Điều lệ Hội Nông dân Việt Nam năm 2013; Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội của Bộ Chính trị ban hành kèm theo Quyết địn
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
THÁI THỊ BÍCH PHIN
GIÁM SÁT, PHẢN BIỆN XÃ HỘI
CỦA HỘI NÔNG DÂN VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI, năm 2018
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
THÁI THỊ BÍCH PHIN
GIÁM SÁT, PHẢN BIỆN XÃ HỘI
CỦA HỘI NÔNG DÂN VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM
Chuyên ngành : Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số : 8.38.01.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS TS NGUYỄN THỊ VIỆT HƯƠNG
HÀ NỘI, năm 2018
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Được sự tận tình dạy dỗ của các thầy, cô và gần 2 năm học tập, nghiên cứu của bản thân tôi tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam Đặc biệt là sự hướng dẫn, chỉ bảo của PGS TS Nguyễn Thị Việt Hương đã giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp này
Tôi xin chân thành cảm ơn sự quan tâm tạo điều kiện của lãnh đạo Hội Nông dân tỉnh Quảng Nam và các đồng nghiệp đã động viên, khích lệ, tạo điều kiện về thời gian, tài liệu Cảm ơn những người thân, bạn bè, anh chị em học viên cùng khóa, cùng lớp đã hỗ trợ, chia sẽ, động viên tôi những lúc khó khăn để hoàn thành luận văn
Đến nay tôi đã hoàn thành luận văn thạc sỹ Luật học chuyên ngành
Luật Hiến pháp và Luật Hành chính, với đề tài “Giám sát, phản biện xã hội
của Hội Nông dân Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam”
Xin trân trọng cảm ơn!
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của bản thân Các số liệu được nêu ra trong Luận văn này là trung thực, khách quan Những quan điểm, giải pháp, đề xuất, kiến nghị là xuất phát từ sự nghiên cứu thực tế của bản thân trong quá trình học tập, nghiên cứu và thực tiễn công tác của mình
Tác giả
Thái Thị Bích Phin
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ GIÁM SÁT, PHẢN BIỆN XÃ HỘI CỦA HỘI NÔNG DÂN VIỆT NAM 7
1.1 Khái quát về Hội Nông dân Việt Nam 7
1.2 Lý luận và pháp luật về giám sát của Hội Nông dân Việt Nam 11
1.3 Lý luận và pháp luật về phản biện xã hội của HND Việt Nam 25
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới giám sát, phản biện xã hội của Hội Nông dân Việt Nam 32
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT, PHẢN BIỆN XÃ HỘI CỦA HỘI NÔNG DÂN VIỆT NAM TẠI TỈNH QUẢNG NAM 36
2.1 Các yếu tố đặc thù của tỉnh Quảng Nam có ảnh hưởng tới hoạt động giám sát, phản biện xã hội của Hội Nông dân Việt Nam 36
2.2 Thực trạng giám sát của Hội Nông dân Việt Nam tại tỉnh Quảng Nam 39
2.3 Thực trạng phản biện xã hội của Hội Nông dân Việt Nam tại tỉnh Quảng Nam 48
2.4 Đánh giá chung về thực trạng giám sát, phản biện xã hội của Hội Nông dân tại tỉnh Quảng Nam 51
CHƯƠNG 3 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG GIÁM SÁT, PHẢN BIỆN XÃ HỘI CỦA HỘI NÔNG DÂN VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM 58
3.1 Quan điểm tăng cường giám sát, phản biện xã hội của Hội Nông dân Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam 58
3.2 Giải pháp tăng cường giám sát, phản biện xã hội của Hội Nông dân tỉnh Quảng Nam 60
KẾT LUẬN 72 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ĐBQH : Đại biểu Quốc hội
HĐND : Hội đồng nhân dân
HND : Hội Nông dân
HNDVN : Hội Nông dân Việt Nam
HVND : Hội viên nông dân
UBND : Ủy ban nhân dân
UBMTTQVN : Ủy ban Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam UBMT : Ủy ban Mặt trận
VTNN : Vật tư nông nghiệp
XHCN : Xã hội chủ nghĩa
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Kể từ khi ra đời (14/10/1930) cho đến nay, Hội Nông dân Việt Nam đã không ngừng được củng cố, mở rộng với những hình thức tổ chức và tên gọi khác nhau đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng của mỗi giai đoạn lịch sử và đã
có những cống hiến xứng đáng vào sự nghiệp vĩ đại của dân tộc, trở thành một trong những nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam
Ở nước ta trong điều kiện duy nhất một Đảng cầm quyền, không đa nguyên, đa đảng Do đó không thể không tồn tại những nguy cơ chủ quan, tiềm ẩn mà Đảng ta đang phải đối mặt đó là lạm quyền và quan liêu, độc đoán, vi phạm dân chủ trong bộ máy Đảng và Nhà nước Đây cũng chính là một trong những lý do khiến bộ máy Nhà nước ta tồn tại những vấn đề bức xúc như nạn tham nhũng, quan liêu, cửa quyền của các cơ quan và của công chức hành chính, tình trạng lãng phí ngân sách và tài nguyên quốc gia, tình trạng mất dân chủ trong Đảng, vi phạm quyền làm chủ của nhân dân đang diễn ra khá phổ biến và ngày càng nghiêm trọng, gây nhiều bức xúc, nhức nhối trong xã hội Những tồn tại trên đã làm cho uy tín của bộ máy Nhà nước
và vai trò lãnh đạo của Đảng bị giảm sút Vì vậy vấn đề đặt ra cấp bách hiện nay là cần phải nghiên cứu lại hệ thống kiểm soát quyền lực, đề cao hơn nữa vai trò giám sát phản biện xã hội của Mặt trận và các Đoàn thể chính trị - xã hội Hội Nông dân Việt Nam tổ chức thực hiện tốt công tác giám sát, phản biện xã hội nhằm phát huy dân chủ, tính tích cực của cán bộ, hội viên nông dân trong việc tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của hội viên nông dân Vì vậy đòi hỏi Hội Nông dân Việt Nam cần phải thực hiện tốt chức năng giám sát, phản biện xã hội của mình theo quy định của pháp luật, được quy định tại Hiến pháp năm 2013;
Trang 8Điều lệ Hội Nông dân Việt Nam năm 2013; Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội của Bộ Chính trị (ban hành kèm theo Quyết định 217- QĐ/TW ngày 12 tháng 12 năm 2013) và Quy định về Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị xã hội và nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền của
Bộ Chính trị (ban hành kèm theo Quyết định số 218- QĐ/TW ngày 12 tháng
Qua 4 năm triển khai thực hiện, hoạt động giám sát và phản biện của Hội Nông dân Việt Nam nói chung và Hội Nông dân tỉnh Quảng Nam nói riêng đã bước đầu đã đem lại hiệu quả, góp phần làm hạn chế những sai sót trong hoạt động của các cơ quan và của cán bộ công chức nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của hội viên nông dân Tuy nhiên, trong quá trình tổ chức thực hiện công tác giám sát, phản biện xã hội, các cấp HND vẫn còn tỏ ra lúng túng về nội dung, phương pháp thực hiện, năng lực còn hạn chế dẫn đến hiệu lực, hiệu quả chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu đề ra
Xuất phát từ những yêu cầu về lý luận và thực tiễn, có ý nghĩa thời sự
quan trọng, nên tôi chọn đề tài “Giám sát, phản biện xã hội của Hội Nông dân
Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam” làm đề tài luận văn Thạc sĩ Luật học,
với mong muốn rằng sẽ góp phần vào việc tăng cường hiệu quả hoạt động giám sát, phản biện xã hội của Hội Nông dân Việt Nam nói chung và của Hội Nông dân tỉnh Quảng Nam nói riêng
Trang 92 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong thời gian qua, đã có nhiều công trình nghiên cứu với các góc độ tiếp cận, quy mô khác nhau về giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội Trong số đó, có thể kể đến một số
công trình có liên quan, tiêu biểu như: TS Nguyễn Thọ Ánh (2012), “Thực
hiện chức năng giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận tổ quốc Việt Nam hiện nay”, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội; Bùi Xuân Đức (2004), “Tăng cường hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, đoàn thể nhân dân và giám sát trực tiếp của nhân dân đối với bộ máy nhà nước”, T/c Nghiên cứu lập pháp; Đỗ Duy Thường (2005), “Phát huy vai trò của MTTQVN trong việc thực hiện giám sát đối với cán bộ, công chức, đảng viên ở khu dân cư”; Tiến sĩ Trương Thị Hồng Hà (2007) với bài “Xây dựng cơ chế pháp lý bảo đảm cho nhân dân tham gia hoạt động giám sát, phản biện xã hội”, Tạp chí Cộng sản, số 8; Trần Ngọc Nhẫn (2008), “Một số
đề xuất về giám sát, phản biện xã hội của MTTQVN, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân”, Tạp chí Mặt trận số 56; Hoàng Hải (2007), ‘‘Về phản biện
và giám sát xã hội’’, Tạp chí Xây dựng Đảng; Nguyễn Văn Pha (2009), luận
văn Thạc sĩ Chính trị học, Học viện quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội: “Phát
huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong hoạt động giám sát, phản biện xã hội góp phần xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh”
Các công trình trên đã nghiên cứu cả về lý luận và thực tiễn hoạt động giám sát, phản biện xã hội dưới nhiều góc độ khác nhau Tuy nhiên, thời gian nghiên cứu từ năm 2012 trở về trước, chưa phản ảnh được thực trạng tình hình thực hiện công tác giám sát, phản biện xã hội theo quy định của Hiến Pháp 2013 và Quyết định số 217 của Bộ Chính trị Các công trình nghiên cứu này chủ yếu nghiên cứu về công tác giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận
tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội nói chung, chưa có công trình
Trang 10nghiên cứu về công tác giám sát, phản biện xã hội của Hội Nông dân Việt Nam Vì vậy nên học viên mạnh dạn quyết định lựa chọn đề tài luận văn thạc
sĩ nhằm góp phần khắc phục khoảng trống trong hoạt động nghiên cứu về một trong những vấn đề cấp bách của khoa học pháp lý hiện nay
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích tổng quát của đề tài là xây dựng luận cứ khoa học cho việc đề xuất các giải pháp tăng cường giám sát, phản biện xã hội của Hội Nông dân Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam góp phần phát huy dân chủ, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của hội viên nông dân
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu làm sáng tỏ cơ sở lý luận của hoạt động giám sát, phản biện xã hội của Hội Nông dân Việt Nam
- Phân tích, đánh giá đúng thực trạng giám sát, phản biện xã hội của Hội Nông dân tỉnh Quảng Nam (giai đoạn 2014 -2017); làm rõ nguyên nhân của những ưu điểm, hạn chế trong giám sát, phản biện xã hội của Hội Nông dân tỉnh Quảng Nam
- Xác định các quan điểm và đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động giám sát, phản biện xã hội của Hội Nông dân Việt Nam nói chung và Hội Nông dân tỉnh Quảng Nam nói riêng
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Các quan niệm khoa học về giám sát, phản biện xã hội và về vai trò của các tổ chức xã hội nói chung, của Hội Nông dân Việt Nam nói riêng;
- Các chủ trương, chính sách, pháp luật về giám sát, phản biện xã hội của Hội Nông dân Việt Nam;
Trang 11- Thực tiễn hoạt động giám sát, phản biện xã hội của Hội Nông dân tỉnh Quảng Nam đối với một số đề án, dự án, chủ trương, chính sách trong quá trình xây dựng và phát triển tỉnh Quảng Nam;
- Kinh nghiệm hoạt động giám sát, phản biện xã hội của Hội Nông dân Việt Nam tại một số tỉnh, thành phố ở Việt Nam
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung: Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận về giám
sát, phản biện xã hội của Hội Nông dân Việt Nam và thực tiễn giám sát, phản biện xã hội của Hội Nông dân tỉnh Quảng Nam đối với một số đề án, dự án, chủ trương, chính sách quan trọng trong quá trình xây dựng và phát triển tỉnh Quảng Nam
- Phạm vi không gian: Luận văn nghiên cứu hoạt động giám sát, phản
biện xã hội của Hội Nông dân Việt Nam tại tỉnh Quảng Nam trên cơ sở Hiến pháp 2013, Quyết định số 217, 218 của Bộ Chính trị, Điều lệ Hội Nông dân Việt Nam
- Phạm vi thời gian: Luận văn tập trung nghiên cứu hoạt động giám sát,
phản biện xã hội của Hội Nông dân tỉnh Quảng Nam trong giai đoạn từ năm
Trang 125.2 Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể của luận văn bao gồm: Phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp so sánh; phương pháp hệ thống; phương pháp xã hội học pháp luật; phương pháp kết hợp lý luận với thực tiễn…
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận
- Kết quả nghiên cứu của Luận văn góp phần vào việc nâng cao nhận thức lý luận về vị trí, vai trò và chức năng giám sát, phản biện xã hội của Hội Nông dân Việt Nam
- Kết quả nghiên cứu của Luận văn có giá trị ứng dụng trong tổ chức thực hiện chức năng giám sát, phản biện của Hội Nông dân tỉnh Quảng Nam
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo trong hoạt động nghiên cứu, giảng dạy, học tập tại các cơ sở đào tạo luật học và đối với hoạt động thực tiễn của đội ngũ cán bộ Hội Nông dân ở Việt Nam hiện nay
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn được chia thành 3 chương gồm:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật về giám sát, phản biện
xã hội của Hội Nông dân Việt Nam
Chương 2: Thực trạng hoạt động giám sát, phản biện xã hội của Hội Nông dân Việt Nam tại tỉnh Quảng Nam
Chương 3: Quan điểm và giải pháp tăng cường giám sát, phản biện xã hội của Hội Nông dân từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam
Trang 13CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ GIÁM SÁT, PHẢN BIỆN XÃ HỘI CỦA HỘI NÔNG DÂN VIỆT NAM
1.1 Khái quát về Hội Nông dân Việt Nam
Hội Nông dân Việt Nam là đoàn thể chính trị - xã hội của giai cấp nông dân do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; cơ sở chính trị của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Hội Nông dân Việt Nam tiền thân là Nông hội đỏ, thành lập ngày 14 tháng 10 năm 1930, trải qua các thời kỳ cách mạng luôn trung thành với Đảng
và dân tộc Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam là trung tâm, nòng cốt cho phong trào nông dân và công cuộc xây dựng nông thôn mới
Mục đích của Hội là tập hợp đoàn kết nông dân, xây dựng giai cấp nông dân vững mạnh về mọi mặt, xứng đáng là lực lượng tin cậy trong khối liên minh vững chắc công, nông, trí, bảo đảm thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
1.1.1 Vị trí, vai trò của Hội Nông dân Việt Nam
Tại Khoản 2, Điều 9 Hiến pháp năm 2013 ghi nhận: Hội Nông dân Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội được thành lập trên cơ sở tự nguyện, đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của thành viên, hội viên tổ chức mình, cùng các tổ chức thành viên khác của Mặt trận phối hợp và thống nhất hành động trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Điều lệ Hội Nông dân Việt Nam khẳng định: Hội Nông dân Việt Nam
là đoàn thể chính trị - xã hội của giai cấp nông dân do Đảng Cộng sản Việt
Trang 14Nam lãnh đạo; cơ sở chính trị của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Hội Nông dân Việt Nam tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, xây dựng Hội vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức và hành động; nâng cao vai trò đại diện, phát huy quyền làm chủ, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của hội viên, nông dân
Phát huy truyền thống yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, tinh thần cách mạng, lao động sáng tạo, tự lực, tự cường, đoàn kết của nông dân; tích cực và chủ động hội nhập quốc tế, đẩy mạnh phát triển kinh tế, xã hội, xây dựng văn hóa, giữ vững quốc phòng, an ninh, góp phần thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Hội Nông dân Việt Nam có vai trò tập hợp đoàn kết nông dân, xây dựng giai cấp nông dân vững mạnh về mọi mặt, xứng đáng là lực lượng tin cậy trong khối liên minh vững chắc công, nông, trí, bảo đảm thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
Hiến pháp 2013, đã tạo cơ sở pháp lý cho Hội Nông dân Việt Nam đổi mới nội dung, phương thức hoạt động trong tình hình mới để mở rộng và đa dạng hóa các hình thức tập hợp nhân dân, nâng cao vai trò đại diện của Hội Nông dân Việt Nam, phát huy dân chủ, xây dựng sự đồng thuận trong xã hội, tuyên truyên, vận động, giai cấp nông dân tích cực tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền trong sạch vững mạnh thông qua hoạt động giám sát, phản biện xã hội
1.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của Hội Nông dân Việt Nam
Điều 1, Chương I, Điều lệ Hội Nông dân Việt Nam quy định chức năng của Hội đó là:
Tập hợp, vận động, giáo dục hội viên nông dân phát huy quyền làm chủ, tích cực học tập nâng cao trình độ, năng lực về mọi mặt; đại diện giai cấp
Trang 15nông dân tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước và khối đại đoàn kết toàn dân tộc; chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của hội viên nông dân, tổ chức các hoạt động dịch vụ, tư vấn, hỗ trợ nông dân trong sản xuất, kinh doanh và đời sống
Điều 2, Chương I, Điều lệ Hội Nông dân Việt Nam quy định nhiệm vụ của Hội là: Tuyên truyền, vận động cán bộ, hội viên nông dân hiểu và tích cực thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; nghị quyết, chỉ thị của Hội Khơi dậy và phát huy truyền thống yêu nước, ý chí cách mạng, tinh thần tự lực, tự cường, lao động sáng tạo của hội viên nông dân Vận động, tập hợp, làm nòng cốt tổ chức các phong trào phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh; xây dựng nông thôn mới Chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của HVND Trực tiếp thực hiện một số chương trình, đề án phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội nông thôn; hướng dẫn phát triển các hình thức kinh tế tập thể Tổ chức các hoạt động dịch vụ, tư vấn, hỗ trợ, dạy nghề, khoa học công nghệ giúp nông dân phát triển sản xuất, nâng cao đời sống, bảo vệ môi trường Đoàn kết, tập hợp đông đảo nông dân vào tổ chức Hội, phát triển và nâng cao chất lượng hội viên Xây dựng tổ chức Hội vững mạnh về mọi mặt; đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Hội đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Tham gia xây dựng Đảng, chính quyền trong sạch, vững mạnh Tham gia giám sát và phản biện xã hội theo quy chế; tham gia xây dựng cơ chế, chính sách phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn Kịp thời phản ánh tâm tư nguyện vọng của nông dân với Đảng và Nhà nước; bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của hội viên, nông dân Thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, giữ gìn đoàn kết trong nội bộ nông dân; góp phần xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí và các tệ nạn xã hội Mở rộng hoạt động đối ngoại theo quan
Trang 16điểm, đường lối của Đảng, tăng cường hợp tác, trao đổi, học tập kinh nghiệm, tiến bộ khoa học kỹ thuật, quảng bá hàng hóa nông sản, văn hóa Việt Nam với
tổ chức nông dân, tổ chức quốc tế, các tổ chức chính phủ, phi chính phủ trong khu vực và trên thế giới
1.1.3 Cơ cấu tổ chức và các mối quan hệ phối hợp hoạt động của Hội Nông dân Việt Nam
Về cơ cấu tổ chức, Hội Nông dân Việt Nam được tổ chức ở các cấp, trong đó ở trung ương có Trung ương Hội Nông dân Việt Nam; ở địa phương
có Hội Nông dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Hội Nông dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; Hội Nông dân xã, phường, thị trấn Ở mỗi cấp có ban chấp hành, ban thường vụ Hội Nông dân; ở thôn, ấp, bản, làng, buôn, phum, sóc, tổ dân phố, khu phố…có chi hội nông dân do Hội Nông dân
xã, phường, thị trấn thành lập, trong chi hội được chia ra nhiều tổ hội
Như vậy, trong hệ thống chính trị của nước ta các cấp chính quyền từ trung ương đến địa phương đều xây dựng tổ chức Hội Nông dân Hoạt động
giám sát được thực hiện theo nguyên tắc bảo đảm phát huy dân chủ, sự tham
gia của cán bộ, hội viên nông dân; xuất phát từ yêu cầu, nguyện vọng chính đáng của hội viên nông dân; thực hiện công khai, minh bạch; không làm cản trở hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân được giám sát Phải bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, phù hợp với Hiến pháp, pháp luật và Điều lệ Hội Nông dân Việt Nam Có sự phối hợp chặt chẽ giữa MTTQVN và các đoàn thể chính trị - xã hội với các cơ quan, tổ chức có liên quan; không làm trở ngại các hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân được giám sát xã hội Bảo đảm dân chủ, công khai, khách quan và mang tính xây dựng Tôn trọng các ý kiến khác nhau, nhưng không trái với quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của hội viên nông dân, lợi ích quốc gia, dân tộc
Trang 17Đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng và thể hiện đầy đủ ý chí, nguyện vọng của giai cấp nông dân, đảm bảo cho hoạt động của các cơ quan trong bộ máy nhà nước luôn trong sạch, cần thiết phải có sự giám sát, phản biện xã hội từ phía hội viên nông dân, tổ chức đại diện cho ý chí, nguyện vọng của giai cấp nông dân
1.2 Lý luận và pháp luật về giám sát của Hội Nông dân Việt Nam
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò giám sát của HND Việt Nam
1.2.1.1 Khái niệm giám sát của Hội Nông dân Việt Nam
Giám sát là thuật ngữ được dùng khá phổ biến trong chính trị học, luật học, hành chính học thể hiện trong nhiều văn bản của Đảng và Nhà nước
Trong cuốn tìm hiểu một số thuật ngữ trong Văn kiện Đại hội X của
Đảng Cộng sản Việt Nam giám sát được hiểu là: “theo dõi, kiểm tra, phát hiện,
đánh giá của cá nhân, tổ chức, cộng đồng khác trong lĩnh vực hoạt động kinh tế
- xã hội, trong việc thực hiện hiến pháp, pháp luật, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách của nhà nước, các quyền lợi, nghĩa vụ của công dân, của các
tổ chức chính tri - xã hội và kiến nghị phát huy ưu điểm, thành tựu, xử lý đối với
cá nhân, tổ chức có hành vi sai trái” [4, tr.184]
Xét về cấu trúc, giám sát được thực hiện bởi hai loại chủ thể: Giám sát của các cơ quan quyền lực nhà nước (trong hệ thống nhà nước) và giám sát của các chủ thể xã hội (giám sát từ bên ngoài vào hệ thống nhà nước)
Hoạt động giám sát của các chủ thể bên ngoài vào hệ thống nhà nước được gọi là giám sát chính trị - xã hội Giám sát chính trị - xã hội phân biệt với giám sát nhà nước ở chỗ: chủ thể giám sát chính trị - xã hội là nhân dân (nhân dân trực tiếp giám sát hoặc thông qua các tổ chức do mình uỷ nhiệm) Đối tượng giám sát chính trị - xã hội là các cơ quan quyền lực nhà nước Giám sát chính trị - xã hội không mang tính quyền lực nhà nước Phương thức
Trang 18giám sát chính trị - xã hội cũng năng động, linh hoạt và khách quan hơn giám sát nhà nước bởi vì nó là sự giám sát bên ngoài cấu trúc quyền lực
Từ cách hiểu như trên, có thể nêu định nghĩa “Giám sát xã hội là hình
thức giám sát của các chủ thể ngoài nhà nước thông qua các tổ chức xã hội hoặc bằng hình thức giám sát trực tiếp của công dân đối với tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, của đảng cầm quyền nhằm đảm bảo thực thi quyền lực của nhân dân"
“Giám sát”của MTTQVN và các đoàn thể chính trị - xã hội trong Quy
chế được ban hành kèm theo Quyết định số 217-QĐ/TW của Bộ Chính trị
được hiểu là “Giám sát xã hội”, giám sát mang tính nhân dân, không phải là
giám sát của Nhà nước (giám sát của Quốc hội) hoặc giám sát trong Đảng (Quy chế giám sát trong Đảng) Giám sát xã hội chỉ dừng lại ở mức “đánh giá, kiến nghị”, tức là áp dụng các biện pháp tác động mang tính xã hội vào hoạt động của đối tượng bị giám sát (sự nhận xét, đánh giá, kiến nghị từ phía xã hội, từ đó đối tượng bị giám sát tự chấn chỉnh, rút kinh nghiệm trong quá trình hoạt động của mình), không có quyền yêu cầu hoặc bắt buộc cơ quan, tổ chức phải tiến hành xử
lý một vụ việc cụ thể nào đó Việc có xử lý hay không xử lý, xác định kết quả, kiến nghị giám sát đó đúng hay sai phụ thuộc vào quyền và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân được giám sát theo pháp luật và các quy định hiện hành
Giám sát của Hội Nông dân Việt Nam được quy định trong Hiến pháp năm 2013 (Chương II Quyền con người); Điều 18, Chương V Điều lệ Hội Nông dân Việt Nam; Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội ban hành kèm theo Quyết định số 217-QĐ/TW, ngày 12/12/2013 của Bộ Chính trị; Pháp lệnh số 34 của
Ủy ban Thường vụ Quốc hội về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn; Với hệ thống các văn bản trên thì giám sát của Hội Nông dân Việt Nam
Trang 19mang tính chất giám sát xã hội, chỉ là việc “theo dõi, phát hiện, kiến nghị” và
có biện pháp tác động để cơ quan nhà nước xử lý
Như vậy, giám sát của Hội Nông dân Việt Nam được hiểu là hoạt động
của Hội Nông dân Việt Nam nhằm theo dõi, phát hiện, xem xét, đánh giá, kiến nghị nhằm tác động đối với cơ quan, tổ chức và cán bộ, đảng viên, đại biểu dân cử, công chức, viên chức nhà nước về việc thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước
1.2.1.2 Đặc điểm giám sát của Hội Nông dân Việt Nam
Tính chất, giám sát của Hội Nông dân Việt Nam là giám sát chính trị -
xã hội, mang tính nhân dân, không mang tính quyền lực Hội Nông dân Việt Nam vận động hội viên nông dân giám sát, tham gia giám sát hoặc độc lập
giám sát theo nhiệm vụ, quyền hạn do pháp luật quy định với cơ chế là: theo
dõi, xem xét, đánh giá, kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét, giải quyết và giám sát việc giải quyết các kiến nghị đó
Hội Nông dân Việt Nam sử dụng nhiều hình thức, biện pháp để vận động đông đảo hội viên nông dân tham gia giám sát, dựa vào sự theo dõi, phát hiện và cung cấp thông tin từ hội viên nông dân, dựa vào các ý kiến, kiến nghị của hội viên, đoàn viên của các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội để giám sát
Hoạt động giám sát của HNDVN chủ yếu để nhắc nhở, cảnh báo, răn
đe, phòng ngừa vi phạm; chủ động phát hiện để kịp thời kiến nghị khắc phục những bất cập, vướng mắc trong các chính sách, pháp luật, chương trình, dự
án triển khai trên địa bàn nông thôn có liên quan trực tiếp đến quyền lợi,
nghĩa vụ của hội viên nông dân
Chủ thể, giám sát của Hội Nông dân Việt Nam rất rộng đó tổ chức Hội
ở các cấp từ Trung ương đến cơ sở và toàn thể cán bộ, hội viên, nông dân Giám sát là quyền, trách nhiệm của tổ chức Hội các cấp, của toàn thể cán bộ Hội và hội viên nông dân
Trang 20Đối tượng và phạm vi, nội dung giám sát của Hội Nông dân Việt Nam được mở rộng, nhiều lĩnh vực bao gồm: các tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Nội dung là các lĩnh vực của đời sống xã hội liên quan đến nông nghiệp, nông dân, nông thôn
Phương pháp, giám sát của Hội Nông dân Việt Nam là sự giám sát, theo dõi bên ngoài là chủ yếu Hội Nông dân các cấp chủ trì giám sát, theo dõi bên ngoài này chỉ xem xem các tổ chức, cá nhân có thực hiện theo các trình
tự, hướng dẫn, quy định của pháp luật hay không, chứ không đi sâu xem xét việc tổ chức thực hiện công tác chuyên môn theo thẩm quyền của các tổ chức,
cá nhân Việc giám sát này chỉ dùng lại ở việc kiến nghị các cơ quan có thẩm quyền xem xét giải quyết
1.2.1.3 Vai trò giám sát của Hội Nông dân Việt Nam
Giám sát của Hội Nông dân Việt Nam góp phần đảm bảo quyền lực nhân dân, phát huy dân chủ trong quản lý nhà nước và xã hội Hội Nông dân Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội của giai cấp nông dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Công tác giám sát là một trong những chức năng, nhiệm vụ của các cấp Hội nhằm vận động, phát huy dân chủ, phát động cán bộ, hội viên nông dân tăng cường trách nhiệm, mạnh dạn tham gia vào công tác quản lý nhà nước, quản lý xã hội ngày càng hiệu lực hiệu quả
Giám sát của Hội Nông dân Việt Nam góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy Đảng và Nhà nước Giám sát nhằm góp phần xây dựng và thực hiện đúng các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; kịp thời phát hiện những sai sót, khuyết điểm, yếu kém và đề xuất, kiến nghị sửa đổi, bổ sung cho phù hợp, góp phần xây dựng đảng, xây dựng chính quyền ngày càng trong sạch, vững mạnh
Giám sát của Hội Nông dân Việt Nam giúp khắc phục tình trạng quan
Trang 21liêu, tham nhũng, lãng phí, lạm quyền góp phần trong sạch hóa bộ máy công quyền Có thể nói chủ thể giám sát của Hội Nông dân Việt Nam là rất rộng,
do đó có nhiều thông tin, có sự theo dõi, phát hiện của tổ chức Hội từ trung ương đến cơ sở và của cán bộ, hội viên nông dân Đây là lực lượng đông đảo,
có mặt hầu hết trên tất cả các địa bàn dân cư, lực lượng này được phát huy, tham gia giám sát sẽ góp phần khắc phục tình trạng quan liêu, nhũng nhiễu, lạm quyền của cán bộ được giao thực thi công vụ và góp phần trong sạch hóa các cơ quan nhà nước
Hoạt động giám sát của Hội Nông dân Việt Nam góp phần nâng cao vị thế của Hội Nông dân Việt Nam, là môi trường rèn luyện, nâng cao năng lực tham gia và bản lĩnh chính trị của cán bộ, hội viên nông dân Để tổ chức thực hiện tốt công tác giám sát, tổ chức Hội và cán bộ, HVND phải tự mình tìm tòi học hỏi, nâng cao kiến thức về mọi mặt, nhất là tìm hiểu sâu về các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước mới tham gia giám sát
có hiệu quả, chất lượng cao Thực hiện công tác giám sát có hiệu quả, chất lượng cao sẽ góp phần nâng cao vai trò, vị thế của tổ chức Hội trong hệ thống chính trị cũng như đem lại niềm tin của cán bộ, HVND vào tổ chức Hội
Thông qua các hoạt động giám sát của tổ chức Hội ở các cấp và của hội viên nông dân nhằm phát hiện những hành vi, dấu hiệu vi phạm; những bất hợp
lý, vướng mắc, kẽ hở trong chính sách, pháp luật của Nhà nước; kiến nghị với các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền, xem xét xử lý vi phạm; điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung chính sách, pháp luật cho phù hợp, sát với thực tiễn
Sự giám sát của Hội Nông dân Việt Nam góp phần làm giảm những sai sót, sơ hở trong xây dựng và ban hành pháp luật, tăng tính khả thi Ở một khía cạnh khác, giám sát hoạt động xây dựng chính sách, pháp luật còn là một quyền quan trọng của Hội Nông dân - quyền giám sát, kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật đã được quy định tại Điều 4 Luật Ban hành văn bản quy phạm
Trang 22pháp luật: “MTTQVN và các tổ chức thành viên, cơ quan, tổ chức khác và
công dân có quyền giám sát văn bản quy phạm pháp luật và kiến nghị với cơ
quan nhà nước có thẩm quyền xử lý văn bản quy phạm pháp luật sai trái”
1.2.2 Chủ thể, đối tượng, nội dung, hình thức và trình tự giám sát của Hội Nông dân Việt Nam
bộ Hội NDVN, Trường trung cấp nghề Hội NDVN, Báo Nông thôn ngày nay, Tạp chí nông thôn mới Đối với Hội Nông dân các tỉnh, thành phố: bao gồm các cơ quan giúp việc Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Hội Nông dân tỉnh, thành phố: Văn phòng, Ban Tổ chức - Kiểm tra, Ban Kinh tế - Xã hội, Ban Tuyên huấn, Trung tâm Dạy nghề và Hỗ trợ việc làm
- Cán bộ, hội viên, nông dân
Như vậy, chủ thể giám sát là Hội Nông dân Việt Nam bao gồm tổ chức Hội Nông dân ở các cấp và cán bộ, hội viên, nông dân Phân định thẩm quyền giám sát của các chủ thể như sau:
Trung ương Hội Nông dân Việt Nam chủ trì giám sát việc thực hiện chủ trương, nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Trung ương Đảng; các quy hoạch, các chương trình, dự án phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội; việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước ở Trung ương ban hành triển khai thực hiện trên phạm vi toàn quốc Phối hợp với Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam; Hội Nông dân các cấp ở địa phương, các cơ quan, tổ
Trang 23chức giám sát đối với những nội dung có liên quan
Hội Nông dân các cấp ở địa phương chủ trì giám sát việc thực hiện chủ trương, nghị quyết, chỉ thị, kết luận của cấp ủy đảng cùng cấp và của cấp trên; việc thực hiện các quy hoạch, các chương trình, dự án phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội; các văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước ở địa phương cùng cấp và của cấp trên ban hành triển khai thực hiện trên địa bàn của địa phương Phối hợp với Ủy ban MTTQ Việt Nam cùng cấp, Hội Nông dân cấp trên, cấp dưới (đối với Hội Nông dân cấp tỉnh, cấp huyện); các cơ quan, tổ chức, giám sát đối với những nội dung có liên quan
1.2.2.2 Đối tượng giám sát
Đối tượng giám sát là các cơ quan, tổ chức từ Trung ương đến cơ sở, đó là: cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan đảng, cơ quan nhà nước (Quốc hội, Hội đồng nhân dân, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, các cơ quan hành chính nhà nước), các đơn vị sự nghiệp và doanh nghiệp (sau đây gọi tắt là cơ quan, tổ chức); Cán bộ, đảng viên, đại biểu dân cử (đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân) công chức, viên chức nhà nước (sau đây gọi tắt là cá nhân) Các cơ quan, tổ chức và các cá nhân được đảng, nhà nước giao quyền lãnh đạo, điều hành, quản lý trên các lĩnh vực của mọi mặt đời sống xã hội
Theo đó thì đối tượng giám sát còn bao gồm cả các cơ quan, tổ chức thuộc ngành dọc, đơn vị trực thuộc và cán bộ, đảng viên, đại biểu dân cử công chức, viên chức nhà nước của cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan đảng, cơ quan nhà nước, các đơn vị sự nghiệp và doanh nghiệp Các đối tượng này trong quá trình thực thi nhiệm vụ, công vụ được giao phải chịu sự giám sát của tổ chức,
cá nhân của Hội Nông dân Việt Nam nhằm phát hiện để cảnh báo, răn đe,
phòng ngừa vi phạm; nhắc nhở thực hiện theo đúng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước, tăng cường trách nhiệm cá nhân, nâng cao chất lượng, hiệu quả trong việc thực thi nhiệm vụ được giao
Trang 24Đối tượng giám sát là cơ quan, tổ chức thì Hội Nông dân Việt Nam sẽ giám sát việc tổ chức thực hiện các chủ trương của đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước có đúng theo quy định hay không, thực hiện có đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao không, hiệu quả, chất lượng đến đâu Còn đối tượng giám sát là các cá nhân thì Hội Nông dân Việt Nam sẽ tổ chức giám sát việc thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống, vai trò tiền phong, gương mẫu, trách nhiệm thực thi công vụ của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức nhà nước, đại biểu dân cử ở nơi công tác và ở nơi cư trú
1.2.2.3 Nội dung giám sát
Căn cứ Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội và Hướng dẫn số 637-HD/HNDTW về thực hiện Quy chế giám sát và phản biện xã hội trong hệ thống Hội Nông dân Việt Nam, nội dung giám sát và phân cấp giám sát của Hội Nông dân Việt Nam như sau:
Hội Nông dân các cấp chủ trì giám sát đối với cơ quan, tổ chức việc tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước (trừ những vấn đề thuộc bí mật quốc gia) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn có liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của hội viên, nông dân; chức năng, nhiệm vụ của Hội Tập trung vào các nội dung trọng tâm sau: Giám sát về quản lý, sử dụng đất đai, đền bù giải phóng mặt bằng, hỗ trợ tái định cư, khai thác, sử dụng tài nguyên ; giám sát việc đầu tư phát triển hạ tầng nông thôn: giao thông, thủy lợi, điện, trường học, y tế, văn hóa, công trình cấp nước sạch…; xây dựng nông thôn mới; bảo
vệ môi trường nông thôn; giám sát việc thu, chi các loại phí, lệ phí, các khoản đóng góp của nông dân; giám sát việc tổ chức thực hiện các chính sách hỗ trợ nông dân phát triển sản xuất, kinh doanh: vốn, vật tư nông nghiệp, chuyển
Trang 25giao khoa học kỹ thuật, dạy nghề, việc làm cho lao động nông thôn, tiêu thụ sản phẩm…; giám sát việc tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách liên
quan đến chức năng, nhiệm vụ và hoạt động của Hội [17, tr.2]
Theo đó thẩm quyền giám sát của từng chủ thể như sau:
Trung ương Hội chủ trì giám sát đối với các đối tượng giám sát (cơ quan, tổ chức, cá nhân) thuộc trung ương và nội dung giám sát (việc thực hiện chủ trương, nghị quyết, chỉ thị, kết luận, quy hoạch, chương trình, dự án phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội ) do cơ quan nhà nước ở Trung ương ban hành
Hội Nông dân các cấp ở địa phương chủ trì giám sát đối với các đối tượng giám sát (cơ quan, tổ chức, cá nhân) cùng cấp và nội dung giám sát (việc thực hiện chủ trương, nghị quyết, chỉ thị, kết luận, quy hoạch, chương trình, dự án phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội ) của cấp ủy đảng, cơ quan nhà nước cùng cấp và của cấp trên ban hành
Đối với các cá nhân: Ngoài việc giám sát việc thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước còn giám sát việc rèn luyện, trau dồi phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống, vai trò tiền phong, gương mẫu, trách nhiệm thực thi công vụ của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức nhà nước, đại biểu dân cử ở nơi công tác và ở nơi cư trú
Căn cứ nội dung giám sát, Hội Nông Việt Nam ký kết Chương trình phối hợp liên tịch số 17-CTPH/HND-MTTQ-BNN&PTNT-BCT ngày 17/7/2014 giữa Hội Nông dân Việt Nam, Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn, Bộ Công Thương về giám sát việc thực hiện pháp luật về sản xuất, kinh doanh vật tư nông nghiệp giai đoạn 2014-2020; Hội Nông dân tỉnh ký kết Chương trình phối hợp liên tịch Giữa Hội Nông dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc, Sở Nông nghiệp & phát triển nông thôn, Sở Công Thương tỉnh Quảng Nam giám sát việc thực hiện pháp luật về sản xuất, kinh doanh vật tư nông nghiệp giai đoạn 2015-2020
Trang 26Theo đó hằng năm xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện công tác giám sát theo kế hoạch đã đề ra
1.2.2.4 Hình thức và trình tự giám sát
Về hình thức giám sát:
Theo quy định của pháp luật, hoạt động giám sát của Hội Nông dân Việt Nam được tiến hành chủ yếu với hai hình thức sau:
- Giám sát thường xuyên của cán bộ, hội viên nông dân ở cơ sở
Đây là hình thức được áp dụng nhiều và phù hợp với Hội Nông dân cấp
cơ sở Vì Hội Nông dân cấp cơ sở là nơi gắn bó, liên hệ chặt chẽ với hội viên, nông dân; nơi trực tiếp thực hiện chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước có liên quan trực tiếp đến quyền và trách nhiệm của cán bộ, hội viên nông dân trên địa bàn
- Thành lập đoàn giám sát của Hội hoặc đoàn giám sát liên ngành do Hội Nông dân ở các cấp chủ trì, phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan như Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội – nghề nghiệp, các cơ quan quản lý nhà nước
Thành lập Đoàn giám sát do Hội Nông dân chủ trì trong các trường hợp
cụ thể như sau: Đối với thành lập Đoàn giám sát của Hội khi thực hiện sự chỉ đạo của cấp có thẩm quyền (cấp ủy cùng cấp, tổ chức Hội cấp trên) hoặc khi giám sát một số nội dung phức tạp, phạm vi giám sát rộng, cần thiết phải thành lập đoàn giám sát làm việc với đối tượng giám sát; các cơ quan, tổ chức liên
quan… để làm rõ nội dung giám sát Thành lập Đoàn giám sát liên ngành do Hội
Nông dân chủ trì khi thực hiện sự chỉ đạo, yêu cầu của các cấp có thẩm quyền (cấp ủy cùng cấp, tổ chức Hội cấp trên) hoặc có ký kết liên tịch để thực hiện công tác giám sát một số nội dung đã ký kết, cần có sự phối hợp với các cấp, các ngành liên quan như: Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các cơ quan quản lý nhà nước, Hội Nông dân các cấp
Trang 27Về trình tự giám sát:
Thứ nhất, đối với giám sát các cơ quan, tổ chức: Trình tự giám sát được
thực hiện như sau:
- Xây dựng chương trình, kế hoạch giám sát: Hằng năm, căn cứ thực tế việc tổ chức thực hiện các chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ở địa phương; kế hoạch giám sát của Hội Nông dân cấp trên; sự chỉ đạo của cấp ủy cùng cấp; kế hoạch phối hợp giám sát với Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam cùng cấp để xác định nội dung, đối tượng, phạm vi, hình thức giám sát cho phù hợp Bổ sung nội dung giám sát (khi cần thiết hoặc khi
có yêu cầu); đồng thời, xác định các nguồn lực thực hiện chương trình, kế hoạch giám sát gồm kinh phí, nhân lực và phương tiện cần có để triển khai thực hiện
Khi xây dựng chương trình, kế hoạch giám sát chú ý việc chọn nội dung giám sát liên quan đến lợi ích và dư luận nông dân quan tâm, phù hợp điều kiện thực tế và khả năng của tổ chức mình, vừa làm, vừa nghiên cứu, tổng kết và rút kinh nghiệm, bảo đảm thiết thực, hiệu quả
- Chương trình, kế hoạch giám sát được báo cáo với cấp ủy cùng cấp trước khi triển khai; thống nhất với cơ quan quản lý nhà nước liên quan để hỗ trợ triển khai thực hiện Chương trình, kế hoạch giám sát của Trung ương Hội gửi đến Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Chính phủ và Ủy ban Trung ương Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam để báo cáo, sau đó gửi Hội Nông dân các tỉnh, thành phố
để thực hiện Chương trình, kế hoạch giám sát của Hội Nông dân các cấp ở địa phương gửi đến cấp ủy, chính quyền và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp để báo cáo và tạo điều kiện hoặc phối hợp giám sát; gửi Hội Nông dân cấp trên trực tiếp để báo cáo; gửi Hội Nông dân cấp dưới để thực hiện (đối với cấp tỉnh, cấp huyện)
- Tổ chức thực hiện chương trình, kế hoạch giám sát: Thu thập thông
Trang 28tin về nội dung giám sát thông qua việc tiếp thu ý kiến phản ánh, kiến nghị trực tiếp tại các hội nghị sinh hoạt chi, tổ Hội; tiếp xúc trực tiếp với đối tượng
và nghiên cứu đơn thư khiếu nại, tố cáo của cán bộ, hội viên, nông dân; nghiên cứu văn bản, tài liệu, báo cáo của các cơ quan, tổ chức; phản ánh, kiến nghị của các tổ chức, cá nhân, ý kiến của các chuyên gia gửi về Hội và qua phản ánh của các phương tiện thông tin đại chúng; tổ chức đối thoại giữa đại diện của Hội với đối tượng giám sát; thông qua việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về dân chủ ở cơ sở, hoạt động của Ban thanh tra nhân dân, Ban giám sát đầu tư của cộng đồng; tham gia các hoạt động giám sát do các cơ quan dân cử đề nghị Khi đã có thông tin ban đầu, Hội cử cán bộ hoặc
tổ chức đoàn giám sát (khi cần thiết) làm việc với đối tượng giám sát yêu cầu cung cấp thông tin, tài liệu; trao đổi, phỏng vấn trực tiếp làm rõ nội dung cần quan tâm để có cơ sở đánh giá kết quả thực hiện nội dung giám sát
Trước khi tiến hành giám sát cần nghiên cứu kỹ văn bản, tài liệu, nắm vững các quy định trong chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước liên quan đến nội dung giám sát
Xem xét, đánh giá thông tin và đưa ra kiến nghị: Lãnh đạo Hội tổ chức họp có đoàn giám sát tham gia (nếu có) phân tích, đánh giá thông tin thu được thông qua việc đối chiếu, so sánh với những quy định của chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước để đánh giá, khẳng định những việc làm đúng, những mặt tích cực; phát hiện những sai sót, hạn chế, yếu kém trong tổ chức thực hiện và nguyên nhân để có cơ sở đưa ra kiến nghị sửa đổi, bổ sung chính sách cho phù hợp; tổ chức hội nghị, hội thảo để lấy ý kiến, bổ sung thêm thông tin và phân tích, đánh giá (nếu thấy cần thiết)
Khi tổ chức thực hiện giám sát ở cơ sở, cần chú trọng việc tuyên truyền, phổ biến mục đích, nội dung giám sát và vận động hội viên nông dân tích cực hưởng ứng tham gia, theo dõi, phát hiện, phản ánh, kiến nghị nhất là
Trang 29trong sinh hoạt chi, tổ Hội; việc giám sát phải bảo đảm tính khách quan, trung thực, có địa chỉ và nội dung cụ thể rõ ràng, đúng thực tế, có tác động tốt đối với đời sống ở nông thôn, nông dân; HND các cấp có quyền yêu cầu tổ chức được giám sát cung cấp thông tin về các vấn đề có liên quan đến nội dung giám sát Trường hợp cơ quan, tổ chức không cung cấp thông tin, thì báo cáo cấp trên trực tiếp quản lý cơ quan, tổ chức đó; trong quá trình thực hiện hoặc sau khi hoàn thành việc giám sát, nếu thấy cần thiết hoặc đối tượng được giám sát yêu cầu thì tổ chức đối thoại để làm rõ nội dung kiến nghị của Hội; qua giám sát phát hiện điển hình tiên tiến thì phối hợp với các cơ quan thông tin đại chúng tuyên truyền, phổ biến các bài học kinh nghiệm để nhân rộng
- Báo cáo kết quả giám sát: Báo cáo kết quả giám sát bằng văn bản, có chữ ký của người có thẩm quyền (thay mặt Ban Thường vụ) và được đóng dấu của tổ chức Hội Nội dung báo cáo: Thời gian, địa điểm, nội dung giám sát, chủ thể giám sát, đối tượng giám sát, cơ quan, tổ chức tham gia giám sát (nếu có) và quá trình thực hiện; nhận xét, đánh giá, khẳng định mức độ chấp hành chính sách, pháp luật hoặc các quy định của Đảng; kết quả thực hiện chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức được giám sát; những thành tích, đóng góp và những yếu kém, sai phạm cần phải được sửa chữa, khắc phục; những khó khăn, vướng mắc, những nội dung cụ thể của chủ trương, chính sách, pháp luật chưa phù hợp trong thực tiễn; kiến nghị những vấn đề cụ thể
Báo cáo của Trung ương Hội gửi đến Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Quốc hội, Chính phủ; Hội Nông dân các cấp gửi đến cấp ủy, HĐND, UBND cùng cấp và Hội Nông dân cấp trên trực tiếp; trường hợp chương trình, kế hoạch chỉ giám sát tại một cơ quan, một đơn vị, một doanh nghiệp thì kết thúc phải
có báo cáo giám sát gửi cho đối tượng giám sát và cơ quan quản lý trực tiếp của Đảng hoặc của Nhà nước cùng cấp; trường hợp chương trình, kế hoạch giám sát một cấp ủy, một cấp chính quyền thì kết thúc phải có báo cáo giám
Trang 30sát với cấp ủy, chính quyền đó và báo cáo lên Hội Nông dân cấp trên trực tiếp Ban Thường vụ Hội Nông dân các cấp chịu trách nhiệm về những nội dung, kết quả giám sát trong báo cáo của cấp mình
- Theo dõi việc giải quyết kiến nghị: Hội Nông dân các cấp có trách nhiệm theo dõi việc giải quyết của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền
về những kiến nghị của Hội trong báo cáo kết quả giám sát; khi kiến nghị của Hội chưa được xem xét, giải quyết hoặc giải quyết chưa thỏa đáng thì tiếp tục phản ánh lên cấp có thẩm quyền và Hội Nông dân cấp trên trực tiếp
- Về tổ chức đoàn giám sát: Ban Thường vụ Hội Nông dân các cấp thành lập đoàn giám sát (khi cần thiết) đến làm việc với các cơ quan, tổ chức trong phạm vi giám sát để thực hiện nội dung giám sát; trong chương trình, kế hoạch giám sát nếu có nội dung phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp thì phải mời đại diện tham gia đoàn giám sát; khi đến giám sát cơ quan, đơn vị cấp dưới, phải mời đại diện cơ quan cấp trên trực tiếp quản lý đối tượng giám sát tham gia đoàn; khi thực hiện chương trình, kế hoạch giám sát tại doanh nghiệp phải mời đại diện cơ quan quản lý nhà nước về lĩnh vực của doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh tham gia đoàn giám sát
Thứ hai, đối với giám sát cá nhân, trình tự giám sát được tiến hành cụ
thể như sau:
Tổ chức tuyên truyền, vận động để cán bộ, hội viên, nông dân thường xuyên giám sát cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức nhà nước, đại biểu dân cử trong việc thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống, vai trò tiền phong, gương mẫu, trách nhiệm thực thi công vụ ở nơi công tác và nơi cư trú Kịp thời phản ánh, kiến nghị với tổ chức Hội về những hành vi vi phạm của đối tượng giám sát
Ban Thường vụ Hội Nông dân các cấp thường xuyên tiếp nhận ý kiến
Trang 31phản ánh, kiến nghị, đơn thư khiếu nại, tố cáo của cơ quan, tổ chức, cán bộ, hội viên, nông dân về những hành vi vi phạm chủ trương, chính sách, pháp luật của đối tượng giám sát; tiến hành phân loại, lựa chọn các sự việc có nội dung và địa chỉ rõ ràng; cử cán bộ gặp tổ chức, cá nhân phản ánh, kiến nghị; làm việc với cơ quan, tổ chức quản lý đối tượng giám sát để tìm hiểu, thu thập thông tin; khi cần thiết thành lập đoàn giám sát, tổ chức đối thoại với đối tượng giám sát; tổng hợp, phân tích thông tin đưa ra nhận xét, đánh giá, kiến nghị của Hội; báo cáo với cơ quan, tổ chức có thẩm quyền về kết quả giám sát
cá nhân trong việc chấp hành pháp luật, các quy định của Đảng, trách nhiệm thực thi công vụ, những thành tích, đóng góp; những sai phạm cần phải được sửa chữa, khắc phục và kiến nghị của Hội; theo dõi việc giải quyết kiến nghị của Hội
1.3 Lý luận và pháp luật về phản biện xã hội của HND Việt Nam
1.3.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò phản biện xã hội của Hội Nông dân Việt Nam
1.3.1.1 Khái niệm phản biện xã hội của Hội Nông dân Việt Nam
Theo Từ điển Tiếng Việt, phản biện được hiểu là “ xem xét, đánh giá
chất lượng một công trình khoa học trước một hội đồng chấm thi, nghiệm thu
đề tài ”[40, tr.375]
Theo Quyết định số 22/2002/QĐ-TTg ngày 30/01/2002 của Thủ tướng
Chính phủ thì phản biện được hiểu là: "hoạt động cung cấp các thông tin, tư
liệu, cùng các ý kiến phân tích, đánh giá tính khả thi và các kiến nghị về sự phù hợp của nội dung đề án đối với mục tiêu và các điều kiện ràng buộc ban đầu hoặc thực trạng đặt ra"
Như vậy, có thể hiểu phản biện là sự nhận xét, đánh giá thẩm định chất
lượng một dự án, công trình khoa học, hay một chủ trương, chính sách, pháp luật, nêu rõ những điểm đồng ý, không đồng ý (quan điểm, chủ trương, tính
Trang 32khả thi ) và đề xuất chính kiến về những vấn đề còn có ý kiến khác nhau, mang tính khoa học
Theo đó, phản biện của Hội Nông dân Việt Nam là việc Hội Nông dân
Việt Nam tổ chức nhận xét, đánh giá, nêu chính kiến, kiến nghị đối với dự thảo các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước
1.3.1.2 Đặc điểm phản biện xã hội của Hội Nông dân Việt Nam
Tính chất phản biện xã hội của Hội Nông dân Việt Nam mang tính nhân dân, khách quan, xây dựng, khoa học và thực tiễn nhằm phát hiện những nội dung chưa phù hợp trong dự thảo văn bản của Nhà nước, góp phần bảo đảm tính đúng đắn, phù hợp với thực tiễn đời sống xã hội và tính hiệu quả trong hoạch định, chính sách pháp luật của Nhà nước; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của hội viên nông dân
Chủ thể phản biện xã hội mở ra cho tất cả các cấp Hội từ trung ương đến
cơ sở; phản biện xã hội là quyền và trách nhiệm của tổ chức Hội từ trung ương đến cơ sở Nhằm phát huy vai trò, vị thế của Hội Nông dân trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, những năm gần đây, trong các văn bản của Đảng
và Hiến pháp 2013 thì hoạt động phản biện xã hội đã được mở ra cho tất cả các cấp Hội Nông dân đều có quyền phản biện xã hội với nhiều lĩnh vực có liên quan đến mọi mặt của hội viên nông dân
Đối tượng phản biện xã hội của Hội Nông dân Việt Nam được mở rộng, đa dạng, hầu hết các lĩnh vực của đời sống chính trị, xã hội bao gồm: các văn bản dự thảo về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật, các quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án phát triển kinh tế, văn hóa,
xã hội của Nhà nước (trừ những vấn đề thuộc bí mật quốc gia)
Nội dung phản biện xã hội của Hội Nông dân Việt Nam chủ yếu là phản biện sự cần thiết, tính cấp thiết; sự phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; tính đúng đắn, khoa học, khả
Trang 33thi; dự báo tác động, hiệu quả về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại của dự thảo văn bản, bảo đảm lợi ích chính đáng của hội viên nông dân
Hoạt động phản biện xã hội được thực hiện theo nguyên tắc dân chủ, công khai, minh bạch, bảo đảm sự tham gia của cán bộ Hội, hội viên nông dân; tôn trọng các ý kiến khác nhau nhưng không trái với quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của hội viên nông dân
Mang tính xã hội sâu sắc, bên tổ chức phản biện và phản biện phải đứng trên lập trường của hội viên nông dân Do đó, phản biện xã hội giúp cho bên yêu cầu được phản biện đưa ra quyết định đúng đắn nhằm phát huy quyền làm chủ của nông dân tham gia xây dựng chủ trương của Đảng, pháp luật và chính sách cụ thể của nhà nước, góp phần hoàn thiện các chủ trương, chính sách, pháp luật sát hợp với thực tiễn của đời sống xã hội, bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp chính đáng và thể hiện được ý chí, nguyện vọng của hội viên nông dân
1.3.1.3 Vai trò phản biện xã hội của Hội Nông dân Việt Nam
Phản biện xã hội của Hội Nông dân Việt Nam góp phần bảo vệ quyền
và lợi ích chính đáng, hợp pháp của hội viên nông dân và của tổ chức Hội; đây là một trong những chức năng, nhiệm vụ quan trọng của các cấp Hội nhằm vận động, phát huy dân chủ, phát động cán bộ, hội viên nông dân tăng cường trách nhiệm, mạnh dạn góp ý, tham gia phản biện để mọi chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước có tính khả thi cao, sát thực tiễn, đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của hội viên nông dân
Phản biện xã hội của Hội Nông dân Việt Nam góp phần nâng cao tinh thần trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức và cá nhân trong việc tham mưu, hoạch định các chủ trương, chính sách, kế hoạch, quy hoạch Nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy Đảng và Nhà nước và của cán
Trang 34bộ, công chức, viên chức
Phản biện xã hội của Hội Nông dân Việt Nam là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với hội viên nông dân Hội Nông dân Việt Nam chuyển tải dự thảo của các văn bản của Đảng, Nhà nước đến tận hội viên nông dân Tổng hợp báo cáo những phản ánh, đề xuất, kiến nghị, góp ý của hội viên nông dân để Đảng, Nhà nước xem xét, chỉnh sửa, bổ sung cho phù hợp với tâm tư, nguyện vọng chính đáng của hội viên nông dân
Phản biện xã hội của Hội Nông dân Việt Nam góp phần nâng cao vị thế của Hội Nông dân Việt Nam trong hệ thống chính trị Phản biện xã hội tốt sẽ góp phần hoàn thiện các chủ trương, chính sách, pháp luật phù hợp với thực tiễn của đời sống xã hội, bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp chính đáng và thể hiện được ý chí, nguyện vọng của hội viên nông dân
Phản biện của Hội Nông dân Việt Nam góp phần quan trọng cùng nhiều kênh phản biện xã hội khác giúp cho Đảng và Nhà nước hoạch định chính sách, đảm bảo hài hòa các lợi ích xã hội
1.3.2 Chủ thể, đối tượng, nội dung, hình thức và trình tự phản biện
xã hội của Hội Nông dân Việt Nam
1.3.2.1 Chủ thể phản biện xã hội
Chủ thể phản biện xã hội của Hội Nông dân Việt Nam là tổ chức Hội ở các cấp từ Trung ương đến cơ sở (bao gồm Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Hội Nông dân các cấp)
Đối với Trung ương Hội, chủ thể phản biện bao gồm cả các cơ quan giúp việc Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Trung ương Hội NDVN như: Văn phòng, các ban, các trung tâm, Trường cán bộ Hội NDVN, Trường trung cấp nghề Hội NDVN, Báo Nông thôn ngày nay, Tạp chí nông thôn mới
Đối với Hội Nông dân các tỉnh, thành phố, chủ thể phản biện bao gồm
cả các cơ quan giúp việc Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Hội Nông dân tỉnh,
Trang 35thành phố như: Văn phòng, Ban Tổ chức - Kiểm tra, Ban Kinh tế - Xã hội, Ban Tuyên huấn, Trung tâm Dạy nghề và Hỗ trợ việc làm
Các chủ thể này căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ chuyên môn được giao của mình để tham mưu, tổ chức thực hiện công tác phản biện xã hội thuộc mảng, lĩnh vực mình phụ trách
1.3.2.2 Đối tượng phản biện
Đối tượng phản biện của Hội Nông dân Việt Nam là các văn bản dự thảo về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật, các quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của Nhà nước (trừ những vấn đề thuộc bí mật quốc gia) phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của Hội Nông dân Việt Nam
Theo đó, giữa các chủ thể phản biện xã hội của Hội Nông dân Việt Nam có sự phân định thẩm quyền cụ thể như sau:
Trung ương Hội chủ trì phản biện xã hội đối với các dự thảo văn bản về chủ trương, đường lối của Trung ương Đảng, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật có liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của hội viên, nông dân, tổ chức, hoạt động, chức năng, nhiệm vụ của Hội Nông dân Việt Nam do các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền ở Trung ương yêu cầu Phối hợp với Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị - xã hội thực hiện nhiệm vụ phản biện xã hội đối với những nội dung có liên quan
Hội Nông dân các cấp ở địa phương chủ trì phản biện xã hội đối với các
dự thảo văn bản về chủ trương, nghị quyết của cấp ủy đảng cùng cấp, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật có liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của hội viên, nông dân; tổ chức, hoạt động, quyền và trách nhiệm của Hội Nông dân do các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cùng cấp ở địa phương yêu cầu Phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị - xã hội cùng cấp thực hiện nhiệm vụ phản biện xã hội đối
Trang 36với những nội dung có liên quan
1.3.2.3 Nội dung phản biện xã hội
Căn cứ theo Quyết định 217 của Bộ Chính trị quy định và Hướng dẫn
số 637-HD/HNDTW của Trung ương Hội Nông dân Việt Nam thì Hội Nông dân Việt Nam có quyền phản biện xã hội với các nội dung sau:
Sự cần thiết, tính cấp thiết của văn bản dự thảo cần phản biện xã hội Sự phù hợp của văn bản dự thảo với chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Tính đúng đắn, khoa học, phù hợp với thực tiễn nông nghiệp, nông dân, nông thôn và tính khả thi của văn bản dự thảo Dự báo tác động của chủ trương, chính sách đến nông nghiệp, nông thôn và đời sống nông dân của văn bản dự thảo Tham gia phản biện xã hội các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của nhà nước, nhất là các dự án luật, pháp lệnh, các dự thảo chương trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của từng địa phương là một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng và thường xuyên của MTTQVN và của các
tổ chức chính trị - xã hội Phản biện xã hội trong lĩnh vực này bao hàm từ việc đóng góp ý kiến, tham gia các ban soạn thảo đến việc xem xét kiến nghị điều
chỉnh, bổ sung các dự thảo văn bản pháp luật trước khi ban hành [17, tr.4]
1.3.2.4 Hình thức và trình tự phản biện xã hội
Về hình thức phản biện xã hội
Các cấp Hội Nông dân căn cứ vào tính chất, đối tượng, phạm vi điều chỉnh của nội dung dự thảo, yêu cầu phản biện của từng loại văn bản và quỹ thời gian chuẩn bị ý kiến phản biện, Hội thực hiện phản biện thông qua các hình thức sau:
- Tổ chức hội nghị: cấp nào phản biện thì tổ chức hội nghị Ban Chấp hành, hoặc Ban Thường vụ mở rộng cấp đó Khi tổ chức có mời đại diện có trách nhiệm của cơ quan, tổ chức yêu cầu phản biện
- Tổ chức hội thảo khoa học lấy ý kiến của cán bộ Hội, các nhà khoa
Trang 37học, cán bộ quản lý, các chuyên gia
- Gửi văn bản dự thảo đến Hội Nông dân cấp dưới hoặc cấp trên; các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan để lấy ý kiến phản biện
Về trình tự phản biện xã hội
- Xây dựng kế hoạch phản biện: Khi có yêu cầu phản biện của cơ quan,
tổ chức; thông báo của cấp ủy đảng, chính quyền cùng cấp về kế hoạch xây dựng văn bản hằng năm gửi đến Hội hoặc đăng công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng, Hội Nông dân các cấp xây dựng kế hoạch phản biện của cấp mình đối với văn bản dự thảo có nội dung liên quan đến quyền lợi, nghĩa
vụ của hội viên, nông dân; liên quan đến quyền hạn, trách nhiệm của Hội
Dự toán nguồn lực thực hiện: kinh phí, nhân lực và thời gian thực hiện Chú ý xây dựng kế hoạch dự phòng cho khối lượng công việc phát sinh để chủ động về kế hoạch
- Tổ chức phản biện: Căn cứ vào tính chất, đối tượng, phạm vi, nội dung dự thảo, yêu cầu phản biện của từng loại văn bản và quỹ thời gian chuẩn
bị ý kiến phản biện, Hội thực hiện phản biện thông qua các hình thức sau:
Tổ chức hội nghị: cấp nào phản biện thì tổ chức hội nghị Ban Chấp hành, hoặc Ban Thường vụ mở rộng cấp đó Khi tổ chức cần mời đại diện có trách nhiệm của cơ quan, tổ chức yêu cầu phản biện
Tổ chức hội thảo khoa học lấy ý kiến của cán bộ Hội, các nhà khoa học, cán bộ quản lý, các chuyên gia
Gửi văn bản dự thảo đến Hội Nông dân cấp dưới hoặc cấp trên; các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan để lấy ý kiến phản biện
Tổng hợp, phân tích các ý kiến phản biện để đưa ra nhận xét, đánh giá
và kiến nghị của Hội về những nội dung của văn bản dự thảo
Trong quá trình thực hiện hoặc sau khi hoàn thành việc phản biện, nếu thấy cần thiết hoặc cơ quan, tổ chức có văn bản dự thảo được phản biện yêu
Trang 38cầu thì tổ chức đối thoại để làm rõ nội dung phản biện hoặc nội dung kiến nghị của Hội
- Gửi kết quả phản biện: Kết quả phản biện được thể hiện bằng văn bản,
có chữ ký của người có thẩm quyền (thay mặt Ban Thường vụ), được đóng dấu của tổ chức Hội và gửi đến cơ quan, tổ chức yêu cầu phản biện Nội dung văn bản:
Nhận xét, đánh giá, quan điểm của tổ chức Hội về những nội dung trong dự thảo còn thiếu, chưa sát, chưa đúng, chưa phù hợp
Kiến nghị, đề xuất những vấn đề cụ thể, phù hợp với thực tiễn trong phát triển nông nghiệp, nông thôn; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của hội viên, nông dân; quyền và trách nhiệm của Hội
Ban Thường vụ Hội Nông dân các cấp chịu trách nhiệm về những nội dung phản biện của cấp mình và bảo đảm bí mật nội dung thông tin phản biện theo yêu cầu của cơ quan, tổ chức có văn bản dự thảo (nếu có)
- Theo dõi việc tiếp thu ý kiến phản biện: Hội Nông dân các cấp có trách nhiệm theo dõi việc tiếp thu ý kiến phản biện của cơ quan, tổ chức yêu cầu phản biện và những kiến nghị của Hội
Khi cơ quan, tổ chức yêu cầu phản biện chưa tiếp thu ý kiến phản biện của Hội mà không được trả lời bằng văn bản hoặc việc tiếp thu chưa thỏa đáng, Hội Nông dân các cấp bảo lưu ý kiến phản biện của cơ quan mình và phản ánh lên cấp có thẩm quyền
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới giám sát, phản biện xã hội của Hội Nông dân Việt Nam
1.4.1 Mức độ ổn định của chế độ chính trị và vị thế của Hội Nông dân Việt Nam trong hệ thống chính trị Việt Nam
Giám sát, phản biện xã hội là chủ trương mới của Đảng ta nhằm phát huy và mở rộng dân chủ trong xã hội, khơi dậy ý thức và trách nhiệm xã hội,
Trang 39huy động sự tham gia của các tổ chức nhân dân và cá nhân vào việc xây dựng chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, bảo đảm cho chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước khi ban hành được sự hưởng ứng và chấp hành nghiêm chỉnh của hội viên nông dân, khắc phục được những khiếm khuyết, quan liêu, chủ quan, lợi ích cục bộ, xa thực tế, thiếu tính khả thi và hình thức trong quá trình xây dựng đồng thời chất lượng xây dựng văn bản từng bước được nâng cao
Hệ thống chính trị nước ta có một Đảng duy nhất lãnh đạo, do đó nền dân chủ XHCN của chúng ta ở trạng thái phát triển không có đối trọng Trong bối cảnh đó không thể không nói đến nguy cơ chủ quan, tiềm ẩn mà Đảng ta phải đối mặt đó là lạm quyền và quan liêu, độc đoán, vi phạm dân chủ trong
bộ máy Đảng và Nhà nước, vi phạm quyền làm chủ của nhân dân Vì vậy, vấn
đề đặt ra cấp bách hiện nay là cần phải nghiên cứu lại hệ thống kiểm soát quyền lực, trong đó có vấn đề giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội Hội Nông dân Việt Nam với vai trò tập hợp đoàn kết nông dân, xây dựng giai cấp nông dân vững mạnh về mọi mặt, xứng đáng
là lực lượng tin cậy trong khối liên minh vững chắc công, nông, trí, bảo đảm thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn; Hội tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, xây dựng Hội vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức và hành động; nâng cao vai trò đại diện, phát huy quyền làm chủ, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của hội viên, nông dân, chính vì vậy Hội Nông dân Việt Nam cần phải
tổ chức, thực hiện tốt công tác giám sát, phản biện xã hội
Giám sát, phản biện xã hội thể hiện quan hệ hợp tác, phối hợp giữa chủ thể và đối tượng Do đó, cần có sự thống nhất về nhận thức và hành động trong toàn Đảng, nhà nước và xã hội, nhất là trong cán bộ, công chức và hội viên nông dân Từ đó các kiến nghị, đề xuất của Hội Nông dân Việt Nam phải
Trang 40được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền tiếp nhận và giải trình đầy đủ
1.4.2 Mức độ hoàn thiện của pháp luật về Hội và pháp luật về giám sát, phản biện xã hội
Mức độ hoàn thiện của pháp luật là cơ chế hữu hiệu đảm bảo cho HNDVN thực hiện quyền giám sát, phản biện xã hội Bảo đảm cho hội viên nông dân kiểm tra, giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước, đại biểu dân
cử và cán bộ, công chức nhà nước, cũng như thực hiện việc phản biện xã hội đối với quá trình xây dựng, hoạch định các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước phải trên cơ sở quán triệt quan điểm của Đảng về mở rộng dân chủ, tạo điều kiện để HVND tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội, thảo luận và quyết định những vấn đề quan trọng, tăng cường hoạt động giám sát của HVND Đồng thời, luôn suy tôn quyền tối thượng của Hiến pháp, bảo đảm thực hiện nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, song có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong thực hiện quyền lực nhà nước, nhằm xây dựng các thiết chế giám sát có hiệu quả, tránh sự chồng chéo về chức năng nhiệm vụ, bảo đảm để nhân dân thực hiện quyền giám sát, phản biện xã hội
1.4.3 Mức độ hợp lý về bộ máy và các mối quan hệ phối hợp trong giám sát, phản biện xã hội của Hội Nông dân Việt Nam
Để thực hiện tốt công tác giám sát, phản biện xã hội mà Đảng đã giao cho Hội Nông dân Việt Nam, các cấp Hội Nông dân Việt Nam phải có đủ nhân tài vật lực để đảm đương nhiệm vụ này Có đủ con người với đầy đủ kiến thức pháp luật, nhiệt huyết, thực thi nhiệm vụ trên tinh thần lợi ích chính đáng của hội viên nông dân Để thực hiện tốt nhiệm vụ này, cần phải có sự quan tâm lãnh chỉ đạo sâu sát của các cấp ủy Đảng, sự tạo điều kiện của các cấp chính quyền và sự phối hợp chặt chẽ của các ban, ngành chức năng chuyên môn Bởi
lẻ cán bộ của các cấp Hội Nông dân Việt Nam không có chuyên môn trên tất cả