35 Bảng 6: Khảo sát nhận thức của các giáo viên về việc khắc phục lỗi phát âm trong dạy học phân môn Tập đọc cho học sinh lớp 3 .... Phát âm sai có thể sẽ làm cho trẻ và người nghe hiểu
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong khóa luận là trung thực và chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào
Đồng Hới, ngày tháng năm 2018
Tác giả khóa luận
Phạm Thị Kim Anh
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Khoá luận hoàn thành chỉ sự cố gắng của bản thân thôi thì chưa đủ, đằng sau đó
là cả một hậu phương vững chắc giúp đỡ cả về tinh thần lẫn trí tuệ
Với lòng biết ơn sâu sắc nhất từ sâu thẳm lòng mình, em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến toàn thể quý thầy cô giáo Trường Đại học Quảng Bình và các thầy cô trong khoa Sư phạm Tiểu học – Mầm non đã truyền đạt vốn kiến thức quý báu cho em trong suốt bốn năm học tập tại trường, giúp em có được những hành trang vững chắc
để bước vào sự nghiệp trồng người của mình
Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới giảng viên TS Nguyễn Thị Nga người đã dùng cả tình yêu thương, sự tâm tâm huyết lẫn kiến thức, không quản ngại tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em trong suốt quá trình làm khoá luận
Em xin chân thành cảm ơn cô giáo chủ nhiệm Trần Thị Mỹ Hồng đã động viên khi em gặp khó khăn Cảm ơn các thầy, cô giáo và các em học sinh lớp 3 Trường Tiểu học số 1 Phúc Trạch – Bố Trạch – Quảng Bình đã tạo điều kiện chỉ dẫn, giúp đỡ để
em có thể thâm nhập thực tế tìm hiểu thực tiễn dạy học Tập đọc cho học sinh lớp 3 ở trường trong quá trình làm khoá luận
Xin gửi lời cảm ơn tới tập thể lớp Đại học Giáo dục Tiểu học (B) – K56, cũng như gia đình, bạn bè đã quan tâm, tận tình giúp đỡ em khi em để hoàn thành khoá luận này
Do điều kiện về thời gian cũng như năng lực nghiên cứu của bản thân còn hạn chế, khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong được các ý kiến đóng góp của quý thầy cô và các bạn sinh viên để đề tài được hoàn chỉnh hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Đồng Hới, ngày tháng năm 2018
Sinh viên thực hiện
Phạm Thị Kim Anh
Trang 3DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT
GV: Giáo viên
HS: Học sinh
SGK: Sách giáo khoa SGV: Sách giáo viên
TMĐ: Tiếng mẹ đẻ
NXBGD: Nhà xuất bản Giáo dục
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
3 Mục đích nghiên cứu 4
4 Đối tượng, khách thể nghiên cứu 4
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
6 Giới hạn đề tài nghiên cứu 5
7 Phương pháp nghiên cứu 5
8 Đóng góp của đề tài 6
9 Thời gian thực hiện của đề tài 6
10 Cấu trúc đề tài 6
PHẦN II: NỘI DUNG 7
CHƯƠNG I: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC KHẮC PHỤC LỖI PHÁT ÂM CHO HỌC SINH LỚP 3 TRƯỜNG TIỂU HỌC SỐ 1 PHÚC TRẠCH- BỐ TRẠCH - QUẢNG BÌNH 7
1.1 Cơ sở lý luận 7
1.1.1 Một vài khái niệm liên quan 7
1.1.2 Cơ sở tâm lý và sinh lý của học sinh Tiểu học 13
1.1.2.1 Cơ sở tâm lý học 13
1.1.2.2 Cơ sở sinh lý 16
1.1.3 Vị trí, ý nghĩa của việc rèn phát âm trong dạy học Tập đọc cho học sinh 27
1.2 Cơ sở thực tiễn 28
1.2.1 Và nét về mục tiêu và chương trình sách giáo giáo khoa tiếng Việt lớp 3 28
Trang 51.2.1.1 Mục tiêu 28
1.2.1.2 Vài nét về chương trình và sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 3 29
1.2.2 Khảo sát thực trạng sửa lỗi phát âm cho học sinh lớp 3 Trường Tiểu học số 1 Phúc Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình 31
1.2.2.1 Mục đích khảo sát 31
1.2.3 Kết quả khảo sát 31
1.2.3.1 Thực trạng mắc lỗi phát âm của học sinh lớp 3 Trường Tiểu học số 1 Phúc Trạch 32
1.2.3.2 Thực trạng dạy phát âm trong nhà trường 36
1.2.3.3 Nguyên nhân mắc lỗi phát âm của học sinh 38
Tiểu kết chương I 44
CHƯƠNG II: BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC LỖI PHÁT ÂM CHO HỌC SINH LỚP 3 TRƯỜNG TIỂU HỌC SỐ 1 PHÚC TRẠCH – BỐ TRẠCH –QUẢNG BÌNH 45
2.1 Luyện tập theo mẫu 46
2.2 Phân tích cách phát âm 49
2.3 Luyện tập tổng tập 53
2.4 Tổ chức trò chơi học tập 55
2.5 Thường xuyên luyện đọc các từ khó trong giờ Tập đọc 60
2.6 Vận thiết bị dạy học để sửa lỗi phát âm trong dạy học Tập đọc 61
Tiểu kết chương II 62
CHƯƠNG III: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 63
3.1 Những vấn đề chung 63
3.1.1 Một số yêu cầu của thiết kế 63
3.2 Thiết kế giáo án thực nghiệm sư phạm 64
3.2.1 Thiết kế giáo án bài tập đọc “Bàn tay cô giáo” (tuần 21 – Tiếng Việt 3, tập 2) 64 3.2.2 Thiết kế giáo án bài tập đọc “Cuộc chạy đua trong rừng” (tuần 28 – Tiếng Việt 3, tập 2) 64
3.3 Thực nghiệm 64
3.3.1 Mục đích thực nghiệm 64
3.3.2 Đối tượng, thời gian và địa bàn thực nghiệm 65
3.3.2.1 Đối tượng thực nghiệm 65
Trang 63.3.2.2 Thời gian và địa bàn thực nghiệm 65
3.3.3 Cách thức thực nghiệm 65
3.3.4 Nội dung, phương pháp thực nghiệm 65
3.3.4.1 Nội dung thực nghiệm 65
3.3.4.3 Phiếu bài tập thể nghiệm: 66
3.4 Kết quả thể nghiệm 67
3.4.1 Chỉ tiêu đánh giá 67
3.4.2 Kết quả thể nghiệm 67
3.4.2.1 Phương pháp thực nghiệm 67
Tiểu kết chương III 70
PHẦN III: KẾT LUẬN 71
TÀI LIỆU THAM KHẢO 73 PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1: Bảng sự khác biệt ngữ âm giữa các phương ngữ của tiếng Việt 11 Bảng 2: Phân loại thanh điệu theo âm điệu và âm vực 13 Bảng 3: Sơ đồ cấu tạo âm tiết tiếng Việt 18 Bảng 3: Thống kê lỗi phát âm của học sinh lớp 3 Trường Tiểu học số 1 Phúc Trạch –
Bố Trạch – Quảng Bình 33 Bảng 4: Khảo sát hứng thú học tập của học sinh khi học Tập đọc 35 Bảng 5: Khảo sát vai trò của phân môn Tập đọc đối với học sinh 35 Bảng 6: Khảo sát nhận thức của các giáo viên về việc khắc phục lỗi phát âm trong dạy học phân môn Tập đọc cho học sinh lớp 3 36 Bảng 7: Khảo sát sự tự đánh giá phát âm của giáo viên trong giờ Tập đọc 37 Bảng 8: Kết quả kiểm tra khả năng phát âm ban đầu của HS bằng điểm số 66 Bảng 9: Kết quả kiểm tra chất lượng khả năng phát âm của HS bằng điểm số sau khi
áp dụng các biện pháp mà khóa luận đề xuất 68
Trang 9em chưa nắm chắc được công cụ để lĩnh hội tri thức, tư tưởng, tình cảm của người khác chứa đựng trong văn bản được đọc Giáo viên Tiểu học vẫn còn lúng túng khi dạy Tập đọc
Phát âm sai có thể sẽ làm cho trẻ và người nghe hiểu sai ý của câu, vậy nên khi đọc nếu trẻ phát âm đúng sẽ giúp trẻ chiếm lĩnh được ngôn ngữ để dùng trong hoạt động học tập và cuộc sống: đứng trước sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ, đứng trước hàng trăm hàng ngàn những sáng kiến phát minh ra mỗi ngày nhờ đọc mà trẻ lĩnh hội, tiếp thu tri thức một cách nhanh nhất Mặt khác nhờ đọc mà trẻ đánh giá nhận thức được đúng, sai về những điều xảy ra trong cuộc sống điều mà nhà trường không có điều kiện truyền đạt hết qua đó hoàn thiện nhân cách bản thân Con người Việt Nam sử dụng tiếng Việt là công cụ giao tiếp chính, đọc giúp trẻ chiếm lĩnh được ngôn ngữ để dùng trong giao tiếp: chỉ khi chúng ta đọc tốt, phát âm chuẩn thì chúng ta mới viết tốt, mới hiểu rõ, nghe rõ được nội dung giao tiếp mà chủ thể giao tiếp muôn truyền tải, từ đó biết điều chỉnh được hành vi của bản thân làm cho mối quan hệ giữa người với người trở nên tốt đẹp hơn Ngoài ra nó là tiền đề để học tập tốt các môn học khác Nó tạo hứng thú, động cơ học tập, đồng thời tạo điều kiện để học sinh có khả năng tự học và tinh thần học tập cả đời
Trang 102
Trong các bài tập đọc thường có những bài thơ, bài văn đề cao những giá trị cốt lõi của dân tộc Việt như: yêu quê hương, đất nước, uống nước nhớ nguồn, thương người như thể thương thân Chỉ khi các em đọc đúng, phát âm chuẩn các em mới có thể cảm nhận được nội dung, ý nghĩa của bài tập đọc, từ đó nảy nở những ước mơ tốt đẹp, khơi dậy những năng lực, hành động, sức mạnh sáng tạo cũng như bồi dưỡng tâm hồn trở nên nhân văn hơn, hoàn thiện hơn
Mặt khác xã hội ngày nay lắm thói hư tật xấu, lứa tuổi học sinh là đối tượng rất
dễ bị tiêm nhiễm, qua lời cảnh báo mà các em đọc được trên các phương tiện truyền thông sẽ cảnh tỉnh, giúp các em tránh xa Nhờ biết đọc mà trong một số trường hợp nguy kịch các em có thể tự tìm cách giải thoát cho bản thân và cho mọi người
Đã từ lâu tôi rất tâm đắc câu nói của William A Warrd “Người thầy trung bình chỉ biết nói Người thầy giỏi biết giải thích Người thầy xuất chúng biết minh họa Người thầy vĩ đại biết cách truyền cảm hứng” Vâng đất nước đang trên đà hội nhập
và phát triển, sự phát triển đất nước phụ thuộc vào “chất xám” mà nước đó đang có
Để nước ta vươn lên “Sánh vai với các cường quốc năm châu” tạo ra những người công dân “xã hội chủ nghĩa” đòi hỏi ngành Giáo dục và Đào không được dậm chân
tại chỗ mà phải luôn có những đổi mới phù hợp Bên cạnh sự đổi mới chương trình và nội dung học tập, thì việc đổi mới phương pháp dạy học của người thầy là rất quan trọng và được xem là khâu cơ bản đối với sự nghiệp giáo dục của nước ta
Địa bàn Phúc Trạch là vùng 135 - vùng khó khăn nơi đây cơ sở vật chất kĩ thuật còn hạn chế hơn nhiều so với các trường trong tỉnh Mặt khác học sinh ở đây ảnh hưởng nhiều của phương ngữ địa phương nên khả năng tiếp nhận tiếng Việt, đặc biệt
là khả năng phát âm đang gặp nhiều khó khăn Vì vậy với ý nghĩa của việc dạy đọc thì việc dạy đọc, dạy phát âm cho học sinh đóng vai trò quan trọng
Sinh ra, lớn lên và từng được học tập tại ngôi trường Tiểu học số 1 Phúc Trạch tôi có thể đi sâu vào tìm hiểu thực tế thực trạng mắc lỗi phát âm của học sinh lớp 3 ở đây một cách dễ dàng hơn Giai đoạn lứa tuổi học sinh Tiểu học là giai đoạn này then chốt trong quá trình hình thành kỹ năng phát âm cho học sinh
Vì những lý do trên tôi đã chọn đề tài “Khắc phục lỗi phát âm trong dạy học phân môn Tập đọc cho học sinh lớp 3 trường Tiểu học số 1 Phúc Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình” nhằm góp phần nâng cao hiệu quả dạy học Tập đọc cho
học sinh lớp 3 Trường Tiểu học số 1 Phúc Trạch nói riêng và học sinh lớp 3 ở các ngôi trường khác nói chung
Trang 113
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Giáo trình “Phát triển lời nói cho học sinh tiểu học trên bình diện ngữ âm” (tài
liệu đào tạo giáo viên Tiểu học, trình độ đại học), dự án phát triển giáo viên Tiểu học của Nguyễn Thị Xuân Yến – Lê Thị Thanh Nhàn (NXBGD 2007) đã mô tả hệ thống
âm chuẩn trong tiếng Việt hiện đại xác định lỗi phát âm, xác định biến thể phát âm theo các vùng phương ngữ cho học sinh Tiểu học Trong cuốn này tác giả đã đưa ra được cơ sở lý luận một số phương pháp dạy học phát âm ở tiểu học
Với công trình nghiên cứu “Phương pháp dạy học tiếng Việt nhìn từ Tiểu học”
của tác giả Hoàng Hoà Bình – Nguyễn Minh Thuyết đã trình bày về các phương pháp dạy học chung cho môn tiếng Việt nhưng không phân tích riêng lẻ từng phương pháp ứng với từng phân môn
Giáo trình “Dạy học Tập đọc ở Tiểu học” – Lê Phương Nga, đã nghiên cứu đến
việc xác định chuẩn chính âm trong tiếng Việt và hướng đến một trong ba mẫu hình lý tưởng để luyện phát âm cho học sinh
Công trình “Ngữ âm học Tiếng Việt hiện đại” của tác giả Cù Đình Tú – Hoàng
Văn Thung – Nguyễn Nguyên Trứ (NXB Giáo dục, 1978) đã đề cập đến một số vấn
đề liên quan đến ngữ âm học trong nhà trường Mặc dù đã nêu lên được một số biện pháp cụ thể có liên quan đến luyện phát âm xong chưa hướng tới đối tượng cụ thể
Giáo trình “Vui học tiếng Việt” (Trần Mạnh Hưởng, NXB Giáo dục 2000) Tài
liệu này đề cập đến những kiến thức tiếng Việt cơ bản giúp học sinh luyện tập thành thạo các kỹ năng “đọc, nghe, nói, viết”, các em sẽ suy nghĩ mạch lạc, diễn đạt trong sáng, có khả năng làm chủ được tiếng nói và ngôn ngữ của dân tộc
Các công trình nghiên cứu trên đề cập đến những vấn đề khác nhau của phân môn Tập đọc và luyện phát âm cho học sinh bậc Tiểu học nhưng chưa có công trình nghiên cứu nào nghiên cứu tìm hiểu cách khắc phục lỗi phát âm cho học sinh lớp 3 Trường Tiểu học số 1 Phúc Trạch – Bố Trạch - Quảng Bình Các công trình nghiên cứu trên là cơ sở lí luận quý báu để tôi thực hiện đề tài: “Khắc phục lỗi phát âm trong dạy học phân môn Tập đọc cho học sinh lớp 3 Trường Tiểu học số 1 Phúc Trạch – Bố Trạch - Quảng Bình”
Trang 124
3 Mục đích nghiên cứu
Tự hào khi được đứng trong nghề “cao quý nhất trong những nghề cao quý” ươm
mầm xanh cho đất nước, qua đề tài tôi có thể củng cố kinh nghiệm giảng dạy của bản thân, qua đó thấy được những tồn tại trong giảng dạy phân môn Tập đọc về việc rèn phát âm chuẩn cho học sinh
Đọc có một ý nghĩa rất to lớn vì nó bao gồm các nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục
và phát triển Nếu mắc lỗi phát âm trong Tập đọc học sinh không thể học tập tốt môn học khác, mắc lỗi phát âm người nghe sẽ khó tiếp nhận thông tin, làm hiểu sai vấn đề giao tiếp Nếu phát âm sai trong Tập đọc học sinh sẽ không nắm được nội dung của bài Tập đọc, khi không nắm được nội dung học sinh sẽ không cảm nhận được cái hay, cái đẹp, giá trị cốt lõi mà bài tập đọc muốn truyền tải Đôi khi lại hiểu nội dung bài tập đọc theo chiều hướng tiêu cực
Tập đọc quan trọng là vậy nhưng trên thực tế, hiện tượng phát âm sai tiếng Việt vẫn còn tồn tại Vì vậy thực hiện luận văn này tôi mong có thể khắc phục lỗi và rèn kỹ năng phát âm chuẩn cho học sinh Tiểu học nói chung, nâng cao hiệu quả dạy học tập đọc cho học sinh lớp 3 Trường Tiểu học số 1 Phúc Trạch nói riêng
4 Đối tượng, khách thể nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của khoá luận là “Khắc phục lỗi phát âm trong dạy học phân môn Tập đọc cho học sinh lớp 3 Trường Tiểu học số 1 Phúc Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình”
Đối tượng thực nghiệm: học sinh và giáo viên lớp 3 Trường Trường Tiểu học số
1 Phúc Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình
Khách thể nghiên cứu: nguyên nhân, tình trạng, cách khắc phục lỗi phát âm trong dạy học phân môn Tập đọc
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt những mục tiêu đề ra việc xây dựng và giải quyết các nhiệm vụ là hết sức quan trọng
Các nhiệm vụ đó là:
Thứ nhất: Nghiên cứu cơ sở lý luận của dạy học phát âm
Thứ hai: Điều tra khảo sát thực trạng học phát âm
Trang 136 Giới hạn đề tài nghiên cứu
Khắc phục lỗi phát âm trong dạy học phân môn Tập đọc cho học sinh lớp 3 Trường Tiểu học số 1 Phúc Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình
7 Phương pháp nghiên cứu
Để thực tốt các nhiệm vụ đề ra đạt được mục tiêu nghiên cứu thì không thể thiếu được các phương pháp nghiên cứu Có rất nhiều phương pháp trong nghiên cứu khoa học thường được áp dụng, với các vấn đề của đề tài này tôi đã sử dụng các nhóm phương pháp:
- Nhóm phương pháp nghiên cứu khoa học thực tiễn
Mục tiêu: Thu thập thông tin về thực trạng phát âm của học sinh, thực nghiệm
khắc phục lỗi phát âm trong dạy học phân môn Tập đọc cho học sinh lớp 3 Trường Tiểu học số 1 Phúc Trạch
+ Phương pháp quan sát sư phạm: Quan sát quá trình học của các em trong giờ Tập đọc, quan sát ngôn ngữ nói chuyện của các em với bạn bè, thầy cô, ba mẹ
+ Phương pháp trò chuyện, vấn đáp: Thu thập thông tin về thực trạng phát âm của học sinh lớp 3 trường Tiểu học số 1 Phúc Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình + Phương pháp điều tra giáo dục: Điều tra thực trạng mắc lỗi phát âm của các em + Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục: Sử dụng phương pháp này vào quá trình phân tích thực tiễn, quá trình dạy - học Tập đọc ở trường Tiểu học từ đó nhằm rút ra những lí luận giáo dục cần thiết
+ Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động sư phạm: Thu thập kết quả sau khi thực nghiệm để xét xem các biện pháp được áp dụng có khả thi hay không
+ Phương pháp nghiên cứu trẻ em: Nghiên cứu đặc điểm tâm sinh lý, ngôn ngữ của trẻ
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Mục tiêu: Nghiên cứu các cơ sở khoa học trong các tài liệu về các vấn đề khắc phục lỗi phát âm trong phân môn Tập đọc cho học sinh
Trang 146
+ Đọc sách và tài liệu
+ Phân tích và tổng hợp
+ Phân loại hệ thống hoá lý thuyết
+ Phương pháp mô hình hoá
+ Phướng pháp giả thuyết
- Nhóm phương pháp thống kê toán học
Mục tiêu: Sử dụng phương pháp thống kê toán học để phân tích kết quả điều tra thực trạng và làm tăng độ tin cậy của các kết quả nghiên cứu về vấn đề biện pháp khắc phục lỗi phát âm cho học sinh lớp 3 ở trường Tiểu học số1 Phúc Trạch
+ Phương pháp lập bảng số liệu: Thống kê số liệu về thực trạng dạy và học phát
âm trong nhà trường, bên cạnh đó còn thống kê số liệu trước và sau khi tiến hành thực
9 Thời gian thực hiện của đề tài
Đề tài được thực hiện và hoàn thành trong học kì II năm học 1017 - 2018
10 Cấu trúc đề tài
Ngoài các phần mở đầu, phần kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, phần nội dung
cơ bản của khoá luận gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở khoa học của việc khắc phục lỗi phát âm cho học sinh lớp 3 Trường Tiểu học số 1 Phúc Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình
Chương 2: Biện pháp khắc phục lỗi phát âm t r o n g d ạ y h ọ c p h â n m ô n
T ậ p đ ọ c cho học sinh lớp 3 Trường Tiểu học số 1 Phúc Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 157
PHẦN II: NỘI DUNG CHƯƠNG I: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC KHẮC PHỤC LỖI PHÁT ÂM CHO HỌC SINH LỚP 3 TRƯỜNG TIỂU HỌC SỐ 1 PHÚC TRẠCH-
BỐ TRẠCH - QUẢNG BÌNH
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Một vài khái niệm liên quan
* Phát âm và lỗi phát âm
Phát âm: Theo Từ điển tiếng Việt: “Phát âm là phát ra các âm thanh của ngôn ngữ bằng các động tác lưỡi” (Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng)
Phát âm chuẩn góp phần quan trọng trong việc giúp học sinh đọc đúng và nói đúng trong giao tiếp Phát âm trong giờ Tập đọc của học sinh Tiểu học được thể hiện thông qua việc đọc đúng tiếng, từ Muốn luyện phát âm chuẩn cho học sinh điều đầu tiên yêu cầu giáo viên phải có kiến thức, sự hiểu biết về ngữ âm: âm tố, âm vị, âm tiết, thanh điệu, trọng âm ngữ điệu, đặc biệt âm tiết và âm vị vì đây là hai cơ sở quan trọng
để luyện phát âm cho học sinh tiểu học đặc biệt là học sinh lớp 3 Phát âm chuẩn quy tắc tiếng Việt là phát âm đúng âm vị, phụ âm, to, rõ ràng, lưu loát, mạch lạc từng âm
M.R.Lơvôp đã nêu lên khái niệm đọc như sau: “ Đọc là một dạng hoạt động ngôn ngữ, là quá trình chuyển dạng thức viết sang lời nói có âm thanh (ứng với hình
thức đọc thành tiếng), là quá trình chuyển trực tiếp từ hình thức chữ viết thành các đơn vị nghĩa không có âm thanh (ứng với đọc thầm)”
Như vậy, đọc là một hoạt động ngôn ngữ là quá trình chuyển dạng thức viết sang lời nói có âm thanh và thông hiểu chúng Đọc không chỉ là công việc giải quyết một
bộ mã (gồm 2 phần) chữ viết và âm thanh, nghĩa là nó không phải chỉ là sự đánh vần lên thành tiếng theo đúng như kí hiệu đã viết, mà còn là quá trình nhận thức để có khả năng thông hiểu những gì đọc được
Trang 168
*Chính âm
Chính âm: Chính âm là chuẩn mực phát âm của một ngôn ngữ có giá trị và
hiệu lực về mặt xã hội Việc hiểu biết của chính âm sẽ giúp ta xác định được nội dung cần đọc đúng, đọc diễn cảm một cách có nguyên tắc
Hệ thống âm chuẩn được hình thành từ một tiếng địa phương Tiếng địa phương
đó không nhất thiết là của thủ đô hay do yếu tố chính trị quyết định mà có thể do văn hoá quyết định Hệ thống chính âm được xác lập qua một quá trình tự nhiên, lâu dài hàng thế kỷ Ở Việt Nam tiếng địa phương Hà Nội được coi là nền tảng âm chuẩn cho
cả nước, ngoài ra còn được bổ sung bằng những ưu điểm của các thổ ngữ khác
Yêu cầu cơ bản của chính âm là xây dựng một cách phát âm tiêu biểu, thống nhất trong phạm vi cộng đồng người được sử dụng tiếng Việt nhằm giúp cho việc đọc hoặc việc giao tiếp diễn ra một cách thuận lợi Trong nhà trường, việc sử dụng đúng chính âm là vấn đề bắt buộc, nắm vững hệ thống chính âm là điều hết sức cần thiết vì
nó giúp học sinh phát âm chuẩn Quảng Bình có nhiều địa phương, cách phát âm khác nhau không những về ngữ điệu mà còn cả về âm đầu, âm cuối, hỏi, ngã mỗi địa phương lại có một trường Tiểu học, bởi vậy để khắc phục lỗi phát âm cho học sinh yêu cầu giáo viên phải thâm nhập thực tế, điều tra khảo at để có từ điển riêng giúp các
em phát âm chuẩn
*Phương ngữ
Phương ngữ: (hay phương ngôn) là hệ thống ngôn ngữ được dùng cho tập hợp
người nhất định trong xã hội, thường là phân chia theo lãnh thổ
Lỗi phát âm khác với tiếng địa phương Việc dạy phát âm cho học sinh có thể chấp nhận theo ba vùng phương ngữ: phương ngữ Bắc Bộ, phương ngữ Trung Bộ, phương ngữ Nam Bộ nơi học sinh sinh sống Với học sinh trường Tiểu học số 1 Phúc Trạch theo chuẩn phương ngữ Trung Bộ
Để luyện phát âm đúng cho học sinh trước hết phải giải quyết vấn đề phương ngữ Mục tiêu của chúng ta đặt ra là luyện cho học sinh vươn đến một tiếng nói dân tộc Việt thống nhất, đẹp đẽ về mặt âm thanh Muốn như vậy, chúng ta phải luyện cho học sinh đọc đúng, hay trong phạm vi giao tiếp rộng hơn phương ngữ hẹp của mình
Trang 17- Không phân biệt s với x, r với d, tr với ch
+ (con) sâu ≠ xâu; (cá) sấu ≠ xấu; (hoa) sen ≠ xen; (chim) sẻ ≠ xẻ; sâu sắc ≠ xâu
xắc,
+ rau ≠ dau; (chòm) râu ≠ dâu; rể ≠ dể; rễ (cây) ≠ dễ; ruộng (lúa) ≠ duộng, + (bức) tranh ≠ chanh; (buổi) trưa ≠ chưa; trái ≠ chái,
- Không phân biệt, lẫn lộn giữa l với n
+ lá (cây) ≠ ná; lời (nói) ≠ nời; lòng lợn ≠ nòng nợn; luộc ≠ nuộc; làm ≠ nàm, + (uống) nước ≠ lước; nắng ≠ lắng; Hà Nội ≠ Hà Lội; non nước ≠ lon lước, Lỗi này chỉ xảy ra ở 11 tỉnh đồng bằng Bắc Bộ Riêng khu vực miền núi phía Bắc thì ít gặp Đây là cách “xô dồn” hai chiều, là triệu chứng của xu hướng hòa nhập một âm bên và âm đầu lưỡi, một xu hướng “giản hóa cấu âm” mang tính chất tiến bộ
- Chỉ có 5 thanh Đa phần thanh hỏi và thanh ngã bị lẫn lộn Cụ thể: trừ Nghệ –Tĩnh lẫn lộn thanh ngã với thanh nặng, còn ở tất cả các tiểu thổ ngữ còn lại, kể cả Thanh Hóa, chủ yếu lẫn lộn thanh hỏi với thanh ngã Điều này, còn gặp ở phương ngữ Nam Đặc điểm chung toàn khu vực là sự “xô dồn” này chủ yếu từ thanh ngã sang hỏi, ngã sang nặng
Ví dụ: (lên) xã → (lên) xả, (nước) lã → (nước) lả, bã (trầu) → bả (trầu), hoặc (tất) cả → (tất) cã, cả xã → cạ xạ, (học) chữ → (học) chự,
- Hệ thống nguyên âm đôi bị đơn hóa, các yếu tố thứ hai trong nguyên âm đôi bị triệt tiêu, yếu tố đầu có kéo dài hơn bình thường
Trang 18Về phương ngữ Nam
Vùng phương ngữ Nam rộng, kéo dài từ Đà Nẵng đến mũi Cà Mau, đây là vùng đất mới, tính trung bình trên dưới năm trăm năm Cả vùng Nam Trung Bộ là khu vực phương ngữ chuyển tiếp từ Bắc Trung Bộ vào Nam Nhìn chung, đây là phương ngữ tương đối thống nhất (so với phương ngữ Bắc và Trung) Có thể thấy các đặc trưng chủ yếu:
- Đây là vùng có năm thanh điệu Thanh ngã và hỏi đồng nhập, thường nói thành thanh hỏi Về điệu tính, các thanh có khác các phương ngữ còn lại, có vẻ gần gũi với tiếng Bắc hơn là tính trầm ở phương ngữ Trung Cái khó ở đây lại vẫn quay về phân biệt các thanh hỏi và ngã
- Về phụ âm đầu:
+ Không có phụ âm /v/, thay bằng /w/
Ví dụ: văn hóa → văng woá, vá → já, vệ quốc → vệ wók
+ Âm đệm /–w–/ đang dần biến mất
Ví dụ: luật → lục, toàn → tàu, nuốt → núc
Trang 1911
Ví dụ: bún → búng, cùn → cùng, (một) chút → (một) chúc, nút → núc, bùn → bùng
+ Cách đọc: nguyên âm hơi dài so với bình thường, để phân biệt với âm ngắn (bùn: u hơi dài, phân biệt với u ngắn trong bùng (nổ))
+ Một số vần đặc trưng Nam Bộ khác như: –ênh → –inh như bệnh → bịnh, lệnh
→ lịnh, kênh → kinh; vần –inh → –anh như chính (sách) → chánh (sách), chính (quyền) → chánh (quyền), (hành) chính → (hành) chánh ; vần –ân → –ơn, như: nhân
→ nhơn, nhân (quyền) → nhơn (quyền), nhân (ái) → nhơn (ái); vần –ing → iêng như kính → kiếng,
Bảng 1: Bảng sự khác biệt ngữ âm giữa các phương ngữ của tiếng Việt
Tiếng Việt là một thứ tiếng có khá nhiều thanh điệu bao gồm 6 thanh điệu: thanh
ngang, thanh huyền, thanh sắc, thanh ngã, thanh hỏi, thanh nặng
- Phân loại thanh điệu
+ Thanh điệu bằng phẳng (còn gọi là thanh bằng) Đây là những thanh điệu mà
khi thể hiện, đường nét âm điệu diễn biến bằng phẳng, đồng đều từ đầu đến cuối,
không có sự lên xuống bất thường Đó là các thanh: thanh huyền và thanh ngang
Trang 2012
+ Thanh điệu không bằng phẳng (cũng còn gọi là thanh trắc) Đây là những
thanh điệu có âm điệu diễn biến phức tạp, khi lên khi xuống, thể hiện ra bằng một
đường nét không bằng phẳng: thanh sắc, thanh ngã, thanh hỏi, thanh nặng
- Sự thể hiện và sự phân bố của thanh điệu
+ Thanh 1: thanh ngang (không được ghi trên chữ viết nên cũng gọi là thanh
không dấu), xuất hiện trong tất cả các âm tiết, trừ âm tiết khép
Ví dụ: cây cam, mưa xuân, công ti Nhưng không thể có các âm tiết như: lach, bat, lac…
+ Thanh 2: thanh huyền, ghi bằng dấu huyền ( ` ), thấp hơn thanh ngang một bậc
Giống như thanh 1, thanh này có thể xuất hiện trong các âm tiết không phải là âm tiết khép,
ví dụ: cà, sàn, bằng, đàm
+ Thanh 3: thanh ngã, ghi bằng dấu ngã ( ~ ) là thanh điệu thuộc âm vực cao (bắt
đầu thấp hơn và kết thúc cao hơn), có thêm động tác nghẽn thanh hầu Thanh ngã cũng không thể xuất hiện trong các âm tiết khép
Ví dụ: xã, mãn nhãn, sững sờ
+ Thanh 4: thanh hỏi, ghi bằng dấu hỏi ( ? ) là thanh điệu thuộc âm vực thấp Khi
phát âm, điểm bắt đầu và kết thúc thanh điệu đều ở âm vực thấp
Thanh này xuất hiện trong tất cả các âm tiết không phải là âm tiết khép
Ví dụ: vả lại, hỏi han, cảm cúm, cảng biển, cảnh đẹp
+ Thanh 5: thanh sắc, ghi bằng dấu sắc ( ' ) là thanh điệu thuộc âm vực cao Khi
phát âm, điểm xuất phát thấp hơn thanh ngang một chút và điểm kết thúc ở âm vực cao Ngoài ra, khi kết thúc còn phải có thêm động tác nghẽn thanh hầu Thanh này có thể xuất hiện trong tất cả các kiểu âm tiết
Ví dụ: khá lớn, bí quyết, chính thức, sáng sớm
+ Thanh 6: thanh nặng, ghi bằng dấu nặng ( ), là thanh điệu thuộc âm vực thấp
Khi phát âm, điểm xuất phát gần với độ cao xuất phát của thanh huyền nhưng kết thúc đột ngột ở độ cao thấp hơn Thanh nặng xuất hiện ở tất cả các kiểu âm tiết
Ví dụ: lạ đời, chợ xuân, lợi ích, lạm dụng, trục trặc, hạn hẹp
Trang 211.1.2 Cơ sở tâm lý và sinh lý của học sinh Tiểu học
1.1.2.1 Cơ sở tâm lý học
Mối quan hệ giữa dạy học, giáo dục và sự phát triển tâm lý trẻ em là mối quan hệ biện chứng Hai quá trình này không phải là hai quá trình diễn ra song song, mà chúng thống nhất với nhau, có quan hệ tương hỗ lẫn nhau Để làm bất cứ cái gì, mục tiêu đặt
ra luôn phải vừa sức, phù hợp đặc điểm lứa tuổi và sự phát triển tâm lý của trẻ ngược lại giáo dục sẽ tác động mạnh mẽ tới sự phát triển tâm lý của trẻ
Tri giác:
Tri giác của học sinh Tiểu học mang tính đại thể, ít đi vào chi tiết và không ổn định Ở lứa tuổi lớp 3 tri giác thường gắn với hành động trực quan, bắt đầu mang tính cảm xúc và tính mục đích có phương hướng rõ ràng Tri giác cũng bắt đầu có tính ổn định: biết lập kế hoạch học tập, biết sắp xếp công việc nhà, biết tự ý thức học bài Nhận thấy điều này chúng ta cần phải thu hút trẻ bằng các hoạt động mới, mang màu sắc, tích chất đặc biệt khác lạ so với bình thường, khi đó sẽ kích thích trẻ cảm nhận, tri giác tích cực và chính xác
Tư duy:
Tư duy mang đậm màu sắc xúc cảm và chiếm ưu thế ở tư duy trực quan hành động Các phẩm chất tư duy chuyển dần từ tính cụ thể sang tư duy trừu tượng khái quát Các em đã biết tổng hợp các sự vật hiện tượng , biết phân tích khái quát hoá các
sự vật hiện tượng đó Các em lĩnh hội kiến thức không chỉ một chiều Tuy nhiên, hoạt động phân tích, tổng hợp kiến thức còn sơ đẳng
Trang 22Hình ảnh tưởng tượng còn đơn giản, tản mạn, ít có tổ chức, chưa bền vững và dễ thay đổi
Tưởng tượng tái tạo đã bắt đầu hoàn thiện, từ những hình ảnh cũ trẻ đã tái tạo ra những hình ảnh mới Tưởng tượng sáng tạo tương đối phát triển ở giai đoạn cuối tuổi tiểu học, trẻ bắt đầu phát triển khả năng làm thơ, làm văn, vẽ tranh Đặc biệt, tưởng tượng của các em trong giai đoạn này bị chi phối mạnh mẽ bởi các xúc cảm, tình cảm, những hình ảnh, sự việc, hiện tượng đều gắn liền với các rung động tình cảm của các
em
Qua đây, các nhà giáo dục phải phát triển tư duy và trí tưởng tượng của các em bằng cách biến các kiến thức "khô khan" thành những hình ảnh có cảm xúc, đặt ra cho các em những câu hỏi mang tính gợi mở, thu hút các em vào các hoạt động nhóm, hoạt động tập thể để các em có cơ hội phát triển quá trình nhận thức lý tính của mình một
cách toàn diện
Chú ý:
Ở lứa tuổi này chú ý không chủ định vẫn phát triển, chú ý có sự chủ định còn yếu
và thiếu bền vững Sự phát triển chú ý gắn liền với hoạt động học tập Cùng một lúc các em chưa có khả năng chú ý được nhiều đối tượng, sức tập trung chú ý của các em chỉ kéo dài trong một thời gian ngắn Trẻ lúc này chỉ quan tâm chú ý đến những môn học, giờ học có đồ dùng trực quan sinh động, hấp dẫn có nhiều tranh ảnh,trò chơi hoặc
có cô giáo xinh đẹp, dịu dàng, Sự tập trung chú ý của trẻ còn yếu và thiếu tính bền vững, chưa thể tập trung lâu dài và dễ bị phân tán trong quá trình học tập
Vì vậy khi khắc phục lỗi phát âm cho các em trong dạy học phân môn Tập đọc cần chú ý thay đổi nhiều hình thức hoạt động để tránh được sự nhàm chán, mất trật tự
ở các em, tạo được sự tập trung chú ý, hứng thú và thu hút các em tham gia vào hoạt động chung
Trang 2315
Trí nhớ:
Trí nhớ trực quan hình tượng phát triển hơn trí nhớ từ ngữ lôgic
Giai đoạn lứa tuổi học sinh Tiểu học là giai đoạn các em chuyển từ hoạt động chủ đạo vui chơi sang hoạt động chủ đạo là học tập Lúc này việc học trở thành chủ đạo nên các em cảm thấy khó khăn đặc biệt trong giai đoạn đầu (từ lớp 1 – lớp 3) Mặt khác ở giai đoạn này nhận thức của các em vẫn là nhận thức chưa có chủ định các em đang rất ham chơi, ý thức về tầm quan trọng của việc học, việc khắc phục lỗi phát âm rất ít có khi là không có Các em rất dễ nhớ nhưng cũng rất dễ quên, sửa lỗi nhớ ngay lúc đó nhưng nếu không thường xuyên luyện tập chắc chắn sẽ bị quên và phát âm sai lại Bởi vậy lý thuyết suông khắc phục lỗi phát âm cho các em thôi chưa đủ Người giáo viên vừa truyền lý thuyết vừa cho hoc sinh luyện tập thực hành luôn, đúng với
câu nói của cha ông ta “Lý thuyết phải luôn đi đôi với thực hành”
Ý chí:
Ở đầu tuổi Tiểu học hành vi mà trẻ thực hiện còn phụ thuộc nhiều vào yêu cầu của người lớn (học để được bố cho đi ăn kem, học để được cô giáo khen, quét nhà để được ông cho tiền, ) Khi đó, sự điều chỉnh ý chí đối với việc thực thi hành vi ở các
em còn yếu Đặc biệt các em chưa đủ ý chí để thực hiện đến cùng mục đích đã đề ra nếu gặp khó khăn
Đến cuối tuổi Tiểu học các em đã có khả năng biến yêu cầu của người lớn thành mục đích hành động của mình, tuy vậy năng lực ý chí còn thiếu bền vững, chưa thể trở thành nét tính cách của các em Việc thực hiện hành vi vẫn chủ yếu phụ thuộc vào hứng thú nhất thời
Để bồi dưỡng năng lực ý chí cho học sinh Tiểu học đòi hỏi ở nhà giáo dục sự kiên trì bền bỉ trong công tác giáo dục, muốn vậy thì trước hết mỗi bậc cha mẹ, thầy cô phải trở thành tấm gương về nghị lực trong mắt trẻ
Ở lứa tuổi lớp 3 các em đã học qua phân môn Học vần, hầu hết các em đã đọc thông viết thạo Ở giai đoạn này tâm lý của các em hầu hết không tự tin, thích được khen cộng với việc mới học qua phân môn Học vần nên tâm lý nhiều em khi đọc vẫn đánh vần chứ chưa thể đọc suôn hết văn bản được, khi đọc nếu các em đang đọc mà có người đứng cạnh các em sẽ luống cuống, đọc nhanh để đựợc khen điều này rất dễ dẫn đến việc phát âm
Trang 2416
Nếu như học sinh là đối tượng của hoạt động học thì giáo viên là đối tượng của hoạt động dạy Giáo viên đóng vai trò chủ đạo trong việc tổ chức, định hướng hoạt động học tập của học sinh, để một giờ học có hiểu quả đòi hỏi giáo viên nhạy cảm trong việc nắm bắt tâm lý của các em Để từ đó điều chỉnh phương pháp dạy học phù hợp
Chương trình phân môn Tập đọc nói chung và Phân môn Tập đọc lớp 3 nói riêng
đã bước đầu chú ý đến đặc điểm tâm lí lứa tuổi để xây dựng nội dung cũng như cấy trúc chương trình Có thể nói ở mỗi độ tuổi khác nhau, việc tiếp nhận tiếng mẹ đẻ đều chịu sự chi phối của sự phát triển tâm sinh lý Dạy tiếng Việt hay khắc phục lỗi phát
âm thì chúng ta cần phải chú ý đến đặc điểm tâm sinh lí của lứa tuổi để từ đó tìm ra phương hướng, biện pháp giảng dạy thích hợp
1.1.2.2 Cơ sở sinh lý
Cơ chế của việc phát âm khi đọc là cơ sở của việc dạy đọc khi đọc các chuỗi âm thanh được phát ra từ bộ máy phát âm của con người Cơ chế của việc phát âm như
sau: Để phát âm, bắt buộc phải có không khí được đẩy ra, tạo năng lượng phát âm;
phải có hoạt động cấu âm của các cơ quan trong bộ máy phát âm Khi phát âm, nói chung luồng hơi được đẩy ra từ phổi Tuy nhiên, ở một số ít ngôn ngữ, có những âm thanh được phát ra từ khoang hầu hoặc từ mạc Khi luồng hơi được phát ra từ khoang hầu, thanh hầu từ vị trí bình thường nhấc lên cao hơn hoặc hạ xuống thấp hơn và có tác dụng tạo âm; luồng hơi cũng có thể được phát ra từ mạc để tạo âm Với người Việt, khi chặc lưỡi hay khi "pập pập" gọi gà (không phải âm thanh lời nói tiếng Việt), đã thực sự phát ra một âm loại này
Các nhà khoa đã chỉ rõ rằng về mặt sinh lý ở ở trẻ em Tiểu học khối lượng bộ não
đã đạt tới 90% , sự chín muồi về mặt sinh lý cùng với sự phát triển của những quá trình tâm lý đã tạo điều kiện để các em thực hiện được hoạt động học tập Tuy vậy, ở giai đoạn học sinh tiểu học, các cơ quan của cơ thể chưa phát triển đầy đủ, khả năng
mã hoá các đơn vị ngôn ngữ âm thanh, đọc suông tiếng còn chậm Bên cạnh đó hệ thần kinh phát triển chưa ổn đinh nên các em dễ bị phân tán bởi các điều kiện ngoại cảnh điều này gây cản trở cho việc phát âm trong khi học phân môn Tập đọc
Trang 2517
Mặc dù ở lớp 1 các em đã được dành riêng để học phân biệt các tiếng chứa l/n, s/x, tr/ch, ươu/iêu nhưng ở giai đoạn Tiểu học do các cơ quan cảm giác chưa phát triển hoàn thiện nên bộ máy phát âm của các em chưa chuẩn, hiện tượng phát âm sai các âm trên còn nhiều Hoặc đọc các từ khó còn lệch lạc như khúc khuỷu, ngoằn ngoèo… hay những khiếm khuyết nào đấy trong bộ máy phát âm sẽ là nguyên nhân trực tiếp gây ra lỗi phát âm Ngoài ra cấu tạo vòm họng, dây thanh ảnh hưởng rất lớn đến việc phát âm Khi phát âm học sinh Tiểu học cũng thường phát âm theo thói quen, cũng có thể là do ảnh hưởng của phương ngữ địa phương
Chính vì vậy khi dạy tập đọc cho học sinh lớp 3, giáo viên cần phải chú ý đến cách phát âm, chú ý sửa lỗi phát âm cho học sinh một cách có định hướng, toàn diện nhằm giúp các em sử dụng tiếng Việt hiệu quả trong học tập cũng như trong giao tiếp.là truyền giảng kiến thức, mà còn phải có sự am hiểu tâm sinh lý từ đó đưa ra những định hướng tích cực trong việc sửa lỗi phát âm cho học sinh
Cơ sở ngôn ngữ học
a Đặc điểm ngôn ngữ tiếng Việt liên quan đến phát âm
Đọc là một hoạt động trí tuệ phức tạp mà cơ sở là tiếp nhận thông tin bằng chữ viết dựa vào hoạt động của cơ quan thị giác Phương pháp dạy Tập đọc phải dựa trên những cơ sở của ngôn ngữ học Đặc điểm ngôn ngữ tiếng Việt có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng tới phát âm của học sinh, dưới đây tôi chỉ đưa ra đặc điểm về âm tiết và thanh điệu hai đặc điểm ảnh hưởng nhất tới sự phát âm của học sinh
*Âm tiết
Tiếng Việt thuộc ngôn ngữ đơn lập, tức là mỗi một tiếng (âm tiết) được phát âm tách rời nhau và được thể hiện bằng một chữ viết Đặc điểm này thể hiện rõ rệt ở tất cả các mặt ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp
Ví dụ:
Ai trồng cây (3 âm tiết)
Người đó có tiếng hát (5 âm tiết)
(Ai trồng cây – Tập 2 – Trang 109)
Âm tiết là thành phần ảnh hưởng nhất tới việc phát âm Ở dạng đầy đủ âm tiết tiếng Việt có năm thành phần được sắp xếp theo sơ đồ sau:
Trang 2618
Bảng 3: Sơ đồ cấu tạo âm tiết tiếng Việt
3 Thanh điệu
Âm đầu ở vị trí mở đầu âm tiết Âm đầu bao giờ cũng là một phụ âm, tất cả các phụ âm đều có thể đảm nhiệm vị trí âm đâu Trong học khi học Tập đọc các em
thường hay phát âm sai âm đầu như âm tr/ch (trò chơi đọc thành chò chơi), s/x (sinh sản đọc thành xinh xản)
Âm đệm bao giờ cũng ở vị trí thứ 2 trong phần vần Âm đệm tạo nên sự đối lập tròn môi hoặc không tròn môi của âm tiết lúc mở đầu Âm đệm là một âm lướt có kí hiệu /u/, không xuất hiện sau các phụ âm môi /f, b, m, v/, không xuất hiện trước tất cả các nguyên âm tròn môi Âm đệm được ghi bằng con chữ “u” khi đứng trước các
nguyên âm hẹp và hơi hẹp (tuất, truyện, huy ) hoặc đứng trước các phụ âm /k/ (quân, qua ) Được ghi bằng “o” khi đứng trước nguyên âm rộng và hơi rộng (hoạ hoằn, hoa hoè ) chính vì đặc điểm này của âm đệm khi học sinh phát âm gặp tiếng có chứa âm
đệm nhiều học sinh khó trong việc điều chỉnh môi tròn khi phát âm, vẫn đọc theo kiểu không tròn môi thành ra phát âm sai
Ví dụ: huân chương đọc thành hân chương; ngồm ngoàm đọc thành ngồm ngàm; khoan thai đọc thành khan thai
Âm chính bao giờ cũng là nguyên âm, nguyên âm đơn (Về mặt ngữ âm có 11 nguyên âm đơn: a, ă, â, e, ê, i/y, o, ô, ơ, u, ư do i và y đọc như nhau nên đọc thành /i/ )
Hoặc nguyên âm đôi (3 nguyên âm đôi với nhiều cách viết: ia – yê - iê, ua - uô, ưa – ươ), âm chính là đỉnh của âm tiết, là hạt nhân của phần vần trong tiếng Việt Nguyên
âm gồm nguyên âm tròn môi và nguyên âm không tròn môi, cũng giống như khi phát
âm tiếng có chứa âm đệm, nhiều học sinh còn khó khăn trong việc điều chỉnh độ rộng
mở của môi khi đọc đọc các tiếng có chứa nguyên âm tròn môi nên đọc thành tiếng không tròn môi
Ví dụ: vần ươu đọc thành iêu: hươu đọc thành hiêu, vần ưu đọc thành iu: về hưu đọc thành về hiu, vần ươu đọc thành iêu: chai rượu đọc thành chai riệu, ươm đọc
thành ưm, uôm đọc thành un
Trang 2719
Âm cuối là âm kết thúc âm tiết Ở giai đoạn Tiểu học các em thường đọc sai âm
cuối như ac đọc thành at, uôn đọc thành uông: muông – muôn thú
Ví dụ:
“ Ngày mai, muông thú trong rừng mở hội thi chạy để chon con vật nhanh nhất”
(Cuộc chạy đua trong rừng – Tập 2 - Trang 80)
Học sinh đọc thành: “Ngày mai, muôn thú trong rừng mở hội thi chạy để chọn con vật ranh nhất”
Vần ươn đọc thành ương: con lươn – con lương, anh đọc thành ăn: anh em- ăn em
Ví dụ:
“Quả cầu giấy xanh xanh/ Qua chân tôi chân anh”
( Cùng vui chơi – Tập 2 – Trang 83)
Học sinh đọc thành “Quả cầu giấy xăn xăn/ Qua chân tôi chân ăn”
Mỗi âm tiết thường là một tiếng bởi vậy trong một câu văn nếu phát âm sai một
âm tiết dẫn tới sai nghĩa của câu văn đoạn văn hay thậm chí cả bài văn
Ví dụ: “ Vua Trung Quốc muốn thử tài sứ thần, sai dựng một cái lầu cao, mời
ông lên chơi, rồi cất thang đi” học sinh đọc thành “Vua Trung Quốc muốn thử tài sứ thần, sai dựng một cái lầu cao, mời ông lên chơi, rồi cất thân đi”
(Ông tổ nghề thêu – Tập 2 – Trang 22)
Chữ thang học sinh phát âm thành chữ than điều này làm cho người nghe hiểu
sai ý của câu văn thành nhiều nghĩa: Vì vua muốn thử tài sứ thần nên đã sai quân dựng một cái lầu cao mời sứ thần lên chơi, sau khi mời sư thần lên chơi vua liền cất thân tới gặp mặt sứ thần hoặc có thể hiểu sai nghĩa câu văn trên thành: vì vua muốn thử tài sứ thần nên cất thân đi mời sứ thần lên lầu để thử tài cùng vua
Âm tiết có cấu tạo chặt chẽ nhưng không phải là một khối bất khả phân, vì vậy có các hiện tượng: từ láy, hiệp vần, nói lại Chính các hiện tượng này làm một phần nguyên nhân dẫn tới việt học sinh phát âm sai
Ví dụ về từ láy:
“Như phép mầu nhiệm Hiện trước mắt em Biển biếc bình minh
Rì rào sóng vỗ”
( Bàn tay cô giáo – Tập 2 – Trang 25)
Trang 2820
Học sinh đọc thành:
“Như phép mầu nhiệm Hiện trước mắt em Biển biếc bình minh
Xì xào sóng vỗ”
Hay khi đọc do học sinh không hiểu nghĩa của từ nên đọc sai:
“Con cò bay là là, rồi nhẹ nhàng đặt chân lên mặt đất, dễ dãi tự nhiên như mọi
hoạt động của tạo hoá Nó thông thả đi trên doi đất”
( Con cò – Tập 2 – Trang 111) Học sinh đọc thành “Con cò bay là là, rồi nhẹ nhàng đặt chân lên mặt đất, dễ dãi
tự nhiên như mọi hoạt động của tạo hoá Nó thông thả đi trên dải đất”
Doi đất khác với dải đất, doi đất là dải đất nho ra hay nổi lên ở ven sông, hồ biển
Còn dải đất là khoảng đất dài nhưng hẹp
Giữa đọc và viết, giữa Tập đọc và viết chính tả (chính tả nghe – viết) có mối quan
hệ mật thiết, nhưng lại có quy trình hoạt động trái ngược nhau Nếu học sinh đọc sai dẫn tới viết sai ngược lại học sinh viết sai dẫn tới đọc sai Nhưng có những trường hợp phát âm đúng nhưng lại viết sai, trong những trường hợp này trẻ viết xong quay qua đọc lại thấy tiếng mình vừa viết thấy không quen mắt lúc này trẻ không chắc chắn được mình viết đúng hay sai nên dẫn tới việc không biết phát âm như thế nào và phát
âm sai
Ví dụ: “quốc” học sinh viết âm cờ cu thành âm /c/ cuốc, ở trường hợp này sau
khi viết xong đọc lại học sinh sẽ phát âm sai ngay, khi đọc bài tập đọc có chứa tiếng
“quốc” học sinh sẽ đọc thành “cuốc”
Một số quy tắc chính tả làm cho trẻ dễ phát âm sai sau khi viết:
Trong tiếng Việt có ba phụ âm được ghi bằng nhiều chữ cái khác nhau:
- /k/ được ghi bằng:
+ K khi đứng trước i/y, iê, ê, e (kí/ký, kiêng, kệ, kẻ)
+ Q khi đứng trước bán nguyên âm u: qua, quốc
+ C khi đứng trước các nguyên âm còn lại: cá, cơm, cóc, cốc,…
- /g/ được ghi bằng:
+ Gh khi đứng trước các nguyên âm i, iê, ê, e (ghi, ghiền, ghê, ghẻ)
Trang 29Ở giai đoạn lứa tuổi học sinh Tiểu học thường phát âm sai thanh ngã thành thanh
hỏi và ngược lại như: Bỗng dưng thành bổng dưng, nỗi niềm thành nổi niềm, vui vẻ thành vui vẽ, rộng mở thành rộng mỡ
b Đặc điểm phương ngữ Quảng Bình liên quan đến phát âm
Tiếng Việt là một ngôn ngữ thống nhất trên toàn lãnh thổ Việt Nam, là một sinh ngữ đang không ngừng phát triển cùng với sự phát triển của văn hoá, khoa học và kinh
tế, xã hội Nhưng về mặt biểu hiện, tiếng Việt cũng có những màu sắc địa phương ít nhiều có sự khác biệt Sự khác biệt đó thể hiện ở lớp người sử dụng, ở phong cách thể hiện và cả ở khu vực địa lý Xét về phương diện khu vực địa lý, tiếng Việt được chia thành 3 vùng phương ngữ lớn: phương ngữ Bắc, phương ngữ Trung và phương ngữ Nam Đối với phương ngữ miền Trung lại chia thành ba phương ngữ nhỏ: Phương ngữ Thanh Hoá, phương ngữ Nghệ Tĩnh, phương ngữ Bình Trị Thiên, Quảng Bình thuộc phương ngữ bình Trị Thiên nằm trong vùng phương ngữ miền Trung
Theo Hoàng Thị Châu “Phương ngữ là một thuật ngữ ngôn ngữ học để chỉ sự biểu hiện của ngôn ngữ ở một địa phương cụ thể, với những nét khác biệt của nó so với ngôn ngữ toàn dân hay một phương ngữ khác” Ngôn ngữ cũng như mọi hiện
tượng xã hội khác nó đều không ngừng biến đổi, phương ngữ là một biểu hiện của sự biến đổi đó
Sự biến đổi của một ngôn ngữ được thể hiện trên từng phương ngữ về mặt ngữ
âm, từ vựng ngữ pháp Chính sự biến đổi này đã tạo nên đặc điểm riêng của từng phương ngữ làm nên của từng phương ngữ làm nên sự đa dạng của 18°05 vĩ độ Bắc
Trang 3022
105°37 - 106°39 kinh độ Đông Về phía Bắc, dãy hoành sơn chạy từ Tây sang Đông ngăn cách Quảng Bình với Hà Tĩnh Phía Nam Quảng Bình giáp Nam và Lào, phía Đông giáp với biển Đông
Nhờ ưu thế địa hình nên diễn ra sự giao thoa về ngôn ngữ với các tỉnh các nước khác khá mạn mẽ
Quảng Bình có khoảng 80 vạn dân với 3 cộng đồng dân tộc chủ yếu: người Kinh, người Vân Kiều và người Chứt - trong đó người Kinh chiếm 90% dân số, cư trú
ở mọi địa bàn trong toàn tỉnh Lịch sử hình thành, quá trình nhập cư, cộng cư cùng với việc giao lưu thương mại đã làm cho cộng đồng người sử dụng tiếng Việt ở đây không còn thuần nhất Tuy vậy ở nhiều nơi cư dân vẫn giữ được tiếng bản địa riêng của mình Chính những điều này đã tạo nên phương ngữ Quảng Bình phong phú và giàu bản sắc Tỉnh Quảng Bình có 6 huyện: lệ Thuỷ, Quảng Ninh, Bố Trạch, Quảng Trạch, Tuyên Hoá, Minh Hoá và một thành phố: Thành phố Đồng Hới
Xét về đặc điểm ngữ âm
*Thanh điệu:
Về thanh điệu trừ một vài thổ ngữ có 4 thanh như các xã: Hạ Trạch, Bắc Trạch (Bố Trạch), Hương Hoá (Tuyên Hoá), các thổ ngữ này đều không có thanh điệu với những nét võng, tức là không có hai thanh hỏi và ngã Thanh nặng của thổ ngữ Hạ Trạch và Bắc Trạch tương ứng với cả thanh nặng, thanh hỏi và thanh ngã của tiếng phổ thông Ví dụ: thổ ngữ Hạ Trạch: ba tương ứng với tiếng phổ thông: bã mía/bả vai/bậy bạ Do có tính hình tương ứng về thanh điệu như vậy nên học sinh Hạ Trạch, Bắc Trạch thường không phân biệt được dấu hỏi, dấu ngã với dấu nặng
Còn các thổ ngữ khác đều có 5 thanh là: không, huyền, sắc, nặng, hỏi Người Quảng Bình dường như không phân biệt được thanh hỏi với thanh ngã Điều này thể hiện rất rõ, kể cả đối với lớp trẻ hiện nay Và điều quan trọng hơn cả là nó chi phối mạnh mẽ tới mức thể hiện ngay cả trên chữ viết Trên bình diện chính tả, để phân biệt dấu hỏi hay ngã quả là một điều hết sức khó khăn đối với người Quảng Bình
Ví dụ: Eng ăn sửa chua khôông ( Anh ăn sữa chua không?); Hôm qua hắn ngạ gạy (Hôm qua hắn ngã gãy tay)
Trang 3123
Ở một số xã thanh ngã không nhập vào với thanh hỏi mà thanh ngã được phát
âm như thanh nặng Riêng ở làng Diêm Điền - phường Đức Ninh Đông- thị xã Đồng Hới chỉ thấy xuất hiện 4 thanh điệu (thanh ngã và thanh hỏi trùng với thanh nặng)
Ví dụ: kẻ trộm -> kẹ trộm, gãy tay -> gạy tay, kẻng -> kẹng… cách phát âm này
rất giống với một số khu vực ở Nghệ An, Hà Tĩnh
Ngoài hai trường hợp trên, một số xã, phường ở Quảng Bình có một cách phát âm đặc biệt khác, đó là thanh nặng (.) được phát âm gần với thanh hỏi ( ? )
Ví dụ: Mấy bửa ni eng có bẩng lắm không? (Mấy hôm nay anh có bận không?)
Như vậy, Quảng Bình tồn tại 3 biến thể khi phát âm thanh hỏi, ngã, nặng:
A- thanh ngã trùng với thanh hỏi
B- thanh ngã, thanh hỏi trùng với thanh nặng
C- thanh nặng, thanh ngã trùng với thanh hỏi
*Âm đầu
Có rất nhiều phụ âm đầu của tiếng phổ thông được người Quảng Bình (hầu hết
cư dân ở các phường Bắc Lý, Nam Lý, Đồng Phú, Hải Thành của Đồng Hới, xã Phúc Trạch…) phát âm thành một phụ âm khác một cách có hệ thống Đặc biệt ở Cảnh Dương thường hay lẫn lộn giữa tr/ch Chẳng hạn:
- nh -> d, gi
nhà -> già nhờ cậy -> giờ cậy nhiều ít -> diều ít nhòm ngó -> dòm ngó
Trang 32- gi -> ch
giường -> chờng bây giờ -> bây chừ
- c -> n
cạo -> nạo
Trang 3325
Cách phát âm này thường gặp ở các tầng lớp lao động chân tay, những người buôn bán, nông dân Tầng lớp trí thức có cách phát âm khác đôi chút, một số âm được phát âm như ngôn ngữ toàn dân
- ôn -> un
hôn -> hun khôn -> khun
- ai -> ây
trái -> trấy con gái -> con gấy / con cấy
- anh - eng
tanh -> teng ganh tị -> gheng tị
- ênh -> êng
bênh vực -> bêng vực kềnh -> kềng
- ach -> ec
đỏ quạch -> đỏ quẹc mách -> méc
Trang 3426
- âu -> u
trâu -> tru bầu -> bù trấu - trú sâu -> su
Một số vần có nguyên âm đôi được người Đồng Hới phát âm thành nguyên
âm đơn
Ví dụ:
- iê -> e
miếng -> méng miệng -> mẹng
- ươ -> a
lửa -> lả nước -> nác mượn -> mạn nướng -> náng đường -> đàng
- uô -> o/oo
lúa -> ló nuốt -> nót luồn -> lòn muối -> mói ruộng -> roọng
Nguyên âm đơn o được người Đồng Hới phát âm thành kéo dài thành nguyên âm đôi oo - o -> oo
con ong -> (coong) oong bòn mót -> boòng moóc gọng -> goọng
*Âm cuối
Ngoài những đặc trưng cơ bản trên, tôi còn nhận thấy rằng một số âm cuối cũng được người dân xã Phúc Trạch phát âm khác với ngôn ngữ toàn dân, đồng thời cũng khác với các khu vực khác ở Quảng Bình Cách phát âm này gần với cách phát âm của người Huế Chẳng hạn:
Trang 3527
- n -> ng gan góc -> gang góc
gán ghép -> gáng ghép gắn bó -> gắng bó
ghen ghét -> gheng ghéc Qua quá trình tìm hiểu, tôi thấy có một hiện tượng là trong tiếng địa phương của
xã Phúc Trạch hiện nay có một số cá nhân (chủ yếu tập trung ở lớp người lớn tuổi) không trực tiếp chịu nhiều ảnh hưởng của sự thay đổi của xã hội, của sự thay đổi), còn
tồn tại hiện tượng phát âm còn giữ lại âm cuối /-n/ mà ở nhiều nơi khác đã thành âm
tiết mở
chỉ -> chỉn rui mè -> rui mèn
rễ -> rẹn
1.1.3 Vị trí, ý nghĩa của việc rèn phát âm trong dạy học Tập đọc cho học sinh
Việc rèn phát âm trong dạy học Tập đọc cho học sinh ở Tiểu học có vị trí, ý nghĩa vô cùng to lớn Tập đọc có nhiệm vụ rất quan trọng, hình thành cho học sinh các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết Để học tốt phân môn Tập đọc trước hết ta phải chú ý
kỹ năng đọc của học sinh, chỉ khi các em phát âm đúng, phát âm chuẩn các em mới có thể truyền tải đúng nội dung mà các em đang đọc cho người nghe Đọc đúng phát âm chuẩn sẽ giúp các cảm nhận được những giá trị nhân văn mà văn bản nghệ thuật mang lại Trái tim của các em sẽ rỉ máu với nỗi đau của nhân vật, sẽ thương cảm, bi
ai cho những mảnh đời bất hạnh, sẽ vui và học tập theo những hành động tốt của nhân vật từ cũng chính nhờ vậy mà bài văn của các em ngày một hay hơn cũng như giúp các em lĩnh hội tri thức của các thành tựu khoa học kĩ thuật nhanh, chính xác, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại qua các văn bản khoa học, biết sàng lộc những sản phẩm văn hoá đồi truỵ, ngoại lai
Khắc phục lỗi phát âm giúp ngôn ngữ của các em phát triển một cách toàn diện nhất, trẻ sử dụng lời nói đúng nhất trong mọi hoàn cảnh, trẻ giao tiếp tốt, ngày càng yêu thích đọc sách Phát âm chuẩn giúp các em thấy được sự phong phú của ngôn ngữ tiếng Việt, qua đó không ngừng trau dồi ngôn ngữ làm giàu vốn ngôn ngữ của bản thân, làm phong phú thêm tiếng mẹ đẻ Phát âm chuẩn giúp ngôn ngữ các em nói
Trang 3628
đúng trong mọi hoàn cảnh Đọc đúng chắn chắn sẽ viết đúng bởi vậy phát âm chuẩn giúp các em viết đúng chính tả, phát âm chuẩn trong bài tập đọc chắc chắn lời nói giao tiếp hằng ngày của các em không làm cho người nghe hiểu sai ý Đặc biệt là khi phát âm trong các bài tập đọc chuẩn, giao tiếp trong đời sống thường nhật các em sẽ dựa vào ngôn ngữ của bài tập đọc để nói cho phù hợp với ngữ cảnh giao tiếp ví như khi các em Trong lời nói nếu trẻ phát âm sai dễ rơi vào tình trạng người nghe hiểu sai
ý của câu nói, có những trường hợp vì trong lời nói trẻ phát âm sai làm gây nên nhiều
hệ luỵ lớn như gia đình mất tình đoàn kết, đổ vỡ “Bố đi thì mẹ ấp ai, bố về mẹ không
ấp ai” mà thật ra trẻ muốn nói là “Bố đi mẹ tấp khoai, bố về mẹ không tấp khoai”
Hay trong học tập giáo viên hiểu nhầm ý trẻ cho là trẻ hư hỏng
Đọc trở thành một đòi hỏi cơ bản đầu tiên đối với mỗi người đi học Đầu tiên trẻ phải học đọc, sau đó các em phải đọc để học Phát âm chuẩn sẽ được nhiều cái lợi: Giúp học sinh đọc đúng, đọc diễn cảm, đọc hay, viết đúng chính tả sau đó còn làm tiền đề để học tập tốt các môn học khác ngoài ra nó giúp các em dễ dàng hơn khi học ngoại ngữ
Vậy rèn phát âm trong dạy học Tập đọc cho học sinh có vị trí, ý nghĩa vô cùng
quan trọng Vì nó không chỉ giáo dục tư tưởng đạo đức mà còn giáo dục tính cách, thị
hiếu thẩm mĩ cho học sinh
Trang 3729
vào các tờ khai (đơn giản), làm đơn, viết thư, phát biểu trong cuộc họp, giới thiệu hoạt động của lớp Phát triển một số tư duy cư bản như: phân tích, tổng hợp, phán đoán Biết thêm những từ ngữ ( gồm cả những thành ngữ, tục ngữ dễ hiểu ) về lao động sản xuất , văn hóa, xã hội, bảo vệ tổ quốc
Bồi dưỡng tư duy, tình cảm và tâm hồn lành mạnh, trong sáng, hứng thú đọc sách và yêu thích tiếng Việt, cụ thể: Bồi dưỡng trẻ yêu quý, khính trọng, biết ơn và trách nhiệm đối với ông bà cha mẹ, thầy cô, yêu trường lớp đoàn kết, vị tha, nhân hậu,
có tinh thần tương thân tương ái cao Xây dựng và năng lực thể hiện những phép xã giao tối thiểu Từ những mẩu chuyện, bài văn, bài thơ hấp dẫn trong scash giáo khoa, hình thành phát triển ham muốn đọc sách, khả năng cảm thụ văn bản, văn học, cảm thụ
vẻ đẹp của tiếng Việt
Biết cấu tạo ba phần cảu một bài văn; bước đầu nhận biết đoạn văn ý chính Đọc đúng và rành mạch bài văn ( khoảng 70- 80 tiếng/ phút), nắm được ý chính của bài
1.2.1.2 Vài nét về chương trình và sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 3
a SGK Tiếng Việt 3
SGK Tiếng Việt 3 gồm có hai tập (tập 1 + tập 2) gồm 15 chủ điểm, các chủ điểm được học trong hai hoặc ba tuần
- Tập 1: Gồm 8 chủ điểm có tên gọi như sau:
+ Măng non (tuần 1, 2)
+ Mái ấm (tuần 3, 4)
+ Tới trường (tuần 5, 6)
+ Cộng đồng (tuần 7, 8)
+ Quê hương (tuần 10, 11)
+ Bắc - Trung - Nam (tuần 12, 13)
+ Anh em một nhà (tuần 14,15)
+ Thành thị và nông thôn (tuần 16, 17)
Tuần 9 ôn tập giữa học kỳ I; tuần 18 ôn tập và kiểm tra cuối học kỳ I
Tập 2: Gồm 7 chủ điểm có tên gọi như sau:
+ Bảo vệ tổ quốc (tuần 19, 20)
+ Sáng tạo (tuần 21, 22)
Trang 3830
+ Nghệ thuật (tuần 23, 24)
+ Lễ hội (tuần 25, 26) 11
+ Thể thao (tuần 28, 29)
+ Ngôi nhà chung (tuần 30, 31, 32)
+ Bầu trời và mặt đất (tuần 33, 34)
Riêng tuần 27 ôn tập giữa học kỳ II; Tuần 35 ôn tập và kiểm tra cuối học kỳ II SGK Tiếng Việt 3 bao gồm các phân môn Tập đọc, Kể chuyện, Chính tả, Luyện từ và câu, Tập viết, Tập làm văn Mỗi phân môn có nội dung chương trình riêng và bố trí theo phân phối chương trình Riêng phân môn Tập đọc học sinh được học 62 bài tập đọc tương đương với 93 tiết
Cấu trúc bài tập đọc trong SGK Tiếng Việt lớp 3 thường gồm bốn phần: tranh minh họa, văn bản tập đọc, chú giải và câu hỏi trong phần tìm hiểu bài
Trong quá trình dạy học, tùy thuộc vào từng bài đọc cụ thể giáo viên sử dụng SGK một cách tối ưu để đạt hiệu quả giờ học một cách tốt nhất Đối với Trường Tiểu học số 1 Phúc Trạch khả năng phát âm của nhiều em học sinh chưa cao, chính vì vậy SGK là công cụ chủ yếu sửa lỗi phát âm để nâng cao hiệu quả dạy – học đọc cho giáo viên và học sinh
Trang 3931
*Vở bài tập Tiếng Việt và các tài liệu khác giúp học sinh luyện tập, thực hành các
kỹ năng nghe – nói – đọc – viết phục vụ cho quá trình học tập của các em
1.2.2 Khảo sát thực trạng sửa lỗi phát âm cho học sinh lớp 3 Trường Tiểu học số
1 Phúc Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình
1.2.2.1 Mục đích khảo sát
Tôi tiến hành khảo sát giờ dạy Tập đọc của giáo viên Trường Tiểu học số 1 Phúc Trạch, từ đó xác định những khó khăn chủ yếu mà giáo viên gặp phải khi dạy Tập đọc cho học sinh và đưa ra các biện pháp khắc phục Đồng thời tìm hiểu về tâm lý của các nhà giáo dục, các bậc phụ huynh, phương ngữ địa phương, hoàn cảnh, môi trường sống và môi trường giáo dục của học sinh lớp 3 nơi đây để thấy rõ những yếu tố bên ngoài đã tác động như thế nào tới việc phát âm của các em để tìm ra các giải phát khắc phục lỗi phát âm phù hợp Khảo sát thực trạng phát âm trong giờ Tập đọc để thấy được những lỗi phát âm mà các em thường mắc phải, tiến hành phân loại lỗi để nắm được thực trạng mắc lỗi Trên cơ sở đó đề xuất một số biện pháp khắc phục lỗi phát âm nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy và học Tập đọc
* Nội dung khảo sát
Khoá luận tiến hành khảo sát trên những nội dung sau:
1 Thực trạng phát âm của học sinh
2 Thực trạng sửa lỗi phát âm của giáo viên đối với học sinh
* Địa điểm và thời gian khảo sát
+ Thời gian khảo sát: Học kì II năm học 2017 – 2018
+ Địa điểm khảo sát: Tại Trường Tiểu học số 1 Phúc Trạch – Bố Trạch – Quảng Bình
* Cách thức khảo sát
Để đánh giá thực trạng phát âm cho các em học sinh lớp 3 Trường Tiểu học số 1 Phúc Trạch – Bố Trạch – Quảng Bình, tôi dùng phương pháp dự giờ trực tiếp, phương pháp điều tra bằng phiếu bài tập, trao đổi với giáo viên về chương trình tập đọc lớp 3
và các phương pháp sửa lỗi phát âm cho học sinh
1.2.3 Kết quả khảo sát
Sau một thời gian tiến hành khảo sát thực tế tại Trường Tiểu học số 1 Phúc Trạch – Bố Trạch – Quảng Bình tôi thu được kết quả như sau:
Trang 40Qua thực tế khảo sát trong giờ học Tập đọc, qua việc trò chuyện với học sinh lớp
3 Trường Tiểu học số 1 Phúc Trạch, bản thân tôi thấy các em mắc khá nhiều lỗi phát
âm, thống kê số lỗi phát âm, tôi thấy có hai loại lỗi cơ bản sau:
Lỗi phát âm do học sinh không nắm vững cấu trúc nội bộ trong cùng một âm tiết tiếng Việt
Ví dụ: Chẳng hạn như anh em thì các em lại phát âm là ăn em, sản xuất các em lại phát âm thành xản xuất
Để khắc phục lỗi này giáo viên nên chỉ ra cho học sinh các thành phần của âm tiết (cấu tạo âm tiết từ mức độ tối thiểu đến tối đa) tức là giúp học sinh nắm được các thành phần của âm tiết bao gồm những thành phần nào, vị trí âm tiết đảm nhận vai trò
gì Nắm được cơ sở này học sinh sẽ khắc phục lỗi phát âm thừa, thiếu hoặc sai âm Lỗi phát âm do học sinh không nắm vững chính âm và do ảnh hưởng của lối phát
âm địa phương Hầu hết theo số liệu điều tra đã cho thấy các em đều mắc lỗi về phụ
âm đầu s/x, tr/ch, v/d, r/d/gi… lỗi phần vần uôt/uôc, ong/ông, ươt/ươc, ut/uc, ên/ênh, in/ich, êt/êch, ươu/iêu… lỗi về thanh điệu như thanh ngã và thanh hỏi Để sửa lỗi này đòi hỏi một quá trình rèn luyện lâu dài, trước hết học sinh cần nắm vững chính âm tiếng Việt, chú ý hướng dẫn học sinh phát âm theo âm chuẩn tiếng Việt, không phát
âm theo lối phát âm địa phương Muốn đạt được điều đó giáo viên cần dạy đúng, phát
âm chuẩn chính âm tiếng Việt cho học sinh Điều quan trọng nhất trong việc khắc phục lỗi này và nâng cao hiệu quả sửa lỗi phát âm là giáo viên thường xuyên cho học sinh phát âm, tập phát âm nhiều lần những phụ âm dễ lẫn đồng thời phải phối hợp đa dạng với các hình thức rèn luyện khác
Thực trạng điều tra cho thấy 140 học sinh ở lớp 3A, 3B, 3C, 3D thuộc lớp 3 của Trường Tiểu học số 1 Phúc Trạch – Bố Trạch – Quảng Bình hầu hết đều mắc lỗi khi phát âm Qua quá trình khảo sát tôi thu được kết quả như sau: