1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tác động của kiều hối đến thu nhập và chi tiêu các hộ gia đình việt nam giai đoạn 2012 2014

100 270 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 1,58 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu “Tác động của kiều hối đến thu nhập và chi tiêu các hộ gia đình Việt Nam giai đoạn 2012-2014” sẽ trả lời được những nghi vấn đặt ra cũng như chỉ rõ tác động của kiều hối đến

Trang 1

NGUYỄN THỊ THANH THẢO

TÁC ĐỘNG CỦA KIỀU HỐI ĐẾN THU NHẬP VÀ CHI TIÊU CÁC

HỘ GIA ĐÌNH VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2012-2014

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP HỔ CHÍ MINH - NĂM 2017

Trang 2

NGUYỄN THỊ THANH THẢO

TÁC ĐỘNG CỦA KIỀU HỐI ĐẾN THU NHẬP VÀ CHI TIÊU CÁC

HỘ GIA ĐÌNH VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2012-2014

Chuyên ngành: Kinh tế Phát triển

Mã số: 60310105

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS TRẦN TIẾN KHAI

TP HỔ CHÍ MINH - NĂM 2017

Trang 3

các hộ gia đình Việt Nam giai đoạn 2012-2014” là nghiên cứu do chính tôi thực

hiện

Ngoài trừ những tài liệu tham khảo được trích dẫn trong luận văn này, tôi cam đoan nội dung của toàn luận văn chưa được công bố hoặc sử dụng để thực hiện nhận bằng cấp ở những nơi khác Đồng thời, không có sản phẩm hoặc nghiên cứu nào của người khác được sử dụng trong luận văn mà không được trích dẫn theo đúng quy định

Luận văn này chưa bao giờ được nộp để nhận bất kỳ bằng cấp nào tại các trường đại học hoặc các cơ sở đào tạo khác

TP.Hồ Chí Minh, năm 2017

NGUYỄN THỊ THANH THẢO

Trang 4

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ

CHƯƠNG 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Lý do chọn đề tài 1

1.2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu 3

1.3 Phạm vi nghiên cứu 3

1.4 Cấu trúc luận văn: 3

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 5

2.1 Khái niệm về hộ gia đình 5

2.2 Khái niệm về thu nhập 6

2.2.1 Định nghĩa thu nhập: 6

2.2.2 Định nghĩa thu nhập của hộ gia đình: 6

2.3 Khái niệm chi tiêu hộ gia đình 6

2.3.1 Vai trò của chi tiêu hộ gia đình: 7

2.3.2 Hành vi quyết định chi tiêu của hộ gia đình 7

2.4 Lý thuyết về hành vi tiêu dùng 8

2.4.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến cầu hàng hóa 8

2.4.2 Vấn đề lựa chọn tiêu dùng (Mas-collet và cộng sự, 1995) 9

2.5 Nghèo đói 9

2.5.1 Xác định nghèo đói 9

2.5.2 Nguyên nhân dẫn đến sự nghèo đói 10

2.5.3 Cơ sở xác định ngưỡng nghèo 11

2.6 Lược khảo lý thuyết liên quan 13

2.6.1 Các lý thuyết Kinh tế học vĩ mô liên quan đến kiều hối 13

2.6.2 Mối quan hệ giữa kiều hối với thu nhập và chi tiêu hộ gia đình 15

2.6.3 Mối quan hệ giữa kiều hối với nghèo đói và bất bình đẳng 17

2.6.4 Lược khảo các nghiên cứu thực nghiệm liên quan 19

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24

Trang 5

3.3.1 Phương pháp so sánh điểm xu hướng (Propensity Score Matching

Method) 31

3.3.2 Phương pháp khác biệt trong khác biệt 33

3.4 Phương pháp xử lý dữ liệu: 35

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 36

4.1 Tổng quan về kiều hối quốc tế ở Việt Nam 36

4.1.1 Tổng quan về di cư và kiều hối ở Việt Nam 36

4.1.2 Vai trò của kiều hối quốc tế đối với nền kinh tế: 39

4.1.3 Kiều hối quốc tế tác động đến thu nhập và chi tiêu của các hộ gia đình Việt Nam 42

4.2 Kiều hối và phân tích tác động của kiều hối đến chi tiêu và thu nhập của hộ gia đình: 46

4.3 Kết quả ước lượng mô hình: 49

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH 66

5.1 Kết luận 66

5.2 Những khuyến nghị và đề xuất cơ chế, chính sách 69

5.3 Giới hạn của đề tài nghiên cứu: 72 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

GDP: Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc

nội

IMO: The International Organization for Migration Tổ chức Di cư quốc

tế

binh và Xã hội VHLSS: Vietnam Household Living Standards Survey Điều tra mức sống hộ

gia đình Việt Nam

Trang 7

Bảng 4 1: Số lượng nhân lực Việt Nam đi lao động theo hợp đồng có thời hạn ở một số thị trường chủ yếu giai đoạn 2000-2016 39 Bảng 4 2: Tỷ lệ kiều hối quốc tế trên tổng sản phẩm quốc nội (GDP) nền kinh tế trong giai đoạn 2000-2016 41 Bảng 4 3: Kiều hối quốc tế và dòng chảy FDI về Việt Nam giai đoạn 2000-2016 42 Bảng 4 4: Tỷ trọng kiều hối từ các quốc gia trên thế giới chuyển về Việt Nam 42 Bảng 4 5: Sự phân bổ về dân số và kiều hối quốc tế của các hộ gia đình Việt Nam trong hai năm 2012 và 2014 44 Bảng 4 6: Thu nhập và chi tiêu của các hộ gia đình nhận và không nhận kiều hối quốc tế trong hai năm 2012 và 2014 45 Bảng 4 7: T-test của các biến giải thích được chia thành hai nhóm, bao gồm nhóm kiểm soát và nhóm xử lý trong năm 2012 46 Bảng 4 8: T-test của các biến giải thích được chia thành 02 nhóm, bao gồm nhóm kiểm soát và nhóm xử lý trong năm 2012 cho khu vực nông thôn và thành thị 48 Bảng 4 9: Kết quả hồi quy theo phương pháp DID kết hợp với PSM- Trường hợp thu nhập

và chi tiêu của hộ gia đình 50 Bảng 4 10: Kết quả hồi quy theo phương pháp DID kết hợp với PSM-Trường hợp chi tiêu giáo dục và chi tiêu y tế 52 Bảng 4 11: Kết quả hồi quy DID kết hợp phương pháp PSM theo khu vực đô thị và nông thôn 53 Bảng 4 12: Tác động của kiều hối quốc tế đến thu nhập và chi tiêu gia đình giữa hai khu vực thành thị và nông thôn giai đoạn 2012-2014 63

Danh mục các hình vẽ, đồ thị

Hình 3 1: Mô hình nghiên cứu 26 Hình 3 2: Đồ thị mô tả phương pháp nghiên cứu 34 Hình 4 1:Top 10 quốc gia nhận kiều hối quốc tế cao nhất khu vực Đông Á- Thái Bình Dương năm 2015 36Hình 4 2: Cơ cấu nhân lực Việt Nam đi lao động theo hợp đồng có thời hạn ở một số thị trường chủ yếu giai đoạn 2000-2016 38Hình 4 3: Lượng kiều hối quốc tế của người Việt Nam định cư ở nước ngoài chuyển về trong nước giai đoạn 2000-2016 40Hình 4 4: Thực trạng sử dụng kiều hối quốc tế của các hộ gia đình Việt Nam giai đoạn 1997-1998 43

Trang 8

CHƯƠNG 1 MỞ ĐẦU

1.1 Lý do chọn đề tài

Trải qua hơn hai thập kỷ, Việt Nam đang trong quá trình cải cách kinh tế và hội nhập quốc tế Kinh tế Việt Nam đã và đang mở rộng thương mại quốc tế và từng bước hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu Cùng với xu hướng hội nhập, lao động Việt Nam cũng đang trong tiến trình hội nhập vào thị trường lao động quốc tế Số lượng người Việt hiện đang sinh sống và làm việc ở nước ngoài ngày càng tăng cao, mà nguyên nhân chủ yếu là do quá trình xuất khẩu lao động Việt Nam đến các quốc gia

có nền kinh tế phát triển như Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore ngày một gia tăng Đến năm 2015 Việt Nam có khoảng 4 triệu người đang sinh sống và làm việc tại

187 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới (Kiều hối khó vào sản xuất 10/2016) Đây chính là những người Việt hoặc những người lao động di cư đã chuyển một lượng lớn ngoại tệ về nước hàng năm nhằm giúp gia đình ở Việt Nam phát triển kinh tế Lượng ngoại tệ do những người Việt làm việc ở nước ngoài chuyển về gọi

là kiều hối Theo báo cáo mới nhất của Ngân hàng Thế giới (Worldbank 4/2016), tổng lượng kiều hối mà Việt Nam nhận được là 13,2 tỷ đô la Mỹ đứng thứ 11 trên thế giới về lượng kiều hối nhận được năm 2015, năm 2014 là 12 tỷ đô la Mỹ, năm

2013 và 2012 lần lượt là 11 và 10 tỷ đô la Mỹ Như vậy có thể kết luận rằng trong những năm gần đây lượng kiều hối đang có xu hướng gia tăng và đóng một vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế và ổn định kinh tế vĩ mô Việt Nam, tác động trực tiếp đến thu nhập và mức sống hộ gia đình Đây cũng là cơ sở để các hộ gia đình có điều kiện mở rộng đầu tư và phát triển kinh tế

Theo một số cơ sở lý thuyết cho thấy dòng kiều hối tạo ra những hiệu ứng vừa tích cực lẫn tiêu cực đến nền kinh tế Và đã có nhiều nghiên cứu thực nghiệm cho thấy kiều hối có vai trò tác động đến kinh tế hộ gia đình cũng như tác động đến tình trạng giảm nghèo ở Việt Nam Theo Adams & Page (2003) cho rằng di cư quốc tế

và lượng kiều hối gửi về đều có tác động tích cực trong việc xóa đói giảm nghèo ở

Trang 9

các nước đang phát triển Adams (2005), Adams and Cuecuecha (2010) cho rằng kiều hối có tác động tích cực đến chi tiêu chăm sóc sức khỏe và giáo dục ở Guatemala Ahmed and et al (2010) chứng minh rằng tác động của kiều hối đến thực phẩm, giáo dục, quần áo và các hoạt động giải trí ở Pakistan là có ý nghĩa thống kê Nguyễn Đức Thành và Hoàng Thị Chỉnh (2012) cho rằng kiều hối có vai trò quan trọng trong việc giảm tình trạng nghèo ở Việt Nam, tức là nhận kiều hối có thể làm tăng số hộ thoát nghèo Một số nhà nghiên cứu của Việt Nam khác cũng nhận định rằng kiều hối đã góp phần phát triển kinh tế và xóa đói giảm nghèo Mặc dù, tác động tích cực và dễ nhận thấy nhất là nguồn kiều hối có tác dụng làm tăng thu nhập khả dụng của hộ gia đình và làm tăng chi tiêu trong nước Tuy nhiên, việc tăng chi tiêu có thể là nguyên nhân dẫn đến tăng nhu cầu tiêu dùng hàng nhập khẩu Nếu thị trường ngoại tệ không tồn tại hệ thống tỷ giá ổn định, lượng cung ngoại tệ lớn tất yếu dẫn đến tăng giá đồng nội tệ Điều này làm cho hàng hóa Việt Nam mất đi khả năng cạnh tranh so với hàng hóa nước ngoài làm cho nhu cầu về hàng hóa trong nước giảm xuống Mặt khác theo Bracking (2003) lập luận rằng một trong những ảnh hưởng có hại của kiều hối nằm ở chỗ những người không nhận kiều hối sẽ trở nên nghèo đi, không chỉ tương đối mà có thể là tuyệt đối, vì hiệu ứng lạm phát xuất hiện do những người nhận kiều hối tăng chi tiêu; hay nói cách khác những hộ gia đình nhận kiều hối làm xói mòn sức mua của những hộ không nhận kiều hối Đây là những hiệu ứng tiêu cực khó nhận thấy từ dòng kiều hối mang lại

Do đó để khắc phục việc này, cần xây dựng các chính sách hướng đến việc sử dụng hiệu quả dòng kiều hối của các hộ gia đình thông qua việc đầu tư vào sản xuất và đầu tư vào con người nhằm duy trì tính bền vững của việc thoát nghèo

Trước thực tiễn trên, câu hỏi đặt ra là lượng kiều hối chuyển về Việt Nam có vai trò

tích cực hay tiêu cực trong việc phát triển kinh tế hộ gia đình Nghiên cứu “Tác động của kiều hối đến thu nhập và chi tiêu các hộ gia đình Việt Nam giai đoạn 2012-2014” sẽ trả lời được những nghi vấn đặt ra cũng như chỉ rõ tác động của kiều

hối đến thu nhập và chi tiêu của hộ gia đình bằng phương pháp hồi quy đa biến thông qua các biến số thể hiện những đặc điểm chủ yếu của các hộ gia đình

Trang 10

1.2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu

Mục tiêu của nghiên cứu này là đo lường tác động của kiều hối đến thu nhập và chi tiêu các hộ gia đình Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2014 Từ đó đưa ra những đề xuất kiến nghị trong việc sử dụng hiệu quả nguồn vốn kiều hối nhằm mang lại những hiệu quả tích cực trong công tác giảm nghèo ở Việt Nam

Câu hỏi nghiên cứu:

- Kiều hối mà các hộ gia đình nhận được có tác động đến thu nhập và chi tiêu của hộ gia đình hay không ?

- Có sự khác biệt đáng kể về tác động của kiều hối quốc tế đến thu nhập và chi tiêu của hộ gia đình giữa khu vực nông thôn và thành thị ?

1.3 Phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các hộ gia đình trên phạm vi cả nước Việt Nam trong giai đoạn 2012 đến năm 2014 Luận văn sử dụng hồi quy đa biến với phương pháp DID kết hợp PSM thông qua các biến số về các đặc điểm của hộ gia đình được khảo sát bằng bộ dữ liệu khảo sát mức sống hộ gia đình Việt Nam- VHLSS giai đoạn 2012-2014 để đo lường sự tác động của kiều hối đến thu nhập và nhu cầu chi tiêu của mỗi hộ gia đình Nghiên cứu sử dụng các kiểm định để phân tích sự tương quan và xác định mức ý nghĩa thống kê của các biến trong mô hình

1.4 Cấu trúc luận văn:

Luận văn bao gồm 05 chương chủ yếu

Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu là phần trình bày vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và cấu trúc luận văn

Chương 2: Cơ sở lý thuyết: Trình bày các quan niệm liên quan đến các biến được sử dụng trong nghiên cứu , các cơ sở lý luận liên quan đến thu nhập, chi tiêu, nghèo đói, kiều hối và lược khảo các nghiên cứu trước đây

Chương 3: Phương pháp và dữ liệu nghiên cứu: Trình bày phương pháp nghiên cứu,

mô hình và dữ liệu nghiên cứu

Trang 11

Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận: Trình bày kết quả và phân tích kết quả nghiên cứu , xác định mối quan hệ giữa kiều hối với thu nhập và chi tiêu các hộ gia đình Việt Nam

Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách: Tóm tắt lại kết quả nghiên cứu, từ đó đưa

ra các khuyến nghị về phân phối thu nhập, chi tiêu và xóa đói giảm nghèo Đưa ra một số hạn chế và các hướng nghiên cứu tiếp theo

Trang 12

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

2.1 Khái niệm về hộ gia đình

Theo Liên hợp quốc: Hộ là những người cùng sống chung dưới một mái nhà, cùng

ăn chung và có chung một ngân quỹ Năm 1981, Harris (Anh) cho rằng :” Hộ là một đơn vị tự nhiên tạo nguồn lao động” và trên góc độ này, nhóm các đại biểu thuộc trường phái “ Hệ thống thế giới” (Mỹ) là Smith, Martin (1985) và Beiltell (1987) bổ sung thêm “Hộ là một đơn vị đảm bảo quá trình tái sản xuất nguồn lao động thông qua việc tổ chức nguồn thu nhập chung” Tại Hội thảo quốc tế lần 2 về quản lý nông trại tại Hà Lan (1980) các đại biểu nhất trí cho rằng: “ Hộ là đơn vị cơ bản của xã hội có liên quan đến sản xuất, tiêu dùng, xem như là một đơn vị kinh tế”

Ở Việt Nam, hộ gia đình là các thành viên có tài sản chung, cùng góp công sức để phát triển hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một

số lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác do pháp luật quy định, là chủ thể khi tham gia quan hệ pháp luật dân sự thuộc lĩnh vực này Pháp luật coi hộ gia đình là một chủ thể của quan hệ dân sự Mỗi hộ gia đình có sổ đăng ký hộ khẩu, ghi rõ số nhân khẩu, người chủ hộ và quan hệ của từng thành viên với chủ hộ Đây là hồ sơ mang tính pháp lý để chính quyền địa phương thực hiện vai trò quản lý nhà nước đối với gia đình (Điều 106 của Bộ Luật Dân Sự)

Hộ gia đình là nguồn cung cấp lao động, tài nguyên, vốn và quản lý để nhận các khoản thu nhập từ tiền lương, tiền lãi và lợi nhuận Hộ gia đình cũng đồng thời là người tiêu dùng các hàng hóa và dịch vụ Hộ nhất thiết là một đơn vị kinh tế (chủ thể kinh tế) có nguồn lao động và phân công lao động chung, có vốn và chương trình, kế hoạch sản xuất kinh doanh chung, là đơn vị vừa sản xuất vừa tiêu dùng, có ngân quỹ chung và được phân công lợi ích theo thỏa thuận có tính chất gia đình Hộ không phải là một thành phần kinh tế thống nhất, mà hộ có thể thuộc thành phần kinh tế cá thể, tư nhân, tập thể, nhà nước Hộ không đồng nhất với gia đình mặc dù cùng chung huyết thống bởi vì hộ là một đơn vị kinh tế riêng, còn gia đình có thể không phải là một đơn vị kinh tế

Trang 13

2.2 Khái niệm về thu nhập

là thu nhập Thu nhập bình quân đầu người trong 1 tháng được tính bằng cách chia tổng thu nhập trong năm của hộ gia đình cho số nhân khẩu của hộ và chia cho 12 tháng

2.2.2 Định nghĩa thu nhập của hộ gia đình:

Theo Singh và Strauss (1986) cho rằng thu nhập của hộ gia đình gồm thu nhập chính từ nông nghiệp và thu nhập từ phi nông nghiệp

Theo Tổng cục Thống kê (2010) định nghĩa: Thu nhập của Hộ gia đình là toàn bộ số tiền và giá trị hiện vật quy thành tiền sau khi đã trừ chi phí sản xuất mà hộ gia đình

và các thành viên của hộ nhận được trong một khoảng thời gian nhất định, thường

là 1 năm, bao gồm: thu từ tiền công, tiền lương; thu từ sản xuất nông lâm ngư nghiệp (đã trừ chi phí và thuế sản xuất); thu từ ngành nghề phi nông nghiệp (đã trừ chi phí và thuế sản xuất) và các khoản thu nhập khác (không tính tiền rút tiết kiệm, bán tài sản, vay thuần túy, thu nợ và các khoản chuyển nhượng vốn nhận được)

2.3 Khái niệm chi tiêu hộ gia đình

Chi tiêu của hộ gia đình bao gồm các khoản chi cho các nhu cầu ăn uống và ngoài

ăn uống trong một thời gian nhất định, thường là 1 năm Các khoản chi tiêu gồm: lương thực, thực phẩm, đồ uống, quần áo và giày dép, nhà ở, điện, ga, nước và nhiên liệu khác, đồ đạc, thiết bị gia đình, và bảo dưỡng thông thường, y tế, vận tải, truyền thông, giải trí và văn hóa, giáo dục, nhà hàng khách sạn, chi khác cho tiêu dùng Chi tiêu của hộ gia đình trong kỳ không bao gồm chi phí sản xuất kinh doanh,

Trang 14

thuế sản xuất kinh doanh, gửi tiết kiệm, cho vay, trả nợ, hoàn tạm ứng và những khoản chi tương tự

Chi tiêu bình quân một người trong một tháng (1.000 đồng) bằng tổng số tiền và trị giá hiện vật trong hộ gia đình chi cho tiêu dùng bình quân một tháng chia cho tổng

số nhân khẩu của hộ Đây là chỉ tiêu phản ánh mức và cơ cấu chi tiêu của các tầng lớp dân cư để đánh giá mức sống, phân hóa giàu nghèo, tính tỷ lệ nghèo, làm cơ sở cho hoạch định chính sách nhằm nâng cao mức sống của nhân dân, xóa đói giảm nghèo

2.3.1 Vai trò của chi tiêu hộ gia đình:

Chi tiêu hộ gia đình là thành phần quan trọng trong tổng sản phẩm quốc nội Dựa trên cơ sở tiếp cận từ khái niệm chi tiêu, GDP của nền kinh tế được tính theo công thức: GDP= C+I+G+(X-M)

Trong đó:

C= Chi phí tiêu dùng cá nhân (hộ gia đình)

I=Tổng đầu tư cá nhân quốc nội (tất cả các doanh nghiệp đầu tư trên lãnh thổ 1 nước)

G= Chi phí tiêu dùng của Chính phủ

X= Kim ngạch xuất khẩu các hàng hóa và dịch vụ

M= Kim ngạch nhập khẩu của hàng hóa và dịch vụ

Vì vậy muốn kích thích tăng trưởng kinh tế thì việc gia tăng chi tiêu là một đóng góp quan trọng

Chênh lệch chi tiêu giữa các hộ gia đình là một trong những nguyên nhân dẫn đến

sự phân hóa giàu nghèo trong xã hội ngày càng tăng Vì vậy, hạn chế sự chênh lệch này là điều hết sức cần thiết từ các chính sách hỗ trợ của Nhà nước

2.3.2 Hành vi quyết định chi tiêu của hộ gia đình

Hành vi tiêu dùng của hộ gia đình phần lớn bắt nguồn từ quyết định mua hàng của

hộ gia đình, theo đó quyết định này được thực hiện từ một hay một số cá nhân hoặc tất cả thành viên của hộ (Sheth, J.N.,1974) Hộ gia đình sẽ dùng phần thu nhập có được để chi tiêu cho một số hàng hóa nhằm tối đa hóa hữu dụng, trong đó giáo dục

Trang 15

được xem là hàng hóa tiêu dùng trong hiện tại và tương lai nên chi tiêu giáo dục được hộ gia đình xem xét là kênh đầu tư cho tương lai thế hệ trẻ Một trong các phương pháp đo lường cho phân tích chi phí và lợi ích của giáo dục là số tiền tiêu dùng cho giáo dục, trong đó chi phí giáo dục của tư nhân bao gồm chi phí trực tiếp cho sách vở, học phí và chi phí gián tiếp như thu nhập bị bỏ qua trong quá trình học, bên cạnh là lợi ích có được ở hiện tại và tương lai từ giáo dục mang lại Như vậy, chi tiêu giáo dục của hộ gia đình là một trong những hình thức tiêu dùng và đầu tư của hộ thông qua sự cân nhắc có hay không và đến mức độ nào trong tổng số tiền chi tiêu giáo dục nhằm thỏa mãn tối đa hữu dụng

2.4 Lý thuyết về hành vi tiêu dùng

2.4.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến cầu hàng hóa

Cầu hàng hóa là số lượng hàng hóa dịch vụ mà người tiêu dùng sẵn lòng mua tại những mức giá khác nhau tại một thời điểm nhất định Đường cầu hàng hóa sẽ thay đổi khi chịu tác động của những yếu tố sau:

- Thu nhập là yếu tố xác định khả năng mua của người tiêu dùng Khi thu nhập gia tăng, họ sẽ sẵn lòng chi tiêu cho một loại hàng hóa- dịch vụ với số lượng nhiều hơn trước

- Sở thích, thị hiếu của người tiêu dùng đại diện cho sự yêu thích, ưu tiên cho một loại hàng hóa- dịch vụ Người tiêu dùng yêu thích một loại hàng hóa- dịch vụ nào đó càng nhiều, tiêu dùng hàng hóa- dịch vụ đó càng nhiều

- Cầu của một loại hàng hóa- dịch vụ không chỉ phụ thuộc vào giá cả của chính bản thân nó mà còn phụ thuộc vào giá cả của hàng hóa liên quan Theo đó thì cầu của một loại hàng hóa- dịch vụ sẽ tăng khi giá cả hàng hóa thay thế cho chính hàng hóa- dịch vụ đó tăng Ngược lại, cầu của một hàng hóa- dịch vụ sẽ giảm nếu giá cả hàng hóa- dịch vụ bổ sung cho nó tăng

- Quy mô thị trường càng lớn thì cầu của hàng hóa- dịch vụ càng nhiều

- Những dự đoán giá cả tương lai sẽ ảnh hưởng đến cầu hàng hóa ở thời điểm hiện tại Cầu hàng hóa- dịch vụ sẽ tăng nếu như người tiêu dùng dự đoán trong tương lai, giá cả của hàng hóa này sẽ tăng Và ngược lại, cầu hàng hóa sẽ giảm nếu

Trang 16

người tiêu dùng dự đoán giá cả hàng hóa- dịch vụ này trong tương lai sẽ giảm hơn giá cả hiện tại

2.4.2 Vấn đề lựa chọn tiêu dùng (Mas-collet và cộng sự, 1995)

Lý thuyết tiêu dùng thể hiện những quyết định lựa chọn tiêu dùng mang tính chất duy lý của người tiêu dùng cho các loại hàng hóa Trong điều kiện ràng buộc về ngân sách hộ gia đình, người tiêu dùng sẽ lựa chọn rổ hàng hóa đảm bảo tối đa hóa mức hữu dụng của mình

Max u(x) Đk: p*x <= I

X= x (x1, x2, x3,…,xn): rổ hàng hóa tiêu dùng

P= p (p1, p2,….,pn): giá của rổ hàng hóa tiêu dùng

I: ngân sách của người tiêu dùng

Với mức giá p và ngân sách I cho trước, tập hợp các lựa chọn của người tiêu dùng

sẽ được viết lại ở dạng sau: B(p,I)={x € Rn+ :p.x <= I}

Để đạt mức thỏa dụng cao nhất, người tiêu dùng sẽ lựa chọn tiêu dùng các hàng hóa

x € B(p,I) Vấn đề này được thực hiện dựa trên một số giả định cơ bản như thông tin thị trường hoàn hảo, người tiêu dùng là người chấp nhận giá và giá cả hàng hóa

cơ bản tối thiểu dành cho con người trong cộng đồng và thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng Từ đó có thể thấy nghèo đói được đánh giá qua nhiều chỉ tiêu: mức chi tiêu cho nhu cầu cơ bản, chi tiêu bình quân đầu người, thu nhập bình quân đầu người Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng chỉ tiêu thu nhập bình quân đầu người để phản ánh tình trạng nghèo ở Việt Nam, và thông qua thu nhập mỗi hộ gia đình sẽ phản ánh rất rõ nét về tình trạng chi tiêu của

Trang 17

các hộ gia đình Thu nhập bình quân đầu người là chỉ tiêu khách quan được đo lường rõ ràng và được thu thập qua cuộc điều tra khảo sát mức sống hộ gia đình Việt Nam do Tổng cục Thống kê thực hiện theo định kỳ 2 năm/lần nhằm mục đích xác định được tình trạng nghèo đói Đồng thời chỉ tiêu này phù hợp theo Quyết định

số 59/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 19 tháng 11 năm 2015 về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020 Tuy nhiên, chỉ tiêu này vẫn tồn tại nhiều khuyến điểm và khuyết điểm lớn nhất là do chỉ tiêu thực hiện điều tra khảo sát là thu nhập, đây là chỉ tiêu khá nhạy cảm, người trả lời phỏng vấn thường không công khai hoàn toàn thu nhập thực tế của mình cũng như trong cuộc sống hằng ngày, thu nhập của các hộ gia đình từ rất nhiều nguồn khác nhau và đôi lúc là không ổn định dẫn đến thu nhập của họ bất thường và không

có khả năng thống kê được Những khuyết điểm này ảnh hưởng đến việc xác định chính xác thu nhập của hộ gia đình

2.5.2 Nguyên nhân dẫn đến sự nghèo đói

Theo Nguyễn Trọng Hoài (2007), có nhiều nguyên nhân dẫn đến nghèo đói Các nguyên nhân khách quan như điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất, hạ tầng hay do sự quản lý của nhà nước; các nguyên nhân chủ quan (đặc điểm hộ gia đình, cá nhân): trình độ học vấn thấp, hạn chế về sức khoẻ, đông con, thiếu việc làm…

Các nguyên nhân khách quan:

- Nghèo do điều kiện tự nhiên khắc nghiệt: Tỷ lệ nghèo đói cao ở các vùng địa

lý cách biệt, ít tài nguyên cơ bản như đất, nước, có điều kiện khí hậu khắc nghiệt;

- Nghèo do quản lý của chính phủ hoặc chính quyền địa phương như chính sách tăng trưởng kinh tế, khả năng ổn định thị trường, ổn định chính trị, hệ thống pháp luật công bằng và hiệu quả, an ninh trong khu vực và toàn cầu;

- Nghèo do sự bất bình đẳng dân tộc, đa phần các nhóm dân tộc thiểu số đều phải nhận sự bất công từ nơi sống cô lập, hạn chế khả năng tiếp cận các nguồn lực sản xuất Ngoài ra họ còn phải đối mặt với sự khác biệt về văn hoá, ngôn ngữ hay định kiến của các nhóm dân tộc chiếm đa số…

Các nguyên nhân chủ quan:

Trang 18

- Nghèo do cấu trúc quy mô hộ gia đình: Quy mô hộ gia đình đông người, hộ phải trả nhiều chi phí hơn các khoản chi thường ngày, các khoản chi cho việc đi học hay khám chữa bệnh cần thiết thường gây bất ổn cho kinh tế gia đình Ngoài ra các

hộ nghèo thường có nhiều trẻ em dưới 15 tuổi và nhiều người trên 60 tuổi hơn;

- Nghèo do hộ có quá nhiều người phụ thuộc Tỷ lệ người phụ thuộc là tỷ lệ các thành viên không tham gia vào lao động Nghĩa là người ăn theo nhiều hơn nhưng lại có ít lao động hơn;

- Giới tính chủ hộ có ảnh hưởng đến nghèo đói của hộ gia đình, chủ hộ là nữ giới sẽ có khả năng rơi vào nghèo đói hơn so với hộ có chủ hộ là nam giới;

- Tình trạng việc làm của hộ cũng có liên quan đến nghèo đói, việc làm mang lại nguồn thu nhập cho hộ Tỷ lệ tham gia lao động, tỷ lệ thất nghiệp, tỷ lệ làm việc bán thời gian thì hộ có khả năng sống trong vòng nghèo đói;

- Trình độ học vấn có quan hệ nghịch biến với nghèo đói Người nghèo thường không có khả năng trang trải cho chi phí học tập nên phải bỏ học sớm thậm chí là thất học Hậu quả là thiếu các kỹ năng cần thiết trong các hoạt động sinh kế Ngoài

ra trình độ học vấn của chủ hộ còn ảnh hưởng đến quyết định có liên quan đến việc chăm sóc, nuôi dưỡng hay cho con đi học;

- Khả năng tiếp cận nguồn lực để sản xuất như vốn, đất đai cũng có liên quan đến nghèo đói Người nghèo thường thiếu nguồn lực đồng thời cũng ít có khả năng tiếp cận nguồn lực Không có nguồn lực để đầu tư người nghèo càng nghèo hơn Do

đó, họ thường rơi vào vòng luẩn quẩn của đói nghèo và thiếu nguồn lực

2.5.3 Cơ sở xác định ngƣỡng nghèo

Theo Wagle Udaya (2002) có 03 tiêu chuẩn chủ yếu về cách tiếp cận nghèo: tình trạng về thu nhập, mức độ đầu tư cho y tế và khả năng tham gia vào cộng đồng Đồng thời có 03 bước để xác định nghèo đói: định nghĩa phúc lợi của hộ gia đình hoặc cá nhân, xác định giá trị chuẩn để phân biệt giữa 02 nhóm nghèo và không nghèo (hay còn gọi là ngưỡng nghèo) và tính toán các chỉ số thống kê tổng hợp dựa trên mối quan hệ giữa phúc lợi kinh tế và ngưỡng nghèo (WB, 2005) Trong đó phúc lợi được đo lường phức tạp hơn, nghĩa bao hàm rộng hơn so với phúc lợi về

Trang 19

kinh tế, phúc lợi là thuật ngữ bao gồm tuổi thọ, chế độ về dinh dưỡng, điều kiện về nhà ở, các dịch vụ chăm sóc y tế, tỷ lệ trẻ em trong độ tuổi được đến trường, tỷ suất

tử vong ở trẻ em (WB, 2005)

Theo WB (2005), nghèo (hay còn gọi là ngưỡng nghèo) là giới hạn để phân biệt giữa những người nghèo và những người không nghèo Có hai cách để xác định ngưỡng nghèo: ngưỡng nghèo tuyệt đối và ngưỡng nghèo tương đối

Ngƣỡng nghèo tuyệt đối: là chuẩn tuyệt đối về mức sống được coi là tối thiểu cần

thiết để cá nhân hoặc hộ gia đình có thể tồn tại khỏe mạnh Theo đó ngưỡng nghèo này xác định dựa trên mức tiêu dùng tối thiểu như tổng số tiền chi cho một rổ hàng hóa tiêu dùng trong khoảng thời gian nhất định, bao gồm một lượng lương thực, thực phẩm tối thiểu và những vật dụng cá nhân cần thiết nhằm đảm bảo cuộc sống

và sức khỏe của một người trưởng thành và các khoản chi bắt buộc khác Ngưỡng nghèo tuyệt đối tiếp cận dựa trên “Chi phí cho các nhu cầu cơ bản” (CBN) cũng là cách tiếp cận được áp dụng rộng rãi ở các nước trên thế giới và được mô tả trong Ravallion (1994,1998) và Ravallion và Bidani (1994)

WB xây dựng ngưỡng nghèo trên cơ sở xác định nhu cầu tiêu dùng về lương thực

và có 02 ngưỡng nghèo tuyệt đối sẽ được tính toán:

Ngưỡng nghèo thứ nhất đo bằng chi tiêu cho lương thực thực phẩm đáp ứng nhu cầu năng lượng tối thiểu cần thiết để duy trì sinh hoạt bình thường của con người, khoảng 2.100 Kcal/người/ngày (ước tính có khoảng 40 sản phẩm), được gọi là ngưỡng nghèo lương thực, thực phẩm Và ngưỡng nghèo thứ hai bao gồm những khoản chi tiêu cho sản phẩm lương thực và phi lương thực gọi là ngưỡng nghèo chung

Trên bình diện quốc tế, WB đã công bố ngưỡng nghèo tuyệt đối cho các quốc gia

có thu nhập thấp, theo ngang giá sức mua (PPP) là 1,25 USD/ngày thay thế cho ngưỡng nghèo 1USD/ngày được áp dụng từ năm 1999 Số người sống dưới đường nghèo (1 USD/ngày) giảm từ 1,9 tỷ người trong những năm đầu của thập niên 80 xuống còn 1,8 tỷ người thập niên 90 và đến năm 2005 chỉ còn 1,4 tỷ người Tỷ lệ

Trang 20

người nghèo sống dưới 1,25 USD/ngày giảm từ 50% năm 1981 xuống 21,7% năm

2005

Tại Việt Nam ngưỡng nghèo được đánh giá thông qua chuẩn nghèo, dựa trên tính toán của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội (LĐTBXH) tiếp cận từ khía cạnh thu nhập và trải qua nhiều giai đoạn điều chỉnh từ năm 1993 đến nay Theo Quyết định

số 59/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 19 tháng 11 năm 2015 về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020: đối với khu vực nông thôn, hộ nghèo là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí: Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống hoặc có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên Đối với khu vực thành thị, hộ nghèo là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí: Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 900.000 đồng trở xuống hoặc có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng đến 1.300.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên

Ngưỡng nghèo tương đối: là tình trạng một bộ phận dân cư thuộc diện nghèo có

mức sống dưới mức sống trung bình của cộng đồng và địa phương đang xét được

xác định dựa trên phân phối thu nhập hoặc tiêu dùng chung trong cả nước

2.6 Lược khảo lý thuyết liên quan

2.6.1 Các lý thuyết Kinh tế học vĩ mô liên quan đến kiều hối

Theo Puri & Ritzema (1999) “Kiều hối quốc tế (international remittances)” được định nghĩa là “phần thu nhập của người lao động ở nước ngoài gửi về nước” Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) định nghĩa kiều hối của người lao động “là hàng hóa và các công cụ tài chính do người lao động sống và làm việc ở nước ngoài từ một năm trở lên gửi về đất nước họ” “(Addy et al.2003) Mặc dù việc chuyển tiền bao gồm cả quốc tế lẫn nội địa nhưng trong nghiên cứu này để đơn giản hóa chỉ xét đến kiều hối quốc tế và được gọi tắt là kiều hối

Trong những năm gần đây với xu hướng toàn cầu hóa, dòng kiều hối chảy về các nước đang phát triển tăng lên mạnh mẽ và tăng tương đối bền vững Theo lý giải

Trang 21

của WB (2006) nguyên nhân của sự tăng đột ngột này là do: việc giám sát chặt chẽ hơn các dòng tiền kể từ sau sự kiện 11/9/2001, tiến bộ trong các lĩnh vực hỗ trợ việc chuyển tiền, sự cải thiện trong việc cung cấp số liệu, đồng USD mất giá và số người

di cư và làm việc ở nước ngoài tăng lên

Kiều hối có vai trò quan trọng trong việc phát triển nền kinh tế của nhiều quốc gia trên thế giới, góp phần vào việc cải thiện thu nhập bình quân đầu người đặc biệt là các nước có nền kinh tế yếu hoặc đang phát triển Tuy nhiên, ngoài những mặt tích cực, kiều hối còn mang lại những mặt tiêu cực và đây cũng là vấn đề gây nhiều tranh luận từ các nhà nghiên cứu trên thế giới Theo Taylor (1999) cho rằng phát triển gần đây nghiêng về quan điểm cho rằng kiều hối có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế ở các nước đang phát triển nơi thị trường tài chính không hoàn hảo, xem kiều hối như một phương tiện giúp nới lỏng ràng buộc tín dụng

Theo Lê Đạt Chí và Phan Thị Thanh Thúy (2014) cho rằng tác động của kiều hối đến tăng trưởng kinh tế của 29 quốc gia đang phát triển được sử dụng trong mẫu nghiên cứu có dạng hình chữ U ngược, điều này có nghĩa rằng kiều hối có tác động tích cực lẫn tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế Tác động tích cực xảy ra khi dòng kiều hối chuyển vào các quốc gia đang phát triển ở mức độ vừa đủ kích thích nền kinh tế tăng trưởng thông qua gia tăng đầu tư vốn vật chất, tích lũy vốn con người, phát triển hệ thống tài chính, giảm gánh nặng ngân sách của quốc gia tiếp nhận và gia tăng tiêu dùng Tác động tiêu cực xảy ra khi dòng kiều hối đổ vào quá nhiều gây

ra tâm lý ỷ lại, gián tiếp làm giảm cung lao động đồng thời đánh giá cao tỷ giá hối đoái làm gia tăng “căn bệnh Hà Lan”

Xét trong ngắn hạn, khuôn khổ lý thuyết Keynes cho rằng lượng kiều hối chảy vào nền kinh tế được xem như là cú sốc tăng chi tiêu trong các mô hình kinh tế truyền thống Tuy nhiên, trong bối cảnh nền kinh tế mở, khi áp dụng mô hình Mundel- Flemming dạng đơn giản với giá cả cố định và trong nền kinh tế hỗn hợp, kết quả

cú sốc kiều hối không hề đơn giản Tác động tổng hợp của bất kỳ cú sốc nào từ phía cầu trong đó bao gồm kiều hối phụ thuộc vào mức độ linh hoạt của dòng vốn quốc

tế và chế độ tỷ giá hoái đối Trong trường hợp nền kinh tế duy trì chế độ tỷ giá thả

Trang 22

nổi hoàn toàn, dòng kiều hối đổ vào trong nước một mặt kích thích tổng cầu, một mặt có tác dụng nâng giá đồng nội tệ dẫn đến giảm xuất khẩu ròng, làm cho tổng cung suy giảm và hướng đến cân bằng với phần được tạo ra mà chủ yếu là do sức mua của dòng kiều hối tạo ra và sản lượng quay trở về vị trí ban đầu Một tác động khác từ kiều hối mang lại là dẫn đến sự thay đổi trong mức giá cả tương đối giữa các loại hàng hóa khác nhau và dẫn đến sự tái phân bổ nguồn lực Theo Rapoport và Docquier (2006) cho rằng di cư lao động quốc tế và kiều hối có tác dụng tháo gỡ những khó khăn về nguồn lực ở các nước nhận kiều hối như: các hạn chế về tài chính, tín dụng cũng như các nhu cầu cơ bản của con người Ngoài ra các tác giả khác cũng cho rằng dòng kiều hối có thể góp phần làm giảm bất bình đẳng trong thu nhập góp phần làm tăng trưởng và phát triển kinh tế

Trong dài hạn ảnh hưởng của kiều hối lên mặt cung của nền kinh tế có thể theo chiều hướng tiêu cực, và có thể lấn át những ảnh hưởng tích cực mang tính ngắn hạn từ phía cầu nếu kiều hối không được sử dụng cho các mục đích đầu tư Chính vì vậy vai trò của kiều hối trở nên phức tạp tạo ra nhiều tranh cãi khi mà tạo ra nhiều nghi vấn về việc sử dụng dòng kiều hối của những người tiếp nhận

Từ thực tiễn Việt Nam có thể dễ dàng nhận thấy tác dụng tích cực từ dòng kiều hối mang lại là giúp tăng thu nhập khả dụng của các hộ gia đình, do đó làm tăng chi tiêu trong nước Tuy nhiên, việc tăng chi tiêu đồng thời có khuynh hướng dịch chuyển làm tăng cầu tiêu dùng hàng nhập khẩu

2.6.2 Mối quan hệ giữa kiều hối với thu nhập và chi tiêu hộ gia đình

Trong những năm gần đây kiều hối trở thành dòng tài chính quan trọng trong nền kinh tế toàn cầu nói chung và xét ở gốc độ vi mô, kiều hối tác động trực tiếp đến thu nhập của các hộ gia đình nhận được tiền viện trợ từ người thân đang sinh sống và làm việc ở nước ngoài giửi về Đối với các hộ gia đình có điều kiện tốt về kinh tế, việc nhận thêm kiều hối có tác động làm thay đổi thu nhập thấp hơn so với các hộ nghèo, không có điều kiện về kinh tế, kiều hối có tác dụng quan trọng làm thay đổi thu nhập của họ Theo Nguyen Viet Cuong, Berg, M and Lensink, R (2013) kiều hối quốc tế có ảnh hưởng tích cực đến thu nhập và chi tiêu bình quân đầu người, tuy

Trang 23

nhiên tác động vào thu nhập cao hơn vào chi tiêu: nghiên cứu chứng minh rằng cứ 1 đồng kiều hối mà hộ gia đình nhận được thì gia tăng đến 0,85 đồng thu nhập bình quân đầu người nhưng chỉ gia tăng 0,08 đồng trong chi tiêu bình quân đầu người Điều này cho thấy rằng các hộ gia đình rất ít dùng kiều hối nhận được vào chi tiêu tiêu dùng hàng ngày Tác động trực tiếp của kiều hối quốc tế đến tiêu dùng bình quân đầu người là rất nhỏ bởi vì một phần đáng kể kiều hối quốc tế đang được tiết kiệm và đầu tư

Đối với việc chi tiêu bình quân đầu người, kiều hối có tác dụng tích cực đến dịch vụ chăm sóc sức khỏe y tế, tăng cường chăm sóc sức khỏe cho người dân, thực tế này đang diễn ra tại các quốc gia có hệ thống y tế kém phát triển Nghiên cứu của WB (2006) tại các quốc gia Mỹ La tinh cho thấy, một trong những động cơ quan trọng

để những người dân sống và làm việc tại nước ngoài là chuyển tiền về nước để trang trải các chi phí chăm sóc y tế Ngoài ra, nhiều nghiên cứu cũng chứng minh được các hộ gia đình nhận kiều hối cũng sử dụng để đầu tư vào vốn con người đó là các chi phí cho giáo dục

Theo Yaméogo, N D (2014), bằng cách sử dụng mô hình LCM ước tính chi tiêu của các hộ gia đình gồm có 08 loại chi tiêu căn bản: thực phẩm, giáo dục, y tế, hàng hóa lâu bền, nhà ở, giao thông, thông tin liên lạc (điện thoại di động và điện thoại cố định chi tiêu), và nhiên liệu để nấu ăn, trong đó:

+ Chi tiêu dành cho thực phẩm: Nếu tăng thu nhập gia đình lên 1%, hộ giàu tăng tiêu thụ thực phẩm 0,77%, trong khi các hộ nghèo tăng 0,93% Ước tính, lượng kiều hối là tích cực và đáng kể duy nhất đối với nhóm hộ giàu, có nghĩa là, khi kiều hối tăng, các hộ gia đình cận nghèo tăng thị phần tiêu thụ thực phẩm

+ Chi tiêu dành cho giáo dục: Khi tổng chi phí tăng thêm 1%, các hộ gia đình tăng thị phần ngân sách của họ dành cho giáo dục ít hơn 1%: 0,28% đối với hộ nghèo và 0,51% đối với các hộ gia đình giàu có Điều này chỉ ra rằng giáo dục là cần thiết cho cả người nghèo và người giàu Các gia đình có trẻ em trong độ tuổi từ 7-24 tuổi phân bổ ngân sách của họ nhiều hơn để chi tiêu giáo dục

Trang 24

+ Chi tiêu dành cho y tế: Tác động của kiều hối đối với các khoản chi tiêu cho y tế

là không có ý nghĩa về mặt thống kê

+ Chi tiêu dành cho hàng hóa lâu bền: hàng hóa lâu bền là nhu cầu cần thiết cho người nghèo trong khi là xa xỉ cho người giàu Khi thu nhập tăng thêm 1%, mức tăng của chi tiêu hàng hóa lâu bền là 1,24% đối với các hộ giàu nhưng các hộ nghèo chỉ 0,51% Tiền gửi về ảnh hưởng tiêu cực đến tỷ lệ thu nhập phân bổ cho hàng hóa lâu bền mua cho các hộ gia đình sống trên ngưỡng nghèo

+ Chi tiêu dùng vào chi phí nhà ở: Khi thu nhập tăng thêm 1%, chi phí cho nhà ở của các hộ gia đình giàu tăng 6,3% trong khi hộ nghèo chỉ tăng 0,55% Khi thu nhập tăng tác động vào chi phí nhà ở của các hộ gia đình giàu có đáng kể hơn so với các hộ nghèo

+ Chi tiêu dành cho việc mua nhiên liệu để nấu ăn: Khi tổng thu nhập tăng thêm 1%, các hộ gia đình tăng chi tiêu nhiên liệu ít hơn 1%: 0,4% cho người nghèo và 0,5% đối với những người giàu có Kiều hối có ảnh hưởng tích cực đến chi phí nhiên liệu cho người nghèo

+ Chi tiêu dùng cho việc giao tiếp: Khi thu nhập của hộ gia đình tăng lên 1%, người nghèo tăng chi điện thoại của họ hơn những người giàu có (0,7% so với 0,56%) Các hộ gia đình sở hữu một chiếc điện thoại di động có xu hướng phân bổ nhiều hơn ngân sách của họ để giao tiếp Ước tính, lượng kiều hối là tiêu cực và chỉ có ý nghĩa thống kê đối với các hộ gia đình giàu có

+ Chi tiêu dùng cho việc vận chuyển: Khi thu nhập của họ tăng lên 1% làm tăng chi phí vận chuyển của họ là 0,7% Tuy nhiên kết quả này không có ý nghĩa thống kê với cả hai nhóm gia đình giàu và nghèo

2.6.3 Mối quan hệ giữa kiều hối với nghèo đói và bất bình đẳng

Nhiều nghiên cứu chứng minh rằng kiều hối có tác dụng tích cực trong việc cải thiện thu nhập của hộ gia đình dẫn đến giảm nghèo đói Theo Wouterse (2010) cho rằng các hộ gia đình nhận kiều hối có nhiều khả năng để hỗ trợ người thân thuộc đối tượng nghèo là (75%) so với những người không nhận được khoản tiền này (54%)

Trang 25

Theo Beyene (2011), nghiên cứu tác động của kiều hối quốc tế đến nghèo đói và bất bình đẳng ở Ethiopia bằng việc sử dụng bộ dữ liệu khảo sát hộ gia đình thành thị được thu thập trong năm 2004 Với giả định không có di cư và không nhận kiều hối tác giả ước lượng tiêu dùng hộ gia đình và so sánh bất bình đẳng và nghèo đói Mặc

dù chỉ có 14% các hộ gia đình nhận kiều hối nhưng hộ nghèo giảm đáng kể vì các

hộ gia đình nhận kiều hối chủ yếu là hộ có phân phối tiêu dùng thấp và số tiền họ nhận được lớn

Biyase (2012), kiểm tra mối quan hệ giữa nghèo đói và kiều hối ở Nam Phi bằng bộ

dữ liệu thu nhập quốc gia năm 2008 (National Income Dynamics -NIDS), dựa trên việc so sánh thu nhập bình quân đầu người thực tế không bao gồm kiều hối với thu nhập bình quân đầu người bao gồm cả kiều hối Tác giả cho rằng tỷ lệ nghèo tính theo thu nhập không bao gồm kiều hối cao hơn đáng kể so với tỷ lệ hộ nghèo có thu nhập kể cả kiều hối Cụ thể , tỷ lệ hộ nghèo không nhận được kiều hối là 67%, trong khi tỷ lệ hộ nghèo có nhận kiều hối chỉ là 47,7%

Trái ngược với các quan điểm tích cực về vai trò của kiều hối đối với việc giảm nghèo, Nguyễn Việt Cường, Berg and Lensink (2013), sử dụng hai bộ dữ liệu khảo sát mức sống hộ gia đình ở Việt Nam qua hai năm 2004 và 2006, các tác giả ước lượng tác động của kiều hối đến thu nhập, chi tiêu bình quân đầu người, khả năng việc làm, nghèo đói và bất bình đẳng Nghiên cứu cho thấy gia tăng kiều hối quốc tế tại Việt Nam làm tăng thu nhập và chi tiêu hộ gia đình Tuy nhiên, các tác giả cho rằng kiều hối quốc tế có thể tạo ra tác động tiêu cực như sự lười biếng, không khuyến khích làm việc của các thành viên nằm trong độ tuổi lao động của hộ gia đình Hơn nữa, kiều hối quốc tế không xóa đói giảm nghèo trong ngắn hạn và làm gia tăng bất bình đẳng Các tác giả không đồng tình quan điểm cho rằng kiều hối quốc tế đóng vai trò quan trọng trong việc giảm nghèo ở các nước đang phát triển Điều này phù hợp với thực tế Việt Nam – quốc gia có số lượng người nhận kiều hối

đa số là những người có điều kiện kinh tế tốt, không thuộc đối tượng hộ nghèo Đặc biệt tại các quốc gia có nền kinh tế đang phát triển như: Philippines, Indonesia, Lào,

và Campuchia, có cơ cấu kinh tế tương tự như Việt Nam, các tác giả kết luận rằng

Trang 26

kiều hối chỉ có vai trò tích cực giảm nghèo đói trong dài hạn và kết luận này không hoàn toàn chính xác trong ngắn hạn

2.6.4 Lƣợc khảo các nghiên cứu thực nghiệm liên quan

Trong nhiều năm trở lại đây, đã có nhiều nhà nghiên cứu nghiên cứu về vai trò của kiều hối đối với sự phát triển của nền kinh tế cũng như tác động của kiều hối đến thu nhập bình quân đầu người và phúc lợi hộ gia đình Lucas và Stark (1985) cho rằng động cơ của những người di cư ra nước ngoài là muốn gia đình họ có chất lượng cuộc sống tốt hơn, có điều kiện được tham gia và mở rộng hoạt động sản xuất (Woodruff và Zenteno, 2007; Amuedo Dorantes và Pozo, 2006) cũng như cải thiện

về phúc lợi của các hộ gia đình bao gồm các khoảng chi tiêu cho việc chăm sóc sức khỏe của các thành viên trong gia đình (Amuedo Dorantes và Pozo, 2006) và chi cho đầu tư giáo dục trẻ em trong tương lai (Edward và Ureta, 2003)

W.D and Giang Thanh Long (2008) đã sử dụng mô hình hồi quy logistic để nghiên cứu tác động của kiều hối đến phúc lợi các hộ gia đình ở Việt Nam, trong đó kiều hối được sử dụng nghiên cứu bao gồm kiều hối có nguồn gốc chủ yếu từ Mỹ và nguồn kiều hối nội địa dịch chuyển từ TP.HCM đến các khu vực đô thị và các vùng nông thôn Kết quả cho thấy dù kiều hối có nguồn gốc từ đâu đều có vai trò trong việc cải thiện bất bình đẳng ở Việt Nam liên quan đến chi tiêu bình quân đầu người của hộ gia đình và kiều hối còn có vai trò quan trọng trong việc giảm đói nghèo Thông qua nghiên cứu tác giả đề xuất các chính sách phúc lợi hướng đến đối tượng

là những người cao tuổi ở Việt Nam Cũng theo hai tác giả này năm 2010 nghiên cứu về việc xác định các hình thức nhận kiều hối quốc tế đều có tác động đến nền kinh tế Việt Nam, tuy tỷ lệ hộ gia đình nhận kiều hối tồn tại ở mức ổn định khoảng 5-7% dân số nhưng nghiên cứu cho thấy bất bình đẳng thu nhập ngày càng được cải thiện theo chiều hướng tích cực do kiều hối mang lại Đồng thời nếu kiều hối có vai trò quan trọng trong việc đầu tư thì sẽ dẫn đến tăng trưởng kinh tế

Theo Vaquar Ahmed, Guntur Sugiyarto, và Shikha Jha (2010) cho rằng kiều hối làm tăng nghèo đói nguyên nhân là do dòng kiều hối có tác dụng làm giảm sản phẩm nội địa, đầu tư và tiêu dùng hộ gia đình Các hộ gia đình nhận được kiều hối

Trang 27

giảm xác suất hộ đó trở thành hộ nghèo là 12,7%, đồng thời sẽ có tỷ lệ nghèo đói và

hệ số bất bình đẳng giảm lần lượt là 7,8% và 4,8% Nghiên cứu đã sử dụng mô hình cân bằng tổng thể và kinh tế lượng vi mô để phân tích tác động của kiều hối đến nền kinh tế và phúc lợi hộ gia đình ở Pakistan

Theo Quartey, P (2006) bằng phương pháp Instrument variable (IV) để phân tích

bộ dữ liệu GLSS đã kết luận rằng kiều hối có tác dụng tích cực trong việc cải thiện phúc lợi hộ gia đình và các dòng kiều hối này có tác dụng giảm tác động tiêu cực đối với các cú sốc kinh tế, các hộ gia đình sở hữu nhiều đất đai chịu được các cú sốc kinh tế và được hưởng phúc lợi tốt hơn so với những hộ không sở hữu đất đai Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng trình độ học vấn của chủ hộ ảnh hưởng tích cực đến phúc lợi hộ gia đình và tuổi của chủ hộ tương quan nghịch với phúc lợi hộ gia đình, tuy nhiên tương quan này là không đáng kể Nghiên cứu kết luận rằng các hộ gia đình có số thành viên đông có dấu hiệu giảm phúc lợi, và dường như tỷ lệ nam giới

có xu hướng nhận được phúc lợi cao hơn so với nữ giới Kiều hối không những cải thiện phúc lợi hộ gia đình mà còn mang lại nguồn thu nhập quan trọng cho nền kinh

tế Ghana

Cũng theo Raihan, S., Bazul H Khondker, Guntur Sugiyarto, and Shikha Jha (2009) cho rằng kiều hối ngày càng có vai trò quan trọng trong sự phát triển nền kinh tế ở Bangladesh đối với sự ổn định kinh tế vĩ mô và phúc lợi của hộ gia đình được chỉ rõ

ở mức độ tiêu thụ hàng hóa và tỷ lệ hộ nghèo hay nói cách khác kiều hối có vai trò trong việc giảm nghèo ở Bangladesh bằng việc nghiên cứu mô hình cân bằng tổng thể khả tính CGE Mặt khác thông qua mô hình logit cho thấy các hộ gia đình nhận kiều hối có sác xuất giảm nghèo là 5,9% Hai phát hiện quan trọng này thể hiện vai trò quan trọng của kiều hối đối với các hộ gia đình nghèo ở Bangladesh Tuy nhiên kiều hối dường như không có vai trò đáng kể trong việc thúc đẩy chi tiêu hàng hóa của các hộ gia đình cũng như chi tiêu cho giáo dục và y tế

Theo Nguyen V.C (2009) bằng nghiên cứu tác động của kiều hối (bao gồm quốc tế

và nội địa) đến phúc lợi các hộ gia đình ở Việt Nam cho rằng kiều hối làm tăng chi tiêu cho hàng hóa phi lương thực cao hơn so với hàng hóa lương thực và tác động

Trang 28

của kiều hối quốc tế đến thu nhập cao hơn so với tác động chi tiêu tiêu dùng Điều này hàm ý rằng các dòng kiều hối có nguồn gốc từ nước ngoài chuyển về được các

hộ gia đình sử dụng cho tiết kiệm và đầu tư vào các hoạt động sản xuất kinh doanh kết quả là nó sẽ làm tăng thu nhập, tiết kiệm và tài sản của các hộ gia đình nhận được Đối với các dòng tiền mà hộ gia đình nhận được trong nước thường được sử dụng cho các khoản tiêu dùng và các hộ gia đình nhận được dòng tiền trong nước có thu nhập thấp hơn so với các hộ gia đình nhận được dòng tiền nước ngoài, dòng tiền trong nước cũng không có vai trò đáng kể trong việc tăng tài sản và tiết kiệm của các hộ gia đình nhận được Bằng bộ dữ liệu điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam năm 2002 và 2004 tác giả chỉ ra rằng trong hai năm 2002 và 2004 lần lượt có 5,9 %

và 7,1% hộ gia đình nhận được dòng tiền từ nước ngoài chuyển về, trong khi đó có đến 78,2 % và 86,3% hộ gia đình nhận được dòng tiền trong nước Tuy nhiên về mặt giá trị tuyệt đối dòng tiền kiều hối quốc tế lại có giá trị lớn hơn đáng kể với dòng tiền trong nước mà các hộ gia đình nhận được

Khác với các nghiên cứu thực nghiệm trước đây, bằng việc áp dụng các phương pháp DD kết hợp với kỹ thuật PSM và hồi quy OLS trong đánh giá tác động của kiều hối về phúc lợi hộ gia đình, Nguyễn Văn Phúc (2012) cho rằng trong giai đoạn 2006-2008 kiều hối có tác động tích cực và có ý nghĩa thống kê về thu nhập và chi tiêu bình quân đầu người của hộ gia đình nhận kiều hối Tuy nhiên lượng kiều hối này lại không có tác động đến chi tiêu dành cho giáo dục và sức khỏe của các hộ gia đình; phát hiện này hoàn toàn tương tự như các nghiên cứu thực nghiệm của Soraya, J.S (2007) Radian và et al (2009), Nguyễn V.C (2009), nhưng khác với một số những người khác như, Adams, H.R và Cuecuecha, A (2010), Ahmed và et al (2010), Hà, N.H.N (2010) và Toàn, N.A (2010)

Trang 29

Bảng 2 1: Tóm lược các nghiên cứu thực nghiệm trước đây

Tác động của sự tăng trưởng kiều hối đến nền kinh tế Việt Nam: nghiên cứu mức sống của các hộ gia đình Việt Nam

Sử dụng mô hình hồi quy logistic để nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng dữ liệu khảo sát mức sống hộ gia đình ở Việt Nam trong thời gian: 1992-1993, 1997-1998, 2002 và năm

2004

Nghiên cứu cho thấy dù kiều hối có nguồn gốc từ đâu đều có vai trò quan trọng trong việc cải thiện bất bình đẳng ở Việt Nam

Kiều hối có vai trò quan trọng trong các hoạt động xúc tiến đầu tư

sẽ dẫn đến tăng trưởng kinh tế

Nghiên cứu cho rằng kiều hối làm tăng nghèo đói nguyên nhân là do dòng kiều hối có tác dụng làm giảm sản phẩm nội địa, đầu tư và tiêu dùng hộ gia đình

Các hộ gia đình nhận kiều hối có

xu hướng giảm đói nghèo và giảm bất bình đẳng

3 Quartey, P

(2006)

Tác động của di cư, kiều hối đến phúc lợi hộ gia đình ở Ghana

Nghiên cứu sử dụng phương pháp Instrument variable (IV) với bộ dữ liệu dùng để phân tích là GLSS

Nghiên cứu kết luận rằng kiều hối

có tác dụng tích cực trong việc cải thiện phúc lợi hộ gia đình và có vai trò quan trọng trong việc cải thiện thu nhập ở nền kinh tế Ghana Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng trình

độ học vấn của chủ hộ ảnh hưởng tích cực đến phúc lợi hộ gia đình

Nghiên cứu sử dụng mô hình cân bằng tổng thể CGE và mô hình logit

Nghiên cứu cho thấy rằng kiều hối

có vai trò quan trọng trong việc giảm nghèo ở Bangladesh và các tác dụng làm giảm nghèo Tuy nhiên dường như kiều hối không có vai trò đáng kể trong việc chi tiêu hàng hóa cũng như các khoảng chi

Trang 30

STT Tên tác giả Nội dung và phạm vi

cho giáo dục và y tế của các hộ gia đình

V.C (2009)

Tác động của các dòng kiều hối bao gồm kiều hối quốc tế và nội địa đến phúc lợi của các hộ gia đình Việt Nam

Nghiên cứu sử dụng bộ dữ liệu khảo sát mức sống hộ gia đình Việt Nam trong

02 năm 2002 và 2004

Nghiên cứu chỉ ra rằng các dòng kiều hối hộ gia đình nhận được từ nước ngoài được dùng cho các khoản tiết kiệm và đầu tư vào các hoạt động sản xuất kinh doanh, các dòng kiều hối nội địa được dùng cho các khoản tiêu dùng Đa số các

hộ gia đình thường nhận dòng kiều hối nội địa cao hơn đáng kể so với kiều hối quốc tế nhưng giá trị tuyệt đối dòng kiều quốc tế cao hơn so với nội địa

Phuc (2012)

Tác động của kiều hối quốc tế đến phúc lợi hộ gia đình ở Việt Nam, sự khác nhau giữa hai đối tượng nhận kiều hối ở khu vực nông thôn và thành thị

Nghiên cứu sử dụng phương pháp DD kết hợp với kỹ thuật PSM và hồi quy OLS trong đánh giá tác động của kiều hối về phúc lợi hộ gia đình

Nghiên cứu chỉ ra rằng trong giai đoạn 2006-2008 kiều hối có tác động tích cực và có ý nghĩa thống

kê về thu nhập và chi tiêu bình quân đầu người của các hộ gia đình nhận kiều hối Tuy nhiên kiều hối lại không có tác động đến các khoản chi tiêu dành cho giáo dục

và y tế của các hộ gia đình

Nguồn: Tổng hợp trích lọc của tác giả từ các nghiên cứu thực nghiệm có liên quan

Trang 31

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Khung phân tích

Như đã phân tích ở chương 2, trong thời gian qua đã có nhiều nghiên cứu thực nghiệm phân tích tác động của kiều hối quốc tế đến hộ gia đình cũng như ảnh hưởng đến tình trạng nghèo ở Việt Nam Các nghiên cứu phù hợp nhất với luận văn này bao gồm các nghiên cứu của Raihan (2009) ở Bangladesh, Adams và Cuecuecha (2010) ở Guatemala, Nguyễn (2009) tại Việt Nam, Quartey (2006) ở Ghana và Nguyễn Văn Phúc (2012) ở Việt Nam

Raihan và et al (2009) đã kiểm tra mối quan hệ giữa kiều hối và chi tiêu ở Bangladesh bằng cách sử dụng các mô hình hồi quy đa biến:

Householdexp = ß0 + Σ ßjXij + ε

Trong đó Householdexp là các khoản chi tiêu trong gia đình như biến phụ thuộc (ví

dụ, nhà ở, thuốc men, giáo dục, hàng hóa tiêu dùng có độ bền tốt và thực phẩm) Xij

là các biến giải thích bao gồm các khoản thu nhập của hộ gia đình và đặc điểm địa

lý, quy mô hộ gia đình, trình độ học vấn của chủ hộ, tôn giáo, tình trạng hôn nhân, khu vực sinh sống tại đô thị hoặc vùng nông thôn….Nghiên cứu phân tích rằng kiều hối có tác động khác nhau đến phúc lợi hộ gia đình : tác động tích cực và quan trọng đối với các khoản chi tiêu cho thực phẩm và nhà ở, tác động tích cực nhưng không đáng kể về giáo dục và chăm sóc y tế, tác động tiêu cực cho chi tiêu hàng hóa có độ bền lâu dài

Quartey (2006) xác định tác động của kiều hối đến phúc lợi hộ gia đình bằng hàm log-lin:

Log (Ui) = α + ∑ ßjXij + εi

Trong đó Ui là chi tiêu bình quân đầu người Xij là vector của các biến giải thích bao gồm kiều hối và các cú sốc kinh tế (được đo lường bởi giá thực phẩm và phi thực phẩm) Các kết quả của nghiên cứu cho thấy kiều hối quốc tế là nguồn thu nhập quan trọng cho sức tiêu thụ hàng hóa, nâng cao phúc lợi hộ gia đình và giảm tác động tiêu cực đến các cú sốc kinh tế

Trang 32

Nguyễn (2009) kiểm tra tác động của kiều hối đến phúc lợi hộ gia đình tại Việt Nam bằng cách sử dụng phương pháp tác động trung bình (ATT): Tác động nhận được tiền trên một hộ i: Δi = Yi1 - Yi0, trong đó Y1 và Y0 biểu thị kết quả tiềm năng (giá trị quan sát trong thu nhập và chi tiêu) với kiều hối và không có tiền gửi về Do

đó, phương pháp tác động trung bình (ATT) là:

ATT = E(∆ i │D i = 1) = E(Y i1 │D i = 1) – E(Y i0 │D i = 1)

Trong đó D là biến giả (bằng 1 cho các hộ gia đình nhận được kiều hối và bằng 0 cho trường hợp các hộ gia đình không nhận kiều hối) E (Yi0│Di = 1) không quan sát được và phải được ước tính Điều này được gọi là một kết quả đối chứng, đó là kết quả của những người nhận nếu họ đã không nhận kiều hối E (Yi1│Di = 1) là kết quả quan sát, được ước tính bằng mô hình lin-log Mô hình ước lượng tác động trung bình ATT về định giá tác động của thu nhập trên chi phí cũng có thể được tìm thấy ở các nghiên cứu thực nghiệm Heckman et al (1999), Adams và Cuecuecha, 2010)

Trong nghiên cứu, sử dụng phương pháp so sánh bằng điểm xu hướng- PSM kết hợp với phương pháp khác biệt trong khác biệt DD để đánh giá tác động của kiều hối đến phúc lợi hộ gia đình cũng như tình trạng của các hộ gia đình ở Việt Nam trong 02 năm 2012 và 2014 Các nội dung cơ bản của PSM là tìm một nhóm kiểm soát hoặc nhóm so sánh (đối tượng là các hộ gia đình không nhận được kiều hối), trong đó có sự phân bố tương tự của các biến X là nhóm xử lý (đối tượng là các hộ gia đình nhận được kiều hối) Sau đó, sử dụng các phương pháp DD để đánh giá tác động của kiều hối bằng cách chạy hồi quy trên các dữ liệu bảng, được tạo ra từ dữ liệu của nhóm kiểm soát và xử lý trong hai năm 2012 và 2014

Trang 33

Hình 3 1: Mô hình nghiên cứu

Các đặc điểm hộ gia đình:

- Đặc tính của chủ hộ: tuổi,

giới tính, nghề nghiệp, trình

độ học vấn

- Đặc điểm hộ gia đình: quy

mô hộ, tuổi của các thành

viên trong gia đình, trình độ

học vấn của các thành viên,

diện tích các loại đất và mặt

nước nuôi trồng thủy sản

được sử dụng của hộ gia đình

KIỀU HỐI:

- Kiều hối quốc tế

- Kiều hối nội địa

Thu nhập bình quân đầu người

hộ gia đình

Chi tiêu bình quân đầu người

hộ gia đình: Giáo dục, sức khỏe

Trang 34

3.2 Mô hình nghiên cứu:

Dựa vào cơ sở lý thuyết và khung phân tích đã phân tích ở trên, luận văn sử dụng

mô hình nghiên cứu:

+ Ln (Y i ): ln của thu nhập bình quân đầu người hoặc ln của chi tiêu bình quân đầu

người là biến định lượng đo lường bằng tổng thu nhập (hoặc tổng chi tiêu) của hộ gia đình trong một năm chia cho tổng số thành viên trong hộ gia đình (đơn vị: nghìn đồng/người/năm) Đo lường tương tự cho hai biến phụ thuộc Ln của chi tiêu giáo dục bình quân đầu người và Ln của chi tiêu cho chăm sóc sức khỏe bình quân đầu người là biến định lượng đo lường bằng tổng chi tiêu về y tế và giáo dục của hộ gia đình chia cho tổng số thành viên trong hộ gia đình (đơn vị: nghìn đồng/người/năm)

- Các biến độc lập:

+ I it : kiều hối quốc tế được ký hiệu là inremit

+ L it : Kiều hối nội địa được ký hiệu là loremit

+ G t : năm Dữ liệu được sử dụng để nghiên cứu trong 02 năm 2012 và 2014

+ I it *G t : Tác động của kiều hối quốc tế theo thời gian trong 02 năm 2012 và 2014

- ß 0; ß 1; ß 3; ß 4 : Các tham số ước lượng của mô hình

- ε i : Sai số

- Dựa vào nghiên cứu thực nghiệm “Tác động của kiều hối quốc tế đến phúc lợi hộ

gia đình Việt Nam” của Nguyễn Văn Phúc (2012), biến X it được ký hiệu cho 03 nhóm biến, bao gồm: các đặc tính của chủ hộ gia đình, đặc điểm hộ gia đình và khu vực địa lý và vị trí sinh sống hộ gia đình

Trang 35

Bảng 3 1: Mô tả tóm tắt các biến trong mô hình nghiên cứu

Ý nghĩa của biến số trong mô hình nghiên

cứu

Kỳ vọng biến động tác động biến phụ thuộc

và tổng chi tiêu dành cho sức khỏe của mỗi

hộ gia đình được trích

từ bộ dữ liệu khảo sát mức sống hộ gia đình năm 2012 và 2014, được đo lường bằng đơn vị 1.000 đồng trong thời gian 1 năm

Để xác định tác động của kiều hối và các yếu

tố khác đến tổng thu nhập, tổng chi tiêu, tổng chi tiêu dành cho chăm sóc sức khỏe và tổng chi tiêu dành cho giáo dục bình quân đầu người của

Bằng 1 nếu hộ gia đình có nhận kiều hối

và bằng 0 nếu hộ gia đình không nhận kiều hối

Mô tả sự khác biệt giữa

hộ gia đình nhận kiều hối và hộ gia đình không nhận kiều hối

+

cứu

Bằng 1 nếu dữ liệu khảo sát thực hiện trong năm 2014 và bằng 0 nếu dữ liệu khảo sát thực hiện trong năm 2012

Sự thay đổi về các biến phụ thuộc của hộ gia đình dưới tác động của kiều hối (năm 2012 và 2014)

+/-

inremit*year

Tương quan giữa kiều hối

và năm nhận kiều hối của

hộ gia đình

Sự tương tác giữa kiều hối và năm nhận kiều hối của hộ gia đình

Đánh giá tác động của kiều hối đến thu nhập và chi tiêu hộ gia đình (bao gồm tổng chi tiêu, chi tiêu giáo dục và chi tiêu

y tế) theo thời gian vào

02 thời điểm năm 2012

và năm 2014

Loremit

Biến giả mô tả việc nhận viện trợ trong nước của hộ gia đình

Bằng 1 nếu hộ gia đình có nhận viện trợ trong nước của người thân và bằng 0 nếu hộ gia đình không nhận viện trợ của người thân trong nước

Sự khác biệt giữa hộ gia đình nhận viện trợ trong nước và hộ gia đình không nhận viện trợ

hộ đến thu nhập, chi tiêu

Trang 36

Tên biến số Mô tả biến số Đo lường

Ý nghĩa của biến số trong mô hình nghiên

cứu

Kỳ vọng biến động tác động biến phụ thuộc

chi tiêu giáo dục và chi tiêu y tế) của hộ gia đình

chủ hộ

Bằng 1 nếu chủ hộ là nam và bằng 2 nếu chủ hộ là nữ

Tác động của giới tính đến thu nhập và chi tiêu của hộ gia đình

Hhsize Quy mô hộ gia đình Đo lường số thành viên trong hộ gia đình

Tác động của quy mô hộ gia đình đến thu nhập và chi tiêu (tổng chi tiêu, chi tiêu giáo dục và y tế) của hộ gia đình

+/-

gia đình

Bình phương số thành viên trong hộ gia đình

Biến này đưa vào mô hình thể hiện mối quan

hệ phi tuyến

Tác động của bình phương quy mô hộ gia đình đến thu nhập và chi tiêu (chi tiêu giáo dục và

y tế) của hộ gia đình

child16

Số thành viên của hộ gia đình nhỏ hơn 16 tuổi, tính theo quy mô hộ gia đình

Số tuổi của các thành viên

Tác động của số thành viên phụ thuộc đến thu nhập và chi tiêu (tổng chi tiêu, chi tiêu giáo dục và y tế) của hộ gia

đình

Elder

Số thành viên của hộ gia đình ngoài tuổi lao động, tính theo quy mô hộ gia đình

Số tuổi của các thành viên (trên 60 tuổi đối với nam và trên 55 tuổi đối với nữ)

Technic

Số thành viên được đào tạo trung cấp nghề, tính theo quy mô hộ gia đình

Trình độ tay nghề qua đào tạo của các thành viên

Tác động lao động được đào tạo nghề hoặc năng suất lao động đến thu nhập hoặc chi tiêu (chi tiêu giáo dục và y tế) của hộ gia đình

Secondary

Số thành viên học xong THCS, tính theo quy mô

hộ gia đình

Bằng cấp cao nhất mà các thành viên hộ gia đình nhận được

Tác động về trình độ giáo dục của các thành viên đến thu nhập hoặc chi tiêu (tổng chi tiêu, chi tiêu giáo dục hoặc y tế) của hộ gia đình

+/- Highschool

Số thành viên học xong THPT, tính theo quy mô

hộ gia đình

College

Số thành viên tốt nghiệp đại học, tính theo quy mô

hộ gia đình

+

Pcannuland Diện tích đất trồng cây

hàng năm của hộ gia đình Các loại đất nông

nghiệp được đo lường bằng đơn vị nghìn mét vuông (1.000 m2)

Tác động của đất nông nghiệp đến thu nhập hoặc chi tiêu (tổng chi tiêu, chi tiêu giáo dục hoặc y tế) của hộ gia

đình

+/- Pcpereland Diện tích đất trồng cây lâu

năm của hộ gia đình

Pcforexland Diện tích đất lâm nghiệp

của hộ gia đình

Trang 37

Tên biến số Mô tả biến số Đo lường

Ý nghĩa của biến số trong mô hình nghiên

cứu

Kỳ vọng biến động tác động biến phụ thuộc

Pcwatersuface

Diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản của hộ gia đình

reg_1

Biến nhị phân mô tả dân

số sống ở Đồng Bằng sông Hồng hoặc các khu vực khác

Bằng 1 nếu dân số sống ở Đồng bằng sông Hồng và bằng 0 nếu sống ở các khu vực khác

Tác động khu vực sinh sống của hộ gia đình đến thu nhập hoặc chi tiêu (tổng chi tiêu, chi tiêu giáo dục và y tế) của hộ

reg_2

Biến nhị phân mô tả dân

số sống ở Đông Bắc hoặc các khu vực khác

Bằng 1 nếu dân số sống ở Đông Bắc và bằng 0 nếu dân số sống ở các khu vực khác

reg_3

Biến nhị phân mô tả dân

số sống ở Tây Bắc hoặc các khu vực khác

Bằng 1 nếu dân số sống ở Tây Bắc và bằng 0 nếu dân số sống ở các khu vực khác

reg_4

Biến nhị phân mô tả dân

số sống ở Bắc Trung Bộ hoặc các khu vực khác

Bằng 1 nếu dân số sống ở Bắc Trung Bộ

và bằng 0 nếu dân số sống ở các khu vực khác

reg_5

Biến nhị phân mô tả dân

số sống ở Nam Trung Bộ hoặc các khu vực khác

Bằng 1 nếu dân số sống ở Nam Trung Bộ

và bằng 0 nếu dân số sống ở các khu vực khác

reg_6

Biến nhị phân mô tả dân

số sống ở Tây Nguyên hoặc các khu vực khác

Bằng 1 nếu dân số sống ở Tây Nguyên và bằng 0 nếu dân số sống ở các khu vực khác

reg_7

Biến nhị phân mô tả dân

số sống ở Đông Nam Bộ hoặc các khu vực khác

Bằng 1 nếu dân số sống ở Đông Nam Bộ

và bằng 0 nếu dân số sống ở các khu vực khác

reg_8

Biến nhị phân mô tả dân

số sống ở Đồng bằng sông Cửu Long hoặc các khu vực khác

Bằng 1 nếu dân số sống ở Đồng bằng sông Cửu Long và bằng 0 nếu dân số sống ở các khu vực khác

Urban

Biến giả mô tả hộ gia đình sống ở khu vực nông thôn hoặc thành thị

Bằng 1 nếu hộ gia đình sống ở khu vực thành thị và bằng 0

Tác động của khu vực sinh sống của hộ gia đình đến thu nhập hoặc

Trang 38

Tên biến số Mô tả biến số Đo lường

Ý nghĩa của biến số trong mô hình nghiên

cứu

Kỳ vọng biến động tác động biến phụ thuộc

nếu hộ gia đình sống ở nông thôn

chi tiêu (tổng chi tiêu, chi tiêu giáo dục và y tế) của hộ gia đình

3.3 Phương pháp nghiên cứu

Có nhiều phương pháp để đánh giá tác động của kiều hối đến thu nhập và chi tiêu

hộ gia đình Trong luận văn này, nghiên cứu sử dụng phương pháp khác biệt trong

khác biệt (DID) kết hợp với phương pháp so sánh điểm xu hướng (PSM) cho việc

đánh giá tác động của kiều hối quốc tế đến thu nhập và chi tiêu hộ gia đình Nội

dung cơ bản của phương pháp PSM là tìm một nhóm kiểm soát hoặc nhóm so sánh

(không nhận kiều hối) và sự phân bổ của các biến là nhóm xử lý (nhóm nhận kiều

Dựa vào các đặc tính quan sát được giữa nhóm xử lý (treatment group) và nhóm

kiểm soát (control group), chúng ta xây dựng một chỉ số gọi là điểm xu hướng-

propensity score là xác suất một quan sát được chọn vào nhóm xử lý hay nhóm

kiểm soát Các quan sát có cùng điểm xu hướng có thể được dùng làm nhóm đối

chứng

Các giả định của phương pháp PSM:

+ Chỉ số xu hướng hoàn toàn được xây dựng dựa trên các đặc tính quan sát được, do

đó phương pháp PSM yêu cầu việc lựa chọn mẫu chỉ phụ thuộc vào các đặc tính có

thể thấy được Các đặc tính không quan sát được không ảnh hưởng đến quá trình

chọn nhóm xử lý hay nhóm kiểm soát

+ Giả định độc lập có điều kiện: sau khi đã kiểm soát các yếu tố khác quan sát được,

sự khác biệt về tác động chính sách lên nhóm xử lý hay nhóm kiểm soát không phụ

thuộc vào việc phân bổ chính sách Nói cách khác là sau khi đã kiểm soát sự khác

biệt về đặc tính, thì việc phân bổ vào nhóm xử lý hay nhóm kiểm soát là hoàn toàn

Trang 39

ngẫu nhiên Từ đó chúng ta mới có thể sử dụng nhóm kiểm soát để làm đối chứng cho nhóm xử lý

, ⊥ Ti |Xi

Giả định có vùng hỗ trợ chung hoặc điều kiện trùng lặp:

+ Vùng hỗ trợ chung là vùng có ước lượng điểm xu hướng của cả nhóm xử lý và nhóm kiểm soát Điều kiện của vùng hỗ trợ chung là: 0 < P(Ti = 1|Xi) < 1

+ Đối với mỗi khoảng giá trị của điểm xu hướng, có thể tìm được các quan sát đối chứng để đảm bảo việc so sánh giữa nhóm xử lý và nhóm kiểm soát là hợp lệ Nếu các quan sát có điểm xu hướng khác biệt nhau quá thì không thể sử dụng làm nhóm đối chứng tốt Có càng nhiều quan sát của cả nhóm xử lý và nhóm kiểm soát trong vùng hỗ trợ chung càng tốt Quan sát không nằm trong vùng hỗ trợ chung sẽ bị loại Nếu các điều kiện trên được thỏa mãn, thì tác động tham gia trung bình đối với những người tham gia (ATT hay TOT) có thể ước lượng được bằng PSM khi sử dụng dữ liệu chéo (cross-sectional data): TOTPSM = 1/NT [ ∑ - ∑ ( ) + Các nhóm đối chứng có cùng điểm xu hướng (hay xác suất) với các nhóm xử lý sẽ

so sánh - match - với nhau để tìm tác động trung bình là sai biệt giữa kết quả của hai nhóm

+ TOTPSM là sai lệch trung bình giữa nhóm xử lý và nhóm đối chứng, với trọng số ω(i, j) được tính bằng các phương pháp so sánh khác nhau

+ Do tồn tại vấn đề chọn mẫu nên ATE khác ATT(TOT) trong phương pháp PSM Các cách thức chọn nhóm đối chứng dựa vào điểm xu hướng:

+ Với mỗi khoảng giá trị, lựa chọn n quan sát gần nhất

+ Chọn quan sát trong khoảng giá trị cho trước

+ So sánh trong từng khoảng giá trị cho trước

+ So sánh bằng hàm hồi quy nội tại sử dụng phương pháp phi tham số

Các bước thực hiện đánh giá theo phương pháp PSM:

+ Bước 1: Ước lượng mô hình xác xuất tham gia chương trình bằng hàm logit hay probit, với các biến giải thích là các đặc tính có ảnh hưởng đến khả năng tham gia chương trình: Pˆ(T = 1) = F(X1, , Xm)

Trang 40

+ Bước 2: Xác định vùng hỗ trợ chung và thực hiện các kiểm định đảm bảo các điều kiện cân bằng được thỏa mãn Các nhóm có cùng một giá trị điểm xu hướng (hay khoảng giá trị) cần có các thuộc tính không quá khác biệt nhau

+ Bước 3: So sánh nhóm xử lý với nhóm kiểm soát trong vùng hỗ trợ chung, dựa vào các cách thức tạo nhóm đối chứng như đã trình bày ở trên

3.3.2 Phương pháp khác biệt trong khác biệt

Ước lượng khác biệt trong khác biệt (difference in difference hay viết tắt là DID) là một phương pháp thông dụng trong thí nghiệm tự nhiên Để áp dụng phương pháp này ta cần số liệu bảng trong đó vừa chứa thông tin chéo về các đối tượng khác nhau, vừa có thông tin theo thời gian

Sử dụng các ký hiệu, ta có Y là thu nhập hoặc chi tiêu của hộ gia đình, I và L là biến giả xác định hộ gia đình có nhận kiều hối hay không (I (hoặc L) bằng 1 nếu hộ gia đình nhận được kiều hối và bằng 0 nếu hộ gia đình không nhận được kiều hối)

Về mặt thời gian, ta có Y0 là kết quả hộ gia đình nhận kiều hối năm 2012 và Y1 là kết quả hộ gia đình nhận kiều hối năm 2014 (kiều hối quốc tế) Vậy, đối với nhóm

hộ gia đình nhận kiều hối năm 2012, kết quả thay đổi từ Y0[D = 1] thành Y1[D = 1]; đối với nhóm hộ gia đình nhận kiều hối năm 2014, kết quả thay đổi từ Y0[D = 1] thành Y1[D = 1]

Ta không thể coi tác động của việc nhận kiều hối là khác biệt giữa kết quả nhận kiều hối năm 2012 và 2014 của nhóm bị chi phối (tức là, Y1[D = 1] – Y0[D = 1])

Lý do là một sự so sánh như vậy sẽ bị tác động bởi những biến động theo thời gian

Ví dụ như mặc dù trên thực tế kiều hối không hề có tác động gì tới thu nhập nhưng theo thời gian thu nhập của người dân vẫn tăng lên và ta có Y1[D = 1] – Y0[D = 1])

> 0

Tương tự, ta cũng không thể coi tác động của việc nhận kiều hối là khác biệt về kết quả theo thời gian giữa nhóm bị chi phối và nhóm không bị chi phối (tức là, Y1[D = 1] – Y1[D = 0]) Lý do là nhóm bị chi phối (nhóm xử lý) và nhóm không bị chi phối (nhóm kiểm soát) có thể khác nhau về một số đặc điểm cơ sở Ví dụ, mặc dù trên thực tế việc nhận kiều hối có thể có tác động làm tăng thu nhập của hộ gia đình,

Ngày đăng: 07/06/2018, 00:12

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w