1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Mở rộng vốn từ cho học lớp 4 thông qua phân môn luyện từ và câu tại trường tiểu học hồng hóa – minh hóa – quảng bình

68 319 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 904,94 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khảo sát thực trạng việc dạy và học Mở rộng vốn từ thông qua phân môn Luyện từ và câu lớp 4 tại trường tiểu học Hồng Hóa – Minh Hóa – Quảng Bình ..... Riêng đối với “từ”, chương trình đã

Trang 1

I

Lời Cảm Ơn

Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trường Đại

học Quảng Bình, các thầy cô giáo khoa Sư phạm Giáo dục

Tiểu học – Mầm non đã giúp đỡ em rất nhiều trong quá

trình em học tập tại trường, trang bị cho em những kiến

thức quý báu và tạo mọi điều kiện cho em hoàn thành tốt

khóa luận đại học

Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo

TS Nguyễn Thị Nga, người đã tận tình chỉ bảo và giúp đỡ

em trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành khóa

luận này

Qua đây, em cũng xin được gửi lời cảm ơn chân thành

tới Ban giám hiệu và các thầy cô giáo trường Tiểu học

Hồng Hóa – Minh Hóa – Quảng Bình đã tạo điều kiện cho

em trong quá trình thực hiện đề tài

Em xin chân thành cảm ơn !

Đồng Hới, tháng 5 năm 2018

Sinh viên

Lê Nữ Như

Quỳnh

Trang 2

II

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đề tài khóa luận “Mở rộng vốn từ cho học sinh lớp 4

thông qua phân môn luyện từ và câu tại trường Tiểu học Hồng Hóa – Minh

Hóa – Quảng Bình” là kết quả nghiên cứu của riêng tôi không sao chép của ai,

dưới sự hướng dẫn của cô giáo TS Nguyễn Thị Nga Nội dung đề tài khóa luận

có tham khảo và sử dụng tài liệu thông tin được đăng tải trên các web theo danh

mục tài liệu tham khảo của đề tài Nếu sai tôi xin hoàn chịu trách nhiệm !

Sinh viên

Lê Nữ Như Quỳnh

Trang 3

III

MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN I LỜI CAM ĐOAN II MỤC LỤC III DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT V

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Mục đích nghiên cứu 3

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

5 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 4

6 Phạm vi và thời gian nghiên cứu 4

7 Phương pháp nghiên cứu 4

8 Đóng góp của khóa luận 5

9 Cấu trúc khóa luận 5

NỘI DUNG 6

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 6

1.1 Cơ sở lí luận 6

1.1.1 Một số khái niệm liên quan đến đề tài 6

1.1.2 Đặc điểm tâm, sinh lí của học sinh tiểu học 11

1.1.3 Ý nghĩa của việc dạy và học Mở rộng vốn từ cho học sinh 13

1.2 Cơ sở thực tiễn 14

1.2.1 Nội dung chương trình và SGK phân môn Luyện từ và câu lớp 4 14

1.2.2 Khảo sát thực trạng việc dạy và học Mở rộng vốn từ thông qua phân môn Luyện từ và câu lớp 4 tại trường tiểu học Hồng Hóa – Minh Hóa – Quảng Bình 17

CHƯƠNG 2 : CÁC BIỆN PHÁP MỞ RỘNG VỐN TỪ VỐN TỪ CHO HỌC SINH LỚP 4 THÔNG QUA PHÂN MÔN LUYỆN TỪ VÀ CÂU 21

Trang 4

IV

2.1 Mở rộng vốn từ bằng việc xây dựng hệ thống các bài tập 21

2.2 Mở rộng vốn từ theo chủ điểm 32

2.3 Mở rộng vốn từ thông qua các trò chơi học tập 36

CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 43

3.1 Những vấn đề chung 43

3.1.1 Mục đích thực nghiệm 43

3.1.2 Đối tượng, thời gian, địa bàn thực nghiệm 43

3.1.3 Nội dung thực nghiệm 43

3.2 Thiết kế giáo án 44

3.2.1 Giáo án thực nghiệm 44

3.2.2 Giáo án đối chứng 51

3.3 Kết quả thực nghiệm 54

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 57

TÀI LIỆU THAM KHẢO 59

PHỤ LỤC

Trang 5

V

DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

Trang 6

cơ bản cần thiết Để giúp học sinh có vốn kiến thức đó, nhiệm vụ của môn tiếng Việt ở tiểu học là trang bị cho các em những kiến thức về hệ thống tiếng Việt, chuẩn tiếng Việt, rèn cho học sinh kĩ năng sử dụng tiếng Việt trong giao tiếp Trong đó phân môn Luyện từ và câu là một trong những phân môn quan trọng

và có ý nghĩa to lớn Luyện từ và câu giúp học sinh mở rộng, hệ thống hoá vốn

từ và trang bị cho học sinh một số hiểu biết sơ giản về từ và câu Rèn cho học sinh thói quen dùng từ đúng, có ý thức sử dụng tiếng Việt văn hoá trong giao tiếp, rèn luyện phát triển tư duy

Đối với học sinh Tiểu học việc mở rộng vốn từ cho các em là rất cần thiết Vốn từ của học sinh càng nhiều bao nhiêu thì khả năng lựa chọn từ ngữ càng lớn, càng chính xác và sự trình bày tư tưởng, tình cảm càng rõ ràng sâu sắc bấy nhiêu Từ đó, các em tích luỹ cho mình những kiến thức cần thiết, tạo điều kiện

để các em học tốt các phân môn khác trong tiếng Việt cũng như các môn học khác Đặc biệt là khơi dậy trong tiềm thức tâm hồn học sinh lòng yêu quý sự phong phú của tiếng Việt, có ý thức giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Thực tế việc dạy học ở trường tiểu học hiện nay đã chú trọng “Dạy cho học sinh những kiến thức cơ bản về tiếng Việt” để từ đó rèn kĩ năng sử dụng tiếng Việt trong giao tiếp, thông qua việc rèn 4 kĩ năng “nghe, nói, đọc, viết” Riêng đối với “từ”, chương trình đã chú trọng dạy cho học sinh ở tất cả các phân môn của môn Tiếng Việt, trong đó phân môn Luyện từ và câu lớp 4 Nhưng chất lượng của việc mở rộng vốn từ chưa đạt được như mục đích, yêu cầu môn học đặt ra Biểu hiện ở khả năng sử dụng cũng như những hiểu biết của học sinh về tiếng Việt còn hạn chế, vốn từ nghèo nàn, kĩ năng thực hành sử dụng từ còn yếu

Trang 7

2

Học xong tiểu học nhiều em không có khả năng tạo ra văn bản bình thường hay trình bày một vấn đề nhỏ mạch lạc

Xuất phát từ những lí do vừa được trình bày trên đây, tôi chọn đề tài “Mở

rộng vốn từ cho học sinh lớp 4 thông qua phân môn Luyện từ và câu tại trường Tiểu học Hồng Hóa – Minh Hóa – Quảng Bình” với mong muốn đi

sâu nghiên cứu, đề xuất biện pháp mở rộng vốn từ cho học sinh qua phân môn Luyện từ và câu và góp phần tích cực vào việc nâng cao chất lượng dạy học môn tiếng Việt ở Tiểu học nói riêng và việc phát triển ngôn ngữ cho học sinh nói chung

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Dạy học mở rộng vốn từ cho học sinh tiểu học là một nhiệm vụ hết sức quan trọng của người giáo viên Có kho tàng vốn từ vựng phong phú sẽ giúp cho các em có thể phân loại được các loại từ, cách dùng từ, đặt câu có ý nghĩa, vận dụng các từ được mở rộng trong phân môn luyện từ và câu và các phân môn học khác Nhìn thấy được tầm quan trọng của việc dạy mở rộng vốn từ, một số tác giả đã đề cập vấn đề mở rộng vốn từ trong quá trình nghiên cứu của mình

Tác giả Lê Phương Nga đã tiến hành “Tìm hiểu vốn từ của học sinh Tiểu học” Đây là chương trình có ý nghĩa vô cùng quan trọng vì đã giải quyết hai

nhiệm vụ: làm rõ khả năng khả năng hiểu nghĩa từ của học sinh tiểu học và xác định được khả năng sử dụng từ của các em Tác giả đã đưa ra những con số thống kê về thực trạng nắm nghĩa của từ và sử dụng từ của học sinh Từ việc đó tác giả phân tích rõ các đặc điểm giải nghĩa từ và sử dụng từ của học sinh, đồng thời thấy được cả những lúng túng của các em khi thực hiện những hoạt động này

Tác giả Trịnh Mạnh có bài “Dạy từ ngữ cho học sinh cấp phổ thông” Tài

liệu này có hai đóng góp quan trọng Thứ nhất, là xác định được 3 nhiệm vụ cụ thể của việc dạy từ (chính xác vốn từ, phong phú vốn từ, tích cực hóa vốn từ) Thứ hai, là tài liệu đã xác định nội dung cụ thể của việc dạy từ, nên dạy cái gì và

Trang 8

3

không dạy cái gì? Ngoài các nhiệm vụ cơ bản mà Trịnh Mạnh đã đề cập, bài viết

“Những điểm mới làm cơ sở cho việc dạy và học môn Tiếng Việt ở Trung học cơ sở” (Giáo dục số lục, 1986)

Công trình nghiên cứu của Nguyễn Mai Liên – mã số 17 đã nghiên cứu về

việc mở rộng vốn từ của học sinh nhưng chỉ dừng lại ở từ láy với đề tài “Khảo sát khả năng nhận biết, tích lũy và mở rộng vốn từ láy của học sinh Tiểu học” Luận án của tác giả Lê Hữu Tỉnh đã xây dựng “Hệ thống bài tập rèn luyện năng lực sử dụng từ ngữ cho học sinh tiểu học” Luận án đưa ra một hệ thống

bài tập dạy từ cho học sinh tiểu học, với một cái nhìn toàn cục, tổng thể về diện mạo, của các bài dạy từ ở Tiểu học Tác giả đã phân tích về ý nghĩa, mục đích, tác dụng của bài tập, các loại bài tập Hệ thống bài tập cho phép người sử dụng lựa chọn từng bài vào điều kiện dạy học cụ thể

Có thể nói, vấn đề mở rộng vốn từ cho học sinh tiểu học là một vấn đề không phải hoàn toàn mới, có rất nhiều tài liệu đã đề cập đầy đủ và sâu sắc mọi khía cạnh của việc dạy từ cũng như mở rộng vốn từ cho học sinh Tuy nhiên, các tài liệu trên chủ yếu đề cập một cách tổng quát về vấn đề dạy học các phân môn của môn tiếng Việt ở tiểu học và chưa nhấn mạnh vấn đề mở rộng vốn từ cho học sinh ở phân môn Luyện từ và câu Vì vậy, tôi mạnh dạn xây dựng đề tài

“Mở rộng vốn từ cho học sinh lớp 4 thông qua phân môn luyện từ và câu tại

trường Tiểu học Hồng Hóa – Minh Hóa – Quảng Bình” Kết quả nghiên cứu

của các công trình đi trước sẽ định hướng để tôi hoàn thành khóa luận này

3 Mục đích nghiên cứu

Đề xuất các biện pháp mở rộng vốn từ cho học sinh lớp 4 qua phân môn Luyện từ và câu, nhằm giúp các em có vốn từ phong phú, thuận lợi, dễ dàng hơn trong viết văn và giao tiếp

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Xây dựng cơ sở khoa học liên quan đến đề tài nghiên cứu

- Tìm hiểu thực trạng việc mở rộng vốn từ trong phân môn Luyện từ và câu cho học sinh lớp 4 hiện nay

Trang 9

5 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu

- Việc dạy và học mở rộng vốn từ thông qua phân môn Luyện từ và câu lớp

4 tại trường Tiểu học Hồng Hóa – Minh Hóa – Quảng Bình

6.2 Thời gian nghiên cứu

- Năm học 2017 – 2018

7 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Phương pháp này được dùng để đọc các tài liệu có liên quan đến chủ đề tôi xây dựng để chọn lọc, ghi chép, tổng hợp thành cơ sở lí luận cho đề tài

- Phương pháp thống kê - phân loại: Phương pháp nghiên cứu này được dùng để khảo sát, phân loại các dạng bài tập, phân loại kết quả học tập của học sinh

- Phương pháp phân tích - tổng hợp: Phương pháp nghiên cứu này được dùng để phân tích, tổng hợp kết quả nghiên cứu kết quả điều tra thực

tế

- Phương pháp thực nghiệm: Phương pháp nghiên cứu này được vận dụng trong quá trình tổ chức thực nghiệm những dạng bài tập mà đề tài đề xuất

Trang 10

5

8 Đóng góp của khóa luận

- Kế thừa những thành tựu của các công trình nghiên cứu trước đó có liên quan đến đề tài

- Đề ra được các biện pháp để mở rộng vốn từ cho học sinh lớp 4 thông qua phân môn luyện từ và câu

- Là tài liệu tham khảo cho học sinh và giáo viên trong quá trình dạy và học phân môn luyện từ và câu lớp 4

9 Cấu trúc khóa luận

Ngoài phần mở đầu và kết luận, phần nội dung của khóa luận gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở khoa học của đề tài

Chương 2: Các biện pháp mở rộng vốn từ cho học sinh lớp 4 thông

qua phân môn Luyện từ và câu

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 11

6

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI

Tác giả Đỗ Hữu Châu trong cuốn “Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt” đã đưa

ra định nghĩa về từ như sau: “Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến, mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định, nằm trong những kiểu cấu tạo nhất định, tất cả ứng với một kiểu ý nghĩa nhất định, lớn nhất trong

tiếng Việt và nhỏ nhất để tạo câu” [4, tr.16]

 Đặc điểm từ

a Đặc điểm ngữ âm

Hình thức ngữ âm của từ tiếng Việt cố định, bất biến ở mọi vị trí, mọi quan

hệ và chức năng trong câu Nói cách khác, hình thức của từ không thay đổi khi

từ ở trong từ điển và khi từ ở trong câu nói

Ví dụ:

+ Trong từ điển: sách

+ Trong câu nói:

Sách này của tôi

Không có sách thì không có tri thức

Vì vậy, nhằm vào hình thức ngữ âm của từ, ta không biết giá trị ngữ pháp của chúng Giá trị ngữ pháp của từ được hiện thực hóa, được bộc lộ trong mối quan hệ giữa nó với các từ khác đứng trước hoặc đứng sau

Bên cạnh đó, do tiếng Việt là ngôn ngữ giàu thanh điệu, cấu tạo ngữ âm của các âm, các vần lại hết sức phong phú, vì vậy, hình thức ngữ âm của từ tiếng Việt có khả năng gợi tả, có giá trị biểu hiện rất cao Trong sáng tạo văn chương, các nhà văn, nhà thơ rất có ý thức khai thác đặc điểm này về mặt ngữ âm của từ

Trang 12

7

tiếng Việt để tạo ra những câu văn, câu thơ mà hình thức ngữ âm của từ có tác dụng gợi nghĩa, gợi nội dung rất lớn Ví dụ:

Đọc hai dòng thơ sau trong Truyện Kiều:

Đoạn trường thay, lúc phân kì,

Vó câu khấp khểnh, bánh xe gập ghềnh

Ta thấy dường như âm thanh ở đây có một sự tương ứng nào đó với tình cảm của người trong cuộc Cái sự khó khăn trong phát âm được lặp lại ở hai cặp

âm tiết trong dòng thơ thứ hai (khấp khểnh, gập ghềnh) có một sự phù hợp nào

đó với cuộc đời đầy gian truân mà nàng Kiều đang bước vào, đang dấn thân

b Đặc điểm ngữ pháp

Do bị chi phối bởi những đặc điểm về loại hình (loại hình ngôn ngữ) nên đặc điểm ngữ pháp của từ tiếng Việt chủ yếu được biểu hiện ở hai phương diện: thứ nhất, ở khả năng kết hợp và thứ hai, ở khả năng đảm nhiệm các chức vụ ngữ pháp trong câu, khả năng chi phối các thành tố phụ trong cụm từ

Ví dụ:

Những từ như: máy bay, nhà cửa, sinh viên… có thể kết hợp được (trực tiếp hoặc gián tiếp) với các từ chỉ số lượng ở vị trí đằng trước và có thể đảm nhiệm chức vụ làm chủ ngữ trong câu

Những từ như: bổ, xẻ, vá… có khả năng mang bổ ngữ danh từ chỉ đối tượng chịu tác động trực tiếp của hoạt động do các động từ biểu thị (ví dụ: bổ củi, xẻ gỗ, vá áo…)

a Phân loại từ theo đặc điểm cấu tạo

Dựa vào đặc điểm cấu tạo từ, người ta phân chia từ tiếng Việt thành: Từ đơn và Từ phức

Trang 13

8

b Phân loại từ theo đặc điểm ngữ nghĩa

Dựa vào số lượng, thành phần nghĩa được biểu thị trong từ, người ta phân chia từ trong hệ thống thành từ một nghĩa và từ nhiều nghĩa

Từ một nghĩa là những từ ứng với một hình thức ngữ âm, là một sự vật, hiện tượng hay là một khái niệm về một sự vật, hiện tượng đó

Từ nhiều nghĩa là những từ mà có thể gọi tên nhiều sự vật, hiện tượng hoặc

có thể biểu thị nhiều khái niệm về sự vật, hiện tượng Trong mỗi một từ nhiều nghĩa, bao giờ cũng có một nghĩa gốc và các nghĩa phát sinh Xét về mặt lịch

sử, các nghĩa phát sinh của từ bao giờ cũng xuất hiện sau nghĩa gốc, chúng được hình thành trên cơ sở của nghĩa gốc

Dựa vào mối quan hệ của từ trong trường nghĩa, người ta phân chia thành

từ đồng nghĩa và từ trái nghĩa

Từ đồng nghĩa là những từ khác nhau về hình thức ngữ âm nhưng lại phải

có chung nhất một nét nghĩa nào đó

Từ trái nghĩa là những từ khác nhau về hình thức ngữ âm, đối lập về ý nghĩa, biểu hiện khái niệm tương phản về logic nhưng tương liền với nhau

c Phân loại từ theo nguồn gốc

• Từ thuần Việt

Từ thuần Việt là những từ cơ bản, từ gốc của Tiếng Việt Nó ra đời sớm và được dân tộc ta sử dụng từ thời thượng cổ đến nay Nó là cơ sở của hệ thống từ vựng tiếng Việt Từ thuần Việt có số lượng lớn và mang tính dân tộc sâu sắc

Đó là những từ như: cha, mẹ, anh, em, nắng, mưa,

Quá trình phát triển của lịch sử - xã hội ngôn ngữ, các từ thuần Việt cũng

có những thay đổi, biến đổi nhất định cả về nghĩa, về cách dùng…Trong tiếng Việt hiện đại, các từ thuần Việt vẫn giữ vai trò vô cùng quan trọng và làm cơ sở cho sự phát triển của từ vựng tiếng Việt

• Từ vay mượn

Từ vay mượn trong tiếng Việt là những từ tiếng Việt mượn của ngôn ngữ khác, nhưng “cải tạo” lại để có hình thức ngữ âm, có đặc điểm ngữ pháp phù

Trang 14

Từ toàn dân là lớp từ vựng cơ bản, quan trọng nhất trong mỗi ngôn ngữ

Nó làm cơ sở cho sự thống nhất ngôn ngữ trong một quốc gia

Ví dụ:

“Gan chi, gan rứa, mẹ nờ

Mẹ rằng cứu nước mình chờ chi ai”

(Tố Hữu – Mẹ Suốt)

1.1.1.2 Khái niệm trường nghĩa

Hiểu theo lối “chiết tự” thì trường là một tập hợp các từ, nghĩa là quan hệ ngữ nghĩa giữa các từ trong tập hợp từ ấy Trường nghĩa là tập hợp các từ căn cứ vào một nét đồng nhất nào đó về ngữ nghĩa Mỗi trường nghĩa là một tiểu hệ thống nằm trong hệ thống lớn là từ vựng của một ngôn ngữ

 Các loại trường nghĩa

a Trường nghĩa biểu vật

Trang 15

10

Trường nghĩa biểu vật là sự tập hợp những từ cùng biểu thị một phạm vi sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan Cơ sở để xác lập trường nghĩa biểu vật

là sự đồng nhất nào đó trong ý nghĩa biểu vật của các từ

Ví dụ: Trường nghĩa biểu vật về hoa quả:

Hoa:

- Các loài hoa: hoa hồng, hoa cúc, hoa đào, hoa sen, hoa huệ, hoa lan…

- Các mức độ thơm: thơm ngát, thơm dịu, thơm lừng, thơm ngào ngạt… Quả:

- Các mức độ chín: ương, chín, chín cây, chín rộ, chín ép…

b Trường nghĩa biểu niệm

Tập hợp các từ có chung một cấu trúc biểu niệm lại thì ta được trường nghĩa biểu niệm Nói cách khác, trường nghĩa biểu niệm là sự tập hợp các từ có cấu trúc biểu niệm giống nhau

Ví dụ: Các từ có chung nét nghĩa chung là dụng cụ lao động cầm tay tạo

thành một trường: cưa, kéo, hái, liềm, dao, rìu, lưới, đục, khoan,…

c Trường nghĩa tuyến tính

Trường tuyến tính được hình thành nhờ sự tập hợp tất cả các từ cùng xuất

hiện với từ trung tâm theo quan hệ hàng ngang trong cụm từ, trong câu Để xác

lập trường nghĩa tuyến tính, người ta thường chọn một từ làm gốc (từ trung tâm) rồi tìm những từ ngữ kết hợp với nó thành một chuỗi tuyến tính

Ví dụ: Trường nghĩa tuyến tính của từ bàn (danh từ) là: đá, gỗ, sắt; vuông, tròn, bầu dục; ngắn, dài; học, viết, vẽ, ăn…

d Trường nghĩa liên tưởng

Khi ta nhắc tới một từ nào đó (từ kích thích), từ ấy gợi ra cho ta hàng loạt

từ khác Toàn bộ những từ do một từ kích thích gợi ra theo quy luật liên tưởng tập hợp lại thành một trường liên tưởng

Ví dụ: Khi nhắc đến từ quê hương, một loạt các từ được gợi ra đồng thời hoặc kế tiếp: đẹp, nhớ, tình yêu, kỉ niệm, tuổi thơ, cây đa, dòng sông,…

Trang 16

Vốn từ có thể có được do quá trình tích luỹ tự nhiên trong cuộc sống hàng ngày (giao tiếp với mọi người, tự đọc sách vở, v.v ), tức là từ được hình thành bằng con đường vô thức và cũng có thể do con người ta tích luỹ một cách có ý thức (học từ với sự trợ giúp của người hướng dẫn, qua sách vở, tài liệu một cách

có kế hoạch, có hệ thống)

Ví dụ: Từ khi đến độ tuổi bô be tập nói thì trẻ đã học được từ mọi người xung quanh(ông bà, bố mẹ, anh chị, ) những ngôn ngữ thường ngày trẻ thường được nghe Trẻ dần ghi nhớ trong đầu và hiểu được những từ đó được sử dụng khi nào Đến độ tuổi đi học, trẻ được tiếp xúc với môi trường mới, đối tượng mới thì sẽ tích lũy được nhiều vốn từ vựng mới đa dạng, phong phú hơn

 "Mở rộng vốn từ" là gì?

Mở rộng vốn từ chính là việc tích lũy thêm nhiều, làm tăng lên và đa dạng hóa số lượng vốn từ vựng sẵn có của mỗi cá nhân Vốn từ là luôn biến động và phát triển theo độ tuổi, môi trường sống và những hoạt động của cá nhân Do vậy, việc mở rộng vốn từ là cả một quá trình tích lũy liên tục

1.1.2 Đặc điểm tâm, sinh lí của học sinh tiểu học

Đối tượng của cấp tiểu học là trẻ em từ 6 đến 11 tuổi Học sinh tiểu học là một thực thể hồn nhiên, ngây thơ, và trong sáng Trẻ em ở lứa tuổi tiểu học là thực thể đang hình thành và phát triển cả về mặt sinh lí, tâm lí, xã hội Các em đang từng bước gia nhập vào xã hội thế giới của mọi mối quan hệ Do đó, học sinh tiểu học chưa đủ ý thức, chưa đủ phẩm chất và năng lực như một công dân trong xã hội, mà các em luôn cần sự bảo trợ, giúp đỡ của người lớn, của gia đình, nhà trường và xã hội

Trang 17

12

a Tri giác

Học sinh bậc tiểu học tri giác mang tính đại thể, ít đi vào chi tiết và mang tính không chủ động Các em khó phân biệt chính xác sự giống nhau hay khác nhau giữa các sự vật Tri giác của học sinh tiểu học phát triển trong quá trình học tập Sự phát triển này diễn ra theo hướng ngày càng chính xác hơn, đầy đủ hơn, phân hóa rõ ràng hơn, có chọn lọc hơn Vì vậy học sinh các lớp cuối tiểu học (lớp 4, 5) đã biết tìm ra các dấu hiệu đặc trưng của đối tượng, biết phân biệt sắc thái của các chi tiết để đi đến phân tích tổng hợp và tìm ra mối liên hệ giữa chúng

b Trí nhớ

Ở học sinh tiểu học cả ghi nhớ có chủ định và không có chủ định đều đang phát triển Học sinh lớp 1, lớp 2 ghi nhớ không chủ định vẫn giữ vai trò quan trọng Ở những lớp học này các em thường ghi nhớ một cách máy móc Do vậy,

để tránh cho các em không học vẹt, các thầy cô giáo cần hướng dẫn cho các em biết ghi nhớ có ý nghĩa Ở cuối bậc tiểu học, học sinh phát triển mạnh ghi nhớ có

chủ định

c Tưởng tượng

Tưởng tượng của các em học sinh tiểu học đã phát triển và phong phú hơn nhiều so với trẻ em mẫu giáo Đây là tuổi thơ mộng giàu tình cảm Tuy nhiên tưởng tượng của các em vẫn còn tản mạn, ít có tổ chức Tưởng tượng được hình thành và phát triển trong hoạt động học tập và các hoạt động khác cuả các em Khuynh hướng chủ yếu trong sự phát triển của học sinh tiểu học được hoàn thiện gắn liền với những hình tượng đã được tri giác trước và tạo ra những hình tượng phù hợp với điều mô tả, hình vẽ, sơ đồ… Trẻ càng lớn thì các yếu tố, chi tiết thừa trong hình ảnh càng giảm và hình ảnh cũng được gọt giũa hơn, tinh giản hơn, nên mạch lạc hơn và sát thực hơn

Trang 18

13

d Tư duy

Tư duy của học sinh tiểu học là sự chuyển từ tính trực quan, cụ thể sang tính trừu tượng, khái quát Sự vận dụng các thao tác tư duy để hình thành khái niệm thường trải qua ba mức độ

Một là chủ yếu dựa vào các dấu hiệu trực quan, bề ngoài, dễ thấy hay các dấu hiệu dễ gây cảm xúc đó là dấu hiệu không bản chất

Hai là dựa trên dấu hiệu bản chất nhưng là dấu hiệu dễ thấy, song vẫn còn lẫn lộn giữa dấu hiệu bản chất và dấu hiệu không bản chất, các dấu hiệu đó vẫn gắn với những hình ảnh trực quan , với những biểu tượng cụ thể

Ba là các em biết tách dấu hiệu bản chất khỏi dấu hiệu không bản chất, nhưng phải dựa vào sự vật cụ thể, trực quan, mặt khác dấu các dấu hiệu bản chất nêu ra vẫn chưa dầy đủ Năng lực trừu tượng hóa và khái quát hóa đang phát triển nhưng chưa đầy đủ, còn phải dựa vào những sự vật cụ thể, những tài liệu trực quan Các em chưa thể tự mình suy luận một cách logic và thường dựa vào những mối liên hệ ngẫu nhiên của sự vật và hiện tượng

e Ngôn ngữ

Ngôn ngữ của học sinh tiểu học phát triển mạnh cả về ngữ âm, ngữ pháp và

từ vựng Vốn từ của các em tăng lên một cách đáng kể do được học nhiều môn

và phạm vi tiếp xúc được mở rộng Khả năng hiểu nghĩa của từ cũng phát triển Tuy nhiên, trẻ thường hiểu nghĩa của từ gắn với nội dung cụ thể của bài khóa Khi đi học, trẻ đã nắm được hình thức mới của hoạt động ngôn ngữ đó là ngôn ngữ viết Các em đã nắm được một số quy tắc ngữ pháp cơ bản nhưng việc vận dụng vào ngôn ngữ nói và viết chưa thuần thục nên còn phạm nhiều lỗi, nhất là khi viết

1.1.3 Ý nghĩa của việc dạy và học Mở rộng vốn từ cho học sinh

Dạy học mở rộng vốn từ cho học sinh tiểu học là một nhiệm vụ hết sức quan trọng của người giáo viên

Nhiệm vụ học tập, nhu cầu hiểu biết khám phá thế giới, nhu cầu giao tiếp, buộc học sinh phải tăng cường vốn từ Có kho tàng vốn từ vựng phong phú sẽ

Trang 19

14

giúp cho các em có thể phân loại được các loại từ, cách dùng từ, đặt câu có ý nghĩa, vận dụng các từ được mở rộng trong phân môn luyện từ và câu và các phân môn học khác

Một đứa trẻ có vốn từ phong phú sẽ dễ dàng hơn, tự tin hơn trong giao tiếp

và tiếp thu bài giảng, tiếp thu nội dung của sách Với vốn từ phong phú, trẻ chủ động trong việc lựa chọn và sử dụng từ Ngược lại, nếu vốn từ nghèo nàn, các

em sẽ gặp khó khăn trong giao tiếp, lâu dần sinh ra mặc cảm, ngại nói chuyện, thiếu cởi mở ảnh hưởng đến việc học tập

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Nội dung chương trình và SGK phân môn Luyện từ và câu lớp 4

 Vị trí, nhiệm vụ của phân môn Luyện từ và câu

Vị trí phân môn Luyện từ và câu

Từ và câu có vai trò đặc biệt quan trọng trong hệ thống ngôn ngữ Từ là đơn vị trung tâm của ngôn ngữ Câu là đơn vị nhỏ nhất có thực hiện chức năng giao tiếp Vai trò của từ và câu trong hệ thống ngôn ngữ quyết định tầm quan trọng của việc dạy Luyện từ và câu ở Tiểu học Việc dạy Luyện từ và câu nhằm

mở rộng, hệ thống hóa, làm phong phú vốn từ của học sinh, cung cấp cho học sinh những hiểu biết sơ giản về từ và câu, rèn cho học sinh kĩ năng dùng từ, đặt câu và sử dụng các kiểu câu để thể hiện tư tưởng, tình cảm của mình, đồng thời giúp cho học sinh có khả năng hiểu các câu nói của người khác Luyện từ và câu

có vai trò hướng dẫn học sinh trong việc nghe, nói, đọc, viết, phát triển ngôn ngữ và trí tuệ của các em

Nhiệm vụ phân môn Luyện từ và câu

- Làm giàu vốn từ cho học sinh và phát triển năng lực dùng từ đặt câu của

các em

- Cung cấp một số kiến thức về từ và câu

- Rèn luyện tư duy và giáo dục thẩm mĩ cho học sinh

 Nội dung chương trình

Phân môn luyện từ và câu ở lớp 4 được dạy trong 62 tiết

Trang 20

15

+ Học kỳ I: 32 tiết

+ Học kỳ II: 30 tiết

Bao gồm các nội dung sau:

* Mở rộng và hệ thống hoá vốn từ theo các chủ điểm (19 tiết)

Lạc quan – Yêu đời ( tuần 33,34)

- Các từ ngữ được mở rộng và hệ thống hoá thông qua các bài tập Tìm từ ngữ theo chủ điểm Tìm hiểu nắm nghĩa của từ; Phân loại từ ngữ; Tìm hiểu nghĩa của thành ngữ, tục ngữ theo chủ điểm; Luyện sử dụng từ ngữ

* Cung cấp các kiến thức sơ giản về cấu tạo của tiếng và từ (5 tiết)

- Cung cấp một số kiến thức sơ giản về cấu tạo của tiếng, cấu tạo của từ + Cấu tạo của tiếng tuần 1: 2 tiết

+ Từ đơn và từ phức tuần 3: 1 tiết

+ Từ ghép và từ láy tuần 4: 2 tiết

- Các dạng bài tập : Nhận diện và phân tích cấu tạo của tiếng, từ; Phân loại

từ theo cấu tạo; Tìm từ theo kiểu cấu tạo; Luyện sử dụng từ

* Từ loại (9 tiết)

- Cung cấp một số kiến thức sơ giản về cấu tạo từ loại của tiếng Việt

Trang 21

16

+ Danh từ (tuần 5,6,7,8: 5 tiết gồm cả cách viết danh từ riêng)

+ Động từ(tuần 9 và 11: 2 tiết)

+ Tính từ (tuần 11 và 12: 2 tiết)

- Các dạng bài tập: Nhận diện từ theo loại; Luyện viết danh từ riêng; Tìm

và phân loại từ theo từ loại; Luyện sử dụng từ

* Câu (26 tiết)

- Cung cấp các kiến thức sơ giản về cấu tạo, công dụng, và cách sử dụng

các kiểu câu:

+ Câu hỏi: tuần 13,14,15 (4 tiết)

+ Câu kể: tuần 16,17,19,20,21,22,24,25,26 (12 tiết bao gồm các kiểu câu:

ai làm gì; ai thế nào; ai là gì?)

+ Câu khiến : tuần 27,29 (3 tiết)

+ Câu cảm : tuần 30 (1 tiết)

+ Thêm trạng ngữ cho câu: tuần 31,32,33,34 (6 tiết )

- Các dạng bài tập: Nhận dạng các kiểu câu; Phân tích cấu tạo câu; Đặt câu theo mẫu nhằm thực hiện các mục đích cho trước; Lựa chọn kiểu câu để đảm bảo lịch sự trong giao tiếp; Luyện sử câu trong các tình huống khác nhau; Luyện mở rộng câu

* Dấu câu (3 tiết)

- Ôn luyện kiến thức về công dụng và luyện tập sử dụng một số dấu câu: + Dấu hai chấm ( tuần 2: 1 tiết )

+ Dấu ngoặc kép ( tuần 8: 1 tiết )

+ Dấu chấm hỏi( tuần 13 học cùng câu hỏi)

+ Dấu gạch ngang ( tuần 13: 1 tiết )

- Các dạng bài tập: Tìm công cụ của dấu câu; Luyện sử dụng dấu câu ( đặt dấu câu vào chỗ thích hợp, tập viết câu , đoạn có sử dụng dấu câu)

 Cấu trúc phân môn Luyện từ và câu trong sách giáo khoa

* Cấu trúc kiểu bài lí thuyết gồm 3 phần

Nhận xét

Trang 22

17

- Cung cấp ngữ liệu: thường là những câu thơ, câu văn, đoạn văn, đoạn thơ

có chứa các hiện tượng ngôn ngữ cần tìm hiểu

- Cung cấp hệ thống câu hỏi gợi ý để HS tìm ra các đặc điểm có tính chất quy luật của hiện tượng được khảo sát

- Các bài tập từ 3 - 5 bài có mối quan hệ chắt chẽ với nhau

1.2.2 Khảo sát thực trạng việc dạy và học Mở rộng vốn từ thông qua phân môn Luyện từ và câu lớp 4 tại trường tiểu học Hồng Hóa – Minh Hóa – Quảng Bình

Để đưa ra được những kết luận khách quan làm cơ sở cho việc nghiên cứu khóa luận, tôi đã tiến hành điều tra thực tế việc dạy và học MRVT thông qua phân môn Luyện từ và câu lớp 4 tại trường tiểu học Hồng Hóa – Minh Hóa – Quảng Bình

 Mục đích khảo sát

Tìm hiểu thực trạng việc dạy và học MRVT thông qua phân môn Luyện từ

và câu lớp 4 tại trường tiểu học Hồng Hóa – Minh Hóa – Quảng Bình Từ đó đề

ra được những biện pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy và học

 Nội dung khảo sát

Tôi đã tiến hành điều tra, tìm hiểu thông tin qua các thầy cô giáo và sử dụng câu hỏi, phiếu điều tra để thu thập ý kiến từ 58 học sinh khối 4 đang theo học tại trường tiểu học Hồng Hóa – Minh Hóa – Quảng Bình

 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiến

Trong đề tài này, tôi đã sử dụng:

Trang 23

 Nhóm các phương pháp thống kê toán học

Xử lý thông tin thu được từ các phương pháp trên

 Kết quả thu được từ phiếu điều tra

8 (26,7%)

6 (21,4)

16 (57,2%)

6 (21,4%)

(40%)

8 (26,7)

10 (33,3%)

9 (32,1%)

7 (25%)

12 (42,9%)

(23,3%)

11 (36,7%)

12 (40%)

8 (28,6%)

12 (42,8%)

8 (28,6%)

(6,7%)

26 (86,7%)

2 (6,7%)

3 (10,7%)

24 (85,8%)

1 (3,5%)

(10%)

26 (86,7%)

1 (3,3%)

4 (14,3%)

22 (78,6%)

2 (7,1%)

(13,3%)

22 (73,4%)

4 (13,3%)

2 (7,1%)

20 (7,5%)

6 (7,1%)

(10%)

23 (76,7%)

4 (13,3%)

2 (7,1%)

24 (85,8%)

2 (7,1%)

(13,3%)

21 (70%)

5 (16,7%)

2 (7,1%)

25 (89,4%)

1 (3,5%)

Từ kết quả điều tra khảo sát, tôi đã đưa ra được kết luận như sau:

Về phía học sinh

Trang 24

19

Ở lớp 4, các em đã được biết nhiều phương pháp dạy học, quen thuộc với phân môn Luyện từ và câu Hơn nữa, các em lại được học 2 tiết một tuần nên có nhiều thuận lợi khi học phân môn này hơn những em học sinh lớp dưới,

Từ thực tế tìm hiểu và kết quả khảo sát thu được, tôi nhận thấy: Hầu hết học sinh chưa hiểu hết vị trí, tầm quan trọng, tác dụng của phân môn Luyện từ

và câu Cụ thể là lớp 4A có 21HS(chiếm 70%) và lớp 4B có 25HS(chiếm 89,4%) lựa chọn phương án B câu 8 trong phiếu phỏng vấn (môn Luyện từ và câu không quan trọng) Vậy nên các em ít có hứng thú học tập, không yêu thích môn học Lớp 4A có 23HS( chiếm 76,7%) và lớp 4B có 24HS( chiếm 85,8%) lựa chọn phương án B câu 7 trong phiếu phỏng vấn (không yêu thích môn học Luyện từ và câu) Khi học Luyện từ và câu, phần lớn học sinh học thụ động: khi giáo viên đưa ra bài tập, các em chỉ làm cho xong hoặc đợi cô giáo chữa bài hoặc chép kết quả từ bạn Vì vậy, năng lực từ ngữ ở các em còn nhiều hạn chế

Về phía giáo viên

Qua khảo sát tôi nhận thấy: 100% giáo viên có trình độ chuyên môn nghiệp vụ đạt chuẩn, thường xuyên được tham gia tập huấn về đổi mới trong dạy và học 100% giáo viên chuẩn bị bài giảng đầy đủ trước khi lên lớp với nội dung theo sự hướng dẫn của sách thiết kế để đảm bảo nội dung chương trình Đáp ứng nhu cầu của thời đại mới, các giáo viên cũng đã trau dồi cho mình những kiến thức và kĩ năng cần thiết về công nghệ thông tin (bài giảng điện tử)

để mang đến cho các em học sinh những tiết học thú vị nhất, đặc biệt là với phân môn Luyện từ và câu

Song bên cạnh đó cũng có không ít các giáo viên chỉ soạn bài dựa vào tài liệu thiết kế dẫn đến các giáo án giống nhau Một số giáo viên còn chưa quan tâm đến việc mở rộng vốn từ, phát triển vốn từ cho học sinh, giúp học sinh làm giàu vốn hiểu biết phong phú về Tiếng Việt Hình thức tổ chức dạy học của một

số giáo viên còn đơn điệu, hầu như ít sáng tạo, chưa thu hút lôi cuốn học sinh

Trang 25

20

***

Qua việc tìm hiểu đặc điểm tâm sinh lí và nhận thức của học sinh lớp 4 tôi biết được khả năng tự mở rộng vốn từ cũng như vốn từ hiện có của các em ở mức độ nào Cùng với đó việc nghiên cứu sâu chương trình học phân môn Luyện từ và câu lớp 4, khảo sát thực trạng dạy và học MRVT của học sinh lớp

4 tại trường tiểu học Hồng Hóa – Minh Hóa – Quảng Bình đã giúp tôi có được những cơ sở trong việc đề xuất các biện pháp mở rộng vốn từ cho học sinh được phù hợp và hiệu quả

Dựa trên cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn tìm hiểu, nghiên cứu được, cũng như nhận thức được tầm quan trọng của việc mở rộng vốn từ cho học sinh tiểu

học nên tôi mạnh dạn đề xuất nghiên cứu “Mở rộng vốn từ cho học sinh lớp 4

thông qua phân môn Luyện từ và câu tại trường Tiểu học Hồng Hóa – Minh Hóa – Quảng Bình” để tìm ra những biện pháp hữu hiệu góp phần tích cực vào

việc nâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng Việt ở Tiểu học nói riêng và việc phát triển ngôn ngữ cho học sinh nói chung

Trang 26

21

CHƯƠNG 2 CÁC BIỆN PHÁP MỞ RỘNG VỐN TỪ VỐN TỪ CHO

HỌC SINH LỚP 4 THÔNG QUA PHÂN MÔN LUYỆN TỪ VÀ CÂU

Để đề xuất các biện pháp mở rộng vốn từ cho học sinh lớp 4 tôi đã tuân thủ các nguyên tắc cơ bản sau:

* Nguyên tắc khoa học

Các biện pháp đề xuất phải dựa trên nhiệm vụ mở rộng vốn từ cho học sinh tiểu học Đồng thời, dựa trên những đặc điểm tâm sinh lý học sinh lứa tuổi lớp 4 và đặc điểm của các nhiệm vụ mở rộng vốn từ cho học sinh

* Nguyên tắc thực tiễn

Trong quá trình đề xuất biện pháp, tôi căn cứ vào kết quả điều tra thực trạng vốn từ của học sinh lớp 4 và thực trạng nhận thức cũng như dạy học mở rộng vốn từ của giáo viên tiểu học để đề xuất biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả

mở rộng vốn từ cho học sinh lớp 4 thông qua phân môn Luyện từ và câu

* Nguyên tắc hiệu quả

Các biện pháp đề xuất phải giúp học sinh năm rõ nghĩa của từ, mở rộng vốn từ, phân loại quản lí vốn từ, sử dụng từ để phục vụ cho nhu cầu học tập, giao tiếp

* Nguyên tắc khả thi

Các biện pháp đề xuất phải phù hợp với cơ sở vật chất, điều kiện dạy học

mở rộng vốn từ thông qua giờ LTVC của nhà trường, kiến thức chung về vốn từ Tiếng Việt của giáo viên tiểu học Đặc biệt các biện pháp đề xuất phải dễ sử dụng và sử dụng được rộng rãi trong thực tế

* Các biện pháp đề xuất

2.1 Mở rộng vốn từ bằng việc xây dựng hệ thống các bài tập

Qua khảo sát thống kê, tôi thấy trong sách giáo khoa Tiếng Việt 4, phân môn Luyện từ và câu có tất cả 203 bài tập, trong đó các bài tập về mở rộng vốn

từ cho học sinh là 74 bài, chiếm khoảng 36,4%, cụ thể như sau:

- Bài tập về giải nghĩa từ: 10 bài, chiếm khoảng 4,9%

Trang 27

22

- Bài tập về hệ thống hóa vốn từ: 30 bài, chiếm khoảng 13,04%

- Bài tập về sử dụng từ: 34 bài, chiếm khoảng 16,5%

Tuy nhiên, hệ thống câu hỏi và bào tập đưa ra chưa thật sự đa dạng Vì vậy, tôi xin giới thiệu hệ thống bài tập mở rộng vốn từ cho học sinh lớp 4, cụ thể như sau:

2.1.1 Bài tập giải nghĩa từ

Đây là các bài tập nhằm làm rõ nghĩa của các đơn vị mang nghĩa như tiếng, từ, cụm từ, thành ngữ, tục ngữ

Nghĩa của từ được hiểu là nội dung đối tượng vật chất, là sự phản ánh đối tượng của hiện thực (một quan hệ, một hiện tượng, một tính chất hay một quá trình) trong nhận thức, được ghi lại bằng một tổ hợp âm thanh nhất định

Để tăng vốn từ cho học sinh phải cung cấp từ mới mà trước hết là phải làm cho các em hiểu được nghĩa của từ Tầm quan trọng của việc dạy nghĩa từ cho học sinh đã được thừa nhận từ lâu trong phương pháp dạy tiếng Nó là nhiệm vụ sống còn trong việc phát triển ngôn ngữ ở trẻ em Việc dạy nghĩa từ được thực hiện trong tất cả các giờ học, ở bất cứ đâu có cung cấp từ ngữ, thuật ngữ, khái niệm thì ở đó có dạy nghĩa từ

* Giải nghĩa từ bằng một định nghĩa

Đây là biện pháp giải quyết từ phổ biến nhất.Là biện pháp giải nghĩa làm

cơ sở cho rất nhiều bài dạy nghĩa khác Hình thức giải nghĩa này có 3 dạng bài tập theo thứ tự từ dễ đến khó

Bài 1 Điền tiếp vào chỗ trống

+ Người làm nghề cày ruộng, trồng trọt trên đồng ruộng gọi là……

Đáp án: nông dân

+ Người lao động trong hợp tác xã gọi là………

Đáp án: xã viên

Bài 2: Tìm từ trong ngoặc đơn hợp với mỗi nghĩa sau:

a Dám đương đầu với nguy hiểm để làm những việc nên làm

b Tự đánh giá mình thấp nên thiếu niềm tin

Trang 28

(Đáp án: a - 3; b - 1; c - 2)

Bài 4: Viết vào chỗ trống cách hiểu của em về các từ sau:

- Nhân dân:

- Công nhân: (Đáp án:

- Nhân dân: đông đảo người dân thuộc mọi tầng lớp, đang sống trong một

khu vực nào đó

- Công nhân: người lao động chân tay làm việc ăn lương trong các nhà

máy, xí nghiệp…)

* Giải nghĩa từ bằng cách đặt từ trong văn cảnh

Bài 5: Nối câu với nghĩa đúng của từ lạc quan

1 Tình hình đội tuyển rất lạc quan

2 Chú ấy sống rất lạc quan

3 Lạc quan là liều thuốc bổ

a Luôn tin tưởng ở tương lai rất đẹp

b Có triển vọng tốt đẹp

( Đáp án: 1 – b; 2,3 – a )

*Giải nghĩa từ bằng cách phân tích từ thành các từ đó

Bài 6: Từ có tiếng chí nào sau đây có nghĩa là ý muốn bền bỉ theo đuổi

một mục đích tốt đẹp?

a ý chí

b chí phải

Trang 29

24

c chí công

d chí lí

(Đáp án: a ý chí)

*Giải nghĩa từ bằng các dạng bài tập trắc nghiệm

Bài 7: Dòng nào dưới đây nêu đúng nghĩa của từ nghị lực?

Bài 8: Theo em “thám hiểm” là gì?

a.Tìm hiểu về đời sống của nơi mình ở

b.Đi chơi xa để xem phong cảnh

c.Thăm dò, tìm hiểu những nơi xa lạ, khó khăn, nguy hiểm

(Đáp án: c.Thăm dò, tìm hiểu những nơi xa lạ, khó khăn, nguy hiểm.)

Bài 9: Thành ngữ, tục ngữ nào nói về sự lạc quan?

a Kiến tha lâu đầy tổ

b Yêu nên tốt, ghét nên xấu

c Qua đêm lại đến ngày

Trang 30

25

Với mục đích đó, người ta đã huy động vốn từ bằng cách yêu cầu học sinh đưa ra các từ hoặc phân loại từ theo một hệ thống nào đó, đồng thời xây dựng loại bài tập hệ thống hóa vốn từ (còn gọi là bài tập trật tự hóa vốn từ trong dạy học) Trong SGK Tiếng Việt ở Tiểu học, kiểu bài tập hệ thống hóa vốn từ chiếm tỉ lệ cao từ lớp 2 đến lớp 5 Dựa vào đặc trưng của hoạt động liên tưởng khi tìm từ ngữ, có thể chia bài tập hệ thống hóa vốn từ thành nhiều nhóm, nhiều dạng nhưng có thể tóm gọn trong 2 nhóm lớn là nhóm bài tập tìm từ và nhóm bài tập phân loại từ Cụ thể như sau:

*Bài tập tìm từ

Bài 10: Tìm từ thể hiện lòng nhân hậu, yêu thương đồng loại

Bài 11: Tìm các từ chỉ tinh thần đùm bọc, giúp đỡ đồng loại

M:cưu mang,

(Đáp án: cưu mang, cứu giúp, cứu trợ, ủng hộ, bảo vệ,…)

Bài 12: Tìm các từ ngữ chỉ đức tính của các chú bộ đội

M:gan góc, (Đáp án: gan lì, tháo vát, gan góc, gan dạ, anh dũng)

Bài 13 Tìm từ trái nghĩa với từ nhu nhược

(Đáp án: cương quyết)

Bài 14 Tìm từ đồng nghĩa với từ run sợ

(Đáp án: sợ hãi)

Bài 15:

a Tìm 2 từ trái nghĩa với từ "chăm chỉ"

b Tìm 2 từ trái nghĩa với từ "dũng cảm"

Trang 31

26

M: vui mừng,

- Có tiếng vui đứng sau

M: niềm vui, (Đáp án: - Vui vẻ, vui thú, vui thích…

-Niềm vui, an vui…)

(Đáp án: - Quan sát, quan tâm

- Tham quan, liên quan, tổng quan)

Bài 18: Tìm 3 từ có tiếng khỏe; 3 từ có tiếng tài; 3 từ có tiếng tham

- 3 từ có tiếng khỏe: Sức khỏe, khỏe mạnh, khỏe khoắn

- 3 từ có tiếng tài: Tài nguyên, tài sản, tài năng

- 3 từ có tiếng tham: Tham lam, tham quan, tham nhũng

*Bài tập phân loại từ

Bài 19: Sắp xếp các từ sau vào các nhóm thích hợp bên dưới: khó khăn,

bền gan, gian lao, bền chí, bền lòng, thử thách, thách thức, kiên cường, vững chí, vững dạ, quyết tâm, quyết chí, chông gai, kiên tâm, gian khổ

- Các từ chỉ ý chí, nghị lực của con người

- Các từ chỉ những thử thách đối với ý chí, nghị lực của con người

( Đáp án: - Các từ chỉ ý chí, nghị lực của con người: bền gan, bền chí, bền lòng, kiên cường, vững chí, vững dạ, quyết tâm, quyết chí, kiên tâm

- Các từ chỉ những thử thách đối với ý chí, nghị lực của con người: khó khăn, gian lao, thử thách, thách thức, chông gai, gian khổ)

Bài 20: Sắp xếp các từ sau đây thành các nhóm thích hợp và gọi tên cho

nhóm đó: nhảy dây, đá cầu, cờ tướng, cờ vua, ô ăn quan, xếp hình, trồng nụ trồng hoa, kéo co, đấu vật, đá bóng, đu quay, cầu trượt, đi tàu hỏa trên không

Trang 32

- Những trò chơi rèn luyện sức khỏe: kéo co, đấu vật, đá bóng

- Những trò chơi rèn luyện sự dũng cảm: đu quay, cầu trượt, đi tàu hỏa trên không.)

Bài 21: Phân loại các từ sau vào 3 nhóm thích hợp và đặt tên cho

nhóm đó: lạc quan, quan hệ, quan tâm, quan văn, quan võ, sĩ quan, quan lại, quan sát, quan khách, tham quan, chủ quan

(Đáp án: - Thể hiện tinh thần : lạc quan, chủ quan

- Du lịch : quan sát, quan khách, tham quan)

Bài 22: Xếp các từ sau đây vào nhóm từ thích hợp: Lạc quan, lạc điệu, lạc

a Lạc quan

b Lạc điệu, lạc thú, lạ đường, lạc hậu, lạc đề)

Bài 23: Viết các tính từ sau vào từng cột cho phù hợp: xanh biếc, chắc

chắn, tròn xoe, lỏng lẻo, mềm nhũn, xám xịt, vàng hoe, đen kịt, cao lớn, mênh mông, trong suốt, chót vót, tí xíu, kiên cường, thật thà

Trang 33

28

(Đáp án:

Cột A: xanh biếc, xám xịt, vàng hoe, đen kịt, trong suốt

Cột B: tròn xie, cao lớn, tí xíu, mênh mông

Cột C: chắc chắn, lỏng lẻo, mềm nhũn, kiên cường, thật thà

Bài 26: Điền từ thích hợp vào chỗ trống trong các câu sau:

a Bố mẹ luôn luôn tôi hết mực

b Mỗi dịp lễ tết, nơi đây lại đón hàng nghìn người đến

c Tôi rất ………… khi được gặp lại người bạn cũ

d Từ khi có điện thoại, chúng ta với nhau thật dễ dàng

(liên lạc, tham quan, vui mừng, quan tâm)

(Đáp án: a quan tâm; b tham quan; c vui mừng; d liên lạc)

Trang 34

(Đáp án: a nhân ái; b nhân từ; c nhân hậu)

Bài 28: Điền từ thích hợp vào chỗ trống trong các câu sau:

a Từ nhỏ tôi đã được sống trong vòng tay của bố mẹ

b Những người làm việc hăng say để tạo ra nhiều sản phẩm

c Các con tàu vũ trụ thường xuyên vơi Trái Đất

d Nguyễn Ngọc Ký là một thiếu niên giàu

(công nhân, liên lạc, yêu thương, nghị lực)

(Đâp án: a yêu thương; b công nhân; c lien lạc; d nghị lực)

*Bài tập thay thế từ

Bài 29: Hãy thay thế các từ in nghiêng trong các câu dưới đây bằng những

từ đồng nghĩa với nó:

a Lúc gặp khó khăn mới biết ai tốt, ai xấu

b Con người có ý chí sẽ thành công

c Khi đã quyết tâm thì việc dù khó mấy cũng làm được

d (Đáp án: a gian khó; b quyết tâm; c quyết chí)

Bài 30: Các từ in nghiêng trong các câu dưới đây có thể thay thế bằng

những từ nào đồng nghĩa với chúng

a Sự hèn nhát đã khiến hắn ta phải trả giá

b Vì nhát gan mà anh ấy đã không thể chiến thắng

(Đáp án: a nhát gan; b yếu đuối.)

Bài 31: Hãy thay thế những từ in nghiêng trong các câu dưới đây bằng các

từ đồng nghĩa hoặc gần nghĩa với chúng:

Ngày đăng: 07/06/2018, 09:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w