1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng hệ thống bài tập nâng cao về từ và câu cho học sinh lớp 3 trường tiểu học đồng phú

87 604 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 0,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ nhu cầu thực tiễn của bản thân-người giáo viên Tiểu học tương lai và yêu cầu cung cấp kiến thức về từ và câu cho học sinh lớp 3, tôi mạnh dạn xây dựng hệ thống bài tập nâng cao về từ

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Là một giáo viên Tiểu học trong tương lai bên cạnh việc học tập để có kiến thức chuyên môn sâu sắc, tôi đã không ngừng tìm hiểu, học hỏi nhằm tích luỹ kinh nghiệm cho bản thân phục vụ tốt cho công tác giảng dạy sau này Chính vì vậy, thực hiện đề tài khoá luận là một công việc hết sức cần thiết và bổ ích Đối với tôi đây thực sự là những tháng ngày quý giá và có ý nghĩa Khoá luận tốt nghiệp là bước cuối cùng đánh dấu sự trưởng thành của một sinh viên ở giảng đường để trở thành

cử nhân Trong quá trình thực hiện và hoàn thành khoá luận tốt nghiệp này, ngoài

sự nỗ lực, cố gắng của bản thân còn nhờ sự quan tâm giúp đỡ, hỗ trợ động viên từ gia đình, quý thầy cô và các bạn Sau đây em xin gửi lời cảm ơn sắc đến

Ban giám hiệu nhà trường, quý thầy cô giáo trường Đại học Quảng Bình, các thầy cô trong khoa Sư phạm Tiểu học-Mầm non đã quan tâm, tận tình dạy bảo trong suốt thời gian học tập tại trường

Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến TS.Nguyễn Thị Nga, người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ em trong suốt quá trình nghiên cứu khoá luận

Dù có nhiều cố gắng nhưng đề tài chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót, tôi rất mong nhận được sự chỉ dẫn và góp ý của quý thầy cô giáo cùng các bạn để đề tài được hoàn thiện hơn

Sau cùng, tôi xin kính chúc quý thầy cô dồi dào sức khoẻ để tiếp tục thực hiện

sứ mệnh cao đẹp của mình là truyền đạt kiến thức cho thế hệ mai sau

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Đồng Hới, tháng 5 năm 2018

Sinh viên

Lê Thị Thu Hương

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn của TS.Nguyễn Thị Nga, các số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong khoá luận

là trung thực, khách quan và chưa từng được công bố trong bất kì công trình nào khác

Đồng Hới, tháng 5 năm 2018

Sinh viên

Lê Thị Thu Hương

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2

3 Mục đích nghiên cứu 4

4 Nhiêm vụ nghiên cứu 5

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

6 Phương pháp nghiên cứu 5

7 Đóng góp của khóa luận 6

8 Cấu trúc của khóa luận 6

PHẦN NỘI DUNG 7

CHƯƠNG I: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 7

1.1 Cơ sở lí luận 7

1.1.1 Một số khái niệm liên quan đến đề tài 7

1.1.2 Đặc điểm nhận thức của học sinh Tiểu học 12

1.1.3 Đặc điểm tâm lí của học sinh lớp 3 14

1.1.4 Ý nghĩa của viêc xây dựng hệ thống bài tập 14

1.2 Cơ sở thực tiễn 15

1.2.1 Vị trí, nhiệm vụ của phân môn Luyện từ và câu ở Tiểu học 15

1.2.2 Nội dung chương trình và sách giáo khoa Luyện từ và câu lớp 3 17

1.2.3 Khảo sát thực trạng việc dạy - học phân môn Luyện từ và câu lớp 3 tại trường tiểu học Đồng Phú – Đồng Hới – Quảng Bình 19

CHƯƠNG II: XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP NÂNG CAO VỀ TỪ VÀ CÂU CHO HỌC SINH LỚP 3 TRƯỜNG TIỂU HỌC ĐỒNG PHÚ 25

Trang 4

2.1 Hệ thống hoá các dạng bài tập về từ và câu trong sách giáo khoa Tiếng Việt lớp

3 25

2.1.1 Hệ thống hoá các dạng bài tập 25

2.1.2.Nhận xét hệ thống bài tập trong sách giáo khoa Tiếng Việt Tiểu học phân môn LTVC lớp 3 27

2.2 Xây dựng hệ thống bài tập nâng cao về từ và câu cho học sinh lớp 3 28

2.2.1 Mục đích xây dựng hệ thống bài tập 28

2.2.2 Nguyên tắc xây dựng hệ thống bài tập 29

2.3 Một số cách xây dựng bài tập 31

2.3.1 Bài tập về từ theo từng chủ điểm 31

2.3.2 Bài tập về kiểu câu Ai là gì? Ai làm gì? Ai thế nào? 46

2.3.3 Bài tập đặt và trả lời câu hỏi Khi nào? Ở dâu? Vì sao? Để làm gì? Bằng gì? 51 CHƯƠNG III: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 59

3.1 Mục đích thực nghiệm 59

3.2 Khu vực và địa bàn thực nghiệm 59

3.3 Kế hoạch thực nghiệm 59

3.3.1 Tiến trình thực nghiệm 59

3.3.2 Nội dung thực nghiệm 60

3.3.3.Phương pháp thực nghiệm sư phạm 71

3.4 Tiến hành thực nghiệm 71

3.5 Kiểm tra và đánh giá kết quả thực nghiệm 71

3.5.1 Kết quả thực nghiệm 72

3.5.2 Nhận xét, đánh giá kết quả thực nghiệm 74

KẾT LUẬN 76

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 78

PHỤ LỤC 1

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

SGK Sách giáo khoa

TV Tiếng Việt LTVC Luyện từ và câu

GV Giáo viên

HS Học sinh NXB Nhà xuất bản [15,tr9] Tài liệu số 15 trang 9

Trang 6

Theo cố thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói : “Trong ngôn ngữ thì từ quan trọng nhất, rồi đến câu sau đó đến văn” Cho nên dạy từ và câu là rất cần thiết Khi

từ và câu được trang bị đầy đủ thì mới tạo tiền đề cho văn hay, giao tiếp tốt Bởi muốn viết được bài văn hay, giao tiếp tốt thì học sinh phải có vốn từ, hiểu được từ

và từ đó chuyển thành câu Chính vì vậy từ và câu luôn song hành với nhau và đều quan trọng như nhau

Từ là một đơn vị cơ bản của hệ thống ngôn ngữ Muốn nắm được một ngôn ngữ nào đó thì đầu tiên phải nắm được vốn từ Nếu không làm chủ được vốn từ của một ngôn ngữ thì không thể sử dụng ngôn ngữ đó như một công cụ để học tập và giao tiếp Ngoài ra vốn từ ngữ của một con người càng giàu bao nhiêu thì khả năng lựa chọn từ ngữ của người đó càng lớn, khả năng diễn đạt của người đó càng chính xác, tinh tế bấy nhiêu Vì vậy, dạy luyện từ cho học sinh tiểu học là phải làm giàu vốn từ ngữ cho học sinh phải chú trọng số lượng từ, tính đa dạng và tính năng động của từ

Tuy nhiên từ không phải là đơn vị trực tiếp sử dụng trong giao tiếp Muốn giao tiếp, trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm với nhau con người phải sử dụng một ngôn ngữ tối thiểu và cơ bản là câu Nếu không nắm được quy tắc ngữ pháp của một ngôn ngữ thì con người cũng không thể sử dụng được ngôn ngữ đólàm công cụ để giao tiếp Vì vậy dạy từ ngữ cho học sinh phải gắn liền với dạy câu, dạy quy tắc kết hợp từ thành câu, quy tắc sử dụng câu nhằm đạt hiệu quả giao tiếp cao

Trang 7

Những phân tích trên cho ta thấy ý nghĩa quan trọng của việc học luyện từ và câu ở tiểu học Tuy nhiên thực tiễn dạy và học từ và câu ở bậc tiểu học nói chung, lớp 3 nói riêng hiện nay còn gặp nhiều hạn chế nhất định Nhìn chung các giáo viên tiểu học đều cho rằng luyện từ và câu là một môn học khó đối với người dạy và người học Nhiều giáo viên còn lúng túng khi dạy và phụ thuộc nhiều vào sách giáo khoa, chưa tạo được các hoạt động học tập để tiết học thêm sinh động hay các bài tập mà giáo viên sử dụng chưa khai thác hết năng lực của học sinh

Về phía học sinh, qua học luyện từ và câu các em được trang bị vốn từ ngữ phong phú nhưng hiện tượng học sinh chưa hiểu đầy đủ về từ, dùng từ sai, sử dụng câu không hợp ngữ cảnh, chư hợp tình huống còn xảy ra Có em chưa thực sự nhạy bén với các bài tập, nhiều bài tập các em chưa làm được

Trong những năm gần đây việc dạy học luyện từ và câu cũng đã được các giáo viên chú trọng hơn, song vấn đề phát triển câu, từ nâng cao cho học sinh chưa được quan tâm nhiều

Xuất phát từ những vấn đề trên, tôi lựa chọn đề tài: “Xây dựng hệ thống bài

tập nâng cao về từ và câu cho học sinh lớp 3 trường Tiểu học Đồng Phú” Nhằm

góp phần nâng cao kiến thức về từ và câu cho học sinh lớp 3 qua đó hỗ trợ cho việc dạy học tốt Tiếng Việt nói chung và phân môn LTVC nói riêng

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Vấn đề về từ và câu được các nhà ngôn ngữ học quan tâm từ rất sớm, từ thời

cổ đại, các công trình nghiên cứu về ngữ pháp bàn về câu tương đối nhiều

Liên quan đến những vấn đề được đề cập trong khóa luận và phù hợp với phạm vi, mục đích nghiên cứu của đề tài, tôi xin điểm qua lịch sử vấn đề dạy học từ và câu ở Tiểu học

Có thể dẫn ra một số công trình tiêu biểu:

* Nguyễn Minh Thuyết, Hỏi - đáp về dạy học Tiếng Việt 3, NXB GD, 2004 Trong cuốn sách này tác giả Nguyễn Minh Thuyết đã đề cập đến nhiều vấn đề xoay quanh phân môn Luyện từ và câu thông qua hệ thống câu hỏi và câu trả lời Đặc biệt, tác giả đã đưa ra một số kiểu bài tập rèn luyện về từ, câu ở lớp 3, kèm theo hướng dẫn cách dạy các kiểu bài đó

Trang 8

Đóng góp của công trình này là đã giải đáp được một số nội dung rong chương trình Tiếng Việt 3 mà nhiều giáo viên còn băn khoăn, thắc mắc Tuy nhiên, những bài tập đưa ra làm ví dụ minh họa ở đây đều được lấy ra từ sách giáo khoa Tiếng Việt 3 nên đều là những bài tập quen thuộc với cả giáo viên và học sinh, và chưa có tính hệ thống

* Bùi Minh Toán, Viết Hùng, Luyện từ và câu Tiếng Việt, NXB Đại học Sư phạm, 2005

Cuốn sách này gồm 2 phần: Phần 1 trình bày: những điểm cần lưu ý về Luyện

từ và câu ở sách Tiếng Việt lớp 3, Phần 2 trình bày: gợi ý làm bài tập và các bài tập

bổ trợ

Đây là cuốn sách tham khảo cho giáo viên và học sinh khi dạy phân môn Luyện từ và câu trong sách Tiếng Việt 3 Cuốn sách này đã gợi ý được cách giải những bài tập trong chương trình học một cách tương đối rõ ràng dễ hiểu Đặc biệt cuốn sách này đã đưa thêm được một hệ thống hỗ trợ cho từng bài học để giáo viên

có thể dùng trong giờ dạy, khiến tiết học thêm sinh động và ít lệ thuộc vào sách giáo khoa hơn Song các bài tập được trình bày cũng chưa thực sự có tính hệ thống *Các công trình nghiên cứu chính về các kiểu câu

- Diệp Quang Ban (2004), Ngữ pháp Tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội

- Diệp Quang Ban (2006), Ngữ pháp Việt Nam, NXB Giáo Dục, Hà Nội

- Cao Xuân Hạo (2007), Câu Tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội

- Nguyễn Thị Lương (2005), Câu Tiếng Việt, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội

- Hoàng Trọng Phiến (1980), Ngữ pháp tiếng Việt, NXB Từ điển bách khoa,

Trang 9

- Lê Phương Nga, Nguyễn Trí (2004), Giảo trình phương pháp dạy học tiếng Việt

- Lê Phương Nga (2002), Dạy học ngữ pháp ở Tiểu học, NXB Giáo dục, Hà Nội

- Nguyễn Minh Thuyết (chủ biên) (2006), Hỏi - Đáp về dạy học Tiếng Việt 2,3,4,5, NXB Giáo dục, Hà Nội

- Nguyễn Thị Mai Anh (2009), Các kiểu câu và việc dạy - học câu tiếng Việt ở Tiểu học, Luận văn thạc sĩ Giáo dục học, NXB Đại học Sư phạm Hà Nội 2, Hà Nội

- Ngô Thị Kim Hương (2007), Vấn đề thành phần câu và việc dạy-học thành phần câu trong trường Tiểu học, Luận văn thạc sĩ Giáo dục học, NXB Đại học Sư phạm Hà Nội 2, Hà Nội

Có thể nói, điểm chung của các công trình này đều hướng tới mục đích là làm thế nào để dạy, học môn Tiếng Việt ở tiểu học một cách có hiệu quả, làm thế nào để nâng cao năng lực tiếng Việt của các em Đã có những công trình nghiên cứu chú trọng việc xây dựng hệ thống bài tập nhưng số lượng bài tập còn hạn chế, kiểu loại bài tập chưa phong phú đa dạng Đặc biệt chưa có một công trình nghiên cứu nào xây dựng được hệ thống bài tập nâng cao dưới nhiều kiểu dạng bài tập có thể làm tài liệu tham khảo cho giáo viên và học sinh Từ nhu cầu thực tiễn của bản thân-người giáo viên Tiểu học tương lai và yêu cầu cung cấp kiến thức về từ và câu cho học sinh lớp 3, tôi mạnh dạn xây dựng hệ thống bài tập nâng cao về từ và câu cho học sinh lớp 3, dựa trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc những thành tựu nghiên cứu của người đi trước Hệ thống bài tập trình bày trong khóa luận sẽ được sắp xếp theo trật

tự phù hợp với chương trình học, phù hợp với sự phát triển tư duy của học sinh và đặc biệt phù hợp với phương pháp dạy – học môn Tiếng Việt nói chung và phân môn Luyện từ và câu nói riêng

3 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở tiếp thu những công trình liên quan đến đề tài Đề tài khảo sát các dạng bài tập ở trong sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 3 phân môn LTVC để từ đó đề xuất xây dựng hệ thống bài tập nâng cao về từ và câu cho học sinh lớp 3, các dạng bài tập phải mang tính sáng tạo, đảm bảo khoa học tính sư phạm đồng thời phù hợp với mục tiêu dạy học phân môn Luyện Từ và câu

Trang 10

4 Nhiêm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu các tài liệu liên quan đến đề tài và sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 3 NXBGD

Tìm hiểu về thực trạng dạy học từ và câu cho học sinh tiểu học thông qua phân môn Luyện từ và câu

Tìm hiểu một số cơ sở lý thuyết liên quan đến đề tài để làm căn cứ xây dựng

hệ thống bài tập nâng cao về từ và câu

Tiến hành điều tra thực trạng dạy và học luyện từ và câu tại trường tiểu học Đồng Phú để thu thập kết quả đánh giá bước đầu về thực tế dạy học các dạng bài tập

về từ và câu thông qua phân môn luyện từ và câu

Xây dựng hệ thống bài tập nâng cao về từ và câu cho học sinh lớp 3 nhằm nâng cao hiệu quả dạy và học phân môn LTVC

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

a Đối tượng nghiên cứu

Học sinh lớp 3 và giáo viên trường Tiểu học Đồng Phú

Hoạt động làm bài tập của học sinh Tiểu học về các dạng bài tập từ và câu

6 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp điều tra khảo sát: Điều tra khảo sát để thấy được thực trạng

dạy và học phân môn Luyện từ và câu và những khó khăn trong quá trình giải các bài tập trong phân môn Luyện từ và câu, qua đó xây dựng các bài tập nâng cao phù hợp với các em

- Phương pháp thống kê phân loại: Phương pháp này dùng để liệt kê phân

loại hệ thống bài tập, phân loại hệ thống bài tập nhằm đưa ra những con số chính xác về các dạng bài tập và số lượng cụ thể các dạng bài tập có trong chương trình

Từ đó làm cơ sở cho những nghiên cứu tiếp theo

Trang 11

- Phương pháp phân tích tổng hợp: Phương pháp này dùng để phân tích tổng

hợp kết quả nghiên cứu của các nhà đi trước từ đó đưa ra những kết quả chung

- Phương pháp xử lí số liệu: Sau khi tiến hành khảo sát, có được những số

liệu cụ thể sẽ tiến hành xử lý số liệu để đánh giá thực trạng dạy và học từ và câu ở trường tiểu học Đồng Phú

- Phương pháp điều tra An – Két: Sử dụng phiếu điều tra để thu thập ý kiến

của học sinh và giáo viên về vấn đề nghiên cứu

7 Đóng góp của khóa luận

Việc nghiên cứu đề tài góp phần:

- Làm sáng tỏ, cụ thể hóa lí luận về dạy học phân môn LTVC

- Tìm hiểu về thực trạng dạy học từ, câu cho học sinh tiểu học qua phân môn Luyện từ và câu thông qua hệ thống bài tập

- Xây dựng hệ thống bài tập nâng cao về từ và câu cho học sinh lớp 3

- Là tài liệu tham khảo cho học sinh và giáo viên trong quá trình dạy và học phân môn LTVC

8 Cấu trúc của khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung khoá luận được triển khai làm ba chương:

Chương 1: Cơ sở khoa học của đề tài

Chương 2: Xây dựng hệ thống bài tập nâng cao về từ và câu cho học sinh lớp

3 trường Tiểu học Đồng Phú-Đồng Hới-Quảng Bình

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 12

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI

độ ngữ âm, hình vị thuộc cấp độ hình thái, từ thuộc cấp độ từ vựng và câu thuộc cấp

độ cú pháp Về chức năng: âm vị có hai chức năng - phân biệt nghĩa và cấu tạo hình

vị, hình vị cũng có hai chức năng - biểu thị ý nghĩa và cấu tạo từ; từ cũng có hai chức năng - định danh, biểu đạt khái niệm và cấu tạo câu, câu cũng có hai chức năng - thông báo và cấu tạo đoạn

Như vậy, các đơn vị được trực tiếp tạo nên từ các hình vị (tiếng) và là đơn vị trực tiếp cấu tạo nên câu, theo truyền thống ngôn ngữ học gọi là TỪ Chẳng hạn

trong tiếng việt có các đơn vị: chúng ta, hòa bình, yêu,…Trong đó, chúng ta do hai hình vị chúng và ta tạo thành; yêu do một hình vị yêu tạo thành, hòa bình do hai hình vị hòa và bình tạo thành Đến lượt các đơn vị ấy kết hợp lại theo quy tắc ngữ

pháp tiếng việt sẽ tạo thành câu: Chúng ta yêu hòa bình Các đơn vị nói trên được gọi là “từ”

Theo ngôn ngữ học đại cương, từ có các đặc điểm sau đây:

- Có hình thức ngữ âm và có ý nghĩa

- Tính sẵn có, cố định, bắt buộc

- Là những đơn vị thực tại, hiển nhiên của ngôn ngữ

Từ chứa đựng rất nhiều loại thông tin Có những thông tin trong ngôn ngữ như thông tin về hình thái, kết cấu, về nguồn gốc, về hoạt động… Có những thông tin ngoài ngôn ngữ như thông tin về sự vât, hiện tượng thực tế, thông tin về hoàn cảnh

xã hội, về văn hóa, về thời đại…

Trang 13

1.1.1.2 Khái niệm “từ” Tiếng Việt

Như đã phân tích ở trên, xét về mặt cấp độ, từ là đơn vị được cấu tạo trực tiếp

từ các hình vị và là đơn vị trực tiếp cấu tạo câu Từ là đơn vị có sẵn, hiển nhiên, cố định, bắt buộc, có đặc điểm về hình thức và nội dung

Trong các ngôn ngữ khác nhau các đặc điểm về hình thức và nội dung của từ cũng khác nhau Vì vậy việc đưa ra một định nghĩa cụ thể về từ để áp dụng cho tất

cả các ngôn ngữ (kể cả tiếng việt) là điều không thể Ngay cả các định nghĩa về từ tiếng việt trong các nhà việt ngữ học cũng không hoàn toàn giống nhau

Không đi sâu thảo luận về vấn đề nhận diện từ tiếng việt mà chỉ nêu ra một định nghĩa về tiếng việt được coi là thỏa đáng: “Từ của tiếng việt là một hoặc một

số âm tiết cố định, bất biến, mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định,nằm trong những kiểu cấu tạo nhất định” Định nghĩa này đã chỉ ra khá đầy đủ các đặc trưng

cơ bản của từ trong ngôn ngữ học đại cương nói chung, trong tiếng việt nói riêng:

- Là một trong một số âm tiết cố định, bất biến Vì vậy trong tiếng việt vừa có

từ đơn tiết (như nhà, chạy, ăn, sông, lúa)… vừa có từ đa tiết (như giang sơn, nhỏ nhắn, đủng đỉnh, cổ sinh vật, xã hội chủ nghĩa…)

- Mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định Mỗi đơn vị từ luôn luôn mang những đặc điểm ngữ pháp như khả năng kết hợp với những từ đứng trước hoặc đứng sau nó Chẳng hạn, từ nhà có thể kết hợp với từ đứng trước “cái nhà”, với những từ đứng sau “nhà này” Từ xanh có thể kết hợp với từ đứng trước “rất (hơi) xanh”, với những từ những từ đứng sau “xanh lắm (quá)” Từ đọc có thể kết hợp với từ đứng trước “đã (đang, sắp, sẽ) đọc”, với từ đứng sau “đọc xong (rồi)”…Các loại đơn vị dưới từ (hình vị) và trên từ (mệnh đề, câu ) đều không có đặc điểm này Mỗi đơn vị có khả năng (thực từ) hoặc không có khả năng (hư từ) đảm nhận các chức vụ cú pháp ở trong câu như chủ ngữ, vị ngữ, định ngữ, bổ ngữ…

- Nằm trong những kiểu cấu tạo nhất định Tiếng việt là một loại ngôn ngữ thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập Do đó từ trong tiếng việt vừa có cấu tạo đơn (một hình vị), vừa có cấu tạo ghép (hai hình vị trở lên) Ví dụ: nhà, núi, sông ngòi, xã hội, công nghiệp hóa, cổ sinh vật học,…Đối với các từ có cấu tạo ghép, nếu giữa các từ có mối quan hệ về âm thanh thì được gọi là từ ghép âm (láy âm).Ví dụ: Xanh

Trang 14

xanh, đo đỏ, long lanh, rực rỡ, đủng đỉnh… Nếu giữa các từ có mối quan hệ về ý nghĩa thì được gọi là từ ghép nghĩa (láy nghĩa) Ví dụ : nhà cửa, sông ngòi, ruộng vườn, độc lập, thuyền câu, áo dài, hoa hồng…

- Ứng với một kiểu ý nghĩa nhất định Khác với các đơn vị cao hơn từ (câu, mệnh đề) và thấp hơn từ (tiếng, hình vị), từ có chức năng định danh (gọi tên sự vật, hiện tượng) và biểu thị khái niệm Vì vậy, mỗi từ là một đơn vị thống nhất về nghĩa

Ý nghĩa của từ biểu thị các mối quan hệ giữa từ, người sử dụng và hiện thực khách quan Nói cách khác ý nghĩa của từ là phần phản ánh nội dung hiện thực vào nhận thức con người thông qua hình thức biểu thị là âm thanh của ngôn ngữ Vì vậy mối

từ ứng với một kiểu nội dung phản ánh (định danh nhất định) Có những từ nội dung phản ánh là biểu thị sự vật (nhà cửa, lúa, sông, núi ); có những từ nội dung phản ánh là biểu thị hành động (học, ăn, chạy, đếm, nói…); có những từ nội dung phản ánh là biểu thị tính chất (xanh, tốt, đỏ, thông minh, tươi tỉnh…) Có những từ nội dung phản ánh biểu thị quan hệ giữa các sự vật, hành động, tính chất,…(và, thì, rồi, do đó, vậy nên…)

Cần lưu ý rằng bốn tiêu chí nhận diện từ tiếng việt nói trên (ngữ âm, ngữ pháp, cấu tạo, ý nghĩa) không độc lập với nhau mà tạo thành một chỉnh thể thống nhất Nếu tách riêng bất cứ thành phần nào cũng không thể đủ sức để xác định là từ Đặc biệt một mình thành phần ngữ âm cũng không cho ta biết nó có phải là từ hay không Chẳng hạn, hình thức ngữ âm “đỉnh” trong “đủng đỉnh” và “đỉnh” trong

“đỉnh núi” hoàn toàn khác nhau, hình thức ngữ âm trong “xao” trong “xôn xao” và

“xao” trong “xao lòng” cũng khác nhau “Đỉnh1” và “xao1” không phải là từ Vì vậy khi một thành phần nào đó thay đổi cho dù thành phần ngữ âm đó giữ nguyên thì vẫn có thể xác định sự tồn tại của nhiều từ khác nhau

Mặt khác các thành phần của từ ngoài thành phần ngữ âm không phải là của riêng mỗi từ Các thành phần cấu tạo, ngữ pháp và ý nghĩa xuất hiện trong từ này nhưng cũng có thể có mặt trong một số từ khác Thành phần ngữ âm của từ mang tính riêng biệt nhưng các thành phần cấu tạo, ngữ pháp và ý nghĩa luôn luôn mang tính đồng loạt

Trang 15

Chẳng hạn, xét về thành phần cấu tạo, từ xe máy có cấu tạo chung giống với các từ khác như xe đạp, xe lôi, xe khách, xe tải…Xét về thành phần ngữ pháp, từ xe

có đặc điểm ngữ pháp giống với các từ tàu, máy bay, thuyền, canô,…Xét về thành phần ý nghĩa , các từ nói trên đều mang ý nghĩa chung là “ phương tiện giao thông” Nhờ tính đồng loạt của các thành phần nói trên mà khi gặp một hình thức ngữ

âm nào đó, chúng ta có thể hiểu và kết luận rằng từ đó thuộc từ loại gì và sử dụng

nó như thế nào

1.1.1.3 Định nghĩa về câu

Trong lịch sử ngôn ngữ học, so với các đơn vị ngôn ngữ khác như: âm vị, hình

vị, từ, cụm từ, văn bản thì câu là đơn vị được nghiên cứu sớm nhất - nó được nghiên cứu từ thời cổ đại

Thế kỷ III trước công nguyên, Alechxanđria định nghĩa: “Câu là sự tổng hợp của các từ, biểu thị một tư tưởng tương đối trọn vẹn”[15,tr9]

Theo Nguyễn Thị Lương (2005), “Câu là đơn vị ngôn ngữ không có sẵn, dùng

để biểu thị sự tình, được tạo nên từ các đơn vị nhỏ hơn theo những quy tắc ngữ pháp nhất định, có dấu hiệu hình thức riêng, được sử dụng trong giao tiếp nhằm thực hiện một hành động nói” [15, tr19]

Nguyễn Thị Thìn (2002) quan niệm “Câu là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất có chức năng thông báo, được dung vào việc giao tiếp hằng ngày”[26,tr9]

Định nghĩa về câu của Diệp Quang Ban (2006) rất cụ thể, ngắn gọn nhưng mang tính khái quát cao:

Câu là đơn vị của nghiên cứu ngôn ngữ có cấu tạo ngữ pháp (bên trong và bên ngoài) tự lập và ngữ điệu kết thúc, mang một ý nghĩa tương đối trọn vẹn hay thái độ, sự đánh giá của người nói, giúp hình thành và biểu hiện, truyền đạt tư tưởng, tình cảm Câu đồng thời là đơn vị thông báo nhỏ nhất bằng ngôn ngữ [5, tr107]

1.1.1.4 Quan niệm về câu đúng

Có rất nhiều quan niệm khác nhau về câu đúng Nguyễn Khánh Nồng cho rằng: Một câu đúng phải thể hiện cả hai mặt: cẩu trúc ngữ pháp và cẩu trúc ngữ nghĩa[19,tr145]

Trang 16

Bùi Minh Toán, Lê A, Đỗ Việt Hùng cho rằng một câu đúng thỏa mãn các câu sau:

- Câu phải viết đúng quy tắc ngữ pháp tiếng Việt

- Câu phải có quan hệ ngữ nghĩa phù hợp với tư duy của người Việt

- Câu phải có thông tin mới

- Câu phải được đánh dấu câu phù hợp

1.1.1.5 Phân loại câu

a Câu chia theo cấu tạo ngữ pháp

Cơ sở: Phân loại câu theo cấu tạo ngữ pháp người ta căn cứ vào hai cơ sở sau:

b Câu chia theo mục đích nói

Phân loại câu theo mục đích nói là cách nhìn có tính chất truyền thống về câu trong hoạt động của nó Căn cứ vào mục đích nói, người ta chia thành 4 kiểu câu:

Trang 17

1.1.1.7 Khái niệm hệ thống bài tập

Là một tập hợp nhiều bài tập khác nhau được xếp thành các nhóm theo một trình tự có chủ đích nhất định Thông thường để đảm bảo tính khoa học về quá trình nhận thức, hệ thống bài tập sẽ được sắp xếp theo thứ tự từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp, từ những kiến thức đơn lẻ đến những kiến thức tổng hợp nhằm rèn luyện, phát triển kỹ năng cụ thể cho người học

1.1.1.8 Hệ thống bài tập nâng cao

Hệ thống bài tập nâng cao là một tập hợp nhiều bài tập với các dạng khác nhau, các nhóm bài tập có độ khó cao hơn so với các bài tập thông thường Hệ thống bài tập nâng cao đòi hỏi ở học sinh tư duy, sáng tạo hơn trong việc làm bài, từ việc giải các bài tập cơ bản các em mới có thể giải được các bài tập nâng cao Bài tập nâng cao cũng được sắp xếp một cách khoa học từ bài tập nâng cao vừa cho đến bài tập tương đối khó được sử dụng để phân loại học sinh giỏi, xuất sắc

1.1.2 Đặc điểm nhận thức của học sinh Tiểu học

a, Chú ý của HS Tiểu học

Khái niệm chú ý: Chú ý là một trạng thái tâm lý của HS giúp các em tập trung vào một hay một nhóm đối tượng nào đó để phản ánh các đối tượng này một cách tốt nhất Lứa tuổi tiểu học có hai loại chú ý: Chú ý không chủ định và chú ý có chủ định

Đặc điểm chú ý của HS tiểu học: Chú ý không chủ định có trước từ lúc 6 tuổi

và tiếp tục phát triển, những gì mới lạ, hấp dẫn, dễ dàng gây chú ý không chủ định của HS Do có sự chuyển hóa giữa hai loại này nên khi HS chú ý không chủ định,

GV đưa ra câu hỏi để hướng dẫn HS vào nội dung bài học thì chú ý không chủ định chuyển hóa thành chú ý có chủ định Chú ý có chủ định ở giai đoạn này được hình thành và phát triển mạnh Sự hình thành loại chú ý này là đáp ứng nhu cầu hoạt động học ở giai đoạn đầu cấp, chú ý có chủ định hình thành nhưng chưa ổn định, chưa bền vững

b, Trí nhớ của HS Tiểu học

Khái niệm trí nhớ: Trí nhớ là quá trình tâm lý giúp HS ghi lại, giữ lại những tri thức cũng như cách thức tiến hành hoạt động mà các em tiếp thu được khi cần có thể nhớ lại, nhận lại Có hai loại trí nhớ: Trí nhớ có chủ định và trí nhớ không có chủ định

Trang 18

Đặc điểm trí nhớ của HS tiểu học: Cả hai loại trí nhớ đều được hình thành và phát triển ở học sinh tiểu học Do yêu cầu hoạt động học trí nhớ có chủ định hình thành và phát triển, học sinh phải ghi nhớ các công thức, quy tắc, định nghĩa, khái niệm….Để vận dụng giải bài tập hoặc tiếp thu tri thức mới, ghi nhớ này buộc học sinh phải sử dụng cả hai phương pháp ghi nhớ có máy móc và ghi nhớ có chủ định

c, Tưởng tượng của HS

Khái niệm tưởng tượng: Tưởng tượng của HS là một quá trình tâm lý nhằm tạo ra các hình ảnh mới dựa vào các hình ảnh đã biết Ở học sinh tiểu học có hai loại tưởng tượng: Tưởng tưởng tái tạo và tưởng tưởng sáng tạo

Đặc điểm tưởng tượng của HS tiểu học: Tính có mục đích, có chủ định tưởng tượng của HS tiểu học tăng lên rất nhiều so với trước 6 tuổi Do yêu cầu của hoạt động học, HS muốn tiếp thu tri thức mới thì phải tạo cho mình các hình ảnh tưởng tượng

d, Tư duy của HS

Khái nhiệm tư duy của học sinh tiểu học: Tư duy của học sinh tiểu học là quá trình mà các em hiểu được, phản ánh được bản chất của đối tượng của các sự vật hiện tượng được xem xét nghiên cứu trong quá trình học tập của học sinh Có hai loại tư duy: Tư duy cụ thể và tư duy trừu tượng

Đặc điểm tư duy của học sinh tiểu học:Do hoạt động học được hình thành qua hai giai đoạn nên tư duy của học sinh cũng được hình thành qua hai giai đoạn: + Giai đoạn 1: Tư duy cụ thể vẫn tiếp tục hình thành và phát triển, tư duy trừu tượng bắt đầu hình thành Tư duy cụ thể được thể hiện rõ nhất ở lớp 1, lớp 2 nghĩa

là học sinh tiếp thu tri thức mới và tiến hành các thao tác với vật thật hoặc các hình ảnh trực quan

+ Giai đoạn 2: Tư duy trừu tượng bắt đầu chiếm ưu thế so với tư duy cụ thể, nghĩa là học sinh tiếp thu tri thức của các môn học bằng cách tiến hành các thao tác

tư duy với ngôn ngữ, với các loại ký hiệu quy tắc

Trang 19

1.1.3 Đặc điểm tâm lí của học sinh lớp 3

Lứa tuổi Tiểu học được chia thành hai giai đoạn Giai đoạn một là học sinh lớp

1, 2, 3 Giai đoạn hai là học sinh lớp 4, 5 Giai đoạn một được xem là giai đoạn đầu của bậc Tiểu học, giai đoạn hai là giai đoạn sau của bậc Tiểu học Giai đoạn đầu của bậc Tiểu học là giai đoạn mà học sinh còn thiên về tư duy cụ thể, cảm tính Tuy vậy học sinh lớp 3 là lớp cuối của giai đoạn đầu bậc Tiểu học vì vậy ở lứa tuổi này học sinh đã bắt đầu chuyển dần từ tư duy cụ thể, cảm tính sang tư duy trừu tượng, khái quát hơn

Bên cạnh đó, trí tưởng tượng của HS lớp 3 đã được hình thành và phát triển thông qua các hoạt động học tập Tưởng tượng tái tạo từng bước được hoàn thiện gắn liền với những hình tượng đã tri giác trước hoặc tạo ra những hình tượng phù hợp với những điều mô tả, sơ đồ, hình vẽ… Như vậy biểu tượng của tưởng tượng dần trở nên hiện thực hơn Tưởng tượng của HS đã mất dần và thoát khỏi ảnh hưởng của ấn tượng trực tiếp Tưởng tượng của HS gắn liền với sự phát triển ngôn ngữ và tư duy Trong dạy học ở Tiểu học, GV cần rèn luyện và phát triển trí tưởng tưởng của HS thông qua việc hình thành biểu tượng GV cần sử dụng lời nói, cử chỉ, điệu bộ như một phương tiện trực quan Ngôn ngữ phải chính xác, giàu nhạc điệu, tình cảm; đặc biệt cần sử dụng đồ dùng dạy học, tài liệu dạy học phong phú, sinh động Điều này thêm một lần nữa khẳng định vai trò của hệ thống bài tập Tiếng Việt trong việc góp phần hình thành và phát triển tâm lí của HS Tuy nhiên, cùng một lứa tuổi nhưng trẻ em lại có đặc điểm tâm lí riêng và khả năng tư duy cũng khác nhau Vì thế trong quá trình dạy học hay thiết kế bài tập cho trẻ, GV cũng cần chú ý đến đặc điểm tâm lí của HS để việc dạy học cũng như việc thiết kế bài tập ôn luyện, củng cố đạt hiệu quả cao

1.1.4 Ý nghĩa của viêc xây dựng hệ thống bài tập

Bài tập có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong dạy học nói chung và dạy học Tiếng Việt nói riêng, nó là phương tiện hiệu quả không thể thay thế được trong việc giúp học sinh hình thành và phát triển năng lực ngôn ngữ Thông qua bài tập có thể phát huy tính tích cực, chủ động, hứng thú của học sinh trong việc tiếp nhận kiến thức, kỹ năng nhằm tối ưu hoá đổi mới phương pháp dạy học trong nhà trường

Trang 20

Bên cạnh đó bài tập vừa là định hướng, vừa là công cụ giúp học sinh tự tìm hiểu, vận dụng kiến thức kỹ năng vào đúng hướng, đúng cách Tạo ra những tình huống để học sinh phát triển tư duy, năng lực tự học Đối với học sinh việc giải bài tập được coi là hình thức hoạt động chủ yếu trong giờ học Trong giờ học LTVC giáo viên không thể chỉ giảng và cho học sinh làm bài tập ở sách giáo khoa như vậy thì học sinh chưa mở rộng được kiến thức, chưa thể khắc sâu bài học được Dó đó việc đưa ra hệ thống bài tập nâng cao sẽ không những giúp học sinh hứng thú trong giờ học vì được thử sức mình với các bài tập mà giáo viên còn phân loại được năng lực của học sinh, từ đó có các phương pháp dạy học phù hợp hơn

Nắm bắt được đặc điểm tâm lí học sinh lớp 3, đây là lứa tuổi bắt đầu chuyển qua tư duy trừu tượng, trí tưởng tượng của các em phong phú hơn hướng đến sự phát triển ngôn ngữ, thông qua hệ thống bài tập để giáo viên hướng học sinh đi tìm cái mới bằng tư duy và tưởng tượng của các em.Và hơn nữa, hệ thống bài tập giúp giáo viên tối ưu hoá quá trình dạy học, nâng cao chất lượng dạy học Mỗi bài tập là một hoạt động nhận thức trong đó có hoạt động của thầy và hoạt động của trò Hiện nay việc dạy học LTVC chưa được chú trọng nhiều trong khi đó từ và câu đơn vị cơ sở, cơ bản của ngôn ngữ, cái cần thiết để hình thành nên lời nói, công

cụ giao tiếp hằng ngày Để giúp học sinh trau chuốt ngôn ngữ, hoàn thiện ngôn ngữ nói của mình chỉ có thể thực hiện tốt thông qua hoạt động thực hành luyện tâp, qua các bài tập để các em nhận biết được lỗi sai, làm thế nào cho đúng, cho phù hợp…

Do đó, việc xây dựng hệ thống bài tập nâng cao sẽ góp phần hỗ trợ giáo viên

và học sinh lớp 3 trong việc dạy và học LTVC hiệu quả hơn

Trang 21

Phân môn Luyện từ và câu có vị trí quan trọng trong chương trình Tiểu học Trước hết Luyện từ và câu cung cấp làm giàu vốn từ cho HS, đặc biệt là hệ thống từ ngữ cung cấp cho HS được gắn với chủ điểm ở từng lớp nhằm tăng cường sự hiểu biết của HS về nhiều lĩnh vực của cuộc sống

Phân môn Luyện từ và câu cung cấp những kiến thức sơ giản về từ và câu, rèn

kĩ năng dùng từ đặt câu, sử dụng từ ngữ trong giao tiếp hàng ngày Chính vì vậy HS được làm quen với Luyện từ và câu ngay từ lớp 1 và được học với tư cách là một phân môn độc lập của môn TV từ lớp 2 đến lớp 5

* Nhiệm vụ chủ yếu của việc dạy phân môn Luyện từ và câu ở tiểu học là giúp HS:

- Về mặt Luyện từ: Phân môn này có nhiệm vụ tổ chức cho HS thực hành làm giàu vốn từ, cụ thể là:

+ Chính xác hoá vốn từ (dạy nghĩa từ): là giúp HS có thêm những từ mới, những

nghĩa mới của từ đã học, thấy được tính nhiều nghĩa và sự chuyển nghĩa của từ + Hệ thống hoá vốn từ (trật tự hoá vốn từ): là giúp HS sắp xếp các từ thành một

trật tự nhất định trong trí nhớ của mình để có thể ghi nhớ từ nhanh, nhiều và tạo ra được tính thường trực của từ

+ Tích cực hoá vốn từ (luyện tập sử dụng từ): là giúp HS biến những từ ngữ tiêu

cực (những từ ngữ hiểu nghĩa nhưng không sử dụng trong khi nói, viết) thành những từ ngữ tích cực, được sử dụng thường xuyên trong giao tiếp hàng ngày + Văn hoá hoá vốn từ: là giúp HS loại bỏ khỏi vốn từ những từ ngữ không văn

hoá, tức là những từ ngữ thông tục hoặc sử dụng sai phong cách

Mặt khác, còn phải cung cấp cho HS một số khái niệm lý thuyết cơ bản và

sơ giản về từ vựng học như về cấu tạo từ, các lớp từ có quan hệ về nghĩa để HS có

cơ sở nắm nghĩa từ một cách chắc chắn và biết hệ thống hoá vốn từ một cách có ý thức

Trang 22

- Về mặt Luyện câu: Phân môn này phải tổ chức cho HS thực hành để rèn luyện các kỹ năng cơ bản về ngữ pháp như kỹ năng đặt câu đúng ngữ pháp, kỹ năng

sử dụng các dấu câu, kỹ năng sử dụng các kiểu câu phù hợp mục đích nói, tình huống lời nói để đạt hiệu quả giao tiếp cao, kỹ năng liên kết các câu để tạo thành đoạn văn, văn bản

Để thực hiện tốt các nhiệm vụ thực hành, phân môn Luyện từ và câu phải cung

cấp cho HS một số khái niệm, một số qui tắc ngữ pháp cơ bản, sơ giản và tối cần thiết: bản chất của từ loại, thành phần câu, dấu câu, các kiểu câu, qui tắc sử dụng câu trong giao tiếp và các phép liên kết câu

Bên cạnh đó, qua phân môn này còn giúp HS tiếp thu một số qui tắc chính tả như: qui tắc viết hoa, qui tắc sử dụng dấu câu

- Ngoài các nhiệm vụ kể trên, phân môn Luyện từ và câu phải chú trọng việc rèn luyện tư duy, giáo dục thẩm mỹ cho HS

1.2.2 Nội dung chương trình và sách giáo khoa Luyện từ và câu lớp 3

* Nội dung chương trình:

- Chương trình Luyện từ và câu lớp 3 gồm 31 tiết (học kì I: 16 tiết; học kì II:

15 tiết) mỗi tuần có một tiết gồm các nội dung:

- Mở rộng vốn từ, hệ thống hóa, tích cực vốn từ theo các chủ điểm được học ở bài tập đọc Hình thức luyện tập mở rộng vốn từ thông qua các bài tập Hệ thống bài tập luyện tập mở rộng vốn từ rất đa dạng, chủ điểm mở rộng hơn lớp 2, vốn từ nhiều hơn:

+ Bài tập tìm từ ngữ theo chủ điểm

+ Bài tập tìm hiểu, nắm nghĩa của từ

+ Bài tập quản lí, phân loại vốn từ

- Từ loại: ôn luyện các từ chỉ sự vật, hoạt động, trạng thái, đặc điểm đã học ở lớp 2

- Về kiểu câu: Củng cố, ôn luyện các kiểu câu ở lớp 2: Ai làm gì? Ai là gì? Các thành phần trong câu trả lời trong câu hỏi: Ai? Là gì? Làm gì? Thế nào? Ở đâu? Bao giờ? Như thế nào? Bằng gì? Vì sao? Hình thức luyện tập về câu thông qua các dạng bài tập sau:

Trang 23

+ Trả lời câu hỏi

+ Tìm bộ phận câu trả lời câu hỏi

+ Đặt câu theo mẫu, ghép các bộ phận thành câu

+ Đặt câu hỏi cho các bộ phận câu và mở rộng câu bằng trạng ngữ, phụ ngữ (thông qua các câu hỏi và không gọi tên trạng ngữ), giúp HS hình dung được thành phần cấu tạo của câu để học sinh giao tiếp có định hướng

- Về dấu câu: Ôn luyện về một số dấu câu cơ bản: Dấu chấm, dấu phẩy, dấu chấm hỏi, dấu chấm than, học thêm về dấu hai chấm thông qua các bài tập đa dạng Hình thức luyện tập về dấu câu gồm các bài tập:

+ Chọn dấu câu đã cho điền vào chỗ trống

+ Tìm dấu câu thích hợp điền vào chỗ trống

+ Điền dấu câu dã cho vào chỗ trống thích hợp

+ Tập nhận biết tác dụng của so sánh

+ Tập đặt câu có dùng biện pháp so sánh

Bài tập tu từ nhân hóa:

+ Nhận biết phép nhân hóa trong câu: Cái gì được nhân hóa? Nhân hóa bằng cách nào?

+ Tập nhận biết cái hay của nhân hóa

*Cấu trúc phân môn Luyện từ và câu lớp 3 trong sách giáo khoa

- Vị trí tiết học trong Sách giáo khoa: Luyện từ và câu được sắp xếp là tiết thứ

6 trong quy trình 9 tiết học về Tiếng Việt trong một tuần (sau: Tập đọc, Kể chuyện, Chính tả, Tập đọc)

- Cấu trúc bài học trong Sách giáo khoa: Mỗi bài học Luyện từ và câu thông thường được trình bày gồm 3- 4 bài tập Cách sắp xếp các bài tập theo thứ tự:

Trang 24

+ Những bài tập nhằm giúp HS nhận biết về từ ngữ theo chủ điểm hoặc từ loại

+ Những bài tập về nhận diện các dấu hiệu liên quan đến câu

+ Những bài tập vận dụng từ và câu trong giao tiếp

1.2.3 Khảo sát thực trạng việc dạy - học phân môn Luyện từ và câu lớp 3 tại trường tiểu học Đồng Phú – Đồng Hới – Quảng Bình

*Một số thông tin về trường tiểu học Đồng Phú có liên quan đến đề tài

Trường tiểu học Đồng Phú là một trường nằm ở trung tâm thành phố Đồng Hới Là điểm sáng về giáo dục tiểu học tỉnh Quảng Bình Trường đã có 15 năm liên tục nhận được cờ dẫn đầu cấp tiểu học toàn tỉnh Nhà trường được tặng thưởng huân chương Lao động Hạng nhất, Hạng nhì, Hạng Ba Là đơn vị duy nhất của nghành Giáo dục- Đào tạo tỉnh được phong tặng danh hiệu Anh hùng lao động thời kì đổi mới Những vinh dự đó nhờ có sự quan tâm động viên thường xuyên của phòng Giáo dục – Đào tạo Đồng Hới, các cơ quan đoàn thể địa phương.Người dân trong phường sống bằng các nghề khác nhau có 12% làm ruộng, 45% là cán bộ nhà nước, 43% còn lại là buôn bán nhỏ, công nhân…Do điều kiện kinh tế phát triển, chất lượng cuộc sống ngày càng được nâng cao, bởi vậy vấn đề giáo dục được chú trọng

+ Đa số giáo viên dạy khối lớp 3 đã nhiều năm nên nắm khá tốt quan điểm chỉ đạo dạy học; có nhiều kinh nghiệm giảng dạy

+ Giáo viên tận tụy tìm luôn tìm tòi những phương pháp phù hợp với đối tượng học sinh để giảng dạy

Trang 25

+ Cơ sở vật chất nhà trường về cơ bản đáp ứng được yêu cầu thực hiện nhiệm

vụ giảng dạy và giáo dục của học sinh

- Về học sinh: Các em đã dược làm quen với phân môn Luyện từ và câu ở lớp

2 và có nhiều kiến thức liên quan ở lớp 2 nên khi học Luyện từ và câu ở lớp 3 các

* Đối với giáo viên

- Hình thức để dạy một tiết Luyện từ và câu còn chưa sáng tạo, chưa thực sự sôi động cuốn hút học sinh Một số giáo viên gặp lúng túng khi thực hiện quy

trình giảng dạy, bám máy móc vào sách giáo viên, chưa tạo ra các tình huống giao tiếp sinh động để lôi cuốn học sinh

- Trình độ của giáo viên chưa đồng đều, lượng kiến thức của phân môn trong một tiết dạy còn nhiều bài tập khiến người dạy đôi lúc không muốn sử dụng nhiều phương pháp mới như vấn đáp, gợi mở,…Vì mất nhiều thời gian, từ đó dẫn đến việc giáo viên nói nhiều, hoạt động giữa cô và trò chưa nhịp nhàng Học sinh chưa phát huy hết tính tích cực trong học tập

- GV đôi lúc còn giảng dạy theo phương pháp cũ, việc phân chia thời gian chưa hợp lý

* Đối với học sinh

Do số lượng học sinh của mỗi lớp đông 40-45 em/lớp vì thế chất lượng học tập của các em chưa cao Giáo viên khó khăn trong việc giúp đữo từng học sinh Trong quá trình thực hiện tôi đã lập ra những hệ thống câu hỏi, xây dựng nhiều phiếu trắc nghiệm điều tra hứng thú về học “Luyện từ và câu” của học sinh lớp 3 (Phiếu điều tra có ở phần phụ lục)

Trang 26

Để có những kết luận chính xác, khách quan làm cơ sở cho nghiên cứu của đề tài , tôi tiến hành điều tra thực tế việc dạy và học từ và câu của học sinh lớp 3 trường Tiểu học Đồng Phú qua phân môn Luyện từ và câu

1.2.3.1 Mục đích khảo sát

Tìm hiểu thực trạng dạy học phân môn Luyện từ và câu ở lớp 3, trên cơ sở đó đưa ra những bài tập góp phần nâng cao hiệu quả dạy học môn học

1.2.3.2 Nội dung khảo sát

Để tìm hiểu thực trạng dạy - học phân môn Luyện từ và câu tôi đã tiến hành điều tra, tìm hiểu thông tin qua thầy cô giáo ở trường Tiểu học Đồng Phú- Đồng Hới- Quảng Bình và thu được kết quả như sau:

9 22,5%

16 40%

17 42,5%

7 17,5%

25%

15 37,5%

15 37,5%

12 30%

19 47,5%

9 22,5%

12,5%

20 50%

15 37,5%

7 17,6%

22 55%

11 27,5%

7,5%

17 42,5%

20 50%

5 12,5%

19 47,5%

6 15%

25%

14 35%

16 40%

6 15%

18 45%

16 40%

40%

10 25%

14 35%

10 25%

15 37,5%

15 37,5%

25%

12 30%

18 45%

8 20%

19 47,5%

13 32,5%

50%

15 37,5%

5 12,5%

22 55%

10 25%

8 20%

Trang 27

Qua kết quả điều tra tôi nhận thấy phần lớn học sinh chưa thực sự thích môn học này, số học sinh thích còn tương đối thấp mỗi lớp chưa tới một nửa số học sinh( lớp 35 có 19 em chiếm 47,5%, lớp 36 có16 em chiếm 40% trên tổng số lớp) và các

em đều là những học sinh thích môn học này cũng như các môn học khác Mặc dù phân môn này không gây nhiều hứng thú đối với các em nhưng trong giờ học các

em vận chú ý lắng nghe, hăng hái giơ tay phát biểu xây dựng bài Phần lớn các em đều tự học bài và làm bài tập các bài tập đầy đủ ở lớp

Qua đó để thấy rằng, một số HS chưa nhận thức được tầm quan trọng của việc học, chư ý thức được tinh thần tự giác trong vấn đề tự học Cũng có khả năng HS cho rằng số lượng bài tập trong sách giáo khoa còn ít, các dạng bài tập còn đơn điệu

và dễ nên các em không hứng thú tìm tòi nữa

Bên cạnh đó, qua việc điều tra chúng tôi thấy rằng, một số giáo viên chưa có

sự đầu tư cho tiết học, chưa tìm tòi xây dựng hệ thống câu hỏi nhằm kích thích sự hứng thú, sáng tạo cho các em điều đó dẫn đến tình trạng chán nản, lười suy nghĩ, chất lượng tiết học chư cao

+ Đối với giáo viên

Đối tượng điều tra: GV khối 3 Trường tiểu học Đồng Phú

Gồm 8 GV(Phiếu điều tra được đưa vào phần phụ lục)

Trang 28

Qua trao đổi với GV và theo kết quả điều tra tôi thấy rằng:

Đa số các GV đều có ý kiến cho rằng không thích dạy phân môn Luyện từ và câu so với các phân môn khác trong Tiếng Việt với lí do: Dạy LTVC là khó so với các phân môn khác Có nhiều từ, câu chưa phân định rõ ràng (đang còn nhiều tranh cãi) nên xác định và chốt lại cho học sinh là khó, trong khi giảng dạy GV còn bí từ

và giải nghĩa từ cho HS còn lúng túng nên khó trong việc giải thích cho HS về nội dung bài

Đồ dung trực quan còn ít chưa đáp ứng đủ các tiết học, GV phải làm đồ dùng trực quan rất nhiều, vẽ tranh phù hợp với các tiết dạy để hướng dẫn học sinh nắm được bài Ngoài ra còn sử dụng bảng phụ ghi ví dụ và các bài tập

Qua điều tra khảo sát cho thấy đội ngũ GV dạy Tiếng Việt đã có nhiều quan tâm, cố gắng trong việc dạy phân môn “Luyện tù và câu” Tuy nhiên hiện tượng dạy học phụ thuộc nhiều sách giáo khoa, sách thiết kế vẫn còn phổ biến GV chưa quan tâm nhiều đến việc nâng cao kiên thức cho học sinh mà chỉ chú trọng dạy các kiến thức cơ bản trong SGK Nhận thức được hệ thống bài tập để nâng cao kiến thức, kích thích sự sáng tạo, tư duy cho học sinh chưa sâu sắc bởi vậy chất lượng dạy học phân môn LTVC còn hạn chế

Dạy LTVC đòi hỏi nội dung kiến thức phải mở rộng, đa dạng, hệ thống bài tập phải kích thích được sự tìm tìm suy luận của HS

Việc chú trọng vào từ và câu cho học sinh ngay từ cấp tiểu học là rất quan trọng Đây là nền tảng cho các cấp học khác cũng như kỹ năng sử dụng từ, câu trong giao tiếp cho các em Cùng với các môn học khác phâm môn LTVC giúp các

em biết sử dụng từ ngữ, câu phù hợp trong giao tiếp hằng ngày Bồi dưỡng các em thưởng thức cái đẹp, biết thể hiện buồn, vui, yêu, ghét của con người Từ đó, học sinh biết phân biệt đẹp, xấu, thiên, ác để hoàn thiện nhân cách cho bản thân

Muốn vậy GV phải tìm tòi, quan sát, phát hiện học sinh thông qua các bài tập

để từ đó GV có biện pháp phù hợp tác động tích cực vào HS Qua khảo sát nghiên cứu thực tế tại trường tiểu học Đồng Phú tôi thấy việc dạy học Luyện từ và câu ở lớp 3 chưa sử dụng các bài tập mở rộng, nâng cao để kích thích sự tư duy sáng tạo của học sinh Từ những gì nghiên cứu tôi nhận thấy việc nâng cao kiến thức cho học

Trang 29

sinh qua các dạng bài tập là rất cần thiết Vì vậy ở chương 2 tôi đã xây dựng hệ thống bài tập nâng cao về từ và câu cho học sinh lớp 3 nhằm nâng cao kiến thức về

từ và câu qua đó nâng cao chất lượng dạy và học phân môn Luyện từ và câu lớp 3

***

Để xây dựng hệ thống bài tập có sức thuyết phục và có tính khả thi, khoá luận

đã dựa vào cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn nhất định

Cơ sở lý luận chính là tri thức về từ và câu Tiếng Việt nói chung và ở tiểu học nói riêng Các cơ sở này giúp chúng ta hiểu rõ được bản chất, cái chúng ta cần hướng đến là dựa trên cơ sở này

Cơ sở thực tiễn chính là chương trình phân môn luyện từ và câu trong sách Tiếng Việt lớp 3, thực trạng dạy và học về từ và câu lớp 3 trong phân môn Luyện từ

và câu ở trường tiểu học Đồng Phú Tất cả những cơ sở thực tiễn này đều chỉ là căn

cứ vào kết quả điều tra bước đầu của tôi, có tham khảo kết quả điều tra của một số nghiên cứu đi trước

Trang 30

CHƯƠNG II: XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP NÂNG CAO VỀ TỪ VÀ CÂU CHO HỌC SINH LỚP 3 TRƯỜNG TIỂU HỌC ĐỒNG PHÚ

2.1 Hệ thống hoá các dạng bài tập về từ và câu trong sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 3

2.1.1 Hệ thống hoá các dạng bài tập

+ Dạng bài tập về từ

Bài tập mở rộng vốn từ

Các dạng bài tập Số

lượng Tên bài Trang/sách Tập 1 Tập 2

1 Tìm từ theo yêu cầu 11

Bài 1 Bài 2

16-33-135 107-135 X Bài 1

Trang 31

Bài tập vận dụng từ

Các dạng bài tập Số

lượng

Tên bài Trang/sách

9-27 45-61-127

Trang 32

5 Trả lời câu hỏi 05

Bài 4 Bài 2 Bài 3

9-27 45-102

62

X

6.Tìm bộ phận của câu hỏi

Khi nào/Ở dâu/Vì sao/Đang

làm gì/Bằng gì?

06

Bài 3 Bài 2 Bài 1

9-27-61-117 62-85

102

X

2.1.2 Nhận xét hệ thống bài tập trong sách giáo khoa Tiếng Việt Tiểu học phân

môn LTVC lớp 3

Hệ thống bài tập trong phân môn Luyện từ và câu được sắp xếp thep mức độ

từ dễ đến khó giúp học sinh mở rộng vốn từ, cách sử dụng từ, biết cách nói thành câu, tiến tới nói hay, viết hay Hệ thống bài tập giúp học sinh củng cố được kiến thức đã học Đó là phương tiện giúp học sinh rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo và vận dụng những kiến thức đã học vào thực tế cuộc sống Qua quá trình khảo sát nội dung chương trình và hệ thống bài tập phân môn Luyện từ và câu lớp 3 tôi có những nhận xét sau:

Nội dung và trình tự các bài học có sự lồng ghép nhau Ở lớp 3 chỉ có 1 tiết/tuần và có các dạng bài khác nhau Yêu cầu học sinh nắm được cách đặt một số kiểu câu, một số nghi thức lời nói trong giao tiếp, biết cách đặt câu có bộ phận trả lừoi câu hỏi khi nào, ở đâu, như thế nào, vì sao?…

Qua khảo sát ta thấy rằng chương trình lớp 3 chỉ có 1 tiết/tuần vì thế dạng bài tập còn đơn giản và có số lượng dạng bài ít, mức độ tư duy sáng tạo cũng ít hơn Hệ thống bài tập được trình bày bằng nhiều hình thức tự luận, trắc nghiệm, nhiều phương tiện hỗ trợ kèm theo kênh chữ

Sự phối hợp nhiều hình thức tổ chức nhiều kiểu dạng bài tập, nhiều phương tiện hỗ trợ và việc sắp xếp bài tập theo thang nhận thức không chỉ tránh nhàm chán

mà quan trọng hơn là tác dụng hiệu quả của nó đối với việc rèn luyện thao tác tư duy

Trang 33

Hệ thống bài tập trong SGK sắp xếp một cách khoa học có chủ định, mang tính hướng đích Dặc biệt tonhs sư phạm thể hiện khá rõ trong hình thức diễn đạt cảu các bài tập Thông thường các bài tập được sắp xếp theo trình tự bài tập nhận diện, bài tập biến đổi, bài tập vận dụng Số lượng những dạng bài: tìm từ theo chủ

đề, giải nghĩa từ, xác định thành phần câu… chiếm tỉ lệ cao Đây là dạng bài nắm nghĩa từ và tìm từ theo chủ đề chủ điêm nhằm giúp học sinh nắm được những kiến thức cơ bản của bài học từ đó hệ thống hoá tích luỹ vốn từ của mình Dạng bài này chưa có nâng cao nhiều

Dạng bài biến đổi như: đặt câu với từ, chọn từ điền vào chỗ trống, tìm vế câu…Loại bài này học sinh cần tư duy cao hơn, đòi hỏi học sinh nắm vững từ để sử dụng biến đổi theo yêu cầu bài tập

Dạng bài tập vận dụng sáng tạo: viết thêm vế câu cho phù hợp, them các thành phần để hoàn thành câu…Với dạng này bài tập còn ít chưa đáp ứng được việc rèn luyện nâng cao cho học sinh

Những bài tập trong chương trình chưa phát huy cao khả năng tư duy sáng tạo của học sinh Số lượng bài tập còn ít Một số bài tập đưa ra nhằm mục đích cung cấp kiến thức ở mức nhận biết chưa chú ý đến nâng cao kiến thức cho học sinh Chính vì vậy, việc xây dựng hệ thống bài tập nhằm nâng cao kién thức cho học sinh là điều cần thiết để góp phần cung cấp thêm tri thức để phát triển năng lực của mình

2.2 Xây dựng hệ thống bài tập nâng cao về từ và câu cho học sinh lớp 3

2.2.1 Mục đích xây dựng hệ thống bài tập

Hệ thống bài tập được xây dựa trên mục đích nâng cao chất lượng dạy và học

từ và câu ở lớp 3

Thứ nhất, giúp các em củng cố những kiến thức cơ bản đã được học ở lớp 2

qua đó hình thành những kiến thức nâng cao trên cơ sơ nền tảng kiến thức cũ về từ

và câu

Thứ hai, giúp các em tư duy, sáng tạo hơn trong việc học đồng thời khắc sâu

kiến thức về từ và câu, các em được tiếp cận nhiều hơn với các dạng bài tập về câu

từ cơ bản đến nâng cao, hỗ trợ các em làm tốt các bài kiểm tra

Trang 34

Thứ ba, hệ thống bài tập được xây dựng sẽ là một tài liệu góp phần giúp các

giáo viên dạy tốt hơn về từ và câu cho HS

2.2.2 Nguyên tắc xây dựng hệ thống bài tập

Có thể nói rằng, hệ thống bài tập trong khoá luận được xây dựng dựa trên 6 nguyên tắc cơ bản sau:

- Nguyên tắc đảm bảo tính tích hợp;

- Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống;

- Nguyên tắc đảm bảo phù hợp nội dung chương trình;

- Nguyên tắc đảm bảo tính vừa sức và phát huy tính sáng tạo của học sinh;

- Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa;

- Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi

* Nguyên tắc đảm bảo tính tích hợp

Tích hợp nghĩa là tổng hợp trong một đơn vị học, một tiết học hay một bài

tập… nhiều mảng kiến thức và kĩ năng liên quan đến nhau nhằm tăng cường hiệu quả giáo dục và tiết kiệm thời gian học tập cho người học

Chương trình môn Tiếng Việt ở cấp tiểu học nói chung và ở lớp 3 nói riêng

được xây dựng theo tinh thần tích hợp Tất cả các phân môn trong sách Tiếng Việt 3 đều có quan hệ chặt chẽ, lấy bài Tập đọc làm điểm xuất phát chung về chủ đề cần

dạy

Phân môn Luyện từ và câu cũng không nằm trong mối quan hệ đó Bởi vậy, hệ thống bài tập được trình bày trogn khoá luận sẽ dựa vào các bài tập đọc Nói cách khác hệ thống bài tập được xây dựng sẽ tuân thủ triệt để các chủ điểm được dạy

thông qua những bài tập đọc trong sách Tiếng Việt 3

Trang 35

* Nguyên tắc đảm bảo phù hợp nội dung chương trình

Mục đích của luận văn là xây dựng hệ thống bài tập để làm tài liệu tham khảo

cho việc dạy và học phân môn Luyện từ và câu trong sách Tiếng Việt 3

Vì vậy, hệ thống bài tập ở đây luôn phải bám sát nội dung chương trình của môn học, phải đảm boả được mức độ kiến thức cần đạt đối với học sinh khi học xong chương trình

Tóm lại, nguyên tắc đảm bảo phù hợp nội dung chương trình thể hiện ở chỗ các bài tập không những phải tuân thủ nội dung chương trình của môn học mà còn phỉa đảm bảo sự phù hợp về kiến thức trong chương trình

* Nguyên tắc đảm bảo tính vừa sức và phát huy tính sáng tạo của học sinh

Tính vừa sức (học sinh) ở đây được hiểu là hệ thống bài tập đưa ra phải phù

hợp với trình độ tri thức cũng như phù hợp trình độ nhận thức của các em

Nếu bài tập quá dễ sẽ không phát huy được tính sáng tạo của các em

Ngược lại, nếu bài tập quá khó các em sẽ không đủ kiến thức để giải quyết yêu cầu của bài tập

Để có thể ứng dụng vào thực tế dạy - học, hệ thống bài tập không thể không dựa vào nguyên tác đảm bảo tính vừa sức và phát huy tính sáng tạo của học sinh

* Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa

Bất cứ một công trình nghiên cứu nào, dù trực tiếp hay gián tiếp đều phải kế thừa những thành tựu nghiên cứu của những người đi trước

Kế thừa ở đây được hiểu là tiếp thu có chọn lọc kết quả nghiên cứu đã có

Theo cách hiểu đó, khó luận có thể tiếp thu một số bài tập của một vài tác giả

đi trước trên tinh thần chọn lọc

* Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi

Muốn đạt được mục đích đã đề ra, hệ thống bài tập phải có tính khả thi, nghĩa

là chúng phải là một hệ thống bài tập có thể vận dụng được trong thực tế dạy – học

và đem lại hiệu quả như mong muốn

Tóm lại, hệ thống bài tập trình bày trong luận văn được xây dựng dựa trên 6 nguyên tắc cơ bản: nguyên tắc tích hơp, ngyên tắc đảm bảo tính hệ thống, nguyên tác đảm bảo phù hợp nội dung chương trình, nguyên tắc đảm bảo tính vừa sức và phát huy sáng tạo của học sinh, nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa, nguyên tác đảm bảo tính khả thi

Trang 36

Đảm bảo 6 nguyên tắc này, hệ thống bài tập mới có thể dùng làm tài liệu tham khảo như đã nói ở trên

2.3 Một số cách xây dựng bài tập

2.3.1 Bài tập về từ theo từng chủ điểm

Phân môn Luyện từ và câu trong chương trình Tiếng Việt lớp 3 bao gồm 15

chủ điểm: Măng non, Mái ấm, Tới trường, Cộn đồng, Quê hương, Bắc-trung-nam, Anh em một nhà, Thành thị và nông thôn, Bảo vệ Tổ quốc, Sáng tạo, Nghệ thuật, Lễ hội, Thể thao, Ngôi nhà chung, Bầu trời và mặt đất

Khoá luận chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu 6 chủ điểm đó là: Măng non, Mái

ấm, Tới trường, Thành thị và nông thôn, Sáng tạo, Nghệ thuật

Bài tập chủ điểm Măng non

1 Điền tiếp vào chỗ trống các từ chỉ phẩm chất tốt của trẻ em

Ngoan ngoãn, thông minh, tự tin………

………

2 Đặt câu với các từ sau (mỗi từ hai câu)

Cần cù, chăm chỉ, yêu thương, lễ phép

………

………

Em hiểu thế nào về các từ ngữ yêu thương, lễ phép, giúp đỡ, nâng niu

3 Kể các từ ngữ dùng để chỉ phẩm chất không tốt của trẻ em

Trang 37

Thương yêu, vui chơi, quí mến, nâng đỡ, học tập, nhảy dây, đánh chắt, đánh

cù, đánh chuyền, chăm sóc, nâng niu, nựng

8 Em hãy tìm những từ có nghĩa giống với nghĩa của từ trẻ em

Mẫu: Trẻ em, trẻ con

9 Em hãy liệt kê những từ có nghĩa giống/ gần giống với nghĩa của từ ngoan ngoãn

Mẫu: ngoan ngoãn, nết na

10 Hãy tìm những từ có khả năng kết hợp về phía sau với các từ sau:

12 Điền từ thích hợp vào chỗ trống trong câu thơ sau:

Bé học giỏi, bé chăm ngoan

là cô Tấm là con ngoan

13 Điền từ thích hợp vào chỗ trống trong các câu sau:

a là tương lai của đất nước

b Các bạn được sinh hoạt trong các sao nhi đồng

c Các xóm tôi đang dưới gốc đa đầu làng

14 Tìm từ mới với sự gợi ý sau đây:

a Người đang sinh hoạt trong một tổ chức của trẻ em: có 2 tiếng, bắt đầu bằng chữ Đ

b Từ gọi thân mật bé gái: có 2 tiếng, bắt đầu bằng chữ C

c Tên gọi một tổ chức đội: có 3 tiếng, bắt đầu bằng chữ Đ

15 Em hãy phát hiện và chỉ ra lỗi dùng từ trong các câu sau đây và sửa lại cho

đúng:

Trang 38

Em tôi trông láu lắm Nó có khuôn mặt bầu bĩnh Nó rất nghịch ngợm và hay bắt trước lời nói của người lớn

16 Trong câu sau đây, từ nào dùng không đúng âm? Hãy sửa lại cho đúng:

Bạn Hà tuy học giỏi nhưng rất kêu căng, tự phụ

17 Từ nào dùng không đúng trong câu sau đây? Hãy sửa lại cho đúng:

Nhìn thấy tôi từ xa, Tuấn đã tét miệng ra cười

18 Gạch chân những từ chỉ trẻ em với thái độ tôn trọng trong các từ sau đây: Trẻ em, trẻ con, nhãi ranh, nhãi con, trẻ thơ, nhóc con, thiếu nhi

* Bài tập chủ điểm Mái ấm

1 Những từ nào đồng nghĩa/ gần nghĩa với từ chăm sóc

2 Em hãy tìm những từ khác cũng có nghĩa như từ bố?

Mẫu: Bố, thầy…

3 Hãy viết tiếp những từ ngữ chỉ những người thân trong gia đình:

- Những từ chỉ người họ nội: ông nội,

- Những từ chỉ người họ ngoại: ông ngoại,

- Những từ dùng chung cho cả người họ nội và người họ ngoại: ông, bà,

4 Hãy viết tiếp những từ ngữ nói về tình cảm của những người trong gia đình

dành cho nhau:

- Ông bà, cha mẹ đối với con cháu: Thương yêu,

- Con cháu đối với ông bà, cha mẹ: kính trọng,

5 Viết tiếp những từ ngữ chỉ hoạt động của những người trong gia đình dành

cho nhau:

- Hành động của ông bà, cha mẹ cho con cháu: trông nom,

- Hành động của con cháu dành cho ông bà, cha mẹ: chăm sóc…

6 Hãy tìm những từ chỉ người thân trong gia đình có khả năng kết hợp về phía

trước với các từ sau:

- hiếu thảo

- chăm sóc

- phụng dưỡng

Trang 39

7 Hãy tìm những từ chỉ người thân trong gia đình có khả năng kết hợp về phía

sau với các từ sau:

- Ông bà

- Con cháu

8 Hãy tìm những từ chỉ quan hệ gia đình có khả năng kết hợp về phía trước

hoặc kết hợp về phía sau với các từ sau:

- nuôi nấng

- dạy dỗ

9 Điền từ thích hợp vào chỗ trống trong các câu sau:

a Trong gia đình, con cái phải đối với bố mẹ

b Anh chị em ruột phải biết nhau, nhau

10 Điền từ ngữ thích hợp vào chỗ trống trong các câu thành ngữ, tục ngữ sau:

a Con cháu

b ngã nâng

c Con có như nhà có nóc

11 Chọn từ thích hợp điền vào chỗ trống trong các câu sau:

(hoà thuận, hoà mình, hoà nhã, hoà giải)

a Gia đình em sống rất

b Mọi người trong gia đình nói năng phải

c Mẹ em luôn những vụ xích mích giữa mấy chị em

12 Điền từ vào các ô vuông sau sao cho mỗi chữ cái nằm trong một ô vuông:

a Con trai cả trong gia đình: có 2 tiếng, bắt đầu bằng chữ A

b Những người con cùng một bố mẹ sinh ra: có 3 tiếng, bắt đầu bằng chữ A

c Người anh trai của bố/ mẹ mà mình gọi: Có 1 tiếng, bắt đầu bằng chữ B

13 Đặt câu với các từ sau đây (mỗi từ đăt môt câu) đùm bọc, hoà thuận,

phụng dưỡng, cưu mang, yêu quý, vâng lời

14 Tìm 4 từ nói về những người chỉ quan hệ gia đình và đặt câu với các từ đó

15 Những từ nào trong các phát ngôn sau đây được dùng để chỉ mối quan hệ

gia đình, họ hàng:

Trang 40

- Con không thích chiếc áo ấy nữa Mẹ hãy để tiền mua áo ấm cho hai anh em chúng con

- Bạn nhỏ đó là đứa cháu rất yêu thương ông bà

- Ông ngoại dẫn cháu ra công viên chơi vào những ngày chủ nhật

16 Trong đoạn văn sau đây, từ ngữ nào chỉ sự quan tâm của người ông đối với

người cháu:

Ông chậm rãi nhấn từng nhịp chân trên chiếc xe đạp cũ, đèo tôi tới trường Trong cái vắng lặng của ngôi trường cuối hè, ông dẫn tôi lang thang khắp căn lớp trống Ông còn nhấc bổng tôi trên tay, cho gõ thử vào mặt da loang lổ của chiếc trống trường Tiếng trống buổi sáng trong trẻo ấy là tiếng trống trường đầu tiên, âm vang mãi trong đời đi học của tôi sau này

17 Hãy thay thế những từ in nghiêng trong các câu dưới đây bằng các từ có cùng trường nghĩa với chúng:

a Anh chị phải biết thương yêu các em

b Con cái phải biết vâng lời cha mẹ

c Mọi người trong gia đình phải biết giúp đỡ nhau

18 Hãy thay từ in nghiêng trong các câu dưới đây bằng một từ khác:

a Trẻ em hay bắt chước người lớn

b Cha mẹ, ông bà là người chăm sóc các em ở nhà

c Thiếu nhi là tương lai của đất nước

19 Hãy thay thế các từ in nghiêng trong các câu dưới đây bằng một từ

có cùng trường nghĩa:

a Trẻ em luôn được người lớn nâng niu

b Mọi người đều yêu quý và tin tưởng vào thế hệ trẻ

c Em tôi trông xinh lắm

20 Hãy thay thế những từ in nghiêng trong các câu dưới đây bằng các từ đồng nghĩa với chúng:

a Bố em là giám đốc nhà máy xe lửa Gia Lâm

b Mẹ em là cô giáo

c Các chị của em đều rất hiền lành

Ngày đăng: 07/06/2018, 09:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w