Diện tích rừng tràm, rừng đước ngày càng bị thu hẹp, cháy rừng thường xuyên xảy ra, cư dân được Nhà nước giao khoán rừng thực hiện trồng rừng mới sau khai thác không đúng quy định, lấn c
Trang 1TRẦN CÔNG HOẰNG
PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ RỪNG QUA THỰC TIẾN
ÁP DỤNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH CÀ MAU
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2017
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
TRẦN CÔNG HOẰNG
PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ RỪNG QUA THỰC TIẾN
ÁP DỤNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH CÀ MAU
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số: 60380107
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS LÊ VŨ NAM
TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2017
Trang 3Hồ Chí Minh mở cơ sở đào tạo tại Trường Cao đẳng Cộng đồng Cà Mau, tác giả đã được quý Thầy, Cô tận tình giảng dạy, hướng dẫn học tập, trau dồi đạo đức cách mạng bằng cả trách nhiệm tình thương và phương pháp khoa học
Tác giả hoàn thành Luận văn là kết quả từ sự giảng dạy, hướng dẫn trực tiếp của Thầy PGS.TS Lê Vũ Nam và hướng dẫn của quý Thầy, Cô các khoa; sự tạo điều kiện thuận lợi, giúp đỡ có hiệu quả và kịp thời của Trường Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh
Trong quá trình thực hiện Luận văn, tác giả đã được nhiều cơ quan, đơn
vị, đồng chí, bạn bè trên địa bàn tỉnh Cà Mau giúp đỡ, cung cấp thông tin, hỗ trợ thiết thực và sự chia sẻ, động viên chân tình
Để thực hiện Luận văn, tác giả đã nghiên cứu, tìm hiểu thông tin và sử dụng hợp lý từ nhiều tạp chí, sách báo của nhiều tác giả, nhà xuất bản, cơ quan, đơn vị thông tin truyền thông
Tác giả xin nói lời tri ân sâu sắc đến Thầy PGS.TS Lê Vũ Nam và quý Thầy, Cô, cán bộ, nhân viên Trường Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh, Trường Cao đẳng Cộng đồng Cà Mau; chân thành cảm ơn đến cơ quan, đơn
vị, đồng chí và bạn bè tỉnh Cà Mau đã có những giúp đỡ quý báu trong quá trình tác giả thực hiện và hoàn thành Luận văn này
Cà Mau, ngày tháng năm 2017
Tác giả luận văn
Trần Công Hoằng
Trang 4liệu, kết quả nêu trong Luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của Luận văn chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào./
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Trần Công Hoằng
Trang 501 Bảng 1.1: Ảnh hưởng của rừng đến tốc độ gió 17
Trang 6LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC BẢNG
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 3
M c đích và nhi v của luận văn 3
4 Đối tượng và phạ vi nghiên cứu 4
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 4
6 Kết cấu của luận văn 4
CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO VỆ RỪNG 6
VÀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ RỪNG 6
1.1 Tổng quan về bảo v rừng 6
1.1.1 Khái niệm rừng 6
1.1.2 Đặc điểm của rừng 9
1.1.3 Phân loại rừng 10
1.1.4 Vai trò của rừng 13
1.2 Khái quát về bảo v rừng 20
1.2.1 Khái niệm bảo vệ rừng 20
1.2.2 Đặc điểm bảo vệ rừng 21
1.2.3 Các phương thức bảo vệ rừng 24
1.2.4 Sự cần thiết bảo vệ rừng 26
1 Những vấn đề lý luận cơ bản của pháp luật về bảo v rừng 29
1.3.1 Khái niệm và đặc điểm của pháp luật về bảo vệ rừng 29
1.3.2 Nội dung của pháp luật bảo vệ rừng 32
1.3.3 Vai trò của pháp luật đối với công tác bảo vệ rừng 36
Trang 7QUA THỰC TIỄN ÁP DỤNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH CÀ MAU VÀ 42
KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN 42
2.1 Thực trạng pháp luật về bảo v rừng qua thực tiễn áp d ng trên địa bàn tỉnh Cà Mau 42
2.1.1 Quy định về chủ thể có trách nhi bảo v rừng 42
2.1.2 Quy định về bảo vệ hệ sinh thái rừng 45
2.1.3 Quy định về bảo vệ thực vật rừng, động vật rừng 48
2.1.4 Quy định về phòng cháy, chữa cháy rừng 50
2.1.5 Quy định về phòng trừ sinh vật gây hại rừng 52
2.1.6 Quy định về kinh doanh, vận chuyển, xuất khẩu, nhập khẩu thực vật rừng, động vật rừng 55
2.1.7 Quy định về xử lý đối với hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ rừng 58
2.2 Kiến nghị hoàn thi n pháp luật về bảo v rừng 65
2.2.1 Nguyên tắc cơ bản trong việc hoàn thiện pháp luật về bảo vệ rừng 61
2.2.2 Căn cứ pháp lý thực tế cần hoàn thiện pháp luật về bảo vệ rừng 63
2.2.3 Kiến nghị cụ thể hoàn thiện pháp luật về bảo vệ rừng 68
Kết luận Chương 2 72
KẾT LUẬN 74
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Một trong những yêu cầu thực tiễn đặt ra đối với mọi quốc gia, muốn phát triển nhanh và bền vững là phải tính đến sự cân bằng môi trường sinh thái Công tác này bao trùm trên nhiều mặt, trong đó có hoạt động khai thác, trồng rừng, phòng cháy chữa cháy rừng, các hoạt động kinh doanh lâm sản… tác động trực tiếp đến bảo vệ và phát triển rừng
Rừng có vị trí đặc biệt quan trọng trong đời sống kinh tế-xã hội, rừng góp phần vào các hoạt động kinh tế nhờ khả năng cung cấp nguyên liệu liên tục lâu dài với chất lượng nguyên liệu cao cho các ngành công nghiệp, công nghiệp giấy, chế biến gỗ, mỹ phẩm, vật liệu xây dựng, sợi dệt, lấy tinh dầu, cung cấp các hoạt động dịch vụ như du lịch sinh thái…góp phần thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế thị trường hiện nay Bên cạnh đó, rừng tạo ra các sản phẩm dịch
vụ, nhiều dự án phát triển du lịch sinh thái gắn liền với các vườn quốc gia, các khu bảo tồn thiên nhiên, các khu rừng có cảnh quan đặc biệt, du lịch sinh thái không chỉ phục vụ nhu cầu về mặt tinh thần mà còn tăng thu nhập cho người dân địa phương góp phần ổn định dân cư và xóa đói giảm nghèo, góp phần bảo đảm an ninh, quốc phòng
Ngày nay, sự phát triển của khoa học kỹ thuật đang diễn ra nhanh chóng, đời sống của con người được cải thiện đáng kể nhưng chúng ta phải đối mặt với những thách thức của sự phát triển Đó là nguy cơ suy giảm các nguồn tài nguyên và sự suy thoái các yếu tố căn bản môi trường sống Tài nguyên rừng – một trong những tài nguyên có thể tái tạo và có tính quyết định trong việc duy trì cân bằng sinh thái toàn cầu, đang đứng trước nguy cơ bị suy thoái nghiêm trọng cả về lượng và chất Các nhà khoa học đã cảnh báo, mất rừng không chỉ đơn thuần là sự suy giảm nguồn tài nguyên mà nó còn gây ra những hậu quả nghiêm trọng như sa mạc hóa, các thiên tai như lũ lụt, hạn hán,…đặc biệt là các tác hại về môi trường sinh thái như phá hại sinh cảnh, tuyệt chủng các loài thực vật, động vật nguy cấp, quý hiếm Vì thế rừng
có vai trò cực kỳ quan trọng trong việc giữ đất, điều hòa không khí, bảo vệ môi
Trang 9trường sinh thái Trước những biến đổi về môi trường trong thời gian gần đây, chúng ta càng thấy được tầm quan trọng của rừng Do đó, quản lý rừng bền vững đã được nhận thức như là một chiến lược vì mục tiêu tồn tại lâu dài của con người và thiên nhiên Tuy nhiên, do xuất phát từ những khó khăn về kinh tế, người dân vẫn tiến hành khai thác ở khu vực lâm nghiệp có tính đặc thù địa phương, mặt khác sự khác biệt về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội ở mỗi địa phương nên việc vận dụng các văn bản pháp luật Nhà nước vào các hoạt động bảo vệ và phát triển rừng không hoàn toàn giống nhau Điều này đòi hỏi việc quản lý bảo vệ và phát triển rừng luôn chú ý đến tính đặc thù Chính tính đặc thù địa phương nên pháp luật của Nhà nước chưa có điều chỉnh, quản lý kịp thời, đồng bộ
Thế mạnh kinh tế của tỉnh Cà Mau là tiềm năng về phát triển nông-lâm-ngư nghiệp Trong phát triển lâm nghiệp thì phát triển rừng tràm, rừng đước có vị trí chủ đạo và mang tính đặc thù của tỉnh Thổ nhưỡng của tỉnh thích hợp cho cây rừng tràm, rừng đước hơn các loại cây rừng khác Rừng tràm, rừng đước có vị trí quan trọng, tác động đến đời sống kinh tế, xã hội, văn hóa, lịch sử, du lịch, an ninh, quốc phòng, môi trường sinh thái, bảo tồn đa dạng sinh học cùng nhiều giá trị khác của địa phương cũng như khu vực Đồng bằng sông Cửu Long
Công tác quản lý Nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng, thực thi pháp luật bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn tỉnh Cà Mau bên cạnh những thành tựu, kết quả đạt được nhưng đồng thời vẫn còn nhiều vấn đề bất cập đang đặt ra cần phải giải quyết Diện tích rừng tràm, rừng đước ngày càng bị thu hẹp, cháy rừng thường xuyên xảy ra, cư dân được Nhà nước giao khoán rừng thực hiện trồng rừng mới sau khai thác không đúng quy định, lấn chiếm đất rừng sản xuất, cư dân tự ý khai thác, lợi dụng việc bảo vệ rừng để vào rừng khai thác các lâm sản, tình trạng ô nhiễm môi trường, mất cân bằng sinh thái, đời sống cư dân sống trên vùng đất rừng còn rất nhiều khó khăn, không yên tâm chăm lo sản xuất, bảo vệ và phát triển rừng, đặc biệt
hệ thống pháp luật, nhất là văn bản pháp quy còn chồng chéo, mâu thuẫn, khó áp dụng… đang diễn ra mạnh mẽ Tình hình này có nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân cơ bản do thực thi pháp luật về hoạt động quản lý bảo vệ rừng chưa
Trang 10được đồng bộ, chưa theo kịp tốc độ phát triển xã hội, vẫn còn có nhiều bất cập trên nhiều mặt, đòi hỏi phải giải quyết Bên cạnh đó, pháp luật về bảo vệ rừng hiện nay còn khá nhiều những bất cập, khiếm khuyết tác động không nhỏ đến hoạt động quản
lý và bảo vệ rừng Do vậy, cần phải tiến hành phân tích, đánh giá một cách có hệ thống nhằm hình thành những kiến nghị, hoàn thiện trong thời gian tới
Với những lý do trên mà tôi chọn đề tài: “Pháp luật về bảo vệ rừng qua thực
tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh Cà Mau” để nghiên cứu làm luận văn cao học
chuyên ngành kinh tế luật của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Cùng với hoàn thiện pháp luật trên lĩnh vực lâm nghiệp, hoàn thiện pháp luật
về bảo vệ và phát triển rừng, …là một lĩnh vực quan trọng trong hoạt động quản lý nhà nước Vì vậy mà đã có nhiều công trình nghiên cứu về lĩnh vực này như: Định hướng bổ sung Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam do Viện Quản lý rừng bền vững và Chứng chỉ rừng (SFMI) thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (Dự án Jica vào năm 2009 – 2010); Hoàn thiện về quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng ở Việt Nam hiện nay của tác giả: Nguyễn Thanh Huyền - năm 2012 Nhìn chung các công trình nghiên cứu mang tính bao quát trên bình diện lý luận, thực tiễn chung của đất nước Các công trình đó đã có đóng góp nhiều giá trị, giải quyết nhiều vấn đề đời sống xã hội đặt ra, nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về pháp luật bảo vệ rừng áp dụng qua thực tiễn trong một không gian đặc thù và thời gian cụ thể ở nước ta
M c đích và nhi v của luận văn
- Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở nghiên cứu một cách có hệ thống, có căn
cứ khoa học lý luận cũng như phân tích các khái niệm về rừng, đặc biệt rừng, những vấn đề cơ bản về pháp luật bảo vệ rừng nhằm đánh giá thực trạng pháp luật về bảo
vệ rừng áp dụng trên địa bàn tỉnh Cà Mau trong thời gian qua, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo vệ rừng của nước ta trong thời gian tới
- Nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt được mục đích trên, Luận văn phải giải quyết các nhiệm vụ cụ thể sau:
Trang 11+ Hệ thống thống hóa được cơ sở lý luận về rừng, bảo vệ rừng, những nội dung cơ bản về pháp luật bảo vệ rừng, vai trò của pháp luật bảo vệ rừng
+ Đánh giá thực trạng về pháp luật bảo vệ rừng qua thực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh Cà Mau trong thời gian qua
+ Đề xuất kiến nghị, những giải pháp có căn cứ lý luận và thực tiễn mang tính khả thi để hoàn thiện pháp luật về bảo vệ rừng trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạ vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các quy định pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng trên bình diện chung và thực tiễn trên địa bàn tỉnh Cà Mau
- Phạm vi nghiên cứu, khảo sát thực tiễn của Luận văn được tiến hành trong không gian trên địa bàn tỉnh Cà Mau và thời gian từ năm 2004 đến năm 2016
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Luận văn được tiến hành nghiên cứu dựa trên cơ sở khoa học chủ yếu của Chủ nghĩa Mác-Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, quy định của Nhà nước về rừng và bảo vệ rừng, những tri thức, tư tưởng tiến bộ phù hợp thực tiễn công tác bảo vệ rừng ở nước ta
- Quá trình thực hiện Luận văn, tác giả sử dụng phương pháp duy vật biện chứng của Chủ nghĩa Mác-Lênin làm phương pháp chung, định hướng cho quá trình nghiên cứu Đồng thời kết hợp chặt chẽ giữa các phương pháp với nhau, như phương pháp phân tích hệ thống kết hợp với phương pháp nghiên cứu lịch sử, phương pháp phân tích tổng hợp với phương pháp so sánh…Ngoài ra, tùy từng vấn
đề nghiên cứu mà tác giả sử dụng một số phương pháp thích hợp, như phương pháp
dự báo, thống kê, phương pháp tổng kết, đánh giá thực tiễn, phương pháp nghiên cứu tài liệu và phương pháp phỏng vấn…
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được chia làm 02 chương như sau:
Chương 1 Lý luận chung về bảo v rừng và pháp luật bảo v rừng
Trang 12Chương 2 Thực trạng pháp luật về bảo v rừng qua thực tiễn áp d ng trên địa bàn tỉnh Cà Mau và kiến nghị hoàn thi n
Trang 13CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO VỆ RỪNG
VÀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ RỪNG 1.1 Tổng quan về bảo v rừng
1.1.1 Khái ni rừng
Mọi giai đoạn lịch sử loài người luôn gắn bó với điều kiện thiên nhiên và trải qua những giai đoạn phát triển khác nhau có những thay đổi về nhận thức thiên nhiên, trong đó có nhận thức về rừng Tùy mục tiêu nghiên cứu, giới hạn nhận thức, góc độ và phương pháp xem xét mà người ta có những quan niệm về rừng khác nhau và trong từng giai đoạn khác nhau
Cùng với sự ra đời của sinh thái học, các khái niệm về rừng và khoa học rừng dần dần được sáng tỏ Rừng đã có lịch sử phát triển lâu dài nhưng những hiểu biết
về rừng chỉ mới được nhận thức thật sự từ thế kỷ XIX Theo quan điểm học thuyết
về hệ sinh thái, rừng được xem như là hệ sinh thái điển hình trong sinh quyển Mặt khác học thuyết về rừng thì rừng được coi là một sinh địa quần lạc
Hai học thuyết trên không khác nhau về bản chất, nhưng mỗi học thuyết nhấn mạnh về một khía cạnh đặc trưng riêng của rừng Cả hai học thuyết đều sử dụng các nguyên lý cơ bản của sinh thái học khi nghiên cứu một đơn vị tự nhiên trong sinh quyển Chúng đều được thừa nhận và sử dụng trong khoa học nghiên cứu về rừng Vili (1957) đã dịch ra khái niệm hệ sinh thái là một đơn vị tự nhiên bao gồm các yếu tố sống và không sống, giữa chúng có sự trao đổi vật chất và năng lượng tạo nên một hệ thống ổn định Còn quần lạc sinh địa rừng được hiểu là một khoảng rừng nhất định có sự đồng nhất về các yếu tố cấu thành cấu trúc và đặc tính của các thành phần hợp thành Nghĩa là đồng nhất về thảm thực vật, thế giới động vật, thế giới vi sinh vật, các điều kiện về khí hậu, đất đai Trong đó có sự đồng nhất về các quá trình tác động qua lại lẫn nhau, có cùng một kiểu trao đổi vật chất và năng lượng giữa các hợp phần trong quần lạc và với môi trường
Thuật ngữ “rừng” thường chỉ cho chúng ta có sự hình dung miêu tả hoặc đưa
ra tính khái quát đều thấy đến nhiều loài động vật, thực vật, vi sinh vật sinh sống
Trang 14trong một môi trường thiên nhiên, giữa chúng thường có những loài động vật, thực vật, vi sinh vật cùng tồn tại và có loài chiếm ưu thế hơn, chúng luôn ảnh hưởng lẫn nhau và tác động đến môi trường Loài thực vật là thành tố cơ bản của rừng, chúng vốn có tính năng điều hòa môi trường sinh thái
Năm 1912, nhà khoa học người Nga là G.F.Morodop đã xây dựng và công bố học thuyết về rừng Trong học thuyết này, ông đã chỉ ra khái niệm về rừng, là “một tổng thể cây gỗ, có mối liên hệ lẫn nhau, nó chiếm một phạm vi không gian nhất định ở mặt đất và trong khí quyển, nó chiếm phần lớn bề mặt trái đất và là một bộ phận của cảnh quan địa lý”1
Năm 1974, Hội nghị các nhà khoa học Liên Xô đã thống nhất đưa ra định nghĩa về rừng, đó là “một bộ phận cảnh quan địa lý, trong đó bao gồm một tổng thể các cây gỗ, cây bụi, cây cỏ, động vật và vi sinh vật, trong quá trình phát triển, chúng
có mối quan hệ sinh học, ảnh hưởng lẫn nhau và với hoàn cảnh bên ngoài”2
Theo Từ điển Bách khoa toàn thư nước ta chỉ ra, rừng là “quần xã sinh vật, trong đó cây rừng là thành phần chủ yếu, quần xã sinh vật phải có diện tích đủ lớn, giữa quần xã sinh vật và môi trường, các thành phần trong quần xã sinh vật phải có mối quan hệ mật thiết để đảm bảo sự khác biệt giữa hoàn cảnh rừng và các hoàn cảnh khác”3
Khái niệm về rừng được đưa ra ngắn gọn hơn Rừng là chỗ cây cối mọc mênh mông sầm uất4 Rừng là nơi có nhiều cây cối mọc chi chít, nơi động vật sống
tự nhiên hoang dã5
Từ năm 2004 đến nay, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng đã được Quốc hội thông qua vào ngày 03 tháng 12 năm 2004 (sau đây gọi là Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004), theo đó khái niệm rừng được hiểu thống nhất như sau: Rừng là một hệ sinh thái bao gồm quần thể thực vật rừng, động vật rừng, vi sinh vật rừng,
Trang 15đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đó cây gỗ, tre nứa hoặc hệ thực vật đặc trưng là thành phần chính có độ che phủ của tán rừng từ 0,1 trở lên Rừng gồm rừng trồng và rừng tự nhiên trên đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc
dụng Độ che phủ của tán rừng là mức độ che kín của tán cây rừng đối với đất rừng,
được biểu thị bằng tỷ lệ phần mười giữa diện tích đất rừng bị tán cây rừng che bóng
và diện tích đất rừng6
Kế thừa những khái niệm trên và dựa vào quan điểm quản lý rừng bền vững,
Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đưa ra khái niệm về rừng như sau: Rừng
là nơi cung cấp gỗ và các lâm sản khác, là một nhân tố phát triển ở dạng giá trị tiềm năng tổng hợp và có nhiều chức năng7
Với cách tiếp cận trên, dễ thấy rừng có nhiều loại cây gỗ, nhiều lâm sản khác như động vật, vi sinh vật rừng thích ứng với loài cây gỗ chiếm ưu thế trong môi trường cây gỗ tồn tại, phát triển; rừng là một nhân tố phát triển ở dạng giá trị tiềm năng tổng hợp thể hiện ở chỗ, rừng là sản phẩm, là tư liệu sản xuất và cũng là sự thống nhất giữa sản phẩm và tư liệu sản xuất, giá trị tiềm năng tổng hợp có cả kinh tế-xã hội, có giá trị sử dụng tổng hợp, giá trị sử dụng của nó gồm giá trị sử dụng của các lâm sản, dịch vụ và khả năng tái sản xuất ra những sản phẩm này; và rừng có nhiều chức năng thể hiện ở chỗ, chức năng kinh tế, chức năng phòng hộ môi trường, chức năng du lịch, chức năng môi sinh và chức năng bảo vệ đa dạng sinh học
Tiếp cận trên, cho thấy trên địa bàn tỉnh Cà Mau có hai loại rừng chiếm ưu thế chủ yếu và tương ứng với hệ sinh thái nước ngọt là rừng tràm, hệ sinh thái nước mặn là rừng đước Hai loại rừng này là một bộ phận, một dạng của rừng nói chung,
nó là nơi sản xuất gỗ tràm, gỗ đước và các lâm sản tồn tại, phù hợp, thích ứng cùng phát triển, tồn tại với gỗ tràm, gỗ đước là một nhân tố phát triển ở dạng giá trị tiềm năng tổng hợp và có nhiều chức năng của rừng, đồng thời nó có những giá trị và chức năng đặc thù so với các loại rừng khác
rừng bền vững, NXB Nông nghiệp, Hà Nội
Trang 161.1.2 Đặc điể của rừng
Từ những khái niệm về rừng đã trình bày trên cho thấy xét tổng quan, rừng
có những đặc điểm chung như sau:
Một là, rừng là một thể tổng hợp và phức tạp, có mối quan hệ qua lại giữa
các cá thể trong quần thể, giữa các quần thể trong quần xã và có sự thống nhất giữa chúng với điều kiện tự nhiên trong tổng hợp đó Quần thể ở đây không chỉ là một nhóm thực vật mà cả động vật và nhiều loài động thực vật cùng tồn tại và tác động qua lại trong môi trường tự nhiên nhất định Chẳng hạn trong quần thể cây tràm, không chỉ có nhiều loài cá, rắn, rùa… mà còn có nhiều loài dây leo khác, như dây choại, rau mơ, bồn bồn, sậy…
Hai là, luôn có sự cân bằng động (hiểu theo nghĩa rừng có sự sinh trưởng,
phát triển cân đối các yếu tố cấu thành), rừng có tính ổn định, tự điều hòa và tự phục hồi để chống lại những biến đổi của hoàn cảnh và những biến đổi về số lượng sinh vật Những khả năng này được hình thành do kết quả của sự tiến hóa lâu dài và kết quả của sự chọn lọc tự nhiên của tất cả các thành phần rừng Tính cân bằng động có thể thấy như, trong hệ sinh thái nước ngọt rừng tràm, vào mùa hạn, nhiều loài dây leo kết thúc chu kì sinh trưởng và chúng cho ra những hạt, bông, nhánh… để sinh sản khi điều kiện thuận lợi thích nghi, như rau đắng đất, rau đắn biển,…khi mùa mưa đến chúng tiếp tục sinh sôi và phát triển
Ba là, rừng có khả năng tự phục hồi và trao đổi Rừng có sự cân bằng đặc
biệt về sự trao đổi năng lượng và vật chất, luôn tồn tại quá trình tuần hoàn sinh vật, trao đổi vật chất năng lượng, đồng thời nó thải ra khỏi hệ sinh thái các chất và bổ sung thêm vào đó một số chất từ các hệ sinh thái khác Nhờ đặc điểm này mà rừng
có vai trò cân bằng môi trường sinh thái Chẵn hạn, như cây xanh hấp thụ khí Cacbon đioxit (CO2) và qua quá trình quang hợp tạo ra khí Oxy (O2)… từ đó góp phần làm trong lành môi trường
Bốn là, sự vận động của rừng nằm trong các tác động tương hỗ phức tạp dẫn
tới sự ổn định bền vững của hệ sinh thái Theo đó, rừng có phân bố địa lý Trong hệ sinh thái nước ngập mặn có nhiều loại cây rừng như đước, mấm,…tương ứng với
Trang 17chúng là những loại động vật, vi sinh vật thích nghi như cá kèo, cua, ba khía; trong khi đó trong hệ sinh thái nước ngọt có nhiều loại cây rừng thích nghi như, tràm, cây bình bát, sậy, ráng, dây choại… gắn với loài cây này là nhiều loài thủy sinh, như kì
đà, nhím,…Rõ ràng, rừng có tính vận động trong sự chịu tác động tổng hợp của các yếu tố và đi đến sự cân bằng và phân bố địa lý
1.1 Phân loại rừng
Tùy theo đặc điểm từng nhóm đối tượng mà pháp luật đưa ra những chế tài khác nhau, theo đó có những cách phân loại đối tượng theo cách tiếp cận nhất định Trong hoạt động quản lý nói chung, hoạt động quản lý nhà nước nói riêng đều cho thấy, khi đối tượng của quản lý thay đổi thì chủ thể cũng phải cần thay đổi để đạt mục tiêu theo định hướng chủ thể, mỗi đối tượng đều có những tính chất, đặc thù riêng của nó Đối tượng của rừng rất rộng lớn, để bảo vệ, quản lý, phát triển, cũng như tiến hành nghiên cứu, hoạt động kinh doanh rừng theo hướng ổn định bền vững cần phải phân loại rừng thành những đơn vị cơ bản có những đặc điểm tự nhiên giống nhau, những đơn vị cơ bản đó chính là các loại rừng Cho nên việc phân loại rừng là rất cần thiết để bảo vệ nó, việc phân loại xem xét theo những phương diện, tính chất và mục đích khác nhau, sẽ cho chúng ta những loại rừng tương ứng với sự xem xét đó Theo điều 4, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004, nước ta có cách phân loại rừng như sau:
- Căn cứ vào mục đích sử dụng chủ yếu, rừng được phân thành ba loại sau đây:
+ Rừng phòng hộ: Được sử dụng chủ yếu để bảo vệ nguồn nước, bảo vệ đất, chống xói mòn, chống sa mạc hóa, hạn chế thiên tai, điều hoà khí hậu, góp phần bảo
vệ môi trường, bao gồm: Rừng phòng hộ đầu nguồn; rừng phòng hộ chắn gió, chắn cát bay; rừng phòng hộ chắn sóng, lấn biển; rừng phòng hộ bảo vệ môi trường + Rừng đặc dụng: Được sử dụng chủ yếu để bảo tồn thiên nhiên, mẫu chuẩn
hệ sinh thái rừng của quốc gia, nguồn gen sinh vật rừng; nghiên cứu khoa học; bảo
vệ di tích lịch sử, văn hoá, danh lam thắng cảnh; phục vụ nghỉ ngơi, du lịch, kết hợp phòng hộ, góp phần bảo vệ môi trường, bao gồm: Vườn quốc gia; khu bảo tồn thiên
Trang 18nhiên, gồm khu dự trữ thiên nhiên, khu bảo tồn loài-sinh cảnh; khu bảo vệ cảnh quan, gồm khu rừng di tích lịch sử, văn hoá, danh lam thắng cảnh; khu rừng nghiên cứu, thực nghiệm khoa học
+ Rừng sản xuất: Được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh gỗ, lâm sản ngoài gỗ và kết hợp phòng hộ, góp phần bảo vệ môi trường, bao gồm: Rừng sản xuất là rừng tự nhiên; rừng sản xuất là rừng trồng; rừng giống, gồm rừng trồng và rừng tự nhiên qua bình tuyển, công nhận
Theo Thông tư số 34/2009/TT-BNNPTNT, ngày 10 tháng 6 năm 2009 do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành về quy định tiêu chí xác định và phân loại rừng (sau đây gọi là thông tư 34/2009/TT-BNNPTNT) đã hướng dẫn phân loại rừng cụ thể hơn so với Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004, đó là:
- Phân loại rừng theo nguồn gốc hình thành, gồm có:
+ Rừng tự nhiên: Là rừng có sẵn trong tự nhiên hoặc phục hồi bằng tái sinh tự nhiên Rừng nguyên sinh là rừng chưa hoặc ít bị tác động bởi con người, thiên tai; cấu trúc của rừng còn tương đối ổn định Rừng thứ sinh là rừng đã bị tác động bởi con người hoặc thiên tai tới mức làm cấu trúc rừng bị thay đổi, gồm rừng phục hồi
là rừng được hình thành bằng tái sinh tự nhiên trên đất đã mất rừng do nương rẫy, cháy rừng hoặc khai thác kiệt; rừng sau khai thác là rừng đã qua khai thác gỗ hoặc các loại lâm sản khác
+ Rừng trồng: Là rừng được hình thành do con người trồng, gồm rừng trồng mới trên đất chưa có rừng; rừng trồng lại sau khi khai thác rừng trồng đã có; rừng tái sinh tự nhiên từ rừng trồng đã khai thác
Theo thời gian sinh trưởng, rừng trồng được phân theo cấp tuổi, tùy từng loại cây trồng, khoảng thời gian quy định cho mỗi cấp tuổi khác nhau
- Phân loại rừng theo điều kiện lập địa, bao gồm:
+ Rừng núi đất: Là rừng phát triển trên các đồi, núi đất
+ Rừng núi đá: Là rừng phát triển trên núi đá hoặc trên những diện tích đá lộ đầu không có hoặc có rất ít đất trên bề mặt
Trang 19+ Rừng ngập nước: Là rừng phát triển trên các diện tích thường xuyên ngập nước hoặc định kỳ ngập nước, gồm rừng ngập mặn là rừng phát triển ven bờ biển
và các cửa sông lớn có nước triều mặn ngập thường xuyên hoặc định kỳ; rừng trên đất phèn là rừng phát triển trên đất phèn, đặc trưng là rừng tràm ở Nam Bộ; rừng ngập nước ngọt là rừng phát triển ở nơi có nước ngọt ngập thường xuyên hoặc định kỳ; rừng trên đất cát là rừng trên các cồn cát, bãi cát
- Phân loại rừng theo loài cây, bao gồm:
+ Rừng gỗ: Là rừng bao gồm chủ yếu các loài cây thân gỗ, gồm rừng cây lá rộng là rừng có cây lá rộng chiếm trên 75% số cây; rừng lá rộng thường xanh là rừng xanh quanh năm; rừng lá rộng rụng lá là rừng có các loài cây rụng lá toàn bộ theo mùa chiếm 75% số cây trở lên; rừng lá rộng nửa rụng lá là rừng có các loài cây thường xanh và cây rụng lá theo mùa với tỷ lệ hỗn giao theo số cây mỗi loại từ 25% đến 75% Rừng cây lá kim là rừng có cây lá kim chiếm trên 75% số cây Rừng hỗn giao cây lá rộng và cây lá kim là rừng có tỷ lệ hỗn giao theo số cây của mỗi loại từ 25% đến 75%
+ Rừng tre nứa: Là rừng chủ yếu gồm các loài cây thuộc họ tre nứa, như: tre, mai, diễn, nứa, luồng, vầu, lô ô, le, mạy san, hóp, lùng, bương, giang, …
+ Rừng cau dừa: Là rừng có thành phần chính là các loại cau dừa
+ Rừng hỗn giao gỗ và tre nứa, gồm rừng hỗn giao gỗ-tre nứa là rừng có cây
gỗ chiếm hơn 50% độ tàn che; rừng hỗn giao tre nứa-gỗ là rừng có cây tre nứa chiếm hơn 50% độ tàn che
- Phân loại rừng theo trữ lượng, bao gồm:
+ Đối với rừng gỗ: Gồm rừng rất giàu là trữ lượng cây đứng trên 300 m3
/ha; rừng giàu là trữ lượng cây đứng từ 201 đến 300 m3/ha; rừng trung bình là trữ lượng cây đứng từ 101 đến 200 m3
/ha; rừng nghèo là trữ lượng cây đứng từ 10 đến 100
m3/ha; rừng chưa có trữ lượng là rừng gỗ đường kính bình quân nhỏ hơn 8 cm, trữ lượng cây đứng dưới 10 m3/ha
Trang 20+ Đối với rừng tre nứa, gồm rừng được phân theo loài cây, cấp đường kính và cấp mật độ8
Cách phân loại rừng trên theo văn bản quy phạm pháp luật nước ta, có sự khác nhau ở những thời điểm nhất định và khác với một số nước khu vực9 Sự phân loại
đó mang tính tương đối, xét trong phương diện này thì một loại rừng nhất định thuộc dạng rừng này và trong phương diện khác nó cũng thuộc dạng rừng khác Điều đó cho thấy trong hoạt động quản lý, bảo vệ rừng luôn cần sự kết hợp tính tương đồng và thấy sự khác biệt giữa các dạng rừng với nhau, để từ đó có biện pháp quản lý, bảo vệ, phát triển chúng cho thích hợp
Rừng tràm, rừng đước là một dạng rừng ngập nước thích ứng chủ yếu ở vùng Nam Bộ có đất nhiễm phèn, đất ngập nước mặn, nhất là khu vực Đồng bằng sông Cửu Long Xét theo cách phân loại rừng của Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm
2004, rừng tràm, rừng đước vừa là rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, rừng sản xuất, chúng cũng đồng thời có rừng tự nhiên và rừng nhân tạo Trong điều kiện thổ nhưỡng của tỉnh Cà Mau, hai loại rừng này chiếm ưu thế cơ bản nhất của tỉnh, rừng đước thích nghi vùng đất ngập nước mặn, rừng tràm thích nghi vùng đất ngập nước nhiễm phèn, đất ngập úng, đất than bùn, nước ngọt, nước lợ
1.1.4 Vai trò của rừng
Vấn đề cân bằng hệ sinh thái luôn là mục tiêu quan tâm của mọi quốc gia, trở thành vấn đề toàn cầu và ngày càng cấp thiết, sự tồn tại và phát triển bền vững con người không thể diễn ra đâu khác ngoài môi trường sinh thái Trong cân bằng môi trường sinh thái, từ những đặc điểm của rừng cho thấy, rừng có chức năng là hạt nhân giữ sự cân bằng này, có vai trò không chỉ trong kiến tạo cân bằng môi trường
từ nhiên mà cả trong lĩnh vực xã hội, kinh tế, văn hóa, khoa học… Rõ ràng, loài người tồn tại và phát triển được luôn gắn liền với môi trường sống của mình, có sự
Luận văn Thạc sỹ hành chính công, Học viện hành chính Quốc Gia (National Academy of Public Administration)
Trang 21ảnh hưởng tương tác mạnh mẽ với nhau Thực tiễn chỉ ra, con người sống, tồn tại và phát triển được không thể thoát khỏi môi trường sống có rừng Xem xét khía cạnh vai trò của rừng đối với sự phát triển cuộc sống con người, chính là tập trung vào tầm quan trọng của rừng đối với sự phát triển Theo các nhà Mácxít, sự phát triển của xã hội loài người phải luôn gắn liền với bảo vệ môi trường sinh thái, rừng là thành tố cơ bản của môi trường sinh thái Bác Hồ đã chỉ rõ vai trò đặc biệt quý báu của rừng, rừng là vàng, nếu con người biết bảo vệ, sử dụng thì rừng rất quý Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng nước ta được Nhà nước ban hành cũng thể hiện tầm quan trọng của nó đối với sự phát triển kinh tế-xã hội Xét tổng thể trên cơ sở nhận thức về rừng, có thể thấy rừng có vai trò trực tiếp và tiềm năng to lớn đối với sự phát triển kinh tế-xã hội và với chính môi trường sinh thái Tác giả xin nêu một số vai trò cơ bản của rừng được thể hiện trên các phương diện sau:
1.1.4.1 Vai trò kinh tế
Rừng cung cấp lâm sản là gỗ và lâm sản ngoài gỗ, cung cấp dược liệu cho con người, thông qua rừng mà nhân dân tiến hành hoạt động kinh doanh, sản xuất đem lại thu nhập, cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp, bảo tồn nguồn gien giống loài động vật, thực vật và vi sinh vật Rừng chiếm tỷ trọng GDP cao trong nền kinh tế quốc dân nước ta10, nhất là trong điều kiện nước ta có nền kinh tế chưa phát triển cao khoa học, công nghệ, cơ cấu kinh tế nông, lâm, ngư nghiệp là thế mạnh của nền kinh tế Giá trị nông-lâm-ngư nghiệp chiếm tỷ trọng trên 20% GDP nền kinh tế quôc dân trong chiến lược phát triển kinh tế
Lâm sản gỗ của rừng có vị trí quan trọng trong phát triển kinh tế Trong điều kiện nước ta đang đẩy mạnh công nghiệp hóa thì nó là nguồn nguyên liệu cơ bản, vật liệu phục vụ cho xây dựng Động vật, thực vật rừng là đặc sản phục vụ nhu cầu tiêu dùng của nhân dân Rừng còn là nơi cung cấp dược liệu quý, cung cấp lương thực làm nguồn nguyên liệu chế biến thực phẩm phục vụ cho nhu cầu chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe, cải thiện đời sống nhân dân
Trang 22
Theo Đề án bảo tồn và phát triển lâm sản ngoài gỗ giai đoạn 2006 – 2020 của
Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn năm 2006, giá trị lâm sản ngoài gỗ xuất khẩu năm 2006 được 154 triệu USD, năm 2008 được 200 triệu USD và được 300 triệu USD vào năm 2010, dự kiến được 600 triệu USD vào năm 2015 Giá trị lâm sản ngoài gỗ cho tiêu dùng nội địa ước bằng 50% giá trị xuất khẩu của lâm sản ngoài gỗ11
Điều kiện địa lý nước ta tương đối thuận lợi, thích ứng với nhiều loài động vật, thực vật và vi sinh vật Có bờ biển dài, đồi núi cao thấp, địa hình, khí hậu, đất đai khác nhau, mực nước biển chênh lệch so với đỉnh núi cao nhất 3.000 m Điều này nói lên tính đa dạng sinh học rừng của nước ta, tính giá trị kinh tế của nó hơn hẳn các nước khu vực Thực vật rừng có khoảng 12.000 loài, có được 10.500 loài được miêu tả, có 10% loài đặc hữu, 800 loài rêu, 600 loài nấm…khoảng 2.300 loài cây có mạch đã được dùng làm lương thực, thực phẩm, thức ăn Về cây gỗ có 41 loài gỗ quý (nhóm 1), 20 loài gỗ bầu chắc (nhóm 2), 24 loài gỗ đồ mộc và xây dựng (nhóm 3), ngoài ra còn khoảng 25 loài tre, trúc…Dược liệu có khoảng 1.500 loài, 75% là cây hoang dại, như cây tô hạp (Altingia sp), cây gió bầu (Aguilaria)… Động vật có 774 loài chim, 273 loài thú, 180 loài bò sát, 80 loài lưỡng cư, 475 loài
cá nước ngọt, 1.650 loài cá rừng gập mặn và cá biển12
1.1.4.2 Vai trò xã hội
Tỷ lệ hộ nghèo nước ta còn cao, phần lớn hộ nghèo tập trung ở nông thôn, nơi
sản xuất nông-lâm-ngư nghiệp Tỷ trọng lao động nông-lâm-thuỷ sản năm 2015
chiếm 40-41% lao động xã hội13 Đời sống của nhân dân nơi đây dựa vào tự nhiên
là chủ yếu, trong đó có thu nhập cuộc sống phụ thuộc vào khai thác rừng Rừng đem lại thu nhập cho người nghèo, nó gắn bó với công tác xóa đói giảm nghèo Bao đời nay, nghề rừng đã được hình thành và trở thành nghề chính của nông dân có rừng,
2006 – 2020,
XIV, tr.22
Trang 23sống ven rừng Thực hiện chủ trương của nhà nước về quy hoạch rừng, chuyển dịch
cơ cấu kinh tế, quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội nói chung đã tác động mạnh mẽ đến chính sách an sinh xã hội, trong đó có tác động mạnh đến nhân dân sống dựa vào thu nhập nghề rừng14
Vai trò của rừng đối với xã hội không chỉ giải quyết việc làm, đem thu nhập cho người nghèo, cận nghèo, người có rừng, sống ven rừng mà còn tạo việc làm lao động cho đơn vị kinh tế tham gia vào hoạt động sản xuất, kinh doanh lâm nghiệp Theo Kế hoạch hành động bảo tồn và phát triển lâm sản ngoài gỗ giai đoạn 2007-
2010 ngày 07 tháng 8 năm 2007 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, nước
ta có 88 doanh nghiệp chế biến tre, trúc; 40 công ty chế biến mây, song; 713 hợp tác
xã, làng nghề mây tre đan với số lao động 342.000 người, chiếm 25,4 % tổng số thợ thủ công Hiện có 115 doanh nghiệp nhà nước, 10 công ty cổ phần, 36 công ty trách nhiệm hữu hạn, 170 doanh nghiệp tư nhân sản xuất thuốc chữa bệnh chủ yếu là thuốc từ cây dược liệu Ngoài ra, cả nước có 05 nhà máy chế biến nhựa thông, năng lực chế biến nhựa thông là 15.000 tấn nhựa/năm, đã hình thành một số doanh nghiệp chuyên chiết xuất các sản phẩm hoá chất có nguồn gốc tự nhiên và các loại tinh dầu có nguồn gốc thực vật15
số chính sách tăng cường công tác bảo vệ rừng (sau đây gọi là Quyết định số 07/2012/QĐ-TTg)
gỗ giai đoạn 2007 – 2010
Trang 24Rừng có vai trò ảnh hưởng đến gió, là vật cản trên đường vận chuyển của gió,
nó vừa ảnh hưởng đến vận tốc của gió (xem Bảng 1.5) và vừa làm thay đổi hướng gió, và từ đó làm thay đổi các nhân tố khác của hoàn cảnh sinh thái, đồng thời rừng giảm âm thanh16 Ví dụ như một dải cây rộng 50 m ở cạnh đường giao thông có khả năng làm giảm tiếng ồn 20 đến 30 dB Khả năng làm giảm tiếng ồn cũng phụ thuộc
vào cấu trúc rừng
Bảng 1.1: Ảnh hưởng của rừng đến tốc độ gió
Nguồn: theo Nestero
Không chỉ điều hòa khí hậu, giảm tốc độ và thay đổi hướng gió, giảm âm thanh mà rừng còn có vai trò to lớn đối với giữ độ phì nhiêu, màu mở và chóng xói mòn cho đất
Ở những nơi có đủ rừng thì dòng chảy được ngăn chặn, ngăn chặn được nạn bào mòn, nhất là trên đồi núi dốc nên lớp đất mặt không bị mỏng, bị bào mòn, mọi đặc tính lý hóa và vi sinh vật học của đất không bị phá hủy, độ phì nhiêu đất được duy trì
Rừng lại liên tục tạo ra chất hữu cơ Điều này thể hiện ở quy luật phổ biến, rừng tốt tạo ra đất tốt và đất tốt nuôi lại rừng tốt Nếu rừng bị phá hủy, đất bị xói mòn, quá trình đất mất mùn và thoái hóa dễ xảy ra rất nhanh chóng Ước tính ở nơi rừng bị phá hoang trơ đất trống mỗi năm bị rửa trôi mất khoảng 10 tấn mùn/ha17
Đồng thời quá trình tích tụ sắt, nhôm, hình thành kết von, hóa đá ong lại tăng cường
Hành chính công, Học viện Hành chính Quốc gia, tr.19
Cự ly cách bia lửng
(m)
117 81 3 0 0 64 170 256 470
Tốc độ gió (%) 100 82 98 85 23 28 30 l98 100
Trang 25lên, làm cho đất mất tính chất hóa lý, mất vi sinh vật, không giữ được nước, dễ bị khô hạn, thiếu chất dinh dưỡng, trở nên rất chua, kết cứng lại, đi đến cằn cỗi, trơ sỏi
đá Thể hiện một quy luật khá phổ biến, đối lập với quy luật trên, tức là rừng mất thì đất kiệt và đất kiệt thì rừng cũng bị suy vong
Rừng còn có vai trò điều hòa nguồn nước, giảm dòng chảy bề mặt đất và chuyển nước bề mặt vào lượng nước ngấm xuống đất và vào tầng nước ngầm Khắc phục được xói mòn đất, hạn chế lắng đọng lòng sông, lòng hồ, điều hòa được dòng
chảy của các con sông, con suối (tăng lượng nước sông, nước suối vào mùa khô,
giảm lượng nước sông suối vào mùa mưa), rừng chống cát di động ven biển, che
chở cho vùng đất bên trong nội địa, bảo vệ đê biển, cải hóa vùng chua phèn Rừng còn giữ vai trò bảo tồn đa dạng sinh học cả động vật, thực vật và vi sinh vật
Nước ta có rừng rất phong phú bởi đặc trưng về khí hậu, địa hình, đất đai Có gió mùa đông nam thổi tới, gió lạnh đông bắc tràn về, gió từ cao nguyên Tây Tạng
và sườn Đông dãy Hymalaya, gió tây nam từ Ấn Độ Dương đi qua, điều này đem các loại hạt giống của các loài cây di cư đến nước ta Vì vậy, thảm thực vật nước ta rất phong phú, một số loài động vật, thực vật và vi sinh vật trở nên hiếm có và phong phú
Với đặc điểm sông ngoài, rừng nước ta đã hình thành nên các loài động vật, thực vật và vi sinh vật đặc hữu riêng cho từng vùng Có loài chỉ thích ứng sống trong bùn lầy, có loài sống vùng nước mặt,… đồng thời tạo nên các loài rừng đặc trưng chỉ có tại vùng đó Cho nên rừng còn là nguồn dự trữ các gen quý hiếm của động vật, thực vật và vi sinh vật rừng
Rừng góp phần ngăn chặn hiện tượng nước biển dâng cao, do giảm nhiệt độ của mặt trời, bức xạ chiếu xuống bề mặt Trái Đất Vào thời điểm mùa hè, nhiệt độ cao nhất trong ngày 14 giờ, nếu nhiệt độ ở trung tâm đô thị có ít cây xanh 33,60
C, thì nhiệt độ giảm xuống ở các công viên có nhiều cây xanh còn 31,50C, ở nông thôn nhiều cây cói nhiệt độ chỉ còn khoảng 280C-290C Điều này cho thấy rừng còn có vai trò ngăn chặn hiện tượng khí nhà kính18
Trang 26
Rừng giữ vai trò cân bằng sinh thái trên nhiều phương diện, như điều hòa khí hậu, giảm tốc độ, thay đổi hướng gió, giảm âm thanh, giữ gìn độ phì nhiêu của đất, cân bằng nguồn nước, bảo tồn đa dạng sinh học…Đặc biệt rừng góp phần ngăn chặn được hiện tượng khí nhà kính, hiện tượng mang tính toàn cầu khi mà thế giới phải đối mặt với sự biến đổi khí hậu, hiện tượng nước biển dâng cao và sa mạc hóa Không chỉ thể hiện vai trò góp phần giữ cân bằng môi trường sinh thái mà cần thấy rừng góp phần giữ vai trò tái tạo môi trường sinh thái phát triển theo hướng bền vững, vì rừng vốn có khả năng tái tạo nếu môi trường thích ứng và sự tác động của môi trường hợp lý đến nó
1.1.4.4 Vai trò văn hóa, lịch sử, nghiên cứu khoa học và du lịch
Ngay từ buổi bình minh của cuộc sống con người đã gắn bó với rừng, thông qua rừng mà con người khai thác, kiếm sống và tác động qua lại với rừng Từ đó, hình thành nên cách khai thác, bảo vệ rừng, đời sống văn hóa của con người, tương ứng với từng loại rừng mà con người sinh sống nơi đó có đời sống sinh hoạt khác nhau Cho nên nghiên cứu lịch sử, văn hóa con người sinh sống nơi có rừng đảm bảo đúng hiện thực và toàn diện luôn cần nghiên cứu lịch sử của rừng Thực tiễn cho thấy, chính con người gắn bó với rừng đã để lại dấu ấn của con người nơi ấy, hình thành nên dấu ấn lịch sử và giá trị văn hóa
Rừng có vai trò cân bằng môi trường sinh thái, bảo tồn đa dạng sinh học Mỗi loại rừng có những loài đặc trưng thích nghi ưu thế với nó Từ đó mà nghiên cứu khoa học thông qua rừng không chỉ xác định bởi giới hạn về đa dạng sinh học, loài đặc hữu mà còn có cơ sở nghiên cứu về sự thay đổi của giống loài do sự thay đổi về đặc điểm, chủng loại rừng Đó là cơ sở khoa học làm căn cứ đề ra giải pháp bảo tồn giống loài sinh học và nghiên cứu loài đã bị tuyệt chũng, loài có nguy cơ bị tuyệt chũng và loài quý hiếm
Du lịch đem lại thu nhập, công ăn việc làm cho nhân dân tại nơi có rừng và nhân dân xung quanh rừng cũng có thu nhập thông qua hoạt động kinh doanh dịch
vụ những nhu cầu cơ bản của khách tham quan Xã hội càng phát triển, nhu cầu du lịch của con người càng tăng, rừng càng giữ vai trò ngày càng quan trọng qua du
Trang 27lịch, nhất là dạng du lịch sinh thái của rừng-loại hình dựa vào thiên nhiên, văn hóa bản địa, gắn với giáo dục môi trường, từ đó thông qua hoạt động tích cực của cộng đồng mà góp phần vào sự bảo tồn và phát triển rừng bền vững
1.1.4.5 Vai trò về an ninh, quốc phòng
Một trong những đặc điểm sinh học của rừng là rừng có địa hình phức tạp, hiễm trở, phân bố không đồng đều, âm u, phân tầng cao thấp khác nhau Chính đều này rừng tạo nên địa thế cho lực lượng vũ trang có địa bàn xây dựng căn cứ quân
sự, hoạt động tác chiến chống giặc ngoại xâm và huấn luyện quân sự giữ gìn an ninh, trật tự an toàn xã hội, xây dựng và củng cố quốc phòng đảm bảo tính bí mật Thực tiễn lịch sử nước ta cho thấy, trong kháng chiến chống giặc ngoại xâm, rừng trở thành mái nhà nơi gắn bó liền kề với đời sống của bộ đội, che chở bộ đội
và là môi trường cung cấp thức ăn nuôi sống bộ đội
Rừng trở thành căn cứ địa, xây dựng cơ sở cách mạng bảo vệ an ninh, quốc phòng Rừng tràm, rừng đước là một trong những khu căn cứ quan trọng của Trung ương Cục miền Nam trong kháng chiến chống Pháp, Mỹ; rừng Tây Nguyên là mái nhà chung của Đông Dương, chiếm vị trí chiến lược quan trọng lâu dài trên nhiều phương diện, trong đó có xây dựng khu vực phòng thủ an ninh, quốc phòng là một điển hình
1.2 Khái quát về bảo v rừng
1.2.1 Khái ni bảo v rừng
Để nhận thức về bảo vệ rừng, ta cần có sự tiếp cận toàn diện từ nhiều góc độ khác nhau, để từ đó có hướng bảo vệ rừng được chặt chẽ và đúng định hướng Trên cơ sở thực tiễn đất nước, sự tham gia vào công ước quốc tế, hệ thống văn bản của Đảng và Nhà nước ta có thể nêu ra quan điểm và phương hướng chung của bảo vệ và phát triển rừng, bảo vệ và phát triển rừng bền vững Đó là:
- Công tác bảo vệ rừng có trách nhiệm thuộc toàn dân, thuộc mọi cơ quan, đơn
vị, tổ chức các cấp, các ngành, trong đó lực lượng kiểm lâm giữ vai trò nòng cốt
- Bảo vệ chặt chẽ đối với rừng tự nhiên, đặc biệt là rừng đặc dụng và rừng phòng hộ Mở rộng quyền chủ động trong sản xuất kinh doanh và nâng cao trách
Trang 28nhiệm tự bảo vệ đối với rừng sản xuất của chủ rừng Các chủ rừng có diện tích rừng lớn phải có lực lượng bảo vệ rừng chuyên trách
- Kết hợp chặt chẽ, thống nhất bảo vệ rừng với phát triển rừng, đồng thời sử dụng rừng bền vững Duy trì diện tích lâm phần rừng ổn định, chú trọng bảo vệ rừng tận gốc và kiểm soát lâm sản tại nơi chế biến, tiêu thụ và hạn chế kiểm soát trong lưu thông
- Với cách tiếp cận trên, tác giả đưa ra quan niệm bảo vệ rừng theo hướng bền vững là tác động tổng hợp của các chủ thể, nhất là sự kết hợp hành động hoặc không hành động của con người nhằm duy trì sự tồn tại và phát triển rừng theo định hướng của chủ thể Bảo vệ rừng, đôi khi là sự thay đổi giống loài và sự thay đổi đó nhằm đạt mục tiêu của chủ thể quản lý rừng Bảo vệ rừng là hoạt động phức tạp, lâu dài, sử dụng tổng hợp hệ thống các biện pháp, công cụ và gắn liền với hoạt động quản lý nhà nước và thực thi pháp luật
Việc bảo vệ rừng có đặc trưng so với bảo vệ các nguồn tài nguyên khác Bảo
vệ rừng là điều kiện để các nguồn tài nguyên được ổn định, tái tạo, đồng thời giữa chúng có mối quan hệ tương hỗ chặt chẽ với nhau Việc quy định bảo vệ rừng với bảo vệ các nguồn tài nguyên được thực hiện biện pháp theo quy định pháp luật điều
chỉnh
1.2.2 Đặc điể bảo v rừng
Từ cách tiếp cận thuật ngữ bảo vệ rừng, những đặc điểm của rừng, cho thấy rừng có những đặc trưng riêng so với các đối tượng khác, việc bảo vệ rừng là trách nhiệm của toàn dân, các cấp, các ngành, trong đó Kiểm lâm là lực lượng nòng cốt; bảo vệ chặt chẽ đối với rừng tự nhiên, đặc biệt là rừng đặc dụng và rừng phòng hộ,
mở rộng quyền chủ động trong sản xuất kinh doanh và nâng cao trách nhiệm tự bảo
vệ đối với rừng sản xuất của chủ rừng; các chủ rừng có diện tích rừng lớn phải có lực lượng bảo vệ rừng chuyên trách; bảo vệ rừng gắn với phát triển, sử dụng rừng bền vững, duy trì diện tích lâm phần rừng ổn định, chú trọng bảo vệ rừng tận gốc và kiểm soát lâm sản tại nơi chế biến, tiêu thụ, hạn chế kiểm soát trong lưu thông Qua
đó, có thể khái quát bảo vệ rừng có những đặc điểm sau:
Trang 29Một là, sử dụng tổng hợp các biện pháp và có sự thay đổi Rừng là tài sản
quốc gia, tài sản đặc biệt đối với sự tồn tại và phát triển bền vững quốc gia Theo
đó, để duy trì sự tồn tại và phát triển của rừng thì chủ thể bảo vệ rừng phải sử dụng tổng hợp các biện pháp Trong điều kiện sức ép về dân số, phát triển công nghiệp chế biến… rừng luôn bị đe dọa về diện tích và sự xâm chiếm, khai thác, kể cả biện pháp khai thác bằng phương tiện cơ giới hiện đại Theo đó, việc bảo vệ rừng không chỉ là kiểm tra, đo lường trữ lượng mà cần kết hợp các biện pháp, từ việc đo quan trắc, dự báo sự sinh trưởng của rừng cho đến khai thác rừng hợp lý, kể cả cung ứng sản phẩm từ rừng ra thị trường Bảo vệ rừng không hoàn toàn trong mọi giai đoạn duy trì tăng sự đa dạng sinh học, trữ lượng rừng mà thúc đẩy rừng để nó thực hiện đầy đủ các chức năng của rừng và phù hợp với mục tiêu chủ thể quản lý Chính đặc điểm này mà các biện pháp bảo vệ rừng có sự thay đổi phù hợp với điều kiện thực
tế phát triển kinh tế - xã hội và mục tiêu chủ thể quản lý
Hai là, Bảo vệ rừng có mục đích duy trì hiện trạng quần xã phù hợp với điều
kiện hệ sinh thái Mỗi loài quần xã, nhất là tính thích ứng của quần xã thực vật (do
chúng không có hệ vận động và hệ thần kinh) kém hơn so với động vật Mỗi hệ sinh
thái thường thuận lợi cho sự thích ứng đối với một số quần xã sinh vật nhất định, từ
đó, tùy từng hệ sinh thái mà chủ thể bảo vệ rừng duy trì từng loại rừng cho phù hợp Chẳng hạn đối với vùng đất Tây Nguyên có cây rừng khác xa với cây rừng vùng Đồng bằng sông Cửu Long nên không thể phát triển cây rừng từ vùng đất này sang
vùng đất khác và ngược lại
Ba là, bảo vệ rừng tương xứng phát triển các mặt đời sống kinh tế - xã hội
Với vị trí quan trọng của rừng trong sự phát triển kinh tế - xã hội, sự bảo vệ rừng nhằm mục tiêu phục vụ con người và phục vụ sự phát triển bền vững Quá trình phát triển bền vững là sự tổng hợp các mặt, từ tự nhiên đến xã hội Rừng vừa góp phần tái tạo sự cân bằng hệ sinh thái, đa dạng sinh học…mà còn giữ vai trò trong tạo môi trường nghiên cứu thực nghiệm khoa học và du lịch…cho nên bảo vệ rừng phù hợp với nhu cầu đời sống xã hội và phục vụ cho sự phát triển nhanh và bền vững Mặt khác, mọi giai đoạn khác nhau, sự phát triển các mặt đời sống xã hội có
Trang 30sự khác nhau và nhu cầu con người cũng khác nhau, trong đó có nhu cầu từ sử dụng sản phẩm của rừng, kéo theo đó, để bảo vệ rừng được tốt trong mọi giai đoạn cần có
sự điều chỉnh để phù hợp với trình độ phát triển tương ứng từng giai đoạn ấy
Bốn là, bảo vệ rừng cần duy trì thường xuyên Rừng liên quan trực tiếp đến
sự phát triển xã hội, gắn với nhu cầu trực tiếp thị trường, quá trình này đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ, từ đó, các yếu tố tác động đến sự xâm chiếm rừng diễn biến ngày càng tinh vi và phức tạp Điều này để rừng được bảo vệ chặt chẽ thì đổi mới phương pháp bảo vệ rừng là tất yếu, một khi đối tượng thay đổi thì biện pháp quản
lý cũng thay đổi19
là nguyên tắc cơ bản trong tổ chức thực thi quản lý Ngày trước thực trạng công cụ lao động chưa phát triển, con người khai thác rừng, chỉ sử dụng chủ yếu là công cụ và cách vận chuyển thô sơ; ngày nay, công cụ hiện đại hơn, cách thức vận chuyển cơ giới, cách bố trí lao động chặt chẽ…con người có khả năng khai thác rừng với diện tích rất lớn trong thời gian ngắn Nếu như chúng ta áp dụng biện pháp bảo vệ rừng như truyền thống thì không thể duy trì bảo vệ rừng tốt được
Năm là, sử dụng công cụ, phương tiện và nguồn lực theo quy định của pháp
luật để bảo vệ rừng Nước ta đang tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, mọi hoạt động đều thực hiện theo pháp luật và tuân theo pháp luật, mọi hoạt động quản lý, bảo vệ, khai thác, vận chuyển, sử dụng, quy hoạch, kiểm kê, trồng rừng mới…đều phải chấp hành nghiêm chỉnh quy định pháp luật, từ sử dụng công cụ, biện pháp cho đến quản lý nguồn lực phục vụ cho bảo vệ rừng Chính đặc điểm này mà trong bảo
vệ rừng, một số trường hợp còn lúng túng, bất cập, do thực trạng pháp luật nước ta còn nhiều vấn đề cần hoàn chỉnh hơn, thậm chí một số trường hợp pháp luật chưa theo kịp với sự phát triển xã hội; nhiều hoạt động bảo vệ rừng tuân thủ pháp luật khó áp dụng hoặc căn cứ chồng chéo, dẫn đến bảo vệ rừng có lúc chưa theo kịp với hành vi vi phạm về bảo vệ và phát triển rừng
Nội, tr.88
Trang 311.2 Các phương thức bảo v rừng
Bảo vệ rừng là hoạt động phức tạp và có đặc trưng riêng so với bảo vệ các loại tài sản khác, rừng vốn có tính vận động trong sự cân bằng tự nhiên và đối tượng chịu sự tác động của con người, con người quyết định đến sự tồn tại và phát triển của rừng Do đó, để rừng được bảo vệ chặt chẽ và duy trì sự phát triển rừng đúng định hướng của chủ thể quản lý, rừng luôn cần được bảo vệ bởi phương thức phù hợp với đặc điểm của rừng Làm sáng tỏ các phương thức bảo vệ rừng có ý nghĩa quan trọng để nâng cao chất lượng bảo vệ rừng, tìm cách thức thực hiện khả thi
Với cách tiếp cận chung của thuật ngữ phương thức, cho thấy, phương thức
bảo vệ rừng là cách thức, biện pháp, quy định… (cách làm) thực hiện để duy trì
trạng thái của rừng theo định hướng mục tiêu của chủ thể quản lý rừng Do đó, có các phương thức cơ bản sau để bảo vệ rừng:
Một là, ban hành và tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật Hệ thống cơ
quan Nhà nước giữ vai trò cầu nối đến tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật, trong khi đó, hệ thống cơ quan Đảng định hướng về chủ trương thông qua Nghị quyết, nhân dân là chủ thể quyết định đến chính sách, pháp luật được hình thành và được thực thi trong đời sống thực tiễn Chính sách, pháp luật trong bảo vệ rừng có phạm vi rộng lớn, từ xây dựng cơ sở hạ tầng, khuyến lâm, giao đất giao rừng và thực hiện các chính sách hưởng lợi từ rừng cho đến các chính sách hỗ trợ khác, hỗ trợ việc làm, đào tạo nghề, nâng cao năng lực quản lý kinh tế hộ gia đình, tạo đầu ra cho các sản phẩm nông lâm kết hợp, chế biến và bảo quản nông sản…
Hai là, tuyên truyền, giáo dục, vận động, thông tin ý thức trách nhiệm bảo vệ
rừng Phương thức này có vị trí quan trọng trong nhận thức của các chủ thể bảo vệ rừng và là phương thức tiền đề để chủ thể hành động Phương thức liên quan đến cả
hệ thống chính trị, nhất là cơ quan chuyên trách truyền thông, cơ quan chuyên trách bảo vệ rừng Những chủ thể chuyên trách này, phải thường xuyên đổi mới nội dung
và hình thức truyền tải thông tin thiết thực đến các chủ thể có liên quan đến bảo vệ rừng, từ hướng dẫn biện pháp thực hiện cho đến thụ hưởng chính sách và chế tài
Trang 32Ba là, xã hội hóa hoạt động bảo vệ rừng Vai trò hữu ích của rừng đối với
mọi con người, nhân dân là chủ thể quản lý các mặt đời sống xã hội, nhất là trong điều kiện cải cách công vụ nước ta, Nhà nước chỉ làm những gì mà khu vực tư không được làm hoặc làm không hiệu quả hoặc không muốn làm20, trong điều kiện xây dựng và phát triển nền hành chính kiến tạo, Chính phủ kiến tạo Cho nên phương thức xã hội hóa hoạt động bảo vệ rừng là phương thức tuy mới ở nước ta
nhưng so với nhiều nước, nhất là những nước khu vực Đông Âu (chuyển từ nền
hành chính truyền thống sang nền hành chính hiện đại, chính phủ láy thuyền chứ không chèo thuyền) được thực hiện mạnh mẽ Theo phương thức này, bảo vệ rừng
dựa vào cộng đồng, trong đó mọi người dân đều có thể tham gia vào các hoạt động sản xuất lâm nghiệp bằng hình thức phù hợp, nông lâm kết hợp, từ đó sẽ tạo đòn bẩy thúc đẩy sự tham gia của người dân vào các hoạt động quản lý và bảo vệ rừng Điều này tạo được sư huy động tổng hợp sức dân cho công tác bảo vệ rừng Theo
đó, phương thức này đặt ra vấn đề cần phải tạo mối liên hệ chặt chẽ giữa các chủ thể, từ chủ thể quản lý, doanh nghiệp, nhà khoa học và người trực tiếp chủ rừng
Bốn là, đầu tư trang thiết bị, công cụ, phương tiện và nguồn lực Bảo vệ rừng
có đặc trưng và hoạt động phức tạp, rừng luôn có sự biến động cùng với sự biến đổi
xã hội, chịu tác động trực tiếp từ nhu cầu xã hội, sức ép từ dân số và quá trình phát triển kinh tế Vì vậy, cơ quan chức năng, nhất là những chủ thể tham gia trực tiếp vào quá trình thực thi pháp luật về bảo vệ rừng luôn cần được đầu tư trang thiết bị, công cụ, phương tiện, đồng thời những người thực thi phải không ngừng nâng cao năng lực thực thi nhiệm vụ Từ ổn định lực lượng, biên chế cho đến các trang thiết
bị chuyên dụng, Nhà nước cũng cần có chính sách phù hợp nhằm thu hút và khuyến khích lực lượng ngành chức năng gắn bó với nghề, yêu nghề và cống hiến cho sự nghiệp bảo vệ rừng
Năm là, quy hoạch rừng gắn với bảo vệ rừng thống nhất với quy hoạch phát
triển kinh tế - xã hội Bảo vệ rừng là hoạt động lâu dài, song trùng với sự phát triển kinh tế - xã hội Theo đó, chủ thể quản lý rừng phải xây dựng và tổ chức thực hiện
Trang 33các kế hoạch và phương án bảo vệ rừng ngắn hạn và dài hạn, thống nhất trong quy hoạch tổng thể phát triển của địa phương, vùng và khu vực, kể cả phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
Sáu là, áp dụng khoa học, kỹ thuật và hợp tác quốc tế Với sự tiến bộ của
khoa học và công nghệ, xu thế toàn cầu hóa, mọi tổ chức và hoạt động phải luôn cần bắt nhịp với trình độ phát triển xã hội, trong đó có đặc trưng của hoạt động bảo
vệ rừng cần được áp dụng kỹ thuật Kinh nghiệm thực tiễn nhiều nước phát triển trong bảo vệ rừng thực hiện có hiệu quả Quá trình hợp tác quốc tế luôn cần sự vận dụng phù hợp thực tiễn mỗi địa bàn nước ta Phương thức kỹ thuật này có tính bao quát tất cả các khâu bảo vệ rừng, từ khoanh nuôi tái sinh, nông lâm kết hợp, cho đến chọn loại cây trồng phù hợp với từng địa phương, đáp ứng được lợi ích kinh tế cũng như môi trường, kể cả cách trồng rừng hỗn giao để phòng cháy, thử nghiệm và ứng dụng kỹ thuật xây dựng băng xanh cản lửa và các kỹ thuật tiến bộ khác trên nguyên tắc các vùng rừng tập trung được quy hoạch hợp lý và khoa học Nghiên cứu ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật của các nước từ phục vụ chữa cháy rừng dần dần thay thế phương pháp thủ công, sử dụng các vật liệu xây dựng thay thế gỗ từ rừng tự nhiên…
Bảy là, Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra và xử lý nghiêm
các hành vi vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng
1.2.4 Sự cần thiết bảo v rừng
Sự tồn tại và phát triển của con người không thể không có rừng, với vị trí quan trọng của rừng đối với phát triển toàn diện các mặt đời sống xã hội, trong khi
đó rừng luôn bị con người xâm chiếm, sự biến đổi tự nhiên, xã hội ảnh hưởng đến
sự phát triển của rừng Sự bảo vệ rừng nằm trong chuổi thống nhất duy trì và phát triển rừng với cho phép khai thác, sử dụng sản phẩm từ rừng hợp lý mà không ảnh hưởng tới tương lai phát triển bền vững
Mặt khác, nhận thức của mọi chủ thể về vai trò của rừng tuy được nâng lên đáng kể nhưng trước mặt trái của cơ chế thị trường, quá trình công nghiệp hóa, bất cập pháp luật, phát triển công nghiệp, sức ép từ dân số…, một bộ phận chủ thể này
Trang 34chấp hành pháp luật bảo vệ nhưng chủ thể khác lại không thực hiện hoặc thực hiện không hiệu quả trong bảo vệ rừng
Tình hình vi phạm các quy định của Nhà nước trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản, tình trạng chống người thi hành công vụ còn diễn ra phổ biến ở nhiều địa phương, gây hậu quả nghiêm trọng, chưa tạo được sự chuyển biến căn bản về chấp hành kỷ cương pháp luật, gây bức xúc trong xã hội
Sự cần thiết bảo vệ rừng như là bảo vệ sự tồn vong của con người và nó có tính cấp thiết đặc biệt Vấn đề này có thể tiếp cận trên các phương diện sau:
Một là, suy giảm diện tích rừng chưa được khắc phục bền vững
Tình trạng suy giảm diện tích rừng còn diễn ra ở mức độ cao với tổng diện
tích là 328.379 ha rừng, trong đó: rừng tự nhiên 124.986 ha và rừng trồng 203.393
ha, bình quân giảm là 65.676 ha/năm; trong 5 năm qua (2010 – 2015) cả nước đã phát hiện và xử lý 55.200 vụ vi phạm quy định của Nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng (chủ yếu là phá rừng, khai thác rừng trái pháp luật) và đã làm mất 38.535ha rừng, bình quân mỗi năm mất 7.707ha rừng21
Hai là, hành vi phá rừng trái pháp luật ngày càng tinh vi và khó kiểm soát
Từ năm 2010 đến 2015, đã phát hiện và xử lý hơn 42.000 vụ phá rừng, khai thác lâm sản trái pháp luật và đã làm mất hơn 30.000 ha rừng, bình quân mỗi năm mất hơn 6.000 ha
Tình trạng phá rừng lấy đất trái pháp luật diễn ra chủ yếu ở khu vực rừng sau
rà soát quy hoạch ba loại rừng được chuyển từ loại rừng phòng hộ sang rừng sản xuất; khu vực giao cho các lâm trường quốc doanh (nay là các Công ty lâm nghiệp) hoặc chính quyền cơ sở quản lý Đối tượng phá rừng chủ yếu là đồng bào dân tộc, bao gồm cả người dân tộc tại chỗ và người dân di cư tự do Mục đích phá rừng không phải do nhu cầu bức xúc về đất ở, đất canh tác, mà chủ yếu phá rừng ở những
21Chi Cục lâm nghiệp tỉnh Cà Mau (2012), Báo cáo số 252/BC-CCLN, ngày 27 tháng 12 năm 2012 về danh mục kênh mương thủy lợi được nạo vét
Trang 35vùng đất tốt để lấy đất trồng sắn, điều, cao su và các cây nông sản, công nghiệp khác, sau đó sang nhượng đất trái pháp luật22
Về khai thác gỗ trái pháp luật chủ yếu diễn ra ở các địa phương còn nhiều rừng tự nhiên có gỗ có giá trị thương mại cao, lợi dụng việc chuyển đổi mục đích sử dụng, tận thu, tận dụng, những khu vực thuận lợi về giao thông, địa bàn có nhiều cơ
sở chế biến gỗ quy mô nhỏ ở trong rừng và gần rừng
Ba là, vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy rừng còn ở mức cao, tuy
có xu hướng giảm nhưng không vững chắc
Từ năm 2010 đến 2015, cả nước đã xảy ra hơn 3.500 vụ cháy rừng, gây thiệt hại hơn 15.000 ha rừng, bình quân thiệt hại hơn 4.000 ha/năm Rừng bị cháy chủ yếu là rừng trồng, đối với rừng tự nhiên, chủ yếu là cháy rừng nghèo kiệt, rừng khoanh nuôi tái sinh mới được phục hồi
Nguyên nhân trực tiếp gây ra cháy rừng trong những năm qua là: đốt đồng dọn thực bì làm nương rẫy, làm ruộng chiếm 63,7%; sử dụng lửa để săn bắt chim, thú, lấy mật ong, tìm phế liệu chiếm 13,6%; sử dụng lửa bất cẩn trong rừng 6%; các nguyên nhân khác 7,7% và đặc biệt trong thời gian gần đây đã xuất hiện cố ý đốt rừng (đốt do mâu thuẫn, trả thù và cố tình đốt) chiếm 9%
Bốn là, vận chuyển, chế biến gỗ, lâm sản trái pháp luật
Lợi nhuận cao từ buôn bán sản phẩm từ rừng trái pháp luật nên tình hình diễn ra phức tạp ở hầu khắp các địa phương, nhất là khu vực thuận lợi về giao thông, địa phương cho phép thành lập nhiều cơ sở chế biến gỗ quy mô nhỏ ở trong rừng và gần rừng Đầu nậu thường giấu mặt, thuê người nghèo vận chuyển, thu gom, tập kết gỗ và lâm sản tại những điểm bí mật rồi tổ chức vận chuyển đến nơi tiêu thụ
Từ năm 2010 đến 2015, cả nước đã phát hiện hơn 12.000 vụ vi phạm các quy định của Nhà nước về vận chuyển, chế biến gỗ và lâm sản trái pháp luật Tổng số lâm sản tịch thu hơn 200.000 m3
22
Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam (2003), Khôi phục và phát triển rừng ngập mặn, rừng tràm ở Việt Nam, NXB Nông nghiệp
Trang 36Năm là, chống người thi hành công vụ còn diễn ra ở mức cao
Thời gian gần đây tình trạng chống người thi hành công vụ diễn ra ngày càng gay gắt, gây hậu quả rất nghiêm trọng, ảnh hưởng xấu đến việc chấp hành kỷ cương
pháp luật, tạo bức xúc trong xã hội Xuất hiện nhiều vụ chống đối có tổ chức, hành
vi trắng trợn và côn đồ, như: đập phá phương tiện, đâm xe vào lực lượng kiểm tra,
đe doạ xâm hại tính mạng, sức khoẻ, tài sản của người thi hành công vụ và thân nhân họ… Phương tiện sử dụng chống người thi hành công vụ rất đa dạng, nghiêm
trọng hơn, gần đây một số đối tượng đã sử dụng cả vũ khí, dùng kim tiêm có máu
nhiễm HIV để tấn công Đối tượng trực tiếp thực hiện hành vi chống người thi hành công vụ chủ yếu là người dân bị đầu nậu kích động, mua chuộc
Từ 2010 - 2015, đã xảy ra hàng nghìn vụ chống người thi hành công vụ, trong đó có 135 vụ nghiêm trọng, làm chết 12 người và gây thương tích cho hơn
150 người 23
1 Những vấn đề lý luận cơ bản của pháp luật về bảo v rừng
1 .1 Khái ni và đặc điể của pháp luật về bảo v rừng
Bảo vệ rừng là hoạt động phức tạp, liên quan đến cả hệ thống chính trị và toàn dân, nhất là chủ thể trực tiếp bảo vệ rừng, hoạt động lâu dài, sử dụng tổng hợp các phương pháp và đòi hỏi sự chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, chịu sự điều chỉnh trực tiếp từ pháp luật Do đó, với những đặc điểm của bảo vệ rừng là căn cứ thực tiễn để cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành pháp luật bảo vệ rừng và pháp luật bảo vệ rừng có những đặc điểm riêng biệt so với phạm vi điều chỉnh của pháp luật đối với những lĩnh vực khác Để tiếp cận đặc điểm pháp luật bảo vệ rừng,
ta cần tiếp cận như sau:
1.3.1.1 Khái niệm pháp luật bảo vệ rừng
Nguồn gốc ra đời và bản chất của pháp luật gắn liền với Nhà nước, theo đó, pháp luật ra đời có nguồn gốc từ mâu thuẫn kinh tế (xuất hiện chế độ tư hữu khi của cải xã hội làm ra dư thừa), nguồn gốc từ xuất hiện giai cấp và mâu thuẫn giai cấp không dung hòa được Pháp luật có bản chất giai cấp, phản ánh ý chí của giai cấp
Trang 37thống trị xã hội, công cụ thể hiện sự thống trị của giai cấp, đồng thời pháp luật cũng
có tính xã hội, tính mở và tính dân tộc
Thực chất pháp luật được hiểu theo nghĩa chung nhất là hệ thống những quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận và đảm bảo thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị và là nhân tố điều chỉnh các quan
hệ xã hội pháp triển phù hợp với lợi ích của giai cấp thống trị24
Với cách tiếp cận pháp luật trên, cần thấy rằng pháp luật nước ta là pháp luật
xã hội chủ nghĩa mang bản chất giai cấp công nhân và lợi ích giai cấp công nhân thống nhất lợi ích toàn dân tộc, cho nên thực thi tốt pháp luật xã hội chủ nghĩa là phù hợp với lợi ích chung toàn dân
Từ đó, có thể thấy pháp luật bảo vệ rừng là hệ thống quy định do cơ quan Nhà nước, cá nhân có thẩm quyền ban hành thể hiện dưới dạng văn bản quy phạm
pháp luật và được Nhà nước đảm bảo thực thi nhằm duy trì trật tự, ổn định và phát
triển rừng, đảm bảo thực hiện tốt chức năng của rừng và góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Với cách tiếp cận pháp luật bảo vệ rừng như trên cho thấy, pháp luật bảo vệ rừng là công cụ ngày càng quan trọng trong tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa
và cấp thiết để bảo vệ và phát triển rừng bền vững
1.3.1.2 Đặc điểm pháp luật bảo vệ rừng
Pháp luật điều chỉnh mỗi lĩnh vực đều có những đặc điểm riêng, trong đó có bảo vệ rừng, pháp luật bảo vệ rừng là một lĩnh vực pháp luật mà nó bao gồm tổng thể các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh có liên quan đến bảo vệ và phát triển rừng; để tiếp cận đặc điểm pháp luật bảo vệ rừng, ta cần thấy pháp luật có ba đặc điểm cơ bản của nó
Tính quy phạm phổ biến – tính bắt buộc chung của pháp luật đối với mọi chủ thể, không có sự phân biệt cùng nhóm đối tượng vi phạm, đối tượng vi phạm cùng điều khoản thì chịu trách nhiệm pháp lý như nhau, tính công bằng, khách quan được thực thi Tính xác định chặt chẽ về mặt hình thức, chính điều này đảm bảo tính bắt
Trang 38buộc chung được thực thi, bất kỳ ai rơi vào điều kiện quy định của pháp luật cũng không thể làm khác được Được Nhà nước đảm bảo thực hiện, pháp luật do Nhà nước ban hành, kéo theo Nhà nước có trách nhiệm đảm bảo pháp luật được thực thi,
hệ thống quy định có tính bắt buộc chung
Cần thấy rằng, rừng có vị trí quan trọng trong sự tồn tại và phát triển của xã hội cho nên con người luôn chú trọng tới bảo vệ và phát triển nó bằng nhiều cách, đặc biệt là bằng pháp luật Ở nước ta, ngay từ ngày đầu giành được độc lập, cũng đã quan tâm tới bảo vệ rừng, đặc biệt, năm 1972, Pháp lệnh bảo vệ rừng ra đời, đánh dấu một bước mới trong công tác bảo vệ rừng, không chỉ quy định về bảo vệ rừng
mà còn thành lập cơ quan chuyên trách bảo vệ rừng trong Bộ Lâm nghiệp (Cục
Kiểm lâm), nay là Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; đến năm1991, Luật Bảo
vệ và phát triển rừng ra đời đánh dấu một bước tiến mới trong công tác bảo vệ rừng
Có thể nói, pháp luật bảo vệ rừng nước ta có một bề dày lịch sử trong hệ thống pháp luật, điều này thể hiện sự quan tâm, nhận thức đúng đắn của Nhà nước tới công tác bảo vệ và phát triển rừng cũng như coi trọng việc quản lý, bảo vệ rừng
Chỉ thông qua pháp luật và bằng pháp luật Nhà nước mới có thể điều chỉnh hành vi của các chủ thể đối với rừng và điều chỉnh các hành vi của các chủ thể đó phát triển đúng hướng Sự hiện diện của pháp luật là một đòi hỏi tất yếu khách quan đối với bảo vệ và phát triển rừng Chỉ có pháp luật mới định hướng được bảo vệ và phát triển rừng, mới bảo đảm cho các ý chí đó của Nhà nước được áp dụng trong thực tiễn Pháp luật quy định quyền và nghĩa vụ, trách nhiệm của mỗi công dân, mỗi tổ chức và của cộng đồng địa phương về khai thác, sử dụng, bảo vệ nguồn tài nguyên rừng và hệ sinh thái rừng Pháp luật sẽ tạo cơ sở pháp lý để Nhà nước bằng quyền lực cưỡng chế ngăn chặn mọi hành vi xâm phạm đến rừng, xử lý nghiêm minh những đối tượng có hành vi sai phạm Vì vậy, pháp luật là công cụ hữu hiệu nhất, không thể thiếu trong công tác bảo vệ và phát triển rừng
Để bảo vệ và phát triển rừng, chủ thể bảo vệ và phát triển nó phải thực hiện đồng bộ các biện pháp, nhất là trong điều kiện pháp luật chưa hoàn chỉnh, tác động mặt trái thị trường, quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa…Bảo vệ và phát triển
Trang 39rưng liên quan đến phạm vi rộng lớn, từ đất đai đến thương mại, hành chính và hình sự Ngoài tiếp cận đặc điểm pháp luật bảo vệ rừng trước hết có thể thấy về chủ thể bảo vệ rừng, khách thể của bảo vệ rừng và nội dung của bảo vệ rừng Do đó, pháp luật bảo vệ rừng có đầy đủ những đặc điểm chung của pháp luật, đồng thời có đặc điểm cụ thể sau:
Một là, đối tượng điều chỉnh của pháp luật tập trung đến các nhóm quan
hê xã hội liên quan đến hoạt động quản lý, bảo vệ và phát triển rừng của các chủ thể trong xã hội Pháp luật này do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành, chủ yếu là các cơ quan bảo vệ rừng tham mưu ban hành
Hai là, pháp luật quy định bảo vệ rừng liên quan đến chính sách kèm theo
của Nhà nước, những chính sách này nhằm phục vụ pháp luật bảo vệ rừng được thực thi nghiêm minh và công bằng Nó là công cụ chính để Nhà nước quản lý Nhà nước với tư cách là chủ thể đặc biệt thực hiện quản lý, bảo vệ và phát triển rừng bằng việc ban hành các quy định pháp luật để điều chỉnh các quan hê xã hội liên quan đến quản lý, bảo vệ, sử dụng và phát triển rừng; tổ chức thực hiện các quy định pháp luật và bảo đảm cho các quy định pháp luật đó được thực thi hiệu quả
Ba là, phương pháp điều chỉnh pháp luật trong bảo vệ rừng có sự kết hợp
chặt chẽ giữa các phương pháp, từ mệnh lệnh, phương pháp thoả thuận và phương pháp hướng dẫn
Bốn là, bảo vệ rừng là bảo vệ tài sản đặc biệt của quốc gia, pháp luật quy
định điều chỉnh vấn đề này gồm cả trước mắt và lâu dài đề có tính cấp thiết cao Xuất phát từ đặc điểm của bảo vệ rừng liên quan đến phạm vi rộng lớn, từ đất đai đến thương mại, hành chính và hình sự
1 .2 Nội dung của pháp luật bảo v rừng
Trước hết cần phân định giữa pháp luật quy định quản lý rừng đối với pháp luật quy định bảo vệ rừng Pháp luật quản lý rừng có nội dung về các quy định quản
lý nhà nước đối với rừng; các quy định pháp luật về quản lý của chủ rừng đối với rừng
Trang 40Xuất phát từ đặc điểm của pháp luật bảo vệ rừng và căn cứ vào Chương 3 của Luật bảo vệ và phát triển rừng, pháp luật bảo vệ rừng có các nội dung sau:
Một là, các quy định bảo vệ hệ sinh thái rừng
Khi tiến hành các hoạt động sản xuất, kinh doanh hoặc có những hoạt động khác ảnh hưởng trực tiếp đến hệ sinh thái rừng, sinh trưởng và phát triển của các loài sinh vật rừng phải tuân theo quy định của Luật bảo vệ và phát triển rừng, pháp luật về bảo vệ môi trường, pháp luật về bảo vệ và kiểm dịch thực vật, pháp luật về thú y và các quy định khác của pháp luật có liên quan
Khi xây dựng mới, thay đổi hoặc phá bỏ các công trình có ảnh hưởng đến hệ sinh thái rừng, sinh trưởng và phát triển của các loài sinh vật rừng phải thực hiện việc đánh giá tác động môi trường theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường và chỉ được thực hiện các hoạt động đó sau khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép
Hai là, các quy định bảo vệ thực vật rừng, động vật rừng
Việc khai thác thực vật rừng phải thực hiện theo quy chế quản lý rừng do Thủ tướng Chính phủ quy định và quy trình, quy phạm về khai thác rừng do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành
Việc săn, bắt, bẫy, nuôi nhốt động vật rừng phải được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và tuân theo các quy định của pháp luật về bảo tồn động vật hoang dã
Những loài thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm; nguồn gen thực vật rừng, động vật rừng quý, hiếm phải được quản lý, bảo vệ theo chế độ đặc biệt
Chính phủ quy định chế độ quản lý, bảo vệ những loài thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và Danh mục những loài thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm25
rừng nguy cấp, quý hiếm (sau đây gọi là Nghị định 32/2006/NĐ-CP)