1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quản lý Nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa tộc người Cơtu từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam

91 210 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 1,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Song những giá trị truyền thống của dân tộc này có nguy cơ mai một do chịu sự tác động bởi những mặt trái của nền kinh tế thị trường, những hạn chế của việc thực hiện chính sách định cư,

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ DUY THẮNG

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO TỒN

VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA TỘC NGƯỜI CƠTU

TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, năm 2018

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ DUY THẮNG

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO TỒN

VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA TỘC NGƯỜI CƠTU

TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM

Chuyên ngành : Luật Hiến pháp và Luật Hành chính

Mã số : 838.01.02

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS TRẦN MINH ĐỨC

HÀ NỘI, năm 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan kết quả nghiên cứu trong luận văn là hoàn toàn trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác trong cùng lĩnh vực Các thông tin, tài liệu trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này

Tác giả luận văn

Lê Duy Thắng

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ TRONG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA TỘC NGƯỜI CƠTU 6

1.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa tộc người Cơtu 6 1.2 Nội dung quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa tộc người Cơtu 14 1.3 Phương thức quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa tộc người Cơtu 16 1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa tộc người Cơtu 20

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA TỘC NGƯỜI CƠTU TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM 25

2.1 Điều kiện tự nhiên và lịch sử của tộc người Cơtu tại tỉnh Quảng Nam 25 2.2 Khái quát về văn hóa tộc người Cơtu 28 2.3 Tình hình quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa tộc người Cơtu từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam 39 2.4 Những ưu điểm và hạn chế, bất cập trong quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hoá tộc người Cơtu từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam 58

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA TỘC NGƯỜI CƠTU TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM 64

3.1 Nhu cầu nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa tộc người Cơtu từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam 64 3.2 Phương hướng nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa tộc người Cơtu từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam 65 3.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa tộc người Cơtu từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam 68

KẾT LUẬN 78 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Văn hóa là nền tảng sinh hoạt tinh thần của con người trong xã hội, phản ánh trình độ phát triển của mỗi cộng đồng, mỗi dân tộc Đất nước ta đang trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa với xu thế hội nhập quốc tế ngày càng cao Bên cạnh những thay đổi, chuyển biến về mặt kinh tế nói chung, xã hội đã đặt ra cho lĩnh vực văn hóa nhiều vấn đề mới Đặc biệt là những vấn đề nảy sinh do sự thay đổi của cơ cấu kinh tế, kết cấu xã hội và sự biến đổi của cơ chế quản lý Bên cạnh đó còn có những vấn đề văn hóa nảy sinh từ quá trình đô thị hóa gắn liền với tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Mặt khác, trình độ dân trí được nâng cao cũng làm cho nhu cầu hưởng thụ văn hóa gia tăng về quy mô và chất lượng Sự chuyển tiếp thế hệ còn đặt ra vấn đề bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống sao cho đảm bảo được

sự phát triển bền vững của đất nước

Bản sắc văn hoá của một dân tộc là những giá trị vật chất và tinh thần đặc trưng trường tồn cùng dân tộc đó Một mặt nó phản ánh sinh động đời sống kinh tế - xã hội của dân tộc, mặt khác nó cũng là dấu hiệu đặc trưng để chúng ta phân biệt và nhận biết dân tộc này với dân tộc khác

Bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá truyền thống có ý nghĩa sống còn đối mới mỗi dân tộc, mỗi quốc gia, đặc biệt trong xu thế hội nhập với cơ chế thị trường hiện nay thì vấn đề này càng được chú trọng và quan tâm hơn bao giờ hết

Lịch sử văn hóa dân tộc Cơtu là một bộ phận, góp phần làm phong phú thêm kho tàng văn hóa Việt Nam Với số dân đứng thứ hai sau dân tộc Kinh ở Quảng Nam, cộng đồng dân tộc Cơtu có từ lâu đời với đời sống tâm linh phong phú đã hình thành nền văn hóa chứa đựng những giá trị nhân văn sâu sắc Song những giá trị truyền thống của dân tộc này có nguy cơ mai một do chịu sự tác động bởi những mặt trái của nền kinh tế thị trường, những hạn chế của việc thực hiện chính sách định cư, quy hoạch phát triển kinh tế… Vì vậy, việc bảo tồn và phát triển giá trị văn hóa tộc người Cơtu là nhiệm vụ cấp thiết nhằm góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trong giai đoạn hiện nay

Trang 6

Từ những lý do nêu trên, học viên chọn đề tài "Quản lý Nhà nước về bảo tồn

và phát triển văn hóa tộc người Cơtu từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam" làm luận

văn thạc sĩ luật học chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính Đề tài được thực hiện sẽ góp phần nâng cao hiệu quả của quản lý Nhà nước đối với quá trình bảo tồn và phát triển bản sắc văn hoá của dân tộc Cơtu ở tỉnh Quảng Nam nói riêng và nền văn hoá dân tộc Việt Nam nói chung, làm cơ sở và tiền đề cho việc xây dựng một nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Liên quan đến đề tài, đã có nhiều công trình nghiên cứu với nhiều khía cạnh khác nhau Nghiên cứu dưới góc độ bản sắc văn hóa có những tác phẩm tiêu biểu như:

"Suy nghĩ về bản sắc văn hóa dân tộc", Huy Cận, Nxb Chính trị Quốc gia,

1994; "Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam", PGS Viện sĩ Trần Ngọc Thêm, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 2001; "Bản sắc văn hóa Việt Nam", Phan Ngọc, Nxb Văn học, 2002; "Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân

tộc", Nguyễn Khoa Điềm (chủ biên); "Bản sắc văn hóa dân tộc", Hồ Bá Thâm, Nxb

Văn hóa Thông tin, 2003

Nghiên cứu về văn hóa các dân tộc thiểu số có:

“Tìm hiểu văn hóa vùng các dân tộc thiểu số" của Lò Giàng Páo, Nxb Văn hóa

dân tộc, Hà Nội, 1997; "Văn hóa các dân tộc thiểu số ở Việt Nam", Ngô Văn Lệ, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1998; Đề tài: "Văn hóa truyền thống của các dân tộc Jrai và Bahnar

ở tỉnh Gia Lai hiện nay - Thực trạng và giải pháp", Luận văn thạc sĩ Triết học của Lê

Thị Mỹ Vân, 1999, Đại học KHXH&NV - ĐHQG Hà Nội; "Văn hóa truyền thống các

dân tộc thiểu số trong cuộc sống hôm nay", Nguyễn Khoa Điềm, Tạp chí Văn hóa nghệ

thuật, số 7/2000; Đề tài: "Vấn đề giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa các dân tộc thiểu

số ở Gia Lai trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay", Luận văn thạc sĩ Triết học,

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2003 của Đỗ Văn Hòa

Nghiên cứu về văn hóa dân tộc Cơtu, cũng có nhiều công trình với nhiều tác phẩm, dẫn liệu mà chủ yếu là điều tra, truy tìm và giới thiệu những giá trị văn hóa ở dạng vật thể, phi vật thể, trong đó tiêu biểu có:

Trong cuốn sách đầu tiên ở Việt Nam viết về văn hóa dân tộc Cơtu là “Tìm hiểu

Trang 7

văn hóa Ka Tu”, Nxb Thuận Hóa, năm 2002, tác giả Tạ Đức đã nêu những vấn đề và

cách lý giải những khía cạnh đời sống văn hóa của dân tộc Cơtu, qua đó người đọc có thể tiếp cận những giá trị và các tập tục của người Cơtu ở Quảng Nam

Trong cuốn “Nhà Gươl của người Cơtu”, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội, năm

2006, tác giả Đinh Hồng Hải bằng việc mô tả kiến trúc Gươl và các lễ hội văn hóa của người Cơtu, đã chỉ ra những khía cạnh đời sống tinh thần của người Cơtu ở Quảng Nam

Tác giả Lưu Hùng trong cuốn “Góp phần tìm hiểu văn hóa Cơtu”, Nxb Khoa

học xã hội, Hà Nội, năm 2006, đã giới thiệu những nét chính của văn hóa dân tộc Cơtu, những giá trị tín ngưỡng và tập tục diễn ra trong đời sống của người Cơtu ở Quảng Nam

Viết về chính bản thân mình cùng với những nét đặc trưng của dân tộc mình,

tác giả Bh’riu Liếc trong cuốn “Văn hóa người Cơtu”, Nxb Đà Nẵng, năm 2009, đã

trình bày một cách sinh động về tộc danh, phạm vi cư trú, tính cách con người cùng với những phong tục, tập quán và các lễ hội cổ truyền của người Cơtu ở Quảng Nam

Trong công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Hữu Thông, cuốn “Ka Tu- kẻ

sống đầu ngọn nước”, Nxb Thuận Hóa, năm 2005, đã lý giải về nguồn gốc hình thành

tộc người, phạm vi cư trú và tộc danh của người Cơtu, đồng thời tác giả cũng nêu một

số phong tục, tập quán, lễ hội của dân tộc này

Cuốn tư liệu “Người Cơtu ở Việt Nam”, Nxb Thông tấn, Hà Nội, năm 2009 của

Trần Tấn Vịnh đã ghi lại bằng hình ảnh, miêu tả văn hóa người Cơtu ở Quảng Nam trong cuộc sống hằng ngày và các sinh hoạt lễ hội

Tuy nhiên, những công trình nêu trên chỉ mang tính chất khái quát chung về bản sắc văn hóa, văn hóa các dân tộc thiểu số, tìm hiểu những giá trị văn hóa, phong tục tập quán của người Cơtu, những nét đặc sắc, cái hay, cái đẹp của văn hóa dân tộc Cơtu chứ chưa đi sâu nghiên cứu một cách có hệ thống dưới góc độ Quản lý nhà nước

về bảo tồn và phát triển văn hóa tộc người Cơtu từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam Chính

vì vậy, đề tài không trùng lặp với các công trình đã công bố

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Luận văn có mục đích tổng quát là xây dựng luận cứ khoa học cho các giải

Trang 8

pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa tộc người Cơtu trên địa bàn tỉnh Quảng Nam nói riêng và các dân tộc khác trên cả nước nói chung

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu làm sáng tỏ một số khía cạnh lý luận và pháp luật liên quan đến quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa ở Việt Nam

- Khảo sát và đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa tộc người Cơtu trên địa bàn tỉnh Quảng Nam Từ đó, chỉ rõ những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của những ưu điểm, hạn chế đó trong quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển văn tộc người Cơtu trên địa bàn tỉnh Quảng Nam

- Xác định các quan điểm và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa tộc người Cơtu tại tỉnh Quảng Nam nói riêng, trên địa bàn cả nước nói chung

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Là những vấn đề lý luận và thực trạng quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa, thực trạng bảo tồn và phát triển văn hóa tộc người Cơtu trên địa bàn tỉnh Quảng Nam và tìm ra phương hướng, các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa tộc người Cơtu trên địa bàn tỉnh Quảng Nam

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Bên cạnh đó, học viên còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể để giải

Trang 9

quyết các vấn đề đặt ra trong luận văn như: Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận

Luận văn nghiên cứu cơ sở lý luận, pháp lý về quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa góp phần nâng cao lý luận, nhận thức về bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc

Những kết luận rút ra từ bảo tồn và phát triển văn hóa và thực tiễn bảo tồn và phát triển văn hóa tộc người Cơtu trên địa bàn tỉnh Quảng Nam còn là cơ sở để hình thành phương hướng hoàn thiện pháp luật về quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa tộc người Cơtu trên địa bàn tỉnh Quảng Nam nói riêng và các dân tộc khác trên cả nước nói chung

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Những kết quả nghiên cứu của luận văn đóng góp tích cực cho việc hoàn thiện pháp luật về quản lý nhà nước Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo học tập, nghiên cứu cho sinh viên và các đồng nghiệp quan tâm đến vấn đề này

7 Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp lý trong quản lý nhà nước về bảo tồn

và phát triển văn hóa tộc người Cơtu

Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa tộc người Cơtu tại tỉnh Quảng Nam

Chương 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa tộc người Cơtu từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam

Trang 10

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ TRONG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA TỘC NGƯỜI CƠTU

1.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa tộc người Cơtu

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa tộc người Cơtu

Để đưa ra được khái niệm quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa tộc người Cơtu thì cần phải tìm hiểu một số thuật ngữ sau:

Văn hóa là gì? Văn hóa là khái niệm mang nội hàm rộng với rất nhiều cách

hiểu khác nhau, liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của con người

Trong cuộc sống hàng ngày, văn hóa thường được hiểu là văn học, nghệ thuật như thơ ca, mỹ thuật, sân khấu, điện ảnh… Các "Trung tâm văn hóa" có ở khắp nơi chính là cách hiểu này Một cách hiểu thông thường khác: Văn hóa là cách sống bao gồm phong cách ẩm thực, trang phục, cư xử và cả đức tin, tri thức được tiếp nhận

Văn hóa liên kết với sự tiến hóa sinh học của loài người, trong quá trình phát triển, tác động sinh học hay bản năng dần dần giảm bớt khi loài người đạt được trí thông minh để định dạng môi trường tự nhiên cho chính mình Đến lúc này, bản tính con người không còn mang tính bản năng mà là văn hóa Khả năng sáng tạo của con người trong việc định hình thế giới hơn hẳn bất kỳ loài động vật nào khác và chỉ có con người dựa vào văn hóa hơn là bản năng để đảm bảo cho sự sống còn của mình Con người có khả năng hình thành văn hóa và với tư cách là thành viên của một xã hội, con người tiếp thu văn hóa, bảo tồn nó, đồng thời truyền đạt nó từ thế hệ này sang thế hệ khác Việc cùng có chung một văn hóa giúp xác định nhóm người hay xã hội

mà các cá thể là thành viên

Từ những phân tích trên, có thể hiểu văn hóa như sau: Văn hóa là tổng thể

những nét riêng biệt về tinh thần và vật chất, trí tuệ và cảm xúc quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các

Trang 11

giá trị, những tập trung và tín ngưỡng

Văn hóa tộc người Cơtu: Văn hóa tộc người Cơtu là toàn bộ giá trị vật chất và

tinh thần được sáng tạo trong quá trình đấu tranh sinh tồn tạo dựng cuộc sống cộng đồng của tộc người Cơtu Nền văn hóa Cơtu được hình thành và gắn bó với núi rừng

tự nhiên của dãy Trường Sơn hùng vĩ Văn hóa của tộc người Cơtu gồm những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể rất độc đáo, phong phú, đa dạng và tinh tế đã cùng với giá trị văn hóa của các dân tộc anh em khác tạo nên nền văn hóa của dân tộc Việt

Nam

Tuy có những nét tương đồng với một số dân tộc anh em khác nhưng văn hóa tộc người Cơtu có những nét đặc trưng riêng rất phong phú, đa dạng và tinh tế Nét độc đáo đậm đà bản sắc văn hóa của tộc người Cơtu được biểu hiện rõ với những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể

Văn hóa vật thể tộc người Cơtu: Văn hóa vật thể là các giá trị văn hóa tồn tại

một cách hữu linh, con người có thể nhận biết một cách cảm tính, trực tiếp qua các giác quan (hiện vật…) có giá trị văn hóa, lịch sử, khoa học được cộng đồng dân tộc, nhân loại thừa nhận Văn hóa vật thể là một bộ phận của văn hoá nhân loại, thể hiện đời sống tinh thần của con người dưới hình thức vật chất; là kết quả của hoạt động sáng tạo, biến những vật và chất liệu trong thiên nhiên thành những đồ vật có giá trị sử

dụng và thẩm mỹ nhằm phục vụ cuộc sống con người

Văn hóa vật thể của tộc người Cơtu được biểu hiện rất rõ với những giá trị văn hóa vật thể như: Gươl; kiểu dáng nhà sàn truyền thống; các đồ dùng trang sức; dụng

cụ sản xuất, tự vệ; các phương tiện để săn bắn thú rừng; nhạc cụ cồng, chiêng, tù và; nhà mồ…

Văn hóa phi vật thể tộc người Cơtu: Văn hóa phi vật thể là các sản phẩm tinh

thần có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết và được lưu truyền bằng miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác Bao gồm: Tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn hóa nghệ thuật, khoa học, ngữ văn, truyền miệng diễn xướng, dân gian lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công, truyền thống tri thức về y, dược học cổ truyền, văn hóa ẩm thực, về trang phục

truyền thống dân tộc và những trí thức dân gian khác

Trang 12

Văn hóa phi vật thể của tộc người Cơtu gồm những tri thức về mối quan hệ của người Cơtu với môi trường tự nhiên và cuộc sống như kinh nghiệm về mùa vụ, sức khỏe, ẩm thực; những sáng tạo trong văn học truyền khẩu dân gian như truyện cổ tích,

ca dao, dân ca, dân vũ; nghệ thuật tạo hình như kiến trúc nhà sàn, điêu khắc, chạm trổ hoa văn; trang phục truyền thống, văn hóa ẩm thực; tiếng nói, chữ viết Cơtu, lễ hội…

Tóm lại, văn hóa của tộc người Cơtu gồm những giá trị văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể rất độc đáo, phong phú, đa dạng và tinh tế đã cùng với giá trị văn hóa của các dân tộc anh em khác tạo nên nền văn hóa của dân tộc Việt Nam

Tộc người được hiểu như thế nào? Hiện nay, khái niệm dân tộc được sử dụng

trong các văn kiện chính trị, văn bản pháp luật hoặc trên phương tiện thông tin đại

chúng được hiểu theo hai nghĩa khác nhau:

Theo nghĩa thứ nhất, “dân tộc” được hiểu là “tộc người” Với nghĩa này, dân tộc

là khái niệm dùng để chỉ cộng đồng người có các đặc trưng cơ bản về ngôn ngữ, văn hoá và ý thức tự giác về cộng đồng có tính bền vững qua sự phát triển lâu dài của lịch

sử Ví dụ: Dân tộc Thái, dân tộc Tày, dân tộc Ba Na, dân tộc Chăm, dân tộc Cơtu Hiểu theo nghĩa này, kết cấu dân cư của một quốc gia có thể bao gồm nhiều dân tộc (tộc người) khác nhau, trong đó có những dân tộc chiếm đa số trong thành phần dân cư

và có những dân tộc thiểu số Trong quá trình phát triển của mình, trong bản thân mỗi dân tộc có thể có sự phân chia thành các nhóm người có những đặc điểm khác nhau về nơi cư trú, văn hoá, lối sống, phong tục tập quán, nhưng đều được coi là cùng một dân tộc, bởi có chung 3 điểm đặc trưng của một dân tộc như nói trên đây Ví dụ: dân tộc Dao bao gồm nhiều nhóm người, như các nhóm Dao đỏ, Dao tiền, Dao Tuyển, Dao quần chẹt, Dao Thanh phán, Dao Thanh y, Dao quần trắng

Theo nghĩa thứ hai, dân tộc được hiểu là quốc gia dân tộc Ví dụ như: Dân tộc Việt Nam, dân tộc Trung Hoa, dân tộc Lào Theo nghĩa này, dân tộc là khái niệm dùng để chỉ cộng đồng chính trị - xã hội được hợp thành bởi những tộc người khác nhau trên lãnh thổ của một quốc gia nhất định Như vậy, khái niệm dân tộc ở đây được hiểu đồng nghĩa với quốc gia đa tộc người, và cũng đồng nghĩa với nhà nước thống nhất của các tộc người trên một lãnh thổ có chủ quyền quốc gia Theo nghĩa này, dân

cư của dân tộc này được phân biệt với dân cư của dân tộc khác bởi yếu tố quốc tịch

Trang 13

Do đó, một tộc người có thể có ở những quốc gia dân tộc khác nhau theo sự di cư của tộc người đó Ví dụ: Trong kết cấu dân cư của dân tộc Việt Nam và dân tộc Trung Hoa đều có tộc người H’Mông và tộc người Dao Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, học viên chỉ đề cập tới dân tộc theo khái niệm nghĩa hẹp tức là dân tộc đồng nghĩa với tộc người

Quản lý Nhà nước về dân tộc (tộc người): Quản lý nhà nước là một hoạt động

chấp hành, điều hành của Nhà nước Đó là một hình thức hoạt động của Nhà nước được thực hiện trước hết và chủ yếu bởi các cơ quan hành chính nhà nước, có nội dung là bảo đảm sự chấp hành pháp luật, pháp lệnh, nghị quyết của các cơ quan quyền lực nhà nước nhằm tổ chức và chỉ đạo một cách trực tiếp, thường xuyên công cuộc

xây dựng kinh tế, văn hóa - xã hội và hành chính - chính trị của nước nhà

Quản lý Nhà nước về dân tộc là quá trình tác động, điều chỉnh thường xuyên của Nhà nước bằng quyền lực Nhà nước đối với tất cả các hoạt động trên các lĩnh vực đời sống xã hội của đồng bào các dân tộc thiểu số nhằm hướng tới các mục tiêu phát triển bền vững

Vậy tại sao phải quản lý Nhà nước về dân tộc?: Quản lý Nhà nước về dân tộc là một nội dung cơ bản và quan trọng trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của quản

lý Nhà nước nói chung, là nội dung đã được quan tâm, thực hiện trong suốt quá trình lịch sử của nước ta

Trên mảnh đất Việt Nam có 54 dân tộc anh em cùng nhau sinh sống và ở mỗi địa phương của Việt Nam có ít nhất có hai dân tộc cùng trú cư Vì vậy cần thiết phải

có sự quản lý, điều chỉnh của Nhà nước để xây dựng khối đại đoàn kết trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, cùng hướng các dân tộc phát triển và ra sức phấn đấu vì mục tiêu chung là xây dựng một nước Việt Nam công bằng, dân chủ, văn minh Dân tộc là một bộ phận cấu thành của Quốc gia, là một phần không thể tách rời khỏi Quốc gia Chính vì vậy mọi sự biến động trên tất cả các lĩnh vực của dân tộc đều sẽ trực tiếp tác động, ảnh hưởng đến Quốc gia, cho nên cần thiết phải có sự tác động của quản lý nhà nước để điều chỉnh, điều tiết tới mọi quá trình kinh tế - xã hội của các dân tộc, hướng các quá trình kinh tế - xã hội đó phát triển theo định hướng, theo mục tiêu chung của đất nước, mặt khác nếu không có quản lý nhà nước thì mọi vấn đề trong đời sống kinh tế - xã

Trang 14

hội của các dân tộc không thể có sự phát triển bền vững

Ở nước ta, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số sinh sống chính là vùng đang tồn tại nhiều bất cập và hạn chế nhất trên tất cả mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội Chính vì thế, cần phải có sự tác động của quản lý Nhà nước với những công cụ, phương pháp và tiềm lực của mình để từng bước giải quyết những hạn chế khó khăn, đưa đồng bào các dân tộc thiểu số hoà mình vào dòng chảy chung của Quốc gia, của thời đại Qua những phân tích trên ta thấy rằng, quản lý Nhà nước về dân tộc là nội dung cơ bản và là tất yếu khách quan của quản lý Nhà nước

* Các quan điểm về bảo tồn và phát triển

- Quan điểm về bảo tồn:

+ Bảo tồn nguyên vẹn: Những người theo quan điểm này cho rằng, những sản

phẩm của quá khứ nên được bảo tồn nguyên vẹn như nó vốn có để tránh tình trạng thế

hệ hiện tại làm méo mó, biến dạng di sản Mỗi di sản chứa đựng những giá trị văn hoá

- xã hội nhất định mà không phải lúc nào thế hệ hiện tại cũng có thể hiểu biết một cách cụ thể để có thể phát huy những giá trị ấy một cách thích hợp Không những thế, những tác động của ngày hôm nay sẽ tạo nên những lớp văn hoá khác không trùng nghĩa với lớp văn hoá mà thế hệ trước chuyển giao cho thế hệ sau, vì thế có thể làm cho các thế hệ sau nữa không thể truy nguyên được những giá trị của di sản đang tồn tại Như vậy, những người theo quan điểm này cho rằng, do chúng ta chưa có đủ thông tin, trình độ hiểu biết để có thể lý giải giá trị của các di sản văn hoá, chúng ta nên giữ nguyên trạng những di sản này để khi có điều kiện các thế hệ tiếp nối có thể xử lý,

giải thích và tìm cách kế thừa, phát huy di sản một cách tốt hơn

+ Bảo tồn trên cơ sở kế thừa: Quan điểm bảo tồn trên cơ sở kế thừa những giá

trị độc đáo của quá khứ dường như là một xu thế khá phổ biến trong giới học giả hiện nay khi bàn đến di sản nói chung, quản lý di sản nói riêng Quan điểm lý thuyết này dựa trên cơ sở mỗi di sản cần phải thực hiện nhiệm vụ lịch sử của mình ở một thời gian và không gian cụ thể Khi di sản ấy tồn tại ở không gian và thời gian hiện tại, di sản ấy cần phát huy giá trị văn hoá - xã hội phù hợp với xã hội hiện nay và phải loại

bỏ đi những gì không phù hợp với xã hội ấy Bảo tồn trên cơ sở kế thừa rất thuận tiện

do chúng ta chỉ lựa chọn những yếu tố hợp lý để phát huy Tuy nhiên, vấn đề đáng nói

Trang 15

ở đây là yếu tố nào được lựa chọn để phát huy và yếu tố nào không được lựa chọn để phát huy Trên cơ sở của sự hiểu biết như vậy, trong tác phẩm “Đời sống mới” của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu ra những quan điểm rõ ràng về sự kế thừa: “Cái gì cũ

mà xấu thì phải bỏ, cái gì cũ mà không xấu nhưng phiền phức thì phải sửa đổi cho hợp

lý, cái gì cũ mà tốt thì phát triển thêm” Quan điểm đó thuộc quan điểm bảo tồn dựa

trên cơ sở kế thừa này

Trên thực tế cho thấy, cả bảo tồn nguyên vẹn lẫn bảo tồn trên cơ sở kế thừa đều

có những ưu điểm và hạn chế riêng của nó Nếu như quan điểm bảo tồn nguyên vẹn gặp khó khăn trong việc xác định đâu là yếu tố nguyên gốc, đâu là yếu tố phái sinh và giữ gìn nguyên gốc là giữ gìn những yếu tố nào thì quan điểm bảo tồn trên cơ sở kế thừa gặp phải khó khăn trong khâu xác định yếu tố nào thực sự là giá trị cần phải kế thừa và phát huy, yếu tố nào không còn phù hợp, cần phải loại bỏ; cũng cần phải khuyến cáo rằng sự loại bỏ ấy có thể sẽ đánh mất những giá trị văn hoá mà chúng ta chưa hiểu biết một cách sâu sắc và thấu đáo

- Quan điểm về phát triển: Xung quanh hoạt động phát triển di sản văn hoá vật

thể và phi vật thể cũng đặt ra nhiều vấn đề, song điều quan trọng hơn cả đối với việc phát huy những di sản văn hoá là làm sao khơi dậy ý thức của cộng đồng, niềm tự hào của cộng đồng về di sản văn hóa để di sản ấy sống trong cộng đồng như bản chất của

nó Trong công tác phát triển, vấn đề đặt ra là tuyên truyền, giáo dục trong cộng đồng, nhất là thế hệ trẻ những hiểu biết về văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể cũng như

những giá trị văn hoá của nó

Từ những quan điểm trên, có thể rút ra khái niệm quản lý nhà nước về bảo tồn

và phát triển văn hóa tộc người Cơtu như sau: Quản lý nhà nước về bảo tồn và phát

triển văn hóa tộc người Cơtu là quá trình tác động, điều hành, điều chỉnh các hoạt động về văn hóa của Nhà nước bằng hệ thống pháp luật đối với tộc người Cơtu, để những tác động đó diễn ra theo đúng quan điểm, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước

* Đặc điểm của quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa tộc người Cơtu

Thứ nhất, quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa tộc người Cơtu là

Trang 16

hoạt động mang quyền lực nhà nước Quyền lực nhà nước trong quản lý nhà nước về

bảo tồn và phát triển văn hóa tộc người Cơtu trước hết thể hiện ở việc các chủ thể có thẩm quyền thể hiện ý chí nhà nước thông qua phương tiện nhất định, trong đó phương tiện cơ bản và đặc biệt quan trọng được sử dụng là văn bản quản lý nhà nước đối với các hoạt động văn hóa của tộc người Cơtu Bằng việc ban hành văn bản, chủ thể quản lý nhà nước thể hiện ý chí của mình dưới dạng các chủ trương, chính sách pháp luật nhằm định hướng cho hoạt động xây dựng và áp dụng pháp luật; dưới dạng quy phạm pháp luật nhằm cụ thể hóa các quy phạm pháp luật của cơ quan quyền lực nhà nước và của cấp trên thành những quy định chi tiết để có thể triển khai thực hiện trong thực tiễn; dưới dạng các mệnh lệnh cá biệt nhằm áp dụng pháp luật vào thực tiễn, trực tiếp thực hiện quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ quản lý; dưới những dạng mệnh lệnh chỉ đạo cấp dưới trong hoạt động nhằm tổ chức thực hiện pháp luật trong thực tiễn; dưới dạng những thông tin hướng dẫn đối lập với cấp dưới nhằm

đảm bảo sự thống nhất, có hệ thống của bộ máy hành chính nhà nước

Bên cạnh đó, quyền lực nhà nước còn thể hiện trong việc các chủ thể có thẩm quyền tiến hành những hoạt động cần thiết để bảo đảm thực hiện ý chí nhà nước như các biện pháp về tổ chức, về kinh tế, tuyên truyền giáo dục, thuyết phục, cưỡng chế…, nhờ đó ý chí của chủ thể quản lý nhà nước được bảo đảm thực hiện

Thứ hai, quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa tộc người Cơtu là hoạt động được tiến hành bởi những chủ thể có quyền năng hành pháp Quyền năng

hành pháp trước hết và chủ yếu thuộc về các cơ quan hành chính nhà nước Quản lý nhà nước có đối tượng tác động là các quan hệ xã hội phát sinh trên mọi lĩnh vực trong đời sống xã hội của tộc người Cơtu, từ quan trọng tới ít quan trọng, từ phổ biến tới cá

biệt phát sinh trong đời sống dân cư, đời sống pháp luật

Thứ ba, quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa tộc người Cơtu là hoạt động có tính thống nhất, được tổ chức chặt chẽ Để bảo đảm tính pháp chế trong

hoạt động hành pháp đối với việc bảo tồn và phát triển văn hóa tộc người Cơtu, bộ máy các cơ quan hành pháp được tổ chức thành một khối thống nhất từ trung ương tới địa phương, đứng đầu là Ủy ban Dân tộc, nhờ đó các hoạt động của bộ máy được chỉ đạo, điều hành thống nhất, bảo đảm lợi ích chung, bảo đảm sự liên kết, phối hợp nhịp

Trang 17

nhàng giữa các địa phương tạo ra sức mạnh tổng hợp, tránh được sự cục bộ giữa các địa phương hay vùng miền khác nhau

Thứ tư, hoạt động quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa tộc người Cơtu có tính chấp hành và điều hành Tính chấp hành và điều hành của hoạt động

quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa tộc người Cơtu thể hiện trong việc những hoạt động này được tiến hành trên cơ sở pháp luật và nhằm mục đích thực hiện pháp luật Tính điều hành của hoạt động quản lý nhà nước thể hiện trong việc chủ thể

có thẩm quyền tổ chức thực hiện pháp luật trong đời sống xã hội tộc người Cơtu

Thứ năm, quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa tộc người Cơtu là hoạt động mang tính liên tục Khác với hoạt động lập pháp và tư pháp, quản lý nhà

nước về bảo tồn và phát triển văn hóa tộc người Cơtu luôn cần có tính liên tục, kịp thời và linh hoạt để đáp ứng sự vận động không ngừng của đời sống xã hội tộc người Cơtu

1.1.2 Vai trò của quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa tộc người Cơtu

Cùng với việc đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới của đất nước theo đường lối “Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc”, công tác quản lý nhà nước về dân tộc nói chung và tộc người Cơtu nói riêng ngày càng trở thành một lĩnh vực hoạt động quan trọng của bộ máy nhà nước Vai trò quan trọng của công tác quản lý nhà nước về dân tộc thể hiện ở những điểm chủ yếu dưới đây:

Thứ nhất, vấn đề dân tộc là một nội dung trọng yếu trong đường lối cách mạng

của Đảng ta nhằm giữ vững khối đại đoàn kết toàn dân, cội nguồn sức mạnh cho thắng lợi của sự nghiệp cách mạng Chính sách dân tộc của Đảng ta luôn nhất quán, đúng đắn và sáng tạo, phù hợp với thực tiễn vấn đề dân tộc ở nước ta Tuy nhiên, để những nội dung đúng đắn và sáng tạo của chính sách dân tộc đi vào cuộc sống thì cần có sự

tổ chức thực hiện một cách triệt để các chính sách bằng hoạt động quản lý, điều hành của các cơ quan quản lý nhà nước về dân tộc

Thứ hai, trong sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước, yêu cầu cấp thiết đặt ra là

cần thu hẹp khoảng cách về trình độ phát triển giữa các vùng miền, thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, giáo dục của các dân tộc hiện nay còn đang ở trong tình

Trang 18

trạng kém phát triển Để thực hiện được mục tiêu cấp thiết này, Nhà nước ta đang nỗ lực đầu tư cho khu vực đồng bào dân tộc thiểu số, trong đó đặc biệt quan tâm đầu tư cho đồng bào dân tộc thiểu số cư trú ở vùng cao, vùng sâu, vùng đặc biệt khó khăn Các chiến lược, chương trình, kế hoạch hoạt động hướng đến đồng bào dân tộc thiểu

số được thực hiện thông qua hoạt động quản lý nhà nước về dân tộc

Thứ ba, để hướng đến mục tiêu sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng một nước

kém phát triển, thì cùng với việc tích cực đầu tư làm thay đổi kinh tế - xã hội ở khu vực đồng bào dân tộc thiểu số, một vấn đề quan trọng đặt ra là Đảng và Nhà nước ta cần phát huy truyền thống đoàn kết dân tộc Để làm được điều này không thể thiếu công tác quản lý nhà nước về dân tộc, với tính chất là một lĩnh vực hoạt động thường xuyên trong tổ chức, điều hành nền hành chính quốc gia

Thứ tư, hiện nay vấn đề dân tộc và quan hệ dân tộc đang là một trong những

vấn đề thường xuyên bị các thế lực thù địch lợi dụng để gây rối an ninh chính trị, trật

tự xã hội, phá hoại sự ổn định chính trị của chế độ và sự phát triển bền vững của Nhà nước ta Trước tình hình đó, công tác dân tộc trở thành một nhiệm vụ quan trọng của toàn bộ hệ thống chính trị mà trong đó hoạt động quản lý nhà nước về dân tộc có vị trí rất quan trọng

1.2 Nội dung quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa tộc người Cơtu

Do tính chất đa dạng của chính sách dân tộc, nên công tác quản lý nhà nước về dân tộc nói chung và tộc người Cơtu nói riêng bao gồm nhiều mặt hoạt động trải rộng trên các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội nhưng đều hướng đến đối tượng chung là đồng bào dân tộc thiểu số Khác với nội dung công tác dân tộc của các cơ quan khác trong hệ thống chính trị, công tác quản lý nhà nước về dân tộc tập trung vào việc chỉ đạo, điều hành, tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật, triển khai các chương trình, dự án Nội dung quản lý nhà nước về dân tộc nói chung, tộc người Cơtu nói riêng được quy định tại Nghị định định số 05/2012/NĐ-CP ngày 14 tháng 01 năm

2011 của Chính phủ, bao gồm:

Thứ nhất, ban hành và chỉ đạo thực hiện chiến lược, chương trình mục tiêu

quốc gia, quy hoạch, kế hoạch, chính sách về lĩnh vực công tác dân tộc;

Trang 19

Thứ hai, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về công tác dân tộc; xây

dựng và tổ chức thực hiện các chính sách dân tộc, chính sách đặc thù, các chương trình, dự án, đề án phát triển vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn; tiêu chí phân định vùng dân tộc theo trình độ phát triển, tiêu chí xác định thành phần dân tộc, tiêu chí về chuẩn đói nghèo đối với vùng dân tộc thiểu số; xây dựng chính sách đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao dân trí, bảo tồn và phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số;

Thứ ba, kiện toàn tổ chức bộ máy cơ quan làm công tác dân tộc từ Trung ương

đến cơ sở; thực hiện phân công, phân cấp có hiệu quả trong lĩnh vực công tác dân tộc;

Thứ tư, huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực đầu tư cho vùng dân

tộc thiểu số;

Thứ năm, kiểm tra, thanh tra, sơ kết, tổng kết, đánh giá việc thực hiện chính

sách, chương trình, dự án ở vùng dân tộc thiểu số; việc chấp hành pháp luật về công tác dân tộc, phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến công tác dân tộc theo quy định của pháp luật;

Thứ sáu, tuyên truyền, giáo dục chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của

Nhà nước bằng nhiều biện pháp, hình thức để đồng bào các dân tộc hiểu rõ và chủ động tham gia vào quá trình thực hiện Tuyên truyền về truyền thống đoàn kết của các dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Tổ chức tốt các phong trào tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc trong cộng đồng Tổ chức hoạt động kết nghĩa giữa các địa phương nhằm tương trợ phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói, giảm nghèo, giải quyết khó khăn trong cuộc sống;

Thứ bảy, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng, quản lý cán bộ người dân tộc

thiểu số trong hệ thống chính trị và cán bộ trong hệ thống cơ quan làm công tác dân tộc;

Thứ tám, xây dựng hệ thống thông tin cơ sở dữ liệu về công tác dân tộc;

Thứ chín, thẩm định các chương trình, dự án, đề án, kế hoạch phát triển kinh tế

- xã hội vùng dân tộc thiểu số;

Thứ mười, nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn tình hình công tác dân tộc,

chiến lược công tác dân tộc, chính sách dân tộc, quản lý nhà nước về lĩnh vực công tác

Trang 20

dân tộc;

Mười một, hợp tác quốc tế về công tác dân tộc, phối hợp với các tổ chức, cá

nhân nước ngoài, tổ chức quốc tế trong việc nghiên cứu, trao đổi kinh nghiệm về công tác dân tộc; khuyến khích việc giúp đỡ, hỗ trợ đầu tư phát triển vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn thực hiện tốt công tác dân tộc và chính sách dân tộc theo quy định của pháp luật

1.3 Phương thức quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa tộc người Cơtu

Phương thức quản lý là tổng thể những cách thức mà chủ thể quản lý sử dụng

để tác động có định hướng vào đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đã định Phương thức quản lý là nội dung cơ bản của quản lý, các phương thức có tác dụng quyết định đến sự thành công của quá trình quản lý

Vùng dân tộc thiểu số ở nước ta có những đặc điểm riêng về sinh hoạt xã hội truyền thống của từng dân tộc, các dân tộc lại cư trú xen kẻ với nhau, trình độ phát triển kinh tế - xã hội giữa các dân tộc rất chênh lệch nhau Vì vậy, việc quản lý vùng dân tộc không thể cứng nhắc rập khuôn, máy móc, áp đặt mà phải tuỳ theo đặc điểm

và tình hình thực tế của từng dân tộc, đặc biệt là với dân tộc Cơtu mà áp dụng những phương thức quản lý cho thích hợp

Quản lý Nhà nước về dân tộc mà đặc biệt là về bảo tồn và phát triển văn hóa tộc người Cơtu phải cần các phương thức cơ bản sau: Quản lý bằng pháp luật; quản lý bằng chính sách, chương trình; quản lý bằng tổ chức bộ máy; quản lý bằng đầu tư tài chính; quản lý bằng thanh tra, kiểm tra và tổng kết đánh giá

Quản lý bằng pháp luật: Nội dung cơ bản của phương thức quản lý bằng pháp

luật đó là: Luật pháp phải thực sự là công cụ cơ bản của quản lý Nhà nước về các vấn

đề dân tộc mà đặc biệt là đối với tộc người Cơtu, thông qua việc ban hành các văn bản pháp quy đối với miền núi và đồng bào tộc người Cơtu để thực hiện đường lối của Đảng ta trong vấn đề dân tộc, từng bước đưa đời sống đồng bào các dân tộc thiểu số nói chung, tộc người Cơtu nói riêng, đồng bào sinh sống ở miền núi, vùng sâu,vùng xa

ngày càng tốt hơn, hòa chung cùng sự phát triển của đông đảo, đa số

Việc ban hành các văn bản pháp luật trước hết phải trên cơ sở lý luận của chủ

Trang 21

nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, phải xuất phát từ thực tiễn đời sống quốc

tế về dân tộc Những đặc điểm, xu hướng vận động của các dân tộc Việt Nam không thể tách khỏi những đặc điểm, xu hướng vận động chung của cộng đồng Quốc Tế Sau

đó, từ thực tiễn trong nước, cần có những văn bản pháp luật cụ thể để quản lý Nhà nước đối với vấn đề dân tộc, mà cụ thể là đối với tộc người Cơtu, trong phạm vi luận văn này tập trung một số vấn đề sau:

- Có những văn bản pháp quy cho từng lĩnh vực của đời sống xã hội đồng bào các dân tộc thiểu số, trong đó có tộc người Cơtu

- Xây dựng các văn bản pháp quy cho từng dân tộc mà đặc biệt là dân tộc Cơtu hoặc từng vùng có các dân tộc sống tập trung theo lãnh thổ

Hiện nay, chính phủ đã giao cho Bộ Tư pháp và Ủy ban Dân tộc phối hợp đưa chương trình giáo dục pháp luật đến các vùng dân tộc thiểu số, làm cho đồng bào các dân tộc biết được, hiểu được các chính sách pháp luật Trên cơ sở đó Nhà nước tiến hành chủ trương “Sống và làm việc theo Hiến pháp và Pháp luật”, thay thế dần với cách sống kiểu xã hội truyền thống trong một số vùng đồng bào

Quản lý bằng tổ chức bộ máy: Cơ quan quản lý Nhà nước ở Trung ương được

giao nhiệm vụ quản lý Nhà nước về lĩnh vực công tác dân tộc trong phạm vi cả nước

là Ủy ban Dân tộc Đối với các địa phương mà có đủ số lượng người dân tộc thiểu số theo quy định của pháp luật thì được phép thành lập cơ quan quản lý hành chính Nhà

nước ở địa phương làm công tác dân tộc

Cơ quan làm công tác quản lý dân tộc ở Trung ương: Hiện nay theo quy định

tại Nghị định 13/2017/NĐ-CP ngày 10/02/2017 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ủy ban Dân tộc thì Uỷ ban Dân tộc là cơ quan ngang Bộ của Chính phủ thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về công tác dân tộc trong phạm vi cả nước; quản lý Nhà nước các dịch vụ công thuộc phạm vi quản lý của Ủy ban Dân tộc theo quy định của pháp luật

Cơ quan làm công tác quản lý Nhà nước về dân tộc ở địa phương: Theo quy

định tại Nghị định số 53/2004/NĐ-CP ngày 18/2/2004 của Chính phủ về kiện toàn tổ chức bộ máy làm công tác dân tộc thuộc Ủy ban nhân dân các cấp thì Ủy ban nhân dân các cấp căn cứ vào quy định của chính phủ quyết định về tổ chức bộ máy của cơ quan

Trang 22

quản lý Nhà nước làm công tác dân tộc tại các địa phương

- Mô hình tổ chức cơ quan làm công tác dân tộc thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh: Thành lập Ban dân tộc là cơ quan tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện chức năng quản lý Nhà nươc về lĩnh vực công tác dân tộc, có con dấu và tài khoản riêng khi có ít nhất một trong ba tiêu chí sau:

+ Có trên 20.000 (hai mươi nghìn) người dân tộc thiểu số sống tập trung thành cộng đồng làng, bản;

+ Có dưới 5.000 (năm nghìn) người dân tộc thiểu số đang cần Nhà nước tập trung giúp đỡ, hỗ trợ phát triển;

+ Có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống ở địa bàn xung yếu về an ninh, quốc phòng; địa bàn xen canh, xen cư; biên giới có đông đồng bào dân tộc thiểu số nước ta

và các nước láng giềng thường xuyên qua lại

Ðối với những tỉnh có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống nhưng chưa đáp ứng các tiêu chí như trên thì lập Phòng Dân tộc (hoặc bố trí cán bộ, công chức) làm công tác dân tộc thuộc Văn phòng Ủy ban nhân dân cấp tỉnh Phòng Dân tộc (hoặc cán bộ, công chức) làm công tác dân tộc chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Ủy ban nhân dân tỉnh Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh đảm bảo cơ sở vật chất và hành chính quản trị cho hoạt động của Phòng Dân tộc

- Mô hình tổ chức của cơ quan làm công tác dân tộc thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện: Thành lập Phòng Dân tộc thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện khi có 1 trong 2 tiêu chí sau:

+ Có ít nhất 5.000 (năm nghìn) người dân tộc thiểu số đang cần nhà nước tập trung giúp đỡ, hỗ trợ phát triển;

+ Có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống ở địa bàn xung yếu về an ninh quốc phòng; địa bàn xen canh, xen cư; biên giới có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống và thường xuyên qua lại với nước láng giềng

Đối với những huyện có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống nhưng chưa đủ các tiêu chí nêu trên thì tổ chức các công tác dân tộc thực hiện theo mô hình sau:

+ Thành lập phòng quản lý Nhà nước đa ngành đa lĩnh vực trong đó công tác dân tộc và công tác chuyên môn khác có liên quan nhiều tới công tác dân tộc trực

Trang 23

thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện nhưng phải đảm bảo số phòng ở cấp huyện theo quy định tại Nghị định số 37/2014/NĐ-CP ngày 05/5/2014 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh

+ Bố trí cán bộ chuyên trách công tác dân tộc trong văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân hoặc phòng chuyên môn khác hiện có của Ủy ban nhân dân cấp huyện

- Mô hình tổ chức của cơ quan làm công tác dân tộc thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã: Đối với các xã có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống trên địa bàn không thành lập

tổ chức riêng, nhưng phân công một ủy viên Ủy ban nhân dân cấp xã kiêm nhiệm theo dõi, tổ chức thực hiện công tác dân tộc

Quản lý bằng đầu tư tài chính: Trong quản lý Nhà nước tài chính là một nội

dung mà Nhà nước cần phải quản lý, ngược lại Nhà nước cũng phải sử dụng tài chính

làm công cụ để quản lý các lĩnh vực khác của đời sống xã hội

Trong chính sách, chương trình, dự án bao hàm nội dung của Nhà nước đã sử dụng tài chính cho sự phát triển của miền núi và đồng bào các dân tộc Ngoài ra sự quan tâm của chính phủ đối với miền núi và các dân tộc còn thể hiện ở việc đầu tư cho xây dựng cơ sở hạ tầng, đầu tư cho phát triển văn hoá , giáo dục, y tế, bảo vệ môi trường ở vùng miền núi, vùng sâu vùng xa vùng đồng bào các dân tộc thiểu số

Tài chính vừa là nguồn lực đồng thời cũng là công cụ của quản lý Nhà nước Vì vậy Nhà nước cần phải có chính sách thu hút và sử dụng hiệu quả nguồn lực, công cụ này

Quản lý bằng thanh tra, kiểm tra và tổng kết đánh giá: Kiểm soát đối với hành

chính Nhà nước bao gồm các hoạt động giám sát, kiểm tra, thanh tra Tất cảc các hoạt

động này là để đảm bảo pháp chế và kỷ luật trong quản lý Nhà nước

Với quan điểm dân chủ hoá, công khai hoá trong hoạt động quản lý Nhà nước, Chính phủ cũng đã ban hành Nghị định 79/2003/NĐ-CP ngày 07/7/2003 của Chính phủ về ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở xã; Luật Thanh tra 2010 và một số văn bản pháp luật khác quy định nhân dân có thể trược tiếp hoặc thông qua các tổ chức xã hội, Ban thanh tra nhân dân để tiến hành giám sát và đánh giá về hoạt động của các cơ Nhà nước tại địa phương trong một số lĩnh vực cụ thể như: Xây dựng cơ bản, quản lý

Trang 24

đất đai, tài chính

Trong công tác quản lý đối với lĩnh vực dân tộc thiểu số cũng phải sử dụng các công cụ này Bởi vì thực tế quá trình đầu tư cho việc phát triển toàn diện kinh tế - xã hội ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số cũng đã xảy ra hiện tượng tham nhũng, lãng phí tài sản của Nhà nước, nhân dân Vì vậy, việc tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát, đánh giá là hết sức cần thiết

Kết quả của thanh tra , kiểm tra, giám sát và đặc biệt là đánh giá một chương trình, dự án, chính sách dân tộc của Nhà nước một cách định kỳ và liên tục đã nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong quản lý Nhà nước đối với việc đẩy mạnh phát triển kinh tế

- xã hội vùng đồng bào các dân tộc thiểu số ở nước ta

Như vậy, để quản lý Nhà nước đối với vấn đề dân tộc chúng ta có nhiều phương thức, công cụ khác nhau mà điều quan trọng là Nhà nước phải biết sử dụng linh hoạt từng phương thức, công cụ tùy theo điều kiện cụ thể từ thực tế, không cứng nhắc, rập khuôn, khi cần có thể sử dụng tổng hợp những phương thức trên để đạt hiệu quả tốt nhất trong quản lý Nhà nước nói chung và quản lý Nhà nước về dân tộc nói riêng

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa tộc người Cơtu

1.4.1 Yếu tố pháp luật

Vai trò của pháp luật trong giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa truyền thống chính là thông qua pháp luật đường lối, chủ trương của Đảng về văn hóa được nghiêm túc thực hiện trong toàn xã hội; đồng thời pháp luật xác lập cơ sở pháp lý cho các chủ thể tham gia giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa và chống lại những hành vi vi phạm pháp luật về vấn đề trên nhằm thực hiện mục tiêu xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc

Có thể khái quát vai trò của pháp luật trong giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trên những phương diện sau:

Thứ nhất, pháp luật thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng trong giữ gìn,

phát huy bản sắc văn hóa truyền thống và làm cho chủ trương, đường lối trở thành ý

chí và mục tiêu của toàn xã hội

Thứ hai, pháp luật tạo lập cơ sở pháp lý vững chắc cho cơ quan quản lý nhà

Trang 25

nước, tổ chức và cá nhân giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa

Thứ ba, pháp luật là công cụ hữu hiệu giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa

truyền thống

Thứ tư, pháp luật có vai trò giáo dục ý thức con người trong việc giữ gìn, phát

huy bản sắc văn hóa truyền thống

1.4.2 Bộ máy quản lý và nguồn nhân lực

Bộ máy quản lý nhà nước về văn hóa là một chỉnh thể các bộ phận trong cơ cấu

tổ chức quyền lực nhà nước, có chức năng, quyền hạn, nhiệm vụ khác nhau, có quan

hệ ràng buộc và phụ thuộc lẫn nhau được bố trí thành cấp và khâu để thực hiện chức năng nhất định của quản lý nhà nước về kinh tế nhằm đạt được mục tiêu đã đặt ra Qua đây, có thể thấy bộ máy quản lý có ảnh hưởng rất quan trọng đến hoạt động quản lý nhà nước về văn hóa

Thứ nhất, bộ máy quản lý quyết định “tính hiệu quả” của hoạt động quản lý nhà

nước về văn hóa Nếu xây dựng được một bộ máy phù hợp thì công tác quản lý sẽ thuận lợi, tiết kiệm được kinh phí, thời gian mà vẫn đảm bảo nhiệm vụ đề ra

Thứ hai, bộ máy quản lý tác động mạnh đến cách thức, phương pháp quản lý

Bởi lẽ, cách bố trí chức danh, số lượng, phạm vi… của bộ máy từ Trung ương đến địa phương hoặc tại một khu vực nhất định sẽ ảnh hưởng đến cách thức quản lý áp dụng trên thực tế đối với khu vực hành chính đó Chẳng hạn, nếu tại một khu vực nhất định số lượng cán bộ quản lý nhiều thì công tác quản lý sẽ tiến hành bằng cách trực tiếp, thường xuyên, đi sâu vào thực tiễn từng hộ gia đình, từng di tích, từng điểm kinh doanh dịch vụ văn hóa… Còn nếu không đủ người thì cơ quan nhà nước sẽ chọn những phương thức khác phù hợp như thông qua tuyên truyền, phương tiện truyền thông, tin báo…

Thứ ba, bộ máy quản lý tạo động lực để phát triển nền văn hóa của một quốc

gia Cho dù các yếu tố khác trong công tác quản lý nhà nước về văn hóa có tốt đến mấy nhưng nếu không xây dựng được một bộ máy khoa học, hoàn thiện, đáp ứng được những yêu cầu của thực tiễn thì công tác quản lý sẽ trở nên lủng củng, từ đó không thể phát triển văn hóa Một bộ máy quản lý tốt sẽ giúp cho những người đứng đầu lãnh đạo điều hành công tác văn hóa một cách bài bản và phát triển vững chắc, tăng tiến

Trang 26

Với cơ cấu tổ chức bộ máy như thế, để vận hành thông suốt có hiệu quả cần phân cấp mạnh cho cơ sở để phát huy tính chủ động sáng tạo ở từng địa phương Bên cạnh đó phải đào tạo cán bộ theo hướng chuyên môn hóa, có chính sách đãi ngộ thỏa đáng cho bộ máy quản lý văn hóa từ Trung ương đến cơ sở

Nguồn nhân lực bảo tồn và phát triển di sản văn hóa bao gồm đội ngũ quản lý, đội ngũ nghiên cứu về di sản văn hóa, các kiến trúc sư, các kỹ sư xây dựng, kỹ thuật viên, thợ nghề, nghệ nhân, văn nghệ sĩ, những người làm công tác bảo vệ di sản văn hóa ở cơ sở Đội ngũ này có tác động trực tiếp đến công tác bảo tồn di sản văn hóa Nếu đội ngũ này dồi dào, có trình độ chuyên môn cao, nhạy bén, có tâm huyết thì hiệu quả công tác bảo tồn di sản văn hóa sẽ càng cao Ngược lại, nếu nguồn nhân lực cho công tác bảo tồn di sản văn hóa ít ỏi, năng lực hạn chế, không được đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên về chuyên môn thì hiệu quả công tác bảo tồn di sản văn hóa sẽ bị giảm

đi rất nhiều

1.4.3 Yếu tố kinh tế

Không chỉ riêng trong công tác quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa các dân tộc mà đối với công tác quản lý nhà nước nói chung, yếu tố kinh tế mà cụ thể ở đây là nguồn lực vật chất chính là điều kiện cần để thực hiện đảm bảo hoạt động quản lý

Kinh phí cho hoạt động bảo tồn di sản chủ yếu từ nguồn ngân sách Nhà nước Nếu ngân sách ổn định thì lượng kinh phí phân bổ cho lĩnh vực văn hóa nói chung, trong đó có nguồn đầu tư cho công tác bảo tồn di sản có xu hướng tăng và ngược lại Mặc khác, với xu hướng xã hội hóa như hiện nay, sự quan tâm, tham gia đầu tư của các tổ chức, thành phần ngoài quốc doanh và nhân dân; thậm chí cả sự tham gia của các tổ chức, cộng đồng quốc tế càng nhiều thì nguồn kinh phí càng dồi dào, hoạt động bảo tồn di sản văn hóa càng thuận lợi và hiệu quả

1.4.4 Yếu tố văn hóa

Văn hóa có vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống xã hội; là năng lực sáng tạo, trí tuệ, tài năng, đạo đức của con người; trụ cột phát triển bền vững của mỗi quốc gia, dân tộc và nhân loại Nhu cầu của con người càng cao thì càng tạo điều kiện cho việc hình thành các giá trị văn hóa Giá trị văn hóa là cái hình thành trong quá trình

Trang 27

vận động của các cá nhân, nhóm và cộng đồng xã hội vươn tới thỏa mãn nhu cầu của mình Do vậy, theo chiều hướng tích cực, giá trị văn hóa là những thành tựu của một

cá nhân hay một dân tộc đã đạt được trong quan hệ với thiên nhiên, với xã hội và trong sự phát triển bản thân mình Những biểu hiện của giá trị văn hóa được cá nhân

và cộng đồng thừa nhận, duy trì, bảo vệ và phát triển Giá trị văn hóa của mỗi dân tộc như là cái phổ biến trong phạm vi mỗi cộng đồng dân tộc và là cái đặc trưng trong phạm vi xã hội đa cộng đồng Suy rộng ra, giá trị văn hóa là cái tạo nên nét độc đáo, truyền thống, bản sắc dân tộc Từ đó, có thể phân biệt được những đặc trưng về văn hóa của dân tộc này với dân tộc khác

Trong sự tồn tại và phát triển của văn hóa thì quản lý văn hóa đóng vai trò rất quan trọng Trên phương diện vĩ mô, hoạt động quản lý văn hóa sẽ góp phần định hướng, điều chỉnh sự phát triển của văn hóa quốc gia, giúp hiện thực hóa các chủ trương, đường lối văn hóa, văn nghệ của Đảng cầm quyền, từ đó tác động đến mục tiêu, bản chất của văn hóa dân tộc Trên phương diện vi mô, hoạt động quản lý văn hóa trong các lĩnh vực, địa bàn, nhóm dân cư cụ thể sẽ giúp kiểm soát sự tùy tiện, sai

lệch trong khi thực thi các cơ chế, chính sách của Nhà nước trên lĩnh vực văn hóa

1.4.5 Yếu tố xã hội

Hoạt động quản lý nhà nước về văn hóa luôn luôn tồn tại trong một điều kiện

xã hội nhất định Chính vì vậy, các yếu tố xã hội ảnh hưởng mật thiết đến hoạt động quản lý nhà nước về văn hóa Các yếu tố xã hội là tương đối rộng, do vậy để làm sáng

tỏ ảnh hưởng của các yếu tố này ta cần nghiên cứu trên những khía cạnh khác nhau

Môi trường, địa hình, địa chất, khí hậu… ảnh hưởng rất lớn đến chính sách bảo tồn di sản, nhất là đối với di sản vật thể Môi trường bị ô nhiễm, địa hình phức tạp, khí hậu khắc nghiệt, biến đổi thất thường làm di sản, trong đó chủ yếu là di sản vật thể dễ

bị xuống cấp, hư hỏng nghiêm trọng Thêm vào đó, chất liệu, kết cấu của di sản cũng ảnh hưởng đến hoạt động khôi phục, bảo tồn hiện trạng của di sản

Trình độ hiểu biết và nhận thức của người dân có ảnh hưởng trực tiếp tới việc thực thi các chính sách Trình độ hiểu biết và nhận thức của người dân mà cao thì công tác tuyên truyền, phổ biến các chính sách của Đảng và Nhà nước tới người dân được thực hiện một cách nhanh chóng và hiệu quả Từ đó, người dân trở thành một chủ thể

Trang 28

thực hiện chính sách một cách chủ động, tự nguyện, qua đó nâng cao hiệu quả thực thi các mục tiêu, giia pháp chính sách

Kết luận Chương 1 Văn hóa xét về mặt tinh thần là một trong những hình thái ý thức xã hội, phản

ánh trình độ phát triển của lịch sử nhất định của một xã hội hay cộng đồng dân cư Lịch sử của văn hóa gắn liền với lịch sử tồn tại và phát triển của xã hội loài người Với

tư cách là sản phẩm sáng tạo của con người trong thực tiễn xã hội lịch sử của họ, văn hóa có khả năng chi phối toàn bộ đời sống tâm lý, lối sống và phương thức hoạt động của con người trong xã hội

Với những chức năng giáo dục, thẩm mỹ, nhận thức và cải tạo hiện thực bằng thực tiễn, văn hóa thúc đẩy sự tiến bộ xã hội, tác động tích cực đến sự phát triển và hoàn thiện bản chất con người Ngày nay, trong xu thế đổi mới và hội nhập, văn hóa luôn được xem là động lực của sự phát triển, trong đó những giá trị văn hóa truyền thống là nhân tố đảm bảo cho tính bền vững Vì vậy, việc bảo tồn và phát triển các giá trị văn hóa truyền thống là đòi hỏi có tính nguyên tắc của sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước ta hiện nay

Nhận thức tầm quan trọng của nhân tố văn hóa trong đời sống xã hội, việc nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân là vấn đề cần quan tâm hàng đầu của mỗi dân tộc ở mỗi địa phương Để tạo sự thống nhất trong tính đa dạng về bản sắc văn hóa cần chú trọng đến việc phát huy giá trị văn hóa của mỗi dân tộc, đặc biệt là bảo tồn và phát triển văn hóa tộc người Cơtu ở Quảng Nam Phát huy, trước hết phải bảo tồn, giữ gìn những giá trị và trên cơ sở đó kế thừa và phát triển lên tầm cao hơn

Trang 29

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA TỘC NGƯỜI CƠTU TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM

2.1 Điều kiện tự nhiên và lịch sử của tộc người Cơtu tại tỉnh Quảng Nam

Quảng Nam có 09 huyện miền núi (Đông Giang, Tây Giang, Phước Sơn, Nam Giang, Nam Trà My, Bắc Trà My, Hiệp Đức, Tiên Phước, Nông Sơn), có 14 xã thuộc

02 huyện Tây Giang, Nam Giang có đường biên giới với nước bạn Lào với chiều dài 157,442 km Tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 10.438 km2 Miền núi Quảng Nam chiếm 81,27% diện tích tự nhiên toàn tỉnh, được xác định là một địa bàn chiến lược quan trọng về chính trị, kinh tế, quốc phòng của tỉnh và là một bộ phận trong địa bàn chiến lược rộng lớn Trường Sơn - Tây Nguyên Dân số toàn tỉnh có trên 1,5 triệu người, trong đó dân số vùng miền núi khoảng 410 nghìn người, chiếm 27% dân số toàn tỉnh Đồng bào dân tộc thiểu số khoảng 127.504 người, trong đó dân tộc Cơtu là 50.244 người

Đến nay, vùng núi Quảng Nam có 75.739 hộ với trên 410.000 khẩu, trong đó có

6 huyện vùng cao và 03 huyện miền núi Ở vùng đồng bằng, đại đa số là dân tộc Kinh sinh sống Từ sau ngày miền Nam hoàn toàn được giải phóng, số người Kinh từ đồng bằng lên miền núi làm ăn, sinh sống ngày càng gia tăng, làm thay đổi cơ cấu thành phần dân tộc Ở vùng miền núi phía Tây tỉnh Quảng Nam có 4 dân tộc ít người sinh sống chủ yếu là dân tộc: Giẻ Triêng, Xơ Đăng, Ca Dong và Cơtu với số dân lên đến 120.000 người Dân tộc ít người sinh sống ở miền núi Quảng Nam có quan hệ gắn bó mật thiết từ lâu đời với người Kinh ở vùng đồng bằng và đồng tộc cũng như khác tộc ở tỉnh Thừa Thiên Huế, Kon Tum, Quảng Ngãi và tỉnh Xê Kông nước bạn Lào

Người Cơtu sinh sống ở vùng địa lý có địa hình phức tạp, hiểm trở, bị chia cắt bởi nhiều sông, suối, núi cao và thung lũng hẹp Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, độ ẩm cao nên khí hậu khắc nghiệt Đây cũng là vùng có nhiều tài nguyên rừng, nhất là gỗ và các loại động vật quý hiếm

Đặc điểm tự nhiên của vùng đất tộc người Cơtu sinh sống tuy có những yếu tố riêng biệt nhưng nằm trong khu vực tương đối thống nhất của điều kiện tự nhiên nối

Trang 30

liền các tỉnh Quảng Trị, Quảng Bình, Thừa Thiên - Huế với Tây Nguyên Trong đó, đặc biệt là sự tương đồng về địa hình, miền khí hậu, hệ thổ nhưỡng của miền Tây Thừa Thiên - Huế với miền Tây Quảng Nam Địa bàn cư trú của tộc người Cơtu tiếp giáp với vùng cư trú của dân tộc Kinh, vùng đồng bằng ven biển và có mối quan hệ với vùng phía Đông tỉnh Xê Kông (Lào)

Theo số liệu điều tra năm 2015, tộc người Cơtu có số dân hơn 56 ngàn người, xếp thứ 26 trong danh mục thành phần dân tộc Việt Nam Trên địa bàn tỉnh Quảng Nam, tộc người Cơtu có số dân 50.244 người, được phân bố tập trung ở các huyện Đông Giang, Tây Giang và Nam Giang Ngoài ra, tộc người Cơtu còn sinh sống ở huyện Hòa Vang (thành phố Đà Nẵng), hai huyện Alưới, Nam Đông (tỉnh Thừa Thiên - Huế) và hai huyện Đắc Chung, Kà Lùm (tỉnh Xê Kông, Lào) Do vậy, địa bàn cư trú của tộc người Cơtu tương đối rộng lớn nhưng tập trung, không xáo trộn, chia cắt bởi các dân tộc khác

Cho đến nay, chưa có tài liệu nghiên cứu khoa học nào cho thấy trong quá trình lịch sử địa bàn cư trú của tộc người Cơtu vượt ra khỏi khu vực này và di chuyển từ Bắc Trường Sơn vào hay bắc Tây Nguyên ra Nên có sơ sở để cho rằng với đặc điểm tập trung về địa bàn cư trú như vậy đã có những tác động trong quá trình hình thành dân tộc và xác định nguồn gốc dân tộc

Cho tới khoảng giữa thế kỷ XX, nếp sống cổ truyền của tộc người Cơtu vẫn còn hầu như nguyên vẹn Đó là xã hội của cư dân nông nghiệp vùng rừng nhiệt đới, của những người khai thác nguồn sống từ rừng, lấy canh tác rẫy làm nguồn sống chính Về

sinh hoạt kinh tế, cũng như các dân tộc thiểu số khác ở dọc Trường Sơn và Tây

Nguyên, người Cơtu trước đây chuyên sống bằng kinh tế nương rẫy, chủ yếu trồng trọt cây lúa khô còn gọi là lúa cạn hay lúa rẫy như cách gọi thông dụng hiện nay

Người Cơtu sản xuất nông nghiệp nương rẫy nên phân định thời vụ theo những chu kỳ thống nhất trong năm Trải qua một quá trình lâu dài từ thế hệ này sang thế hệ khác đã tích lũy thành một “Kinh nghiệm về nông lịch nương rẫy” Đồng bào dựa vào những đặc điểm, những thay đổi của thiên nhiên; cây lúa, hoa quả; tiếng chim, thú, tiết trời chuyển đổi để ấn định các công việc sản xuất ở nương rẫy

Người Cơtu chia các tháng trong năm (về sau được tính theo tháng dương lịch)

để ấn định các công việc nương rẫy như tháng nào thì phát rẫy, tháng nào thì chặt cây

to, tháng nào thì dọn tỉa, tháng nào thì làm cỏ… Cũng cần nói thêm rằng, với việc ấn

Trang 31

định các tháng trong năm, đồng bào còn quy định công việc lấy mật, bẫy thú rừng, bẫy chim… được thực hiện vào tháng nào Đây cũng chính là kinh nghiệm sinh hoạt kinh

tế của đồng bào Cơtu

Qua việc ấn định trên đây, cho thấy rằng tuy ở một dạng hình kinh tế sản xuất còn thấp nhưng sự nhận thức của con người trước thiên nhiên, trước quy trình sản xuất được tích lũy và nâng lên thành một hệ thống cả về chu kỳ thời gian đi đôi với công việc Tuy rằng nền sản xuất ấy mang lại hiệu quả bấp bênh nhưng chính đồng bào Cơtu đã từ thực tế đó luôn vươn tới sự hoàn thiện trong nhận thức và cách làm đối với loại hình kinh tế chủ yếu của mình

Về nguồn gốc và quá trình tộc người, cho đến nay chưa có một công trình

nghiên cứu, khai quật khảo cổ học ở vùng cư trú của đồng bào Cơtu Trước khi cách mạng đến với đồng bào, người Cơtu chưa có chữ viết Hơn nữa, địa vực cư trú của

người Cơtu hiểm trở, đi lại khó khăn và trong mối quan hệ xã hội cổ truyền còn nặng tính cộng đồng nguyên thuỷ nên sự xâm nhập nghiên cứu của các nhà khoa học trước

đây rất ít

Về tộc danh, cho đến nay trên các văn bản của Nhà nước đều được công bố là Cơtu (tổng điều tra dân số được công bố trong quyển “Dân số Việt Nam” ngày 01/10/1979 của Tổng cục Thống kê) Như vậy về mặt pháp lý thì tộc danh của dân tộc Cơtu viết là “Cơtu” Cơ sở để quyết định tộc danh này là do kết quả nghiên cứu của các nhà dân tộc thuộc Học viện Dân tộc học - Uỷ ban khoa học - Xã hội (nay là Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Quốc gia)

Qua các tài liệu khoa học đã được công bố trong phạm vi cả nước và ngoài nước thì cho đến nay dân tộc Cơtu được khẳng định là dân tộc cận cư ở phía Bắc và phía Nam, đều là các dân tộc thuộc ngữ hệ Môn Khơmer Như vậy, ngữ hệ này nằm ở một khu vực tương đối rộng lớn, tập trung kéo dài từ Bắc Trường Sơn vào đến Bắc Tây Nguyên mà trong đó có dân tộc Cơtu

Tuy nhiên, khi nghiên cứu về mặt ngôn ngữ và một số yếu tố về văn hoá giữa dân tộc Cơtu với dân tộc Tà Ôi, một số nhà nghiên cứu phát hiện nhiều yếu tố đồng nhất, trong đó thể hiện phần lớn những đặc trưng cơ bản của dân tộc Cơtu Vì thế đã

có ý kiến cho rằng ngôn ngữ của dân tộc này nằm trong ngữ hệ Môn - Khơmer, nhưng trong ngữ hệ đó lại có một nhánh lớn là “Cơtu-ít” (một phần nhánh ngữ hệ) “Cơtu-ít”

Trang 32

này bao gồm cả dân tộc Tà Ôi

Theo cứ liệu điều tra của Sở Văn hoá - Thông tin tỉnh Quảng Nam: “Người Cơtu từ bên Lào di cư sang khoảng 300 năm nay, cư trú ở Tây Giang, Đông Giang, Nam Giang và ở Phú Lộc (Bình Trị Thiên) nay là huyện Nam Đông tỉnh Thừa Thiên - Huế Là một trong những dân tộc lâu đời nhất ở Việt Nam, đồng bào Cơtu cho rằng ông bà xưa kia ở miền tây Quảng Bình, Quảng Trị do đi tìm đất để trồng trọt nên đã di

cư vào phía Nam Các cư dân Môn - Khơmer làm chủ ở vùng Đông Dương từ những thế kỷ trước công nguyên, theo tài liệu về nhân chủng học thì các cư dân Môn - Khơmer cùng với cư dân thuộc các nền văn hoá như Mã Lai đa đảo (MaLai- Pôlinêdi), Việt - Mường… là những cư dân đại diện đầu tiên của chủng tộc Môngôlôit phương Nam xuất hiện ở Đông Nam Á Còn ở vùng bán đảo Đông Dương các cư dân này là những người Anhđônêdiên nguyên thuỷ mà trước Anhđônêdiên là các cư dân thuộc chủng tộc Môngôlôit Như vậy, dễ dàng khẳng định các cư dân Môn - Khơmer trong

đó có dân tộc Cơtu là những cư dân có mặt tại bán đảo Đông Dương từ lâu đời”

Người Cơtu chính là hậu duệ của người nguyên thuỷ Anhđônêdiên, có mặt ở khu vực Tây dãy Trường Sơn, họ là cư dân của bán địa vùng miền núi phía tây Quảng Nam và một phần phía đông tỉnh Xê Kông Lào, và kéo dài ra miền tây tỉnh Thừa Thiên - Huế Do vậy, người Cơtu là chủ thể của vùng núi Quảng Nam

2.2 Khái quát về văn hóa tộc người Cơtu

2.2.1 Văn hóa vật thể

- Về phạm vi, cách thức cư trú của tộc người Cơtu: Mỗi làng Cơtu mang một

tên riêng để tự phân biệt với các làng khác Trong quan hệ giao tiếp với bên ngoài, tên làng là tín hiệu hàng đầu để phân biệt người của những cộng đồng cư trú khác nhau, còn trong quan hệ nội bộ, tên làng có tác dụng liên kết nhau giữa các thành viên cùng cộng đồng, dù họ không phải thân thích, mà chỉ là hàng xóm láng giềng Làng, vốn không những là đơn vị xã hội cơ sở, mà còn là đơn vị xã hội duy nhất của người Cơtu xưa được lưu giữ đến ngày nay Hình thái cư trú truyền thống của người Cơtu có đặc trưng tụ cư thành một cụm cư dân gọi là “Vêêl”, “Croon” hoặc là “Bươih”; tuỳ theo từng phương ngữ của vùng cao, trung, thấp mà các tên gọi này khác nhau nhưng tất cả

để chỉ đặc trưng của hình thái cư trú Khu cư trú của từng làng Cơtu là một nhóm vài chục ngôi nhà sàn, mái kiểu mai rùa, đứng kề nhau thành đường vòng tròn hoặc ê-líp,

Trang 33

tất cả vây quanh khoảng đất bằng phẳng, tương đối rộng được xem như sân chung Ngôi nhà cộng đồng (Gươl) cao lớn và đẹp hơn cả, thường nổi bật tại vị trí trung độ so với những dãy nhà còn lại, hay giữa khoảng sân làng Khu cư trú được vây bọc bởi những rào thép chắc chắn Cách bố trí này thể hiện đặc điểm cổ truyền của làng Cơtu nhằm mục đích phòng thủ, chống lại mọi vũ lực đe dọa từ bên ngoài, đồng thời thể hiện tính liên kết, tính tương trợ rất cao giữa các thành viên trong cùng một cộng đồng Đây là đơn vị xã hội của người Cơtu, giống như “làng” của người Việt, “palay” của người Chăm hoặc "plây" của dân tộc Giẻ - Triêng cận cư Trong ngôn ngữ người Cơtu

có tên gọi cho nhiều làng: “Chrval”; một vùng bao gồm nhiều làng, gọi là: “Chhoong” Điều này có thể lý giải được rằng: Trong xã hội Cơtu đã có biểu hiện của sự hình thành mối liên kết liên làng, liên thôn mà xét về mặt lịch sử thì có thể xem đó là “Liên minh bộ tộc”, vì trước đây một làng thường là một dòng họ (Cabhu)

Mỗi Vêêl của người Cơtu thường quần cư từ 20 - 30 nóc nhà (Zơơng hay Đhông), số lượng thành viên (nhân khẩu) từ 150 - 250 Trước đây số lượng nóc nhà nhiều hơn, có làng có tới 50 - 60 nóc nhà (Xem hình ảnh Vêêl ở phụ lục 1)

Như vậy, đời sống của người Cơtu gắn liền với nền nông nghiệp, kinh tế nương rẫy nên phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên Tính chất của nền nông nghiệp đã quy định cách thức cư trú của họ, đó là lối sống quần cư mà trong đó mối liên kết, tương trợ lẫn nhau hết sức chặt chẽ Đặc biệt, hầu hết đều sinh sống theo lối cận cư

mà rất ít xen cư Từ thực tế này cho thấy hình thái cư trú cộng đồng của người Cơtu còn tương đối bền vững

- Kiến trúc nhà ở, nhà sinh hoạt cộng đồng: Đặc trưng cơ bản và riêng biệt về

kiến trúc nhà của người Cơtu là Vêêl, có cấu trúc hình tròn hoặc hình bầu dục; dạng cấu trúc này còn khá phổ biến ở các xã cùng cao, vùng biên giới Việt - Lào; ở các xã vùng thấp và vùng định canh định cư, cấu trúc Vêêl truyền thống đã bị phá vỡ về cơ bản

Nhà ở của các thành viên trong Vêêl được xây dựng theo hướng cửa chính quay mặt vào nhà Gươl (như nhà Đình của người Kinh); nhà này cách nhà kia từ 5 đến 8 mét; ở những nơi có nhiều gia đình do dân đông nhưng địa hình đất đai không cho phép mở rộng không gian, diện tích thì nhà này cách nhà kia có khi từ 2 đến 3 mét; đây là những làng có mật độ quần cư lớn Song, không có lối đi riêng giữa nhà này với nhà khác, khoảng sân của Vêêl vừa là nơi vui chơi, quần tụ khi có việc chung của cộng

Trang 34

đồng và cũng là mặt bằng đi lại giữa nhà này với nhà kia

Gươl dựng ở chính giữa làng hoặc cùng chiều với nhà ở của các thành viên Quy mô nhà Gươl lớn hơn nhà ở, được xây dựng theo kiến trúc nhà sàn, có một cột

to ở chính giữa, mái tròn lợp xuôi như hình cây nấm Gươl ở vị trí giữa làng, cột ở chính giữa gươl Kiến trúc này thể hiện nhận thức của người Cơtu về vai trò của yếu

tố trung tâm

Gươl là nơi sinh hoạt văn hoá, tín ngưỡng… chung của cả Vêêl Các hoạt động

có tính chất giải quyết công việc nội bộ của cả Vêêl, giao tiếp với khách của Vêêl đều được tiến hành tại nhà Gươl Đây là nơi các thành viên là nam giới sinh hoạt (bàn bạc, trao đổi, kể chuyện, uống rượu…) khi đêm về và là nơi ngủ của các cụ già, thanh thiếu niên chưa vợ và khách Có thể nói rằng, nhà Gươl với chức năng về xã hội, văn hoá và tín ngưỡng (nơi lưu giữ những vật hiến tế, cúng bái, của cải chung của làng và nơi tiến hành các lễ nghi cúng bái) đã như là trái tim của Vêêl Trên thực tế nhà Gươl thật sự là

trung tâm sinh hoạt văn hoá - xã hội của một Vêêl người Cơtu (Xem hình ảnh Gươl ở

phụ lục 2)

- Máng nước đảm bảo mỗi Vêêl có một nguồn nước riêng, đặc điểm của người

Cơtu là lập làng gần nguồn nước Nguồn nước được dẫn từ đầu nguồn con suối theo kiểu đào mương về đến Vêêl hoặc tạo hệ thống bằng đường ống tre nứa đưa nước từ

xa hoặc trên cao xuống đến Vêêl Điều này là nguyên nhân dẫn đến nhiều ý kiến cho rằng tộc danh “Cơtu” là do đặc điểm lập làng ở đầu nguồn nước hoặc đầu ngọn núi: K’tu (C’tu) có nghĩa là người ở đầu nguồn, đầu ngọn - trong ngôn ngữ Cơtu, “Tu” là đầu, trên Nguồn nước uống trong sạch lấy từ đầu nguồn dẫn về đến Vêêl, khi đến Vêêl được đưa vào ống tre, nứa đục thủng các mắt nối lại với nhau, nguồn nước chảy suốt ngày đêm phục vụ cho mọi thành viên trong gia đình

Làm máng nước này là trách nhiệm của mọi thành viên trong Vêêl Khi dựng làng, làm máng nước xong sẽ có một lễ nghi “khai trương” nguồn nước Hàng năm có một số lễ tiết của sản xuất, tín ngưỡng có liên quan đến máng nước, đồng thời luật tục cũng quy định những điều kiêng kỵ đối với máng nước

- Nghĩa địa là một khu vực trong phạm vi đất đai của Vêêl dành để chôn cất

người chết được ấn định như là tập quán Điều đó chứng minh rằng người Cơtu có những quan niệm về cõi sống, cõi chết: “Sống theo hướng mặt trời mọc, chết theo

Trang 35

hướng mặt trời lặn” Thông thường, khi đến một Vêêl của người Cơtu rất dễ nhận ra khu nghĩa địa của Vêêl, vì khu nghĩa địa đó có rừng rậm um tùm, có nhiều cây cổ thụ, nguyên do là người Cơtu không dám phát rừng làm rẫy, không dám đến gần nghĩa địa

Ở người Cơtu, những người chết không bình thường (chết xấu, chết ra máu trên cơ thể con người) thì không được chôn cất ở nghĩa địa của Vêêl mà phải chôn ở rừng sâu, càng

xa Vêêl càng tốt (Xem hình ảnh Nhà mồ của tộc người Cơtu ở phụ lục 3)

- Hàng rào, cổng làng nói lên hình thái cư trú, cấu trúc làng bản nên mỗi Vêêl

có một hàng rào và cổng làng Hàng rào làng có nơi làm rất kiên cố bằng nhiều lớp cây, lại có nơi hàng rào được thể hiện bằng đường hào sâu, rộng Lối thông của Vêêl

ra ngoài qua hàng rào thường có một cổng chính, cổng này thường để trống đi ra bằng con đường hoặc qua một cầu ván bắc qua đường hào Ngoài cổng chính, mỗi Vêêl có

từ một đến hai cổng phụ ở các hướng khác, cổng này thường được dùng để đi rẫy hoặc vào rừng, ra suối… Lối cấu trúc hàng rào, cổng thể hiện tính phòng thủ kẻ địch, thú dữ rất rõ rệt

Tất cả những công trình công cộng đều là tài sản chung, mọi thành viên đều có trách nhiệm, nghĩa vụ đóng góp công sức để xây dựng, bảo vệ

- Về trang phục: Tuy nghề dệt có muộn và chưa phát triển nhưng kết cấu trang

phục người dân tộc Cơtu bên cạnh những nguyên tắc thuộc về đặc thù chung đối với một cư dân miền núi, vẫn thể hiện một số đặc điểm riêng Đặc điểm riêng này có liên quan đến cả kỹ thuật dệt, tư duy thẩm mỹ và qua đó, hàm chứa nhiều đặc trưng về văn hoá xã hội của dân tộc mình Người phụ nữ mặc váy và để trần phần thân khi còn là con gái chưa lấy chồng, đến khi lấy chồng thì mang thêm chiếc yếm che trước ngực hoặc sử dụng chiếc váy dài, choàng phía trên ngực chỉ chừa lại đôi vai trần, giữ chiếc váy mặc ở kiểu này thường dùng một chiếc dây buộc quanh ngang bụng hoặc ở ngực Ngày nay, nguyên tắc này đã có thay đổi, rất ít thấy trường hợp người con gái chưa chồng mặc váy ở trần, có thể như thế là biểu hiện quan điểm về thẩm mỹ đã đổi thay

(Xem hình ảnh dệt thổ cẩm ở phụ lục 4)

Ở những trường hợp người phụ nữ tham gia vào các sinh hoạt lễ hội cộng đồng, bên cạnh những người phụ nữ mang váy lên đến trên ngực, còn một số người mặc những chiếc áo (áo chui đầu qua cổ áo) ngắn tay hoặc dài tay Có thể loại áo này mới xuất hiện một vài chục năm nay sau khi tiếp cận với loại áo hiện đại, người Cơtu đã học

Trang 36

và dệt theo kiểu loại áo hiện đại Màu sắc đặc trưng của váy, áo phụ nữ (kể cả khố và tấm choàng của đàn ông) là màu chàm, canh đen Người Cơtu đặc biệt ưa chuộng trang phục có nhiều hoa văn Trên các váy, áo, khố của người Cơtu đều được thể hiện hình hoạ trang trí khác nhau Đặc biệt là loại hoa văn được dệt bằng hạt cườm (cườm chì và cườm nhựa) kết thành đường nét hoa văn Từ việc thể hiện nhiều loại hoa văn khác nhau trên nền váy đã thấy một kỹ thuật dệt rất đặc sắc, có thể xem như là nghệ thuật - dệt tạo hoa văn bằng cách luồng hạt cườm vào sợi chỉ dệt (chỉ tìm thấy ở người Cơtu)

Trang sức của người Cơtu khá phong phú và đặc sắc, ngay trên trang phục của người Thời gian gần đây, nhất là 10 năm qua, quan điểm và trang sức của người Cơtu

có những thay đổi trước sự xâm nhập của nhiều loại hình, loại vật trang sức hiện đại khác nhau, đặc biệt sự thay đổi này diễn ra mạnh mẽ đối với nam nữ thanh niên

- Cà răng (Gọt cờ niêng): Nam nữ thanh niên đến tuổi trưởng thành đều phải

cưa mài răng cửa đến sát lợi (Néo) Tục cưa răng hiện nay ở các vùng dân tộc Cơtu không còn nữa

- Về ẩm thực: Là một cư dân nông nghiệp nương rẫy nên cái ăn chính của người

Cơtu cũng chính là những sản phẩm được làm ra từ nương rẫy mà ít có các sản phẩm

từ hoạt động chăn nuôi, làm vườn Lương thực chủ yếu của người Cơtu là lúa bên cạnh sắn, bắp Tuy nhiên, ở một số vùng, tỷ lệ sắn, bắp trong bữa cơm vẫn chiếm nhiều hơn gạo Điều này cũng dễ hiểu vì tập tục độc canh cây lúa luôn ẩn chứa nhiều bất ổn Nói cách khác, nhìn vào cơ cấu bữa ăn, cách thức tổ chức bữa ăn của người Cơtu ta thấy mang đậm yếu tố tự cung tự cấp Đây chính là sự thích ứng của con người với điều

kiện, hoàn cảnh sống

Một phương pháp chế biến thức ăn thông dụng, riêng có của người Cơtu đó là

“Cha Zã” hay còn gọi là “Ch’rá” Món này được làm từ thịt thú khô, cá trộn với sắn tươi, bắp chuối, cà… sau đó cho vào ống nứa và nướng trên lửa, dùng thân cây mây thọc vào, khoáy nhuyễn cho đến khi chín Đây là một món ăn ngon được dùng trong gia đình vào những dịp đặc biệt hoặc có khách quý

Tính cộng đồng cũng thể hiện rất rõ trong ăn uống của người Cơtu Về cách thức bày biện, họ chủ yếu hướng đến tính tiện dụng, ai cũng có thể lấy thức ăn một cách dễ dàng Khi chia phần, dù có hay vắng mặt đều được phân chia Về cách hưởng lợi, sản phẩm săn bắn đều được phân bổ cho mọi thành viên trong làng

Trang 37

Ăn bốc (ăn bằng tay) là một tập quán khá phổ biến của người Cơtu trước đây

Cái lợi của nó là gọn nhẹ, dễ xử lý khi ăn nhưng đồng thời cũng thể hiện trình độ trong

ăn uống của đồng bào Ngày nay, phương cách ẩm thực của người Cơtu đã có nhiều thay đổi khác trước Nhiều món ăn đã được chế biến theo kiểu người Kinh, các kiểu ăn uống không hợp vệ sinh, có hại cho sức khỏe đã và đang được xóa bỏ dần

2.2.2 Văn hóa phi vật thể

Quan niệm về thế giới, thần linh:

Thế giới trong quan niệm của người Cơtu bao gồm Trời, Đất và con người Người Cơtu đặc biệt coi trọng Trời, Đất, họ cho rằng đó là nơi sinh ra con người, vạn vật và đó cũng là nơi thần linh trú ngụ Thông thường trong các lễ cúng, bao giờ người Cơtu cũng cúng Trời, Đất trước, sau đó là cúng xua đuổi tà ma (thường gọi là “ma mọi”)

Trong quan niệm về thần linh thì người Cơtu tôn thờ rất nhiều vị thần như Thần Tốt, Thần Chết, Thần Ác, trong đó vị trí hàng đầu là Thần Chết Do sống trên địa bàn rừng sâu, núi thẳm nên nguy hiểm luôn rình rập, một sơ suất nhỏ cũng có thể dẫn đến cái chết Cái chết là một nỗi khiếp sợ, một ám ảnh thường trực chi phối cuộc sống của

họ Vì thế, người Cơtu tôn thờ Thần Chết và cho rằng, Thần Chết luôn hiện diện khắp nơi Như vậy, trong quan niệm về thế giới của người Cơtu chứa đựng yếu tố duy tâm nhưng nó chưa được giải thích một cách khoa học và còn ít nhiều mang tính mê tín, ma thuật Trong quan niệm về thần linh thì chứa đựng yếu tố duy tâm nhưng được giải thích bằng những hiện tượng xảy ra trong thực tế cuộc sống thường ngày Quan niệm về thế giới, thần linh trong đời sống văn hóa tinh thần của người Cơtu chứa đựng nhiều mâu thuẫn, đan xen giữa yếu tố duy vật và duy tâm, đan xen giữa kinh nghiệm và mê tín, ma thuật Mặc dù vậy, triết lý đó đã tạo nền tảng hình thành nên sự phong phú, đa dạng trong đời sống văn hóa tinh thần của người Cơtu với những quan niệm phái sinh sau này

Quan niệm về con người:

Người Cơtu tin rằng, mỗi con người có phần xác và phần hồn, nhưng khác với các dân tộc khác cho rằng con người có một hồn, người Cơtu tin là con người có hai hồn, một hồn tốt và một hồn xấu Những người chết bằng con đường tự nhiên thì hồn tốt sẽ còn lại Những người chết này được chôn cất rất trang trọng, sau vài năm thì được cải táng và được đem về chôn cất trong nhà mồ của gia đình và được thờ cúng,

Trang 38

được tưởng nhớ Còn những người chết do trượt chân xuống vực, chết do sinh nở, chết

do rắn cắn, hổ vồ, bị lợn rừng húc thì hồn của họ trở thành hồn ác, phải gia nhập vào đội ngũ những hồn lang thang, làm tăng thêm lực lượng thần ác Xác của họ phải được chôn trong những góc rừng sâu tăm tối, đất sẽ đè nặng lên họ để chất ác trong hồn họ

sẽ không thoát ra được Hồn của họ sẽ bị xua đuổi bởi những chiếc tượng gỗ đặt quanh nhà Gươl, trước những ngôi nhà mới, trên những con đường mà khi còn sống họ thường đi qua Những con vật do họ nuôi phải bị giết sạch, những cây do họ trồng phải được chặt bỏ và người sống phải bỏ làng, bỏ nhà, bỏ rẫy để di cư đến nơi khác, tránh

xa nơi người có hồn ác chết

Trong thực tế, do địa bàn sinh sống của người Cơtu có điều kiện tự nhiên và xã hội tương đối khắc nghiệt, hiểm nguy luôn rình rập nên những tai nạn bất ngờ thường xuyên xảy ra và kết cục là đem lại những cái chết bất đắc kỳ tử, không báo trước Cái chết tự nhiên theo quy luật “Sinh – Lão - Bệnh - Tử” thường rất hiếm nên người Cơtu cho rằng người chết có hồn ác nhiều hơn hồn tốt Từ đó họ luôn có cái nhìn bi quan về cuộc sống, bi quan về tương lai nên luôn phải du canh du cư đến những vùng đất mới, gây nên sự xáo trộn không nhỏ trong cuộc sống của người Cơtu nói riêng và xã hội nói chung Sự kém hiểu biết và mê tín trong quan niệm về linh hồn con người của người Cơtu đã tạo nên lực cản không nhỏ trong quá trình sống của họ, cũng như ngăn trở họ trong việc tiếp thu những cái tốt, cái hay, cái mới từ bên ngoài Đây là một thách thức hữu hình đối với những nỗ lực của Đảng, Nhà nước ta nhằm đưa người Cơtu hòa nhập vào cộng đồng các dân tộc Việt Nam, cũng như sự tiến bộ và tương lai của người Cơtu nói riêng

Lễ hội: Lễ hội của người Cơtu cũng rất đa dạng và phong phú Song xét về tính

mục đích có thể phân thành ba hình thức chính: Lễ hội mừng thắng lợi, lễ hội liên

quan đến ngoại giao với các làng khác và tế lễ

Lễ hội mừng thắng lợi được thực hiện ở phạm vi làng, trong các dịp: Mừng lúa mới (sau khi thu hoạch mùa màng), đạt kết quả săn bắn, hoàn thành các công trình chung của làng

Lễ hội liên quan đến ngoại giao giữa các làng, các cộng đồng được tiến hành với mục đích giản hòa những mâu thuẫn cộng đồng, thương lượng về vấn đề lợi ích kinh tế, lợi ích từ rừng hoặc tạo tình đoàn kết giữa các cộng đồng Lễ hội này thường

Trang 39

sử dụng lối nói lý - hát lý để trao đổi, giải quyết vấn đề chính của các làng

Tế lễ là hình thức sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng phong phú nhất Ở đây, lễ hội được kéo dài trong thời gian khá lâu từ hai ngày trở lên với nhiều hình thức cúng tế và sinh hoạt phong phú: Tế trâu, múa cồng chiêng, hát lý, sinh hoạt văn nghệ Hoạt động này được diễn ra ở nhà sinh hoạt làng (Gươl)

Người Cơtu tin rằng trong tế lễ, con trâu là vật thiêng của thần linh, là sứ giả mang những ước mơ của con người bày tỏ với thiện thần, mục đích là cầu sự phù hộ, cầu sự may mắn đến với con người Vì thế, trong tế lễ, người Cơtu biểu đạt niềm tin rằng con người có thể giao hòa với đất trời, giao hòa với thế giới thần linh

Ở khía cạnh khác, lễ hội của người Cơtu cũng là hình thức sinh hoạt cộng đồng, sinh hoạt văn hóa một cách sinh động Những giá trị văn hóa như nghệ thuật cồng

chiêng, múa, hát, âm nhạc, được thể hiện trong lễ hội (Hình ảnh Lễ hội đâm trâu

của tộc người Cơtu ở phụ lục 5)

Văn học- nghệ thuật:

Do không có chữ viết nên kho tàng văn học của người Cơtu lưu truyền lại cho đời sau chủ yếu bằng con đường truyền miệng Vì bằng con đường truyền miệng nên nội dung có nhiều mất mát, bên cạnh đó cũng có nhiều dị bản Sự mất đi đó không làm cho nền văn học nghệ thuật của người Cơtu nghèo nàn đi mà trái lại nó đã gìn giữ được những gì là tinh túy nhất, những giá trị mang tính bản sắc và nó được làm phong phú thêm, dồi dào thêm thông qua những dị bản Vậy nên, ngày nay kho tàng văn học nghệ thuật Cơtu vẫn rất phong phú với những thể loại như : Truyện cổ, trường ca, thần thoại, truyền thuyết, ca dao, tục ngữ, dân ca, nghệ thuật cồng chiêng và các nhạc cụ dân tộc, múa dân gian Cơtu…

Về điêu khắc, họa tiết trang trí

Người Cơtu xem điêu khắc và họa tiết trang trí là một nghệ thuật, phản ánh nhận thức của họ về thế giới tự nhiên và thể hiện ước mơ của họ về cuộc sống Điêu khắc của người Cơtu thường thể hiện trên nhà làng hay nhà mồ Hình ảnh điêu khắc tiêu biểu nhất là hình người và đầu trâu Trong quan niệm người Cơtu, hình người được điêu khắc trước cửa gươl hay nhà mồ là hình bóng của các vị thần tốt, túc trực và bảo vệ họ trước những điều xấu Sừng trâu tượng trưng cho sức khỏe của con người với hy vọng đau ốm, bệnh tật sẽ không còn đến với họ nữa

Trang 40

Với suy nghĩ sừng trâu, những vật nhọn như là sức mạnh, vũ khí chống chọi lại

sự khắc nghiệt của tự nhiên và kẻ thù, người Cơtu thường họa tiết trang trí hình tam giác, hình nhọn trên gỗ hay trên chất liệu trang phục Bên cạnh đó, họ còn trang trí biểu tượng của những điều tốt, những vị thần tốt hay con vật bảo vệ mùa màng của họ

Do vậy, trên các cột tế, gươl thường trang trí hình mẹ lúa (bông lúa), chim Tring (loài chim bảo vệ mùa màng), tắc kè

2.2.3 Nhận xét những đặc trưng của văn hóa tộc người Cơtu

Văn hóa dân tộc Cơtu là điều kiện cần thiết và tất yếu cho sự tồn tại của người Cơtu về phương diện đời sống vật chất và đời sống tinh thần

Văn hóa dân tộc Cơtu chứa đựng giá trị nhân văn, nhân đạo Trong nếp sống

hằng ngày, người Cơtu bộc lộ tinh thần tương thân, tương trợ trong phạm vi làng và tuân thủ luật tục của làng, tinh thần đoàn kết trong cộng đồng và với các cộng đồng dân tộc khác

Do sống ở vùng cao cách trở nên trong đời sống, đồng bào dân tộc Cơtu rất chú trọng đến yếu tố cộng đồng Bởi đó là sức mạnh để họ chống chọi với thiên tai, địch họa và thú rừng Họ dựa vào nhau để sống, để tìm kế sinh nhai, để tồn tại trước sự khắc nghiệt của môi trường sống Có thể nói, yếu tố cộng đồng đầy tính nhân văn, nhân bản ấy, đã ăn sâu vào tâm thức của người Cơtu để rồi dần hình thành phong tục

ăn mừng lúa mới, cùng sinh hoạt lễ hội đâm trâu và cùng sum vầy ăn uống khi trong làng có người đi săn được thú rừng Trong sự yên vắng, bình dị của mỗi làng, hễ cứ nghe tiếng chiêng, tiếng trống vang lên có lẽ là lúc dân làng đón nhận tin vui hay buồn (tùy theo mỗi điệu và nhịp trống) và mọi người đều phải bỏ dở việc làm để chạy về ngôi nhà chung

Một nét đặc trưng rất thú vị của đồng bào Cơtu là sống trung thực, thẳng thắn, công bằng, kính trên nhường dưới (thể hiện ở sự tôn trọng già làng, người có uy tín trong cộng đồng hay kể cả việc chia sản phẩm làm ra cho đứa trẻ còn trong bụng mẹ) Trong hành vi và quan niệm của họ, những chuẩn mực được phân định tuyệt đối theo thái cực đối lập: Tốt - xấu, đúng - sai, có - không và những luật tục cũng không có tính chất dung hòa giữa hai thái cực ấy Đây cũng là triết lý của người Cơtu trong hành

vi, lối ứng xử hằng ngày của mình

Làng của người Cơtu là đơn vị tự quản truyền thống mang dáng dấp công xã

Ngày đăng: 07/06/2018, 09:21

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w