Những giải pháp phát triển hoạt động của các siêu thị trên địa bàn Hà Nội
Trang 1Lời mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
Siêu thị là một trong những loại hình kinh doanh bán lẻ hiện đại, hìnhthành và phát triển trong những quan hệ mật thiết với quárình công nghiệphoá mạnh mẽ ở quy mô thế giới Phát triển siêu thị văn minh hiện đại ởViệt Nam trong bối cảnh nước ta đang thực hiện công cuộc công nghiệphoá, hiện đại hoá đất nước.Ngày nay, nhu cầu tiêu dùng của người dân đã
có rất nhiều thay đổi so với trước kia Mua sắm cũng là 1 thú vui, người takhông muốn phải mua hàng ở những nơi ồn ào, đông đúc ở những nơi nhưchợ Mua sắm giúp cho người ta có thể nghỉ ngơi, thư giãn Nhu cầu nângcao, yêu cầu về đảm bảo vệ sinh an toàn cũng được nâng cao Chính vì vậydần dần siêu thị cũng được thay thế bởi chợ và những trung tâm thươngmại truyền thống
Siêu thị chính thức xuất hiện lần đầu tiên ở nước ta năm 1993 khi công
ty Vũng Tàu Sinhanco khai trương siêu thị Minimart Đến nay chúng ta đã
có rất nhiều siêu thị tuơng đối hoàn chỉnh từ các siêu thị nhỏ cho tới các đạisiêu thị ở thành phố và các đô thị lớn Siêu thị đã trở thành quen thuộc vớingười dân các thành phố lớn Siêu thị ngày nay đã trở thành quen thuộc vớingười dân Hà Thành Nhưng nó vẫn là 1 lĩnh vực khá mới mẻ ở Việt Namnói chung và Hà Nội nói riêng, nên rất đáng lưu tâm để tìm hướng pháttriển
Trên địa bàn Hà Nội ngày nay siêu thị đã trở nên phổ biến và ngàycàng phát triển, đặc biệt là các siêu thị bán lẻ Siêu thị mang lại nhiều tiệních phục vụ cho người dân, nhưng còn nhiều điều đáng bàn Vậy làm sao
để phát triển hệ thống siêu thị trên địa bàn Hà Nội Giúp nó là mội phươngtiện hữu ích đưa hàng hoá tới người tiêu dùng tốt và văn minh hơn Chính
vì vậy mà em chọn đề tài: “Những giải pháp phát triển hoạt động của các siêu thị trên địa bàn Hà Nội”
2.Mục tiêu nghiên cứư của đề tài
Tìm hiểu về thị trường bán lẻ ở Hà Nội, đồng thời tìm hiểu về tìnhhình hoạt động của các siêu thị bán lẻ trên thị trường Hà Nội, để có nhữnghướng đưa hoạt động của các siêu thị ngày càng có hiệu quả hơn
Trang 2• Đối tượng nghiên cứu là những siêu thị bán lẻ trên thị trường
Hà Nội
• Phạm vi:
- Thị trường Hà Nội
- Khoảng thời gian 2005-2010
• Phương pháp nghiên cứu: Đề tài sử dụng tổng hợp các phươngpháp bao gồm:
- Phương pháp tiếp cận hệ thống, biện chứng, duy vật lịch sử
- Phương pháp chuyên gia
4 Kết cấu của đề tài
Chương I: Cơ sở lý luận về kinh doanh siêu thị
Chương 2:Thực trạng của hoạt động kinh doanh siêu thị trên địa bàn
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 3Chương 1
Cơ sở lý luận về kinh doanh siêu thị
1.1.Khái quát về dịch vụ phân phối
1.1.1 Đặc điểm chung
Trong nền kinh tế thị trường hiện đại, lĩnh vực phân phối là sự kết nốisống còn giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng Hoạt động của lĩnh vực nàyảnh hưởng rất lớn đến lợi ích của người tiêu dùng Trong danh mục phânloại ngành dịch vụ, tài liệu mã số MTN.GNS/W120 (W/120) được xâydựng trong Vòng đàm phán Urugoay) lĩnh vực dịch vụ được định nghĩabao gồm bốn nhóm dịch vụ chính: dịch vụ đại lý uỷ quyền, dịch vụ bánbuôn, dịch vụ bán lẻ và nhượng quyền (Franchising) Dịch vụ bán buôn baogồm việc bán hàng cho những người bán lẻ, những doanh nghiệp sử dụngcủa các ngành công nghiệp, thương mại, các tổ chức hoặc các đơn vịchuyên môn khác, hoặc cho những người bán buôn khác Những người bán
lẻ bán hàng phục vụ mục đích tiêu dùng cá nhân hoặc hộ gia đình
Như vậy, trong nền sản xuất xã hội, hàng hóa được sản xuất ra và đưahàng hóa từ lĩnh vực sản xuất đến lĩnh vực tiêu dùng gồm có hai giai đoạn:lưu chuyển hàng hóa bán buôn và lưu chuyển hàng hóa bán lẻ - chính lưuchuyển hàng hóa bán buôn và lưu chuyển hàng hóa bán lẻ tạo thành hệthống phân phối (dịch vụ phân phối) hàng hóa trong nền kinh tế quốc dân.Phân phối hàng hóa bán lẻ là bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùng, chủyếu là bán tư liệu tiêu dùng cho nhân dân (người lao động) để tiêu dùng cánhân
Ngoài ra, trong thực tế các doanh nghiệp, các tổ chức thương mại cònbán hàng cho các cơ quan, doanh nghiệp, HTX, bệnh viện, trường học vàcác tổ chức khác để thoả mãn tiêu dùng tập thể hoặc thoả mãn những nhucầu về kinh tế cũng thuộc phạm vi dịch vụ bán lẻ (phân phối bán lẻ) haycòn gọi là lưu chuyển hàng hóa bán lẻ Số hàng hóa này thường chỉ chiếmmột bộ phận nhỏ trong tổng mức lưu chuyển bán lẻ xã hội
Phân phối hàng hóa bán lẻ bao gồm chủ yếu là bán tư liệu tiêu dùng cánhân và tiêu dùng tập thể, nhưng đồng thời các cửa hàng bán lẻ, siêu thị,
Trang 4tiêu dùng nên phần này cũng thuộc vào dịch vụ bán lẻ.
Dịch vụ bán lẻ hàng hóa bao gồm cả dịch vụ ăn uống nhà hàng và giảikhát của các cửa hàng, trung tâm dịch vụ, bán sách báo và tem thư của cáchiệu sách và các điểm bưu điện, bán nông sản phẩm và sản phẩm chăn nuôicủa các cơ sở sản xuất… Ngoài ra, nó còn bao gồm cả doanh thu từ cácdịch vụ may mặc, giầy dép, dịch vụ sửa chữa của các cửa hàng kinh doanhthuộc các thành phần kinh tế
Thời kỳ trước năm 1986, ở nước ta, hệ thống phân phối bán lẻ hànghóa, dịch vụ gồm hai bộ phận: một là lưu chuyển hàng hóa bán lẻ trong thịtrường có tổ chức, hai là lưu chuyển hàng hóa bán lẻ trong thị trường tự do.Phân phối bán lẻ trong thị trường có tổ chức là do hệ thống phân phối bán
lẻ của thương nghiệp quốc doanh (bao gồm cả mạng lưới cửa hàng ăn uốngcông cộng), hợp tác xã mua bán, các cửa hàng công tư hợp doanh và các tổhợp tác tiểu thương làm đại lý kinh tiêu cho mậu dịch quốc doanh đảmnhiệm Phân phối bán lẻ trong thị trường tự do là do các xã viên hợp tác xãsản xuất nông nghiệp, hợp tác xã thủ công, hợp tác xã ngư nghiệp, nôngdân cá thể, thợ thủ công cá thể và tiểu thương trên các chợ nông thôn Thời
kỳ trước năm 1986, dịch vụ phân phối bán lẻ trong thị trường có tổ chứcchiếm đại bộ phận trong tổng mức lưu chuyển hàng hoá bán ở nước ta.Sau hơn 20 năm thực hiện chính sách đổi mới kể từ Đại hội Đảng toànquốc lần thứ VI (1986), với nền kinh tế nhiều thành phần đã làm cho nềnkinh tế Việt Nam có những thay đổi lớn lao không phải chỉ ở mức tăngtrưởng mà còn ở thay đổi cơ cấu kinh tế cũng như sự thay đổi trong tổngmức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ Hiện nay, tổng mức bán lẻ vàdoanh thu dịch vụ gồm ba bộ phận: Một là lưu chuyển hàng hoá bán lẻ do
hệ thống phân phối bán lẻ quốc doanh đảm nhiệm Hai là lưu chuyển hànghoá bán lẻ do hệ thống phân phối bán lẻ ngoài quốc doanh đảm nhiệm Ba
là lưu chuyển hàng hoá bán lẻ do hệ thống phân phối bán lẻ của các doanhnghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đảm nhiệm Tương ứng với ba bộ phậnnày, cơ cấu tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ xã hội, năm
1995 là 22,6%, 76,9% và 0,5%, đến năm 2005 là 13,1%, 83,1% và 3,8%.Như vậy, phân phối hàng hoá bán lẻ có nhiều hình thức khác nhau và
do nhiều thành phần kinh tế đảm nhiệm nhưng tất cả đều có đặc trưng
Trang 5chung là bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùng nhằm thực hiện nguyên tắcphân phối trong cơ chế thị trường thông qua giá cả thị trường (nghĩa làhàng hoá dịch vụ chỉ được phân phối (bán) cho những người có tiền vàchấp nhận giá), nó là giai đoạn cuối cùng của quá trình lưu thông hàng hoá,hàng hoá từ lĩnh vực lưu thông chuyển sang lĩnh vực tiêu dùng do hệ thốngphân phối bán lẻ hàng hoá thực hiện Tổng mức lưu chuyển hàng hoá bán
lẻ và doanh thu dịch vụ ở nước ta là một trong những chỉ tiêu quan trọngtrong kế hoạch phát triển thương mại trong nước, kế hoạch phát triển kinh
tế quốc dân để phục vụ các nhu cầu đời sống của các tầng lớp dân cư
1.1.2 Tình hình chung của hoạt động phân phối bán lẻ của Việt Nam nói chung trong thời kì hội nhập
Hệ thống phân phối bán lẻ hàng hóa của Việt Nam hình thành và pháttriển rất đa dạng, bao gồm nhiều loại hình khác nhau Đó là sự đan xen giữa
hệ thống phân phối truyền thống và hệ thống phân phối hiện đại Cấu trúccủa hệ thống phân phối bán lẻ hàng hóa trên thị trường cũng rất phức tạp vàđược mở rộng trên cả ba địa bàn: thành thị, nông thôn và miền núi, thu hút
sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế với nhiều quy mô và hình thức tổchức khác nhau Dịch vụ bán lẻ qua chợ và các hoạt động thương mại quachợ phát triển nhanh ở nông thôn và miền núi Trong tâm thương mại, siêuthị và cửa hàng tự phục vụ, hội chợ - triển lãm thương mại… phát triển ởkhu vực thành thị cũng như các vùng kinh tế trọng yếu; các kênh lưu thônghàng hóa đã bước đầu được hình thành và củng cố với sự tham gia đôngđảo của các loại hình doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, bước đầugóp phần thúc đẩy sản xuất hàng hóa phát triển, gắn sản xuất với thịtrường
Trang 6Bảng 1.Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ phân theo
thành phần kinh tế
Năm
Tổng số
(tỷđồng)
Các thành phần kinh tế trong nước chia raQuốc doanh Ngoài quốc
Doanh
số (tỷđồng)
Tỷtrọng(%)
Doanh
số (tỷđồng)
Tỷtrọng(%)
Doanh
số (tỷđồng)
Tỷtrọng(%)
Nguồn: Niên giám thống kê và ước tính của Bộ Thương mại
1.1.3 Những thuận lợi và khó khăn khi Việt Nam gia nhập WTO tác động tới hoạt động phân phối bán lẻ của Việt Nam
Thuận lợi
Gia nhập WTO, Việt Nam có những thuận lợi cơ bản Đó là quyết tâmchính trị cải cách, hội nhập, sự đồng thuận cơ sở kinh tế - xã hội, thể chế,giáo dục v.v… của hai mươi năm đổi mới, tăng trưởng và phát triển
Hội nhập quốc tế là hội nhập theo cơ chế thị trường, sau hai mươi nămđổi mới, các thể chế kinh tế thị trường đã cơ bản được hình thành và kinh tếViệt Nam đang ngày càng hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế khu vực và thếgiới
Việt Nam có vị trí chiến lược trong khu vực, thị trường bán lẻ có sức thuhút cao, có thể phát huy để phát triển kinh tế, thu hút đầu tư Khoa học - côngnghệ phát triển như vũ bão, tiến trình toàn cầu hoá đang tiếp tục được đẩymạnh Khu vực Châu á, Thái Bình Dương trở thành động lực tăng trưởng vàmột trong những trung tâm tăng trưởng năng động nhất của nền kinh tế toàncầu
Khó khăn
Trình độ phát triển thấp, cơ sở hạ tầng còn yếu kém về hệ thống phân
Trang 7phối bán lẻ hàng hoá v.v… có thể vừa là khó khăn, vừa cơ hội Với "lợi thếcủa người đi sau", Việt Nam có thể hợp tác kêu gọi đầu tư để nhanh chóngphát triển cơ sở hạ tầng vật chất - kỹ thuật cho thương mại
Khó khăn về trình độ phát triển thể hiện rõ ở khu vực nông nghiệp,vùng sâu, vùng xa, ở sự thiếu hiểu biết và thiếu chuẩn bị để cạnh tranh vàphát triển trong hoàn cảnh mới
Với tỷ trọng nông nghiệp còn khá cao (20% GDP) và dân số ở nôngthôn lên đến 65 - 66% dân số, đất canh tác bình quân thấp và manh mún,chia thành 78 triệu thửa ruộng, trình độ chuyên canh, vận dụng khoa học -công nghệ chưa cao, gia nhập WTO đặt ra nhiều cơ hội và thách thức đốivới nông dân rất lớn và cả cho mạng lưới bán lẻ hàng hoá những năm tới.Bắt đầu từ ngày 1.4.2009 thực hiện cam kết đối với thị trường bán lẻ ởViệt Nam là cho phép nhà đầu tư nước ngoài đầu tư 100% vốn để xây dựng
hệ thống bán lẻ tại thị trường Việt Nam, cạnh tranh rất lớn tới các doanhnghiệp phân phối bán lẻ nói chung và kinh doanh siêu thị nói riêng ở trongnước
1.2 Khái quát về kinh doanh siêu thị
1.2.1 Khái niệm
Siêu thị" là từ được dịch ra từ các thuật ngữ nước ngoài
-"supermarket" (tiếng Anh) hay "supermarché" (tiếng Pháp), trong đó
"super" nghĩa là "siêu" và "market" là "thị trường" ("chợ")
Theo Quy chế Siêu thị, Trung tâm thương mại của Bộ Thương mạiViệt Nam (nay là Bộ Công Thương Việt Nam) ban hành ngày 24 tháng 9năm 2004:
Siêu thị là loại hình cửa hàng hiện đại; kinh doanh tồng hợp hoặcchuyên doanh; có cơ cấu chủng loại hàng hoá phong phú, đa dạng, bảo đảmchất lượng; đáp ứng các tiêu chẩn về diện tích kinh doanh, trang bị kỹ thuật
và trình độ quản lý, tổ chức kinh doanh; có các phương thức phục vụ vănminh, thuận tiện nhằm thoả mãn nhu cầu mua sắm hàng hóa của kháchhàng
Trên thế giới hiện có một số khái niệm về siêu thị như sau
Theo Philips Kotler, siêu thị là "cửa hàng tự phục vụ tương đối lớn có
Trang 8ra lớn, đảm bảo thỏa mãn đầy đủ nhu cầu của người tiêu dùng về thựcphẩm, bột giặt, các chất tẩy rửa và những mặt hàng chăm sóc nhà cửa"Theo nhà kinh tế Marc Benoun của Pháp, siêu thị là "cửa hàng bán lẻtheo phương thức tự phục vụ có diện tích từ 400m2 đến 2500m2 chủ yếubán hàng thực phẩm"
Theo Từ điển kinh tế thị trường từ A đến Z:
"Siêu thị là cửa hàng tự phục vụ bày bán nhiều mặt hàng đáp ứng nhucầu tiêu dùng hàng ngày của người tiêu dùng như thực phẩm, đồ uống,dụng cụ gia đình và các loại vật dụng cần thiết khác"
Siêu thị truyền thống thường được xây dựng trên diện tích lớn, gầnkhu dân cư để tiện lợi cho khách hàng và đảm bảo doanh thu
1.2.2 Đặc trưng của siêu thị
Theo Viện nghiên cứu thương mại Việt Nam siêu thị có những đặc
trưng sau:
- Siêu thị trước hết là cửa hàng bán lẻ: Mặc dù được định nghĩa là
"chợ" song đây được coi là loại "chợ" ở mức phát triển cao, được quyhoạch và tổ chức kinh doanh dưới hình thức những cửa hàng bề thế, cótrang thiết bị và cơ sở vật chất hiện đại, văn minh, do thương nhân đầu tư
và quản lý, được Nhà nước cấp phép hoạt động Siêu thị thực hiện chứcnăng bán lẻ - bán hàng hóa trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng để họ
sử dụng chứ không phải để bán lại
- Siêu thị sáng tạo và áp dụng phương thức tự phục vụ (self-service hay libre- service):
Khi nói đến siêu thị người ta không thể không nghĩ tới "tự phục vụ",một phương thức bán hàng do siêu thị sáng tạo ra, được ứng dụng trongnhiều loại cửa hàng bán lẻ khác và là phương thức kinh doanh chủ yếu của
xã hội văn minh công nghiệp hóa ở đây cũng cần phân biệt giữa phươngthức tự chọn và tự phục vụ:
Trang 9+ Tự chọn: khách hàng sau khi chọn mua được hàng hoá sẽ đến chỗ
người bán để trả tiền hàng, tuy nhiên trong quá trình mua vẫn có sự giúp
đỡ, hướng dẫn của người bán
+ Tự phục vụ: khách hàng xem xét và chọn mua hàng, bỏ vào giỏ hoặc
xe đẩy đem đi và thanh toán tại quầy tính tiền đặt gần lối ra vào Người bánvắng bóng trong quá trình mua hàng
Chính thức ra đời từ những năm 1930, tự phục vụ đã trở thành côngthức chung cho ngành công nghiệp phân phối ở các nước phát triển Tựphục vụ đồng nghĩa với văn minh thương nghiệp hiện đại Nó có nhiều ưuđiểm so với cách bán hàng truyền thống: doanh nghiệp có thể tiết kiệmđược chi phí bán hàng, đặc biệt là chi phí tiền lương cho nhân viên bánhàng (thường chiếm tới 30% tổng chi phí kinh doanh) Tự phục vụ giúpngười mua cảm thấy thoải mái khi được tự do lựa chọn, ngắm nghía, sosánh hàng hóa mà không cảm thấy bị ngăn trở từ phía người bán
Do áp dụng phương thức tự phục vụ, giá cả trong các siêu thị đượcniêm yết rõ ràng để người mua không phải tốn công mặc cả, tiết kiệm được
thời gian và hàng hóa bày bán trong siêu thị thường là những hàng hóa tiêu dùng phổ biến.
Ngoài ra, phương thức thanh toán tại các siêu thị rất thuận tiện Hànghóa gắn mã vạch, mã số được đem ra quầy tính tiền ở cửa ra vào, dùng máyquét scanner để đọc giá, tính tiền bằng máy và tự động in hóa đơn Hìnhảnh các quầy tính tiền tự động luôn là biểu tượng cho các cửa hàng tự phục
vụ Đây chính là tính chất "siêu" của siêu thị, đem đến cảm giác thoải mái,hài lòng, tự tin và sự thỏa mãn cao nhất cho người mua sắm
Có thể khẳng định rằng phương thức tự phục vụ là sáng tạo kỳ diệucủa kinh doanh siêu thị và là cuộc đại "cách mạng" trong lĩnh vực thươngmại bán lẻ mà người lãnh đạo không ai khác là kinh doanh siêu thị
- Siêu thị sáng tạo nghệ thuật trưng bày hàng hoá (Merchandising)
Trang 10Ngoài việc sáng tạo ra phương thức bán hàng tự phục vụ, đóng gópcủa siêu thị cho hệ thống bán lẻ còn là nghệ thuật trưng bày hàng hoá Cácsiêu thị cũng là những nhà bán lẻ đầu tiên nghĩ đến tầm quan trọng củanghệ thuật trình bày hàng hoá và nghiên cứu cách thức vận động của ngườimua hàng khi vào cửa hàng Nhiều cửa hàng bán lẻ khác, dựa trên cơ sởcác nghiên cứu của siêu thị để tiến hành các hoạt động nghiên cứu kháchhàng sâu sắc hơn nhằm tối đa hoá hiệu quả của không gian bán hàng
Do người bán không có mặt tại các quầy hàng nên hàng hóa phải cókhả năng "tự quảng cáo", lôi cuốn người mua Siêu thị làm được điều nàythông qua các nguyên tắc sắp xếp, trưng bày hàng hóa (merchandising)nhiều khi được nâng lên thành những thủ thuật Chẳng hạn, hàng có tỷ suấtlợi nhuận cao được ưu tiên xếp ở những vị trí dễ thấy nhất, được trưng bàyvới diện tích lớn; những hàng hóa có liên quan đến nhau được xếp gầnnhau; hàng khuyến mại phải thu hút khách hàng bằng những kiểu trưng bàyđập vào mắt; hàng có trọng lượng lớn phải xếp ở bên dưới để khách hàng
dễ lấy; bày hàng với số lượng lớn để tạo cho khách hàng cảm giác là hànghoá đó được bán rất chạy
- Hàng hóa trong siêu thị chủ yếu là hàng tiêu dùng thường ngày nhưthực phẩm, quần áo, bột giặt, đồ gia dụng điện tử với chủng loại rấtphong phú, đa dạng Điều này thể hiện đúng tính chất "chợ" của siêu thị.Xem xét ở khía cạnh danh mục hàng hóa thì siêu thị thuộc hệ thống các cửahàng kinh doanh tổng hợp, khác với các cửa hàng chuyên doanh chỉ chuyênsâu vào một hoặc một số mặt hàng nhất định Theo quan niệm của nhiềunước, siêu thị phải là nơi mà người mua có thể tìm thấy mọi thứ họ cần ở
"dưới một mái nhà" và với một mức giá "ngày nào cũng thấp" low-price) Chủng loại hàng hóa của siêu thị có thể lên tới hàng nghìn,thậm chí hàng chục nghìn loại hàng Thông thường, một siêu thị có thể đápứng được 70-80% nhu cầu hàng hóa của người tiêu dùng về ăn uống, trangphục, mỹ phẩm, đồ làm bếp, chất tẩy rửa, vệ sinh Chưa bàn dến vấn đềchất lượng, ta có thể thấy siêu thị là loại cửa hàng phục vụ cho quảng đạicông chúng và phần nhiều là tầng lớp bình dân có thu nhập từ mức thấp trởlên
Trang 11(everyday-1.2.3 Phân loại siêu thị
Siêu thị là một dạng cửa hàng bán lẻ thuộc mắt xích trung gian gần vớingười tiêu dùng nhất Tuy nhiên, khi nói đến siêu thị, ta ngầm hiểu đó làcách tiếp cận từ góc độ phân loại mang tính tổ chức đối với những cửahàng bán lẻ theo phương thức hiện đại Hệ thống các cửa hàng này ở cácnước phương Tây bao gồm cửa hàng tiện dụng(convenience store), siêu thịnhỏ (mini-super), siêu thị(supermarket), đại siêu thị (hypermarket), cửahàng bách hoá lớn (department store), cửa hàng bách hoá thông thường,cửa hàng đại hạ giá (hard discounter), trung tâm thương mại (commercialcenter)
Những loại hình cửa hàng này với quy mô ngày càng lớn, trang hoàngđẹp và mua bán nhanh chóng, thuận tiện đã tạo nên diện mạo của ngànhthương nghiệp bán lẻ hiện đại tại các nước công nghiệp phát triển
Trong hệ thống các cửa hàng bán lẻ hiện đại, siêu thị được xếp ở vị trícao hơn các cửa hàng tự phục vụ nhỏ, cửa hàng tiện dụng và thấp hơn sovới đại siêu thị, cửa hàng đại hạ giá(hard discounter), cửa hàng bách hoá,trung tâm thương mại xét về mặt quy mô, diện tích và phương thức kinhdoanh Những cửa hàng bán lẻ này đã trải qua một quá trình phát triển lâudài, có suy thoái và có diệt vong tùy theo từng thời kỳ
Chính phương thức bán hàng tự phục vụ và nghệ thuật trưng bày hànghoá của siêu thị đã mở ra kỷ nguyên thương mại bán lẻ văn minh hiện đại
Hàng hóa ở đây rất đa dạng và được chọn lọc kĩ hơn so với trong chợhay cửa hàng tạp phẩm Loại hình này gọi chung là siêu thị truyền thống vìngày nay, từ "siêu thị" còn được chỉ những nơi chỉ chuyên kinh doanh mộtmặt hàng, một chủng loại hàng nào đó mà thôi Ví dụ: siêu thị máy tính,siêu thị điện thoại di động, siêu thị trái cây, siêu thị điện máy, siêu thị kínhthuốc thậm chí còn có siêu thị việc làm nữa (những cách gọi này hayđược dùng tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh.)
Trang 12oPhân loại siêu thị
Theo quy định của Bộ Công Thương Việt Nam, dựa trên tiêu thức vềdiện tích mặt bằng và danh mục sản phẩm siêu thị được phân làm 3 hạng:
- Có diện tích kinh doanh từ 5.000m2 trở lên;
- Có Danh mục hàng hoá kinh doanh từ 20.000 tên hàng trở lên;
•Đối với siêu thị chuyên doanh, tiêu chuẩn cơ bản là:
- Có diện tích kinh doanh từ 2.000m2 trở lên;
- Có Danh mục hàng hoá kinh doanh từ 10.000 tên hàng trở lên;
• Đối với siêu thị chuyên doanh, tiêu chuẩn cơ bản là:
- Diện tích từ 500m2 trở lên;
- Có Danh mục hàng hoá kinh doanh từ 1.000 tên hàng trở lên
Siêu thị hạng III
Trang 13•Siêu thị kinh doanh tổng hợp phải đảm bảo các tiêu chuẩn cơ bảnsau:
- Có diện tích kinh doanh từ 500m2 trở lên;
- Có Danh mục hàng hoá kinh doanh từ 4.000 tên hàng trở lên;
•Đối với siêu thị chuyên doanh, tiêu chuẩn cơ bản là:
- Diện tích từ 500m2 trở lên (như siêu thị tổng hợp);
- Có Danh mục hàng hoá kinh doanh từ 500 tên hàng
Trang 14Chương 2 Thực trạng hoạt động kinh doanh của các siêu thị
trên địa bàn Hà Nội
1.Đặc điểm của thị trường Hà Nội
Hà Nội là trung tâm văn hoá, chính trị của cả nước, nằm ở khu vựcđồng bằng sông Hồng, có truyền thống lâu đời, nên Hà Nội là một thịtrường tiềm năng Thị trường Hà Nội có những đặc điểm sau:
Về đặc điểm dân cư: Dân cư đông đúc, Dân số của Hà Nội khi chưa
ghép tỉnh là 3,4 triệu người, Hà Tây là 2,6 triệu người, huyện Mê Linh(Vĩnh Phúc) 18 vạn người Như vậy, với quy mô Hà Nội mở rộng, dân sốchính thức sẽ lên tới 6,1 triệu người Năm 2008
Thu nhập bình quân đầu người: GDP của cả nước đạt 1.47 nghìn tỷ
đồng, với dân số Việt Nam khoảng hơn 86 triệu người, GDP bì8nh quântính theo đầu người đạt khoảng 17 triệu đồng Với giá USD trung bình củanăm 2008 là 16.700 đồng/USD thì GDP trung bình của người dân ViệtNam đã vượt ngưỡng 1.000 USD/người/năm GDP bình quân đầu ngườikhá cao, khoảng 1.700-1.800 USD/năm đã tạo cho thị trường Hà Nội sứccầu lớn khiến hoạt động thương mại trên địa bàn hết sức sôi động
Mức tiêu dùng: Trong cơ cấu sử dụng thu nhập của người Việt Nam
thì tới 70% chi tiêu dùng, trong đó chi ăn uống 36%, đồ gia dụng 10,2%,vận chuyển và liên lạc 10,8%, Những yếu tố trên khiến Việt Nam hiệnđứng thứ 4 trong các thị trường bán lẻ hấp dẫn nhất thế giới theo bảng xếphạng của tập đoàn AT Kearney (“Chỉ số phát triển bán lẻ chung năm 2007 -GRDI” của Việt Nam đạt 74/100 điểm, xếp sau ấn Độ, Nga và TrungQuốc) Doanh thu thị trường bán lẻ của Việt Nam năm 2005 đạt 30 tỷ USD
và dự kiến tăng trưởng bình quân 15 20%/năm trong giai đoạn 2006
-2010, đến năm 2010 thị trường bán lẻ Việt Nam sẽ vượt mức 50 tỷ USD
Về cơ cấu trong tổng mức lưu chuyển hàng hóa bán lẻ trên địa bàn, kinh tếnhà nước duy trì tỷ trọng khoảng 13 - 16%, kinh tế cá thể vẫn chiếm tỷtrọng lớn nhất nhưng có xu hướng giảm mạnh, chứng tỏ loại hình kinhdoanh "vỉa hè", kinh doanh "quầy, sạp" đang mất dần ưu thế, từng bước
Trang 15nhường chỗ cho các hình thức kinh doanh bán lẻ hiện đại chất lượng caotheo mô hình cửa hàng tiện ích, siêu thị do kinh tế tư nhân và khu vực cóvốn đầu tư nước ngoài thực hiện
Các doanh nghiệp trên địa bàn Hà Nội:Các doanh nghiệp thương mại
phát triển nhanh cả về số lượng và chất lượng hoạt động Năm 2006 trênđịa bàn Hà Nội có hơn 9.000 doanh nghiệp thương mại, gấp 3 lần so vớinăm 2001 Sự tăng nhanh về số lượng các doanh nghiệp thương mại và sứchấp dẫn của ngành thương mại đã thu hút lực lượng lao động lớn Năm
2001 mới có khoảng 85.000 lao động trong các doanh nghiệp thương mạithì đến năm 2006 con số này đã tăng thêm hơn 80.000 người, đạt tổng sốgần 165.000 lao động
Trang 16Bảng 2.Một số chỉ tiêu phát triển thương mại nội địa trên địa bàn
Hà Nội giai đoạn 2001 - 2006
27.843 30.907 39.35 45.961 55.735 65.85
4
74,43L/c hàng hoá
74.211 76.836 79.438 88.42
2101.36 103.54 104,2
Nguồn: Sở Thương mại Hà Nội, Niên giám Thống kê Hà Nội
Nhìn chung, trong giai đoạn 2001-2006 hoạt động thương mại trên thịtrường nội địa của Hà Nội phát triển mạnh Hàng hóa, dịch vụ lưu thông
Trang 17trên thị trường ngày càng dồi dào, phong phú, chất lượng và mẫu mã đượccải tiến hơn, lượng tiêu thụ trong nước tăng, có thể đáp ứng nhu cầu đadạng của các tầng lớp dân cư Tuy nhiên, thị trường nội địa phát triển vẫnchứa đựng không ít yếu tố tự phát, thiếu bền vững, có sự chênh lệch khôngnhỏ về phát triển thương mại giữa nội thành và ngoại thành Sản phẩmhàng hoá, dịch vụ của Hà Nội chưa được quảng bá rộng rãi, nhiều sảnphẩm chưa khẳng định được thương hiệu với người tiêu dùng trong nước.Các doanh nghiệp phân phối của Hà Nội chưa phát huy tốt thế mạnh củamình để cạnh tranh và khai thác thị trường trên địa bàn Thủ đô, cũng nhưcác thị trường trong vùng Thủ đô, vùng đồng bằng sông Hồng và vùng kinh
tế trọng điểm Bắc bộ
2.Thực trạng hoạt động siêu thị trên địa bàn Hà Nội
2.1 Tình hình chung
Số lượng siêu thị :Các siêu thị ở Hà Nội ngày càng phát triển mạnh cả
về số lượng và chất lượng Số lượng siêu thị và trung tâm thương mại đãtăng gấp 3 lần kể từ năm 2000 đến năm 2006 Hà Nội có khoảng 63 siêu thịnằm giải rác trên các quận huyện Siêu thị phân bố không đồng đều.Cácsiêu thị tập trung lớn nhất ở khu vực nội thành Hà Nội, nhất là các quậnĐống Đa, Hai Bà Trưng, Cầu Giấy, Ba Đình, Hoàn Kiếm Tại khu vực ngoạithành, Thanh Trì và Từ Liêm có số siêu thị trên địa bàn nhiều hơn cả; tạihuyện Sóc Sơn chưa xuất hiện hình thức kinh doanh siêu thị Tổng diện tíchđất của hệ thống siêu thị trên địa bàn Hà Nội hiện nay khoảng trên 20ha
Diện tích: Tổng diện tích sử dụng cho kinh doanh siêu thị của Hà Nội
hiện có khoảng 63.267 m2 Trong tổng diện tích trên chỉ có khoảng38.000m2 là diện tích kinh doanh Tính bình quân, mỗi siêu thị chỉ cókhoảng 1004 m2 và diện tích kinh doanh chỉ khoảng 600m2 Xét cụ thể, HàNội chỉ có 2 siêu thị rộng trên 5000m2 (đạt tiêu chuẩn loại 1 của siêu thịkinh doanh tổng hợp) có 4 siêu thị rộng trên 2000m2 và 20 siêu thị rộngtrên 500m2 còn lại là các siêu thị nhỏ có diện tích dưới 500m2
Thành phần tham gia kinh doanh siêu thị:Tham gia kinh doanh siêu thị
Trang 18doanh nghiệp nhà nước quản lý và khai thác 43 siêu thị, trung tâm thươngmại, cửa hàng tiện ích (chuỗi siêu thị Intimex, Hapro, Vinaconex ); doanhnghiệp ngoài nhà nước quản lý và khai thác 54 siêu thị, trung tâm thươngmại, cửa hàng tiện ích (chuỗi siêu thị Fivimart, Marko, một số trung tâmthương mại, các cửa hàng tự chọn, ), doanh nghiệp có vốn đầu tư nướcngoài quản lý và khai thác 3 siêu thị, trung tâm thương mại lớn (siêu thịMetro, siêu thị BigC).Trong hệ thống siêu thị, chủ yếu là bán lẻ Hệ thốngsiêu thị Hà Nội được phân thành 2 nhóm: Siêu thị kinh doanh tổng hợp vàsiêu thị chuyên doanh Trong 63 siêu thị có 47 siêu thị kinh doanh tổnghợp, 16 siêu thị chuyên doanh Trong đó chỉ có 2 siêu thị tổng hợp đạt loại
1 và 4 siêu thị chuyên doanh đạt loại 1
Mặt hàng kinh doanh trong siêu thị: Theo tính chất kinh doanh, ở Hà
Nội hiện nay phát triển cả các siêu thị kinh doanh tổng hợp và các siêu thịchuyên doanh, chỉ tập trung kinh doanh một mặt hàng nhất định, như siêuthị điện tử, siêu thị sách, siêu thị nội thất, siêu thị sản phẩm may mặc (ví dụchuỗi siêu thị Vinatex chuyên kinh doanh mặt hàng thời trang của TổngCông ty dệt may Việt Nam
Bảng 4.Hàng hóa kinh doanh chủ yếu trong siêu thị Hà Nội
Trang 19Hàng hóa kinh doanh chủ yếu trong siêu thị kinh doanh tổng hợp làhàng thực phẩm tươi sống, thực phẩm chế biến chiếm từ 30% số mặt hàngtrở lên các siêu thị chuyên doanh chủ yếu kinh doanh hàng may mặc, đồnội thất văn phòng, vật liệu xây dựng, điện máy, hàng cơ khí, máy tính.
2.2 Một số hệ thống siêu thị tiêu biểu
Một số siêu thị của các doanh nghiệp trong nước ở Hà Nội đã thànhcông trong kinh doanh, khẳng định được thương hiệu, đang tiếp tục pháttriển mạnh, mở rộng mạng lưới theo mô hình chuỗi
2.2.1 Siêu thị Fivimart
Điển hình trong số đó là chuỗi siêu thị Fivimart của Công ty cổ phầnNhất Nam Kể từ siêu thị đầu tiên ra đời tháng 12/1997 tại phố Trần Quang
Khải đến nay Fivimart đã trở thành "Bạn của mọi gia đình", đúng như
phương châm hoạt động của Fivimart Hiện chuỗi siêu thị Fivimart gồm 5siêu thị (4 ở Hà Nội và 1 ở thành phố Hồ Chí Minh) và dự kiến tăng lên 15siêu thị vào năm 2010 Số lượng hàng hoá bày bán tại mỗi siêu thị Fivimart
là 22.000 chủng loại sản phẩm Fivimart đã áp dụng hệ thống quản lý chấtlượng quốc tế ISO 9001-2000, giúp chuẩn hoá hoạt động kinh doanh, nângcao chất lượng phục vụ khách hàng
Bảng 3.Một số chỉ tiêu hoạt động của chuỗi siêu thị Fivimart
Phương châm hoạt động là kinh doanh siêu thị thoáng , tiện lợi, sạch
sẽ, đảm bảo các tiêu chuẩn về vệ sinh an toàn cho khách hàng, big C khôngchỉ là nơi mua sắm mà còn là nơi vui chơi giải trí Không chỉ là nhà cungứng các mặt hàng, Big C còn đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao của
Trang 20Hệ thống siêu thị Big C ở Việt Nam bao gồm: Big C Thăng Long( HàNội ), Big C Hải Phòng, Big C Đồng Nai, Big C An Lạc (TP Hồ ChíMinh), Big C Miền Đông Với khoảng hơn 700 nhân viên, trong đó có 99%
là người Việt Nam, Big C đã liên kết với các trường, các trung tâm hìnhthành các khoá đào tạo liên tục, để có những đội ngũ nhân viên tốt nhấtnhằm phục vụ khách hàng một cách chuyên nghiệp, kịp thời nhất Phươngchâm phục vụ khách hàng 1 cách tốt nhất
3.Đánh giá về hoạt động kinh doanh của siêu thị trên địa bàn Hà Nội
3.1 Những mặt mạnh
Nhìn chung kinh doanh siêu thị đã xuất hiện ngày càng nhiều và ngàycàng có vai trò quan trọng trong mạng lưới phân phối bán lẻ ở Việt Namnói chung và Hà Nội nói riêng cùng với quá trình đổi mới, CNH-HĐH đấtnước Nền tảng kinh tế nước ta đã đạt tới mức cần thiết cho việc phát triểnkinh doanh siêu thị Mức bình quân đầu người năm 2008 đã lên tới1000USD/ người đã đủ điều kiện cho phát triển hệ thống siêu thị đầy đủ( siêu thị nhỏ, siêu thị và đại siêu thị)
Các mặt hàng trong siêu thị cũng ngày được mở rộng về danh mụchàng hoá, phong phú về chủng loại, đáp ứng đầy đủ nhu cầu của người tiêudùng Cơ sở vật chất của các siêu thị cũng được mở rộng về quy mô: Đạisiêu thị Big C Các siêu thị cũng mọc lên rất nhiều, phục vụ tốt cho ngườitiêu dùng, dần dần đã thay thế được các chợ truyền thống, thói quen muahàng của người tiêu dùng cũng được thay đổi, người dân tới mua hàng ởsiêu thị nhiều hơn, chứng tỏ hoạt động của siêu thị ngày càng được nânglên, chiếm được lòng tin của người tiêu dùng
Các dịch vụ của các siêu thị cũng được nâng lên rõ rệt Ở một số siêuthị không còn hiện tượng thu tiền gửi xe như big C.Có các dich vụ chămsóc khách hàng tốt hơn, như giao hàng tới tận nơi cho khách hàng, bảo