Việc nghiên cứu, phân tích để làm sáng tỏ những quy định của luật hôn nhân và gia đình hiện hành về phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn là một việc làm thiết thực nhằm luận g
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN THỊ THÚY AN
PHÂN CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG KHI LY HÔN THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014 TỪ THỰC TIỄN
HUYỆN BA TƠ, TỈNH QUẢNG NGÃI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI, năm 2018
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN THỊ THÚY AN
PHÂN CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG KHI LY HÔN THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014 TỪ THỰC TIỄN
HUYỆN BA TƠ, TỈNH QUẢNG NGÃI
Chuyên ngành : Luật kinh tế
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS TRẦN MINH ĐỨC
HÀ NỘI, năm 2018
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÂN CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG KHI LY HÔN 6
1.1 Khái niệm, đặc điểm phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn 6
1.2 Ý nghĩa của việc phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn 13
1.3 Các yêu cầu của việc phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn 16
1.4 Sự cần thiết của việc điều chỉnh bằng pháp luật về phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn 18
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn 26
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ PHÂN CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG KHI LY HÔN TẠI HUYỆN BA TƠ, TỈNH QUẢNG NGÃI 31
2.1 Thực trạng quy định pháp luật về phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn 31
2.2 Thực trạng thực hiện pháp luật về phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn tại huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi 43
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ PHÂN CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG KHI LY HÔN TỪ THỰC TIỄN HUYỆN BA TƠ, TỈNH QUẢNG NGÃI 64
3.1 Nhu cầu hoàn thiện pháp luật về phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn từ thực tiễn huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi 64
3.2 Phương hướng hoàn thiện pháp luật về phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn từ thực tiễn huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi 65
3.3 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn từ thực tiễn huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi 69
KẾT LUẬN 78 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
Trang 61
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Gia đình chiếm một vị trí vô cùng quan trọng trong đời sống xã hội, là tế bào của xã hội, là cái nôi nuôi dưỡng con người, là môi trường quan trọng hình thành và giáo dục nhân cách, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc Ở mỗi con người đều tồn tại mối quan hệ ràng buộc về hôn nhân và gia đình Khởi nguồn
để hình thành nên một gia đình thực sự là việc xác lập mối quan hệ hôn nhân giữa người nam và người nữ, được gọi là kết hôn Tuy nhiên, trong quan hệ hôn nhân và gia đình thì không chỉ có sự kiện kết hôn mà còn có cả ly hôn Ly hôn là một mặt của quan hệ hôn nhân, nó là mặt trái, mặt bất bình thường nhưng là mặt không thể thiếu của quan hệ hôn nhân và gia đình Dù không ai mong muốn một gia đình được xây dựng từ những nỗ lực của hai bên tan vỡ, nhưng đôi khi trong cuộc sống, ly hôn lại là cách thức giải quyết tốt nhất Trong những năm gần đây, tình trạng ly hôn ở nước ta và các nước trên thế giới gia tăng đáng kể, với những nguyên nhân, lý do ly hôn cũng rất đa dạng và phức tạp Vấn đề giải quyết hậu quả của ly hôn cũng phức tạp không kém và còn nhiều vướng mắc, hạn chế trong đó có vấn đề phân chia tài sản chung của vợ chồng
Hiện nay, tính chất mối quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình có nhiều thay đổi bởi chịu sự tác động của nền kinh tế thị trường Khi đời sống con người ngày càng phát triển, đặc biệt trên phương diện vật chất, của cải, tài sản mà con người tích góp được ngày càng lớn thì càng nảy sinh nhiều vấn đề Một trong những hệ lụy đó chính là sự mâu thuẫn, tranh chấp gay gắt khi xử lý tài sản chung của vợ chồng sau ly hôn Tất yếu, đặt ra nhu cầu quy định về phân chia tài sản chung của vợ chồng Vì vậy, Luật HN&GĐ năm 2014 đã được các nhà làm luật kế thừa các quy định của hệ thống pháp luật HN&GĐ trước đây, bổ sung và xây dựng
để phù hợp với nhu cầu thực tiễn Việc nghiên cứu, phân tích để làm sáng tỏ những quy định của luật hôn nhân và gia đình hiện hành về phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn là một việc làm thiết thực nhằm luận giải các quy định của pháp
Trang 72
luật liên quan đến chia tài sản chung của vợ chồng khi vợ chồng ly hôn, giúp cho các bên thực hiện quyền của mình góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật, tạo ra cách hiểu thống nhất, giúp cho việc giải quyết phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn kịp thời và hiệu quả, nhất là gắn với một địa phương cụ thể là huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi, nơi hàng năm có khoảng 42,7% án ly hôn được giải quyết trong tổng số án thụ lý
Chính vì vậy, học viên chọn đề tài: “Phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 từ thực tiễn huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi” để thực hiện luận văn thạc sĩ luật học của mình là việc làm có tính cấp thiết, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Xoay quanh đề tài nghiên cứu đã có nhiều công trình khoa học như luận án tiến sĩ, thạc sĩ, giáo trình, tài liệu chuyên khảo và các bài báo, tạp chí, chuyên đề nghiên cứu làm sáng tỏ các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan về pháp luật hôn nhân và gia đình nói chung, về tài sản của vợ chồng khi ly hôn nói riêng, cụ thể như:
Sách chuyên khảo: “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về Luật HN&GĐ năm 2000” của Nguyễn Văn Cừ - Ngô Thị Hường, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002;“Bình luận khoa học Luật HN&GĐ Việt Nam” của Nguyễn Ngọc Điện, NXB trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, 2002;“Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật HN&GĐ Việt Nam” của Nguyễn Văn Cừ, NXB Tư Pháp, Hà Nội, 2008
Bên cạnh đó, một số đề tài nghiên cứu khoa học như:“Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam”, Luận án Tiến sĩ của Nguyễn Văn Cừ, Đại học Luật Hà Nội, 2005; “Cơ sở lý luận và thực tiễn điều chỉnh quan
hệ tài sản của vợ chồng theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2000”, Luận văn thạc
sĩ của Nguyễn Thanh Mai, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2012; “Chia tài sản chung của vợ chồng theo pháp luật Việt Nam, thực tiễn áp dụng và hướng hoàn thiện”, Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Hạnh, Khoa Luật, Học viện khoa học xã hội,2012 “Giải quyết tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn”,
Trang 83
Luận văn thạc sĩ của Đinh Thị Minh Mẫn, Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội, 2014;
Ngoài ra, còn có một số bài viết đăng trên các Tạp chí chuyên ngành luật
như: “Một số vấn đề về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân”
của tác giả Phan Tấn Pháp và Nguyễn Nho Hoàng, tạp chí Dân chủ và Pháp luật số
01(238)/2012; “Một số vấn đề về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn” của tác giả Đỗ Văn Nhật, tạp chí Dân chủ và pháp luật số 03(240)/2012;“Một số vấn đề
cơ bản về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn theo Luật HN&GĐ và thực tiễn giải quyết” của Thu Hương – Duy Kiên, tạp chí Tòa án nhân dân số 5,6/2013;“Một số vấn đề liên quan về chia tài sản chung” của Đặng Mạnh Cẩm
Yến, TAND quận Hai Bà Trưng – thành phố Hà Nội, tạp chí Tòa án nhân dân số 10,
2013;“Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận trong pháp luật HN&GĐ Việt Nam” của Nguyễn Văn Cừ, tạp chí Luật học số 4/2015
Có thể thấy, đã có nhiều công trình nghiên cứu về pháp luật hôn nhân và gia đình với phạm vi nghiên cứu khác nhau, có giá trị nghiên cứu khác nhau liên quan đến vấn đề tài sản của vợ chồng cũng như thực tiễn áp dụng Tuy nhiên, vấn đề phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn ở một huyện miền núi cụ thể là huyện Ba Tơ mà đối tượng đặc thù là người đồng bào dân tộc thiểu số chiếm phần chủ yếu đến nay chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện về lý luận
và thực tiễn Do đó, đề tài luận văn không trùng lặp với các công trình đã công bố
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn là nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống những vấn đề lý luận và thực tiễn về phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 từ thực tiễn huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi; trên cơ sở đó xác định nhu cầu hoàn thiện pháp luật và đưa ra một số quan điểm, phương hướng hoàn thiện pháp luật và đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật trong việc phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn góp phần bảo
về quyền và lợi ích hợp pháp của vợ, chồng cũng như các cá nhân có liên quan
Trang 94
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Làm rõ những vấn đề lý luận pháp lý và cơ sở thực tiễn về phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn
Phân tích, đánh giá thực trạng việc phân chia tài sản chung của vợ chồng khi
ly hôn; tìm ra được những ưu điểm, hạn chế, khó khăn, vướng mắc, bất cập trong quá trình áp dụng pháp luật tại huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi trong thời gian qua
Xác định nhu cầu hoàn thiện pháp luật về phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn từ đó đề xuất các phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện
pháp luật về phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Trong khuôn khổ của luận văn, tác giả tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật về phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn từ thực tiễn huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Luận văn nghiên cứu dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, luật học, phân tích - tổng hợp và các quan điểm của Đảng, pháp luật của Nhà nước điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình Đồng thời, tác giả còn sử dụng phương pháp điều tra, khai thác và sử dụng các tư liệu thực tiễn, kết quả khảo sát để hoàn chỉnh luận văn
Trang 105
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả sử dụng phương pháp hệ thống, phân tích, so sánh, tổng hợp, thống kê và nghiên cứu những bản án, quyết định của Tòa án nhân dân huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi liên quan đến việc phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn; các bài viết, tham luận của một số tác giả về vấn đề nghiên cứu
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Luận văn sẽ là công trình đầu tiên nghiên cứu về những vấn đề lý luận, thực tiễn việc phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn tại một huyện miền núi là huyện Ba Tơ mà đối tượng đặc thù là người đồng bào dân tộc thiểu số chiếm phần chủ yếu từ đó nêu lên những thành tựu đã đạt được trong quá trình áp dụng pháp luật quy định về phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn Bên cạnh đó, qua thực tiễn phát hiện những vấn đề vướng mắc, bất cập trong các quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 cũng như những khiếm khuyết, sai sót trong quá trình áp dụng pháp luật để giải quyết các vấn đề về phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Nội dung của luận văn có ý nghĩa thiết thực cho mọi cá nhân, đặc biệt là cho các cặp vợ chồng tìm hiểu các quy định và nguyên tắc về phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn Từ đó góp phần thực hiện pháp luật công bằng, dân chủ
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài mục lục, mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Luận văn gồm 3 chương như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về phân chia tài sản chung của vợ chồng
khi ly hôn
Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về phân chia
tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn tại huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi
Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về phân chia tài
sản chung của vợ chồng khi ly hôn từ thực tiễn huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi
Trang 116
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÂN CHIA TÀI SẢN CHUNG
CỦA VỢ CHỒNG KHI LY HÔN
1.1 Khái niệm, đặc điểm phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn
Để làm rõ nội hàm khái niệm, đặc điểm phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn cần thiết phải làm rõ một số khái niệm có liên quan:
Tài sản chung của vợ chồng là gì?
Hiện nay, trong khoa học pháp lý tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau về tài sản, tuỳ thuộc vào góc độ và mục đích tiếp cận mà tài sản được định nghĩa và quy
định Theo quy định tại Điều 105 BLDS năm 2015 thì: “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ
có giá và quyền tài sản Tài sản bao gồm bất động sản và động sản” Theo Tiêu chuẩn Thẩm định giá Việt Nam số 12: “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản” Theo từ điển Bách khoa toàn thư mở Wikipedia: “Tài sản là của cải vật chất dùng vào mục đích sản xuất hoặc tiêu dùng Khi phân loại tài sản theo chu kỳ sản xuất, ta có tài sản cố định và tài sản lưu động Còn khi phân loại tài sản theo đặc tính cấu tạo của vật chất, ta có tài sản hữu hình và tài sản vô hình” Như vậy, từ những định nghĩa trên có thể thấy rằng: “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và những của cải vật chất có giá trị trong việc sản xuất hoặc tiêu dùng”
Trên cơ sở đó, tài sản của vợ chồng là tài sản thuộc quyền sở hữu chung của
vợ chồng, là hình thức sở hữu chung đặc biệt Tài sản chung vợ chồng là những tài sản được hình thành hoặc tạo ra phù hợp với những căn cứ xác lập tài sản chung vợ chồng theo quy định của Luật HN&GĐ và các quy định của pháp luật có liên quan khác Việt Nam có câu tục ngữ “của chồng công vợ”, nên tài sản chung của vợ chồng không nhất thiết do hai vợ chồng trực tiếp tạo ra hoặc tạo ra ngang bằng nhau Song, vợ, chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau đối với tài sản chung (ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung) Tài sản chung của vợ và chồng chỉ được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện các
Trang 127
nghĩa vụ chung của vợ, chồng Việc xác lập, thực hiện giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung của vợ, chồng cần phải được sự đồng ý của cả vợ và chồng Những tài sản có giá trị lớn (theo qui định của pháp luật) thì sự đồng ý này phải được thể hiện bằng văn bản Còn những tài sản khác thì khi vợ (hoặc chồng) xác lập, thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản đó nhằm đáp ứng nhu cầu chung của gia đình thì đương nhiên được hiểu là đã được sự đồng ý của người kia Theo quy định tại Điều 33 Luật HN&GĐ năm 2014 thì tài sản chung của vợ chồng được quy định:
“1 Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập
do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung
Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng
2 Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng
3 Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.”
Từ những phân tích trên, có thể hiểu: Tài sản chung của vợ chồng là tài sản thuộc hình thức sở hữu chung hợp nhất có thể phân chia Vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ ngang nhau đối với tài sản chung đó, bao gồm: vật, tiền, giấy tờ có giá và
và những của cải vật chất có giá trị trong việc sản xuất hoặc tiêu dùng Tài sản chung của vợ chồng có thể bao gồm bất động sản và động sản
Vợ, chồng với tư cách là chủ thể của quan hệ hôn nhân và gia đình và cũng là chủ thể của sử dụng tài sản chung vợ chồng khi tham gia quan hệ dân sự Như vậy,
để xác định tài sản chung của vợ chồng theo luật định thì căn cứ vào các yếu tố sau:
Trang 138
Một là, thời kỳ hôn nhân – căn cứ xác định tài sản chung của vợ chồng
Theo quy định trên ta thấy, căn cứ quan trọng nhất khi xác định tài sản là tài sản chung của vợ chồng hay không là sự ra đời và tồn tại quan hệ vợ chồng - thời
kỳ hôn nhân “Thời kỳ hôn nhân” là khoảng thời gian tồn tại quan hệ vợ chồng, được tính từ ngày đăng ký kết hôn đến ngày chấm dứt hôn nhân [36, khoản 13,
Điều 3] Như vậy, thời kỳ hôn nhân được tính kể từ khi hai bên nam, nữ đăng ký kết
hôn - thời điểm phát sinh quan hệ vợ chồng trước pháp luật; việc đăng ký kết hôn phải được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền công nhận theo đúng thủ tục và các
điều kiện luật định Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 1 Điều 131 Luật HN&GĐ năm 2014 thì các quan hệ HN&GĐ xác lập trước ngày Luật này có hiệu lực thì áp
dụng pháp luật về HN&GĐ tại thời điểm xác lập để giải quyết Quy định này nhằm
để giải quyết hậu quả còn tồn đọng do tình trạng “hôn nhân thực tế” trong xã hội
trước khi có Luật HN&GĐ năm 2000 và Luật HN&GĐ năm 2014
Để xác định khoảng thời gian tồn tại của thời kỳ hôn nhân thì việc kết hôn giữa nam và nữ phải đáp ứng các quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn Thực tế có nhiều vợ chồng sống chung nhưng không đăng ký kết hôn, khi phát sinh mâu thuẫn họ có xin ly hôn và phân chia tài sản Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam chỉ công nhận trường hợp nam nữ sống chung với nhau như vợ chồng trước ngày 03/01/1987, đối với trường hợp này thì dù họ đăng ký kết hôn hay không đăng ký kết hôn thì thời kỳ hôn nhân của họ vẫn được tính từ thời điểm họ chung sống với nhau Đối với trường hợp nam nữ sống chung với nhau như vợ chồng sau ngày 03/01/1987 đến trước ngày Luật HN&GĐ năm 2000 có hiệu lực, có
đủ điều kiện kết hôn nhưng chưa đăng ký kết hôn theo quy định tại Nghị quyết số 35/2000/QH 10 ngày 9/6/2000 của Quốc hội và Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì họ có nghĩa
vụ đi đăng ký kết hôn trong thời hạn 02 năm kể từ ngày 01/01/2001 đến ngày 01/01/2003 Nếu hết thời hạn này mà họ không đăng ký kết hôn thì không được coi
là vợ chồng nên khi có yêu cầu Tòa án không giải quyết việc ly hôn và chia tài sản chung vợ chồng
Trang 149
Vậy, căn cứ để xác lập tài sản chung của vợ chồng, trước hết phải dựa trên cơ
sở “thời kỳ hôn nhân” của vợ chồng Toàn bộ tài sản do vợ chồng tạo ra trong thời
kỳ hôn nhân này được coi thuộc khối tài sản chung của vợ chồng trừ trường hợp vợ chồng thực hiện phân chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân theo quy định tại Điều 40 Luật HN&GĐ năm 2014 hoặc có thỏa thuận tài sản của vợ chồng mà quy định khác
Hai là, dựa vào nguồn gốc tài sản
Tất cả những tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chủ yếu, cơ bản nhất trong khối tài sản chung của vợ chồng Tài sản này có thể do vợ hoặc chồng trực tiếp tạo ra thể hiện dưới dạng vật chất cụ thể như nhà cửa, vật dụng trong gia đình…hoặc gián tiếp làm ra dựa trên công việc, năng lực Trên thực tế, thu nhập chủ yếu của các cặp vợ chồng thường là tiền lương, tiền công lao động, những thu nhập và tài sản do vợ chồng làm kinh tế gia đình hoặc lợi nhuận thông qua việc sản xuất, kinh doanh
Trong xã hội ngày nay, lao động vừa là quyền lợi vừa là nghĩa vụ của mỗi công dân Chính vì vậy, vợ, chồng có thể tự do tham gia lao động, sản xuất kinh doanh để tạo ra tài sản, nhưng đó phải là những lao động hợp pháp Nhà nước luôn khuyến khích, tạo điều kiện cho các cá nhân có điều kiện mở rộng sản xuất, kinh doanh Bởi nó một mặt vừa mang lại tài sản để duy trì ổn định và phát triển gia đình, mặt khác góp phần làm giàu cho xã hội Thu nhập của vợ chồng gồm nhiều loại, nhưng thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh là loại thu nhập
ổn định, cơ bản và chủ yếu
Bên cạnh đó, các thu nhập hợp pháp khác của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân như: tiền thưởng, tiền trúng thưởng xổ số, tiền trợ cấp; hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung của vợ chồng Đây là quy định mới của Luật HN&GĐ năm 2014 Hoa lợi, lợi tức phát sinh
từ tài sản riêng là thu nhập quan trọng của vợ chồng, nhằm duy trì đời sống chung của gia đình nên pháp luật quy định đây là tài sản chung của vợ chồng
Trang 1510
Ngoài ra, những tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung cũng được xem là tài sản chung của vợ chồng Đây là tài sản có tính chất đặc thù trong khối tài sản chung vợ chồng, bởi tài sản này hình thành trên cơ sở ý chí định đoạt của người khác và phải tuân theo quy định của pháp luật thừa kế và pháp luật về tặng cho tài sản Vợ chồng có thể được tặng cho hoặc được thừa kế chung trong thời kỳ hôn nhân, những tài sản này đương nhiên thuộc khối tài sản chung vợ chồng nếu hợp đồng tặng cho hoặc di chúc nêu rõ tặng cho chung, thừa kế chung cho vợ, chồng Trong thực tiễn, việc vợ chồng được tặng cho chung hay thừa kế chung tài sản từ cha mẹ là khá phổ biến
Ba là, tài sản chung của vợ chồng xác lập dựa trên ý chí của các bên (do vợ chồng thỏa thuận)
Việc vợ, chồng thỏa thuận nhập tài sản riêng vào tài sản chung có thể là mặc nhiên hoặc bằng văn bản Thực tiễn xét xử cho thấy, có trường hợp sau được coi là
vợ chồng đã thỏa thuận nhập tài sản riêng vào tài sản chung, đó là vợ chồng bán tài sản riêng để góp vào mua một tài sản mới, khi mua không có sự phân biệt về tỷ lệ đóng góp sau đó vợ chồng đã đưa vào sử dụng chung; bên có tài sản riêng trong quá trình sử dụng, kê khai cấp giấy chứng nhận đã ghi tên cả hai vợ chồng trong đơn xin
đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Tuy nhiên, cần khẳng định rằng không phải mặc nhiên những trường hợp nêu trên khi giải quyết tranh chấp đều đương nhiên xác định đó là tài sản chung vợ chồng Việc nhập tài sản riêng của vợ, chồng vào tài sản chung là quy định mang tính mềm dẻo, linh hoạt, phù hợp với đặc thù của quan hệ hôn nhân
Quy định này thể hiện rõ quyền tự định đoạt của mỗi người đối với tài sản thuộc quyền sở hữu của mình, tự định đoạt việc nhập hay không nhập tài sản riêng
để trở thành tài sản chung của vợ chồng Đây không những là nguyên tắc xuyên suốt của BLDS, mà còn được cụ thể hóa trong Luật HN&GĐ năm 2014 Chính vì vậy, khi chủ sở hữu đã quyết định nhập tài sản riêng vào tài sản chung thì ta phải tôn trọng quyền tự định đoạt đó của họ Tức là chúng ta phải thừa nhận tài sản đó là tài sản chung của vợ chồng
Trang 1611
Bốn là, xác định tài sản chung của vợ chồng dựa trên nguyên tắc suy đoán
Do tính chất của quan hệ tài sản trong quan hệ hôn nhân là không có sự phân biệt rạch ròi nên trong nhiều trường hợp tài sản chung - tài sản riêng của vợ, chồng
có sự trộn lẫn Do đó, để đảm bảo công bằng, hợp lý cho các bên thì khi phân chia tài sản các bên có quyền đưa ra các bằng chứng để chứng minh đó là tài sản riêng của mình, nếu có căn cứ Tòa án sẽ công nhận đó là tài sản riêng của họ, nếu họ không chứng minh được đó là tài sản riêng của mỗi bên thì đó là tài sản chung Đây
là quy định mới của Luật HN&GĐ năm 2000 và được Luật HN&GĐ năm 2014 kế thừa Việc xác định tài sản chung căn cứ vào nguyên tắc suy đoán có ý nghĩa như một nguyên tắc có tính chất định hướng trong việc giải quyết các tranh chấp giữa
vợ chồng với nhau về nguồn gốc tài sản Tuy nhiên, tác dụng của nguyên tắc này chỉ dừng lại ở chỗ thiết lập một sự suy đoán, không có ý nghĩa khẳng định chắc chắn tất cả các tài sản trong thời kỳ hôn nhân đều là tài sản chung của vợ chồng
Các căn cứ xác lập tài sản chung tạo ra đường lối giải quyết việc phân chia tài sản chung của vợ chồng Khi xác định được tài sản nào là tài sản chung của vợ chồng thì việc phân chia như thế nào cho hợp tình, hợp lý, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh và nhu cầu thực tế sử dụng của vợ chồng là vấn đề quan trọng là khâu quyết định đến hiệu quả giải quyết tranh chấp về tài sản, nhất là khi hai vợ chồng ly hôn
Ta có thể hiểu, ly hôn là việc chấm dứt quan hệ hôn nhân do Tòa án quyết định theo yêu cầu của vợ hoặc của chồng hoặc cả hai vợ chồng khi mà tình trạng mâu thuẫn gia đình trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, từ đó vợ, chồng muốn hủy bỏ các trách nhiệm pháp lý và trách nhiệm của hôn nhân cũng như các ràng buộc dân sự khác Ly hôn có hai dạng
là thuận tình ly hôn (cả hai vợ chồng đều mong muốn và cùng ký vào đơn ly hôn)
và ly hôn theo yêu cầu của một bên vợ hoặc chồng, trong trường hợp này Tòa án phải thụ lý để xem xét, giải quyết cho ly hôn Cùng với sự chấm dứt về quan hệ hôn nhân thì chế độ tài sản chung của vợ chồng cũng chấm dứt kể từ thời điểm ly hôn
Trang 1712
Phân chia tài sản chung của vợ chồng
Tính chất của mối quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình luôn có
sự thay đổi bởi chịu sự tác động của nền kinh tế thị trường Dẫn đến, vợ, chồng ngày càng có nhu cầu thực hiện các hoạt động kinh tế độc lập, khẳng định quyền tự do định đoạt đối với tài sản thuộc sở hữu của riêng mình Ngoài ra, trong cuộc sống gia đình không phải lúc nào cũng “thuận buồm xuôi gió” Vì vậy, không tránh khỏi phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm Mâu thuẫn ngày càng lớn, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, tình cảm rạn nứt dẫn đến hôn nhân đỗ vỡ Từ đó dẫn đến vợ chồng
ly hôn và vấn đề phân chia tài sản chung của vợ chồng được đặt ra
Tuy nhiên, không phải trong bất cứ trường hợp nào, tài sản chung của vợ chồng cũng có thể được phân chia Theo quy định của pháp luật, việc phân chia tài sản chung của vợ chồng có thể diễn ra trong thời kỳ hôn nhân; khi một bên vợ hoặc chồng chết trước, bị tòa án tuyên bố là đã chết và trường hợp khi vợ chồng ly hôn
Xuất phát từ thực tế trên, Luật HN&GĐ năm 2014 đã được các nhà làm luật
kế thừa các quy định của hệ thống pháp luật HN&GĐ trước đây, bổ sung và xây dựng các quy định về việc phân chia tài sản chung của vợ chồng để phù hợp với nhu cầu thực tiễn
Phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn là việc dùng khối tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân phân chia cho vợ, chồng và mỗi người được nhận một phần tài sản trong khối tài sản chung đó; đồng thời được xác định phần quyền sở hữu của vợ, chồng đối với tài sản đã được chia
Bản chất của việc phân chia tài sản chung của vợ chồng chính là việc chấm dứt quyền sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng đối với toàn bộ khối tài sản chung của vợ chồng hoặc một phần khối tài sản chung của vợ chồng Sau khi phân chia, tài sản chung sẽ được chia thành từng phần tài sản xác định và xác lập quyền sở hữu riêng của của vợ, chồng đối với phần tài sản được chia
Những quy định của pháp luật về phân chia tài sản chung của vợ chồng khi
ly hôn là cơ sở để vợ, chồng chủ động thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình đối với tài sản của vợ chồng khi quan hệ hôn nhân chấm dứt nhằm bảo đảm lợi ích
Trang 1813
cá nhân vợ và chồng
Việc phân chia tài sản chung của vợ chồng có thể diễn ra cùng với việc vợ, chồng xin ly hôn hoặc có thể diễn ra khi vợ chồng đã ly hôn vì thời điểm ly hôn vợ, chồng không yêu cầu giải quyết về tài sản chung mà tự thỏa thuận, nhưng sau đó họ không tự thỏa thuận được Việc vợ, chồng yêu cầu phân chia về tài sản đồng thời với việc ly hôn hoặc sau khi ly hôn đều được coi là vụ việc phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn Mặc dù pháp luật đã có những quy định điều chỉnh vấn đề giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn nhưng thực tiễn giải quyết lại rất phức tạp, tồn tại nhiều khó khăn, vướng mắc trong quá trình áp dụng pháp luật
Theo quy định của pháp luật hiện hành thì việc giải quyết ly hôn và phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án Tòa án cũng là cơ quan duy nhất có trách nhiệm ra phán quyết chấm dứt quan hệ hôn nhân của vợ chồng; là cơ quan tài phán mang tính quyền lực nhà nước và được tiến hành theo trình tự, thủ tục tố tụng chặt chẽ Tòa án nhân dân là cơ quan thực hiện quyền tư pháp, nhân danh Nhà nước giải quyết các vụ việc hôn nhân và gia đình nói chung cũng như việc phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn Ngoài ra, trong một số trường hợp, mặc dù thời kỳ hôn nhân chấm dứt, nhưng vợ chồng lại không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề tài sản của họ, đây là quyền tự định đoạt của chủ sở hữu nên Tòa án tôn trọng quyết định của họ Sau đó, có thể
vì một số lý do, hai bên phát sinh tranh chấp Mặc dù lúc này quan hệ giữa họ là quan hệ giữa các đồng sở hữu tài sản với nhau, nhưng nguồn gốc tài sản chung vẫn từ quan hệ vợ chồng trước đây, nên Tòa án sẽ căn cứ vào cơ chế chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn tương ứng với các quy định tại Luật HN&GĐ hiện hành
để giải quyết
1.2 Ý nghĩa của việc phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn
Chế độ tài sản của vợ chồng với ý nghĩa là một chế định trong pháp luật về HN&GĐ được Nhà nước qui định dựa trên sự phát triển của các điều kiện kinh tế -
xã hội Nhìn vào chế độ tài sản của vợ chồng được qui định trong pháp luật của Nhà nước, người ta (có thể) nhận biết được trình độ phát triển của các điều kiện kinh tế -
Trang 1914
xã hội (tính khách quan) và ý chí của Nhà nước thể hiện bản chất của chế độ xã hội
đó (tính chủ quan) Rõ ràng, tương ứng với mỗi chế độ xã hội cụ thể là một chế độ HN&GĐ do Nhà nước qui định bằng pháp luật hoặc thừa nhận bằng tập quán (trong
đó có các qui định về chế độ tài sản của vợ chồng
Hệ thống pháp luật về HN&GĐ của Nhà nước XHCN, khi qui định về chế độ tài sản của vợ chồng đều ghi nhận trước hết quyền bình đẳng của vợ chồng về tài sản, bảo đảm quyền sở hữu của vợ chồng đối với các loại tài sản giữa vợ chồng Bởi
lẽ, để thực hiện và đạt được các quyền tự do, bình đẳng trong các quan hệ nhân thân giữa vợ chồng (họ, tên, tôn giáo, dân tộc, quốc tịch, chỗ ở, nghề nghiệp ) thì trước hết phải có bình đẳng thực sự trong quan hệ về tài sản giữa vợ và chồng - cơ sở vật chất bảo đảm cho các quyền nhân thân của vợ chồng Nguyên tắc vợ chồng bình đẳng với nhau về mọi phương diện là một trong các nguyên tắc cơ bản theo hệ thống pháp luật về HN&GĐ của Nhà nước XHCN
Như vậy, trong mỗi chế độ xã hội cụ thể đều xây dựng một mô hình (kiểu) gia đình phù hợp với tính chất, kết cấu của chế độ xã hội đó Lịch sử xã hội đã ghi nhận nhiều hình thái gia đình tương ứng với chế độ chủ nô, phong kiến, tư sản và gia đình XHCN với những đặc điểm và nội dung khác nhau, do các điều kiện kinh
tế - xã hội chi phối Trong quan hệ gia đình (dựa trên cơ sở hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng), quan hệ vợ chồng có vai trò đặc biệt quan trọng Cuộc sống chung của
vợ chồng, tính chất của quan hệ vợ chồng được xác lập đòi hỏi phải có khối tài sản chung của vợ chồng để đáp ứng các nhu cầu thiết yếu của gia đình, bảo đảm cho gia đình tồn tại và thực hiện được các chức năng xã hội của nó
Trước hết, việc phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn được pháp
luật của Nhà nước ghi nhận (dù là theo thỏa thuận hay theo các căn cứ pháp luật) đều thực hiện vai trò nhằm điều chỉnh quan hệ tài sản giữa vợ chồng khi hôn nhân chấm dứt, tạo điều kiện để vợ, chồng có những cách thức "xử sự" theo yêu cầu của pháp luật và phù hợp với đạo đức xã hội;
Thứ hai, trong lĩnh vực HN&GĐ, Luật HN&GĐ điều chỉnh các quan hệ về
nhân thân và tài sản phát sinh giữa vợ chồng, giữa cha mẹ và con, giữa các thành
Trang 2015
viên khác trong gia đình; trong đó, Luật HN&GĐ điều chỉnh trước tiên và chủ yếu nhóm các quan hệ nhân thân, nó quyết định tính chất và nội dung của nhóm quan hệ tài sản (ví dụ, khi quan hệ vợ chồng được xác lập hay chấm dứt, lúc đó vợ, chồng phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con)
Hiện nay, ở nước ta đang tiến hành chính sách phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng XHCN; bên cạnh những thành tựu đã đạt được, do ảnh hưởng tiêu cực của nền kinh tế thị trường, đạo đức trong gia đình và
xã hội bị xuống cấp nghiêm trọng; đặc biệt đã nảy sinh các hành vi cha mẹ không quan tâm, chăm sóc con cái do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân về kinh tế Khi vợ, chồng ly hôn việc thực hiện và áp dụng việc phân chia tài sản chung của vợ chồng góp phần củng cố, bảo đảm thực hiện các quyền và nghĩa vụ nhân thân giữa cha mẹ với các con
Thứ ba, việc phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn góp phần điều
tiết, ổn định quan hệ tài sản trong giao lưu dân sự, kinh tế, thương mại Bởi, trong suốt thời kỳ hôn nhân, nhằm đáp ứng lợi ích cá nhân vợ, chồng và quyền lợi của gia đình; vợ chồng phải ký kết rất nhiều hợp đồng dân sự với những người khác Nhờ có quy định phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn mà các giao dịch đó vẫn được bảo đảm thực hiện, quyền lợi của vợ, chồng, của người tham gia giao dịch liên quan đến tài sản của vợ chồng được bảo vệ Từ đó, khi vợ chồng thực hiện quyền sở hữu của mình, vì lợi ích chung của gia đình, của cá nhân vợ, chồng hay vì lợi ích của người khác được ổn định trong một trật tự pháp lý Các kết ước liên quan đến tài sản
do vợ, chồng thực hiện theo những mục đích cụ thể đối với từng loại tài sản đều phát sinh các hậu quả pháp lý nhất định Trong đó, quyền lợi của người thứ ba tham gia giao dịch liên quan đến tài sản của vợ chồng cũng được pháp luật bảo vệ
Tóm lại, việc phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn nhằm tạo điều kiện cho các bên tạo lập cuộc sống mới sau khi ly hôn, đảm bảo công bằng giữa vợ
và chồng trong việc tạo lập, duy trì và phát triển tài sản cũng như có nghĩa vụ đối với các con
Trang 2116
1.3 Các yêu cầu của việc phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn
Cùng với sự phát triển về kinh tế, các án ly hôn cũng như các yêu cầu giải quyết chia tài sản giữa vợ và chồng trong các án kiện ly hôn ngày càng tăng Đồng thời, sự phức tạp trong quá trình phân chia tài sản cũng theo đó mà tăng lên Trước tình hình trên, để đảm bảo tính ổn định của xã hội thì tính ổn định của gia đình và cuộc sống của vợ, chồng sau ly hôn là một nhân tố quan trọng chủ yếu Vì vậy, việc phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn cần thể hiện rõ quyền con người; tính công bằng trong quan hệ tài sản giữa vợ, chồng góp phần đảm bảo quyền tự do định đoạt đối với quyền sở hữu của cá nhân nhưng vẫn phải bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của vợ và con
Thứ nhất, pháp luật phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn điều
chỉnh hết các quan hệ về tài sản chung của vợ chồng; quy định phù hợp với Hiến pháp và các văn bản pháp luật khác và cũng quy định, hướng dẫn cụ thể như: xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng; các nguyên tắc phân chia cũng như các trường hợp phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn; không có tình trạng trùng lắp, chồng chéo, văn bản cấp dưới không trái với văn bản cấp trên cả về hình thức và nội dung Điều này thể hiện tính toàn diện và tính đồng bộ của pháp luật về phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn Việc phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn yêu cầu phải phù hợp với từng hoàn cảnh của mỗi cặp vợ chồng, các Thẩm phán khi giải quyết phải thấu tình, đạt lý và phù hợp với thực tiễn của đời sống xã hội
Thứ hai, ưu tiên và tôn trọng việc tự thoả thuận: Vợ chồng khi ly hôn có
quyền tự thỏa thuận với nhau về toàn bộ các vấn đề, trong đó có cả việc phân chia tài sản Việc cho phép vợ chồng tự thỏa thuận với nhau về chia tài sản khi ly hôn thể hiện sự thay đổi tư duy lập pháp của các nhà làm luật Đây là quan điểm pháp lý được hầu hết các nước trên thế giới thừa nhận
Thứ ba, hoàn cảnh của của vợ chồng: Hoàn cảnh gia đình của vợ chồng là
yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến việc phân chia tài sản chung của vợ, chồng khi ly hôn Hoàn cảnh gia đình ở đây có thể hiểu là tình trạng về năng lực pháp luật, năng
Trang 2217
lực hành vi, sức khỏe, tài sản, khả năng lao động tạo ra thu nhập sau khi ly hôn của
vợ, chồng cũng như của các thành viên khác trong gia đình mà vợ chồng có quyền, nghĩa vụ về nhân thân và tài sản Ví dụ trường hợp người vợ hoặc chồng có những khó khăn nhất định trong cuộc sống như: chi trả nhiều cho bệnh tật, mất sức lao động, nuôi cha mẹ già… sẽ được xem xét như một tình tiết ưu tiên khi phân chia tài sản chung của vợ, chồng khi ly hôn Đây là điểm thể hiện tính nhân đạo của luật pháp cũng như tình nghĩa giữa những người từng là vợ chồng của nhau Cụ thể, bên gặp khó khăn hơn sau khi ly hôn được chia phần tài sản nhiều hơn so với bên kia hoặc được ưu tiên nhận lại tài sản để đảm bảo duy trì, ổn định cuộc sống của họ nhưng phải phù hợp với hoàn cảnh thực tế của gia đình và của vợ, chồng Tuy nhiên, để biết bên nào gặp khó khăn hơn thì người nào cho rằng mình khó khăn hơn thì phải có nghĩa vụ chứng minh Đồng thời, trong quá trình giải quyết Tòa án cần xác minh và thu thập chứng cứ đề việc phân chia thể hiện rõ nét việc bảo vệ quyền
và lợi ích của các bên
Bên cạnh đó, hoàn cảnh gia đình của vợ chồng trước khi ly hôn cũng quyết định đến khối lượng tài sản chung khi phân chia Thông thường, các trường hợp hoàn cảnh gia đình trước ly hôn khó khăn, tài sản chung không lớn sẽ khiến cho việc phân chia được diễn ra đơn giản Ngược lại, những gia đình có khối lượng tài sản chung lớn, tính chất phức tạp trong việc phân định cao và thái độ của vợ và chồng khi tiến hành phân chia cũng mang tính quyết liệt hơn dẫn đến việc phân chia rất khó khăn
Thứ tư, công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung: Việc phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn chịu
ảnh hưởng rất lớn từ việc phân định các đóng góp của vợ và chồng trong quá trình tạo lập tài sản chung Việc phân chia tài sản nhằm đảm bảo quyền lợi cho vợ hoặc chồng được hưởng chia phần tài sản xứng đáng với công sức bỏ ra trong việc tạo dựng Vai trò của người vợ hoặc người chồng trong việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung là căn cứ quan trọng trong việc phân chia tài sản khi ly hôn Song đây cũng là yếu tố tác động làm phức tạp hoá quá trình giải quyết Việc định
Trang 23Thứ năm, bảo vệ lợi ích của mỗi bên trong sản xuất kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có thể tiếp tục tạo ra thu nhập: Việc chia tài sản chung của vợ
chồng phải đảm bảo cho vợ, chồng đang hoạt động nghề nghiệp được tiếp tục hành nghề; vợ, chồng đang hoạt động sản xuất, kinh doanh được tiếp tục sản xuất, kinh doanh để tạo thu nhập và phải thanh toán cho bên kia phần giá trị tài sản chênh lệch Việc bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và hoạt động nghề nghiệp không được ảnh hưởng đến điều kiện sống tối thiểu của vợ, chồng,
người chưa thành niên, con đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự
Chẳng hạn, vợ chồng có tài sản chung là một chiếc ôtô trị giá 400 triệu đồng do người chồng đang kinh doanh taxi cùng một cửa hàng tạp hóa trị giá 200 triệu đồng
do vợ quản lý Khi giải quyết ly hôn và tài sản chung, tòa án phải xem xét giao cửa hàng cho người vợ, giao ôtô cho người chồng để họ tiếp tục kinh doanh, tạo thu nhập Người chồng được nhận phần giá trị tài sản lớn hơn phải thanh toán cho vợ thêm 100 triệu đồng
1.4 Sự cần thiết của việc điều chỉnh bằng pháp luật về phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn
Pháp luật là hệ thống các quy tắc hành vi, quy tắc xử sự do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận được Nhà nước đảm bảo thực hiện bằng điều chỉnh các quan
hệ xã hội phát triển phù hợp với lợi ích của giai cấp mình Pháp luật thể hiện rõ tính
ý chí của nhà nước với mục đích bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của các chủ thể
từ đó đáp ứng được nguyện vọng, mong muốn của nhân dân Bên cạnh đó, pháp luật được tạo bởi hệ thống các quy phạm pháp luật, là khuôn mẫu, là mô hình xử sự chung Trong xã hội, các hành vi xử sự của con người rất khác nhau, tuy nhiên nhờ
Trang 2419
có tính quy phạm phổ biến mang tính bắt buộc chung của pháp luật mà mỗi cá nhân đưa ra được các xử sự chung phù hợp với đa số Ngoài ra, pháp luật có tính xác định chặt chẽ về mặt hình thức, nó thể hiện nội dung pháp luật dưới những hình thức nhất định, rõ ràng, chặt chẽ được khái quát trong các điều, khoản của các điều luật trong một văn bản quy phạm pháp luật cũng như toàn bộ hệ thống pháp luật do nhà nước ban hành Pháp luật không chỉ do nhà nước ban hành mà nhà nước còn bảo đảm cho pháp luật được thực hiện, có nghĩa là nhà nước trao cho các quy phạm pháp luật có tính quyền lực bắt buộc đối với mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân Pháp luật trở thành quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung nhờ vào sức mạnh quyền lực của nhà nước Tùy theo mức độ khác nhau mà nhà nước áp dụng các biện pháp về tư tưởng, tổ chức, khuyến khích, kể cả biện pháp cưỡng chế cần thiết để đảm bảo cho pháp luật được thực hiện
Từ các thuộc tính của pháp luật ta dễ dàng nhận thấy được tầm quan trọng của pháp luật thể hiện qua các chức năng cơ bản của pháp luật mà đặc biệt là chức năng điều chỉnh pháp luật Chức năng điều chỉnh là chức năng xác lập, ổn định, trật
tự hóa các quan hệ xã hội theo đường lối của nhà nước, phù hợp với sự vận động, phát triển của đời sống xã hội thông qua các hình thức quy định điều được phép, các quyền và nghĩa vụ pháp lý, những điều bị cấm và những hành vi được khuyến khích thực hiện
Xét khía cạnh nghiên cứu về điều chỉnh pháp luật có ý nghĩa rất lớn về mặt phương pháp luận đối với việc tiếp cận các hiện tượng pháp lý từ góc độ hệ thống
Nó cho phép nhìn nhận các hiện tượng pháp lý như quy phạm pháp luật, văn bản áp dụng pháp luật, quan hệ pháp luật trong một thể thống nhất mà mỗi hiện tượng pháp lý đều là một bộ phận của cơ thể thống nhất đó Từ đó, làm rõ chức năng, nhiệm vụ, vai trò của từng bộ phận trong cơ chế điều chỉnh pháp luật, tìm ra những
ưu điểm, những hạn chế của từng bộ phận, từng khâu có ảnh hưởng tới hiệu quả điều chỉnh pháp luật để kịp thời có những biện pháp khắc phục Cách tiếp cận có tính hệ thống còn tạo ra điều kiện để xem xét, nghiên cứu các hiện tượng pháp lý ở trạng thái động, tránh được cách nhìn sơ cứng, siêu hình khi xem xét từng hiện
Trang 2520
tượng pháp lý riêng lẻ
Trong xã hội Xã hội chủ nghĩa, pháp luật vẫn là một phương tiện quan trọng bậc nhất để điều chỉnh các quan hệ xã hội, tổ chức, quản lý xã hội, bảo đảm sự ổn định và phát triển của xã hội, phù hợp với những mục đích mà nhà nước và xã hội
đặt ra Khoản 1 Điều 8 Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Nhà nước được tổ chức
và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ.”
Quản lý xã hội bằng pháp luật là dùng pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội nhằm thiết lập một trật tự, trong đó các quan hệ xã hội phát triển theo những hướng xác định nhằm đạt được mục đích đề ra
Điều chỉnh pháp luật là quá trình nhà nước dùng pháp luật (với tư cách là công cụ điều chỉnh) tác động lên hành vi của các thành viên trong xã hội nhằm đạt được những mục đích đề ra
Ngày nay, sự phát triển của xã hội, sự phức tạp của các quan hệ xã hội nói chung và quan hệ hôn nhân nói riêng thì nhu cầu trật tự hóa xã hội cũng như trật tự hóa gia đình bởi một hệ thống quy phạm là rất cần thiết Thực tiễn cho thấy, sự tác động qua lại giữa pháp luật và các quan hệ hôn nhân và gia đình rất đa dạng, phức tạp Một mặt, các quan hệ hôn nhân và gia đình, đặc biệt là quan hệ về tài sản của
vợ chồng khi ly hôn có vai trò to lớn đối với việc hình thành các quy định của pháp luật; mặt khác, chính bản thân các quan hệ hôn nhân và gia đình lại là đối tượng tác động có mục đích của pháp luật
Đối với những cách thức phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn phù hợp, đáp ứng lợi ích của vợ, chồng, các con và người có nghĩa vụ liên quan thì pháp luật bảo vệ, củng cố và tạo điều kiện cho chúng phát triển Ví dụ: Khi ly hôn nhưng vấn đề tài sản, con cái vợ chồng có thể tự thỏa thuận với nhau và phù hợp với nguyện vọng của các bên thì đây là một trong những căn cứ để Tòa án công nhận thuận tình ly hôn Hoặc việc tự phân chia tài sản bằng hình thức thỏa thuận cho tặng tài sản là nhà, xe… cho nhau trước khi ly hôn sẽ giúp cho vợ, chồng không phải đóng thuế chuyển quyền sử dụng đất, lệ phí trước bạ theo quy định Thời gian
Trang 2621
giải quyết vụ việc ly hôn nhanh chóng, thủ tục giải quyết nhanh gọn
Qua đó ta thấy, pháp luật tác động để thúc đẩy quá trình hình thành và phát triển việc phân chia tài sản khi ly hôn theo hướng tự thỏa thuận, đáp ứng được nhu cầu chính đáng của vợ chồng trong quá trình ly hôn, giảm thiểu mâu thuẫn ngày càng gay gắt trong quan hệ hôn nhân
Đối với những trường hợp phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn không phù hợp với quy luật phát triển của xã hội, không đáp ứng lợi ích của vợ, chồng, các con và người có nghĩa vụ liên quan thì pháp luật tham gia ngăn cản, kìm hãm sự phát triển của chúng và từng bước loại trừ chúng ra khỏi đời sống xã hội Ví dụ: Khi ly hôn vợ chồng không thỏa thuận được với nhau vì người vợ cảm thấy chưa thỏa đáng và ảnh hưởng đến lợi ích của vợ, con cái đồng thời yêu cầu Tòa án giải quyết thì Tòa án sẽ tiến hành xem xét, xác minh đâu là tài sản riêng, đâu là tài sản chung, nguồn gốc hình thành tài sản Đối với tài sản chung thì xem xét thu nhập thực tế của vợ, chồng; công sức đóng góp trong việc tạo dựng, quản lý tài sản chung; những tài sản nào chia được bằng hiện vật hoặc phải thanh toán bằng tiền; điều kiện, hoàn cảnh, nghề nghiệp của vợ, chồng khi ly hôn; hai vợ chồng sống riêng hoặc cùng chung sống bên nhà chồng (vợ); lỗi… từ đó bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của
vợ, con Như vậy, pháp luật có thể ngăn cản, kìm hãm sự phát triển của việc mất bình đẳng, bảo vệ quyền con người mà ở đây đặc biệt là phụ nữ và trẻ em, dần dần điều chỉnh và loại bỏ những điều chưa phù hợp ấy ra khỏi đời sống xã hội
Pháp luật tác động lên các quan hệ vợ chồng bằng cách quy định cho vợ chồng một số quyền và nghĩa vụ pháp lý nhất định, đồng thời pháp luật cũng xác định cả những điều kiện để bảo đảm cho các quyền và nghĩa vụ pháp lý đó được thực hiện Vì vậy, khi tham gia vào các quan hệ do pháp luật điều chỉnh, vợ chồng buộc phải tự điều khiển các hành vi của mình sao cho phù hợp với các yêu cầu của pháp luật
Tuy nhiên, cần chú ý là pháp luật không chỉ tác động tới hành vi của vợ chồng được điều chỉnh bằng pháp luật mà còn có sự tác động mang tính giáo dục chung Trong nhiều trường hợp, sự giáo dục không nhằm mục đích thay đổi hành vi
Trang 27Trong đời sống hôn nhân, pháp luật cũng là phương tiện không thể thiếu cho
sự tồn tại bình thường của nó Bởi lẽ pháp luật hôn nhân và gia đình là một trong những biện pháp để khẳng định một chuẩn mực đạo đức, biến nó thành thói quen và xem như điều đó là hiển nhiên phải tồn tại trong xã hội nói chung và trong việc phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn nói riêng
Như vậy, sự điều chỉnh việc phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn bằng pháp luật (với nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật) làm cho vợ chồng có thể
tự do phát huy khả năng sáng tạo của mình trong môi trường lành mạnh - môi trường vận hành có trật tự, nền nếp, kỷ cương của một xã hội năng động, phát triển
và văn minh Đó cũng chính là nhu cầu tình cảm, là trách nhiệm và yêu cầu đạo đức đối với mỗi cặp vợ chồng trong thời đại tiên tiến
Một số người cho rằng, pháp luật là sự ép buộc làm hạn chế quyền tự do của
cá nhân, tuy nhiên đây là cách hiểu sai lầm vì pháp luật sinh ra nhằm giúp cuộc sống tốt đẹp hơn Pháp luật mang tính bắt buộc để tạo nên sự tự do, nghĩa là bắt buộc mọi người phải tôn trọng quyền tự do của người khác, nếu ai ngăn cản thì phải gánh lấy chế tài từ pháp luật Bởi vậy, nếu không có sự điều chỉnh bằng pháp luật
về phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn thì hành vi của vợ, chồng về vấn
Trang 2823
đề tài sản chung sau ly hôn không mang tính bắt buộc phải thực hiện; từ đó hành vi của vợ, chồng không được điều chỉnh thực hiện theo khuôn khổ nhất định để phù hợp với đạo đức Ví dụ: nếu không có sự điều chỉnh của pháp luật về phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn thì khi hôn nhân đỗ vỡ người vợ có thể sẽ bị thiệt thòi về tài sản chung nếu người chồng một mình đứng tên các tài sản có giá trị như nhà, đất được hình thành trong thời kỳ hôn nhân dẫn đến lợi ích của người vợ
bị xâm phạm Pháp luật là công cụ góp phần bảo vệ người yếu thế - người yếu thế ở đây có thể hiểu là người vợ và các con chưa thành niên, con thành niên nhưng không có khả năng lao động Đặc biệt nhờ có sự điều chỉnh của pháp luật về phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn mà sự công bằng giữa vợ, chồng được thiết lập Ví dụ: người chồng đi ngoại tình, có hành vi bạo lực gia đình là yếu tố lỗi trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng dẫn đến khi ly hôn sẽ không được hưởng tài sản ngang bằng với vợ
Nhận thức sâu sắc về vai trò của pháp luật trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, tạo nền tảng vững chắc để Việt Nam hội nhập với thế giới, hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung và Luật HN&GĐ nói riêng đã và đang
có sự phát triển mạnh mẽ, với nhiều thành tựu to lớn Trong đó, Luật HN&GĐ đã tiếp tục kế thừa đồng thời, ngày càng đề cao và chú trọng đến vấn đề tài sản của vợ chồng, đặc biệt là vấn đề phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn
Năm 1959, lần đầu tiên có một đạo luật riêng điều chỉnh quan hệ HN&GĐ- Luật HN&GĐ năm 1959 hay còn gọi là Đạo luật số 13 Theo Luật HN&GĐ năm
1959 tài sản chung của vợ chồng là tài sản chung hợp nhất, tức mọi tài sản mà vợ chồng có trước và sau khi kết hôn đều là tài sản chung của vợ chồng, luật không thừa nhận vợ chồng có tài sản riêng Luật quy định hai trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng là: chia tài sản chung của vợ chồng khi một bên chết trước hoặc chia khi ly hôn Khi ly hôn việc chia tài sản sẽ căn cứ vào sự đóng góp về công sức của mỗi bên, tình hình tài sản, tình trạng cụ thể của gia đình… Luật HN&GĐ năm 1959 đã quy định rõ nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng Đồng thời khẳng định được bản chất pháp luật xã hội chủ nghĩa, là công cụ pháp lý của Nhà
Trang 29Kế thừa Luật HN&GĐ năm 1986, Luật HN&GĐ năm 2000 cũng quy định việc phân chia tài sản chung của vợ chồng trong ba trường hợp nêu trên Luật HN&GĐ năm 2000 đã có nhiều sửa đổi, bổ sung để hoàn thiện các quy định về chia tài sản chung của vợ chồng; quy định rõ nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng trước hết dựa trên sự thỏa thuận của các bên Nếu vợ chồng không tự thỏa thuận được việc phân chia tài sản, áp dụng nguyên tắc theo luật định Luật HN&GĐ năm
2000 đã quy định cụ thể nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn [36, Điều 95 - Điều 99]
Luật HN&GĐ năm 2014 kế thừa quy định trong các đạo luật trên, đồng thời
đã học hỏi, tiếp thu chế định tài sản chung của vợ chồng theo hôn ước Theo đó, việc phân chia tài sản chung của vợ chồng vẫn bao gồm ba trường hợp: phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, khi ly hôn và khi một bên vợ hoặc chồng chết trước, bị Tòa án tuyên bố là đã chết Ngoài ra, lần đầu tiên Luật HN&GĐ năm 2014 thừa nhận chế độ tài sản chung của vợ chồng theo thỏa thuận
Vì vậy đối với trường hợp vợ chồng có thỏa thuận tài sản thì việc phân chia tài sản chung của vợ chồng thực hiện theo thỏa thuận tại thỏa thuận tài sản đó
Như vậy, kể từ khi ban hành Luật HN&GĐ năm 1959 đến Luật HN&GĐ năm 1986, 2000 và 2014 việc phân chia tài sản chung của vợ chồng vẫn bao gồm ba trường hợp: phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, khi ly hôn và khi một bên vợ hoặc chồng chết trước, bị Tòa án tuyên bố là đã chết Ta thấy, hệ thống pháp luật HN&GĐ Việt Nam đang ngày càng hoàn thiện, góp phần
Trang 3025
điều chỉnh các quan hệ HN&GĐ ngày một tốt hơn Đồng thời, thúc đẩy xã hội ngày một tiến lên, xây dựng đất nước ngày càng vững mạnh, đặc biệt là vấn đề phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn ngày càng được chú trọng và nâng cao nhằm bảo vệ quyền lợi của các bên
Từ thực tế trên cho thấy, hệ thống pháp luật và việc thi hành pháp luật hôn nhân và gia đình đã có những tác động rõ rệt đến đời sống xã hội Những quy định trong Luật HN&GĐ năm 2014 đã thực sự đề cao tính nhân đạo và nhân văn bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp của Nhà nước bảo vệ được quyền và lợi ích chính đáng của vợ, chồng Điều đó được thể hiện rõ qua việc đề cao ý chí của các bên trong tự định đoạt của vợ chồng dựa trên nguyên tắc tự thỏa thuận về phân chia tài sản, con cái khi ly hôn Tuy nhiên, việc thỏa thuận này không được trái với những nguyên tắc mà pháp luật đã quy định để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên, nhất là của phụ nữ và con cũng như tránh sự lợi dụng những quy định này nhằm mục đích tư lợi, không lành mạnh của vợ chồng Điều này không những được pháp luật thừa nhận mà còn khuyến khích các bên tự do thỏa thuận khi ly hôn
Tóm lại, việc điều chỉnh pháp luật đối với việc phân chia tài sản chung của
vợ chồng khi ly hôn nhằm phục vụ cho việc thực thi các lợi ích cơ bản của con người, đặc biệt là lợi ích của vợ, chồng Vì vậy, các nguyên tắc định hướng cho việc
áp dụng pháp luật, như công bằng, nhân đạo, vì sự phát triển tiến bộ của con người
và xã hội trong Luật HN&GĐ năm 2014 cũng chính là những nguyên tắc đạo đức
cơ bản mà nhân loại tiến bộ đã, đang và sẽ hướng tới Có thể nói, pháp luật góp phần rất lớn trong việc hình thành ý thức tôn trọng và chấp hành những quy phạm chung, giúp vợ chồng có những hành vi ứng xử văn minh, phù hợp với chiều hướng phát triển tiến bộ của thời đại Đồng thời, góp phần vào việc xây dựng, đề cao vai trò của gia đình trong đời sống xã hội, giữ gìn và phát huy truyền thống cũng như những phong tục tập quán tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, xóa bỏ những phong tục tập quán lạc hậu về hôn nhân và gia đình
Trang 31áp dụng pháp luật về phân chia tài sản chung của vợ chồng khi vợ chồng ly hôn được ban hành phù hợp như: hợp pháp, nghĩa là nó được ban hành đúng thẩm quyền hoặc chỉ được ban hành một số văn bản áp dụng pháp luật nhất định theo quy định của pháp luật; được ban hành có cơ sở thực tế, nghĩa là nó được ban hành căn cứ vào những sự kiện, những đòi hỏi thực tế đầy đủ, chính xác và đáng tin cậy
Thứ hai, yếu tố văn hóa, phong tục tập quán
Việt Nam là quốc gia đa dân tộc với nhiều nét văn hóa và tập quán tốt đẹp,
đa dạng, phong phú và phong tục tập quán là một bộ phận quan trọng trong vốn văn hóa truyền thống, nó không chỉ là công cụ điều chỉnh quan hệ xã hội mà còn ẩn chứa những quan niệm sâu xa về triết học, nhân sinh Văn hóa, phong tục tập quán
và pháp luật có mối quan hệ qua lại, tác động lẫn nhau Có thể thấy yếu tố văn hóa
và phong tục tập quán là một trong những yếu tố hình thành nên pháp luật và có tác động nhất định đến việc thực hiện pháp luật trong cuộc sống Văn hóa, phong tục tập quán có ảnh hưởng lớn tới việc phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn
cụ thể:
Đời sống văn hóa người Việt có đặc trưng cơ bản là tính gắn bó cộng đồng Điều này khiến cho người Việt thường có tập quán sinh sống gắn bó với nhau, ở nông thôn thì đơn vị dân cư là làng, xã, ở đô thị là phường, tổ dân phố và cùng với tập quán định canh, định cư đã giúp cho việc xác định nguồn gốc tài sản của vợ chồng, chứng minh tài sản chung hay tài sản riêng của vợ chồng trong thời kỳ hôn
Trang 3227
nhân khi xảy ra ly hôn được dễ dàng hơn Bên cạnh sự ảnh hưởng của Nho giáo và Phật giáo trong đời sống văn hóa tinh thần của người Việt là rất lớn Một trong những điều tích cực mà hai tôn giáo trên mang đến cho văn hóa nói chung và pháp luật phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn nói riêng là một xã hội ổn định, ít tranh chấp, xung đột Ngoài ra, phong tục tập quán còn điều chỉnh hành vi bằng cách thông qua dư luận xã hội: ca ngợi, khuyến khích cái thiện, cái tốt; lên án, phê phán cái ác, cái xấu Phong tục tập quán phù hợp đã góp phần làm cho việc phân chia tài sản chung khi vợ chồng ly hôn được thực hiện nghiêm chỉnh, tự giác hơn, dựa trên lòng tin, sự tuân thủ sẵn có của người dân với tập tục Ví dụ: Phong tục của người Ơ Đu khi vợ chồng ly hôn con chưa đến tuổi dựng vợ, gả chồng ở chung với người nào thì người đó sẽ được chia tài sản nhiều hơn Điều này thể hiện bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên
Tuy nhiên, sự gắn bó cộng đồng, bên cạnh việc giúp cho cộng đồng gần nhau hơn, còn đem đến tư duy “phép vua thua lệ làng” Nhiều địa phương diễn giải những quy định pháp luật về phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn theo nhiều cách hiểu khác nhau Mỗi vùng, mỗi miền lại có những phong tục tập quán khác nhau mà pháp luật đòi hỏi sự thống nhất trên phạm vi toàn lãnh thổ Do đó nếu phụ thuộc quá nhiều vào văn hóa và phong tục tập quán sẽ phần nào gây trở ngại cho việc thực thi pháp luật Những hủ tục lạc hậu làm cản trở việc phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn như: phần lớn phụ nữ phải đảm nhận hầu hết các công việc trong gia đình gồm quét dọn, nấu ăn, chăm sóc con cái Do đó, việc đóng góp của họ trong kinh tế gia đình không nhiều, dẫn đến người phụ nữ hầu như không có quyền về tài sản nhưng gánh vác nhiều nghĩa vụ trong gia đình Mặc dù pháp luật Việt Nam hiện nay đã quy định về quyền bình đẳng nam nữ trên lĩnh vực tài sản, nhưng do ảnh hưởng nặng nề của phong tục tập quán truyền thống của người Việt, nên ở một số địa phương phụ nữ hầu như ít có quyền sở hữu tài sản mà tài sản thuộc về người chồng là chủ yếu
Thứ ba, trình độ dân trí
Trình độ dân trí cao là điều kiện đầu tiên, cơ bản để có những hành vi xử sự
Trang 3328
hợp pháp, với người có trình độ văn hóa cao họ sẽ dễ dàng hiểu biết pháp luật, nhận thức đúng pháp luật và dẫn đến việc thực hiện pháp luật tốt Còn với những người trình độ văn hóa thấp, điều đó sẽ ngược lại Trình độ văn hóa thấp, họ ít tiếp thu được các chuẩn mực xã hội mới, trong đó có pháp luật Không biết chữ, họ không thể đọc được văn bản luật, có được tiếp thu thì cũng chỉ qua hình thức truyền miệng Từ đó họ sẽ không hiểu được sâu sắc bản chất, thậm chí còn có thể hiểu sai bởi những dị bản qua hình thức truyền miệng này, điều đó sẽ ảnh hưởng rất lớn đến việc thực hiện pháp luật của họ, đôi khi dẫn đến tình trạng vi phạm pháp luật
Để việc phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn được giải quyết thấu tình, đạt lý đòi hỏi trình độ văn hóa pháp lý của cán bộ và nhân dân trong xã hội phải từng bước được nâng cao Bởi một khi ý thức pháp luật của nhân dân, lòng tin của nhân dân vào pháp luật càng cao thì người dân sẽ có những hành vi pháp luật tích cực, biết sử dụng pháp luật vào việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình cũng như của người khác và đấu tranh không khoan nhượng với các hiện tượng tiêu cực, vi phạm pháp luật trong xã hội Thực tế cho thấy, các cá nhân có trình độ văn hóa thấp, ít hiểu biết pháp luật, thiếu sự giáo dục thường có những hành vi bột phát, mất bình tĩnh khi tham gia các quan hệ giao tiếp xã hội Từ đó, để giải quyết việc phân chia tài sản chung của vợ chồng trong các án ly hôn ở những nơi có trình độ dân trí còn thấp gặp nhiều khó khăn hơn, bởi ý thức tôn trọng và lối sống tuân theo pháp luật của người dân chưa được hình thành dẫn đến việc phân chia tài sản chung khi vợ chồng ly hôn đã được thực hiện đúng quy định của pháp luật nhưng họ vẫn còn thắc mắc và chưa cảm thấy thỏa đáng
Thứ tư, yếu tố hội nhập quốc tế
Hội nhập quốc tế là một chủ trương lớn trong chính sách đối ngoại của Đảng
và Nhà nước ta Trong điều kiện toàn cầu hoá, hội nhập quốc tế là một quá trình mà trọng tâm là chủ động mở cửa kinh tế, giao lưu văn hóa, xã hội, mở rộng không gian
và môi trường để phát triển và tìm chỗ đứng phù hợp trong quan hệ quốc tế Để đảm bảo pháp luật về phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn không chỉ phù hợp với thực tiễn Việt Nam, mà còn phải có sự hài hòa, tương thích với pháp luật
Trang 3429
của các nước trên thế giới thì hiện nay, pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam cũng đã thừa nhận cả chế độ tài sản theo thỏa thuận Trong trường hợp không có thỏa thuận của vợ chồng thì việc giải quyết quan hệ tài sản của họ tuân theo pháp luật Như vậy, chỉ khi không có thỏa thuận của vợ chồng thì chế độ tài sản của họ mới theo sự điều chỉnh của pháp luật Việc qui định như vậy trước hết đảm bảo
được quyền con người, quyền tự định đoạt tài sản của cá nhân
Thứ năm, lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng
Vợ và chồng là quan hệ vừa mang tính pháp lý vừa mang tính xã hội Mỗi bên tham gia quan hệ này đều có những quyền và nghĩa vụ nhất định Trường hợp các bên không tuân thủ các nghĩa vụ của mình nghĩa là vi phạm nguyên tắc làm vợ hoặc chồng đã được pháp luật và xã hội thừa nhận Đặc biệt, hậu quả ly hôn bắt nguồn từ lỗi của chồng hoặc vợ sẽ là yếu tố ảnh hưởng đến việc giải quyết phân chia tài sản khi ly hôn theo hướng bất lợi cho người có lỗi
Chưa xem xét đến những khái niệm học thuật khô khan thì đây đã là một bước tiến lớn, đưa pháp luật gần gũi hơn với đời sống Sẽ không có chuyện người chồng đi ngoại tình, mặc sức phá tán tài sản, hành hạ vợ con sẽ được hưởng phần tài sản bằng với vợ nữa Đó là một nguyên tắc tất yếu trong đời sống văn hóa, tinh thần của người Việt Nam Cuộc hôn nhân tan vỡ do lỗi của mỗi người thì người đó phải có trách nhiệm vì lỗi của mình Nhưng khi cuộc hôn nhân tan vỡ thì chỉ còn yếu tố con cái hoặc tài sản là nội dung cuối cùng có thể ràng buộc người có lỗi Vì vậy, quy định nêu trên là rất tiến bộ Về lâu dài, hiệu ứng xã hội sẽ lớn dần và là một biện pháp răn đe hiệu quả bên cạnh xử lý vi phạm hành chính
Kết luận Chương 1
Trên đây là những vấn đề lý luận chung về chia tài sản chung của vợ chồng
và đặc biệt đi sâu nghiên cứu về phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn Việc nghiên cứu những quy định của Luật HN&GĐ năm 2014 về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn tác giả rút ra được ý nghĩa cũng như các yêu cầu, sự cần thiết của việc điều chỉnh bằng pháp luật và các yếu tố ảnh hưởng đến việc phân chia
Trang 35có tài sản để tự nuôi mình mà còn bảo đảm các quan hệ xã hội khác được ổn định, các hoạt động kinh tế, kinh doanh của vợ chồng được duy trì, bảo đảm sau khi chia tài sản chung của vợ chồng các quan hệ này không bị xáo trộn, vợ, chồng sau khi chia tài sản chung cuộc sống của họ vẫn được đảm bảo Việc điều chỉnh pháp luật đối với việc phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn nhằm phục vụ cho việc thực thi các lợi ích cơ bản của con người, đặc biệt là lợi ích của vợ, chồng Bên cạnh đó, pháp luật góp phần rất lớn trong việc hình thành ý thức tôn trọng và chấp hành những quy phạm chung, giúp vợ chồng có những hành vi ứng xử văn minh, phù hợp với chiều hướng phát triển tiến bộ của thời đại
Trang 3631
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ PHÂN CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG KHI LY HÔN TẠI HUYỆN BA TƠ, TỈNH QUẢNG NGÃI
2.1 Thực trạng quy định pháp luật về phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn
Vì ly hôn sẽ làm chấm dứt chế độ tài sản chung của vợ chồng nên việc chia tài sản chung là điều kiện cần thiết để đảm bảo điều kiện sống của mỗi bên sau khi
ly hôn Về nguyên tắc, thời điểm chấm dứt quan hệ hôn nhân cũng là thời điểm chấm dứt quan hệ tài sản vợ chồng Tòa án giải quyết ly hôn khi giữa hai bên đã tồn tại một quan hệ hôn nhân hợp pháp Chính vì vậy, trong đề tài này, tác giả chỉ đề cập đến việc chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn, tức là giữa các bên vợ chồng tồn tại quan hệ hôn nhân được pháp luật thừa nhận
Để chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn, pháp luật HN&GĐ đã quy định về các nguyên tắc của việc phân chia cũng như phương thức phân chia
Thứ nhất, về nguyên tắc chia tài tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn
Nếu vợ chồng lựa chọn chế độ tài sản chung của vợ chồng theo thỏa thuận (có thỏa thuận tài sản) thì khi ly hôn việc phân chia tài sản theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, không rõ ràng thì áp dụng các quy định tương ứng của
luật định để phân chia [36, Điều 59] Trường hợp, chế độ tài sản của vợ chồng theo
luật định thì việc giải quyết tài sản sẽ ưu tiên, căn cứ trên cơ sở thỏa thuận của các bên Pháp luật tôn trọng quyền tự định đoạt tài sản của vợ chồng và cho phép vợ chồng tự thỏa thuận phân chia tài sản chung của vợ chồng Pháp luật ghi nhận việc chia tài sản chung như thế nào trước hết phụ thuộc vào ý chí của các bên Pháp luật cho phép các bên được tự do ý chí, nhưng việc thỏa thuận phải được thực hiện phù hợp với quy định của pháp luật Thỏa thuận chia tài sản khi ly hôn cũng chính là một giao dịch dân sự, vì vậy nó phải đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự: Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp
Trang 3732
với giao dịch dân sự được xác lập; chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện; mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức giao dịch dân sự phù hợp với quy định của pháp luật nếu có quy định Ngoài ra, do tính chất đặc trưng của quan hệ hôn nhân và gia đình nên nó có một số đặc điểm riêng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động không có tài sản riêng để nuôi sống mình
Nếu trường hợp vợ chồng không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của một trong hai bên hoặc cả hai bên thì Tòa án sẽ giải quyết theo quy định của pháp luật trên cơ sở:
Một là, bình đẳng về quyền sở hữu tài sản của vợ chồng
Xuất phát từ nguyên tắc bình đẳng của công dân được BLDS năm 2015 thừa nhận, vợ, chồng có quyền bình đẳng trước pháp luật, bình đẳng trong việc hưởng các quyền dân sự do pháp luật quy định Trên cơ sở đó, việc phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn được thực hiện theo nguyên tắc tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhằm đảm bảo được sự bình đẳng giới trong quan hệ vợ chồng Tuy nhiên, nguyên tắc này không phải là bất biến mà được áp dụng một cách linh hoạt, phù hợp với thực tế, theo đó cũng cần xem xét đến phong tục tập quán, hoàn cảnh của mỗi bên hoàn cảnh kinh tế, sức khỏe, điều kiện riêng của vợ hoặc chồng mà các bên có thể gặp phải sau khi ly hôn; có thể xem xét đến công sức đóng góp của mỗi bên vào việc tạo lập, duy trì, phát triển tài sản này và lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng Từ đó, giải quyết chia tài sản chung của vợ chồng một cách hợp lý, phù hợp với quy định của pháp luật, đảm bảo quyền lợi hợp pháp của các bên
Hai là, bảo vệ quyền lợi chính đáng của người vợ và con chưa thành niên
Xuất phát từ đặc điểm về thể chất và tinh thần, người phụ nữ và các con chưa thành niên, con đã thành niên nhưng không có khả năng lao động là những đối tượng dễ bị xâm hại, dễ bị tổn thương nên pháp luật đặc biệt quan tâm, bảo vệ Tuy
Trang 3833
phụ nữ trong cuộc sống hiện đại ngày càng bình đẳng và tham gia vào công tác xã hội nhiều hơn nhưng ở một khía cạnh nào đó người phụ nữ cũng có những hạn chế nhất định về sức khỏe, điều kiện lao động, học tập… nên họ là những người yếu thế, thiệt thòi nhất trong gia đình cũng như xã hội Đối với các con chưa thành niên, các con đã thành niên nhưng bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động là những người chưa phát triển đầy đủ hoặc có hạn chế về thể chất và tinh thần nên khả năng lao động tạo ra thu nhập bị hạn chế, cần được quan tâm, chăm sóc và giúp đỡ của các thành viên khác trong gia đình
Trong khi đó, đàn ông là người có sức khỏe, có nhiều cơ hội học tập, nâng cao chuyên môn họ thường là lao động chính tạo ra thu nhập của gia đình Với những hạn chế về sức khỏe, điều kiện tham gia hoạt động xã hội nên trong thực tế người phụ nữ thường dành nhiều thời gian chăm sóc chồng, con để người chồng có thời gian, điều kiện phục vụ cho công việc Mặc dù, giữa vợ và chồng công sức tạo
ra thu nhập có thể không bằng nhau, nhưng mỗi người đều có những đóng góp chung để gia đình tồn tại, phát triển Vì vậy, pháp luật thừa nhận mọi tài sản của vợ chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung của vợ chồng
Khi giải quyết ly hôn, người con chưa thành niên, bị mất năng lực dân sự, bị tàn tật, không có khả năng lao động để tự nuôi mình sẽ được giao cho cha hoặc mẹ
có trách nhiệm trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục Người vợ hoặc chồng không sống cùng người con đó phải có nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định tại khoản 2 Điều 82 Luật HN&GĐ năm 2014 Để đảm bảo chất lượng cuộc sống cho con chưa thành niên, bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động để tự nuôi mình thì việc giải quyết về tài sản của vợ chồng khi ly hôn sẽ được xem xét tạo điều kiện về chỗ ở, kinh tế cũng như các điều kiện học tập, chữa bệnh, phục hồi chức năng của người vợ và các con Nguyên tắc này đảm bảo được quyền lợi của người
vợ sau khi ly hôn và con chưa thành niên, con mất năng lực hành vi dân sự, bị tàn tật có điều kiện sống tốt hơn, hạn chế, giảm thiểu khả năng lâm vào hoàn cảnh khó khăn, thiếu thốn vật chất sau khi vợ chồng ly hôn Đồng thời, thể hiện được tính nhân đạo và bản chất tốt đẹp của Nhà nước
Trang 3934
Ba là, bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất kinh doanh và nghề nghiệp
Cùng với đó, một trong những nguyên tắc khác được pháp luật đề cập là
“bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất kinh doanh và nghề nghiệp
để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo ra thu nhập” [36, Điều 59] Quy định
này giúp các bên có điều kiện tiếp tục sản xuất, kinh doanh bình thường từ đó có thu nhập ổn định để tránh những hậu quả xấu xảy ra sau khi ly hôn Đối với những tài sản là tư liệu sản xuất, công cụ lao động phục vụ cho sản xuất, kinh doanh và hoạt động nghề nghiệp của bên nào thì khi phân chia tài sản sẽ chia cho bên đó Điều này
là hoàn toàn hợp lý bởi nếu thực hiện việc chia tư liệu sản xuất sẽ làm cho các bên khó có thể tiến hành sản xuất, kinh doanh hoặc không thể tiếp tục sản xuất kinh doanh Chẳng hạn nếu tài sản chung là nhà xưởng do người chồng đang thực hiện việc quản lý, kinh doanh Khi ly hôn, vợ yêu cầu chia đôi nhà xưởng cùng các tư liệu sản xuất khác Nếu thực hiện theo yêu cầu này của người vợ thì hoạt động sản xuất khó có thể thực hiện được hoặc không thể diễn ra bình thường dẫn đến không chỉ ảnh hưởng đến công việc của người chồng mà có thể cả những người lao động tại nhà xưởng sản xuất đó, người chồng có khả năng sản xuất thì không có đủ tư liệu để sản xuất, người vợ không có khả năng quản lý, kinh doanh dẫn đến không sử dụng hiệu quả các tư liệu sản xuất, kinh doanh được phân chia Chính vì vậy cần có quy định này để bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh
và nghề nghiệp của họ khi chia tài sản chung của vợ chồng do ly hôn
Bốn là, chia tài sản bằng hiện vật hoặc giá trị
Trong đời sống vợ chồng, tài sản chung được tạo ra trong thời kỳ hôn nhân rất đa dạng và phong phú, có thể là các động sản và bất động sản, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản Khi phân chia tài sản chung của vợ chồng là các vật (bao gồm động sản và bất động sản) cho mỗi bên, pháp luật cho phép Tòa án có quyền phân chia bằng hiện vật hoặc theo giá trị tùy vào yêu cầu của các bên cũng như các điều kiện thực tế khác
Căn cứ khoản 3 Điều 59 Luật HN&GĐ năm 2014 thì khi ly hôn Tòa án có
Trang 4035
quyền phân chia tài sản chung của vợ chồng bằng hiện vật hoặc theo giá trị tùy vào
yêu cầu của các bên cũng như các điều kiện thực tế khác Bên nào nhận phần tài sản
bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch Quy định này góp phần hạn chế đến mức thấp nhất những hệ quả xấu khi chia tài sản chung của vợ chồng, việc chia tài sản chung của vợ chồng
có thể chia bằng vật hoặc theo giá trị, nếu chia bằng vật thì phải đảm bảo vật phải
sử dụng được sau khi chia Trên thực tế, không phải tài sản nào cũng có thể chia, chia ra được các phần đồng đều mà giá trị sử dụng vẫn được bảo đảm Điều này dẫn đến, có trường hợp không chia được tài sản bằng hiện vật hoặc chia tài sản thành các phần nhưng giá trị của mỗi phần không bằng nhau Vì vậy, pháp luật quy định bên nhận tài sản có giá trị lớn hơn phải có nghĩa vụ thanh toán phần chênh lệch của tài sản đó cho bên còn lại góp phần bảo đảm công bằng cho các bên Tuy nhiên, trên thực tế, việc xác định chính xác giá trị của một tài sản không phải đơn giản Vì vậy, khó tránh khỏi tranh chấp giữa các bên khi cho rằng việc định giá giá trị của tài sản
là không thỏa đáng Để giảm bớt tranh chấp giữa các bên khi phân chia tài sản chung của vợ chồng, Tòa án nhân dân tối cao đã hướng dẫn tại Mục 12 Nghị quyết
số 02/2000/NQ-HĐTP: “việc xác định giá trị khối tài sản chung của vợ chồng hoặc phần giá trị mà họ phải thanh toán, họ được hưởng là căn cứ vào giá giao dịch thực tế tại địa phương vào thời điểm xét xử” Việc quy định này tạo điều kiện cho
đường lối xét xử của các Tòa án được thống nhất, qua đó bảo vệ quyền, lợi ích của các bên một cách công bằng nhất có thể Trên thực tế, việc xác định được giá trị của một tài sản theo giá giao dịch thực tế tại địa phương vào thời điểm xét xử không phải lúc nào cũng dễ dàng Thứ nhất không phải tài sản nào, tại địa phương nào cũng thường xuyên có sự giao dịch Các tài sản tuy cùng loại nhưng giá trị giao dịch lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố: khấu hao tài sản, địa điểm của tài sản (đối với bất động sản)…mà giá giao dịch trên thực tế cũng rất phức tạp Đây là các yếu tố ảnh hưởng đến việc xác định giá trị tài sản chung của vợ chồng cần phải phân chia khi Tòa án tiến hành định giá Thứ hai, nếu một bên nhận được hiện vật có giá trị có lớn hơn, phải thanh toán phần chênh lệch cho bên còn lại nhưng họ cố tình không thanh