1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quản lý nhà nước về hoạt động khai sinh, khai tử ở cấp xã từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam

85 660 9

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 895,22 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được quản lý nhà nước về hoạt động khai sinh, khai tử cấp xã ở tỉnh Quảng Nam còn có nhiều hạn chế như: thủ tục quản lý đăng kí khai sinh, khai

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HỒ HOÀNG HẠNH

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG

KHAI SINH, KHAI TỬ Ở CẤP XÃ TỪ THỰC TIỄN

TỈNH QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, năm 2018

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HỒ HOÀNG HẠNH

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG

KHAI SINH, KHAI TỬ Ở CẤP XÃ TỪ THỰC TIỄN

TỈNH QUẢNG NAM

Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật hành chính

Mã số: 838.01.02

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN HOÀNG ANH

HÀ NỘI, năm 2018

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Luận văn “Quản lý nhà nước về hoạt động khai sinh, khai tử ở cấp xã từ

thực tiễn tỉnh Quảng Nam” đã được hoàn thành thể hiện kết quả tổng hợp, cô

đọng của hai năm học cao học tại Học viện khoa học xã hội

Tôi xin được trân trọng bày tỏ lòng biết ơn các thầy, cô là các giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ đã tham gia giảng dạy lớp cao học khoá VII đợt 1 năm

2016, đặc biệt xin cảm ơn PGS.TS Nguyễn Hoàng Anh – Khoa luật ĐHQG Hà Nội, cô đã nhiệt tình, nghiêm túc, trực tiếp hướng dẫn, chỉ đạo tôi hoàn thành luận văn này

Nhân dịp này tôi xin được chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong Hội đồng phản biện, chấm luận văn; cảm ơn Học viện khoa học xã hội đã

giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu riêng của tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất

kỳ công trình nào khác

Học viên thực hiện

Hồ Hoàng Hạnh

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG KHAI SINH, KHAI TỬ Ở CẤP XÃ 7

1.1 Khái niệm khai sinh, khai tử và quản lý nhà nước về hoạt động khai sinh, khai tử 7

1.2 Vai trò quản lý nhà nước về hoạt động đăng ký khai sinh, khai tử 19

1.3 Các đặc điểm quản lý nhà nước về khai sinh, khai tử ở cấp xã 22

1.4 Nội dung quản lý nhà nước đối với hoạt động khai sinh, khai tử 26

1.5 Các yếu tố bảo đảm quản lý nhà nước về hoạt động khai sinh khai tử ở cấp xã 29

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG KHAI SINH, KHAI TỬ Ở CẤP XÃ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NAM 35

2.1 Những đặc điểm của tỉnh Quảng Nam liên quan đến quản lý nhà nước về khai sinh, khai tử ở cấp xã 35

2.2 Thực tiễn thực hiện các nội dung quản lý nhà nước về hoạt động khai sinh, khai tử ở cấp xã trên địa bàn tỉnh Quảng nam 38

2.3 Đánh giá việc thực hiện quản lý nhà nước về hoạt động khai sinh, khai tử ở cấp xã trên địa bàn tỉnh Quảng Nam 49

CHƯƠNG 3 MỤC TIÊU YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG KHAI SINH KHAI TỬ Ở CẤP XÃ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NAM 55

3.1 Mục tiêu, yêu cầu đối với quản lý nhà nước về hoạt động khai sinh, khai tử 55

3.2 Giải pháp bảo đảm quản lý nhà nước về hoạt động khai sinh, khai tử ở cấp xã 59

KẾT LUẬN 75 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Số hiệu

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Mỗi công dân từ khi sinh ra đến khi chết đi đều phải thực hiện nhiều thủ tục với các cơ quan Nhà nước để thực hiện quyền nhân thân của mình Khi sinh ra, công dân phải thực hiện thủ tục đăng ký khai sinh và khi chết đi, thân nhân của người chết hoặc người có nghĩa vụ theo quy định của pháp luật phải

đi đăng ký khai tử Hoạt động này cần được thực hiện nhằm xác định tình trạng nhân thân của cá nhân, tạo mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân,tạo

cơ sở pháp lý để Nhà nước bảo hộ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, đồng thời có biện pháp quản lý dân cư một cách khoa học, phục vụ thiết thực cho việc xây dựng hoạch định chính sách phát triển kinh tế, xã hội, quốc phòng,

an ninh của đất nước Ở mỗi thời kỳ, tùy thuộc vào điều kiện hoàn cảnh của đất nước, tùy thuộc vào mong muốn của nhà quản lý, việc đăng ký khai sinh, khai tử có một ý nghĩa nhất định Cùng với sự phát triển của đất nước, ngày nay việc đăng ký khai sinh, khai tử được hoàn thiện dần cùng với công tác đăng ký hộ tịch qua các văn bản về hộ tịch mà Nhà nước đã ban hành Ngày 20/11/2014, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII

kỳ họp thứ 8 đã thông qua Luật Hộ tịch và Luật chính thức có hiệu lực từ ngày 01/01/2016 Luật Hộ tịch được ban hành nhằm luật hóa các quy định về đăng ký, quản lý hộ tịch trong các Nghị định của Chính phủ đã được thực tiễn kiểm nghiệm, bảo đảm tính kế thừa và phát triển, cụ thể hóa thẩm quyền và quy trình thực hiện công tác hộ tịch Trên cơ sở quy định của Luật, Chính phủ

đã ban hành Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 quy định một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch; Thông tư số 15/2015/TTBTP ngày 16/11/2015 của Bộ Tư pháp quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật

Hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính

Trang 9

phủ quy định một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch để bảo đảm các nội dung của Luật được triển khai thực hiện có hiệu quả Trong thời gian qua các cấp chính quyền địa phương đã có nhiều biện pháp thực hiện tốt công tác quản lý hoạt động khai sinh, khai tử Vì vậy, quản lý hoạt động khai sinh, khai tử dần đi vào nề nếp và đạt được những kết quả nhất định

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được quản lý nhà nước về hoạt động khai sinh, khai tử cấp xã ở tỉnh Quảng Nam còn có nhiều hạn chế như: thủ tục quản lý đăng kí khai sinh, khai tử chưa khoa học, chưa phù hợp thực

tế, trình độ, năng lực của đội ngũ công chức Tư pháp – Hộ tịch ở cấp xã chưa đáp ứng được yêu cầu; việc tuyên truyền, giáo dục pháp luật về hộ tịch chưa được quan tâm đúng mức Những hạn chế này đã làm giảm đi hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về hộ tịch nói chung và hoạt động khai sinh, khai tử nói riêng Vì vậy, nghiên cứu về quản lý nhà nước về hoạt động khai sinh, khai tử cấp xã ở tỉnh Quảng Nam nhằm làm rõ hơn nữa cơ sở lý luận, thực tiễn của quản lý hoạt động khai sinh, khai tử ở cấp xã, chỉ ra những nguyên nhân của các hạn chế, trên cơ sở đó, đưa ra những kiến nghị góp phần nâng cao hơn nữa hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về hoạt động khai sinh, khai tử cấp

xã trên địa bàn tỉnh Quảng Nam là một điều cấp thiết hiện nay Đây là lý do

để đề tài “Quản lý nhà nước về hoạt động khai sinh, khai tử ở cấp xã từ thực

tiễn tỉnh Quảng Nam” được lựa chọn để nghiên cứu

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Quản lý hoạt động khai sinh, khai tử là hoạt động khó khăn và phức tạp đòi hỏi nhà quản lý phải có tầm hiểu biết sâu rộng về lĩnh vực chuyên môn, sự thông thạo về đặc điểm dân cư, tập quán, truyền thống, văn hóa, trình độ phát triển của địa phương Có như vậy nhà quản lý mới có thể áp dụng một cách linh hoạt pháp luật của nhà nước, từ đó đưa ra các quyết định quản lý phù hợp, mang lại hiệu quả cao

Trang 10

Đã có nhiều công trình nghiên cứu, các luận án, luận văn, bài báo tạp chí đề cập đến lĩnh vực quản lý hoạt động khai sinh, khai tử và các chính sách thực hiện quản lý hoạt động này, trong thời gian qua:

- “Hướng dẫn đăng ký và quản lý hộ tịch” / B.soạn: Nguyễn Quốc Cường, Lương Thị Lanh, Trần Thị Thu Hằng - H: Tư pháp, 2006;

- Viện nghiên cứu khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp: Bảo vệ quyền trẻ em trong pháp luật về quốc tịch và đăng ký hộ tịch ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, 2000;

- Viện nghiên cứu khoa học pháp lý – Bộ tư pháp: Chuyên đề thông tin khoa học pháp lý về hộ tịch;

- Phạm Trọng Cường: Về quản lý hộ tịch, NXB Chính trị quốc gia, 2004; Từ quản lý đinh đến quản lý hộ tịch, Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2007;

- Bài “Kỳ vọng về một nề nếp mới trong công tác hộ tịch”, tác giả Phạm Trọng Cường, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, tháng 6 năm 2006;

-Bài “Nâng cao năng lực đội ngũ công chức tư pháp – hộ tịch trong giai đoạn hiện nay”, Tác giả Trần Văn Quảng, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật tháng

9 năm 2006;

- Nguyễn Thị Thu Trang (2013), Quyền khai sinh, khai tử theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam và thực tiễn áp dụng quyền khai sinh khai tử trên địa bàn huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội, Luận văn thạc sĩ luật học Ngoài ra còn rất nhiều các bài nghiên cứu đăng trên các tạp chí khoa học, các đề tài đã được nghiệm thu về vấn đề hộ tịch và đăng ký hộ tịch Các công trình khoa học kể trên đã đi sâu nghiên cứu khá sâu sắc đầy

đủ các vấn đề về quản lý hộ tịch cấp xã như khái niệm, lịch sử quản lý hộ tịch, các sự kiện, phương thức quản lý và đăng ký hộ tịch, thực trạng và giải pháp quản lý nhà nước về hộ tịch Đó là các tài liệu tham khảo cần thiết cho các học viên thực hiện đề tài này Tuy nhiên, còn có nhiều vấn đề

Trang 11

chưa rõ hoặc chưa đầy đủ, chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu nào

đề cập đến việc quản lý nhà nước về lĩnh vực khai sinh, khai tử ở cấp xã từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn của quản lý nhà nước về hoạt động khai sinh, khai tử ở cấp xã từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam Từ đó, đề xuất các giải pháp góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả của quản lý nhà nước về lĩnh vực khai sinh, khai tử nói chung, trên địa bàn tỉnh Quảng Nam nói riêng

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Làm rõ hơn nữa cơ sở lý luận của quản lý nhà nước về hoạt động khai sinh, khai tử ở cấp xã; đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về hoạt động khai sinh, khai tử ở cấp xã thông qua thực tiễn ở tỉnh Quảng Nam trong thời gian qua nêu ra những kết quả đạt được và những mặt hạn chế còn tồn tại Trên cơ sở đó đưa ra những giải pháp hoàn thiện góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về hoạt động khai sinh, khai tử ở cấp xã nói chung

và trên địa bàn tỉnh Quảng Nam nói riêng trong thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Các vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước về hoạt động khai sinh, khai tử ở cấp xã

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Về mặt không gian được giới hạn ở cấp xã trên địa bàn tỉnh Quảng Nam, về mặt thời gian được giới hạn từ năm 2013 đến năm 2017

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

Những luận điểm trong học thuyết Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí

Trang 12

Minh về quản lý hành chính nhà nước; các quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về quản lý hộ tịch Đồng thời tác giả có tham khảo, và kế thừa một cách có chọn lọc một số công trình nghiên cứu của các nhà khoa học

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp được sử dụng trong luận văn gồm: phương pháp phân tích, tổng hợp, diễn dịch, quy nạp, phương pháp lịch sử, phương pháp hệ thống, phương pháp so sánh

Trong Chương 1, để làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về quản lý hành chính nhà nước về hoạt động khai sinh, khai tử, luận văn sử dụng phương pháp hệ thống, so sánh,phân tích nhằm làm rõ thêm quan niệm, nội dung quản lý hành chính nhà nước về hoạt động khai sinh, khai tử

Chương 2 của luận văn sử dụng phương pháp thống kê, phân tích đã đánh giá những ưu điểm, hạn chế của thực trạng quản lý nhà nước về hoạt động khai sinh, khai tử ở cấp xã trên địa bàn tỉnh Quảng Nam trong những năm qua

Chương 3, phương pháp phân tích tổng hợp được sử dụng để đưa ra giải pháp hoàn thiện quản lý hành chính nhà nước về hoạt động khai sinh, khai tử ở cấp xã trên địa bàn tỉnh Quảng Nam hiện nay

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận

Hệ thống hóa những lý luận chung về khai sinh, khai tử và quản lý nhà nước về hoạt động khai sinh, khai tử ở cấp xã Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về hoạt động khai sinh, khai tử ở cấp xã trên địa bàn tỉnh Quảng Nam từ đó nêu ra những giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về hoạt động khai sinh, khai tử ở cấp xã

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Các kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm cơ sở để các cấp chính

Trang 13

quyền trong đó có chính quyền địa phương ở tỉnh Quảng Nam nghiên cứu, vận dụng vào thực tế quản lý trong lĩnh vực khai sinh, khai tử; là cơ sở cho việc hoàn thiện pháp luật

7 Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo Luận văn được kết cấu thành 3 chương, cụ thể:

Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật về quản lý nhà nước về hoạt động khai sinh, khai tử ở cấp xã

Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về hoạt động khai sinh, khai tử ở cấp xã trên địa bàn tỉnh Quảng Nam

Chương 3: Mục tiêu yêu cầu và giải pháp bảo đảm quản lý Nhà nước về hoạt động khai sinh, khai tử ở cấp xã

Trang 14

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT

VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG KHAI SINH,

KHAI TỬ Ở CẤP XÃ

1.1 Khái niệm khai sinh, khai tử và quản lý nhà nước về hoạt động khai sinh, khai tử

1.1.1 Khái niệm về khai sinh, khai tử

Khai sinh là khai báo và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận một cá nhân được sinh ra; khai tử là khai báo những thông tin cần thiết về mặt thủ tục hành chính về người mới chết; đây là một trong những sự kiện hộ tịch để xác định cá nhân là thực thể của tự nhiên, của xã hội Đó là các hoạt động:

Đăng ký khai sinh là sự kiện đăng ký đầu tiên có liên quan đến nhân thân của một người từ khi mới sinh ra, là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận và ghi vào Sổ đăng ký khai sinh sự kiện được sinh ra của một cá nhân Nội dung đăng ký là việc xác định những thông tin về bản thân người được đăng ký khai sinh như họ tên, ngày tháng năm sinh, giới tính, dân tộc, quốc tịch, nơi sinh và thông tin về cha, mẹ của người được đăng ký khai sinh…Sau khi được đăng ký khai sinh cá nhân được cơ quan đăng ký cấp cho giấy khai sinh có ghi nhận đầy đủ các thông tin liên quan đến nhân thân của

cá nhân vào sổ đăng kí khai sinh,cập nhật vào cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư để lấy số định danh cá nhân

Đăng ký khai tử là việc nhân thân của người chết hoặc người thân thích khác của người chết có trách nhiệm đi đăng ký khai tử; trường hợp người chết không có người thân thì đại diện của cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan có trách nhiệm đi khai tử Người đi đăng ký khai tử phải nộp tờ khai theo mẫu

Trang 15

quy định và giấy báo tử hoặc giấy tờ khác thay giấy báo tử cho cơ quan đăng

ký hộ tịch Nội dung khai tử bao gồm các thông tin: Họ, chữ đệm, tên, năm sinh của người chết; số định danh cá nhân của người chết, nếu có; nơi chết; nguyên nhân chết; giờ, ngày, tháng, năm chết theo dương lịch; quốc tịch nếu người chết là người nước ngoài Ngay sau khi nhận giấy tờ theo quy định, nếu thấy việc khai tử đúng thì cơ quan đăng ký cấp trích lục cho người đi khai tử, đồng thời ghi đầy đủ thông tin người chết vào sổ khai tử và khóa thông tin hộ tịch của người chết trong cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử

1.1.2 Đối tượng có quyền đăng ký khai sinh, khai tử ở cấp xã

UBND cấp xã có thẩm quyền thực hiện việc đăng ký khai sinh cho trẻ

em sinh ra tại Việt Nam có: Cha và mẹ là công dân Việt Nam cư trú ở trong nước; Cha và mẹ là công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài; Cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam cư trú ở trong nước, còn người kia là công dân Việt Namđịnh cư ở nước ngoài; Cha và mẹ là người nước ngoài hoặc người không quốc tịch, cư trú ổn định, lâu dài tại Việt Nam; Cha hoặc mẹ là người nước ngoài hoặc người không quốc tịch, cư trú ổn định, lâu dài tại Việt Nam, còn người kia là công dân Việt Nam cư trú ở trong nước; Cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam thường trú ở khu vực biên giới, còn người kia là công dân của nước láng giềng thường trú tại khu vực biên giới

1.1.3 Quản lý nhà nước về hoạt động khai sinh, khai tử ở cấp xã

Theo giáo trình nhà nước và pháp luật, quản lý hành chính nhà nước của học viện chính trị quốc gia thành phố Hồ Chí Minh thì “quản lý nhà nước theo nghĩa rộng: Là hoạt động tổ chức, điều hành của cả bộ máy nhà nước, nghĩa là bao hàm cả sự tác động, tổ chức của quyền lực nhà nước trên các phương diện lập pháp hành pháp và tư pháp Theo cách hiểu này, quản lý nhà nước được đặt trong cơ chế "Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân lao động làm chủ Theo nghĩa hẹp: Quản lý nhà nước chủ yếu là quá trình tổ

Trang 16

chức, điều hành của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người theo pháp luật nhằm đạt được những mục tiêu yêu cầu nhiệm vụ quản lý nhà nước Đồng thời, các cơ quan nhà nước nói chung còn thực hiện các hoạt động có tính chất chấp hành, điều hành, tính chất hành chính nhà nước nhằm xây dựng tổ chức bộ máy và củng

cố chế độ công tác nội bộ của mình.”

Chẳng hạn ra quyết định thành lập, chia tách, sát nhập các đơn vị tổ chức thuộc bộ máy của mình; đề bạt, khen thưởng, kỷ luật cán bộ,công chức, ban hành quy chế làm việc nội bộ Quản lý nhà nước theo nghĩa hẹp này còn đồng nghĩa với khái niệm quản lý hành chính nhà nước

Quản lý là hoạt động mang tính đặc thù của con người, là sự tác động có mục đích của các chủ thể quản lý đối với các đối tượng quản lý Quản lý xuất hiện ở bất kỳ nơi nào, lúc nào nếu ở nơi đó có hoạt động chung của con người Mục đích và nhiệm vụ của quản lý là điều khiển, chỉ đạo hoạt động chung của con người, phối hợp hoạt động riêng lẻ của từng cá nhân thành một hoạt động chung thống nhất của cả tập thể và hướng hoạt động chung đó theo

những phương hướng thống nhất, nhằm đạt được mục tiêu đã định trước

C.Mác đã coi "Quản lý là một chức năng đặc biệt nảy sinh từ bản chất

xã hội của quá trình lao động" [6, tr.29,30] Nhấn mạnh nội dung trên, ông

viết: " Tất cả mọi lao động trong xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng đều cần đến một sự chỉ đạo

để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì

cần phải có nhạc trưởng." [7, tr.480]

Quản lý được thực hiện bằng tổ chức và quyền uy Có tổ chức thì mới phân định rõ ràng chức năng nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ của những người tham gia hoạt động chung Có quyền uy thì mới đảm bảo sự phục tùng

Trang 17

của cá nhân đối với tổ chức, quyền uy là phương tiện quan trọng để chủ thể quản lý điều khiển, chỉ đạo cũng như bắt buộc các đối tượng quản lý thực hiện các yêu cầu, mệnh lệnh của mình Khẳng định vấn đề này, Lê Nin đã viết: "Muốn quản lý tốt mà chỉ biết thuyết phục không thôi thì chưa đủ, mà

cần phải biết tổ chức về mặt thực tiễn nữa" [33, tr.112]

Khi nhà nước xuất hiện thì phần lớn (và là phần quan trọng) các công việc của xã hội do nhà nước quản lý Quản lý hành chính nhà nước là hoạt động của các cơ quan nhà nước trong lĩnh vực hành pháp nhằm thực hiện các chức năng đối nội và đối ngoại của Nhà nước Nói cách khác, quản lý hành chính nhà nước là hoạt động chấp hành Hiến pháp, luật và tổ chức đời sống xã hội theo Hiến pháp, luật của các chủ thể có thẩm quyền (mà phần lớn là do cơ quan hành chính nhà nước thực hiện)

Quản lý hoạt động khai sinh, khai tử là một trong những hoạt động của quản lý nhà nước, thông qua việc đăng ký khai sinh, khai tử, tập trung chủ yếu vào các hoạt động: ban hành hoặc trình cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật về hộ tịch; xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách, kế hoạch, định hướng về hoạt động khai sinh, khai tử; phổ biến, giáo dục pháp luật; quản lý hệ thống tổ chức và hoạt động của các cơ quan, tổ chức trong hoạt động khai sinh, khai tử; đào tạo, bồi dưỡng, hướng dẫn nghiệp vụ về đăng ký khai sinh, khai tử; kiểm tra, thanh tra, khen thưởng, xử lý vi phạm, giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động đăng ký khai sinh, khai tử; bảo đảm kinh phí, cơ sở vật chất, phương tiện cho hoạt động đăng kí khai sinh, khai tử; tổng kết hoạt động đăng kí khai sinh, khai tử; báo cáo cơ quan nhà nước cấp trên về hoạt động đăng ký khai sinh, khai tử

Từ thời phong kiến cho đến nay, quản lý hộ tịch nói chung và quản lý khai sinh, khai tử nói riêng luôn được coi trọng như một công cụ của nhà nước để bảo vệ quyền nhân thân và hoạch định các chính sách kinh tế - xã

Trang 18

hội, an ninh, quốc phòng; mặt khác, nó là hoạt động thể hiện tập trung, sinh động mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân

Để quản lý dân cư, mỗi quốc gia có những phương thức quản lý khác nhau nhưng đều hướng đến mục đích quản lý một cách đầy đủ, kịp thời, chính xác các dữ liệu về đặc điểm nhân thân cơ bản của từng công dân Ở Việt Nam, quản lý hoạt động khai sinh, khai tử được xác định là khâu trung tâm của toàn bộ hoạt động quản lý dân cư Với những giá trị tiềm tàng như vậy, công tác quản lý hộ tịch đã khẳng định vai trò vô cùng quan trọng của nó trong tiến trình phát triển của xã hội

Về mặt lý luận, quản lý hoạt động khai sinh, khai tử là lĩnh vực thể hiện sâu sắc chức năng xã hội của nhà nước nhằm theo dõi sự biến động về dân số trên cơ sở đó bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân và gia đình Đồng thời, góp phần xây dựng chính sách về kinh tế, xã hội, an ninh và quốc phòng và tổ chức thực hiện có hiệu quả các chính sách đó Xây dựng một hệ thống quản lý cơ sở dữ liệu hộ tịch đầy đủ, chính xác, kịp thời, thường xuyên

sẽ là nguồn tài sản thông tin hết sức quý giá luôn sẵn sàn hỗ trợ đắc lực cho việc hoạch định các chính sách xã hội một cách chính xác, có tính khả thi, tiết kiệm chi phí xã hội Đối với quốc gia có kết cấu dân cư đa dạng về thành phần dân tộc như Việt Nam, quản lý hoạt động khai sinh, khai tử còn góp phần quan trọng vào việc thực hiện chính sách dân tộc và chính sách phát triển kinh tế, xã hội các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa Hơn nữa quản lý hoạt động khai sinh, khai tử còn thể hiện sự tôn trọng của nhà nước đối với việc thực hiện một số quyền nhân thân cơ bản của công dân đã được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013 và Bộ luật Dân sự, ví dụ như quyền đối với họ tên, quyền thay đổi họ tên, quyền xác định dân tộc, quyền đối với quốc tịch, quyền kết hôn, quyền được nuôi con nuôi và được nhận làm con nuôi đây là là sự khẳng định có giá trị pháp lý về đặc điểm nhân thân của mỗi người, mà qua

Trang 19

đó các cơ quan tổ chức, cá nhân khác có thể đánh giá người đó có khả năng điều kiện để tham gia vào các quan hệ pháp luật nhất định hay không Sự kiện đăng ký khai sinh của cơ quan đăng ký hộ tịch đánh dấu điểm khởi đầu của hoạt động quản lý nhà nước đối với từng người dân, đồng thời cũng là điểm khởi đầu cho mọi mối quan hệ giữa công dân với nhà nước Sự kiện đăng kí khai tử làm căn cứ phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ pháp luật của người tham gia với tư cách là một công dân một con người như quan hệ về hôn nhân gia đình, thừa kế, hộ tịch, hộ khẩu, bảo hiểm xã hội

Quản lý hoạt động khai sinh, khai tử còn bảo đảm trật tự xã hội như: trong lĩnh vực hoạt động tư pháp khi cần đánh giá năng lực chủ thể của một

cá nhân các cơ quan tiến hành tố tụng luôn cần đến giấy khai sinh của cá nhân

đó Giấy khai sinh chứa đựng các dữ liệu gốc của cá nhân như ngày, tháng, năm sinh, nơi sinh, dân tộc, quốc tịch, họ tên cha mẹ…do đó khi được sử dụng với tính cách là chứng cứ, các thông tin thể hiện trên giấy khai sinh có thể giúp cơ quan tiến hành tố tụng đánh giá nhiều vấn đề trong các vụ án hình

sự, dân sự, hành chính

Hiện nay, theo quy định của Luật hộ tịch 2014 thì quản lý nhà nước về

hoạt động khai sinh, khai tử ở cấp xã là “một hình thức hoạt động

của nhà nước, do Uỷ ban nhân dân (gọi tắt là UBND) cấp xã mà trực tiếp thực hiện là công chức Tư pháp – Hộ tịch phụ trách lĩnh vực khai sinh, khai tử trên cơ sở những quy định của pháp luật về hộ tịch và các quy định khác của pháp luật có liên quan về hộ, góp phần vào bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, phục vụ cho công cuộc phát triển kinh tế - xã hội”

Quản lý hoạt động khai sinh, khai tử là công việc quan trọng, diễn ra hàng ngày, hàng giờ ở mọi nơi mọi lúc Là việc chính quyền cấp xã dựa trên quyền lực công quản lý sự kiện pháp lý liên quan sự kiện sinh, sự kiện tử của các công dân trên địa bàn mình quản lý

Trang 20

Trong lĩnh vực quản lý nhà nước về hộ tịch (tại điều 71 của luật Hộ tịch 2014), Ủy ban nhân dân cấp xã có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây: Thực hiện đăng ký hộ tịch theo quy định của Luật này; Căn cứ quy định của Ủy ban nhân dân cấp trên, bố trí công chức tư pháp - hộ tịch thực hiện việc đăng ký

hộ tịch; Tuyên truyền, phổ biến pháp luật về hộ tịch; Quản lý, sử dụng Sổ hộ tịch, biểu mẫu hộ tịch theo quy định; Quản lý, cập nhật, khai thác Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử và cấp bản sao trích lục hộ tịch theo quy định; Tổng hợp tình hình và thống kê hộ tịch báo cáo Ủy ban nhân dân cấp huyện theo quy định của Chính phủ; Lưu trữ Sổ hộ tịch, hồ sơ đăng ký hộ tịch; Giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm về hộ tịch theo thẩm quyền Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã thường xuyên chỉ đạo, đôn đốc việc khai sinh, khai tử; chịu trách nhiệm về công tác đăng ký, quản lý hộ tịch và những vi phạm trong công tác đăng

ký, quản lý hộ tịch do buông lỏng quản lý

Theo đó Công chức Tư pháp – Hộ tịch phụ trách lĩnh vực về hộ tịch có nhiệm vụ, quyền hạn sau: Tuân thủ quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan về hộ tịch; Chịu trách nhiệm trước Ủy ban nhân dân cấp xã và pháp luật về việc đăng ký hộ tịch; Tuyên truyền, phổ biến, vận động nhân dân chấp hành các quy định của pháp luật về hộ tịch; Giúp Ủy ban nhân dân cấp xã đăng ký hộ tịch kịp thời, chính xác, khách quan, trung thực; Cập nhật đầy đủ các sự kiện hộ tịch đã được đăng ký vào Cơ sở dữ liệu

hộ tịch điện tử; Chủ động kiểm tra, rà soát để đăng ký kịp thời việc sinh, tử phát sinh trên địa bàn Đối với địa bàn dân cư không tập trung, điều kiện đi lại khó khăn, cách xa trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã, công chức tư pháp - hộ tịch báo cáo Ủy ban nhân dân cấp xã cho tổ chức đăng ký lưu động đối với việc khai sinh, kết hôn, khai tử; Thường xuyên trau dồi kiến thức pháp luật để nâng cao năng lực và nghiệp vụ đăng ký hộ tịch; Tham gia các lớp bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ do Ủy ban nhân dân hoặc cơ quan tư pháp cấp trên tổ

Trang 21

chức; Chủ động báo cáo, đề xuất Ủy ban nhân dân cùng cấp phối hợp với cơ quan, tổ chức kiểm tra, xác minh về thông tin hộ tịch; Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp thông tin để xác minh khi đăng ký hộ tịch; Phối hợp với cơ quan Công an cùng cấp cung cấp thông tin hộ tịch cơ bản của cá nhân cho Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư

Như vậy quản lý nhà nước về hoạt động khai sinh khai tử ở cấp xã là việc UBND cấp xã thực hiện đăng ký khai sinh, đăng ký khai tử theo thẩm quyền của cấp mình quản lý Thẩm quyền đăng ký khai sinh, khai tử của cấp

xã được quy định cụ thể tại luật Hộ tịch 2014 có hiệu lực chính thức từ ngày 01/01/2016 và nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác liên quan đến lĩnh vực khai sinh, khai tử Cụ thể như:

Tuyên truyền, phổ biến, vận động nhân dân từ biết, đến hiểu, làm đúng các quy định của pháp luật về đăng ký khai sinh, khai tử;

Quản lý, sử dụng sổ Đăng ký khai sinh, khai tử, biểu mẫu Đăng kí khai sinh, phần mềm hộ tịch theo quy định của Bộ Tư pháp;

Thực hiện công tác lưu trữ và quản lý giấy tờ sổ sách, biểu mẫu, giữ liệu hộ tịch điện tử liên quan tới công tác khai sinh, khai tử;

Cấp trích lục khai sinh, khai tử từ sổ đăng kí khai sinh hoặc từ giữ liệu hộ tịch điện tử;

Căn cứ vào quy định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tiến hành cải chính, bổ sung, thay đổi những nội dung liên quan tới giấy khai sinh: họ tên đệm, ngày tháng năm sinh, dân tộc, địa điểm thường trú, cha, mẹ, nghề nghiệp của công dân khi yêu cầu của họ là chính đáng và có căn cứ pháp luật Tổng hợp, thống kê số liệu về tình hình đăng kí khai sinh, khai tử ở địa phương cho UBND huyện (trực tiếp là Phòng tư pháp ) theo định kỳ (6 tháng một lần) Giải quyết khiếu nại tố cáo của công dân theo đúng thẩm quyền, có biện pháp xử lý nghiêm minh với những hành vi vi phạm

Trang 22

1.1.3.1 Quản lý nhà nước về hoạt động khai sinh

Hành vi đăng ký khai sinh của cơ quan đăng ký hộ tịch đánh dấu điểm khởi đầu của hoạt động quản lý nhà nước đối với từng người dân, đồng thời cũng là điểm khởi đầu cho mọi mối quan hệ giữa công dân với nhà nước Từ góc độ lý luận về Nhà nước và pháp luật ở phương diện này có thể khẳng định, quản lý hộ tịch là một lĩnh vực hoạt động thể hiện sâu sắc chức năng xã hội của Nhà nước

Quyền được khai sinh là một trong những quyền nhân thân quan trọng của mỗi người được pháp luật quy định và bảo vệ

Điều 30 (Bộ luật Dân sự 2015 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/ 01/ 2017) quy định: Cá nhân khi sinh ra có quyền được khai sinh

Điều 7(Công ước Liên hiệp quốc về quyền trẻ em) quy định: “Trẻ em phải được đăng ký ngay lập tức sau khi sinh ra và có quyền có họ tên, có quốc tịch và trong chừng mực có thể, có quyền được biết cha mẹ mình và được cha

mẹ mình chăm sóc”

Nguyên tắc 3 trong Tuyên ngôn của Liên Hiệp Quốc về quyền trẻ em năm 1959 ghi nhận: “Trẻ em sinh ra có quyền được khai sinh”

Ngoài ra quyền được khai sinh của trẻ cũng được quy định trong Luật trẻ

em năm 2016 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/06/ 2017: “Trẻ em có quyền được khai sinh và có quốc tịch” (điều 13)

Trình tự thủ tục đăng kí khai sinh được quy định tại chương II mục 1 luật Hộ tịch 2014 cụ thể:

+ Thẩm quyền đăng ký khai sinh: Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của

người cha hoặc người mẹ thực hiện đăng ký khai sinh

+ Nội dung đăng ký khai sinh:

Thông tin của người được đăng ký khai sinh: Họ, chữ đệm và tên; giới tính; ngày, tháng, năm sinh; nơi sinh; quê quán; dân tộc; quốc tịch;Thông tin

Trang 23

của cha, mẹ người được đăng ký khai sinh: Họ, chữ đệm và tên; năm sinh; dân tộc; quốc tịch; nơi cư trú; Số định danh cá nhân của người được đăng ký khai sinh.Việc xác định quốc tịch, dân tộc, họ của người được khai sinh được thực

hiện theo quy định của pháp luật về quốc tịch Việt Nam và pháp luật dân sự

Nội dung đăng ký khai sinh là thông tin hộ tịch cơ bản của cá nhân, được ghi vào Sổ hộ tịch, Giấy khai sinh, cập nhật vào Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử

và Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư Hồ sơ, giấy tờ của cá nhân liên quan đến thông tin khai sinh phải phù hợp với nội dung đăng ký khai sinh của người đó.Chính phủ quy định việc cấp Số định danh cá nhân cho người được đăng

ký khai sinh

+ Trách nhiệm đăng ký khai sinh:

Trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày sinh con, cha hoặc mẹ có trách nhiệm đăng ký khai sinh cho con; trường hợp cha, mẹ không thể đăng ký khai sinh cho con thì ông hoặc bà hoặc người thân thích khác hoặc cá nhân, tổ chức

đang nuôi dưỡng trẻ em có trách nhiệm đăng ký khai sinh cho trẻ em

Công chức tư pháp - hộ tịch thường xuyên kiểm tra, đôn đốc việc đăng

ký khai sinh cho trẻ em trên địa bàn trong thời hạn quy định; trường hợp cần thiết thì thực hiện đăng ký khai sinh lưu động

+ Thủ tục đăng ký khai sinh:

Người đi đăng ký khai sinh nộp tờ khai theo mẫu quy định và giấy chứng sinh cho cơ quan đăng ký hộ tịch Trường hợp không có giấy chứng sinh thì nộp văn bản của người làm chứng xác nhận về việc sinh; nếu không có người làm chứng thì phải có giấy cam đoan về việc sinh; trường hợp khai sinh cho trẻ em bị bỏ rơi phải có biên bản xác nhận việc trẻ bị bỏ rơi do cơ quan có thẩm quyền lập; trường hợp khai sinh cho trẻ em sinh ra do mang thai hộ phải

có văn bản chứng minh việc mang thai hộ theo quy định pháp luật

Ngay sau khi nhận đủ giấy tờ theo quy định trên, nếu thấy thông tin khai

Trang 24

sinh đầy đủ và phù hợp, công chức tư pháp - hộ tịch ghi nội dung khai sinh theo quy định pháp luật hộ tịch vào Sổ hộ tịch; cập nhật vào Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư để lấy Số định danh cá nhân Công chức tư pháp - hộ tịch và người đi đăng ký khai sinh cùng ký tên vào Sổ hộ tịch Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã cấp Giấy khai sinh cho người được đăng ký khai sinh

Chính phủ quy định chi tiết việc đăng ký khai sinh cho trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em chưa xác định được cha, mẹ, trẻ em sinh ra do mang thai hộ; việc xác định quê quán của trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em chưa xác định được cha, mẹ

Có thể nói, quản lý hoạt động khai sinh khẳng định mỗi trẻ em là một công dân một quốc gia, mọi công dân đều bình đẳng như nhau Không đăng kí khai sinh thì trẻ em thật khó có thể được hưởng những dịch vụ thiết yếu như: chăm sóc y tế, giáo dục và hỗ trợ pháp lý Trẻ em không được đăng kí khai sinh rất dễ bị xâm hại và bị đối xử tệ, trở thành nạn nhân của nạn buôn người, mại dâm, cưỡng ép tảo hôn Việc không có giấy khai sinh cũng phủ nhận quyền bầu cử, ứng cử, tham gia các tổ chức, đoàn thể xã hội …

1.1.3.2 Quản lý nhà nước về hoạt động khai tử

Sự kiện một người chết (cái chết tự nhiên hoặc do Tòa án tuyên bố chết)

là sự kiện pháp lý làm căn cứ phát sinh, thay đổi, chấm dứt các quan hệ pháp luật của người tham gia với tư cách là một công dân, một con người như quan

hệ về hôn nhân và gia đình, thừa kế, hộ khẩu, hộ tịch, bảo hiểm xã hội… Quyền được khai tử là một trong các quyền nhân thân cơ bản của cá nhân, thuộc nhóm quyền nhân thân mang tính cá biệt hóa cá nhân

Quyền được khai tử được quy định tại Điều 30 bộ luật dân sự 2015, cụ thể:

“Cá nhân chết phải được khai tử; Trẻ em sinh ra mà sống được từ hai mươi bốn giờ trở lên mới chết thì phải được khai sinh, khai tử; nếu sinh ra mà sống dưới hai mươi bốn giờ thì không phải khai sinh và khai tử , trừ trường

Trang 25

hợp cha đẻ, mẹ đẻ có yêu cầu.”

Quyền được khai sinh của trẻ cũng được quy định trong Luật trẻ em năm

2016 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/06/ 2017: “Trẻ em có quyền được khai sinh, khai tử, có họ, tên, có quốc tịch; được xác định cha, mẹ, dân tộc, giới tính theo quy định của pháp luật” (điều 13)

Trình tự thủ tục đăng ký khai tử được quy định tại chương II mục 7 luật Hộ tịch 2014 cụ thể:

+ Thẩm quyền đăng ký khai tử:

Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú cuối cùng của người chết thực hiện việc đăng ký khai tử Trường hợp không xác định được nơi cư trú cuối cùng của người chết thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó chết hoặc nơi phát hiện thi thể người chết thực hiện việc đăng ký khai tử

+ Thời hạn và trách nhiệm đăng ký khai tử:

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày có người chết thì vợ, chồng hoặc con, cha, mẹ hoặc người thân thích khác của người chết có trách nhiệm đi đăng ký khai tử; trường hợp người chết không có người thân thích thì đại diện của cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan có trách nhiệm đi khai tử

Công chức tư pháp - hộ tịch thường xuyên kiểm tra, đôn đốc việc khai tử cho người chết; trường hợp không xác định được người có trách nhiệm đi khai tử thì công chức tư pháp - hộ tịch thực hiện đăng ký khai tử

+ Thủ tục đăng ký khai tử:

Người có trách nhiệm đi đăng ký khai tử nộp tờ khai theo mẫu quy định và Giấy báo tử hoặc giấy tờ khác thay giấy báo tử cho cơ quan đăng ký hộ tịch Ngay sau khi nhận giấy tờ theo quy định pháp luật, nếu thấy việc khai tử đúng thì công chức tư pháp - hộ tịch ghi nội dung khai tử vào Sổ hộ tịch, cùng người đi khai tử ký tên vào Sổ hộ tịch và báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã cấp trích lục cho người đi khai tử

Trang 26

Công chức tư pháp - hộ tịch khóa thông tin hộ tịch của người chết trong

Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử

Như vậy quản lý hoạt động khai sinh về hoạt động khai tử thể hiện quyền được khai tử của cá nhân có ý nghĩa quan trọng không chỉ với chính cá nhân được đăng ký khai tử mà còn với các cá nhân, tổ chức khác liên quan và Nhà nước

Đối với chính cá nhân được khai tử: Việc khai tử về mặt pháp lý sẽ làm chấm dứt các quyền và nghĩa vụ của cá nhân đó Tuy nhiên không có nghĩa là tất cả các quyền và nghĩa vụ của cá nhân này sẽ chấm dứt sau khi được khai

tử, chẳng hạn như quyền tác giả của cá nhân được bảo hộ ngay cả sau khi tác giả là cá nhân chết

Đối với cá nhân, tổ chức khác: Việc đăng ký khai tử đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của những người liên quan Hay nói các khác, khai

tử là sự kiện pháp lý làm chấm dứt hoặc phát sinh các quyền và nghĩa vụ của các cá nhân tổ chức khác trong xã hội khi đang tham gia các quan hệ hôn nhân, quan hệ tài sản, quan hệ lao động, quan hệ hành chính,… Chẳng hạn như quan hệ thừa kế, quan hệ bồi thường thiệt hại, bảo hiểm…

Đối với Nhà nước: Việc đăng ký khai tử sẽ góp phần giúp cơ quan quản

lý nhà nước ở địa phương nơi cá nhân chết quản lý được tình hình dân cư ở địa phương mình, thực hiện hoạt động quản lý nhân khẩu, tránh được những thay đổi xáo trộn về tình hình dân cư trên địa bàn cơ quan này quản lý Mặt khác nó cũng đóng vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh chính sách của nhà nước sao cho phù hợp nhằm ổn định và phát triển xã hội

1.2 Vai trò quản lý nhà nước về hoạt động đăng ký khai sinh, khai tử

Trong xã hội hiện đại, khi mà khái niệm quyền con người đã được nhận thức như một giá trị chung của nhân loại thì cùng với nó, hầu như tất cả các quốc gia đều nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của việc quản lý hộ tịch

Trang 27

nói chung và quản lý hoạt động khai sinh, khai tử nói riêng Nếu như hoạt động quản lý dân cư được coi là nội dung quan trọng hàng đầu trong tổng thể hoạt động quản lý xã hội thì quản lý hoạt động khai sinh, khai tử, với các lợi ích, giá trị tiềm tàng của nó, được coi là mắt khâu nằm ở vị trí trung tâm của hoạt động quản lý dân cư

Về mặt lý luận, hoạt động quản lý hoạt động khai sinh, khai tử là thể hiện chức năng xã hội của nhà nước xét trên ba phương diện cơ bản:

Thứ nhất, quản lý hoạt động khai sinh, khai tử là cơ sở để Nhà nước hoạch

định các chính sách phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng…và tổ chức thực hiện có hiệu quả các chính sách đó Góp phần tạo cơ sở dữ liệu hộ tịch đầy đủ, chính xác Quản lý hoạt động khai sinh, khai tử được cập nhật kịp thời, thường xuyên sẽ là nguồn tài sản thông tin hết sức quý giá cho cơ sở dữ liệu quốc gia, hỗ trợ đắc lực cho việc hoạch định các chính sách

xã hội một cách chính xác, có tính khả thi, tiết kiệm chi phí xã hội

Trên địa bàn một đơn vị cấp xã, khi cần triển khai các chính sách cộng đồng liên quan đến dân cư: bảo vệ sức khỏe nhân dân, chăm sóc y tế đối với

bà mẹ và trẻ em, phổ cập giáo dục, hôn nhân và gia đình, v.v., chính quyền thường căn cứ vào sổ đăng ký khai sinh, khai tử, …để xác định đối tượng và triển khai các biện pháp phù hợp với đặc điểm dân cư trong xã Tuy nhiên tại các xã miền núi, vùng sâu, vùng xa đạt được thấp hơn Một trong các nguyên nhân dẫn đến vấn đề này là do từ chính hoạt động quản lý hoạt động khai sinh, khai tử Khảo sát thực tiễn cho thấy, đây đồng thời cũng là địa bàn công tác quản lý hộ tịch bị buôn lỏng, hệ thống sổ đăng kí khai sinh, khai tử không phản ánh chính xác tình hình dân cư; do đó, việc thực hiện các chính sách gặp rất nhiều khó khăn hiệu quả đạt thấp Đối với quốc gia có kết cấu dân cư đa dạng về thành phần dân tộc như Việt Nam, quản lý hoạt động khai sinh, khai tử còn góp phần quan trọng vào việc thực hiện chính sách dân tộc và chính

Trang 28

sách phát triển kinh tế, xã hội các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa

Thứ hai, hoạt động quản lý và đăng ký khai sinh, khai tử thể hiện sự tôn

trọng của Nhà nước đối với việc thực hiện một số quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân đã được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013 và

Bộ luật Dân sự 2015, ví dụ như quyền được khai sinh, khai tử, quyền xác định lại dân tộc, quyền thay đổi họ tên, quyền đối với quốc tịch, quyền kết hôn, quyền được nuôi con nuôi và được nhận làm con nuôi,

Ở phương diện này đăng ký khai sinh, khai tử chính là phương tiện để người dân thực hiện, hưởng thụ các quyền nhân thân Là căn cứ phát sinh quyền, nghĩa vụ pháp lý của một cá nhân với tư cách là công dân của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: xác định tuổi được hưởng những phúc lợi xã hội dành cho trẻ; xác định tuổi đi học; phát sinh quyền nghĩa vụ cơ bản của công dân trên các lĩnh vực đặc biệt quyền được tham gia bầu cử, ứng cử của công dân; thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước và xã hội…

Các dữ liệu về căn cước của mỗi cá nhân thể hiện trên chứng thư hộ tịch (giấy khai sinh, trích lục khai tử bản chính…) là sự khẳng định có giá trị pháp

lý về đặc điểm nhân thân của mỗi người, mà qua đó các cơ quan tổ chức, cá nhân khác có thể đánh giá người đó có khả năng điều kiện để tham gia vào các quan hệ pháp luật nhất định hay không

Sự tồn tại của một đứa trẻ trong cộng đồng, trong xã hội được đánh dấu bằng việc cơ quan đăng ký hộ tịch có thẩm quyền xác lập cho đứa trẻ đó một giấy khai sinh Kể từ thời điểm đó đứa trẻ - con người tự nhiên - chính thức trở thành một chủ thể pháp luật độc lập, được pháp luật bảo vệ bởi các yếu tố nhân thân riêng biệt, đặc trưng của mình được xác định trên giấy khai sinh Với ý nghĩa quan trọng như vậy việc nhà nước tổ chức quản lý đăng ký khai sinh, khai tử chính là sự bảo hộ đối với việc thực hiện các quyền con người Điều này chỉ có trong các xã hội mà nền dân chủ được mở rộng và

Trang 29

phát huy , khi mà các giá trị quyền con người được nhà nước tôn trọng và có trách nhiệm bảo hộ Nhìn vào lịch sử có thể thấy, các triều đại phong kiến Việt Nam không tổ chức quản lý hộ tịch nói chung và hoạt động khai sinh, khai tử nói riêng vì mối quan hệ giữa vương quyền (vua) với các “thần dân” của mình về cơ bản là mối quan hệ một chiều, người dân chỉ có nghĩa vụ đối với triều đình Do đó, đối với nhà nước phong kiến việc tổ chức quản lý hoạt động khai sinh, khai tử không được quan tâm

Thứ ba, quản lý hoạt động khai sinh, khai tử có vai trò to lớn đối với việc

bảo đảm trật tự xã hội hướng tới mục tiêu “xây dựng dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” Hệ thống sổ đăng kí khai sinh, khai tử và

cơ sở dữ liệu hộ tịch về khai sinh, khai tử có thể giúp việc truy nguyên nguồn gốc của cá nhân một cách dễ dàng Việc công dân được cấp giấy khai sinh khi sinh ra và trích lục khai tử khi chết đi là sự khẳng định chính thức của nhà nước về vị thế của một cá nhân trong gia đình và xã hội

Bởi ý nghĩa quan trọng như vậy, nên trong sự phát triển của mỗi quốc gia, vấn đề xây dựng hệ thống quản lý hoạt động khai sinh, khai tử và khai thác hiệu quả của nó phục vụ cho công tác quản lý nhà nước luôn được quan tâm

1.3 Các đặc điểm quản lý nhà nước về khai sinh, khai tử ở cấp xã

1.3.1 Quản lý khai sinh, khai tử phải đảm bảo các nguyên tắc pháp lý

Quản lý nhà nước về hoạt động khai sinh, khai tử là một hoạt động quản

lý con người, hướng đến đối tượng quản lý là các đặc điểm nhân thân làm nên căn cước của mỗi cá nhân Tuy nhiên các yếu tố thuộc về căn cước của mỗi người rất phong phú và là đối tượng của nhiều hoạt động quản lý khác nhau Ví dụ như: họ, tên, ngày, tháng, năm sinh, giới tính, dân tộc, tôn giáo, quốc tịch, nghề nghiệp, nơi sinh, nơi cư trú, các mối quan hệ gia đình, tiền án, tiền sự… tất cả những dấu hiệu đặc trưng đó bảo đảm cho việc phân biệt chính

Trang 30

xác một cá nhân này với một cá nhân khác Chính vì vậy cần xem xét, xác định phạm vi của quản lý nhà nước về hộ tịch nói chung quản lý nhà nước về hoạt động khai sinh, khai tử nói riêng

Hoạt động quản lý khai sinh, khai tử quan tâm đến các đặc điểm nhân thân có tính bền vững của cá nhân, những đặc điểm này chỉ có thể được thay đổi trong những trường hợp đặc biệt, theo một thủ tục pháp lý chặt chẽ Hoạt động quản lý khai sinh, khai tử được giới hạn trong các nhóm đặc điểm nhân thân có các thuộc tính sau:

- Tính ổn định cao;

- Tính công khai;

- Có khả năng phổ biến thông tin;

Dựa trên những thuộc tính này thì quản lý nhà nước về hoạt động khai sinh, khai tử có những nguyên tắc sau:

Thứ nhất, mọi sự kiện sinh, tử phải được đăng ký đầy đủ, kịp thời, chính xác Thứ hai, mỗi sự kiện sinh, tử chỉ được đăng ký tại một nơi, theo đúng

thẩm quyền quy định

Thứ ba, Chịu sự quản lý, kiểm tra, hướng dẫn của cơ quan quản lý cấp

trên; trường hợp phát hiện thấy sai phạm phải chấn chỉnh, xử lý kịp thời

Thứ tư, công khai và thực hiện chính xác các quy định về đăng ký khai

sinh, khai tử

Hệ thống các nguyên tắc trên có mối quan hệ chặt chẽ nhau, trong quá trình quản lý hoạt động khai sinh, khai tử, các cơ quan quản lý dựa trên các nguyên tắc đó làm tư tưởng chủ đạo để thực hiện, đảm bảo cho việc quản lý hoạt động này được chính xác, kịp thời, đầy đủ, góp phần bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân Ví dụ: nếu giấy tờ quan trọng như hồ sơ đi học, xin làm việc, xuất cảnh, CMND, sổ hộ khẩu không trùng khớp với giấy khai sinh thì sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động xã hội của người dân

Trang 31

thậm chí còn gây khó khăn đến việc xác định độ tuổi để đánh giá năng lực hành vi, năng lực chịu trách nhiệm pháp lí của mỗi con người

1.3.2 Chủ thể thực hiện đăng ký, quản lý khai sinh, khai tử

Chủ thể thực hiện quản lý khai sinh, khai tử ở nước ta hiện nay gồm:

- Chính phủ;

- Bộ, cơ quang ngang Bộ (Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao)

- Ủy ban nhân dân (cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã)

Chủ thể thực hiện đăng ký khai sinh, khai tử gồm:

- Ủy ban nhân dân (cấp huyện, cấp xã) và cơ quan chuyên môn giúp việc cho Ủy ban nhân dân cấp huyện là phòng Tư pháp mà trực tiếp là Công chức làm công tác hộ tịch

So với mô hình quản lý hộ tịch theo Nghị định 158/2005/NĐ – CP điểm khác biệt cơ bản của hệ thống quản lý hộ tịch theo luật Hộ tịch 2014 thể hiện việc phân định rõ thẩm quyền đăng ký hộ tịch cho Ủy ban nhân dân cấp xã nhằm xây dựng hệ thống đăng ký hộ tịch một cấp, đồng thời phân cấp hợp lý việc quản lý nhà nước về hộ tịch, xây dựng đội ngũ Hộ tịch viên chuyên nghiệp, ổn định, có trình độ chuyên môn cao Việc phân cấp thẩm quyền quản

lý và đăng ký hộ tịch thể hiện những thay đổi quan trọng sâu sắc trong sự vận dụng tư duy mới về cải cách hành chính góp phần thực hiên mục tiêu “ Xây dựng hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước từ trung ương tới cơ sở thông suốt, trong sạch, vững mạnh, hiện đại, hiệu lực, hiệu quả, tăng tính dân chủ và pháp quyền trong hoạt động điều hành của Chính phủ và của các cơ quan hành chính nhà nước” Với quan điểm thực hiện phân cấp mạnh cho chính quyền cấp xã, luật quy định Ủy ban nhân dân cấp xã có thẩm quyền giải quyết đăng kí khai sinh, khai tử cho công dân đang tạm trú hoặc thường trú tại địa phương mình không phải phụ thuộc vào nơi cư trú trước đây Ngoài ra tại Nghị định 123/ NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành

Trang 32

Luật hộ tịch thì Ủy ban nhân dân cấp xã còn được đăng kí khai sinh trong một

số trường hợp đặc biệt như đăng kí khai sinh cho trẻ bị bỏ rơi; đăng kí khai sinh cho trẻ chưa xác định được cha mẹ; đăng kí khai sinh, khai tử tại khu vực biên giới Quy định này, nhằm phát huy tối đa năng lực, trách nhiệm của chính quyền cấp xã là cấp quản lý gần dân nhất; bảo đảm, tăng cường vai trò quản lý nhà nước của Ủy Ban nhân dân cấp xã, tiến tới mục tiêu lâu dài là phân cấp triệt để thẩm quyên đăng kí hộ tịch cho chính quyền cơ sở Cụ thể: Ở cấp xã chủ thể thực hiện thẩm quyền đăng ký khai sinh, khai tử ở Ủy ban nhân dân cấp xã là Chủ tịch hoặc Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân xã được giao phụ trách công tác hộ tịch Trong cơ cấu tổ chức chính quyền cấp xã hiện nay, các hành vi tác nghiệp về quản lý hộ tịch nói chung và quản lý khai sinh, khai tử nói riêng chủ yếu do công chức Tư pháp – Hộ tịch thực hiện

+ Thẩm quyền đăng ký khai sinh

Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người cha hoặc người mẹ thực

hiện đăng ký khai sinh

Trong trường hợp không xác định được nơi cư trú của cả cha lẫn mẹ, thì UBND cấp xã, nơi trẻ em đang sinh sống trên thực tế thực hiện việc đăng kí khai sinh

Việc đăng ký khai sinh cho trẻ em bị bỏ rơi được thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi cư trú của người đang tạm thời nuôi dưỡng hoặc nơi có trụ sở của tổ chức đang tạm thời nuôi dưỡng trẻ em đó

UBND cấp xã nơi trẻ đang cư trú có trách nhiệm đăng kí khai sinh cho trẻ chưa xác định được cha, mẹ

Ngoài ra UBND cấp xã ở khu vực biên giới có thẩm quyền đăng kí khai sinh cho trẻ sinh ra tại Việt Nam có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam thường trú tại địa bàn xã đó còn mẹ hoặc cha là công dân nước láng giềng thường trú tại đơn vị hành chính tương đương cấp xã của Việt Nam tiếp giáp

Trang 33

với xã ở khu vực biên giới của Việt Nam nơi công dân Việt Nam thường trú

+ Thẩm quyền đăng ký khai tử

Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú cuối cùng của người chết thực hiện việc đăng ký khai tử Trường hợp không xác định được nơi cư trú cuối cùng của người chết thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó chết hoặc nơi phát hiện thi thể người chết thực hiện việc đăng ký khai tử

Ngoài ra UBND cấp xã ở khu vực biên giới thực hiện đăng kí khai tử cho người chết là người nước ngoài cư trú tại xã đó

Đăng ký khai sinh, khai tử là quyền, nghĩa vụ của mọi công dân, là một trong những nguyên tắc chung xét ở gốc độ pháp lý về mặt quyền thì đăng ký khai sinh, khai tử là việc thể hiện quyền dân sự của công dân; về mặt nghĩa vụ công dân phải có trách nhiệm thực hiện đăng ký khai sinh, khai tử Đối với Nhà nước thông qua việc đăng ký này đảm bảo được quyền của công dân Do vậy, đăng ký khai sinh, khai tử là quyền và nghĩa vụ của mỗi người, được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo trình tự và thủ tục do pháp luật

về hộ tịch quy định

1.4 Nội dung quản lý nhà nước đối với hoạt động khai sinh, khai tử

Nhìn từ góc độ quản lý thì phạm vi quản lý khai sinh, khai tử không chỉ giới hạn trong đối tượng công dân Việt Nam mà còn bao gồm cả người nước ngoài, người không quốc tịch Phạm vi quản lý đó được thực hiện thông qua các nội dung quản lý đã được nêu trong Điều 3 luật Hộ tịch 2014, bao gồm: Xác nhận vào Sổ hộ tịch các sự kiện hộ tịch: Khai sinh; Kết hôn; Giám hộ; Nhận cha, mẹ, con; Thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, bổ sung thông tin hộ tịch; Khai tử

Ghi vào Sổ hộ tịch việc thay đổi hộ tịch của cá nhân theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền: Thay đổi quốc tịch; Xác định cha,

mẹ, con; Xác định lại giới tính; Nuôi con nuôi, chấm dứt việc nuôi con nuôi;

Trang 34

Ly hôn, hủy việc kết hôn trái pháp luật, công nhận việc kết hôn; Công nhận giám hộ; Tuyên bố hoặc huỷ tuyên bố một người mất tích, đã chết, bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự

Ghi vào Sổ hộ tịch sự kiện khai sinh; kết hôn; ly hôn; hủy việc kết hôn; giám hộ; nhận cha, mẹ, con; xác định cha, mẹ, con; nuôi con nuôi; thay đổi hộ tịch; khai tử của công dân Việt Nam đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài

Xác nhận hoặc ghi vào Sổ hộ tịch các việc hộ tịch khác theo quy định của pháp luật

Như vậy nội dung quản lý nhà nước về khai sinh, khai tử tập trung chủ yếu vào các hoạt động:

Ban hành hoặc trình cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến lĩnh vực khai sinh, khai tử;

Xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách, kế hoạch, định hướng về hoạt động khai sinh, khai tử;

Phổ biến, giáo dục pháp luật về lĩnh vực đăng kí khai sinh, khai tử; Thực hiện đăng ký khai sinh, khai tử;

Quản lý hệ thống tổ chức và hoạt động của các cơ quan, tổ chức trong hoạt động đăng kí khai sinh, khai tử;

Đào tạo, bồi dưỡng, hướng dẫn nghiệp vụ về lĩnh vực đăng kí khai sinh, khai tử;

Kiểm tra, thanh tra, khen thưởng, xử lý vi phạm, giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động đăng kí khai sinh, khai tử;

Bảo đảm kinh phí, cơ sở vật chất, phương tiện cho một số hoạt động liên quan trong lĩnh vực đăng kí khai sinh, khai tử;

Hợp tác quốc tế về đăng kí khai sinh, khai tử;

Thống kê nhà nước về đăng kí khai sinh, khai tử;

Trang 35

Tổng kết ; báo cáo cơ quan nhà nước cấp trên về hoạt động đăng kí khai sinh, khai tử

UBND cấp xã thực hiện đăng kí khai sinh, khai tử theo thẩm quyền của cấp mình quản lý Thẩm quyền Đăng kí khai sinh, khai tử của cấp xã được quy định cụ thể tại luật Hộ tịch 2014 và nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác Nội dung quản lý nhà nước đối với hoạt động khai sinh, khai tử ở cấp xã cụ thể như:

Tuyên truyền, phổ biến, vận động nhân dân từ biết, đến hiểu, làm đúng các quy định của pháp luật về Đăng ký khai sinh, khai tử;

Quản lý, sử dụng sổ Đăng ký khai sinh, khai tử, biểu mẫu Đăng ký khai sinh, trích lục khai tử bản chính theo quy định của Bộ Tư pháp

Thực hiện công tác lưu trữ và quản lý giấy tờ sổ sách, phần mềm hộ tịch, biểu mẫu liên quan tới công tác khai sinh, khai tử

Cấp trích lục khai sinh, khai tử từ sổ đăng ký khai sinh, khai tử hoặc từ dữ liệu điện tử hộ tịch

Căn cứ vào quy định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tiến hành cải chính, bổ sung, thay đổi những nội dung liên quan tới giấy khai sinh: họ tên đệm, ngày tháng năm sinh, dân tộc, địa điểm thường trú, cha, mẹ, nghề nghiệp của công dân khi yêu cầu của họ là chính đáng và có căn cứ pháp luật Tổng hợp, thống kê số liệu về tình hình đăng ký khai sinh, khai tử ở địa phương cho UBND huyện theo định kỳ (6 tháng một lần)

Giải quyết khiếu nại tố cáo của công dân, có biện pháp xử lý nghiêm minh với những hành vi vi phạm

Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã thường xuyên chỉ đạo, đôn đốc việc khai sinh, khai tử; chịu trách nhiệm về công tác đăng ký, quản lý hộ tịch và những vi phạm trong công tác đăng ký, quản lý hộ tịch do buông lỏng quản lý Công chức

tư pháp - hộ tịch giúp Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn

Trang 36

tại quy định trên

Như vậy việc phân cấp thẩm quyền quản lý và đăng ký hộ tịch có những thay đổi quan trọng so với Nghị định 158/ NĐ-CP 2005 thể hiện sâu sắc sự vận dụng tư duy mới về cải cách hành chính và tổ chức bộ máy “ phân cấp quản lý hành chính nhà nước giữa Trung ương và địa phương nhằm quy định

rõ ràng, cụ thể nhiệm vụ, thẩm quyền trách nhiệm của mỗi cấp trong hệ thống hành chính nhà nước; phát huy tính năng động, sáng tạo, quyền tự chủ tự chịu trách nhiệm của mỗi cấp chính quyền địa phương trong giải quyết công việc cho dân nhanh chóng , thuận lợi góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản

lý nhà nước và phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương và của cả nước”

1.5 Các yếu tố bảo đảm quản lý nhà nước về hoạt động khai sinh khai tử ở cấp xã

1.5.1 Pháp luật về hoạt động khai sinh, khai tử

Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2013, cụ thể quy định tại chương II quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân Hiến pháp năm 2013 là Hiến pháp vì các quyền và tự do cơ bản của con người với mục tiêu quan trọng nhất là tiếp tục phát huy dân chủ, bảo đảm chủ quyền Nhân dân, bảo đảm thực hiện tốt hơn quyền con người Đây là bản Hiến pháp đánh dấu bước phát triển mới mạnh mẽ trong tư duy lý luận của Đảng và Nhà nước ta trong một loạt vấn đề cơ bản của thời đại và sự nghiệp đổi mới đất nước, trong đó có vấn đề quyền con người Điều 15 Hiến pháp năm 2013 quy

định: “Mọi người có nghĩa vụ tôn trọng quyền của người khác… Việc thực

hiện quyền con người, quyền công dân không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác”

Quyền được khai sinh, khai tử là quyền cơ bản của công dân và được pháp luật bảo vệ, là một giá trị nhân thân, gắn chặt với cá nhân con người, bởi

Trang 37

vì, mỗi người chỉ có một thời điểm sinh, một thời điểm chết Các dấu hiệu về cha đẻ, mẹ đẻ, dân tộc, giới tính là những dấu hiệu giúp người ta phân biệt từng cá nhân con người và được cụ thể hóa quy định tại điều 30 Bộ luật dân sự 2015, và tại điều 13 luật Trẻ em 2016 Qua đó công dân được hưởng quyền, lợi ích chính đáng của mình thông qua hệ thống chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước Đồng thời đó cũng là căn cứ làm phát sinh các nghĩa vụ khác của công dân với Nhà nước và xã hội

Đánh dấu sự kiện pháp lý về sự sinh, tử của một cá nhân Nếu không có

sự quản lý hoạt động khai sinh, khai tử thì công dân bị tước những quyền chính đáng mà Nhà nước ghi nhận: quyền khai sinh, quyền khai tử, quyền đi học, khám chữa bệnh miễn phí cho trẻ em tại các cơ sở y tế Nhà nước, quyền bầu cử, ứng cử, quyền được ly hôn …Ví dụ: đối với trẻ em cha mẹ mất sớm nếu không có công tác đăng ký và quản lý đăng ký khai sinh thì rất có thể em

đó sẽ không biết cha mẹ mình là ai, tên tuổi, năm sinh thế nào, như thế rất thiệt thòi cho đứa trẻ

Việc quản lý đăng ký khai sinh, khai tử cũng tạo thuận lợi khi cá nhân đánh mất các giấy tờ tùy thân khác hay muốn xin đăng ký lại khai sinh, khai tử hoặc cấp trích lục bản sao khai sinh, khai tử từ hồ sơ lưu trữ cán bộ tư pháp

hộ tịch sẽ giải quyết đơn giản hơn Từ đó góp phần nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động khai sinh, khai tử ở cấp xã

1.5.2 Hội nhập quốc tế

Tính chất tác động của luật quốc tế đối với luật quốc gia được đánh giá bằng thực tiễn thực thi nhiệm vụ thành viên điều ước quốc tế của quốc gia thể hiện những hoạt động cụ thể như: sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện luật quốc gia phù hợp với cam kết quốc tế của chính quốc gia đó Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc tại Việt Nam (UNICEF) khẳng định: “Công ước về quyền trẻ em quy định mọi trẻ em đều có quyền có họ tên, quốc tịch và được bảo vệ giữ gìn bản

Trang 38

sắc Đăng ký khai sinh là cách thức quan trọng để đảm bảo thực hiện các quyền này của trẻ em” Như vậy đối với trẻ em dưới 14 tuổi thì giấy khai sinh là giấy tờ tùy thân

Trong nền hành chính của chế độ quan liêu bao cấp, đội ngũ công chức với phong cách làm việc trì trệ, quan liêu, với những thủ tục rườm rà, rối rắm

sẽ không phù hợp và thích ứng với nền hành chính phát triển, khoa học, văn minh, hiện đại Do đó đòi hỏi phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam cho phù hợp với thông lệ quốc tế Và pháp luật về quản lý hoạt động khai sinh, khai tử cũng không nằm ngoài vấn đề này, việc nâng từ Nghị định 158/2005/NĐ-CP của Chính phủ về Đăng ký và quản lý hộ tịch lên luật Hộ tịch năm 2014 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2016 tạo cơ sở pháp lý lâu dài, ổn định và thống nhất cho công tác đăng ký và quản lý hộ tịch, khắc phục những tồn tại, bất cập và tạo sự chuyển biến mạnh mẽ công tác này theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại, phù hợp với yêu cầu phát triển đất nước trong thời kỳ mới

1.5.3 Sự phát triển khoa học và công nghệ

Sự phát triển của khoa học và công nghệ nhất là công nghệ thông tin đòi hỏi trong quản lý đăng ký hộ tịch nói chung và khai sinh, khai tử nói riêng cần

triển khai ứng dụng công nghệ thông tin một cách đồng bộ, khoa học Cơ sở

dữ liệu hộ tịch đa số tồn tại dưới dạng sổ sách, giấy tờ, gây khó khăn trong việc lưu giữ, bảo quản và sử dụng Mỗi người dân hiện đang phải tự lưu giữ, bảo quản nhiều loại giấy tờ hộ tịch, gây bất ổn về tâm lý và bất cập khi sử dụng Các sự kiện hộ tịch của một người được đăng ký ở nhiều nơi, nhiều cấp,

ở trong nước và cả ở nước ngoài đã dẫn đến tình trạng dữ liệu hộ tịch bị phân tán, không xâu chuỗi, kết nối, chia sẻ được với nhau; cơ quan quản lý và đăng

ký hộ tịch không quản lý được đầy đủ các dữ liệu hộ tịch cá nhân, không nắm được sự biến động về hộ tịch trong địa bàn dẫn đến việc kiểm tra thông tin hộ

Trang 39

tịch của cá nhân, việc tra cứu, khai thác thông tin hộ tịch để phục vụ yêu cầu của người dân và cơ quan, tổ chức trong nhiều trường hợp không đáp ứng được Ngoài ra, tình trạng lợi dụng việc đăng ký hộ tịch (khai sinh, khai tử…) nhằm mục đích trục lợi hoặc trốn tránh pháp luật, gây phức tạp về trật tự an ninh xã hội có dấu hiệu gia tăng Đòi hỏi phái thay đổi, cải cách hành chính

theo hướng cắt giảm mạnh các giấy tờ trong đăng ký hộ tịch Cùng với việc

quy định về Số định danh cá nhân, việc xây dựng hệ thống phần mềm quản lý

hộ tịch khi đưa vào hoạt động sẽ góp phần phục vụ người dân tốt hơn nhờ rút ngắn thời gian giải quyết công việc, trao đổi thông tin chính xác, nhanh chóng, khắc phục tình trạng phân tán dữ liệu hộ tịch, nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý hộ tịch và tạo tiền đề cho việc thiết lập một hệ thống thông tin liên kết, thống nhất giữa các cơ quan có thẩm quyền quản lý nhà nước về

hộ tịch Điều đó đem lại những lợi ích thiết thực cho người dân, bảo đảm đơn giản, thuận lợi, tiết kiệm chi phí xã hội

Trong bối cảnh hoàn tất cấp Số định danh, Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân

cư đi vào vận hành, người dân thậm chí không cần đến cơ quan nhà nước mà vẫn giải quyết được việc đăng ký hộ tịch (thông qua mạng Internet) Khi đó sẽ thực hiện cắt giảm toàn bộ giấy tờ hộ tịch Qua đó góp phần hết sức quan trọng trong việc nâng cao chất lượng quản lý nhà nước về hoạt động khai sinh, khai tử ở cấp xã, khắc phục những tồn tại, bất cập và tạo sự chuyển biến mạnh mẽ công tác này theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại, phù hợp với yêu cầu phát triển đất nước trong thời kỳ mới

1.5.4 Ý thức pháp luật

Pháp luật đóng vai trò rất quan trọng nhằm đảm bảo thiết lập trật tự một xã hội an toàn văn minh và tốt đẹp, đảm bảo cho mọi hoạt động đời sống người dân Để phát huy được hiệu quả của pháp luật thì ý thức pháp luật của

người dân chính là nhân tố quan tọng hàng đầu Ý thức pháp luật và pháp luật

Trang 40

là hai hiện tượng xã hội khác nhau, nhưng có quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại với nhau Ý thức pháp luật là tiền đề tư tưởng trực tiếp để xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật; là nhân tố thúc đẩy thực hiện pháp luật trong đời sống xã hội; là cơ sở bảo đảm cho việc áp dụng đúng đắn các quy phạm pháp luật Pháp luật là cơ sở để củng cố, phát triển nâng cao ý thức pháp luật Những năm gần đây, công tác phổ biến giáo dục pháp luật ở nước ta đã được Đảng và Nhà nước quan tâm chú trọng nhiều hơn Những hoạt động của các cấp các ngành trong việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật đã góp phần nâng cao ý thức pháp luật của người dân, hầu hết người dân đã nắm rõ được tầm quan trong của pháp luật trong đời sống từ đó mà nhìn nhận đúng và tự giác hơn trong việc chấp hành pháp luật mà nhà nước đề ra Hiện nay trong các hoạt động của pháp luật, ý thức của người dân Việt Nam đã nâng lên Sự hiểu biết về pháp luật của nhân dân đã biểu hiện rõ nét, nhân dân ý thức được trách nhiệm, quyền hạn của mình đối với nhà nước thông qua pháp luật do đó họ tích cực tham gia vào các hoạt động quản lý nhà nước, giám sát các hoạt động của cơ quan nhà nước để thực hiện quyền lợi hợp pháp của mình Trong công tác quản lý nhà nước về hoạt động khai sinh, khai tử thì ý thức chấp hành pháp luật có vai trò quan trọng Mọi sự kiện đăng ký khai sinh, khai tử chỉ có thể được đăng ký ‘‘đầy đủ, kịp thời, chính xác” khi chính bản thân người đó hoặc những người thân thích tự giác khai báo, tự giác đi đăng ký

Ngày đăng: 07/06/2018, 09:55

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
6. C.Mác (1960), Tư bản, quyển 1, tập 2, NXB sự thật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư bản, quyển 1, tập 2
Tác giả: C.Mác
Nhà XB: NXB sự thật Hà Nội
Năm: 1960
7. C.Mác và Ph.ăngghen (1971), Toàn tập, tập 23, NXB sự thật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C.Mác và Ph.ăngghen
Nhà XB: NXB sự thật Hà Nội
Năm: 1971
8. Phạm Trọng Cường (2004), Về quản lý hộ tịch, NXB Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về quản lý hộ tịch
Tác giả: Phạm Trọng Cường
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2004
9. Phạm Trọng Cường (2007), Từ quản lý đinh đến quản lý hộ tịch, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ quản lý đinh đến quản lý hộ tịch
Tác giả: Phạm Trọng Cường
Nhà XB: Nxb. Tư pháp
Năm: 2007
10. Nguyễn Quốc Cường, Lương Thị Lanh, Trần Thị Thu Hằng... (2006), Hướng dẫn đăng ký và quản lý hộ tịch, NXB Tư pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn đăng ký và quản lý hộ tịch
Tác giả: Nguyễn Quốc Cường, Lương Thị Lanh, Trần Thị Thu Hằng
Nhà XB: NXB Tư pháp
Năm: 2006
11. Phạm Trọng Cường (2006), Kỳ vọng về một nề nếp mới trong công tác hộ tịch, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỳ vọng về một nề nếp mới trong công tác hộ tịch
Tác giả: Phạm Trọng Cường
Năm: 2006
12. Phạm Trọng Cường (2007), Từ quản lý đinh đến quản lý hộ tịch, Nxb Tư pháp, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ quản lý đinh đến quản lý hộ tịch
Tác giả: Phạm Trọng Cường
Nhà XB: Nxb Tư pháp
Năm: 2007
13. Nguyễn Phương Dung, (2018), Một số khó khăn vướng mắc trong thi hành luật hộ tịch ở các địa phương, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật tháng 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số khó khăn vướng mắc trong thi hành luật hộ tịch ở các địa phương
Tác giả: Nguyễn Phương Dung
Năm: 2018
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (2003), Văn kiện Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương khoá IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Văn kiện Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương khoá IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2003
18. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
19. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2011
21. Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2017), Giáo trình những vấn đề cơ bản về quản lý hành chính nhà nước, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình những vấn đề cơ bản về quản lý hành chính nhà nước
Tác giả: Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Lý luận chính trị
Năm: 2017
22. Học viện hành chính quốc gia (2002), tài liệu bồi dưỡng cán bộ chính quyền cấp xã về quản lý nhà nước,Nxb Văn hóa – Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: tài liệu bồi dưỡng cán bộ chính quyền cấp xã về quản lý nhà nước
Tác giả: Học viện hành chính quốc gia
Nhà XB: Nxb Văn hóa – Thông tin
Năm: 2002
23. Học viện hành chính (2008), Giáo trình quản lý hành chính-tư pháp, Nxb Khoa học kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình quản lý hành chính-tư pháp
Tác giả: Học viện hành chính
Nhà XB: Nxb Khoa học kỹ thuật
Năm: 2008
24. Trường Đại học Luật Hà Nội (2009), Giáo trình lý luận Nhà nước và Pháp luật, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lý luận Nhà nước và Pháp luật
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb. Công an nhân dân
Năm: 2009
25. Trường Đại học Luật Hà Nội (2010), Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam, Nxb. Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb. Tư pháp
Năm: 2010
26. Trần Huyền Nga (2005), 151 Câu Trả Lời Về Hộ Tịch, Hộ Khẩu, Chứng Minh Nhân Dân Và Công Chứng, Chứng Thực, NXB Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: 151 Câu Trả Lời Về Hộ Tịch, Hộ Khẩu, Chứng Minh Nhân Dân Và Công Chứng, Chứng Thực
Tác giả: Trần Huyền Nga
Nhà XB: NXB Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2005
27. Trần Văn Quảng (2006), Nâng cao năng lực đội ngũ công chức tư pháp – hộ tịch trong giai đoạn hiện nay, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật tháng 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao năng lực đội ngũ công chức tư pháp – hộ tịch trong giai đoạn hiện nay
Tác giả: Trần Văn Quảng
Năm: 2006
29. Quốc Hội (2014), Luật Hộ tịch năm 2014, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Hộ tịch năm 2014
Tác giả: Quốc Hội
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2014
34. Viện nghiên cứu khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp (2000) Bảo vệ quyền trẻ em trong pháp luật về quốc tịch và đăng ký hộ tịch ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ quyền trẻ em trong pháp luật về quốc tịch và đăng ký hộ tịch ở Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w