiên cứu của chúng tôi

Tác giả Nguyễn Ánh Tuyết là người đã nghiên cứu nhiều về các hoạt động

Các tác giả Phạm Ngọc Định, Võ nguyên Du, Hoàng Thị Phương, đưa ra một số biện pháp, quy trình GDHVĐĐ ở khía cạnh giao tiếp có văn hòa cho trẻ, bên cạnh đó, các tác giả còn chỉ ra một số điều kiện đảm bảo việc giáo dục hành

vi có văn hóa này

Trang 17

Ngoài ra còn có những công nghiên cứu của các tác giả về giáo dục nhân cách cho người học nói chung và giáo dục đạo đức cho trẻ nói riêng trong các luận văn, bài báo: “Giáo dục đạo đức cho trẻ mầm non” [12] đăng trên Tạp chí khoa học giáo dục số 53/2010); luận văn “Một số biện pháp phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong việc giáo dục lễ giáo cho trẻ mẫu giáo lớn 5 - 6 tuổi” của tác giả Nguyễn Trọng Thuyết (Viện Khoa học giáo dục, 2000), “Một số biện pháp GDHVĐĐ cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi ở trường mầm non” của tác giả Trịnh Thị Tình (Đại học Sư phạm, 2006) [11], “Biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học ở thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả Nguyễn Thị Tâm (Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh, 2014) [10] Những công trình nghiên cứu trên đã đi sâu vào nghiên cứu giáo dục đạo đức và GDHVĐĐ cho trẻ mẫu giáo và đề ra các biện pháp GDHVĐĐ cho trẻ Tuy nhiên chưa có đề tài nào đi sâu nghiên cứu về GDHVĐĐ cho trẻ thông qua CĐSHHN ở trường mầm non Vì vậy, đề tài nghiên cứu “Giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi thông qua chế độ sinh hoạt hằng ngày ở trường Mầm non Bảo Ninh - Đồng Hới - Quảng Bình” hy vọng đưa ra được các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục hành vi đạo đức thông qua CĐSHHN cho trẻ mẫu giáo nói chung và ở trường Mầm non Bảo Ninh - Đồng Hới - Quảng Bình nói riêng trong giai đoạn hiện nay

1.2 Một số vấn đề lý luận về giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi thông qua chế độ sinh hoạt hằng ngày

1.2.1 Đạo đức và giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ mẫu giáo

1.2.1.1 Khái niệm đạo đức

Từ xưa đến nay, có nhiều quan niệm khác nhau về đạo đức

Đạo đức học Mác-Lênin cho rằng: “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội

có nguồn gốc từ lao động sản xuất và đời sống cộng đồng xã hội Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội phản ánh và chịu sự chi phối của tồn tại xã hội Vì vậy, xã hội thay đổi thì đạo đức cũng thay đổi theo Và như vậy đạo đức xã hội luôn mang tính lịch sử, tính giai cấp và tính dân tộc”

Trang 18

Theo từ điển tiếng việt của Viện Ngôn ngữ học, NXB Đà Nẵng (2012): Đạo đức là những nguyên tắc được dư luận xã hội thừa nhận, quy định hành vi quan hệ của con người đối với nhau và đối với xã hội”, “là phẩm chất tốt đẹp của con người do tu dưỡng theo những chuẩn mực đạo đức mà có” [15]

Theo Hà Nhật Thăng: “Đạo đức là một hình thái xã hội, là tổng hợp các quy tắc, nguyên tắc, chuẩn mực xã hội, nhờ nó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp với lợi ích và hạnh phúc của con người, với tiến bộ xã hội trong quan hệ cá nhân - cá nhân và quan hệ cá nhân - xã hội” [14]

Phạm Minh Hạc cho rằng: “Đạo đức theo nghĩa hẹp là luân lý, những quy định và chuẩn mực ứng xử trong quan hệ của con người Nhưng bên trong điều kiện hiện nay, chính quan hệ của con người đã mở rộng và đạo đức bao gồm những quy định, những chuẩn mực ứng xử của con người với con người với công việc và với bản thân, kể cả với thiên nhiên và môi trường sống… Theo nghĩa rộng, khái niệm đạo đức liên quan chặt chẽ với phạm trù chính trị, pháp luật, lối sống Đạo đức là thành phần cơ bản của nhân cách, phản ánh bộ mặt nhân cách đã được xã hội hóa.”

Như vậy, các khái niệm trên tuy giải thích hơi khác nhau về câu chữ nhưng thực chất là giống nhau ở 2 điểm: 1/ Đạo đức là ý thức xã hội; 2/ Là những chuẩn mực, quy định, quy tắc, quan điểm chung của xã hội mà mọi người thừa nhận và tuân theo

Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt mang tính lịch sử và tính giai cấp Các quan niệm và tiêu chuẩn đạo đức thay đổi qua các thời kỳ lịch sử Cùng một hành vi, cử chỉ trong một hình thái xã hội - lịch sử này, dưới chế độ khác lại được đánh giá hoàn toàn khác Đạo đức mang tính giai cấp, đạo đức bao giờ cũng là đạo đức của một giai cấp Đạo đức gắn liền với những quan hệ xã hội đang tồn tại và được mỗi giai cấp giải thích theo một cách riêng tùy vị trí của mỗi giai cấp trong hệ thống cách quan hệ sản xuất đã hình thành trong xã hội đó Tuy nhiên, trong những quan niệm mà tiêu chuẩn đạo đức luôn chứa đựng những giá trị chung của nhân loại và của mỗi dân tộc, những giá trị ấy cần được giữ lại trong hệ thống của đạo đức mới

Trang 19

Tóm lại, đạo đức có thể hiểu là hệ thống các quy tắc, chuẩn mực quy định giới hạn hành vi nhằm điều chỉnh, điều khiển hành vi của cá nhân trong quan hệ với con người, với cộng đồng xã hội, với tự nhiên, với bản thân, đảm bảo cho cá nhân và cộng đồng xã hội tồn tại và phát triển

1.2.1.2 Khái niệm hành vi

Thuật ngữ “hành vi” được xem xét ở nhiều khía cạnh khác nhau:

Theo từ điển tiếng Việt: Hành vi là cách ứng xử trong một hoàn cảnh nhất định, được biểu hiện bằng lời nói, cử chỉ, hành động nhất định

L.S Vưgốtxki cho rằng, hành vi con người được hiểu là quá trình nắm lấy các chức năng tâm lý xã hội của bản thân, tức là hành vi được hiểu là hoạt động nhằm vào bản thân để tổ chức hành vi của mình, đồng thời tham gia các hoạt động bên ngoài, tác động đến các đối tượng bên ngoài hoặc những người khác Qua những khái niệm trên cho thấy, hành vi thể hiện những đặc tính của nhân cách, các đặc điểm tính cách, các nhu cầu, tư tưởng, tình cảm, thị hiếu cảu

cá nhân, cho nên mỗi người có những phản ứng riêng đối với các kích thích thực tiễn bên ngoài Tuy vậy thái độ đối với thực tiễn không phải bao giờ cũng được thể hiện ra bằng một hình thức tương ứng Chẳng hạn hành vi thô lỗ, cục cằn, không phải bao giờ cũng biểu hiện tính tự kiêu tự đại, coi thường người khác, và ngược lại hành vi lễ phép không hẳn đã chứng tỏ một thiện ý

Hành vi của cá nhân được hình thành dần trong quá trình sống chung với

xã hội, là do kết quả của sự giáo dục Do đó trong hành vi của mình mỗi người thường phải tuân theo những nguyên tắc chuẩn mực đạo đức xã hội nhất định, mặc dù không phải luôn luôn làm được đúng như vậy Sự thống nhất giữa những hiểu biết về đạo đức với HVĐĐ là tiêu chí đánh giá con người có đạo đức cao

Đó là mục tiêu hướng tới trong công tác hành vi của mỗi cá nhân

Chính vì vậy, tâm lý học coi người học là một chủ thể tích cực chứ không phải là một cá thể chỉ thích nghi thụ động với môi trường bên ngoài theo kiểu con vật Hành vi của con người bao giờ cũng có mục tiêu, mục đích và thông qua sự thúc đẩy của động cơ Để thấy rõ quá trình tâm lý làm xuất hiện hành vi

Trang 20

cá nhân, hay nói cách khác xem xét nguồn gốc và nguyên nhân xuất hiện hành

vi của con người có thể khái quát:

“Nhu cầu tạo nên động cơ thúc đẩy hành vi, hành vi bao giờ cũng hướng đến mục đích Mục đính là đối tượng của nhu cầu mà con người cần thỏa mãn

và hiếm đoạt, sử dụng, xác lập, sở hữu, hoặc giải phóng con người” [2]

Như vậy, hành vi bao gồm một chuỗi hành động nối tiếp nhau một cách tương đối nhằm đạt được một mục đích thỏa mãn nhu cầu của con người Hành

vi tuy là những cái biểu hiện ra bên ngoài (cử chỉ, động tác, lời nói, ánh mắt, vẻ mặt…) nhưng lại thống nhất với cấu trúc tâm lý bên trong của cá nhân, là sự thong nhất giữa hình thức bên ngoài và nôi dung tâm lí bên trong Hành vi bên ngoài chỉ là biểu hiện của một đời sống tâm lí bên trong của nhân cách

Tóm lại, hành vi cá nhân có thể biểu hiện là một chuỗi các thao tác, cử chỉ, lời nói, ánh mắt, tư thế… của con người được ý thức điều khiển, điều chỉnh hướng đến các mục đích khác nhau nhằm thỏa mãn các nhu cầu tồn tại và phát triển cá nhân và cộng đồng xã hội ở các thời điểm xác định

1.2.1.3 Khái niệm hành vi đạo đức

Theo khoa học hành vi thì “hành vi là phản ứng của con người hoặc hệ thống máy móc/hệ thống vật chất phản ứng lại các kích thích từ bên ngoài” Một số đặc điểm của hành vi:

+ Hành vi có thể thay đổi theo thời gian

Đối với con người, hành vi được xem là tổ hợp các phản ứng của cơ thể trước các kích thích của môi trường bên ngoài và bên trong chủ thể

HVĐĐ là phản ứng hay cách ứng xử của con người phù hợp với các chuẩn mực đạo đức của xã hội trong mối quan hệ của con người với con người, giữa

Trang 21

con người với xã hội, giữa con người với môi trường xung quanh (môi trường tự nhiên, môi trường xã hội)

Cụ thể, HVĐĐ ở trẻ 5 - 6 tuổi ở đây là cách ứng xử của trẻ phù hợp với chuẩn mực đạo đức khi phản ứng với những tác động bên ngoài trong quan hệ với con người, với xã hội, với môi trường xung quanh

1.2.2.4 Khái niệm giáo dục hành vi đạo đức

Giáo dục hiểu theo 2 nghĩa: “Nghĩa rộng - nghĩa xã hội học, giáo dục là một quá trình toàn vẹn hình nhân cách được tổ chức một cách có mục đích và có

kế hoạch, thông qua các hoạt động, thông qua các hoạt động và các quan hệ giữa người giáo dục và người được giáo dục nhằm truyền đạt và chiếm lĩnh những kinh nghiệm xã hội của loài người

Giáo dục theo nghĩa hẹp là một bộ phận của quá trình sư phạm (quá trình giáo dục) là quá trình hình thành niềm tin, lý tưởng, động cơ, tình cảm, thái độ, những nét tính cách, những hành vi thói quen cư xử đúng đắn trong xã hội thuộc các lĩnh vực tư tưởng chính trị, đạo đức, lao động và học tập, thẫm mỹ, vệ sinh…v.v [6]

GDHVĐĐ là một mặt quan trọng và nó quyết định thành công của giáo dục đạo đức cho học sinh HVĐĐ là kết quả của quá trình giáo dục đạo đức và có mối quan hệ mật thiết với giáo dục ý thức và giáo dục thái độ đạo đức HVĐĐ chỉ có thể hình thành được bằng con đường rèn luyện Thực hành trong các tình huống cuộc sống, bằng làm việc, cách cư xử thực tế, thực tiễn trong hoàn cảnh thực

Thật vậy, nếu chỉ thiên về “dạy ý thức”, giảng giải thế nào là đúng sai, cần làm như thế nào cho phù hợp đạo đức… trẻ có thể biết các chuẩn mực đạo đức nhưng chưa thể có ngay hành động đạo đức, và không thực hiện hành động đạo đức thì con người chưa có đạo đức Nhưng dù có sự thúc đẩy cuồng nhiệt đến hành động, con người cũng cần phải có ý thức mới có hành động sáng suốt và cần đến

kỹ năng thực hiện hành động, hoặc biết kiềm chế hành động khi cần thiết

Quá trình trẻ em thực hiện những hành vi đạo đức chính là quá trình trẻ em hình thành nên cái cấu trúc tâm lí phức tạp ở bên trong Hay nói cách khác, cơ

Trang 22

chế hình thành nên những phẩm chất đạo đức của nhân cách trẻ mẫu giáo chính

là quá trình tổ chức những hành động đạo đức của trẻ trong cuộc sống đang diễn

ra hàng ngày Song, cuộc sống của trẻ luôn vận động, phát triển đòi hỏi trẻ cũng phát triển theo để làm chủ động cuộc sống của mình, mỗi giai đoạn phát triển lại tạo ra cơ cấu tâm lí có chất lượng mới trong việc tự do điều chỉnh của các hành

vi đạo đức của chính trẻ [9]

Vậy, giáo dục hành vi đạo đức là một quá trình sư phạm có mục đích, có kế hoạch giữa người giáo dục và người được giáo dục nhằm hình thành nhận thức, thái độ hành vi chuẩn mực xã hội được cá nhân tự giác thực hiện, hành động luôn mang ý nghĩa xã hội vì sự tồn tại, phát triển của cá nhân và cộng đồng trong các giai đoạn phát triển lịch sử xã hội nhất định

1.2.2 Ý nghĩa giáo dục đạo đức đối với trẻ em lứa tuổi mẫu giáo

Giáo dục đạo đức có ý nghĩa quan trọng trong toàn bộ sự nghiệp giáo dục con người mới Việc hình thành cơ sở về phẩm chất đạo đức của con người bắt đầu ngay từ lứa tuổi nhà trẻ, mẫu giáo Giáo dục mẫu giáo là khâu đầu tiên của việc đào tạo nhân cách con người mới có nhiệm vụ hình thành những cơ sở đầu tiên của việc đào tạo nhân cách con người mới tạo tiền đề cho sự phát triển về sau Sự phát triển về mặt đạo đức của trẻ phần lớn phụ thuộc vào kết quả thực hiện đức dục – giáo dục học và tâm lý học Macxít kiên quyết phủ nhận sự tồn tại của những phẩm chất bẩm sinh (lười biếng, yêu lao động, thiện hay ác…) và khẳng định rằng những phẩm chất ấy được hình thành trong quá trình sinh sống, dưới tác dụng của giáo dục và toàn bộ hiện thực xã hội xung quanh, những phẩm chất ấy là những phẩm chất mà các em trau dồi được chỉ trong thực tế khinh nghiệm xã hội của các em

Trong tư tưởng đạo đức của Khổng Tử, của Mác-lênin, của Chủ Tịch Hồ Chí Minh hay trong các công trình nghiên cứu của các nhà giáo dục trên thế giới

và ở Việt nam như: A.V.Daprogiet, Nguyễn Ánh Tuyết, Ngô Công Hoàn… đã chỉ rõ vai trò của đạo đức đối với sự phát triển của xã hội loài người nói chung

và sự phát triển của trẻ em nói riêng Các tác giả đều khẳng định đạo đức có vai trò rất lớn đối với xã hội vừa là động lực thúc đẩy xã hội phát triển

Trang 23

Đối với trểm giáo dục đạo đức góp phần quan trọng vào quá trình phát triển toàn diện như sự phát triển nhận thứ, sự phát triển thẩm mỹ, đặc biệt là sự hình thành và phát triển nhân cách của trẻ

Trước hết, giáo dục đạo đức có vai trò to lớn đối với sự phát triển nhận thức của trẻ Thông qua các tình huống giao tiếp ứng xử hằng ngày giữa con người với con người, giữa con người với thế giới xung quanh trẻ được tiếp xúc

và trải nghiệm những kinh nghiệm xã hội của bản thân với xung quanh Nhờ vậy các em không chỉ hiểu rõ được ý nghĩa của những quy tắc, chuẩn mực đạo đức chung của xã hội có khả năng đánh giá đúng đắn các hiện tượng hành vi trong quan hệ xã hội mà còn tích lũy được một vốn biểu tượng phong phú về thiên nhiên, xã hội

Quá trình đánh giá các hiện tượng hành vi trong quan hệ xã hội làm cho các thao tác tư duy, thao tác trí tuệ như: phân tích, so sánh, khái quát hóa, phát triển tích cực hơn, giúp quá trình tri giác của trẻ mang tính chủ định hơn

Ngoài những tác động đến sự phát triển nhận thức, giáo dục đạo đức cũng ảnh hưởng rõ nét đến sự phát triển thẩm mỹ của trẻ Tình yêu thiên nhiên mãnh liệt, những hiểu biết sâu sắc về cái hay, cái đẹp, lòng kháo khát muốn thưởng thức cái đẹp của thiên nhiên, xã hội xung quanh sẽ kích thích quá trình tri giác thẩm mỹ của trẻ, làm cho quá trình cảm thụ cái đẹp và sáng tạo cái đẹp của trẻ diễn ra một cách tự giác và hiệu quả

Trong các mặt phát triển toàn diện của trẻ thì sự hình thành và phát triển nhân cách chịu sự ảnh hưởng rất lớn của giáo dục đạo đức Bước vào tuổi lên ba, cái tôi của trẻ xuất hiện, trẻ có nhu cầu khẳng định mình trong các mối quan hệ

xã hội, trẻ luôn muốn tự làm lấy mọi viêc, nó tỏ ra bướng bỉnh, muốn làm khác điều người lớn dạy, muốn vơ hết mọi thứ thuộc về mình mà trở nên ích kỷ Do

đó, những can thiệp kịp thời của người lớn lúc này sẽ giúp trẻ hiểu được những việc nào được phép làm và không được phép làm, những hành vi cử chỉ đẹp trong cuộc sống hằng ngày để trẻ nắm bắt được những chuẩn quy tắc của xã hội Những tiền đề phẩm chất ý chí như tính mục đích, tính kiên trì, tính cẩn thận, sáng tao, kiên định… giúp trẻ nhanh chóng thích ứng với môi trường học

Trang 24

tập ở lớp 1 Như vậy giáo dục đạo đức góp phần vào việc chuẩn bị tâm thế cho trẻ bước vào hoạt động học tâp ở trường phổ thông

Tóm lại đạo đức có ảnh hưởng đáng kể đến sự phát triển của xã hội loài người nói chung và quá trình phát triển toàn diện của trẻ em nói riêng Vì thế cần phải xem xét đạo đức là nội dung giáo dục không thể thiếu ở gia đình nhà trường và toàn xã hội Nội dung này phải được tiến hành trong sự thống nhất giữa gia đình, nhà trường, xã hội và trong sự thống nhất với các hoạt động giáo dục khác (nghệ thuật, lao động, vui chơi…), thiếu sự kết hợp này kết quả giáo dục đạo đức sẽ bị hạn chế

*Những biểu hiện của đạo đức:

- Về nhận thức:

Tâm hồn trẻ chân thực, trong sáng, ngây thơ nên việc bồi dưỡng phẩm chất đạo đức tốt đẹp ngay từ bé có vị trí rất quan trọng Việc hình thành phẩm chất đạo đức của trẻ đòi hỏi phải có một quá trình nhất định

Trước tiên là giáo dục nhận thức phải, trái; đúng, sai; tốt, xấu; ngoan, hư, thiện cảm đối với sự vật để phát triển hình thành thói quen hành vi và ý thức đạo đức của trẻ Trẻ nhận nhận biết hành động như thế nào là ngoan, như thế nào là

hư, tương tự như vậy trẻ phải nói bằng lời vì sao phải hành động như thế này là đúng, như thế kia là sai Nói ra được bằng lời hành vi tốt, xấu, đúng, sai, phải, trái vừa mang tính nhận thức, vừa mang tính xã hội

Vì thế, người lớn phải biết gây ảnh hưởng, làm mẫu hành vi, hướng dẫn qua gương hành vi của các bạn cùng trang lứa, bằng lời nói truyền cảm, gợi mở hướng dẫn, thuyết phục và uốn nắn, bồi dưỡng phẩm chất tốt đẹp cho trẻ theo tiêu chuẩn đạo đức xã hội

-Về thái độ:

Khi trẻ hành động đúng, tốt, ngoan… gọi chung là những hành động tích cực mang tính chuẩn mực được cha mẹ, cô giáo khen, được thỏa mãn nhiều nhu cầu trẻ sẽ rất vui mừng… theo đó những cả xúc tích cực được hình thành

Ngược lại, trẻ hành đọng chưa ngoan, chưa đúng, chưa tốt… được cha mẹ,

cô giáo nhắc nhở, các bạn chê trách trẻ sẽ thấy xấu hổ, theo đó các cảm xúc tiêu

Trang 25

cực xuất hiện: Sợ hãi, tức giận, lo âu… Từ đó hình thành thái độ tương ứng đó

là tích cực và thái độ tiêu cực đối với các hành vi và thực hiện các hành vi phù hợp hay không phù hợp với chuẩn mực xã hội (sau này là đạo đức hay không đạo đức) Đây cũng có thể gọi là tình cảm đạo đức

Trên cơ sở nhận thức của mình, trẻ sẽ có những thái độ phù hợp với tình huống, hoàn cảnh sự việc Trẻ thể hiện, biểu hiện thái độ của bản thân với sự việc, tình huống ấy

VD: Thấy hai bạn trong lớp đánh nhau, là người chứng kiến việc trẻ sẽ biết

ai là người đúng, ai là người sai và tỏ thái độ đồng tình hay không đồng tình với ai? Thái độ đồng tình hay không đồng tình khi thấy bạn xô xát như vậy là một biểu hiện của đạo đức

-Về hành vi:

Khi trẻ có thái độ tích cực, trẻ sẽ hành động một cách tích cực: hăng hái làm đúng, làm tốt để được người lớn và bạn bè ghi nhận, từ đó trẻ luôn có ý thức

có những hành vi tích cực

Ngược lại, khi trẻ có thái độ tiêu cực, trẻ tỏ ra bất cần, chỉ làm theo ý mình

mà không quan tâm hành động đó tốt, xấu, đúng, sai ra sao… từ đó trẻ dễ có những hành vi tiêu cực

Từ nhận thức, thái độ cụ thể trẻ sẽ có những hành vi phù hợp Hành vi đạo đức là thước đo phẩm chất đạo đức của chủ thể Nó là kết quả cuối cùng sau khi chủ thể đã có những nhận thức và thái độ rõ ràng Giả sử trong trường hợp bạn đánh nhau trong lớp ở trên, trẻ sẽ đứng ra khuyên can các bạn hoặc sẽ thưa với

cô giáo để cô xử lí tình huống

1.2.3 Nội dung cơ bản của giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ mẫu giáo 5

Trang 26

biết xin lỗi khi làm phiền người khác, đoàn kết với bạn bè, nhường nhin,giúp đỡ

em nhỏ, biết chia sẻ tình cảm với những người xung quanh

Thói quen vệ sinh trong sinh hoạt: có hành vi văn hóa trong vệ sinh (giữ mặt mũi,tay chân sạch sẽ, ăn mặc gọn gàng, đi ngủ đúng giờ…) có tư thế đi, đứng thoải mái, nói năng rõ ràng dứt khoát, có ý thức tự lực trong sinh hoạt hằng ngày…

Thói quen bảo vệ, giữ gìn đồ dùng đồ chơi, thói quen gọn gàng, ngăn nắp…

Thói quen văn minh nơi công cộng: Không vứt rác bừa bãi, không vẽ bẩn lên tường, không bẻ cành, không ngắt hoa nơi công cộng, không nói cười ồn ào làm ảnh hưởng đến người khác… Trên cơ sở hình thành những thói quen cần hình thành cho trẻ những đức tính cần thiết:

+Tính tự lập, thích tự giác làm những việc trẻ tự làm được, không nhõng nhẽo, không ỷ lại vào người lớn Tính mạnh dạn, mạnh dạn khi giao tiếp với mọi người, khi đến chỗ xa lạ, khi hát múa, không nhút nhát e dè… Tính ngăn nắp, ăn mặc gọn gàng, sắp xếp đồ chơi ngăn nắp sau khi chơi, không bày bừa đồ chơi Tính kỷ luật, biết nghe lời, biết tôn trọng những quy tắc sinh hoạt chung, biết tự kiềm chế…

1.2.4 Phương pháp giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi 1.2.4.1 Phương pháp dùng tình cảm

Trong giáo dục mầm non, phương pháp dùng tình cảm được coi là phương pháp chủ đạo, xuyên suốt quá trình hình thành hệ thống thái độ hành vi ứng xử đạo đức cho trẻ

Phương pháp này rất phù hợp với đặc điểm tâm lí của trẻ do trẻ mầm non vốn nhạy cảm, mặt khác trẻ cũng biết thể hiện cảm xúc và đáp lại tình cảm của mình rất nhanh nhay, hồn nhiên Trẻ có nhu cầu được yêu thương và cũng dễ yêu thương đồng cảm với người khác, có nghĩa là vừa biết nhận lại vừa biết cho

Đó là thái độ tốt đẹp cần có ở mỗi người Bằng tình cảm của mình người lớn sẽ

dễ dàng cảm hóa thuyết phục trẻ và yêu cầu trẻ thực hiện tốt một số công việc vừa sức Tuy nhiên, khi sử dụng phương pháp này cần phải kết hợp đủ hai yếu

tố, đó là từ phía người lớn trẻ nhận được sự yêu thương, chăm soc trẻ, dạy dỗ;

Trang 27

nhưng đồng thời trẻ cũng phải biết thể hiện, đáplại tình cảm của mình với người lớn bằng những hành vi đạo đức tốt đẹp trong những tình huống của cuộc sống sinh hoạt hằng ngày [7]

1.2.4.2 Phương pháp dùng nghệ thuật

Những tác phẩm nghệ thuật được sáng tạo ra chủ yếu theo quy luật của tình cảm Những bài thơ, câu chuyện, điệu nhạc, bản nhạc, bức tranh… bằng sức truyền cảm mãnh liệt của mình đã để lại những dấu ấn đẹp đẽ, sâu đậm trong tâm hồn tuổi thơ Nghệ thuật sáng tạo theo quy luật của tình cảm nên nghệ thuật chứa trong đó những nội dung giáo dục đạo đức sâu sắc

Tại trường mầm non, hằng tuần trẻ được tiếp xúc với các tác phẩm nghệ thuật qua hoạt động làm quen với văn học, hoạt động âm nhạc Thông qua các tác phảm nghệ thuật, góp phần làm giàu vốn tri thức của trẻ về cuộc sống, giáo dục tình yêu quê hương đất nước, con người và thiên nhiên, hình thành cho trẻ những kinh nghiệm về đạo đức,thúc đẩy những hành vi văn hóa văn minh Do vậy, phương pháp dùng nghệ thuật được sử dụng thường xuyên và đem lại hiệu quả trong việc GDHVĐĐ cho trẻ

1.2.4.3 Phương pháp sử dụng trò chơi

Hoạt động vui chơi là hoạt động chủ đạo của trẻ mẫu giáo, trong đó phải kể đến trò chơi đóng vai theo chủ đề Đây là trò chơi mô phỏng lại cuộc sống của người lớn, nổi bật lên là các mối quan hệ xã hội biểu hiện những chuẩn mực đạo đức giữa con người vói con người Khi tham gia trò chơi đóng vai theo chủ đề, trẻ được tập thể hiện thái độ đạo đức và các hành vi ứng xử đối với những người xung quanh bằng việc nhập vai chơi của mình

Phương pháp sử dụng trò chơi, các yếu tố chơi vào hoạt động của trẻ nhằm thực hiện nhiệm vụ GDHVĐĐ được tiến hành một cách không gò bó áp đặt, đem lại hiệu quả cao trong việc hình thành các hành vi đạo đức cho trẻ Giáo viên cần chủ động tạo ra tình huống trong các trò chơi để khơi gợi ở trẻ thái độ đạo đức, hành vi ứng xử tốt đẹp với những người xung quanh Lôi cuốn trẻ tích cực tham gia giải quyết các tình huống có vấn đề hình thành và phát triển nhân cách

Trang 28

1.2.4.4 Phương pháp trải nghiệm các hành vi ứng xử thường xuyên trong sinh hoạt hàng ngày

Đây là phương pháp chủ đạo để thực hiện các nhiệm vụ của công tác GDHVĐĐ, nhằm hình thành những hành vi thói quen Chỉ trong hoạt động thực tiễn, trong mối quan hệ với mọi người, trẻ mới lĩnh hội được quy tắc hành vi trong cuộc sống, tập hành động theo các tiêu chuẩn đạo đức, hình thành các kĩ năng, kỉ xảo, thói quen đạo đực Trên cơ sở đó trẻ tích lũy được những kinh nghiệm thực tế phong phú cho bản thân, có thói quen văn minh trong giao tiếp; thói quen vệ sinh trong sinh hoạt, thói quen bảo vệ giữ gìn đồ chơi, gọn gàng ngăn nắp, thói quen văn minh nơi công cộng…

Chế độ sinh hoạt hằng ngày của trẻ ở trường mầm non gồm một chuỗi các hoạt động: đón trẻ, thể dục sáng, trò chuyện đầu giờ, hoạt động học, hoạt động ngoài trời, hoạt động vui chơi, vệ sinh, ăn, ngủ; hoạt động chiều, hoạt động trả trẻ Thông qua các hoạt động này, giáo viên thực hiện GDHVĐĐ, dạy trẻ các hành vi đạo đức như chào hỏi, cảm ơn, xin lỗi, quan tâm, tôn trọng, chia sẻ, giúp

đỡ người khác; mạnh dạn, tự tin, tự lực; chấp hành nội quy của lớp; có các hành

vi văn minh, giử vệ sinh, bảo vệ tài sản chung của lớp… Qua các hoạt động hàng ngày như thế này, giáo viên tạo môi trường cho trẻ trải nghiệm thực sự để lình hội các giá trị mà trước hết là thực hện các hành vi chuẩn mực

Trong qua trình hoạt động, gần như bất cứ lúc nào trẻ cũng phải thể hiện thái độ của mình với những người xung quanh bằng những hành vi ứng xử Việc ứng xử đó có lúc đúng nhưng có nhiều lúc sai, do đó người lớn cần kiên trì theo dõi, bảo ban, uốn nắn trẻ đúng lúc Điều đó tạo nên những thói quen tốt đẹp, giúp cho hành vi ứng xử đạo đức trở thành một nhu cầu, thành kĩ năng, kĩ xảo của đứa trẻ, giúp trẻ cảm thấy dễ chịu, thoải mái mỗi khi làm được một hành vi tốt, và ngược lại: cảm thấy bứt rứt, khó chịu, xấu hổ khi thực hiện một hành vi xấu

1.2.4.5 Phương pháp nêu gương

Phương pháp nêu gương là việc lấy gương người thật việc thật để làm mẫu cho trẻ noi theo Có thể lấy gương cô giáo, gương người lớn và đặc biệt là

Trang 29

gương của bạn bè cùng tuổi với trẻ Đây là phương pháp được sử dụng phổ biến trong quá trình giáo dục cho trẻ mầm non vì nó phù hợp với đặc điểm tư duy của trẻ Tấm gương của bạn, của cô giáo với những hành vi đạo đức tốt đẹp có ảnh hưởng trực tiếp đến trẻ, là động lực cho trẻ noi theo, từ đó hình thành những phẩm chất đạo đức tốt Các tấm gương người lớn trong xã hội và của các nhân vật trong tác phẩm nghệ thuật cũng có nhiều ảnh hưởng đến trẻ

1.2.4.6 Phương pháp khen, chê

Trong việc GDHVĐĐ người lớn cần biết khen chê đúng lúc và đúng mức khi trẻ làm một việc tốt, cần động viên khen ngợi, dành cho trẻ ời biểu dương, những phần thưởng mang ý nghĩa tinh thần hơn là vật chất để khích lệ trẻ, củng

cố những nét đạo đức tích cực Ngược lại, khi trẻ làm một việc chưa tốt, người lớn cần tỏ thái độ chê trách, không đồng tình, làm cho trẻ làm cho trẻ biết được làm như vậy là không nên để trẻ không lặp lại những hành vi xấu đó nữa

Khen: là biểu hiện thái độ đồng tình, khuyến khích một hành động cử chỉ tốt đẹp của trẻ nhằm gợi niềm vui sướng, lòng tự tin, khích lệ mong muốn làm những điều tốt đẹp ở trẻ

Chê trách: là biểu hiện thái độ không đồng tình với những hành vi, việc làm xấu của trẻ, nhằm ngăn chặn chúng xảy ra

Chê trách là cần thiết nhưng không nên lạm dụng để tránh cho trẻ cảm giác nặng nề, có lỗi Trẻ nhỏ rất thích được khen và không muốn bị chê, nên chúng ta cần khơi gợi lòng tự hào và tính xấu hổ đúng lúc đúng chỗ để hình thành những phẩm chất đạo đức cho trẻ

1.2.5 Đặc điểm hoạt động giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ mẫu giáo 5

- 6 tuổi

Trước hết, GDHVĐĐ cần có sự gắn kết giữa quá trình học trong giờ học và ngoài giờ học Thông qua các giờ học như làm quen với văn học, âm nhạc, hoạt động khám phá… giáo viên lồng ghép những bài học giáo dục sâu sắc cho trẻ Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở tiết học thì trẻ sẽ nhanh quên, không đọng lại trong trí nhớ trẻ lâu dài được, mặt khác mục đích cuối cùng của giáo dục đạo đức là giúp trẻ tự giác thực hiện hành vi đúng đắn do đó giáo viên cần tiến hành

Trang 30

GDHVĐĐ cho trẻ đúng lúc, mọi mơi, mọi thời điểm, trong mọi hoạt động bằng nhiều hình thức, phương tiện khác nhau

Thứ hai, quá trình GDHVĐĐ cho trẻ 5 - 6 tuổi phát triển thông qua các hoạt động tập thể, tức là khi cho trẻ tham gia vào các hoạt động tập thể, trẻ dễ hòa mình vào các hoạt động chung, từ đó có thái độ tích cực trong giao tiếp, trong cách ứng xử với mọi người, đoàn kết giúp đỡ nhau trong các hoạt động tập thể

Thứ ba là tính biện chứng, phức tạp trong quá trình phát triển biến đổi về nhân cách của trẻ Quá trình biến đổi về nhân cách của trẻ là quá trình lâu dài, cần có sự khéo léo trong cách giáo dục trẻ Cùng một độ tuổi mẫu giáo lớn nhưng mỗi đứa trẻ lại có những nét tâm lí, tính cách riêng, hoàn cảnh riêng, nên khi GDHVĐĐ cho trẻ, giáo viên cần lựa chọn cách thức tiến hành sao cho phù hợp

Thứ tư, quá trình GDHVĐĐ là một quá trình lâu dài Để trẻ có những hành

vi đúng đắn, cần giáo dục cách ứng xử tốt đẹp cho trẻ từ lứa tuổi nhỏ bằng cách hướng cho trẻ học theo những hành vi đẹp của các trẻ khác cũng như của người lớn GDHVĐĐ phải thực hiện hằng ngày, lặp đi lặp lại cho đến khi những hành

vi đó trở thành thói quen đạo đức

Thứ năm, để việc GDHVĐĐ cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi đạt hiệu quả cao, cần có sự phối hợp hỗ trợ giữa gia đình và nhà trường, giữa phụ huynh và cô giáo Ngoài ra, sự phối hợp giữa các tổ chức giáo dục trong và ngoài nhà trường

từ các khâu tổ chức, thực hiện đến đánh giá cũng ảnh hưởng lớn đến chất lượng

và hiệu quả GDHVĐĐ cho trẻ

1.2.6 Khái quát đặc điểm tâm lý trẻ 5 - 6 tuổi

Do sự tăng trưởng đáng kể về thể chất, sự phong phú về đời sống xã hội cũng như hoạt động, trẻ mẫu giáo lớn (5 - 6 tuổi) đã đạt được mức độ phát triển phong phú về nhiều mặt của chức năng tâm lý như: cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng, chú ý, trí nhớ, ngôn ngữ, ý chí, xúc cảm, tình cảm,…

Cảm giác, tri giác:

Trang 31

Những thuộc tính và quan hệ bên ngoài của sự vật hiện tượng được trẻ tiếp nhận chính xác hơn, giúp cho việc định hướng vào thế giới xung quanh thuận lợi hơn Đối với trẻ mẫu giáo lớn bắt đầu khảo sát và mô tả đối đối tượng có trình tự

và tỉ mỉ hơn cùng với khả năng tri giác có chủ định (khả năng quan sát đối tượng)

Trẻ có thể phân phối chú ý vào 2 - 3 đối tượng cùng một lúc Tuy nhiên, thời gian phân phối chú ý chưa bền vững

Sự phân tán chú ý của trẻ trong giai đoạn này vẫn còn thể hiện mạnh mẽ Nhiều khi trẻ không tự chủ được Do đó, cô giáo cần thay đổi đồ chơi, trò chơi hấp dẫn hơn Cần luyện tập các phẩm chất chú ý cho trẻ qua các trò chơi và các tiết học

Tư duy:

Để đáp ứng nhu cầu nhận thức đang phát triển mạnh mẽ ở trẻ mẫu giáo lớn cho nên bên cạnh việc phát triển tư duy trực quan hình tượng vẫn cần phát triển một tư duy trực quan hình tượng mới đó là tư duy trực quan - sơ đồ là yếu tố đầu tiên làm bậc đệm để phát triển tư duy cao hơn

Tưởng tượng:

Các hoạt động tưởng tượng đã dần dần tách khỏi đồ vật hiện có, nội dung tưởng tượng phong phú hơn so với trẻ mẫu giáo nhỡ vì trẻ đã có sự tiếp xúc nhiều hơn với thế giới bên ngoài Chuyển từ tưởng tượng sáng tạo được thể hiện

rõ nhất trong các hoạt động mang tính sáng tạo như: vẽ, nặn, chơi xây dựng,… trẻ có khả năng hành động theo ý đồ, ý định của mình

Cuối tuổi mẫu giáo trí tưởng tượng sáng tạo của trẻ được phát triển khá mạnh với sự hỗ trợ đắc lực của tri giác Nếu trẻ có khả năng quan sát tốt sự vật

và hiện tượng xung quanh thì quá trình tưởng tượng nhất là tưởng tượng sáng tạo sẽ phát triển thuận lợi, bởi tri giác là nguồn cung cấp chất liệu cho hoạt động của trí tưởng tượng sáng tạo

Trang 32

Chú ý:

Chú ý không chủ định chiếm ưu thế Chú ý có chủ định đang được phát triển do trẻ xác định được đối tượng cần chú ý, biết đặt ra mục đích cho sự chú ý của mình, biết hướng ý thức của mình vào đối tượng để phục vụ cho mục đích của hoạt động Khả năng phân phối, sức tập trung, sự di chuyển… của chú ý đều tăng lên đặc biệt là đối với những tưởng tượng hấp dẫn, sinh động

Trí nhớ:

Đặc trưng trí nhớ của trẻ mẫu giáo là tính trực quan, máy móc và không chủ định Tuy nhiên, vào cuối tuổi mẫu giáo, trí nhớ của trẻ có một bước biến đổi về chất đó là trí nhớ có chủ định xuất hiện và phát triển Ngôn ngữ đóng một vai trò đặc bệt quan trọng trong sự phát triển trí nhớ của trẻ 5 - 6 tuổi, nhờ đó mà trẻ nắm được tên và hiểu được ý nghĩa của sự vật, hiện tượng cần nhớ, đặt mục đích và tìm phương tiện giúp ghi nhớ và nhớ lại những điều cần nhớ

Ngôn ngữ:

Ở giai đoạn lứa tuổi này sự phát triển ngôn ngữ diễn ra với tốc độ nhanh cả

về ngữ âm, ngữ pháp, ngữ điệu, vốn từ, cấu trúc ngữ pháp… hầu hết trẻ đã biết

sử dụng thành thạo tiếng mẹ đẻ trong sinh hoạt hằng ngày để giao tiếp Khả năng ngôn ngữ của trẻ liên quan chặt chẽ với sự phát triển trí tuệ và những trải nghiệm của trẻ Vốn từ của trẻ phong phú, trẻ hiểu được một số từ khái quát, biết sử dụng một số từ ghép gợi cảm và những từ có nghĩa đối lập như to đùng,

bé xíu… chính ngôn ngữ mạch lạc làm cho phương tiện tư duy của trẻ phát triển lên một bước mới đó là sự nảy sinh các yếu tố của tư duy logic, nhờ đó mà toàn

bộ sự phát triển tâm lý nói chung, tư duy của trẻ nói riêng được nâng lên một trình độ mới cao hơn

Tuy nhiên khả năng ngôn ngữ của từng các nhân trẻ ở độ tuổi này vẫn còn

có sự khác biệt lớn về mức độ phong phú của từ, về cách diễn đạt lệch lạc, nói đúng ngữ pháp và thể hiện lời nói đúng với hoàn cảnh giao tiếp Vì vậy cô giáo cần cung cấp vốn từ và tích cực hóa vốn từ cho trẻ

Trang 33

1.3 Chế độ sinh hoạt của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi tại trường mầm non 1.3.1 Chế độ sinh hoạt và ý nghĩa của nó đối với quá trình giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi

Chế độ sinh hoạt là chương trình hoạt động của trẻ trong một ngày ở trường mầm non được phân chia và quy định thành các khoảng thời gian và trình tự luân phiên các hình thức hoạt động, nghỉ ngơi, thức, ngủ trên cơ sở đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi nhằm thỏa mãn những nhu cầu của trẻ, đảm bảo trạng thái cân bằng của hệ thần kinh, giúp trẻ phát triển tốt

Chế độ sinh hoạt là phương tiện hữu ích để GDHVĐĐ cho trẻ mẫu giáo Bất kì một phẩm chất nhân cách nào cũng được hình thành được rèn luyện và thể hiện qua các hoạt động trong cuộc sống CĐSHHN chính là các hoạt động trong cuộc sống thực tiễn cuẩ trẻ được phân định theo quy luật sinh học và quy luật tâm lý, là nội dung cuộc sống của trẻ ở trường mầm non Nhìn vào chế độ sinh hoạt, người ta có thể biết được trẻ sống như thế nào trong một ngày Vì thế

có thể nói chế độ sinh hoạt là nền tảng của quá trình GDHVĐĐ cho trẻ

Chế độ sinh hoạt đúng sẽ phát triển toàn bộ cơ thể trẻ, làm cho cơ thể trẻ hoạt động tích cực, từ đó tạo điều kiện cho trẻ có nhu cầu hoạt động, có trạng thái sức khỏe ổn định và tích cực Thời gian thức, ngủ, chế độ ăn, vui chơi, giao tiếp hợp lý

là điều kiện cần thiết cho cơ thể trẻ khỏe mạnh về thể chất và tinh thần

Đích cuối cùng của bất cứ quá trình giáo dục phẩm chất nhân cách nào cũng là hình thành thói quen cho trẻ Việc thống nhất các yêu cầu, phương pháp, các biện pháp, nội dung giáo dục theo nguyên tắc phát huy tính tự lực của trẻ thông qua CĐSHHN là đặc điểm quan trọng nhất chi hối một cách toàn diện quá trình giáo dục các hành vi chuẩn mực trong cuộc sống Sự lặp lại nội dungsinh hoạt với yêu cầu rèn luyện thói quen hành vi trong các thời điểm ăn, ngủ, học tập, vui chơi, lao động là điểu kiện cũng cố hình thành các kĩ năng, kĩ xảo, thói quen hành vi đạo đức hằng ngày cho trẻ

Như vậy, chế độ sinh hoạt có ý nghĩa quan trọng và là phương tiện cơ bản

để GDHVĐĐ cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi

Trang 34

1.3.2 Yêu cầu đối với việc xây dựng chế độ sinh hoạt hằng ngày cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi

Chế độ sinh hạt tại trường mầm non được xây dựng theo những yêu cầu sau:

- Đảm bảo tính khoa học, hợp lý, vừa sức, nhịp nhàng phù hợp với nhịp điệu sinh học và cuộc sống thực của trẻ, đáp ứng mục tiêu phát triển toàn diện ở trẻ mẫu giáo

- Phân phối thời gian thích hợp và có sự cân bằng giữa các hoạt động tĩnh

và động, giữa các hoạt động trong lớp và ngoài trời, giữa hoạt động chung cả lớp

và hoạt động theo nhóm, cá nhân Sự chuyển tiếp giữa các hoạt động cần nhẹ nhàng, tự nhiên, tránh để trẻ thụ động chờ đợi lâu

- Đảm bảo trình tự hoạt động được lặp đi lặp lại tương đối ổ định, tránh xáo trộn nhiều nhằm tạo nề nếp và thói quen tốt ở trẻ

- Đảm bảo cho mọi trẻ được hoạt động tích cực và phù hợp với đặc điểm riêng của từng trẻ, tránh đồng loạt, gò bó cứng nhắc

- Khoảng thời gian phân chia cho các hoạt động không được quá nhỏ hoặc quá lớn để giáo viên có thể linh hoạt khi thực hiện và đảm bảo trình tự các hoạt động để tạo thói quen cho trẻ đối với việc thực hiện

- Đảm bảo thời gian cho trẻ hoạt động tự do và thời gian cho trẻ chuyển tiếp giữa các hoạt động một cách hợp lý, không vội vàng hay bị thúc ép Đảm bảo cho trẻ được hoạt động tự lực tối đa theo nhu cầu, sở thích cá nhân

1.3.3 Nội dung chế độ sinh hoạt của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi tại trường mầm non

Trong bối cảnh chung của quá trình đổi mới nước ta, đổi mới giáo dục được coi là quốc sách hàng đầu, được nhận thức như một đòn bẩy cho sự phát triển kinh tế - xã hội Giáo dục mầm non là giai đoạn đầu tiên của hệ thống giáo dục quốc dân, đặt nền móng đầu tiên cho sự hình thành nhân cách con người Việt Nam đầu thế kỷ XXI, đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước như chủ động, thích ứng, sáng tạo, hợp tác Một trong nhưng mục tiêu giáo dục trẻ mẫu giáo là phát triển một số nét tính cách, phẩm chất, năng lực như mạnh dạn, tự tin, sáng tạo, linh hoạt, dễ hòa nhập, dễ chia sẻ, dễ

Trang 35

hợp tác… tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ tham gia vào cuộc sống, chuẩn bị tốt cho trẻ vào học lớp một và các bậc học sau có kết quả… Trước những biến động của nền giáo dục hiện đại, Vụ giáo dục Mầm non và trung tâm nghiên cứu giáo dục Mầm non đã đưa ra chế độ sinh hoạt mới Chế độ sinh hoạt này có nhiều điểm tiến bộ so với CĐSHHN cũ về sự phân chia các mốc thời gian, nội dung hoạt động và các phương pháp giáo dục Những năm vừa qua, viện khoa học giáo dục đã nghiên cứu chương trình giáo dục mẫu giáo và đã đưa ra nội dung chế độ sinh hoạt cụ thể:

14h00 - 15h00 Vệ sinh - Ăn phụ 14h00 - 15h00 15h00 - 16h00 Chơi và hoạt động chiều 15h00 - 16h00 16h00 - 17h00 Trẻ chuẩn bị ra về và trẻ trẻ 16h00 - 16h45

1.4 Giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ mẫu giáo thông qua chế độ sinh hoạt hàng ngày

Các nội dung và phương pháp GDHVĐĐ cho trẻ được lồng ghép vào tất cả các hoạt động trong một ngày ở trường mầm non gồm các nội dung và phương pháp sau:

*Nội dung:

- Hành vi văn minh trong giao tiếp với những người xung quanh

- Hành vi văn hóa trong vệ sinh

- Hành vi tự phục vụ

Trang 36

1.4.1 Đón trẻ, hoạt động tự chọn, thể dục sáng, điểm danh

Trong đón trẻ, giáo viên giáo dục trẻ hành vi văn minh trong giao tiếp với những người xung quanh và hành vi tự phục vụ như: Tự cất cặp, mũ, dày dép đúng nơi quy định, gọn gàng, ngăn nắp; khoanh tay chào cô trước khi vào lớp và chào tạm biệt bố mẹ… lúc nào cũng nhắc nhở trẻ như vậy sẽ hình thành ở trẻ hành vi chào hỏi lễ phép với mọi người.Tùy vào những tình huống mà cô giáo

sử dụng các phương pháp để giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ VD: sử dụng phương pháp nhắc nhở “À, cô thấy bạn Minh chưa cất dép đúng chỗ đấy, con hãy cất dép và chào cô để vào lớp nào” Khi được cô nhắc nhở, trẻ sẽ ý thức được hành vi của mình là chưa đúng, và trẻ sẽ nhanh chóng lấy dép và cất đúng nơi quy định

Hoạt động tự chọn: Khi trẻ được đón vào lớp, cô cho trẻ tự lấy đồ chơi và chơi theo ý thích của mình Cô có thể gợi ý cho một số trẻ tham gia làm công việc trực nhật hoặc cùng cô chuẩn bị cho giờ học tới Trong khi trẻ chơi, cô nhắc nhở trẻ chơi đoàn kết, biết chia sẻ đồ chơi với nhau Gần hết giờ chơi, cô nhắc nhở trẻ thu dọn đồ chơi gọn gàng để chuẩn bị tập thể dục buổi sáng

Thể dục buổi sáng: Giáo viên nhắc nhở trẻ biết xếp hàng ngay ngắn, không

xô đẩy bạn

Trang 37

1.4.2 Hoạt động học

Hoạt động học trong CĐSHHN của trẻ được tổ chức học có chủ đích, có sự định hướng và hướng dẫn trực tiếp của giáo viên, nhằm cung cấp cho trẻ những kiến thức và trẻ được trải nghiệm qua các hoạt động do cô giáo tổ chức Mỗi hoạt động học tập đều cung cấp cho trẻ kiến thức cụ thể như: hoạt động làm quen với tác phẩm văn học, làm quen chữ viết, làm quen với các biểu tượng toán, khám phá môi trường xung quanh, hoạt động tạo hình, hoạt động âm nhạc…

Hoạt động học tập tuy không phải là hoạt động chủ đạo ở trường mầm non nhưng thông qua các môn học sẽ có nhiều ưu thế để GDHVĐĐ cho trẻ, nhằm hình thành cho trẻ những thói quen, hành vi đạo đức tốt đẹp Thông qua bài dạy

mà giáo viên lồng ghép nội dung và phương pháp GDHVĐĐ cho phù hợp với nội dung, yêu cầu của bài dạy

Ví dụ: Qua câu chuyện “Ba cô gái” trẻ phần nào ý thức được khi bố mẹ bị

ốm trẻ phải biết hỏi han, động viên, rót nước, lấy khăn… Ngoài ra cô giáo nên khai thác trẻ bằng cách dành thời gian để trẻ nói về những công việc đã làm Qua nhân vật “chị cả, chị hai” cô giáo hỏi trẻ: có khi nào con làm những việc khiến mẹ buồn chưa? để trẻ tự nói lên sự thật về bản thân Chính sự nói thật đó

đã giúp trẻ mạnh dạn tự đánh giá về mình, về bạn, tập cho trẻ tính trung thực Như vây, qua hoạt động làm quen các tác phẩm văn học, cụ thể là các bài thơ, câu chuyện Cô giáo giúp trẻ hiểu được nội dung của tác phẩm văn học Mỗi câu chuyên, bài thơ đều có nội dung giáo dục khác nhau Cũng chính qua các nhân vật trong bài thơ và câu chuyện đã giúp trẻ có được ý thức giúp đỡ mọi người xung quanh; yêu thương em nhỏ; lễ phép và vâng lời người lớn; kính trọng yêu quý ông bà, cha mẹ, cô giáo… Phương pháp sử dụng để giáo dục hành

vi đạo đức cho trẻ là phương pháp dùng lời, bằng hình thức chỉ bảo trực tiếp hoặc trò chuyện trao đổi của cô, trẻ sẽ hiểu được ý nghĩa và lý do khi mẹ ốm phải biết quan tâm, rót nước, lấy khăn cho mẹ…

Cho trẻ làm quen với “Bác nông dân”, trẻ biết được công việc vất vả của bác để làm ra sản phẩm giúp mọi người có được cái ăn, từ đó trẻ có ý thức hơn

Trang 38

trong việc ăn hết suất, không lãng phí các thực phẩm, kính trọng và yêu quý bác nông dân

Hoạt động âm nhạc: Bài “Đi học về” cô giáo dạy trẻ biết chào hỏi lễ phép với những người thân yêu trong gia đình khi đi học về qua các câu hỏi: Đi học

về bạn nhỏ trong bài hát đã chào ai? Con chào ông bà, bố mẹ, anh chị như thế nào? (chào ai trước? tư thế chào?)

Hoạt động tạo hình: “xé dán hoa tặng mẹ” Cô có thể đàm thoại: Các con hãy kể về mẹ của mình? Con làm gì để mẹ vui? Qua đó hình thành ở trẻ thói quen quan tâm đến người thân trong gia đình, biết tạo ra những niềm vui nho nhỏ cho những người thân yêu

1.4.3 Hoạt động ngoài trời

Đây là hoạt động bổ ích và lý thú đối với trẻ Ra ngoài trời trẻ được tận hưởng những điều kiện tự nhiên như nước, ánh sáng mặt trời, không khí trong lành… nhờ đó mà cơ thể được rèn luyện, sức khỏe được tăng cường Ra ngoài trời trẻ còn được tiếp xúc với các hiện tượng tự nhiên, xã hội phong phú, giúp trẻ mở rộng vốn hiểu biết về thế giới xung quanh, phát triển tính tò mò ham hiểu biết, phát triển những xúc cảm thẩm mỹ Đặc biệt, cô có điều kiện giáo dục cho trẻ những hành vi ứng xử với môi trường xung quanh

Nội dung hoạt động ngoài trời gồm: hoạt động có mục đích và chơi tự do (theo ý thích của trẻ) Tùy vào nội dung hoạt động mà cô giáo khéo léo lồng ghép nội dung và phương pháp giáo dục hành vi đạo đức cho phù hợp Có thể lựa chọn một số hành vi đạo đức để giáo dục như: Thương yêu, chăm sóc, bảo

vệ các con vật nuôi; chăm sóc cây xanh, không hái hoa bẻ cành ngắt lá; giữ vệ sinh chung, bảo vệ môi trường; giữ gìn bảo vệ tài sản chung, đồ dùng đồ chơi… VD: - Trong giờ hoạt động học có chủ đích với đề tài “cây xanh và môi trường sống”, cô giáo có thể đàm thoại: Cây xanh có lợi ích như thế ? Con làm

gì để bảo vệ cây xanh? Các con phải làm gì để bảo vệ môi trường? qua đó hình thành ở trẻ ý thức bảo vệ môi trường: không ngắt lá bẻ cành, biết bảo vệ chăm sóc cây xanh Khi trẻ trả lời đúng cô sẽ khen ngợi trẻ đã ý thức bảo vệ môi

Trang 39

trường, với những trẻ trả lời sai cô sẽ nhẹ nhàng giải thích cho trẻ hiểu về hành

vi không đúng của trẻ với môi trường

- Khi cho trẻ dạo chơi sân trường quan sát cây xanh, vườn hoa, vườn rau, ao

cá Bằng phương pháp dùng lời cô giải thích và giáo dục trẻ biết bắt sâu, lượm lá vàng, chăm sóc, tưới cây, không khạc nhổ, không tiểu tiện lên bồn hoa của trường… Ngoài việc giáo dục trẻ hành vi bảo vệ môi trường, giáo viên còn giáo dục trẻ phải biết nghe theo lời cô giáo, biết giữ trật tự, không chạy nhảy, ồn ào

1.4.4 Chơi, hoạt động ở các góc

Đối với trẻ nhỏ, nhất là trẻ mẫu giáo trò chơi thường gây hứng thú và say

mê nhất, vì trò chơi tác động mạnh mẽ nhất đến đời sống tình cảm của các cháu Cũng như nghệ thuật, chơi là người bạn đồng hành của tuổi thơ, chơi là cuộc sống của trẻ, không chơi trẻ không phát triển được Hầu hết các trò chơi đều có tác động đến trẻ nhiều mặt (Thể chất, trí tuệ, đạo đức, thẩm mỹ) Nhưng trong việc giáo dục đạo đức mà đặc biệt là giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ thì loại trò chơi đóng vai theo chủ đề là trò chơi có hiệu quả nhất Thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề như: Bán hàng, cô giáo, bác sỹ, nấu ăn… trẻ được thỏa sức sắm vai, được làm người lớn và thể hiện vai chơi của mình qua giao tiếp, cử chỉ, thái

độ với mọi người xung quanh

Nội dung GHVĐĐ cho trẻ qua hoạt động góc gồm: hành vi ứng xử trong giao tiếp với những người xung quanh, hành vi chia sẻ và giúp đỡ bạn bè Ở hoạt này, cô giáo có thể sử dụng kết hợp tất cả các phương pháp để giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ

Cô giáo dục trẻ phải biết cùng nhau hợp tác tìm kiếm đồ chơi và chơi hòa thuận với nhau, không tranh giành đồ chơi, biết giữ gìn đồ chơi không vứt ném Trong khi trẻ chơi, cô quan sát và hướng dẫn kịp thời khi trẻ lúng túng, cung cấp thêm nội dung và kỹ năng chơi cho trẻ Những trường hợp trẻ không hợp tác với bạn trong quá trình chơi, tranh giành đồ chơi hay xảy ra xích mích… cô giáo sẽ

là người giải quyết các vấn đề ở trẻ và giải thích cho trẻ hiểu những việc trẻ làm sai chỗ nào và phải sửa sai như thế nào để dần dần trẻ điều chỉnh hành vi của mình cho đúng Hết giờ chơi, cô cho trẻ cất đồ chơi gọn gàng, đúng chỗ

Trang 40

VD: Khi trẻ chơi góc xây dựng, xảy ra tranh cãi giữa kỹ sư trưởng và thợ xây dựng vì lý do không biết thỏa thuận với nhau để cùng hoàn thành công trình của mình Cô đến hỏi nguyên nhân thì biết do kỹ sư trưởng phân công cho thợ xây quá nhiều việc không phù hợp với khả năng nên đã dẫn đến tranh cãi, mâu thuẫn Cô giúp trẻ tháo gỡ mâu thuẫn, cô gợi ý cho kỹ sư trưởng phải biết hòa thuận trao đổi với bác thợ xây dựng xem ai có khả năng làm việc gì thì sẽ giao việc cho người đó để cùng nhau hoàn thành công trình xây dựng của nhóm Từ

đó trẻ biết và nhận ra mỗi lần chơi sẽ cùng nhau hợp tác, thỏa thuận rồi mới cùng nhau phân công nhiệm vụ cho từng người

1.4.5 Vệ sinh - ăn trưa

Đây là thời điểm thích hợp nhất để giáo viên giáo dục hành vi văn hóa vệ sinh cho trẻ

Cô hướng dẫn trẻ các thao tác rửa tay - lau mặt trước và sau khi ăn; sau khi

đi vệ sinh; sau khi chơi bẩn; sau khi ngủ dậy Ý thức tiết kiệm nước, không xô đẩy, chen lấn bạn

VD: Trước giờ ăn, cô giáo có thể nói „„Đã đến giờ vệ sinh, cô cháu mình cùng rửa tay, lau mặt nhé” trẻ chủ động đứng thành 3 tổ 3 hàng dọc ngay ngắn

và đọc bài thơ “Lời cô dặn” Đọc bài thơ xong từng tổ lần lượt vào rửa tay, trẻ biết rửa tay bằng xà phòng đúng quy trình, trẻ thực hiện trật tự không đùa nghịch, không xô đẩy lẫn nhau Khi rửa tay, lau mặt xong, cô cho trẻ tự biết lấy ghế ngồi vào tổ,đúng chỗ của mình Cô cho một số bạn nhanh nhẹn giúp cô dọn dẹp đồ dùng, dụng cụ sau khi vệ sinh vào nơi quy định

- Ăn trưa: Việc ăn uống không những đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của cơ thể mà còn có khía cạnh về đạo đức, thẩm mỹ, hành vi đạo đức trên bàn ăn Trong những giờ ăn trưa cô giáo giáo dục cho trẻ có những thói quen hành

vi đạo đức trong ăn uống Trước khi ăn phải mời cô, mời bạn, trong khi ăn không nói chuyện đùa nghịch, không làm rơi vãi, ho hay hắt hơi phải biết che miệng, hướng dẫn trẻ nhặt cơm rơi vãi vào đĩa, động viên trẻ ăn hết xuất…

VD: Đến giờ ăn cô chuẩn bị mỗi bàn 2 cái dĩa, một dĩa đựng cơm rơi, một dĩa đựng khăn ẩm lau tay Trẻ biết khi cơm rơi nhặt bỏ ở đĩa và lau tay vào

Ngày đăng: 07/06/2018, 11:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đặng Quốc Bảo (2008), Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục
Tác giả: Đặng Quốc Bảo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008
2. Vũ Gia Hiển (2005), Tâm lý học và chuẩn hành vi, NXB Lao động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học và chuẩn hành vi
Tác giả: Vũ Gia Hiển
Nhà XB: NXB Lao động
Năm: 2005
3. Ngô Công Hoàn (1997), Giao tiếp và ứng xử sư phạm, NXB Đại học Quốc gia Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giao tiếp và ứng xử sư phạm
Tác giả: Ngô Công Hoàn
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà nội
Năm: 1997
5. Hồ Chí Minh (1979), Bàn về công tác giáo dục, NXB Sự thật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về công tác giáo dục
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: NXB Sự thật
Năm: 1979
6. Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt (1987), Giáo dục học (Tập 1, tập 2), NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học (Tập 1, tập 2)
Tác giả: Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1987
11. Trịnh Thị Tình (2006), Một số biện pháp giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi ở trường mầm non. Luận văn Thạc sỹ giáo dục học, Viện khoa học Giáo dục Việt Nam, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số biện pháp giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi ở trường mầm non
Tác giả: Trịnh Thị Tình
Năm: 2006
12. Tạ Ngọc Thanh (2010), Giáo dục đạo đức cho trẻ mầm non, Tạp chí Khoa học giáo dục số 53, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục đạo đức cho trẻ mầm non
Tác giả: Tạ Ngọc Thanh
Năm: 2010
14. Hà Nhật Thăng (1998), Giáo trình đạo đức và giáo dục đạo đức, NXB Đại học Sƣ phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình đạo đức và giáo dục đạo đức
Tác giả: Hà Nhật Thăng
Nhà XB: NXB Đại học Sƣ phạm Hà Nội
Năm: 1998
4. Ngô Công Hoàn (2006), Giá trị đạo đức và giáo dục giá trị đạo đức cho trẻ em lứa tuổi mầm non, NXB Đại học Sƣ phạm Khác
7. Vũ Dương Ninh (Chủ biên), Nguyễn Gia Phu, Nguyễn Quốc Hùng, Đinh Ngọc Bảo (1988), Lịch sử văn minh thế giới, NXB Giáo dục Khác
8. Thái Duy Tiên (2010), Tìm hiểu cấu trúc tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, NXB Đại học Sƣ phạm Khác
9. Mạc Văn Trang (1983), Giáo dục hành vi đạo đức cho học sinh nhỏ, NXB Giáo dục Khác
10. Nguyễn Thị Tâm (2014), Biện pháp nâng cao chất lƣợng giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học ở TP. Hồ Chí Minh Khác
13. Nguyễn Ánh Tuyết (2004), Giáo dục mầm non những vấn đề lý luận và thực tiễn, NXB Đại học Sƣ phạm Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w