1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng một số trò chơi học tập rèn kĩ năng viết đúng chính tả cho học sinh lớp 2 trường tiểu học số 1 hồng thủy – lệ thủy – quảng bình

75 278 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 1,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CHƯƠNG II: MỘT SỐ TRÒ CHƠI HỌC TẬP RÈN KĨ NĂNG VIẾT ĐÚNG CHÍNH TẢ CHO HỌC SINH LỚP 2 TRƯỜNG TIỂU HỌC SỐ 1 HỒNG THỦY – LỆ THỦY – QUẢNG BÌNH .... Vì những lí do trên tôi chọn đề tài “Xây d

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong khóa luận là trung thực, khách quan và chưa từng được công bố trong bất kì một công trình nào khác

Tác giả

Nguyễn Thị Minh

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khóa luận này em xin chân thành gửi lời cảm ơn sâu sắc đến

TS Nguyễn Thị Nga – Giảng viên Trường Đại học Quảng Bình đã tận tình giúp

đỡ em hoàn thành khóa luận này

Xin chân thành cảm ơn tập thể giảng viên Khoa Sư phạm Tiểu học –Mầm non đã tạo điều kiện để em hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp kết thúc khóa học của mình

Cảm ơn Ban giám hiệu, các thầy cô cùng các em học sinh Trường Tiểu học

Số 1 Hồng Thủy đã tạo điều kiện cho em điều tra, tìm hiểu và tổ chức thực nghiệm

Và em cũng xin tỏ lòng biết ơn đối với những người thân trong gia đình cũng như bạn bè đã động viên, giúp đỡ em rất nhiều cả về tinh thần, vật chất trong quá trình thực hiện khóa luận

Trong quá trình thực hiện khóa luận, do điều kiện, năng lực, thời gian nghiên cứu còn hạn chế, khóa luận nghiên cứu không tránh khỏi những sai sót Rất mong nhận được sự góp ý của thầy cô, các bạn để khóa luận được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Quảng Bình, tháng 05 năm 2018

Tác giả

Nguyễn Thị Minh

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC VIẾT TẮT vi

A PHẦN MỞ ĐẦU 1

1.Lý do chọn đề tài 1

2.Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 4

4 Mục đích nghiên cứu 4

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

6 Phạm vi nghiên cứu 4

7 Phương pháp nghiên cứu 4

8 Đóng góp của đề tài 5

9 Cấu trúc của đề tài 5

B.PHẦN NỘI DUNG 7

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 7

1.1.Cơ sở lí luận 7

1.1.1 Một số khái niệm liên quan đến đề tài 7

1.1.2 Tầm quan trọng của phân môn Chính tả ở Tiểu học 8

1.1.3 Ý nghĩa và cách tổ chức trò chơi học tập trong giờ Chính tả 10

1.1.4 Đặc điểm tâm, sinh lí của học sinh Tiểu học ảnh hưởng đến việc rèn luyện kĩ năng viết đúng chính tả 12

1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 14

1.2.1 Nội dung chương trình, SGK dạy học phân môn chính tả lớp 2 14

1.2.2 Phương ngôn xã Hồng Thủy và lỗi chính tả do ảnh hưởng phương ngôn ở Trường Tiểu học Số 1 Hồng Thủy 16

1.2.3 Khảo sát thực trạng dạy học chính tả, kĩ năng viết đúng chính tả và sử dụng trò chơi trong dạy học chính tả trường Tiểu học số 1 Hồng Thủy 20

Trang 4

CHƯƠNG II: MỘT SỐ TRÒ CHƠI HỌC TẬP RÈN KĨ NĂNG VIẾT ĐÚNG CHÍNH TẢ CHO HỌC SINH LỚP 2 TRƯỜNG TIỂU HỌC SỐ 1 HỒNG

THỦY – LỆ THỦY – QUẢNG BÌNH 30

2.1 Nhóm trò chơi rèn kĩ năng viết đúng phụ âm đầu 30

2.1.1 Trò chơi “Ai nhanh, ai đúng” 31

2.1.2 Trò chơi “Đi tìm lời thơ” 33

2.1.3 Trò chơi “ Chọn món ăn” 35

2.1.4 Trò chơi “Thi trồng cây” 37

2.2 Nhóm trò chơi rèn kĩ năng viết đúng âm chính 39

2.2.1 Trò chơi “Ghi nhớ qua tranh” 39

2.2.2 Trò chơi “Chung sức” 40

2.2.3 Trò chơi “Trèo lên đỉnh núi Phan – xi - păng” 41

2.2.4 Trò chơi “Đếm số cánh hoa” 43

2.3 Nhóm trò chơi rèn kĩ năng viết đúng dấu thanh 44

2.3.1 Trò chơi “Nhanh tay điền dấu” 44

2.3.2 Trò chơi “Tập làm cô giáo” 46

2.3.3 Trò chơi “Rung chuông vàng” 47

2.3.4 Trò chơi “Xoay mặt chú hề” 48

CHƯƠNG III: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 52

3.1 Những vấn đề chung 52

3.1.1 Mục đích thực nghiệm 52

3.1.2 Đối tượng, thời gian, địa bàn thực nghiệm 52

3.1.3 Nội dung thực nghiệm 52

3.2 Thiết kế giáo án 53

3.2.1 Giáo án đối chứng 53

3.2.2 Giáo án thực nghiệm 56

3.2.3 Phiếu kiểm tra và kết quả thực nghiệm 59

C.KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 63

D TÀI LIỆU THAM KHẢO 66

PHỤ LỤC 67

Trang 5

DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ

Bảng 1: Bảng thống kê 24

Bảng 2: Bảng thống kê các loại lỗi về thanh điệu 24

Bảng 3: Bảng thống kê các loại lỗi về phụ âm đầu 24

Bảng 4: Bảng thống kê các loại lỗi về phần vần 25

Bảng 5: Nhận thức của GV về sự cần thiết của việc sử dụng trò chơi học tập trong giờ chính tả 27

Bảng 6: Nhận thức của GV về vai trò của trò chơi sử dụng trong tiết chính tả 28

Bảng 3.1.3: Bảng điều tra chất lượng ban đầu 53

Biểu đồ 3.1.3: Biểu đồ điều tra chất lượng ban đầu 51

Bảng 3.2.3: Bảng đối chiếu kết quả thực nghiệm 60

Biểu đồ 3.2.3: Biểu đồ đối chiếu kết quả thực nghiệm 59

Trang 7

A PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trường Tiểu học là nơi đào tạo thế hệ trẻ trở thành những con người mới

có trình độ văn hóa và cũng là nơi có trách nhiệm rèn luyện cho các em việc giữ gìn và sử dụng đúng ngôn ngữ Tiếng Việt Chính từ nơi đây nhà trường đã đào tạo nền móng đầu tiên cho học sinh biết giữ gìn, biết bảo vệ và phát triển ngôn ngữ của dân tộc Vì vậy dạy cho học sinh về Tiếng Việt một cách cơ bản có hệ thống là một điều hết sức quan trọng Tình trạng học sinh phát âm chưa được chuẩn, việc rèn các em phát âm không chuẩn, không đúng, nghe không chính xác dẫn đến viết sai lỗi chính tả

Chính tả trong nhà trường giúp học sinh hình thành năng lực và thói quen viết đúng chính tả, nói rộng hơn là năng lực và thói quen viết đúng tiếng Việt văn hóa, tiếng Việt chuẩn mực… Vì vậy, phân môn Chính tả có vị trí quan trọng trong cơ cấu chương trình môn Tiếng Việt nói riêng, các môn học ở nhà trường phổ thông nói chung Làm thế nào để các em biết phát âm đúng, viết đúng chính tả là điều băn khoăn, lo lắng đối với người làm công tác giáo dục Những năm gần đây, cùng với sự đầu tư và phát triển của giáo dục ngày càng được nâng cao, giáo viên không ngừng học tập tích lũy chuyên môn, tích cực đổi mới phương pháp dạy học trong đó có việc đổi mới phương pháp dạy học chính tả cho học sinh Việc rèn kĩ năng viết đúng chính tả cho học sinh bên cạnh những thành công còn có một số hạn chế, nhất là đối với lớp 2 các em mới chuyển từ lớp 1 lên, qua ba tháng nghỉ hè, nhiều em không thường xuyên ôn luyện nên khi bắt đầu vào năm học mới, kĩ năng viết của một số em còn yếu, chính tả còn sai nhiều Vì thế giáo viên cần có phương pháp dạy học phù hợp nhằm rèn kĩ năng viết đúng chính tả cho các em

Hiện nay nhiều phương pháp dạy học mới đã và đang được áp dụng vào trường tiểu học Trong đó có sự kết hợp hài hòa giữa việc sử dụng các phương pháp dạy học truyền thống và vận dụng có hiệu quả các hình thức tổ chức dạy học tích cực Một trong những phương pháp dạy học tích cực ở tiểu học đang được giáo viên chú trọng là phương pháp tổ chức trò chơi học tập Thông qua

Trang 8

hoạt động thực hành nói chung và các trò chơi nói riêng, hoạt động dạy học sẽ gây hứng thú học tập cho học sinh HS tuổi Tiểu học rất thích trò chơi học tập bởi lẽ nó phù hợp với đặc điểm tâm, sinh lí của các em Trò chơi học tập là một phương pháp được áp dụng trong quá trình dạy học nhằm nâng cao hiệu quả dạy

và học Sử dụng trò chơi học tập tạo không khí lớp học sôi động, vui vẻ, làm cho việc tiếp nhận các kiến thức của môn Chính tả trở nên nhẹ nhàng, hấp dẫn Việc đưa trò chơi vào dạy phân môn Chính tả ở tiểu học là việc làm phù hợp và thiết thực đối với việc dạy và học Góp phần vào việc thực hiện nguyên lí giáo dục:

“Học đi đôi với hành”

Được sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Hồng Thủy, được tiếp xúc và giao tiếp nhiều với các em Tiểu học, tôi nhận thấy vấn đề này ở trường Tiểu học Số 1 Hồng Thủy còn nhiều bất cập Là một trường nằm ở vùng nông thôn, điều kiện

cơ sở vật chất chưa đầy đủ, thường sử dụng tiếng địa phương vào học tập dẫn đến chất lượng dạy và học chính tả chưa cao Việc rèn kĩ năng viết đúng chính tả cho học sinh đã được giáo viên quan tâm nhưng chưa có cách khắc phục cụ thể, việc sử dụng phương pháp tổ chức trò chơi ở trường vẫn chưa được chú trọng nên chưa đạt kết quả cao

Vì những lí do trên tôi chọn đề tài “Xây dựng một số trò chơi học tập rèn

kĩ năng viết đúng chính tả cho học sinh lớp 2 Trường Tiểu học Số 1 Hồng Thủy – Lệ thủy – Quảng Bình” để làm đề tài nghiên cứu, nhằm nâng cao kĩ

năng viết chính tả cho các em học sinh lớp 2 nói riêng và học sinh Tiểu học nói chung

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Chính tả là một phân môn có vị trí quan trọng trong chương trình môn Tiếng Việt ở Tiểu học Giai đoạn Tiểu học là giai đoạn then chốt trong quá trình hình thành kĩ năng cho HS Rèn luyện kĩ năng viết chính tả cho HS thế nào cho đạt hiệu quả, trong những năm gần đây có nhiều công trình nghiên cứu đưa ra các phương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học Tiếng Việt Và phương pháp sử dụng trò chơi học tập là một phương pháp như thế

Trang 9

Xoay quanh vấn đề trò chơi học tập và sử dụng trò chơi học tập trong dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học nói chung và Chính tả nói riêng đã có nhiều công trình nghiên cứu và nhiều ý kiến, quan điểm

“Phương pháp dạy học tiếng Việt ở Tiểu học” ( NXB Đại học Sư phạm

2002) với mục tiêu trang bị cho HS những kiến thức cơ bản hiện đại và các kĩ năng giảng dạy Tiếng Việt ở Tiểu học Giáo trình cung cấp thông tin về những vấn đề chung của phương pháp dạy học Tiếng Việt và phương pháp dạy học trong các phân môn của Tiếng Việt ở Tiểu học Bên cạnh đó các tác giả còn đưa

ra nhiều phương pháp dạy học và hình thức tổ chức dạy học phát huy tính tích cực chủ động của HS trong từng phân môn cụ thể Trong đó có phương pháp sử dụng trò chơi học tập

“ Dạy và học môn Tiếng Việt ở Tiểu học theo chương trình mới” (NXB

Giáo dục – 2000) nếu biết sử dụng đúng lúc đúng chỗ các trò chơi học tập sẽ có tác dụng rất tích cực kích thích hứng thú học tập và nâng cao chất lượng bài học Các tác giả Trần Mạnh Hưởng, Nguyễn Thị Hạnh, Lê phương Nga khi bàn

về sử dụng trò chơi học tập họ cho rằng những trò chơi đưa vào sách thường dựa vào nội dung cụ thể của từng phân môn

“Dạy học Chính tả ở Tiểu học” (NXB Giáo dục -2003) đã cung cấp những

thông tin cụ thể chi tiết về đặc điểm ngữ âm và chữ viết Tiếng Việt liên quan đến chính tả cũng như quy tắc chính tả Đây là tài liệu cần thiết cho các giáo viên Tiểu học đang giảng dạy phân môn Chính tả ở những vùng phương ngữ Tóm lại, sử dụng trò chơi trong dạy học Tiếng Việt thì nội dung bài học được các nhà nghiên cứu cho là các yếu tố quyết định Mặt khác, thông qua trò chơi học tập, HS được phát triển một cách toàn diện cả thể lực, trí tuệ lẫn nhân cách Đưa trò chơi vào lớp học làm cho việc học tập các phân môn Tiếng Việt thêm nhẹ nhàng hiệu quả Tuy nhiên sử dụng trò chơi trong dạy học Chính tả cho HS thuộc vùng phương ngữ chưa có nhiều công trình nghiên cứu

Những công trình nghiên cứu trên là những tiền đề lí luận quan trọng để

chúng tôi lựa chọn đề tài “ Xây dựng trò chơi học tập rèn kĩ năng viết đúng

Trang 10

chính tả cho học sinh lớp 2 trường Tiểu học Số 1 Hồng Thủy –Lệ Thủy –Quảng Bình”

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

a Khách thể nghiên cứu

Quá trình rèn kĩ năng viết đúng chính tả cho HS lớp 2 Trường Tiểu học Số

1 Hồng Thủy –Lệ Thủy – Quảng Bình

b Đối tượng nghiên cứu

Trò chơi rèn kĩ năng viết đúng chính tả cho HS lớp 2

HS lớp 2 Trường Tiểu học Số 1 Hồng Thủy –Lệ Thủy –Quảng Bình

4 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài, chúng tôi nhằm những mục đích sau:

Đi thực tế tiếp xúc môi trường phổ thông rút ra một số kinh nghiệm chuẩn

bị tâm thế và kiến thức, kĩ năng bước vào thực tế giảng dạy khi ra trường

Xây dựng một số trò chơi nhằm bước đầu rèn kĩ năng viết đúng chính tả cho học sinh lớp 2 Trường Tiểu học Số 1 Hồng Thủy – Lệ Thủy – Quảng Bình

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài là:

Phân tích cơ sở lí luận chung về dạy –học phân môn Chính tả ở Tiểu học rèn kĩ năng viết đúng Chính tả, trò chơi học tập và ý nghĩa của trò chơi đối với việc rèn kĩ năng viết đúng chính tả cho HS

Xây dựng được các trò chơi thực sự có hiệu quả đối với việc rèn luyện kĩ năng viết đúng chính tả

Ứng dụng phù hợp các trò chơi vào trong tiết chính tả nhằm rèn kĩ năng viết đúng chính tả cho HS

6 Phạm vi nghiên cứu

Do điều kiện thời gian có hạn nên chúng tôi chỉ tập trung vào xây dựng một

số trò chơi ứng dụng trong các tiết chính tả trên lớp của lớp 2 Và chúng tôi tiến hành nghiên cứu trên HS lớp 2 Trường Tiểu học Số 1 Hồng Thủy –Lệ Thủy – Quảng Bình

7 Phương pháp nghiên cứu

Trang 11

a Phương pháp nghiên cứu lí thuyết

b Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Phương pháp quan sát

Mục đích của phương pháp này là nhằm quan sát thái độ học tập của các

em HS trong giờ Chính tả

Phương pháp điều tra

Thông qua các phiếu điều tra tôi thu thập các thông tin về phương pháp giảng dạy Điều tra về đặc điểm học sinh thuộc địa bàn nghiên cứu : vùng nông thôn, ngôn ngữ sử dụng tiếng địa phương…

Phương pháp thống kê xử lí số liệu

Phương pháp này được sử dụng nhằm làm việc với các con số: Tính toán, tổng hợp số liệu,…

Đề tài sẽ là tài liệu tham khảo bổ ích cho sinh viên cũng như giáo viên trong quá trình rèn kĩ năng viết đúng chính tả cho học sinh Tiểu học

9 Cấu trúc của đề tài

Ngoài phần Mở đầu, phần kết thúc, tài liệu tham khảo, mẫu phiếu điều tra,

phần nội dung của đề tài gồm 3 chương:

Trang 12

Chương I: Cơ sở khoa học của đề tài nghiên cứu

Chương II: Một số trò chơi học tập rèn kĩ năng viết đúng chính tả cho học sinh lớp 2 trường Tiểu học Số 1 Hồng Thủy – Lệ Thủy –Quảng Bình

Chương III: Thực nghiệm sư phạm

Trang 13

B PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Cơ sở lí luận

1.1.1 Một số khái niệm liên quan đến đề tài

Chính tả là sự chuẩn hoá hình thức chữ viết của ngôn ngữ Đó là một hệ thống các quy tắc về cách viết các âm vị, âm tiết, từ, cách dùng các dấu câu, lối viết hoa Nói một cách cụ thể, chính tả là hệ thống các quy định về việc viết chữ của một thứ tiếng, được xem là chuẩn mực [8, tr 121]

Kĩ năng viết chính tả là khả năng vận dụng những tri thức và hiểu biết đã

tả Không phải cách viết đúng các từ ngữ, âm tiết đều theo quy luật dễ nhớ mà

để có kĩ năng viết đúng chính tả cần quá trình rèn luyện ghi nhớ

Kĩ năng viết đẹp: Chữ viết đẹp, đúng kích cỡ, thẳng hàng, không bị lên dốc, xuống dốc Để có kĩ năng này cần đến quá trình rèn luyện lâu dài và đôi khi năng khiếu cũng rất quan trọng

Trò chơi là hoạt động vui chơi có chủ đề, có nội dung nhất định, có những quy định buộc người chơi phải tuân thủ nhằm mục đích vui chơi giải trí

Trò chơi học tập là trò chơi có nội dung gắn với hoạt động học tập của HS Phương pháp tổ chức trò chơi học tập là phương pháp tổ chức trò chơi học tập của HS mà trong đó HS lĩnh hội các kiến thức cần thiết nhờ tham gia tích cực vào các hoạt động của trò chơi

Bản chất của hình thức sử dụng trò chơi là dạy học thông qua việc tổ chức các hoạt động cho HS Dưới sự hướng dẫn của giáo viên, HS được hoạt động

Trang 14

bằng cách tự chơi trò chơi trong đó mục đích của trò chơi truyền tải mục tiêu bài học Luật chơi (cách chơi) thể hiện nội dung và phương pháp học, đặc biệt là phương pháp học tập có sự hợp tác và sự tự đánh giá

Thông qua các trò chơi học tập HS được luyện tập làm việc các nhân, trong đơn vị nhóm hoặc đơn vị lớp theo sự phân công với tinh thần hợp tác Trò chơi tạo cơ hội để HS học tập bằng hoạt động như là tự củng cố kiến thức, hoàn thiện

và rèn luyện kĩ năng

Chuẩn chính tả là việc chuẩn hóa hình thức chữ viết của ngôn ngữ Chuẩn chính tả phải được quy định rõ ràng, chi tiết tới từng từ của tiếng Việt phải được mọi người tuân theo Vấn đề đặt ra là chuẩn chính tả phải được xây dựng sao cho hợp lí, có độ tin cậy và sức thuyết phục cao Chuẩn chính tả có tính chất bắt buộc gần như tuyệt đối, chẳng hạn không thể viết là “ghách sáo, chia dẻ” mà phải viết là” khách sáo, chia sẻ” Chuẩn chính tả có tính chất ổn định cao, rất ít thay đổi, thường giữ nguyên trong thời gian dài nên thường tạo thành thói quen, tạo nên tâm lí trong lối viết của người bản ngữ Măc dù vậy, chuẩn chính tả không phải bất biến, khi chuẩn chính tả đã lỗi thời sẽ dần dần thay thế bằng những chuẩn chính tả mới Ví dụ: Chuẩn chính tả cũ: Đày tớ, trằm trồ Chuẩn chính tả mới: Đầy tớ, trầm trồ… Cũng như chuẩn ngôn ngữ chính tả là kết quả của sự lựa chọn giữa nhiều hình thức chính tả đang cùng tồn tại

1.1.2 Tầm quan trọng của phân môn Chính tả ở Tiểu học

* Vị trí phân môn Chính tả

Chính tả trong nhà trường giúp học sinh hình thành năng lực và thói quen viết đúng chính tả, nói rộng hơn là năng lực và thói quen viết đúng tiếng Việt văn hóa, tiếng Việt chuẩn mực… Vì vậy, phân môn Chính tả có vị trí quan trọng trong cơ cấu chương trình môn Tiếng Việt nói riêng, các môn học ở nhà trường phổ thông nói chung

Trong thực tiễn dạy học Chính tả cùng với tập viết, tập đọc, tập nói giúp cho người đọc chiếm lĩnh được Tiếng Việt văn hóa, công cụ để giao tiếp, tư duy

và học tập Từ đó hình thành và phát triển ở học sinh năng lực sử dụng Tiếng Việt (đặc biệt là kĩ năng viết) góp phần rèn luyện cho HS thao tác tư duy cơ bản,

Trang 15

cung cấp cho HS những hiểu biết sơ giản về tự nhiên xã hội để góp phần giáo dục và hình thành nhân cách cho HS Ngoài ra, Chính tả còn có vị trí hết sức quan trọng là rèn cho HS biết quy tắc chính tả và có thói quen viết chữ, ghi Tiếng Việt đúng và chuẩn Đồng thời khi HS hình thành được những kĩ năng đọc thông viết thạo là một tiền đề quan trọng trong việc lĩnh hội kho tàng tri thức và văn hóa của nhân loại được lưu trữ và ghi lại trong sách vở

Như vậy, rõ ràng việc viết nói chung và việc sửa lỗi chính tả nói riêng có vị trí đặc biệt quan trọng trong hoạt động làm giàu tri thức của các em Việc viết đúng chính tả không đơn giản là viết để viết, viết xong để đấy mà sâu hơn nữa còn phải giúp các em hiểu được nội dung văn bản, biết được mình đang diễn đạt những gì và cần viết cái gì để thấy được cái hay, cái đẹp trong câu chữ, trong ngôn ngữ Tiếng Việt và hiểu được ý nghĩa của chúng

* Nhiệm vụ của phân môn Chính tả

Nhiệm vụ chủ yếu quan trọng của phân môn Chính tả là cung cấp cho học sinh những quy tắc chính tả của Tiếng Việt và rèn luyện cho các em hình thành

kĩ năng viết đúng chính tả trong bài viết của mình Bên cạnh đó, việc dạy học chính tả còn có nhiệm vụ rèn luyện và hình thành cho các em những thói quen tốt như tính kỷ luật, tính cẩn thận, óc thẩm mĩ…, đồng thời bồi dưỡng cho các

em ý thức tôn trọng người khác và tôn trọng mình mỗi khi đặt bút viết bất cứ bài viết nào

Qua việc viết chính tả, GV cũng cho các em hiểu rằng việc viết đúng chính

tả, viết đẹp, viết rõ ràng một bài viết chính tả là những biểu hiện của một thái độ đúng đắn, một hành động tích cực trong việc bảo vệ và giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt

*Mục tiêu của phân môn Chính tả

Mục tiêu của việc dạy học chính tả ở tiểu học được xác định là: Giúp học sinh nắm được một số quy tắc chính tả, cách viết hoa tên người, tên địa lí Việt Nam và nước ngoài

Trang 16

Giúp cho HS viết đúng chính tả đoạn văn, đoạn thơ theo các hình thức như nghe – viết, nhớ - viết ( chú trọng các từ ngữ dễ viết sai do ảnh hưởng của cách phát âm địa phương)

Sửa lỗi chính tả trong các bài viết cho HS

Hướng dẫn HS lập được sổ tay chính tả

1.1.3 Ý nghĩa và cách tổ chức trò chơi học tập trong giờ Chính tả

*Ý nghĩa của việc tổ chức trò chơi học tập trong giờ Chính tả

Vui chơi là hoạt động không thể thiếu đối với con người trong bất kì xã hội nào, nó giúp con người giải tỏa căng thẳng, lo lắng hay phiền muộn,… Đặc biệt trong xã hội ngày nay, nhu cầu vui chơi giải trí của con người ngày càng lớn hơn

Trò chơi có ý nghĩa vô cùng quan trọng với HS Tiểu học vì ở lứa tuổi này

đặc điểm tâm lí nổi bật của các em là: “Học mà chơi, chơi mà học”, các em

chưa thể tập trung quá lâu vào một hoạt động vì vậy đưa trò chơi vào học tập vừa là món quà tinh thần trong mỗi tiết học là con đường vừa là phương tiện góp phần phát triển trí tuệ học sinh Trong quá trình chơi các em phải sử dụng các giác quan để thực hiện các thao tác chơi, nhiệm vụ chơi, do đó mà các giác quan của các em trở nên tinh nhạy hơn, ngôn ngữ mạch lạc hơn và tư duy trừu tượng cũng được phát triển Ngoài ra trò chơi học tập còn làm thay đổi hình thức học tập, làm cho không khí lớp học thoải mái dễ chịu hơn, HS thấy vui và cởi mở hơn, tinh thần đoàn kết được xây dựng và phát triển Đặc biệt hơn, qua trò chơi học tập học sinh tiếp thu bài học một cách tự giác và tích cực hơn, học sinh được củng cố và hệ thống hóa kiến thức

Trò chơi giúp HS nhìn nhận, phân tích, so sánh, khái quát hóa đã lĩnh hội trước đó Trò chơi giúp HS rèn luyện và phát triển trí nhớ, các tri thức của bài học được lồng vào nội dung của các trò chơi Thông qua trò chơi sẽ giúp HS có

ấn tượng mạnh mẽ về kiến thức đó vì thế mà HS nắm bài nhanh hơn

Trong dạy học giáo viên sử dụng trò chơi sẽ giúp HS phát huy được tính tích cực, tự giác, chủ động của HS, học sinh hào hứng tham gia vào nhiệm vụ học tập đã được lồng sẵn vào các trò chơi cụ thể Bằng cách này học sinh sẽ

Trang 17

khắc sâu các tri thức, kĩ năng, kỹ xảo một cách chắc chắn, vững chắc Đây là cơ

sở để giúp HS dễ dàng phát hiện ra và ghi nhớ kiến thức của bài học

Qua việc HS tham gia vào trò chơi học tập là các em đã được làm quen, tiếp cận với phương pháp dạy học tích cực, qua phương pháp trò chơi HS học tập một cách chủ động và có sự tự tin hơn vào bản thân mình khi tìm ra được tri thức mới của bài học

Với những đặc điểm tâm, sinh lí của trẻ tiểu học thì việc đưa các trò chơi vào trong tiết chính tả có ý nghĩa rất quan trọng trong việc rèn kĩ năng viết đúng chính tả cho các em

Trò chơi giúp ghi nhớ nhanh các quy luật dùng từ ngữ, âm tiết từ đó hình thành kĩ năng viết Không chỉ vậy các từ ngữ, âm tiết, cách viết không theo quy luật, các quy tắc nhất định thì thông qua trò chơi cũng giúp các em ghi nhớ nhanh

*Cách tổ chức trò chơi học tập

Khi tổ chức trò chơi học tập giáo viên cần tiến hành theo các bước sau: Bước 1: Giới thiệu tên, mục đích trò chơi

Bước 2: Hướng dẫn chơi Bước này gồm những việc làm sau:

Tổ chức người tham gia trò chơi: Số người chơi tham gia, số đội tham gia (mấy đội chơi, quản trò, trọng tài)

Các dụng cụ chơi (giấy khổ to, cờ hiệu…)

Cách chơi: Từng việc cụ thể của người chơi hoặc đội chơi, các giải trong cuộc chơi (nếu có)

Cho học sinh chơi thử (nếu cần thiết)

Bước 3: Thực hiện trò chơi

Bước 4: Nhận xét cuộc chơi

Bước này gồm những việc làm sau: Giáo viên hoặc trọng tài nhận xét về thái độ tham gia trò chơi của từng đội những việc làm chưa tốt của các đội để rút

ra kinh nghiệm

Trọng tài công bố kết quả chơi của từng đội, cá nhân và trao phần thưởng cho đội đạt giải

Trang 18

1.1.4 Đặc điểm tâm, sinh lí của học sinh Tiểu học ảnh hưởng đến việc rèn luyện kĩ năng viết đúng chính tả

* Đặc điểm tâm lí

Đối với học sinh lứa tuổi tiểu học là giai đoạn các em chuyển từ hoạt động chủ đạo vui chơi sang hoạt động học tập sáng tạo làm chủ đạo Đặc biệt, học sinh lớp 2 ghi nhớ không chủ định cũng dần chuyển sang ghi nhớ có chủ định Hơn nữa, khi học qua phân môn Tập viết, hầu hết các em đã đọc được, viết được Các em đã bắt đầu tập trung chú ý và có ý thức học tập tốt Tuy nhiên đối với học sinh từng vùng miền thì sẽ có ảnh hưởng của ngôn ngữ địa phương đến cách phát âm cũng như cách viết chính tả của học sinh

Tri giác của học sinh Tiểu học mang tính đại thể, ít đi vào chi tiết và mang tính không ổn định, ở giai đoạn lớp1, 2,3 tri giác thường gắn với hành động trực quan, đến cuối cấp tiểu học (lớp 4, 5) tri giác bắt đầu mang tính xúc cảm, trẻ thích quan sát các sự vật, hiện tượng có màu sắc sặc sỡ, hấp dẫn, tri giác của trẻ

đã mang tính mục đích, có phương hướng rõ ràng – tri giác có chủ định (trẻ biết lập kế hoạch học tập, biết sắp xếp công việc nhà, biết làm các bài tập từ dễ đến khó

Tư duy mang đậm màu sắc xúc cảm và chiếm ưu thế ở tư duy trực quan hành động Các phẩm chất tư duy chuyển dần từ tính cụ thể sang tư duy trừu tượng khái quát Tuy nhiên ở lớp 2 hình ảnh tưởng tượng còn đơn giản, chưa bền vững và dễ thay đổi Đặc biệt, tưởng tượng của các em trong giai đoạn này

bị chi phối mạnh mẽ bởi các xúc cảm, tình cảm, những hình ảnh, sự việc, hiện tượng đều gắn liền với các rung động tình cảm của các em

Ở đầu cấp tiểu học chú ý có chủ định của trẻ còn non yếu, khả năng kiểm soát, điều khiển chú ý còn hạn chế Đối với học sinh lớp 2 chú ý không chủ định chiếm ưu thế hơn chú ý có chủ định Trẻ lúc này chỉ quan tâm đến những môn học, giờ học có đồ dùng trực quan sinh động, hấp dẫn có nhiều tranh ảnh, trò chơi hoặc có cô giáo xinh đẹp, dịu dàng…Sự tập trung chú ý của trẻ còn yếu và thiếu bền vững, chưa thể tập trung lâu dài và dễ bị phân tán trong quá trình học tập

Trang 19

Lúc này khả năng kiềm chế cảm xúc của trẻ còn non nớt, trẻ dễ xúc động

và cũng dễ nổi giận, biểu hiện cụ thể là trẻ dễ khóc mà cũng nhanh cười, rất hồn nhiên, vô tư…Vì thế có thể nói tình cảm của trẻ chưa bền vững, dễ thay đổi (tuy vậy so với tuổi mầm non thì tình cảm của trẻ tiểu học đã “người lớn” hơn rất nhiều)

Học sinh Tiểu học các em chỉ hứng thú với những đặc điểm bên ngoài của quá trình học tập nên hứng thú đó dễ mất đi Cho nên giáo viên phải đưa trẻ vào

với hứng thú của quá trình học tập bằng nhiều hình thức khác nhau

*Đặc điểm sinh lí

Các nhà khoa học đã chỉ rõ rằng về mặt sinh lí, ở trẻ Tiểu học, khối lượng

bộ não đã đạt tới 90% Sự chín muồi về mặt sinh lí cùng với sự phát triển của những quá trình tâm lí( như tri giác, trí nhớ, tư duy, chú ý…) đã tạo điều kiện để các em thực hiện được hoạt đọng học tập Tuy vậy, ở giai đoạn HS lớp 2, các cơ quan của cơ thể chưa phát triển đầy đủ, khả năng mã hóa các đơn vị ngôn ngữ

âm thanh thành chữ viết còn chậm, viết thiếu từ hay mắc một số lỗi không nắm

vững chính tự (viết nhầm phụ âm đầu: tr/ch, s/x…), lỗi không nắm vững cấu trúc

âm tiết của Tiếng Việt, không hiểu cấu trúc nội bộ của âm tiết tiếng Việt…Thêm nữa, do hệ thần kinh phát triển chưa ổn định nên các em dễ bị phân tán bởi các điều kiện ngoại cảnh Hệ thần kinh cấp cao đang dần hoàn thiện về mặt chức năng, do vậy tư duy của các em chuyển dần từ trực quan hành động sang tư duy hình tượng, tư duy trừu tượng Do đó, các em rất hứng thú với các trò chơi trí tuệ như đố vui trí tuệ, các cuộc thi…Dựa vào đặc điểm sinh lí lý này mà các nhà giáo dục nên cuốn hút các em với các câu hỏi nhằm phát triển tư duy của các

Trang 20

nhiều đặc điểm về tâm, sinh lí gây khó khăn cho HS trong quá trình rèn kĩ năng viết đúng chính tả Và trò chơi học tập phần nào đó phù hợp với những đặc điểm trên có tác dụng trong rèn kĩ năng viết đúng chính tả cho HS

1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài

1.2.1 Nội dung chương trình, SGK dạy học phân môn chính tả lớp 2

*Chương trình

Chương trình phân môn chính tả ở nhóm lớp 2 mỗi tuần có 2 tiết chính tả

Có thêm hai hình thức chính tả đã được bố trí dạy ở nhóm lớp này là chính tả nghe – viết, chính tả so sánh (viết các cặp từ dễ lẫn lộn phụ âm đầu, vần, dấu thanh)

So với lớp 1 thì lớp 2 có thêm hình thức tập chép một bài hoặc một đoạn có

độ dài trên đưới 50 chữ Tốc độ viết khoảng 50 chữ / 15 phút

* Sách giáo khoa

SGK là sự cụ thể hóa, hiện thực hóa chương trình vốn còn rất khái quát, chỉ mang tính chất định hướng Dựa vào các yêu cầu về kiến thức và kĩ năng được ghi trong chương trình thành các bài dạy cụ thể

Phần chính tả trong sách giáo khoa lớp 2 được bố trí xen kẽ với các phần Tập đọc, Luyện từ và câu…

Cấu tạo một bài chính tả trong sách giáo khoa nhìn chung bao gồm các phần sau:

+ Bài viết: Quy định khối lượng bài học sinh phải viết trong giờ Chính tả

Có thể là cả bài tập đọc hoặc bài chọn ngoài sách giáo khoa

+ Viết đúng: Nêu các trường hợp cụ thể chính tả cần phải viết đúng Các trường hợp chính tả này chính là các từ có chứa hiện tượng chính tả đang được nói đến trong bài chính tả, được trích từ phần bài viết đồng thời chính là các trọng điểm chính tả cần dạy cho học sinh

+Luyện tập: Nêu một số kiểu loại bài tập chính tả để HS tập thêm nhằm cuảng cố, khắc sâu hiện tượng chính tả đang học Một số hình thức được sử dụng phổ biến trong sách giáo khoa là: Điền âm, vần, tiếng vào chỗ trống (chỗ

Trang 21

trống trong tiếng từ câu); Tìm từ có âm, vần dễ lẫn lộn; Đặt câu với từ cho sẵn (để gây ý thức biết phân biệt các từ cho sẵn đó)…

Đối với kiểu bài chính tả so sánh, GV cần lựa chọn các bài chính tả so sánh thích hợp, tương ứng với những trọng điểm chính tả cần dạy ở khu vực địa phương của mình Để làm được điều đó ngoài những trường hợp chính tả so sánh mà SGK đã nêu, GV có thể bổ sung thêm các trường hợp chính tả so sánh khác nếu thấy cần thiết Muốn xác định đúng các trọng điểm chính tả cần dạy giáo viên cần tiến hành điều tra, khảo sát, phân loại các lỗi chính tả mà học sinh lớp mình thường mắc ngay từ đầu năm học, từ đó GV tự soạn nội dung chính tả cần dạy cho HS

SGK Tiếng Việt ở Tiểu học đã xác định được những trọng điểm chính tả cơ bản cần dạy cho HS Các bài tập trong SGK cũng khá đa dạng, phong phú phù hợp với trình độ của HS từng khối lớp, cấu trúc đi từ dễ đến khó Các bài tập bắt buộc (bài tập chung cho HS cả nước) và bài tập lựa chọn Mỗi bài tập lựa chọn được đặt trong dấu ngoặc đơn thường bao gồm 2 hoặc 3 bài tập nhỏ (kí hiệu là a,

b, c), mỗi bài tập nhỏ giành cho một vùng phương ngữ nhất định GV căn cứ vào đặc điểm phát âm thực tế viết chính tả của mỗi lớp, mỗi HS địa phương mình dạy mà chọn bài tập nhỏ thích hợp cho các em Trong cùng một lớp, có thể giao cho HS này làm bài tập a, HS khác làm bài tập b tùy theo lỗi phát âm và lỗi chính tả các em thường mắc phải

Tuy nhiên SGK Tiếng Việt vẫn còn một số hạn chế nhất định Nội dung dạy chính tả trong SGK vừa thừa lại vừa thiếu do nội dung này dùng cho cả nước nên đối với học sinh ở một địa phương nào đó, thừa nhận những nôi dung chính tả không cần dạy, nhưng lại thiếu những nội dung chính tả cần dạy Thừa

ở chỗ các em phải luyện tập ở cả những nội dung mà các em đã biết, ít mắc lỗi Thiếu ở chỗ không đủ thời gian để đi luyện tập nhiều hơn để tránh các lỗi các

em hay mắc phải Nội dung chính tả trong SGK chưa được xây dựng trên cơ sở khảo sát tình hình mắc lỗi chính tả của học sinh ở các vùng phương ngữ còn mang tính chủ quan, áp đặt Tình trạng này gây ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng, hiệu quả dạy – học chính tả hiện nay

Trang 22

1.2.2 Phương ngôn xã Hồng Thủy và lỗi chính tả do ảnh hưởng phương ngôn ở Trường Tiểu học Số 1 Hồng Thủy

* Phương ngôn xã Hồng Thủy

Theo Hoàng Thị Châu “ Phương ngữ là một thuật ngữ ngôn ngữ học để chỉ

sự biểu hiện của ngôn ngữ ở một địa phương cụ thể, với những nét khác biệt của

nó so với ngôn ngữ toàn dân hay một phương ngữ khác” [11,tr 24] Ngôn ngữ cũng như mọi hiện tượng xã hội khác nó đều không ngừng biến đổi, phương ngữ

là một biểu hiện của sự biến đổi đó

Sự biến đổi của một ngôn ngữ được thể hiện riêng trên từng phương ngữ về mặt ngữ âm, từ vựng ngữ pháp Chính sự biến đổi này đã tạo nên đặc điểm riêng của từng phương ngữ làm nên sự đa dạng của ngôn ngữ trong thể hiện

Địa thế Quảng Bình tương đối hẹp, là vùng đất trải qua nhiều biến động dữ dội của lịch sử, có một quá trình hình thành và phát triển khá phức tạp Quảng Bình có các di tích lịch sử của người Chăm, người Việt Chính vì vậy đã tạo nên vốn từ khá phong phú và đa dạng Tỉnh Quảng Bình có 6 huyện: Lệ Thủy, Quảng Ninh, Bố Trạch, Quảng Trạch, Tuyên Hóa, Minh Hóa và một Thành phố Đồng Hới

Xã Hồng Thủy trực thuộc huyện Lệ Thủy, phần lớn dân cư địa phương là người Kinh sống ở vùng nông thôn Tiếng nói của người dân thuộc phương ngữ Bình Trị Thiên nằm trong vùng phương ngữ miền Trung nên ngoài những đặc điểm chung của nhóm phương ngữ lớn này nó còn có những nét đặc trưng riêng Người Quảng Bình có giọng nói riêng Giọng Quảng Bình đã được các nhà ngôn ngữ học trong và ngoài nước quan tâm đến bên cạnh giọng Bắc, giọng Nam, giọng Huế … Người Quảng Bình nói giọng Quảng tức là có cách phát âm riêng biệt nhưng cũng nghe và hiểu được tất cả những cách phát âm của phương ngữ khác

- Thanh điệu:

Trong khi nói chỉ có 5 thanh: không, huyền, sắc, nặng, hỏi Người Hồng Thủy dường như không phân biệt được thanh hỏi với thanh ngã Điều này thể hiện rất rõ, kể cả đối với lớp trẻ hiện nay Và điều quan trọng hơn cả là nó chi

Trang 23

phối mạnh mẽ tới mức thể hiện ngay cả trên chữ viết) Trên bình diện chính tả,

để phân biệt dấu hỏi hay ngã quả là một điều hết sức khó khăn đối với họ Một

số ít người dân xã Hồng Thủy có hiện tượng như thế

Vd: Eng ăn sửa chua khôông?

- nh -> l

hoa nhài -> hoa lài

nhạt -> lạt nhanh -> lanh

- Phần vần:

Trang 24

Giống như âm đầu, phần vần trong tiếng Hồng Thủy cũng có rất nhiều điểm khác biệt so với ngôn ngữ toàn dân:

- ưi-> ơi gửi -> gởi

- ưng -> ơng

bưng mâm -> bơng mâm

- âu -> u

bầu -> bù trấu - trú sâu -> su

- ân -> anh chân-> chanh/chênh

Một số vần có nguyên âm đôi được người Hồng Thủy phát âm thành nguyên âm đơn Ví dụ:

- iê -> e

miếng -> méng miệng -> mẹng

- ươ -> a

Trang 25

lửa -> lả nước -> nác mượn -> mạn nướng -> náng đường -> đàng

- uô -> o/ oo

lúa -> ló nuốt -> nót luồn -> lòn muối -> mói ruộng -> roọng

Ngoài những đặc trưng cơ bản trên, chúng tôi còn nhận thấy rằng một số

âm cuối cũng được người Hồng Thủy phát âm khác với ngôn ngữ toàn dân, đồng thời cũng khác với các khu vực khác ở Quảng Bình Cách phát âm này gần với cách phát âm của người Huế Chẳng hạn:

gán ghép -> gáng ghép gắn bó -> gắng bó

Lỗi về thanh điệu:

* Ngã/nặng; ngã/hỏi: Do ở Hồng Thủy các từ có thanh ngã khi phát âm thường chuyển sang thanh nặng hoặc thanh hỏi nên trong bài viết của học sinh phản ánh khá rõ Chẳng hạn như: nhõng nhẽo -> nhỏng nhẻo hoặc nhọng nhẹo;

từ ngữ -> từ ngử hoặc từ ngự; những -> nhửng; khúc gỗ -> khúc gổ…

Trang 26

* Ngang/ huyền; ngang/ sắc; ngang/ hỏi: Đây là loại lỗi mà các tiếng thanh ngang viết thành thanh huyền, thanh sắc và ngược lại

Ví dụ: rõ ràng ->rõ rang; lá cờ -> la cờ; cô chú -> cô chu…

* Sắc/ hỏi; sắc/ ngã: Số lượng HS mắc lỗi này cũng khá lớn Ví dụ: buổi học -> buối học; kẻo muộn -> kéo muộn; vận chuyển -> vận chuyến; lững thững -> lửng thửng…

Sở dĩ trong bài viết của học sinh xuất hiện loại lỗi trên là do ở đây thường phát âm lẫn lộn giữa một số thanh trong hệ thống thanh điệu Tiếng Việt hơn nữa, phẩm chất và giá trị khu biệt của vài ba thanh điệu đó không rõ ràng nên học sinh ở đây thường mắc phải mà học sinh các vùng, miền khác ít gặp

Lỗi về phụ âm đầu:

Học sinh chưa phân biệt được một số phụ âm đầu như: tr/ch; d/gi; c/k; ng/ngh; d/đ; x/s…

1.2.3 Khảo sát thực trạng dạy học chính tả, kĩ năng viết đúng chính tả

và sử dụng trò chơi trong dạy học chính tả trường Tiểu học số 1 Hồng Thủy

*Địa bàn khảo sát

Trường Tiểu học số 1 Hồng Thủy nằm trong địa bàn xã Hồng Thủy, huyện

Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình Cụ thể: Tổng số CBGV, NV: 21 đồng chí Biên chế:

18 đồng chí Hợp đồng: 3 đồng chí Trình độ Đại học: 20 đồng chí, Cao Đẳng: 1 đồng chí Đạt chuẩn và trên chuẩn 100% Đội ngũ đáp ứng với yêu cầu giáo dục hiện nay Trình độ chuyên môn: 100% GV qua dự giờ đều đạt loại khá,tốt Không có giáo viên yếu kém về năng lực Tổng số học sinh toàn trường: 335

HS Trong đó Khối 1: 60 học sinh; Khối 2: 80 học sinh; Khối 3: 60 học sinh; Khối 4: 75 học sinh; Khối 5: 60 học sinh

Trang 27

Học sinh đa số ngoan, chăm học Học sinh của trường chủ yếu sống ở các thôn An Định, Mốc Định, Mốc Thượng 1 và Mốc Thượng 2 của xã Hồng Thủy – huyện Lệ Thủy – tỉnh Quảng Bình Đa số là con em nông thôn, công việc của

bố mẹ không ổn định nên ảnh hưởng tới việc phối hợp để giáo dục Giáo viên được phổ biến, học tập nhiệm vụ năm học và các văn bản chỉ đạo của các ngành, các cấp ác tổ chuyên môn, các cá nhân xây dựng kế hoạch hoạt động phù hợp với các đặc điểm của lớp, tổ và của nhà trường ngay từ đầu năm học Thực hiện các cuộc vận động và phong trào thi đua từ đầu năm đến nay nhà trường đã thực hiện: Phối hợp với các ban ngành đoàn thể trong và ngoài nhà trường và ban ĐDCMHS để thực hiện có hiệu quả các cuộc vận động và các phong trào thi

đua Thực hiện một cách có sáng tạo, thiết thực, hiệu quả việc “Học tập và làm

theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” cuộc vận động “ Mỗi thầy giáo, cô giáo

là một tấm gương về đạo đức Hồ Chí Minh”, cuộc vận động thành nề nếp

thường xuyên trong nhà trường, trong mỗi công việc và mỗi hoạt động Tiếp tục hoàn thành mô hình lớp học thân thiện, phù hợp với tâm lí HS Với tinh thần là phát huy thành quả của năm học trước, năm nay nhà trường chỉ đạo bổ sung thêm những chi tiết phù hợp nhưng đơn giản và có thể dùng cho năm sau đảm bảo tiết kiệm, hiệu quả Công tác huy động số lượng và phổ cập giáo dục được chú trọng, huy động trẻ trong độ tuổi trên địa bàn vào lớp 1 đạt 100% Vận động 100% trẻ 6 -14 tuổi đến lớp nâng cao chất lượng gióa dục toàn diện đổi mới phương pháp dạy học: Đẩy mạnh việc đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức dạy học theo mô hình trường học mới (VNEN) Sắp xếp, trang trí các phòng học đảm bảo khoa học, thân thiện tạo điều kiện cho việc tổ chức đổi mới PPDH đạt hiệu quả cao Nhà trường đã tổ chức các chuyên đề: Dạy học theo mô hình trường học mới (VNEN) Chuyên đề về dạy học theo nhóm Đánh giá học sinh theo TT 22 Nâng cao chất lượng sinh hoạt tổ chuyên môn, bồi dưỡng giáo viên: Tăng cường đổi mới sinh hoạt tổ khối chuyên môn theo quy định 2 tuần/lần; quán triệt các nội dung về đổi mới phương pháp giảng dạy…, trao đổi

về nội dung, bài tập theo từng đối tượng học sinh và các giải pháp để nâng cao việc dạy theo nhóm lớp, vai trò của nhóm trong các giờ học… nhằm nâng cao

Trang 28

chất lượng giáo dục toàn diện trong nhà trường Tham mưu xây dựng quỹ khuyến học trường để động viên GV và HS có thành tích cao trong các mặt

Như vậy, trường đã có những sự cố gắng rất lớn trong việc tu sửa trường học, nâng cao trình độ chuyên môn cho giáo viên trong trường, nhằm tạo môi trường học tập tốt nhất cho học sinh

*Mục đích khảo sát

- Khảo sát thực trạng dạy – học chính tả, kĩ năng viết chính tả của HS lớp

2 và việc sử dụng trò chơi trong dạy học chính tả để rèn kĩ năng viết đúng chính

tả cho HS

- Tìm hiểu những thuận lợi, khó khăn trong công tác giảng dạy, sử dụng trò chơi, những lỗi chính tả phổ biến mà HS mắc phải

*Đối tượng khảo sát

- Đối tượng khảo sát: Khảo sát trên đối tượng GV và HS khối 2 đang giảng dạy và học tập tại trường Tiểu học Số 1 Hồng Thủy – Lệ Thủy – Quảng Bình

+ Phương pháp phỏng vấn, trò chuyện

Qua trao đổi với cán bộ, GV, HS chúng tôi thu được các thông tin liên quan đến vấn đề khảo sát

+ Phương pháp trắc nghiệm, thống kê

Nhằm khảo sát thực trạng kĩ năng viết đúng chính tả của HS lớp 2 Trường Tiểu học Số 1 Hồng Thủy

Cho HS viết các bài chính tả sau đó thống kê, phân loại lỗi chính tả của các em

* Nội dung khảo sát

- Chúng tôi tiến hành khảo sát các nội dung chủ yếu sau:

Trang 29

+ Lỗi chính tả phổ biến mà HS lớp 2 mắc phải

+ Trưng cầu ý kiến của GV về việc sử dụng trò chơi học tập để rèn kĩ năng viết đúng chính tả cho HS

* Phân tích kết quả khảo sát

a) Thực trạng viết chính tả của học sinh lớp 2 Trường Tiểu học Số 1 Hồng Thủy – Lệ Thủy – Quảng Bình

Khi hỏi ý kiến giáo viên dạy trong lớp, 100% giáo viên đều đánh giá khả năng viết chính tả của học sinh lớp mình ở mức độ khá tốt Nhưng trên thực tế theo kết quả khảo sát qua vở ghi của học sinh, tôi nhận thấy giáo viên không thường xuyên kiểm tra đánh giá học sinh mà thỉnh thoảng mới chấm bài cho học sinh Khi hỏi các giáo viên chủ nhiệm lớp 2, về việc chấm bài cho học sinh viết chính tả như thế nào? Thì giáo viên cho biết: Theo quy định của thông tư 22, Bộ

GD – ĐT yêu cầu đánh giá, xếp loại học sinh Tiểu học theo lối mới Chấm bài chỉ nhận xét chứ không cho điểm số để giảm nhẹ sức ép điểm số cho học sinh Dựa theo quy định mới của GD – ĐT nên tôi tiến hành đánh giá năng lực viết chính tả của học sinh khối 2 theo 4 mức độ (tốt, khá, đạt yêu cầu, chưa đạt yêu cầu) dựa trên số lỗi của học sinh, không cho điểm học sinh mà thống kê số lỗi học sinh mắc phải/ bài và đưa ra nhận xét trên bài viết của học sinh

Để đánh giá khả năng học chính tả của học sinh lớp 2 tại Trường Tiểu học

Số 1 Hồng Thủy chúng tôi tiến hành nghiên cứu qua phiếu trưng cầu ý kiến giáo viên, kết hợp với việc trực tiếp kiểm tra bài viết chính tả của học sinh thường xuyên mắc lỗi chính tả ở trong lớp, đồng thời quan sát, dự giờ, tham khảo ý kiến của các giáo viên chủ nhiệm khối 2 Qua khảo sát chúng tôi thống kê chất lượng viết chính tả của học sinh khối 2 Trường Tiểu học Số 1 Hồng Thủy như sau:

Trang 30

Khá (7-8 điểm)

Đạt yêu cầu (5-6 điểm)

Chưa đạt yêu cầu (0-4 điểm)

TB

số lỗi/

TB

số lỗi/

độ đạt yêu cầu chiếm tỉ lệ cao (50%), mức độ chưa đạt yêu cầu vẫn chiếm một tỉ

lệ nhất định (18,75%) Qua số liệu bảng thống kê cho thấy chất lượng học sinh viết chính tả còn chưa cao

Qua điều tra, chúng tôi nhận thấy lỗi chính tả của học sinh thường xuyên mắc lỗi khối 2 trường Tiểu học Số 1 Hồng Thủy như sau:

Bảng 2: Bảng thống kê các loại lỗi về thanh điệu

Trang 31

Lỗi phụ âm đầu:

Kiểu mắc lỗi tr/ch: trí khôn lại viết là chí khôn Nguyên nhân cơ bản là do

cách phát âm của giáo viên dẫn đến việc học sinh nhầm lẫn

Kiểu mắc lỗi d/gi: dì lại viết gì Nguyên nhân do ảnh hưởng của tiếng mẹ

đẻ Do học sinh không hiểu được nghĩa của từ đang viết, cũng như các quy tắc

chính tả Mặt khác còn do cách phát âm giống nhau gì với dì, phát âm giống

nhau nhưng cách viết khác nhau làm cho học sinh dễ nhầm lẫn Vì vậy để viết đúng từ này học sinh phải hiểu được nghĩa của từ đang viết

Kiểu mắc lỗi x/s: xanh tỏa lại viết sanh tỏa; hoa súng lại viết là hoa xúng Khi giáo viên đọc bài học sinh luôn hỏi x hai nét hay s một nét Giải thích cho

việc nhầm lẫn này là do giáo viên đọc chưa rõ ràng cho học sinh viết, mặt khác học sinh khi phát âm cũng sai

Kiểu mắc lỗi c/k: con lại viết kon, kẹo viết cẹo… Nguyên nhân là do học sinh không ghi nhớ luật chính tả Âm /c/ khi đứng trước e,ê,i thì viết thành k, âm /c/ khi đứng trước âm đệm /u/ viết thành /q/

Trang 32

Kiểu mắc lỗi ng/ngh: nghỉ lại viết thành ngỉ, nghe lại viết thành nge

Nguyên nhân là do những chữ này có cách phát âm giống nhau, học sinh lại

không ghi nhớ luật chính tả âm /ng/ khi đứng trước các âm e, ê, i phải viết thành /ngh/

Lỗi phần vần:

Kiểu mắc lỗi anh/ ân: quả chanh viết thành quả chân, chênh vênh viết thành chanh vanh Do ảnh hưởng của tiếng địa phương nên phát âm của người Hồng Thủy không phân biệt được vần anh/ênh, ân/anh

Kiểu mắc lỗi iê/yê: kể chuyện lại viết kể chiện Nguyên nhân do phát âm

sai

Kiểu mắc lỗi ai/ay: May lại viết thành mai, tay lại viết thành tai Nguyên

nhân là do học sinh không hiểu nghĩa của từ khi viết, chưa phân biệt được cách đọc và cách viết của hai từ này, khi nó đứng một mình thì cách đọc của hai chữ này giống nhau nhưng khi ghép hai chữ này với âm chính hoặc âm đệm thì cách đọc lại khác nhau, do học sinh chưa nắm được quy tắc chính tả

Kiểu mắc lỗi u/o: quanh lại viết qoanh Do cách phát âm của hai từ này

giống nhau, học sinh chưa nắm luật chính tả về âm đệm

Kiểu mắc lỗi an/ang: Do ảnh hưởng của tiếng địa phương, học sinh phát

âm giống giọng Huế nên âm /n/ phát âm thành âm /ng/

Nói tóm lại, qua điều tra khảo sát và thống kê chúng ta có thể thấy được thực trạng mắc lỗi chính tả của HS lớp 2 Trường Tiểu học Số 1 Hồng Thủy khá phổ biến với nhiều loại lỗi khác nhau, đặc biệt là lỗi về dấu thanh và vần anh/

ân, anh/ ênh

b) Thực trạng dạy học chính tả cho học sinh lớp 2 tại Trường Tiểu học

Số 1 Hồng Thủy

Dạy học chính tả ở các khối lớp nói chung cũng như lớp 2 vẫn chịu ảnh hưởng của lối dạy truyền thống, GV tổ chức các hoạt dộng trên lớp, toàn bộ các khâu được GV giới thiệu, xem xét đánh giá sau đó đưa ra kết luận tổng kết HS tiếp thu một cách thụ động Các em không tự mình tìm tòi khám phá cái mới, việc lĩnh hội tri thức của học sinh bị phụ thuộc nặng nề vào quá trình giảng dạy,

Trang 33

chuyên môn tuy nhiên áp dụng các phương pháp dạy học tích cực trong giảng dạy các môn học nói chung phân môn Chính tả nói riêng chưa phổ biến Đặc biệt là việc áp dụng trò chơi vào giảng dạy phân môn Chính tả còn rất hạn chế nếu có hình thức vẫn đơn giản, hiệu quả chưa cao Bên cạnh đó việc xác định chính tả là một phân môn phụ cũng ảnh hưởng ít nhiều đến chất lượng giảng dạy Việc tổ chức dạy học chính tả chưa có nhiều sáng tạo đa phần là rập khuôn máy móc quá trình dạy học một tiết chính tả theo SGK Đa số giáo viên chưa chú ý đến đặc điểm phương ngữ vùng miền đang ở, không xác định rõ các lỗi chính tả cơ bản của HS trong lớp nên không có sự điều chỉnh mục tiêu bài học, hình thức, phương pháp dạy học vì vậy việc rèn chính tả không đi vào trọng điểm, giáo viên ít củng cố và khắc sâu cho học sinh nắm các quy tắc, mẹo luật chính tả qua bài viết hoặc qua bài tập Hơn nữa việc phát âm của giáo viên chưa được chuẩn dẫn đến hạn chế về học và viết chính tả của HS Bên cạnh đó còn tồn tại một thực trạng phổ biến hiện nay là: Nhiều GV chưa nghiên cứu kĩ về chính tả cho bản thân mình và cho HS trong giờ dạy các môn học khác Hầu hết

GV chỉ phát âm đúng trong giờ tập đọc, chính tả còn các môn khác phát âm theo kiểu bình thường của người địa phương Ta vẫn biết rằng việc phát âm không đúng chuẩn cũng ảnh hưởng rất lớn đến chính tả

Qua khảo sát, tôi nhận thấy trong giờ học chính tả nhiều GV có sử dụng trò chơi học tập tuy nhiên hình thức, mức độ sử dụng còn hạn chế

Sau đây là nhận thức của 10 GV trong trường về sự cần thiết của việc sử dụng trò chơi học tập trong giờ chính tả:

Bảng 5: Nhận thức của GV về sự cần thiết của việc sử dụng trò chơi

học tập trong giờ chính tả STT Nội dung Số lượng GV Ý kiến tán thành Tỉ lệ

Từ bảng trên cho ta thấy 8/10 (80%) GV cho rằng sử dụng trò chơi là rất cần thiết trong dạy học chính tả ở Tiểu học Điều đó chứng tỏ rằng GV đã đánh

Trang 34

giá cao sự cần thiết sử dụng trò chơi đối với việc rèn các kĩ năng chính tả cho

Đánh giá về thực trạng này thì có nhiều nguyên nhân nhưng tiêu biểu hơn

cả vẫn là do để dạy một tiết có sử dụng trò chơi phải chuẩn bị công phu mất nhiều thời gian, tốn kém Mẫu giáo án có sử dụng trò chơi thì chưa có tuy có một số tài liệu hướng dẫn sử dụng nhưng chỉ dừng lại ở mức lí luận Hơn nữa

Trang 35

một số GV chưa thực sự coi trọng phân môn này nên chưa có sự đầu tư cho tiết dạy của mình

Trên cơ sở đã nghiên cứu, chúng tôi rút ra được một số kết luận sau:

Nhận thức của GV về việc sử dụng trò chơi là khá đầy đủ

Thực trạng của việc sử dụng trò chơi còn nhiều hạn chế

Trò chơi mà GV sử dụng chưa thực sự có tác dụng nhiều trong việc rèn kĩ năng viết đúng chính tả cho HS

***

Ở chương này chúng tôi đã nêu ra các khái niệm về chính tả,kĩ năng, kĩ năng viết chính tả, mục đích, nhiệm vụ, vị trí của phân môn Chính tả trong trường Tiểu học và các định hướng để rèn kĩ năng viết đúng chính tả cho HS lớp

2 Hơn nữa, thông qua việc tìm hiểu về thực trạng dạy – học chính tả ở lớp 2 Trường Tiểu học Số 1 Hồng Thủy việc áp dụng trò chơi trong các tiết chính tả như thế nào, những lỗi chính tả mà HS thường mắc thì thấy rằng việc ứng dụng các trò chơi trong dạy học chính tả còn rất hạn chế, đa phần HS đều mắc lỗi chính tả và các lỗi phổ biến là lỗi về thanh điệu, lỗi phần vần

Các cơ sở lí luận, thực tiễn đã nêu và tìm hiểu ở trên là phương hướng để chúng tôi tiến hành xây dựng trò chơi rèn kĩ năng viết đúng chính tả cho học sinh thể hiện trong chương tiếp theo

Trang 36

CHƯƠNG II: MỘT SỐ TRÒ CHƠI HỌC TẬP RÈN KĨ NĂNG VIẾT ĐÚNG CHÍNH TẢ CHO HỌC SINH LỚP 2 TRƯỜNG TIỂU HỌC SỐ 1

HỒNG THỦY – LỆ THỦY – QUẢNG BÌNH

*Yêu cầu đối với việc xây dựng một số trò chơi học tập trong giờ chính

tả để rèn kĩ năng viết đúng chính tả cho học sinh lớp 2 Trường Tiểu học Số 1 Hồng Thủy

- Trước khi xây dựng trò chơi học tập phải tiến hành tìm hiểu đặc điểm tâm sinh lý học sinh, cơ sở vật của lớp học nhà trường để trò chơi được sử dụng hiệu quả đối với việc rèn kĩ năng viết đúng chính tả cho học sinh

- Các trò chơi được lựa chọn, sử dụng phải tạo được không khí học tập vui

vẻ, thoải mái đặc biệt là sự thi đua lành mạnh giữa các tổ, các nhóm

- Trò chơi phải mang tính chất rèn luyện kĩ năng viết đúng chính tả cho học sinh, phù hợp với nội dung bài học đưa vào sử dụng, phải nhằm khắc phục các lỗi mà học sinh Trường Tiểu học Số 1 Hồng Thủy mắc phải

- Khi xây dựng trò chơi phải dựa trên các tiêu chí: Trò chơi đòi hỏi khi tham gia học sinh cần sử dụng nhiều thao tác (phân tích nhanh, tổng hợp, tư duy,…), hình thức (quan sát, trực quan,…), vận động để ghi nhớ quy tắc chính

tả, mẹo chính tả, khắc sâu nghĩa của từ để rèn kĩ năng viết đúng chính tả

- Sử dụng trò chơi đúng thời gian, không làm xáo trộn tiết học (đầu tiết, cuối tiết học hoặc thay thế hình thức thực hiện một số bài tập chính tả trong bài)

- Trong quá trình tổ chức cần chú ý theo dõi quá trình tham gia của học sinh để kịp thời xử lí các tình huống phát sinh

Xuất phát từ cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn nghiên cứu, tôi tiến hành xây dựng một số trò chơi rèn kĩ năng viết đúng chính tả cho học sinh lớp 2 Trường Tiểu học Số 1 Hồng Thủy như sau:

2.1 Nhóm trò chơi rèn kĩ năng viết đúng phụ âm đầu

Trang 37

2.1.1 Trò chơi “Ai nhanh, ai đúng”

a) Mục tiêu

Giúp các em phân biệt được các phụ âm đầu ch/tr, s/x, d/gi, ng/ngh hiểu thêm nghĩa của các từ, ghi nhớ quy tắc chính tả từ đó hình thành kĩ năng viết đúng

b)Chuẩn bị

GV chuẩn bị 16 hình ảnh các sự vật, đồ vật, con vật,…mà tên của chúng

có chứa các phụ âm đầu ch/tr gần gũi với các em

c) Cách tiến hành

- GV chọn ra 2 đội chơi,mỗi đội gồm 4 em Các đội tự đặt tên (ví dụ: Sơn

Ca, Vàng Anh, Vành Khuyên…)

- GV cho HS cho HS quan sát tranh, mỗi nhóm 8 tranh Sau đó, các em phải nhận diện thảo luận trong thời gian 30 giây để lên bảng điền các âm đầu ch/tr còn thiếu sao cho đúng tên tranh GV quy định thời gian chơi (tùy thuộc vào thời gian tiết học, số lượng hình ảnh, mẫu vật để HS quan sát) Sau khi có hiệu lệnh bắt đầu chơi, các bạn trong 2 đội lần lượt lên bảng viết Bạn thứ nhất viết xong quay trở về trao phấn cho bạn tiếp theo bạn đó mới được tiếp tục Các bạn dưới lớp hát bài hát vỗ tay cổ vũ

Hết thời gian, đội chơi nào viết nhanh và đúng chính tả nhiều hơn thì đội

đó thắng cuộc Nếu có đội viết nhanh nhưng sai nhiều từ hơn vẫn bị thua đội chậm đúng nhiều từ hơn

d) Thưởng – phạt

Sau khi kết thúc trò chơi, giáo viên nhận xét, cho học sinh bốc thăm phần thưởng bao gồm các phần thưởng sau:

+ Phần thưởng của nhóm bạn là một tràng pháo tay của cả lớp

+ Phần thưởng của nhóm bạn là 4 cây bút mực

e) Ứng dụng trò chơi này trong một số bài sau:

Bài 11: Chính tả Tập chép: Mẩu giấy vụn (để rèn kĩ năng viết đúng s/x) Bài 15: Chính tả Tập chép: Người mẹ hiền( để rèn kĩ năng phân biệt r/d/gi)

Ngày đăng: 07/06/2018, 09:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w