1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Vai trò của công đoàn trong việc tham gia giải quyết tranh chấp lao động tại các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh cà mau

72 288 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 773,52 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối với vai trò của tổ chức công đoàn: bài viết “Vai trò của Công đoàn trong bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động” trên tạp chí Nghiên cứu khoa học 2005 của tác giả diệp T

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

NGÔ DIỄM PHÚC

VAI TRÒ CỦA TỔ CHỨC CÔNG ĐOÀN TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LAO ĐỘNG TẠI CÁC DOANH

NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH CÀ MAU

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

NGÔ DIỄM PHÚC

VAI TRÒ CỦA CÔNG ĐOÀN TRONG VIỆC THAM GIA GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LAO ĐỘNG TẠI CÁC DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH CÀ MAU

Chuyên ngành: Luật kinh tế

Mã số: 60380107

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS Lê Văn Hưng

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi tên là Ngô Diễm Phúc– mã số học viên: 7701250791A, là học viên lớp Cao học Luật Cà Mau Khóa 25 chuyên ngành Luật kinh tế, Khoa Luật, Trường Đại học Kinh

tế Thành phố Hồ Chí Minh, là tác giả của Luận văn thạc sĩ Luật học với đề tài “Vai

trò của Công đoàn trong việc tham gia giải quyết tranh chấp lao động tại các

doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Cà Mau” (Sau đây gọi tắt là “Luận văn”)

Tôi xin cam đoan tất cả các nội dung được trình bày trong Luận văn này là kết quả nghiên cứu độc lập của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn của người hướng dẫn khoa học Trong Luận văn có sử dụng, trích dẫn một số ý kiến, quan điểm khoa học của một số tác giả Các thông tin này đều được trích dẫn nguồn cụ thể, chính xác và có thể kiểm chứng Các số liệu, thông tin được sử dụng trong Luận văn là hoàn toàn

khách quan và trung thực

Học viên thực hiện

Ngô Diễm Phúc

Trang 4

MỤC LỤC TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

PHẦN MỞ ĐẦU 1

Chương 1: Cơ sở pháp lý về tranh chấp lao động và vai trò của tổ chức Công đoàn trong việc tham gia giải quyết tranh chấp lao động 6

1.1 Một số quy định về hợp đồng lao động và giao kết hợp đồng lao động 6

1.2 Khái niệm và đặc điểm của tranh chấp lao động 8

1.2.1 Tranh chấp lao động tập thể 11

1.2.2 Tranh chấp lao động cá nhân 12

1.3 Tổ chức Công đoàn và vai trò của công đoàn trong việc tham gia giải quyết tranh chấp lao động 13

1.3.1 Khái niệm và chức năng của Công đoàn 13

1.3.2 Vai trò của tổ chức Công đoàn trong việc tham gia giải quyết tranh chấp lao động 15

1.3.2.1 Vai trò của Công đoàn trong việc ngăn ngừa, hạn chế các tranh chấp lao động 16

1.3.2.2 Vai trò của Công đoàn cơ sở tham gia giải quyết tranh chấp lao động 17

1.3.2.3 Vai trò Công đoàn cấp huyện tham gia giải quyết tranh chấp lao động 19

1.3.2.4 Vai trò Công đoàn cấp tỉnh tham gia giải quyết tranh chấp lao động 20

1.3.2.5 Vai trò Công đoàn tham gia giải quyết tranh chấp lao động tại Tòa án nhân dân 22

Tiểu kết luận Chương 1 24

Chương 2: Thực trạng về tranh chấp lao động và vai trò của tổ chức Công đoàn trong việc giải quyết tranh chấp lao động trong các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Cà Mau 25

2.1 Tổng quan về tình hình hoạt động của doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Cà Mau 25

2.1.1 Tình hình phát triển doanh nghiệp Cà Mau giai đoạn 2013- 2015 25

2.1.2 Tình hình thành lập Công đoàn và thực trạng đội ngũ cán bộ Công đoàn trong các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Cà Mau năm 2013 đến 2015 26

2.2 Thực trạng pháp luật về vấn đề tranh chấp lao động và vai trò của tổ chức Công đoàn 28

2.2.1 Bất cập trong quy định về cơ chế hòa giải theo Bộ luật Lao động 2012 30

2.2.2 Bất cập trong quy định về thành lập và gia nhập công đoàn 32

Trang 5

2.2.3 Bất cập trong quy định về thương lượng và ký kết thỏa ước lao động tập thể 33

2.2.4 Bất cập trong cơ chế bảo vệ cán bộ làm công tác công đoàn trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước 34

2.3 Thực trạng áp dụng pháp luật về vấn đề tranh chấp lao động và vai trò của các cấp Công đoàn tỉnh Cà Mau trong việc giải quyết tranh chấp lao động 36

2.3.1 Công đoàn tham gia giải quyết tranh chấp lao động 36

2.3.1.1 Tình hình tranh chấp lao động tại các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Cà Mau 36

2.3.1.2 Kết quả tham gia giải quyết tranh chấp lao động của các cấp Công đoàn tỉnh Cà Mau 37

2.3.2 Vai trò của tổ chức Công đoàn tỉnh Cà Mau trong việc tham gia giải quyết tranh chấp lao động 38

2.4 Nguyên nhân những khó khăn, bất cập trong việc tham gia giải quyết tranh chấp lao động của tổ chức Công đoàn tỉnh Cà Mau 42

2.4.1 Nguyên nhân khách quan 42

2.4.2 Nguyên nhân chủ quan 44

2.4.2.1 Nguyên nhân từ phía tổ chức Công đoàn 44

2.4.2.2 Nguyên nhân từ phía người lao động 45

2.4.2.3 Nguyên nhân từ phía người sử dụng lao động 45

2.4.2.4 Nguyên nhân từ phía quản lý Nhà nước 46

Tiểu kết luận Chương 2 47

Chương 3: Giải pháp và kiến nghị nâng cao vai trò của tổ chức công đoàn trong giải quyết tranh chấp lao động trên địa bàn tỉnh Cà Mau 49

3.1 Nhóm giải pháp, kiến nghị hoàn thiện các quy định pháp luật 49

3.1.1 Hoàn thiện các quy định pháp luật về hòa giải viên lao động và hội đồng trọng tài lao động 49

3.1.2 Hoàn thiện các quy định pháp luật trong lĩnh vực Công đoàn 50

3.1.3 Xây dựng và hoàn thiện cơ chế phối hợp 3 bên trong việc xây dựng quan hệ lao động hài hòa tại doanh nghiệp 51

3.2 Nhóm giải pháp khác 52

3.2.1 Nhóm giải pháp đối với tổ chức Công đoàn 52

3.2.1.1 Tiếp tục thực hiện các nghị quyết của Đảng, văn bản pháp luật của Nhà nước về xây dựng quan hệ lao động hài hòa tiến bộ trong doanh nghiệp 52

3.2.1.2 Có chính sách hỗ trợ cán bộ bán chuyên trách công đoàn tại các công đoàn cơ sở ngoài nhà nước 53

3.2.1.3 Công đoàn cần tăng cường nắm bắt các tâm tư nguyện vọng của người lao động thông qua đối thoại tại doanh nghiệp, thương lượng tập thể 54

Trang 6

3.2.1.4 Công đoàn cần tập trung giám sát việc thực hiện các chế độ chính sách đối với người lao động 553.2.2 Nhóm giải pháp đối với người lao động 563.2.2.1 Công đoàn cần phối hợp với người sử dụng lao động tạo lập tác phong làm việc công nghiệp cho người lao động 563.2.2.2 Trang bị kiến thức pháp luật lao động, đặc biệt là các quy định của pháp luật về tranh chấp lao động 57Tiểu kết luận Chương 3 58

KẾT LUẬN 60

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT

Trang 7

DANH MỤC TỪ NGỮ VIẾT TẮT

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Cà Mau là tỉnh cuối cùng cực Nam tổ quốc, một trong bốn tỉnh, thành phố thuộc Vùng kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng sông Cửu Long, là tỉnh duy nhất trong khu vực có ba mặt giáp với biển Cà Mau có diện tích tự nhiên là 5.294,87

km2, dân số 1.216.388 người, kinh tế Cà Mau có mức tăng trưởng khá và phát triển khá toàn diện, tốc độ tăng bình quân hàng năm trên 12% Cơ cấu kinh tế chuyển dịch nhanh theo hướng công nghiệp, xây dựng, dịch vụ Trong những năm gần đây,

số lượng doanh nghiệp được hình thành trong tỉnh ngày càng nhiều, trong đó chiếm

đa số là các doanh nghiệp hoạt động trên lĩnh vực chế biến Thủy sản1

Quan hệ lao động chủ yếu được hình thành trên cơ sở thương lượng, thỏa thuận giữa các bên: người lao động và người sử dụng lao động Trong mối quan hệ này, Nhà nước không quy định cụ thể quyền và nghĩa vụ của các bên mà chỉ tạo hành lang pháp lý làm cơ sở cho các bên tự thương lượng, thỏa thuận các quyền và nghĩa vụ cụ thể, phù hợp với điều kiện thực tế của từng doanh nghiệp Để đảm bảo

1

Cổng thông tin điện tử tỉnh Cà Mau (http://www.camau.gov.vn)

Trang 9

lợi ích cho cả người lao động và người sử dụng lao động thì cần phải có thỏa thuận chung về những vấn đề phát sinh trong quan hệ lao động

Tuy nhiên, mục tiêu xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định luôn bị tác động bởi yếu tố lợi ích Lợi ích của các chủ thể tham gia quan hệ lao động đối lập nhau Người lao động mong muốn có thu nhập cao, điều kiện lao động đảm bảo nhưng thời gian và công sức lao động bỏ ra ít Ngược lại, người sử dụng lao động,

vì mục tiêu lợi nhuận nên mong muốn người lao động có thời gian làm việc nhiều nhất và trả tiền lương với mức thấp nhất có thể Chính vì mâu thuẫn bởi yếu tố lợi ích mà trong quá trình thực hiện quan hệ lao động luôn ẩn chứa những nguy cơ xảy

ra xung đột, tranh chấp Khi những nguy cơ xảy ra xung đột không được giải quyết kịp thời thì các tranh chấp lao động cá nhân, tranh chấp lao động tập thể, xảy ra là kết quả tất yếu

Tổ chức Công đoàn từ cấp tỉnh đến Công đoàn cấp huyện đã ý thức trách nhiệm cao trong việc phối hợp, tham gia giải quyết tranh chấp lao động Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết tranh chấp lao động, các cấp công đoàn Tỉnh Cà Mau còn gặp rất nhiều khó khăn và hạn chế Những khó khăn, hạn chế có nguyên nhân từ những quy định của pháp luật lao động và có cả những nguyên nhân xuất phát từ công đoàn các cấp

Với vị trí và những điều kiện tự nhiên thuận lợi sẵn có, để có thể phát triển, hội nhập nhanh vào Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam của đất nước, thì việc xây dựng mối quan hệ hài hòa, ổn định giữa người lao động và người sử dụng lao động, góp phần tạo ra môi trường đầu tư an toàn, lành mạnh là việc làm cấp thiết, trong đó vai trò của tổ chức Công đoàn là một trong những yếu tố quan trọng, mang tính quyết định Để tìm hiểu rõ hơn về vấn đề này, tôi đã lựa chọn đề tài:

“Vai trò của tổ chức Công đoàn trong giải quyết tranh chấp lao động tại các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Cà Mau”

Trang 10

-Để nâng cao vai trò của tổ chức Công đoàn trong việc giải quyết tranh chấp lao động trong các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Cà Mau cần những giải pháp như thế nào?

3 Tình hình nghiên cứu

Vai trò của tổ chức công đoàn trong việc tham gia giải quyết tranh chấplao động là vấn đề không mới trong nghiên cứu cũng như trong tổng kết lý luận, thực tiễn trên thế giới Ở nước ta, các công trình khoa học của các tác giả về vấn đề công đoàn, tranh chấp lao động được thực hiện dưới hình thức các bài viết khoa học đăng trên các tạp chí, báo cáo nghiên cứu, luận văn thạc sĩ, luận văn tiến sĩ luật học, tiêu biểu như:

-Báo cáo nghiên cứu về “Chính sách, cơ chế hoạt động công đoàn cơ sở doanh nghiệp đầu tư nước ngoài hiện nay” (năm 2013) của TS Vũ Minh Tiến - Phó Viện trưởng Viện CN&CĐ, Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam Báo cáo đã khái quát các chính sách, cơ chế điều chỉnh hoạt động công đoàn cơ sở doanh nghiệp đầu

tư nước ngoài hiện nay, đồng thời nêu những điểm mới cơ bản của các văn bản pháp luật 2012- 2013 về hoạt động công đoàn doanh nghiệp đầu tư nước ngoài và

đề xuất, sửa đổi, bổ sung một số cơ chế, quy định về hoạt động công đoàn doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

- Luận văn Thạc sỹ luật học “Giải quyết tranh chấp lao động cá nhân theo pháp luật Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thị Kim Anh (năm 2014) Luận văn chỉ ra những tồn tại của hệ thống các quy định và thực tiễn hoạt động giải quyết tranh chấp lao động cá nhân Đưa ra kiến nghị về một số biện pháp nhằm hoàn thiện pháp luật, tăng cường khâu tổ chức và hoạt động của giải quyết tranh chấp lao động cá nhân

- Luận án tiến sỹ luật học “Pháp luật giải quyết tranh chấp lao động tập thể

về lợi ích ở Việt Nam” của TS Vũ Thị Thu Hiền (năm 2016) đã nêu lên sự cần thiết phải tiếp tục hoàn thiện pháp luật giải quyết tranh chấp lao động tập thể về lợi ích nhằm khắc phục những điểm còn bất hợp lý, hướng đến đảm bảo tính khả thi của pháp luật góp phần xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định tiến bộ trong doanh nghiệp Luận án đã làm sáng tỏ vấn đề lý luận về tranh chấp lao động tập thể về lợi ích và pháp luật giải quyết tranh chấp lao động tập thể về lợi ích Đồng thời phân tích, đánh giá thực trạng các quy định của pháp luật và thực trạng áp dụng các quy

Trang 11

định về giải quyết tranh chấp lao động tập thể về lợi ích ở Việt Nam Từ đó đề xuất các ý kiến sửa đổi, bổ sung

Ngoài ra, còn rất nhiều bài viết nghiên cứu về tranh chấp lao động trên các tạp chí chuyên ngành như: “Những điểm mới về tranh chấp lao động và giải quyết tranh chấp lao động theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ Luật Lao động năm 2006” trên tạp chí Luật học số 7/2007 của ThS Nguyễn Xuân Thu; “Giải quyết tranh chấp lao động tại Tòa án nhân dân- từ pháp luật đến thực tiễn và một số kiến nghị” trên tạp chí Luật học số 9/2009 của tác giải Phạm Công Bảy…các bài viết đều đưa ra những nhìn nhận và hướng giải quyết khác nhau về vấn đề tranh chấp lao động Đối với vai trò của tổ chức công đoàn: bài viết “Vai trò của Công đoàn trong bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động” trên tạp chí Nghiên cứu khoa học 2005 của tác giả diệp Thành Nguyên, viết về vai trò của công đoàn cơ sở trong các doanh nghiệp trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động; Bài viết “Vai trò của Công đoàn cơ sở trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài” trên tạp chí khoa học xã hội số 04(128)-2009 của tác giả Nguyễn thị Minh Châu;…

Có thể nói, đa số các bài viết, các công trình nghiên cứu trên đây do được nghiên cứu vào thời điểm Bộ luật Lao động, Luật Công đoàn chưa được sửa đổi, bổ sung một cách toàn diện nên chưa giải quyết và đề xuất những giải pháp phù hợp về giải quyết tranh chấp lao động, hoặc cũng có công trình Luận văn, Luận án đã đánh giá các quy định mới của Bộ Luật Lao động năm 2012 tuy nhiên mới chỉ dừng lại ở khía cạnh pháp luật về tranh chấp lao động mà chưa đề cập đến vai trò của tổ chức Công đoàn trong việc giải quyết tranh chấp lao động Như vậy, hiện tại tác giả chưa tìm hiểu được Luận văn thạc sỹ đi sâu nghiên cứu một cách đầy đủ về vai trò của tổ chức công đoàn trong việc giải quyết tranh chấp lao động tập thể theo Bộ Luật Lao động năm 2012 Chính vì vậy, trong Luận văn này, tác giả dự định sẽ phân tích, đánh giá và đưa ra giải pháp hoàn thiện một cách hệ thống về vai trò của tổ chức công đoàn trong việc tham gia giải quyết tranh chấp lao động trên cơ sở các quy định mới nhất và vừa có hiệu lực của Bộ Luật lao động năm 2012

4 Đối tượng nghiên cứu

Vai trò tham gia của công đoàn cấp tỉnh, công đoàn cấp huyện và Công đoàn cơ sở tại các doanh nghiệp ngoài nhà nước trên địa bàn Tỉnh Cà Mau trong việc giải quyết tranh chấp lao động

Trang 12

5 Mục tiêu nghiên cứu

Góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận về giải quyết tranh chấp lao động; đề xuất các giải pháp nhằm bảo đảm vai trò của tổ chức Công đoàn trong việc tham gia giải quyết có hiệu quả các tranh chấp lao động tại các doanh nghiệp trên địa bàn Tỉnh Cà Mau

6 Phạm vi nghiên cứu

Tổ chức Công đoàn cấp tỉnh, công đoàn cấp huyện và Công đoàn cơ sở trong các doanh nghiệp trên địa bàn Tỉnh Cà Mau giai đoạn từ năm 2008 đến hết năm 2013

7 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp so sánh, khảo sát thực tiễn trong quá trình giải quyết các vấn đề đặt ra Đồng thời tìm hiểu các văn bản pháp luật, các văn bản dưới luật, các tạp chí chuyên ngành và các tài liệu có liên quan đến vai trò công đoàn trong giải quyết tranh chấp lao động; nghiên cứu thực tiễn các vụ việc xảy ra trên địa bàn tỉnh Cà Mau trong thời gian qua

Sử dụng phương pháp so sánh để làm rõ giữa lý luận và thực tiễn, giữa tình hình công đoàn tỉnh Cà Mau tham gia giải quyết tranh chấp lao động với những quy định của Bộ luật Lao động về giải quyết tranh chấp lao động để rút ra những nhận định, đánh giá và kết luận

Trang 13

Chương 1: Cơ sở pháp lý về tranh chấp lao động và vai trò của

tổ chức Công đoàn trong việc tham gia giải quyết tranh chấp lao động

1.1 Một số quy định về hợp đồng lao động và giao kết hợp đồng lao động

Quan hệ lao động là mối quan hệ giữa giới chủ (người sử dụng lao động) và người lao động Người lao động làm việc trong nhiều lĩnh vực, ngành nghề khác nhau trong xã hội, phụ trách nhiều vị trí cũng như đảm nhiệm những chức vụ khác nhau trong một tổ chức, có thể phân người lao động thành hai nhóm chính:

-Lao động phổ thông: Công nhân, thợ, người làm thuê, người giúp việc… -Lao động trí thức: Nhân viên, công chức, viên chức…

Có thể nói, Người lao động là danh từ chung dùng để nói đến những người

làm công ăn lương bằng sức lao động hoặc trí óc làm ra các sản phẩm vật chất hoặc

về tinh thần cho người khác Một người lao động đóng góp sức lao động và chuyên

môn để nổ lực tạo ra sản phẩm cho người chủ (người sử dụng lao động) và thường

được thuê với sự giao kèo giữa hai bên (hợp đồng lao động) để thực hiện các nhiệm

vụ cụ thể

Trên thế giới, hợp đồng lao động là một chế định truyền thống, ra đời và phát triển cùng với sự ra đời và phát triển của Bộ luật Lao động và là một chương không thể thiếu của hầu hết các Bộ luật Lao động của các nước trên thế giới Theo Tổ chức

lao động Quốc tế (ILO), “Hợp đồng lao động là một thỏa thuận ràng buộc pháp lý

giữa một người sử dụng lao động và một công nhân, trong đó xác lập các điều kiện

và chế độ làm việc” 2

Ở Việt Nam, ngay từ sắc lệnh số 29/SL ngày 12-03-1947 của Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Hợp đồng lao động đã được quy định tại chương thứ III với tên “khế ước làm công” Tuy nhiên, sau đó, trong một thời gian dài, do hoàn cảnh đặc biệt của đất nước, chế định tuyển dụng vào biên chế Nhà nước theo Nghị định 24/CP ngày 13-03-1963 của Hội đồng Chính Phủ đã giữ vai trò chủ yếu trong việc hình thành quan hệ lao động trong các xí nghiệp, cơ quan Nhà nước Hợp đồng lao động vẫn còn tồn tại nhưng chỉ với ý nghĩa “phụ trợ” cho chế độ tuyển vào biên chế Chỉ vào giữa những năm 1980, khi đất nước thực hiện

Nguyên- Trường Đại học Cần Thơ Trường Đại học Cần Thơ, Tạp chí nghiên cứu khoa học 2004: 2 32-40

Trang 14

đổi mới tư duy kinh tế, tư duy pháp lý, thì vấn đề hợp đồng lao động mới dần dần được áp dụng

Theo quy định của Bộ luật Lao động 2012 thì “hợp đồng lao động có hai

hình thức là văn bản và lời nói”3 Khi giao kết hợp đồng lao động, các bên (người lao động và người sử dụng lao động) phải ký kết bằng văn bản, trừ trường hợp đối với một số công việc tạm thời có thời hạn dưới 03 tháng thì các bên có thể giao kết hợp đồng lao động bằng lời nói

Việc giao kết hợp đồng lao động phải bảo đảm các nguyên tắc:

+ Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực;

+ Tự do giao kết hợp đồng lao động nhưng không được trái pháp luật, thỏa ước lao động tập thể và đạo đức xã hội

Hợp đồng lao động có các loại là:

+ Hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

+ Hợp đồng lao động xác định thời hạn;

+ Hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định

Trải qua từng giai đoạn lịch sử, có thể chứng minh được Hợp đồng lao động

có vai trò rất quan trọng trong đời sống kinh tế xã hội Trước hết, hợp đồng lao động là cơ sở để các doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, cá nhân tuyển chọn lao động phù hợp với yêu cầu của mình Mặt khác, đây là một trong những hình thức pháp lý chủ yếu nhất để công dân thực hiện quyền làm việc, tự do, tự nguyện lựa chọn việc làm cũng như nơi làm việc Thông qua hợp đồng mà quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ lao động (người lao động và người sử dụng lao động) được thiết lập

và xác định rõ ràng Đặc biệt, hợp đồng lao động quy định trách nhiệm thực hiện hợp đồng và nhờ đó đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp chính đáng của người lao động (vốn luôn ở thế yếu trong quan hệ lao động) Trong tranh chấp lao động cá nhân, hợp đồng lao động được xem là cơ sở pháp lý chủ yếu để giải quyết tranh chấp lao động Đối với việc quản lý Nhà nước, hợp đồng lao động là công cụ pháp

lý hữu hiệu để Nhà nước quản lý, điều chỉnh quan hệ lao động, quản lý nguồn nhân lực làm việc trong các doanh nghiệp, kể cả trong các cơ quan, đơn vị hành chính

Hợp đồng lao động là hình thức pháp lý chủ yếu làm phát sinh, thay đổi và chấm dứt quan hệ pháp luật lao động, có vị trí quan trọng trong việc vận hành quan

hệ lao động Nội dung của hợp đồng lao động liên quan đến hầu hết chế định của

3

Trang 15

Bộ luật Lao động và là cơ sở pháp lý quan trọng trong việc giải quyết khi có tranh chấp lao động xảy ra, là công cụ pháp lý hữu hiệu để Nhà nước quản lý lao động

Có thể nói, vai trò, ý nghĩa của HĐLĐ ngày càng được khẳng định, việc giao kết hợp đồng lao động hiện nay đã đem lại nhiều kết quả khả quan trong việc sử dụng lao động, nâng cao năng suất lao động, kết hợp hài hoà giữa quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ lao động

Việc chấm dứt hợp đồng lao động là sự kết thúc quan hệ lao động, một số trường hợp sẽ ảnh hưởng đến việc làm, thu nhập, cuộc sống của người lao động, hoặc có thể gây thiệt hại cho người lao động Mặt khác, trong quá trình thực hiện hợp đồng lao động, người lao động khi ký kết hợp đồng chỉ quan tâm đến thu nhập

mà không chú ý đến nội dung công việc, nên khi xảy ra tranh chấp các cơ quan chức năng và Công đoàn không có cơ sở để hòa giải và giải quyết

1.2 Khái niệm và đặc điểm của tranh chấp lao động

Theo Bộ Luật Lao động 2012: “Quan hệ lao động là quan hệ xã hội phát

sinh trong việc thuê mướn, sử dụng lao động, trả lương giữa người lao động và người sử dụng lao động” Bên cạnh đó, tại Khoản 1 Điều 7 Bộ Luật Lao động 2012

quy định “Quan hệ lao động giữa người lao động hoặc tập thể lao động với người

sử dụng lao động được xác lập qua đối thoại, thương lượng, thỏa thuận theo nguyên tắc tự nguyện, thiện chí, bình đẳng, hợp tác, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của nhau” 4 Quan hệ lao động được thiết lập trên cơ sở thương lượng, thỏa thuận, đối thoại theo nguyên tắc tự nguyện, thiện chí, bình đẳng, hợp tác, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của nhau Vì vậy việc giải quyết tranh chấp lao động cũng phải tuân theo những nguyên tắc nhất định

Kinh tế thị trường là nơi diễn ra các hoạt động lưu thông hàng hóa và trong thị trường và sức lao động được xem là một loại hàng hóa đặc biệt Thị trường lao động là nơi diễn ra sự trao đổi sức lao động thông qua quan hệ mua bán giữa người lao động và người sử dụng lao động Quá trình mua bán sức lao động trên thị trường lao động xác lập nên quan hệ lao động, các bên phải thỏa thuận với nhau về tiền lương, thời giờ làm việc và các điều kiện sử dụng lao động khác Về bản chất, quan

hệ lao động trong thị trường lao động là quan hệ được hình thành trên cơ sở sự thỏa thuận tự nguyện Tuy nhiên, trong quá trình thỏa thuận, người lao động luôn muốn bán sức lao động của mình với giá cao (tiền công, tiền thưởng cao, điều kiện lao

9

Khoản 6 Điều 3 Bộ Luật Lao động 2012

Trang 16

động tốt), và ngược lại người sử dụng lao động lại muốn mua sức lao động với giá thấp Như vậy, quan hệ lao động là quan hệ bất tương xứng giữa một bên là chủ sử dụng lao động, chủ sở hữu tư liệu sản xuất, có quyền quyết định mọi vấn đề về quan

hệ lao động và một bên là người lao động chỉ có sức lao động, có rất ít quyền quyết định các vấn đề trong quan hệ lao động Do sự bất tương xứng trong quan hệ lao động sẽ làm phát sinh những mâu thuẫn về lợi ích kinh tế giữa người lao động và người sử dụng lao động Mâu thuẫn này nếu được giải quyết hài hòa, phù hợp với lợi ích của các bên thì quan hệ lao động được duy trì Ngược lại nếu mâu thuẫn này không được giải quyết thì tranh chấp giữa các bên trong quan hệ lao động xảy ra là điều tất yếu

Ở nước ta, quan hệ lao động là một loại quan hệ đặc biệt bởi vì nó vừa là quan hệ kinh tế vừa là quan hệ có tính xã hội và nhân văn sâu sắc Mặt khác, nó là quan hệ cá nhân nhưng đồng thời lại mang tính tập thể và vừa là quan hệ dân sự vừa

là quan hệ mang tính hành chính, chịu sự quản lý Do đó, xem xét ở một góc độ nào

đó, có thể nói rằng quan hệ lao động trong thị trường lao động là sự tổng hoà của các quan hệ xã hội. 5

Quan hệ lao động được thiết lập giữa 2 bên: Người sử dụng lao động và người lao động, thông qua hợp đồng lao động Quan hệ lao động là quan hệ xã hội phát sinh trong việc thuê mướn, sử dụng lao động, trả lương giữa người lao động và người sử dụng lao động Trong quá trình thực hiện quan hệ lao động, tranh chấp xảy

ra giữa người sử dụng lao động và người lao động là không thể tránh khỏi Mặc dù các bên trong quan hệ lao động đều biết rằng tranh chấp lao động xảy ra sẽ để lại hậu quả không tốt Trước hết là thiệt hại về kinh tế, không khí lao động căng thẳng, ảnh hưởng đến tinh thần làm việc, suy giảm năng suất lao động, uy tín, thương hiệu của doanh nghiệp bị tổn hại Song vì nhiều lý do mà các bên chưa tìm được giải pháp phù hợp, nhất là coi trọng thương lượng để đạt được thỏa thuận nhất định phù hợp với lợi ích của mình

trong lĩnh vực lao động” Cổng thông tin điện tử Bộ Tư Pháp

(http://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=1914)

Trang 17

Xét về đối tượng, Tranh chấp lao động bao gồm tranh chấp lao động cá nhân giữa người lao động với người sử dụng lao động và tranh chấp lao động tập thể giữa tập thể lao động6

với người sử dụng lao động

Xét về nội dung tranh chấp, có thể là tranh chấp về các quyền hoặc về lợi ích của các bên trong quan hệ lao động như tiền lương, tiền thưởng, thời gian làm việc, thời giờ nghỉ ngơi…

Đối với nước ta, khái niệm tranh chấp lao động được chính thức đề cập tại

Bộ luật lao động có hiệu lực từ ngày 1/1/1995 Trải qua nhiều lần sửa đổi bổ sung,

khái niệm tranh chấp lao động ngày càng được hoàn thiện: “Tranh chấp lao động là

tranh chấp về quyền, nghĩa vụ và lợi ích phát sinh giữa các bên trong quan hệ lao động” 7

Tranh chấp lao động bao gồm hai loại: tranh chấp lao động cá nhân và tranh chấp lao động tập thể Tuỳ theo từng loại tranh chấp mà có những quy định giải quyết khác nhau Có thể phân biệt tranh chấp lao động cá nhân và tranh chấp lao động tập thể dựa trên một số dấu hiệu sau:

Về chủ thể tranh chấp: Tranh chấp lao động cá nhân là tranh chấp giữa cá

nhân Người lao động hoặc một nhóm Người lao động với Người sử dụng lao động

về các quyền, nghĩa vụ, lợi ích của Người lao động hoặc nhóm Người lao động

đó Tranh chấp lao động tập thể có thể xảy ra trong phạm vi một bộ phận doanh nghiệp hoặc trong toàn bộ doanh nghiệp Khác với các tranh chấp lao động cá nhân, tranh chấp lao động tập thể là tranh chấp phát sinh giữa tập thể lao động với Người

sử dụng lao động

Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp trong tranh chấp chỉ có một Người lao động đều là tranh chấp lao động cá nhân, vì có thể Người lao động đó là đại diện cho tập thể lao động Cũng có thể có vụ việc tranh chấp có nhiều Người lao động tham gia, nhưng mỗi người chỉ quan tâm đến quyền lợi của cá nhân mình thì đó không thể là một tranh chấp lao động tập thể Dấu hiệu số lượng Người lao động tham gia tranh chấp chỉ là dấu hiệu cơ bản, nó chỉ có ý nghĩa khi phù hợp với mục đích của người tham gia tranh chấp

Trang 18

Về mục đích của các bên tranh chấp: được xem là dấu hiệu quyết định, thể

hiện khác biệt rõ ràng nhất giữa tranh chấp lao động cá nhân với tranh chấp lao động tập thể

Trong tranh chấp lao động cá nhân, Người lao động sẽ tiến hành đòi quyền lợi cho chính bản thân mình Nội dung của tranh chấp lao động cá nhân thường chỉ liên quan đến cá nhân Người lao động Tranh chấp lao động cá nhân hầu như không ảnh hưởng đến những quan hệ lao động khác và giải quyết các tranh chấp này chủ yếu nhằm thừa nhận, khôi phục các quyền, lợi ích hợp pháp của các bên trong quan

hệ lao động

Tranh chấp lao động tập thể, mục tiêu của các bên là quyền, lợi ích của cả tập thể lao động trong quan hệ lao động Chính vì vậy, tranh chấp lao động tập thể thường liên quan đến thoả ước lao động tập thể hay các thoả thuận có tính tập thể Tranh chấp lao động tập thể có thể phát sinh khi một trong các bên của quan hệ lao động tập thể cho rằng quyền lợi của mình bị vi phạm hoặc khi một trong các bên muốn thay đổi, bổ sung các thoả thuận đã có trong thoả ước lao động tập thể

Về tính chất của tranh chấp: Tranh chấp lao động cá nhân thường có tính

đơn lẻ, riêng rẽ Ngược lại, trong tranh chấp lao động tập thể, tính tổ chức bao giờ cũng là yếu tố hàng đầu

Về vai trò của tổ chức Công đoàn: Trong tranh chấp lao động cá nhân Công

đoàn tham gia vào tranh chấp với tư cách là người đại diện bảo vệ Người lao động; Công đoàn là chủ thể thứ 3 đứng ngoài tranh chấp, không phải một bên của tranh chấp Đối với tranh chấp lao động tập thể, tổ chức Công đoàn trực tiếp tham gia tranh chấp, là một bên của tranh chấp – đại diện cho tập thể Người lao động làm việc với Người sử dụng lao động 8

1.2.1 Tranh chấp lao động tập thể

Tranh chấp lao động tập thể bao gồm tranh chấp lao động tập thể về quyền

và tranh chấp lao động tập thể về lợi ích

Tranh chấp lao động tập thể về quyền được hiểu là: “tranh chấp giữa tập thể

lao động với người sử dụng lao động phát sinh từ việc giải thích và thực hiện khác

13

http://phaply24h.net/bai-viet/phan-biet-tranh-chap-lao-dong-ca-nhan-va-tranh-chap-lao-dong-tap-0

Trang 19

nhau quy định của pháp luật về lao động, thỏa ước lao động tập thể, nội quy lao động, quy chế và thỏa thuận hợp pháp khác.” 9

Theo Bộ Luật Lao động 2012: “cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết

tranh chấp lao động về quyền:

-Hòa giải viên lao động

-Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp huyện

-Tòa án nhân dân”.10

Tranh chấp lao động tập thể về lợi ích: “là tranh chấp lao động phát sinh từ

việc tập thể lao động yêu cầu xác lập các điều kiện lao động mới so với quy định của pháp luật về lao động, thỏa ước lao động tập thể, nội quy lao động hoặc các quy chế, thỏa thuận hợp pháp khác trong quá trình thương lượng giữa tập thể lao động với người sử dụng lao động” 11

Bộ Luật Lao động 2012 cũng quy định về: “cơ quan, tổ chức có thẩm quyền

giải quyết tranh chấp lao động tập thể về lợi ích:

-Hòa giải viên lao động

-Hội đồng trọng tài lao động”. 12

Từ những khái niệm nêu trên, có thể hiểu chủ thể của tranh chấp lao động tập thể là người sử dụng lao động và tập thể lao động Xét về nội dung tranh chấp là các quyền, nghĩa vụ và lợi ích phát sinh giữa các chủ thể trong thực hiện các thỏa thuận, các nội dung đã được quy định hoặc yêu cầu xác lập các điều kiện lao động mới so với những quy định đã có

1.2.2 Tranh chấp lao động cá nhân

Tranh chấp lao động cá nhân là những mâu thuẫn, xung đột về quyền, nghĩa

vụ lợi ích giữa cá nhân người lao động với người sử dụng lao động phát sinh trong quan hệ lao động Theo quy định của Bộ luật Lao động 2012 thì cơ quan, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân là: hòa giải viên lao động và Tòa

Điều 203 Bộ luật Lao động 2012.

17 Điều 203 Bộ luật Lao động 2012.

18

Điều 200 Bộ luật Lao động 2012.

Trang 20

quyền và lợi ích đang tranh chấp trong quan hệ lao động Theo đó, hòa giải viên đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết tranh chấp lao động cá nhân vì khi tranh chấp xảy ra mà Hòa giải viên giải quyết được sẽ rút ngắn được thời gian hòa giải, không phải nhờ đến Tòa án giải quyết

Tòa án: là phương thức giải quyết được tiến hành theo những thủ tục, trình tự

tố tụng chặt chẽ

1.3 Tổ chức Công đoàn và vai trò của công đoàn trong việc tham gia giải quyết tranh chấp lao động

1.3.1 Khái niệm và chức năng của Công đoàn

Trên thế giới, hầu hết các quốc gia đều có tổ chức Công đoàn Công đoàn là

tổ chức của người lao động, do người lao động tự nguyện thành lập nhằm tập hợp sức mạnh, bảo vệ quyền lợi của người lao động Ở Việt Nam chỉ có một tổ chức Công đoàn là Công đoàn Việt Nam- Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, thành lập vào ngày 28 tháng 7 năm 1929 Công đoàn Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội của giai cấp công nhân và của người lao động tự nguyện lập ra nhằm mục đích tập hợp, đoàn kết, giáo dục, rèn luyện công nhân, viên chức, lao động góp phần xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam lớn mạnh về mọi mặt; đại diện và bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động; là trung tâm tập hợp, đoàn kết, giáo dục, rèn luyện, xây dựng đội ngũ giai cấp công nhân, lao động

Ở các nước Tây Âu trước đây, điển hình như Anh, Pháp, sau khi công đoàn

ra đời rất lâu, Đảng Cộng sản mới được thành lập và hoạt động độc lập với công đoàn Nhưng ở Việt Nam, tổ chức Đảng Cộng sản ra đời trước Công đoàn cách mạng và lãnh đạo Công đoàn Có thể nói quy định Công đoàn Việt Nam trong Hiến pháp, gắn liền với lịch sử và sự ra đời của các bản Hiến pháp của nước ta Ngay từ Hiến pháp 1959, khi mà chưa có bất cứ tổ chức chính trị, chính trị- xã hội nào quy định trong Hiến pháp thì đã có quy định về Công đoàn Việt Nam tại Điều 10 Hiến pháp 1959 Khi đó, Công đoàn chưa được quy định thành một điều riêng, nhưng cũng đã thể hiện rất rõ vai trò và vị trí của tổ chức Công đoàn trong xã hội Kế thừa

và phát triển các quy định về Công đoàn trong các bản Hiến Pháp 1980 và Hiến pháp 1992 (sửa đổi năm 2001), trong giai đoạn hiện nay, chức năng, vai trò và địa

vị pháp lý của Công đoàn Việt Nam được ghi nhận trong Hiến pháp 2013: “Công

đoàn Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội của giai cấp công nhân và của người lao động được thành lập trên cơ sở tự nguyện, đại diện cho người lao động, chăm

Trang 21

lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động; tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội; tham gia kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp về những vấn đề liên quan đến quyền, nghĩa vụ của người lao động; tuyên truyền, vận động người lao động học tập, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, chấp hành pháp luật, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. 14

Ngoài Hiến pháp, Công đoàn còn được quy định trong nhiều văn bản quan

trọng khác Theo đó Luật Công đoàn 2012 cũng xác định: "Công đoàn là tổ chức

chính trị - xã hội rộng lớn của giai cấp công nhân và của người lao động, được thành lập trên cơ sở tự nguyện, là thành viên trong hệ thống chính trị của xã hội Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; đại diện cho cán bộ, công chức, viên chức, công nhân và những người lao động khác (sau đây gọi chung

là người lao động), cùng với cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động; tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội, tham gia thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp; tuyên truyền, vận động người lao động học tập nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, chấp hành pháp luật, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa".15

Cơ sở pháp lý để Công đoàn thực hiện vai trò của tổ chức mình, đồng thời tham gia xây dựng hoàn thiện chính sách, pháp luật liên quan đến người lao động được đề cập ở nhiều văn bản quy phạm pháp luật, cụ thể như: Bộ luật Lao động; Luật Công đoàn; Nghị định số 43/2013/NĐ-CP ngày 10/5/2013 quy định chi tiết thi hành Điều 10 của Luật Công đoàn về quyền, trách nhiệm của Công đoàn trong việc đại diện bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động; Nghị định

số 200/2013/NĐ-CP ngày 26/11/2013 quy định chi tiết thi hành Điều 11 của Luật Công đoàn về quyền, trách nhiệm của Công đoàn trong tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội

Theo quy địnhLuật Công đoàn 2012 Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam có quyền trình dự án luật, pháp lệnh ra trước Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội 16

Để thực hiện tốt các chức năng của Công đoàn, đặc biệt là chức năng đại diện và bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động, đoàn viên công

Trang 22

đoàn, thì công tác tham gia xây dựng, hoàn thiện chính sách, pháp luật liên quan đến người lao động của tổ chức Công đoàn có vai trò to lớn và giá trị thiết thực

Chức năng đại diện, bảo vệ quyền lợi cho người lao động cũng như sự tham gia của công đoàn trong quá trình thương lượng và giải quyết các tranh chấp có liên

quan đến người lao động được quy định cụ thể: “Công đoàn, tổ chức đại diện người

sử dụng lao động tham gia cùng với cơ quan nhà nước hỗ trợ xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ; giám sát việc thi hành các quy định của pháp luật

về lao động; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động, người sử dụng lao động” 17

Các quyền và nghĩa vụ cụ thể của công đoàn cơ sở tại doanh nghiệp được quy định trong Luật Công đoàn 2012 và Bộ Luật Lao động 2012 cụ thể và chi tiết hơn so với trước đây Trong đó, các quy định mới tập trung vào việc nhấn mạnh vai trò của tổ chức Công đoàn trong đối thoại tại nơi làm việc, thương lượng tập thể, thỏa ước lao động tập thể, tham gia giải quyết tranh chấp lao động, tổ chức và lãnh đạo đình công; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động trong quan hệ lao động tại doanh nghiệp Có thể nói, trong quá trình tham gia bảo

vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động nói chung và giải quyết tranh chấp lao động nói riêng không thể thiếu sự tham gia của tổ chức công đoàn

1.3.2 Vai trò của tổ chức Công đoàn trong việc tham gia giải quyết tranh chấp lao động

Quan hệ lao động được thiết lập giữa người sử dụng lao động và người lao động, trong mối quan hệ này, người lao động luôn ở vị trí thế yếu, các quyền lợi của người lao động dễ bị tổn thương, cả về danh dự, nhân phẩm và đời sống Vì vậy, để bảo vệ quyền lợi của mình, tập thể lao động phải đoàn kết lại, cử ra đại diện để tạo nên sức mạnh tập thể Theo pháp luật Việt Nam công đoàn là tổ chức duy nhất có quyền đại diện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động Đại hội Công đoàn Việt Nam nhiệm kỳ 2008-2013 cũng đã xác định bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động là chức năng số 1, chức năng trung tâm của tổ chức công đoàn

Trong quan hệ lao động, vai trò của tổ chức Công đoàn cũng được quy định:

“Công đoàn, tổ chức đại diện người sử dụng lao động tham gia cùng với cơ quan

Trang 23

nhà nước hỗ trợ xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ; giám sát việc thi hành các quy định của pháp luật về lao động; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động, người sử dụng lao động” 18

Theo Bộ luật Lao động 2012 vai trò của tổ chức công đoàn trong quan hệ lao

động: “Công đoàn cơ sở thực hiện vai trò đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp

pháp, chính đáng của đoàn viên công đoàn, người lao động; tham gia, thương lượng, ký kết và giám sát việc thực hiện thỏa ước lao động tập thể, thang lương, bảng lương, định mức lao động, quy chế trả lương, quy chế thưởng, nội quy lao động, quy chế dân chủ ở doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức; tham gia, hỗ trợ giải quyết tranh chấp lao động; đối thoại, hợp tác với người sử dụng lao động xây dựng quan hệ lao động hài hoà, ổn định, tiến bộ tại doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức” 19

Trên cơ sở các quy định của phát luật và thực tế hoạt động công đoàn trong giai đoạn hiện nay, nhiệm vụ của công đoàn cơ sở, nghiệp đoàn được Điều lệ Công đoàn Việt Nam quy định Tùy theo đặc điểm của loại hình công đoàn cơ sở, nghiệp đoàn mà các nhiệm vụ có thể thay đổi cho phù hợp

Pháp luật lao động quy định tổ chức công đoàn có quyền tham gia vào quá trình giải quyết các tranh chấp lao động Tuy nhiên, tùy thuộc vào mỗi loại tranh chấp, đối tượng tranh chấp và giai đoạn giải quyết tranh chấp khác nhau, vai trò tham gia giải quyết của tổ chức công đoàn cũng được pháp luật lao động quy định khác nhau

Trên cơ sở chức năng nhiệm vụ của tổ chức công đoàn, trình tự thủ tục giải quyết tranh chấp lao động đã được Bộ Luật Lao động 2012 quy định, vai trò tham gia của Công đoàn được thể hiện ở từng giai đoạn giải quyết cụ thể sau đây:

1.3.2.1 Vai trò của Công đoàn trong việc ngăn ngừa, hạn chế các tranh chấp lao động

Công đoàn có trách nhiệm tuyên truyền pháp luật, giáo dục người lao động

và người sử dụng lao động có ý thức chấp hành pháp luật, lao động có kỷ luật, có năng suất, chất lượng và hiệu quả; chấp hành nghiêm chỉnh các quy định về bảo hộ lao động và bảo vệ môi trường

Trang 24

Công đoàn tham gia cùng với người sử dụng lao động xây dựng nội quy, quy chế lao động: Nội quy lao động có liên quan mật thiết đến người lao động và có tác động rất lớn đến quá trình thực hiện và duy trì quan hệ lao động Vì vậy pháp luật

đã quy định tổ chức Công đoàn có quyền được cùng với người sử dụng lao động tham gia vào quá trình xây dựng nội quy lao động, thông qua đó góp phần giúp người sử dụng lao động đảm bảo thực hiện đúng theo quy định của pháp luật, đồng thời bảo vệ người lao động, hạn chế đến mức thấp nhất những bất lợi cho người lao động trong khi xây dựng nội quy

Công đoàn tổ chức ký kết thỏa ước lao động tập thể với người sử dụng lao động: thông qua đó nhằm tạo ra những điều kiện lao động tốt hơn cho người lao động, đồng thời cũng tạo ra những căn cứ để ràng buộc người sử dụng lao động thực hiện tốt những quy định của pháp luật và những cam kết trong quá trình lao động, thực hiện tốt hơn chức năng bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động Ngoài ra, Công đoàn tham gia xây dựng, kiểm tra, giám sát việc thực hiện chế độ, chính sách pháp luật liên quan tới người lao động, tham gia xây dựng, kiểm tra, đôn đốc giám sát việc thực hiện các chế độ chính sách về lao động, kiểm tra chấp hành pháp luật về bảo hộ lao động, về hợp đồng lao động, tuyển dụng lao động, cho thôi việc, tiền lương, tiền thưởng, bảo hiểm xã hội thông qua những hoạt động này, Công đoàn góp phần tích cực trong việc ngăn ngừa, hạn chế tranh chấp lao động có thể xảy ra

1.3.2.2 Vai trò của Công đoàn cơ sở tham gia giải quyết tranh chấp lao động

Nguyên tắc cơ bản trong giải quyết tranh chấp lao động là bảo đảm thực hiện hòa giải, trên cơ sở tôn trọng quyền và lợi ích của hai bên tranh chấp Vì vậy khi tranh chấp lao động xảy ra, biện pháp đầu tiên được áp dụng là 2 bên tự thương lượng, hòa giải Nếu hai bên không tự thương lượng được thì có sự tham gia của bên thứ ba giúp các bên hòa giải tại cơ sở Pháp luật lao động quy định bên thứ ba

có trách nhiệm hòa giải đầu tiên là hòa giải viên lao động

Theo quy định của Bộ Luật Lao động 2012: “trong thời hạn 05 ngày làm

việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu hòa giải, hòa giải viên lao động phải kết thúc việc hòa giải” 20 Biên bản hòa giải phải nêu rõ loại tranh chấp lao động

25

Khoản 2 Điều 201 Bộ luật Lao động 2012

Trang 25

Tại phiên họp hòa giải phải có mặt hai bên tranh chấp Các bên tranh chấp có thể ủy quyền cho người khác tham gia phiên họp hòa giải

a./Đối với giải quyết tranh chấp lao động tập thể tại cơ sở:

Công đoàn có thể tham gia phiên họp hòa giải với 1 trong 2 vai trò:

Thứ nhất, công đoàn cơ sở hoặc công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở (đối với doanh nghiệp chưa thành lập công đoàn) tham gia phiên hòa giải với vai trò là đại diện cho tập thể lao động nếu được tập thể lao động ủy quyền

Thứ hai, công đoàn cơ sở tham gia với vai trò là một trong các bên tranh chấp

Ngoài ra, có thể tổ chức công đoàn không được tham gia phiên họp hòa giải của hòa giải viên lao động Đó là trường hợp tại doanh nghiệp chưa thành lập công đoàn và tập thể lao động cũng không ủy quyền cho công đoàn cấp trên trực tiếp cơ

sở tham gia phiên họp hòa giải thì tại phiên họp hòa giải sẽ không có sự tham gia của tổ chức công đoàn

Chỉ khi được tập thể lao động ủy quyền hay khi tự mình làm đơn đề nghị hòa giải viên lao động giải quyết, tổ chức công đoàn mới trở thành một bên trong quá trình giải quyết tranh chấp lao động tập thể Trong trường hợp này, tổ chức công đoàn cần chuẩn bị các chứng cứ, tài liệu liên quan để cung cấp cho hòa giải viên lao động; đề xuất hướng giải quyết các tranh chấp và cân nhắc, lựa chọn phương án mà hòa giải viên lao động đưa ra Nếu hai bên đồng ư với phương án mà hòa giải viên lao động đưa ra thì lập biên bản hòa giải thành và tổ chức thực hiện Nếu tập thể lao động không đồng ý với phương án hòa giải của hòa giải viên thì lập biên bản hòa giải không thành để các bên tiến hành các thủ tục tiếp theo trong quá trình giải quyết tranh chấp

b./Đối với tranh chấp lao động cá nhân:

Hòa giải viên lao động đóng vai trò rất quan trọng Trình tự, thủ tục hòa giải tranh chấp lao động cá nhân của hòa giải viên lao động được Bộ luật Lao động 2012

quy định cụ thể: “trước khi yêu cầu Tòa án giải quyết, tranh chấp lao động cá nhân

phải thông qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động, trừ một số tranh chấp lao động được quy định tại điểm a, b, c, d, đ tại Điều này không bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải”. 21

26

Điều 201 Bộ luật Lao động 2012.

Trang 26

1.3.2.3 Vai trò Công đoàn cấp huyện tham gia giải quyết tranh chấp lao động

Theo quy định Bộ Luật Lao động 2012, trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể

từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động tập thể về quyền, Chủ tịch UBND cấp huyện phải tiến hành giải quyết tranh chấp lao động. 22

Tại phiên họp giải quyết tranh chấp lao động phải có đại diện của hai bên tranh chấp Trường hợp cần thiết, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện mời đại diện

cơ quan, tổ chức có liên quan tham dự phiên họp

Khác với quy định hòa giải của hòa giải viên lao động, tại phiên họp hòa giải của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện, sự tham gia của đại diện hai bên mang tính chất bắt buộc, trong đó đại diện cho tập thể lao động chính là Công đoàn cơ sở Nếu doanh nghiệp chưa thành lập Công đoàn cơ sở thì Công đoàn cấp trên cơ sở có trách nhiệm đại diện cho tập thể lao động

Căn cứ vào những quy định này của pháp luật lao động, tại phiên họp giải quyết tranh chấp của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện, tổ chức Công đoàn có thể tham gia giải quyết tranh chấp bằng những vai trò cụ thể như sau:

Thứ nhất, Công đoàn cơ sở tham gia với vai trò là đại diện cho tập thể lao

động

Thứ hai, nếu tại doanh nghiệp xảy ra tranh chấp nhưng chưa có Công đoàn

thì Công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở tham gia phiên họp giải quyết với vai trò là tổ chức đại diện cho bên tập thể lao động

Thứ ba, tại phiên họp giải quyết, chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện có thể

mời đại diện các cơ quan, tổ chức có liên quan tham dự phiên họp Một trong những

cơ quan, tổ chức có liên quan đến quan hệ lao động, đó là tổ chức Công đoàn đồng cấp với UBND cấp huyện

Tại phiên họp giải quyết chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện căn cứ vào pháp luật về lao động, thỏa ước lao động tập thể, nội quy lao động đã được đăng ký và các quy chế, thỏa thuận hợp pháp khác để xem xét giải quyết tranh chấp lao động

Trong trường hợp các bên không đồng ý với quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện hoặc quá thời hạn mà Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện không giải quyết thì các bên có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết

Khi vai trò tham gia là khác nhau thì quyền và nghĩa vụ của tổ chức Công đoàn cũng khác nhau Nếu Công đoàn tham gia với vai trò đại diện cho tập thể lao

27 Điều 205 Bộ luật Lao động 2012

Trang 27

động thì tổ chức Công đoàn có quyền đồng ý hay không đồng ý với quyết định giải quyết của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện Nếu Công đoàn cơ sở và người sử dụng lao động đồng ý với phương án giải quyết của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện thì tổ chức thực hiện Nếu Công đoàn cơ sở không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết

Nếu Công đoàn tham gia với vai trò được mời dự phiên họp thì những ý kiến của Công đoàn chỉ mang tính tham khảo để chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện ban hành quyết định giải quyết

1.3.2.4 Vai trò Công đoàn cấp tỉnh tham gia giải quyết tranh chấp lao động

Tại Hội đồng trọng tài lao động tỉnh, một thành phần không thể thiếu đó là đại diện công đoàn cấp tỉnh Đại diện Công đoàn cấp tỉnh tham gia vào Hội đồng với tư cách là một thành viên chính thức, có quyền đưa ra phương án hòa giải để các bên xem xét Công đoàn cấp tỉnh có quyền bỏ phiếu để quyết định phương án hòa giải đối với các bên tranh chấp

Tuy nhiên tại phiên họp hòa giải của Hội đồng trọng tài lao động, không chỉ

có sự tham gia của công đoàn cấp tỉnh với vai trò là cơ quan giải quyết mà còn có

sự tham gia của công đoàn cơ sở hoặc công đoàn cấp trên cơ sở với những vai trò khác nhau

Bộ luật Lao động 2012 quy định: Tại phiên họp của Hội đồng trọng tài lao động phải có đại diện của hai bên tranh chấp Trường hợp cần thiết, Hội đồng trọng tài lao động mời đại diện cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan tham dự phiên họp Như vậy pháp luật lao động quy định sự có mặt của đại diện hai bên tranh chấp mang tính chất bắt buộc Đại diện cho tập thể lao động chính là công đoàn cơ sở Nếu tại doanh nghiệp chưa thành lập công đoàn cơ sở thì công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở sẽ là đại diện cho tập thể lao động tại Hội đồng trọng tài lao động. 23

Tại phiên họp của Hội đồng trọng tài lao động, công đoàn cơ sở hoặc công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở có thể tham gia với vai trò là người đại diện cho tập thể lao động hoặc với vai trò là một trong các bên tranh chấp nếu được tập thể lao động

ủy quyền

Trong thực tế có những vụ tranh chấp, tập thể lao động tự mình tham gia giải quyết tranh chấp mà không ủy quyền cho tổ chức Công đoàn, không nhờ công đoàn đại diện Thậm chí trong một số trường hợp, quan điểm của tổ chức Công đoàn đi

28 Khoản 2 điều 206 Bộ luật Lao động năm 2012

Trang 28

ngược lại, không thống nhất với những ý kiến của tập thể lao động Vì vậy, cần thấy

rõ vai trò khác nhau của tổ chức công đoàn khi tham gia phiên họp hòa giải của Hội đồng trọng tài lao động Sự tham gia của công đoàn cơ sở hoặc công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở tại hội đồng trọng tài lao động có thể xảy ra trong hai trường hợp Trường hợp thứ nhất tập thể lao động ủy quyền tham gia Trường hợp thứ hai, tập thể lao động không ủy quyền cho tổ chức công đoàn mà tự mình tham gia giải quyết tranh chấp Trong trường hợp này, công đoàn cơ sở hoặc công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở được mời tham gia phiên họp hòa giải để đảm bảo thành phần theo quy định tại khoản 2 điều 206 Bộ luật Lao động 2012

Khi tổ chức công đoàn được tập thể lao động ủy quyền tham gia thì quyền và nghĩa vụ sẽ khác với khi được mời tham gia để đảm bảo thành phần

Nếu được tập thể lao động ủy quyền hay khi tự mình làm đơn đề nghị Hội đồng trọng tài lao động giải quyết, tổ chức công đoàn trở thành một bên trong quá trình giải quyết tranh chấp lao động tập thể Trong trường hợp này,tổ chức công đoàn cần chuẩn bị các chứng cứ, tài liệu liên quan để cung cấp cho Hội đồng trọng tài lao động; đề xuất hướng giải quyết các tranh chấp và cân nhắc, lựa chọn phương án mà Hội đồng trọng tài lao động đưa ra Nếu hai bên đồng ý với phương án hòa giải thì lập biên bản hòa giải thành và tổ chức thực hiện Nếu tập thể lao động không đồng ý với phương án hòa giải thì lập biên bản hòa giải không thành để các bên tiến hành các thủ tục tiếp theo trong quá trình giải quyết tranh chấp lao động tập thể về lợi ích Nếu được mời tham gia phiên họp hòa giải,

tổ chức công đoàn không có những quyền và nghĩa vụ như với vai trò khi được tập thể lao động ủy quyền

Tóm lại, tại Hội đồng trọng tài lao động, tổ chức công đoàn tham gia hòa giải tranh chấp lao động với những vai trò khác nhau:

Thứ nhất, công đoàn cấp tỉnh, tham gia hòa giải với vai trò là một thành viên

của hội đồng, có quyền đưa ra phương án hòa giải và có quyền bỏ phiếu để lựa chọn phương án hòa giải tối ưu nhất

Thứ hai, công đoàn cơ sở hoặc công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở (đối với

doanh nghiệp chưa thành lập công đoàn), có thể tham gia với vai trò là một bên trong tranh chấp nếu được tập thể lao động ủy quyền Trong trường hợp này, công đoàn cơ sở hoặc công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của tập thể lao động, một trong các bên tranh chấp được quy định tại điều 196 Bộ luật lao động 2012

Trang 29

Thứ ba, công đoàn cơ sở hoặc công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở (đối với

doanh nghiệp chưa thành lập công đoàn), có thể tham gia với vai trò là thành phần được mời với tư cách là đại diện cho tập thể lao động Trong trường hợp này, quyền quyết định vẫn thuộc về tập thể lao động Tổ chức công đoàn được mời không có quyền quyết định thay cho tập thể lao động

1.3.2.5 Vai trò Công đoàn tham gia giải quyết tranh chấp lao động tại Tòa án nhân dân

Theo quy định Bộ Luật Lao động 2012, trường hợp các bên không đồng ý với quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện hoặc quá thời hạn 5 ngày

kể từ ngày gửi đơn mà Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện không giải quyết thì các bên có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết. 24

Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân và tranh chấp lao động tập thể về quyền theo quy định tại Điều 32 Bộ Luật Tố tụng Dân sự 2015

Trong quá trình giải quyết tại Tòa án, tổ chức công đoàn có thể tham gia với những vai trò sau đây:

Thứ nhất, Công đoàn tham gia với vai trò là nguyên đơn, bị đơn

Theo quy định Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 thì cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án tại Tòa án

Vì vậy khi được tập thể lao động ủy quyền, tổ chức công đoàn có thể trở thành nguyên đơn để gửi đơn yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp lao động tập thể Ngược lại, nếu người sử dụng lao động khởi kiện tập thể lao động thì tổ chức công đoàn có thể trở thành bị đơn trong vụ án. 25

Quyền và nghĩa vụ của công đoàn khi được ủy quyền, trở thành nguyên đơn,

bị đơn được quy định tại điều 71, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015

Thứ hai, Công đoàn tham gia với vai trò là người đại diện

Theo Bộ luật tố tụng dân sự 2015 “Người đại diện trong tố tụng dân sự bao

gồm người đại diện theo pháp luật và người đại diện theo ủy quyền”,“Cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác cũng

là đại diện theo pháp luật trong tố tụng dân sự của người được bảo vệ” 26

Ngoài ra, người đại diện pháp luật cho tập thể người lao động khởi kiện vụ án lao động, tham

29 Khoản 3, điều 205 Bộ luật Lao động 2012.

30 Điều 186 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

31

Khoản 1, 2 điều 85 Bộ luật tố tụng dân sự 2015

Trang 30

gia tố tụng tại Tòa án khi quyền, lợi ích hợp pháp của tập thể người lao động bị xâm phạm là tổ chức đại diện tập thể lao động khi được người lao động ủy quyền27 Hiện nay, theo quy định Luật Công đoàn 2012, tổ chức Công đoàn là tổ chức đại diện cho tập thể người lao động tham gia tố tụng trong vụ án lao động, hành chính, phá sản doanh nghiệp để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của tập thể người lao động và người lao động28

Vì vậy trong trường hợp xét thấy quyền, lợi ích hợp pháp của tập thể lao động bị vi phạm nghiêm trọng thì công đoàn cơ sở có quyền khởi kiện vụ án lao động Trường hợp công đoàn cơ sở không khởi kiện vụ tranh chấp lao động tập thể hoặc tại doanh nghiệp đó chưa thành lập công đoàn, công đoàn cấp trên trực tiếp của công đoàn cơ sở có quyền khởi kiện vụ án lao động để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của tập thể người lao động

Người đại diện theo pháp luật trong tố tụng dân sự thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự của đương sự trong phạm vi mà mình đại diện29 Vì vậy, khi tham gia vụ án lao động với vai trò là người đại diện, tổ chức công đoàn có các

quyền và nghĩa vụ được quy định tại điều 70 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015

Thứ ba, Công đoàn tham gia với vai trò là người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của tập thể lao động

Khi tham gia vụ án lao động tại Tòa án, tập thể lao động có quyền tự bảo vệ hoặc nhờ người khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp khác cho mình Vì vậy, tập thể lao động có quyền nhờ luật sư hoặc tổ chức công đoàn cử người tham gia bảo vệ quyền lợi của mình tại Tòa án

Như vậy, trong quá trình giải quyết tranh chấp lao động tập thể tại Tòa án, tổ chức công đoàn có thể tham gia với vai trò là nguyên đơn, bị đơn; người đại diện cho tập thể lao động; người bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho tập thể lao động Với mỗi vai trò khác nhau, tổ chức công đoàn có những quyền và nghĩa vụ khác nhau được Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định Ngoài ra trong quá trình giải quyết vụ

án, với vai trò nêu trên, tổ chức công đoàn có quyền yêu cầu Tòa án áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời để tạm thời giải quyết yêu cầu cấp bách của đương sự,

32 Khoản 3 điều 85 Bộ luật tố tụng dân sự 2015

33 Điều 10 Luật Công đoàn 2012

34 Khoản 1 điều 86 Bộ luật tố tụng dân sự 2015

Trang 31

bảo vệ chứng cứ, bảo toàn tình trạng hiện có tránh gây thiệt hại không thể khắc phục được hoặc bảo đảm việc thi hành án

Tiểu kết luận Chương 1

Từ những vấn đề lý luận cơ bản về tranh chấp lao động trong Chương 1 đã trình bày, sau khi tìm hiểu những bản chất của quan hệ lao động, chúng ta thấy tranh chấp lao động là một hiện tượng tự nhiên trong quá trình phát triển của quan

hệ lao động, có chiều hướng ngày càng gia tăng, đây là điều mà tất cả các quốc gia đều không mong muốn xảy ra

Quan hệ lao động là quan hệ giữa người lao động hoặc tập thể lao động với người sử dụng lao động Tuy nhiên, trong quan hệ này thì Công đoàn- tổ chức đại diện cho người lao động có vai trò quan trọng không thể thiếu Vai trò của tổ chức Công đoàn trong quan hệ lao động được pháp luật trong Hiến pháp 2013, Luật Công Đoàn 2012, Bộ Luật lao động 2012 và nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác

Khi xảy ra tranh chấp lao động, tùy theo loại tranh chấp lao động sẽ có những hình thức giải quyết khác nhau, sự tham gia của tổ chức Công đoàn vào quá trình giải quyết tranh chấp lao động sẽ đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động, góp phần đảm bảo cho sự phát triển kinh tế xã hội hài hòa, ổn định

Trang 32

Chương 2: Thực trạng về tranh chấp lao động và vai trò của tổ chức Công đoàn trong việc giải quyết tranh chấp lao động trong các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Cà Mau

2.1 Tổng quan về tình hình hoạt động của doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Cà Mau

2.1.1 Tình hình phát triển doanh nghiệp Cà Mau giai đoạn 2013- 2015

Trong những năm qua, doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Cà Mau có bước phát triển mạnh cả về số lượng và quy mô Năm 2015, số lượng doanh nghiệp thành lập mới trên địa bàn tỉnh Cà Mau là 515 doanh nghiệp, tăng 25% về số lượng, tăng 137% về vốn đăng ký so với năm 2014 Đến ngày 31/12/2015, tổng số doanh nghiệp được thành lập theo Luật Doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Cà Mau là 4.337 doanh nghiệp

Trong số những doanh nghiệp thủy sản hàng đầu của Việt Nam, có kim ngạch xuất khẩu lên đến hàng chục, trăm triệu USD, tỉnh Cà Mau có Công ty Minh Phú, Camimex, Quốc Việt… Các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất khẩu thủy sản ngày càng bị cạnh tranh gay gắt, đặc biệt là tại thị trường EU; doanh nghiệp phải đối mặt với các rào cản kỹ thuật của các nước nhập khẩu; khả năng cạnh tranh của các sản phẩm của doanh nghiệp còn chưa cao; quy mô kinh doanh của doanh nghiệp còn theo kiểu truyền thống hộ gia đình, trình độ quản trị doanh nghiệp và áp dụng khoa học kỹ thuật chưa đáp ứng nhu cầu phát triển hiện nay

Báo Đất Mũi online ngày 31 tháng 12 năm 2015 đã có bài viết phân tích những khó khăn của ngành Thủy sản tỉnh Cà Mau năm 2015, hướng khắc phục khó khăn, quyết tâm cho năm 2016 Theo đó, năm 2015 là một năm nhiều khó khăn đối với ngành Thủy sản, sản lượng chế biến và kim ngạch xuất khẩu sụt giảm rất mạnh

so với cùng kỳ, nhất là kim ngạch xuất khẩu thủy sản, giảm 2% (cả nước giảm 29%) Nguyên nhân chính cho việc sụt giảm kim ngạch xuất khẩu là do các nước điều chỉnh tỷ giá đồng nội tệ: trong năm 2015, nhiều quốc gia thực hiện nhiều đợt điều chỉnh tỷ giá, giảm giá so với đồng đô la Mỹ (đồng tiền chính dùng trong giao dịch thương mại thế giới), như: Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia…, từ đó làm cho giá bán tôm của Việt Nam đắt hơn giá bán tôm của các nước nói trên Bên cạnh đó chi phí đầu vào tăng cao làm cho nhu cầu vốn doanh nghiệp tăng lên ảnh hưởng đến giá tôm nguyên liệu Các rào cản kỹ thuật các nước yêu cầu đặt ra ngày càng gắt gao:

Dư lượng hóa chất, kháng sinh, các chứng nhận quốc tế về vùng nuôi… Từ các

Trang 33

nguyên nhân chính nêu trên cho thấy năm 2015 tình hình chế biến và xuất khẩu thủy sản hết sức khó khăn, làm cho ngành chế biến và xuất khẩu thủy sản sụt giảm mạnh Tính đến tháng 12 năm 2015 toàn tỉnh có 19 công ty chuyên chế biến tôm xuất khẩu đang hoạt động, 6 công ty ngừng hoạt động (Việt Hải, Phú Cường, Nhật Đức, Tân Thành, Ngọc Châu, Đại Dương) Bên cạnh đó, các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bản tỉnh Cà Mau đa số hình thành từ nhu cầu của một cá nhân, hộ gia đình, hoạt động chủ yếu với hình thức tự phát và có tình hình tài chính, năng lực quản trị, điều hành còn kém nên khả năng tiếp cận vốn ngân hàng còn hạn chế

Có thể nói, sự phát triển của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Cà Mau trong thời gian vừa qua đã góp phần quan trọng trong việc tạo việc làm, thu hút lao động, đóng góp ngân sách cho tỉnh Tuy nhiên sự phát triển của các doanh nghiệp cũng đã ảnh hưởng lớn đến việc đảm bảo chế độ chính sách cho người lao động nói chung và vấn đề giải quyết tranh chấp lao động nói riêng Các doanh nghiệp chủ yếu hoạt động trong ngành chế biến thủy sản, thiếu sự ổn định, thường bị ảnh hưởng

về giá tôm nguyên liệu do đó chậm trể trong việc chi trả các chế độ cho người lao động, tiềm ẩn nguy cơ xảy ra các cuộc tranh chấp lao động rất lớn giữa người sử

dụng lao động và người lao động

2.1.2 Tình hình thành lập Công đoàn và thực trạng đội ngũ cán bộ Công đoàn trong các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Cà Mau năm 2013 đến

Hoạt động các cấp công đoàn tỉnh Cà Mau trong giai đoạn 2013-2015 đã tập trung bảo vệ quyền quyền lợi hợp pháp cho người lao động thông qua việc hướng dẫn công đoàn cơ sở thương lượng, ký kết thỏa ước lao động tập thể, tổ chức thực hiện quy chế dân chủ, phối hợp tổ chức hội nghị người lao động trong các doanh nghiệp, đề xuất người sử dụng lao động xây dựng thang bảng lương và đăng ký nội quy lao động tại các cơ quan nhà nước có thẩm quyền…Bên cạnh việc tập trung phát triển và tổ chức hoạt động công đoàn tại các doanh nghiệp, Công

Trang 34

đoàn tỉnh Cà Mau cũng đã quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ Công đoàn, những người trực tiếp tham gia giải quyết các tranh chấp lao động trong thời gian vừa qua

Công đoàn khu vực ngoài nhà nước thuộc tỉnh Cà Mau hiện có 119 chủ tịch công đoàn tại các Công đoàn cơ sở doanh nghiệp khu vực ngoài nhà nước Phân tích những yếu tố có liên quan đến 119 chủ tịch công đoàn tại các doanh nghiệp trong các ngành có thể nhận thấy một số nội dung sau đây:

Về cơ cấu: Cán bộ công đoàn tại các doanh nghiệp tỉnh Cà Mau chủ yếu làm

việc theo chế độ kiêm nhiệm, họ phải thực hiện nhiệm vụ chuyên môn giao cho Trong số 119 cán bộ Công đoàn tại các doanh nghiệp thì có 91/119 cán bộ Công đoàn giữ chức vụ chuyên môn từ phó phòng trở lên chiếm 76%; 21/119 cán bộ Công đoàn là quản đốc 18%; 7/119 là công nhân trực tiếp sản xuất, chiếm 6% Như vậy, đa số cán bộ Công đoàn tại các doanh nghiệp đều giữ chức vụ từ phó phòng, phó quản đốc trở lên

Về thâm niên công tác: Trong số 119 cán bộ Công đoàn thì có 37/119 cán

bộ làm công tác công đoàn trên 10 năm, chiếm 31%; 42/119 cán bộ làm công tác Công đoàn từ 5 đến 7 năm, chiếm 35%; 40/119 cán bộ làm công tác Công đoàn từ dưới 5 năm, chiếm 34% Như vậy số cán bộ có thâm niên công tác trên 5 năm trở lên chiếm đa số, đây là một lợi thế về kinh nghiệm công tác của cán bộ Công đoàn tỉnh Cà Mau tại các doanh nghiệp

Về mối quan hệ giữa chủ tịch công đoàn và chủ doanh nghiệp: Đa phần chủ

tịch công đoàn là người được đoàn viên tín nhiệm bầu ra Tuy nhiên, việc giới thiệu người tham gia vào Ban chấp hành Công đoàn tại các doanh nghiệp cũng như chủ tịch công đoàn phụ thuộc rất nhiều vào các chủ doanh nghiệp

Về trình độ của cán bộ Công đoàn tại các doanh nghiệp: Số liệu khảo sát

cho thấy: 55/119 cán bộ Công đoàn có trình độ đại học, cao đẳng, chiếm 46%; 58/119 cán bộ Công đoàn có trình độ trung cấp, chiếm 48%; 6/119 cán bộ Công đoàn nào có trình độ sơ cấp và chưa qua đào tạo, chiếm 6% Như vậy đa số cán bộ Công đoàn tại các doanh nghiệp của Công đoàn tỉnh Cà Mau đã qua đào tạo, đây cũng là nội dung rất thuận lợi cho quá trình đào tạo, tập huấn về pháp luật lao động nói chung và giải quyết tranh chấp lao động nói riêng. 30

Trang 35

2.2 Thực trạng pháp luật về vấn đề tranh chấp lao động và vai trò của tổ chức Công đoàn

Bộ luật Lao động được ban hành ngày 23/6/1994, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1995 đến nay đã qua 4 lần sửa đổi, bổ sung vào các năm 2002, 2006, năm 2007 và sửa đổi toàn diện năm 2012 Bộ luật Lao động năm 2012 bao gồm 16 chương, trong đó chương XIV quy định về giải quyết tranh chấp lao động, bao gồm những quy định chung về giải quyết tranh chấp lao động; quy định cụ thể về thẩm quyền và trình tự giải quyết tranh chấp lao động cá nhân cũng như tranh chấp lao động tập thể

Luật Công đoàn được Quốc hội thông qua ngày 30/6/1990 và được Chủ tịch Hội đồng nhà nước (nay là Chủ tịch nước) công bố ngày 07/7/1990 Bên cạnh những mặt đạt được, qua hơn 19 năm thực hiện Luật Công đoàn cũng đã bộc lộ nhiều hạn chế, do các quy định của luật bị ảnh hưởng của tư duy nền kinh tế cũ, nhiều nội dung của Luật không còn phù hợp31 Luật Công đoàn 2012 ra đời, gồm 6 chương, 33 Điều; giữ bốn chương của Luật Công đoàn hiện hành, bổ sung thêm 2 chương mới: chương III “Trách nhiệm của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp đối với Công đoàn” và chương V “Giải quyết tranh chấp, xử lý vi phạm pháp luật về công đoàn”; tăng 14 điều Luật Luật Công đoàn năm 2012 quy định về quyền, trách nhiệm của công đoàn và đoàn viên công đoàn; trách nhiệm của nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp đối với công đoàn Đồng thời quy định những bảo đảm hoạt động của công đoàn và giải quyết tranh chấp, xử lý vi phạm pháp luật

về công đoàn

Ngoài những quy định trong Bộ luật Lao động; Luật Công đoàn, vấn đề tranh chấp lao động và vai trò của tổ chức Công đoàn còn được quy định cụ thể tại các văn bản dưới Luật: Nghị định số 43/2013/NĐ-CP ngày 10/5/2013 quy định chi tiết thi hành Điều 10 của Luật Công đoàn về quyền, trách nhiệm của Công đoàn trong việc đại diện bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động; Chương 2 Nghị định số 46/2013/NĐ-CP ngày 10/5/2013 quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về tranh chấp lao động; Thông tư số 08/2013/TT-BLĐTBXH ngày 10/8/2013 hướng dẫn Nghị định số 46/2013/NĐ-CP ngày 10/5/2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về tranh chấp lao động Nghị định số 200/2013/NĐ-CP ngày 26/11/2013 quy

31

Báo cáo tổng kết 19 năm thực hiện Luật Công đoàn 1990- 2009 của Tổng LĐLĐ Việt Nam

Trang 36

định chi tiết thi hành Điều 11 của Luật Công đoàn về quyền, trách nhiệm của Công đoàn trong tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội

Nhìn chung, các văn bản quy định và hướng dẫn triển khai đã được ban hành tương đối đầy đủ, cụ thể giúp cho các đối tượng thi hành dễ dàng áp dụng, tra cứu, thực thi trong thực tiễn Các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành

Bộ luật Lao động là hệ thống các văn bản tương đối hoàn chỉnh điều chỉnh các vấn

đề liên quan đến quan hệ lao động và đáp ứng được yêu cầu đòi hỏi của thực tế trong điều kiện nước ta đang hội nhập kinh tế thế giới, tạo hành lang pháp lý cho việc xử lý tranh chấp lao động, cải thiện quan hệ lao động lành mạnh, hài hoà, ổn định và tiến bộ trong doanh nghiệp góp phần cải thiện môi trường đầu tư, đảm bảo

an ninh trật tự xã hội và tăng trưởng kinh tế bền vững Việc sửa đổi toàn diện Luật Công đoàn và Bộ luật Lao động; Ban hành các văn bản dưới Luật về vấn đề lao động và Công đoàn đã giúp cho tổ chức Công đoàn sẽ có thêm nhiều điều kiện thuận lợi để hoạt động, nhất là Công đoàn cơ sở trong vai trò là người đại diện, bảo

vệ quyền, lợi ích chính đáng, hợp pháp của người lao động32

Trong thời gian qua, tổ chức Công đoàn đã tham gia cùng với người sử dụng lao động xây dựng các bản thỏa ước lao động Tình hình tranh chấp lao động dẫn đến ngừng việc tập thể đã có một số chuyển biến tích cực, theo số liệu của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, tính đến hết tháng 6/2015, có 19 khu công nghiệp xảy ra tranh chấp lao động tập thể dẫn đến ngừng việc tập thể với 91 cuộc (giảm 42 cuộc so cả năm 2014) 33; trong đó, tập trung chủ yếu ở một số tỉnh, thành phố phía Nam Nguyên nhân chủ yếu của các cuộc tranh chấp lao động tập thể là do chủ doanh nghiệp vi phạm quy định của pháp luật lao động, nhất là về thực hiện chính sách tiền lương, tiền thưởng, bữa ăn giữa ca…

Tuy nhiên, bên cạnh những mặt đạt được qua 4 lần sửa đổi bổ sung Luật, một số nội dung cơ bản của Bộ luật Lao động 2012 có liên quan đến giải quyết tranh chấp lao động vẫn chưa được sửa đổi, bổ sung căn bản, vì vậy tình trạng tranh chấp lao động vẫn còn xảy ra phức tạp Cơ chế hòa giải lao động thông qua hòa giải viên vẫn chưa có tính hiệu quả Đối với vai trò của tổ chức công đoàn, tuy đã được quy định cụ thể trong Luật Công đoàn và các văn bản dưới luật những vẫn chưa đầy

đủ để đảm bảo phát huy được vai trò của tổ chức công đoàn

Ngày đăng: 07/06/2018, 00:12

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w