1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Chi tiêu chính phủ và vấn đề biến đổi khí hậu ở các nước asean giai đoạn 1990 2013

79 152 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 1,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI: Hiện nay, con người đang phải hứng chịu hàng loạt các vấn đề bức xúc về môi trường trên phạm vi toàn cầu, chẳng hạn: biến đổi khí hậu, tuyệt chủng một số giống loài, n

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN ĐĂNG KHOA

CHI TIÊU CHÍNH PHỦ VÀ VẤN ĐỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở CÁC NƯỚC

ASEAN GIAI ĐOẠN 1990-2013

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Tp Hồ Chí Minh – Năm 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN ĐĂNG KHOA

CHI TIÊU CHÍNH PHỦ VÀ VẤN ĐỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở CÁC NƯỚC

ASEAN GIAI ĐOẠN 1990-2013

Chuyên ngành: Tài Chính – Ngân Hàng

Mã số: 60340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS Vũ Thị Minh Hằng

Tp Hồ Chí Minh – Năm 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học do tôi thực hiện Các số liệu

sử dụng để phân tích trong luận án có nguồn gốc rõ ràng và đã được công bố theo đúng quy định Các kết quả nghiên cứu trong luận văn được tôi tìm hiểu, phân tích một cách trung thực, khách quan Tất cả những bài tham khảo và kế thừa đều được trích dẫn và tham chiếu đầy đủ theo quy định

Trang 4

MỤC LỤC TRANG BÌA PHỤ

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ

GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI 1

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI: 1

2 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU: 3

3 MỤC TIÊU VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU: 5

4 MÔ HÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: 6

5 PHẠM VI THU THẬP SỐ LIỆU: 7

6 Ý NGHĨA THỰC TIỄN: 7

PHẦN NỘI DUNG 9

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 9

1.1 Tổng quan về chi tiêu chính phủ 9

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm và phân loại chi tiêu chính phủ 9

1.1.2 Vai trò của chi tiêu chính phủ và các nhân tố tác động 11

1.1.3 Quan điểm của các nhà kinh tế học về chi tiêu chính phủ 14

1.2 Biến đổi khí hậu 19

1.2.1 Biến đổi khí hậu là gì? 19

1.2.2 Nguyên nhân gây biến đổi khí hậu 20

1.2.3 Tác động của biến đổi khí hậu 23

1.3 Những nhân tố tác động tới biến đổi khí hậu 25

1.3.1 Chi tiêu chính phủ của quốc gia 25

1.3.2 Mức tăng trưởng kinh tế của quốc gia 28

1.3.3 Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào nền kinh tế 31

Trang 5

1.3.4 Độ mở thương mại của nền kinh tế 33

1.4 Tổng quan tình hình nghiên cứu 34

1.5 Kết luận 38

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHI TIÊU CHÍNH PHỦ VÀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TẠI ASEAN 39

2.1 Vấn đề biến đổi khí hậu 39

2.1.1 Lượng phát thải khí CO2 tại các nước ASEAN 39

2.1.2 Hậu quả của biến đổi khí hậu tại một số nước ASEAN 41

2.2 Chính phủ các nước ASEAN đối phó với biến đổi khí hậu như thế nào? 44

2.2.1 Thực trạng tổng chi tiêu chính phủ tại các nước ASEAN 44

2.2.2 Chi tiêu chính phủ nhằm thích ứng với biến đổi khí hậu 45

2.2.3 Chi tiêu chính phủ nhằm giảm nhẹ biến đổi khí hậu 47

2.3 Bài học kinh nghiệm có thể áp dụng tại Việt Nam 49

2.4 Kết luận 50

CHƯƠNG 3: MÔ HÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP ƯỚC LƯỢNG 51

3.1 Mô hình thực nghiệm 51

3.2 Dữ liệu nghiên cứu 53

3.3 Phương pháp ước lượng 57

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ KẾT LUẬN 58

4.1 Kết quả nghiên cứu 58

4.2 Kết luận 61

PHẦN KIẾN NGHỊ 62

1 HÀM Ý CHÍNH SÁCH: 62

2 CÁC HẠN CHẾ CỦA BÀI NGHIÊN CỨU: 63 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1: Thống kê các biến được sử dụng trong bài 7

Bảng 2.2: Tốc độ tăng trưởng GDP của các nước ASEAN 2004-2015 (%) 39

Bảng 3.2: GDP trên đầu người tại các nước ASEAN 2006-2013 (USD) 40

Bảng 4.2: Thâm hụt ngân sách tại các nước ASEAN 2006-2013 (%GDP) 45

Bảng 5.3: Thống kê các biến chính được sử dụng trong bài nghiên cứu 53

Bảng 6.3: Thống kê mô tả các biến trong mô hình 54

Bảng 7.3: Bảng kiểm định tính dừng các biến bằng nhiều phương pháp 55

Bảng 8.3: Bảng ma trận hệ số tương quan các biến trong mô hình 56

Bảng 9.4: Kết quả ước lượng cho biến phụ thuộc lnCO2 58

Bảng 10.4: Kết quả kiểm định mô hình 59

Trang 7

DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ Hình 1.1: Nguồn phát thải khí nhà kính liên quan CO2 21Hình 2.1: Tương tác giữa chi tiêu chính phủ và môi trường 28Hình 3.1: Đường cong Kuznets về môi trường 29Hình 4.2: Lượng phát thải CO2 trên đầu người ở nước cao nhất và thấp nhất tại

ASEAN 1980-2014 (tấn theo hệ mét trên đầu người) 41Hình 5.2: Chi tiêu chính phủ tại một số nước ASEAN 1980-2014 (triệu USD) 44

Trang 8

GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

Hiện nay, con người đang phải hứng chịu hàng loạt các vấn đề bức xúc về môi trường trên phạm vi toàn cầu, chẳng hạn: biến đổi khí hậu, tuyệt chủng một số giống loài, nguồn nước ngọt ngày càng khan hiếm, tầng ôzôn bị hủy hoại, đất đai dần biến thành hoang mạc, nguy cơ phát tán các chất độc hại … Những vấn đề này đều trực tiếp tác động tới sự sống còn của con người cũng như sự phát triển của nhân loại Trong các vấn đề kể trên, dù ở mức độ quốc gia hay toàn cầu thì biến đổi khí hậu luôn được xem

là vấn đề sống còn và là một yếu tố quan trọng cho sự phát triển lâu dài của nhân loại Mặt khác như chúng ta đã biết, nguyên nhân mà biến đổi khí hậu xảy ra có thể là do yếu tố tự nhiên chẳng hạn: mặt trời thay đổi cường độ sáng, chu kỳ hoạt động núi lửa, dòng chảy đại dương thay đổi, quỹ đạo quay của trái đất thay đổi; cũng có thể là do yếu

tố con người thông qua lượng khí nhà kính được phát thải (bao gồm: CO2, CH4, N2O, CFC và HCFC) Bên cạnh đó, tồn tại một số phản ứng có thể làm gia tăng hoặc làm giảm bớt các biến đổi ban đầu Ví dụ như các đại dương và chỏm băng, chúng phản ứng rất chậm với biến đổi từ bức xạ mặt trời vì khối lượng của chúng quá lớn Vì vậy, môi trường khí hậu có thể mất nhiều thế kỷ hoặc lâu hơn để bộc lộ hoàn toàn những biến đổi và hệ quả cuối cùng là nó làm chậm đi tiến trình biến đổi khí hậu

Tuy nhiên, các nhà khoa học đã tranh luận rất nhiều về vấn đề này và hiện nay họ đã thống nhất và cho rằng: trong vài thập kỷ gần đây, những hoạt động của con người nhằm phát triển kinh tế và xã hội của quốc gia ở các lĩnh vực như giao thông vận tải, nhiên liệu, công nông lâm nghiệp, xây dựng và sinh hoạt đã làm gia tăng nồng độ các khí có thể gây ra hiệu ứng nhà kính, làm hành tinh xanh nóng dần lên và hệ quả là làm

hệ thống khí hậu toàn cầu bị thay đổi theo IPCC (2014) Cũng đồng ý với kết luận trên, nghiên cứu thực nghiệm của Crowley (2000) cho rằng trước năm 1850 vai trò của núi lửa và ánh sánh mặt trời là rất quan trọng, giải thích từ 41 đến 64% biến đổi khí hậu; trong khi đó từ sau năm 1850 thì khí nhà kính mà cụ thể là CO2 có ảnh hưởng lớn tới

Trang 9

biến đổi khí hậu Cụ thể theo như đánh giá của Ủy Ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC) năm 2014 nhận định răng: các ngành năng lượng, công nghiệp,… đã sử dụng nhiên liệu hóa thạch bằng việc đốt chúng đã góp gần một nửa (46%) vào nguyên nhân nóng lên toàn cầu, nạn phá rừng chiếm khoảng 18% nguyên nhân, lĩnh vực nông nghiệp chiếm khoảng 9%, lĩnh vực sản xuất hóa chất chiếm khoảng 24% và còn lại (3%) là từ các hoạt động khác của con người

Mặt khác, theo học thuyết trường phái Keynes, một công cụ quan trọng nhằm giảm bớt những hậu quả tiêu cực của thất bại thị trường và góp phần gia tăng tính “tăng trưởng bền vững” là việc thực hiện chi tiêu của chính phủ Ban đầu, cơ chế mà qua đó chi tiêu chính phủ và môi trường tương tác với nhau được thực hiện về mặt lý thuyết bởi Heyes (2000), Lawn (2003) và Sim (2006) khi cố gắng mở rộng mô hình Keynes bằng cách kết hợp yếu tố môi trường vào mô hình IS-LM ở cấp độ lý thuyết mà không thay đổi cấu trúc cơ bản (Halkos và Paizanos 2013) Gần đây, theo Halkos và Paizanos (2016)

có năm cách khác biệt mà thông qua đó các khoản chi của chính phủ có thể tác động đến chất lượng của môi trường: (i) thứ nhất, khi quy mô chính phủ tăng lên, góp phần chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế thay đổi theo hướng gia tăng tỷ trọng ngành dịch vụ, lĩnh vực vốn ít gây ô nhiễm so với ngành công nghiệp và nông nghiệp; (ii) thứ hai, chi tiêu của chính phủ nhằm duy trì trật tự, an ninh công cộng và bảo vệ quyền sở hữu, từ

đó có thể làm giảm các tác động ngoại tác về môi trường như việc các nguồn tài nguyên thiên nhiên bị khai thác một cách quá mức và hỗ trợ thực hiện các quy định của nhà nước về môi trường; (iii) thứ ba, các khoản chi của chính phủ trong giáo dục và y

tế có thể làm tăng nhận thức của công chúng liên quan đến ảnh hưởng tiêu cực từ ô nhiễm môi trường và do đó làm tăng nhu cầu về cải thiện chất lượng môi trường; (iv) thứ tư, một trình độ học vấn cao cũng có thể đóng góp vào kiểm soát tốc độ tăng dân số

và từ đó có thể làm giảm áp lực môi trường Hơn nữa, nếu môi trường được xem là hàng công cộng cao cấp thì có khả năng nó chỉ được đáp ứng khi đã đáp ứng các nhu cầu về hàng hoá công khác; (v) Cuối cùng, đầu tư vào hạ tầng cơ sở kỹ thuật (như xe

Trang 10

buýt, ga điện ngầm, nhà máy sử dụng năng lượng tái tạo…) có thể làm giảm sự xuống cấp của môi trường bằng cách thúc đẩy các phương pháp sản xuất và hành vi của người tiêu dùng sạch hơn

Nói tóm lại, chính phủ tác động vào nền kinh tế của quốc gia thông qua việc chi tiêu của ngân sách Nhà nước là có tác động tới môi trường Và theo Halkos và Paizanos (2013) cho rằng với một tỷ lệ chi tiêu chính phủ trên tổng sản phẩm quốc dân thì nó sẽ gây ra ảnh hưởng trực tiếp đến các lĩnh vực khác nhau về kinh tế lẫn xã hội của quốc gia đó, trong đó có vấn đề biến đổi khí hậu Bên cạnh đó, bảo vệ môi trường là một lĩnh vực mà khu vực tư nhân không muốn làm hoặc không thể làm (Lopez và cộng sự 2011) Mặc dù vậy, theo Halkos và Paizanos (2013) chi tiêu chính phủ ảnh hưởng đến biến đổi khí hậu như thế nào đã không được nghiên cứu rộng rãi và chỉ mới bắt đầu thu hút sự chú ý ở những năm gần đây Hơn thế, theo Sử Đình Thành và cộng sự (2016) kết quả về vai trò của chính sách tài khóa trong việc cắt giảm khí thải CO2 vẫn còn mang tính tranh luận

Bên cạnh đó, như chúng ta đã biết thì nhóm các quốc gia ASEAN, gồm cả trong đó Việt Nam, có nét tương đồng rất lớn về kinh tế, văn hóa, lịch sử đấu tranh giành độc lập cũng như cộng đồng kinh tế ASEAN được hình thành cho thấy rằng việc nghiên

cứu ở nhóm nước này là khả thi Từ đó, tôi quyết định chọn đề tài “Chi Tiêu Chính Phủ Và Vấn Đề Biến đổi khí hậu Ở Các Nước Asean Giai Đoạn 1990-2013”

2 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU:

Biến đổi khí hậu luôn được xem là một yếu tố có vai trò quan trọng sống còn tới sự phát triển bền vững của toàn nhân loại Sau nhiều cuộc tranh luận trong một khoảng thời gian dài, các nhà khoa học đã thống nhất rằng con người trong quá trình phát triển kinh tế và xã hội của mình đã làm hệ thống khí hậu toàn cầu bị thay đổi (IPCC 2014) Bên cạnh đó, bảo vệ môi trường là một lĩnh vực mà khu vực tư nhân không muốn làm hoặc không thể làm Chính vì vậy, cần phải có sự can thiệp từ phía chính phủ, mà cụ thể ở đây là chi ngân sách nhà nước Mặc dù vậy, chi tiêu chính phủ ảnh hưởng đến

Trang 11

biến đổi khí hậu như thế nào đã không được nghiên cứu rộng rãi và chỉ mới bắt đầu thu hút sự chú ý ở những năm gần đây (Halkos và Paizanos 2013)

Về nghiên cứu thực nghiệm thì một số nhà nghiên cứu cho rằng chi tiêu chính phủ có tác động âm lên lượng phát thải khí CO2 Min (2003) nghiên cứu tại Hàn Quốc từ năm

1991 đến năm 2000 thấy rằng chính phủ đầu tư trong lĩnh vực môi trường đã làm giảm mức phát thải các khí như NO2, SO2, TSP và CO Trong một nghiên cứu khác có liên quan, Lopez và Palacios (2010) đã kiểm tra vai trò chi từ phía chính phủ và thuế môi trường đối với chất lượng môi trường ở châu Âu bằng cách sử dụng dữ liệu 21 quốc gia

ở châu Âu cho giai đoạn 1995-2006 và báo cáo rằng chi tiêu chính phủ là tiêu cực và

có ý nghĩa đến ô nhiễm không khí, ngay cả khi kiểm soát thành phần của chi tiêu công Lopez và cộng sự (2011) nghiên cứu ở 120 quốc gia giai đoạn 1980 đến năm 2004 cho rằng chính phủ chi tiêu cho các hàng hóa công sẽ làm giảm đi ô nhiễm, tuy nhiên, tăng tổng chi tiêu chính phủ mà không thay đổi thành phần của nó cũng không làm giảm ô nhiễm Theo Halkos và Paizanos (2013), đối với cả SO2 và CO2 thì chi tiêu chính phủ

có ảnh hưởng tiêu cực cả về trực tiếp lẫn gián tiếp khi thông qua thu nhập đầu người, bằng nghiên cứu mẫu 77 quốc gia trong giai đoạn 1980-2000 Sau đó, họ tiếp tục nghiên cứu tại Hoa Kỳ từ năm 1973 đến năm 2013, kết quả chỉ ra rằng việc thực hiện chi tiêu ngân sách mở rộng mang lại hiệu quả giảm bớt phát thải khí CO2, trong khi cắt giảm thuế sẽ làm tăng phát thải CO2 do tiêu dùng gây ra (Halkos và Paizanos, 2016)

Sử Đình Thành và cộng sự (2016) nghiên cứu chính sách tài khóa ảnh hưởng như thế nào đến lượng phát thải CO2 thông qua bộ dữ liệu bảng gồm 60 quốc gia đang phát triển giai đoạn 2001 đến 2014, bằng việc tách chính sách tài khóa thành những phần như: chi tiêu chính phủ, số thu thuế và bội chi ngân sách Nhóm tác giả đã đi đến hai kết luận như sau: (1) Cả chi tiêu chính phủ, số thu thuế và bội chi của ngân sách đều có tác động âm và có ý nghĩa thống kê lên lượng phát thải khí CO2; (2) Kể cả khi các nước này cam kết thực hiện theo Nghị định thư Kyoto, thì tác động này cũng là âm

Trang 12

Một số các nhà nghiên cứu khác thì lại cho rằng chi tiêu của chính phủ có tác động dương lên lượng phát thải khí CO2 Frederik và Lundstrom (2000) điều tra ảnh hưởng của tự do chính trị và kinh tế đến mức phát thải CO2, bằng việc phân tích dữ liệu của

75 nước trong giai đoạn 1975-1995 Họ thấy rằng ảnh hưởng của quy mô chi tiêu chính phủ đối với mức độ ô nhiễm là khác nhau Cụ thể, nếu quy mô chi tiêu chính phủ được xác định là nhỏ thì sẽ làm giảm lượng phát thải CO2 và ngược lại Tức là khi quy mô chi tiêu chính phủ có kích thước lớn sẽ làm tăng lên lượng khí CO2 Theo Bernauer và Koubi (2006), khi chi tiêu chính phủ gia tăng thì ô nhiễm không khí cũng sẽ gia tăng

và mối quan hệ này không bị ảnh hưởng bởi chất lượng chi tiêu chính phủ khi nghiên cứu cho mẫu 42 quốc gia trong giai đoạn 1971-1996 Tuy nhiên, họ không xem xét điều kiện bậc hai hoặc cao hơn của thu nhập trong phân tích của họ và họ lập luận mơ

hồ rằng thu nhập cao hơn dẫn đến quy mô chi tiêu của chính phủ sẽ lớn hơn và chất lượng không khí sẽ tốt hơn (Halkos và Paizanos 2013)

Bên cạnh đó, một số nhà nghiên cứu phân tách tác động thành ngắn hạn và dài hạn thì lại cho ra kết quả đa dạng Adewuyi (2016) xem xét ảnh hưởng chi tiêu của hộ gia đình, chính phủ và cả doanh nghiệp lên lượng phát thải khí CO2 ở nhiều quốc gia trên thế giới trong giai đoạn 1990-2001, kết luận rằng: chi tiêu hộ gia đình đối với phát thải CO2 là tiêu cực, đầu tư tư nhân là tích cực, khoản chi thường xuyên của chính phủ trong dài hạn có ảnh hưởng tích cực nhưng trong ngắn hạn lại là tiêu cực, cuối cùng khoản chi của chính phủ cho đầu tư trong dài hạn có tác động tiêu cực nhưng trong ngắn hạn lại là tích cực Galinato và cộng sự (2016) nghiên cứu tại Mỹ Latin và một số nước châu Á từ năm 1980 đến năm 2001 cho rằng chi tiêu chính phủ làm tăng lượng khí thải CO2 trong ngắn hạn nhưng nó lại có tác động không đáng kể trong dài hạn

3 MỤC TIÊU VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:

Bài nghiên cứu với mục đích xem xét chi tiêu chính phủ ảnh hưởng như thế nào đối với biến đổi khí hậu ở các nước ASEAN Từ đó, gợi ra một số ý kiến về chi tiêu chính phủ

Trang 13

để nó thực sự có thể góp phần làm giảm biến đổi khí hậu trên phạm vi khu vực và toàn cầu

Để giải quyết những vấn đề trên, bài nghiên cứu tiến hành trả lời các câu hỏi sau: (i) Chi tiêu chính phủ tác động đến biến đổi khí hậu như thế nào?

(ii) Nếu có thì tác động đó là cùng chiều, ngược chiều hay không có tác động?

Do đó, bài nghiên cứu có các đối tượng chính: chi tiêu chính phủ và biến đổi khí hậu

4 MÔ HÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

cụ thể như sau:

Trong đó:

 Các biến có ký hiệu ln ở trước là được tính bằng logaric cơ số 10

 CO2 đại diện cho biến đổi khí hậu, được đo bằng lượng phát thải khí CO2 trên đầu người (đơn vị tấn theo hệ mét)

 GOV là phần trăm chi tiêu chính phủ trong GDP (đơn vị %)

 GDPc là GDP đầu người thực tính theo giá năm 2011 (đơn vị đô la Mỹ)

 FDI là dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đi vào thuần theo GDP (đơn vị %)

 Open là tỷ lệ xuất nhập khẩu trong GDP (đơn vị %)

 i lần lượt là 8 nước thành viên ASEAN gồm: Campuchia, Indonesia, Lào, Malaysia, Phillipin, Singapore, Thái Lan và Việt Nam

Trang 14

 t là chuỗi thời gian chạy từ 1990 đến 2013

Biến Invest trong mô hình gốc được chuyển thành FDI là đầu tư trực tiếp nước ngoài 4.2 Dữ liệu:

Bảng 1: Thống kê các biến được sử dụng trong bài

CO2 Phát thải CO2 trên đầu người, đơn vị tấn theo mét World Bank (2017) GDPc GDP đầu người thực ($ 2011) Penn World Table 9.0 GOV Phần trăm chi tiêu chính phủ trong GDP Penn World Table 9.0 FDI Phần trăm đầu tư trực tiếp nước ngoài theo GDP World Bank (2017) Open Tỷ lệ xuất nhập khẩu trong GDP Penn World Table 9.0

Nguồn: tác giả thống kê thu thập

4.3 Phương pháp ước lượng:

Sử dụng phương pháp Pooled OLS, Fixed Effects Model (hiệu ứng tác động cố định)

và Random Effects Model (hiệu ứng tác động ngẫu nhiên) để ước lượng các hệ số trong mô hình Bên cạnh đó, ta phải lựa chọn mô hình tối ưu trong ba mô hình trên Sau đó, để đảm bảo độ vững của mô hình được chọn ta phải kiểm tra các bệnh của hồi quy như tự tương quan, phương sai thay đổi hoặc đa cộng tuyến Kế tiếp ta phải khắc phục các bệnh đó ta sử dụng Bình phương nhỏ nhất tổng quát (GLS) để kết quả đạt được tính vững và hiệu quả

Trang 15

dương hay không có tác động nhằm củng cố thêm bằng chứng thực nghiệm tại ASEAN Cũng như có thể giúp cho chính phủ các nước có một chính sách chi tiêu hợp

lý để giảm bớt tình trạng biến đổi khí hậu

Trang 16

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

1.1 Tổng quan về chi tiêu chính phủ

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm và phân loại chi tiêu chính phủ

Trong khuôn khổ phạm trù tài chính công, có thể nói chi tiêu chính phủ bao gồm các khoản chi tiêu từ chính quyền các cấp, từ các đơn vị quản lý hành chính và từ cả các đơn vị sự nghiệp chịu sự kiểm soát và tài trợ bởi chính phủ Mặt cơ bản thì chi tiêu chính phủ là cụ thể hóa các khoản chi của ngân sách nhà nước được Quốc hội thông qua hằng năm Nó phản ánh giá trị kinh tế của hàng hoá mà chính phủ mua vào, để qua

đó cung cấp lại cho xã hội các loại hàng hoá và dịch vụ công nhằm thực hiện các chức năng cơ bản của Nhà nước về kinh tế, chính trị và xã hội

Các nhà kinh tế học cổ điển mà đại diện là Adam Smith Theo trường phái này, họ quan điểm rằng vai trò của lao động là quan trọng, chính lao động là thứ đã tạo ra giá trị của hàng hóa và nó trở thành thước đo cho giá trị Và chính vì họ đề cao sức lao động trong một xã hội nên họ cho rằng lao động sẽ đạt tối ưu khi chính phủ không can thiệp Do đó, họ phủ nhận vai trò điều tiết và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của chính phủ thộng qua học thuyết “Bàn Tay Vô Hình”, họ cho rằng chính phủ sẽ kiềm chế động lực lao động mà động lực này phát sinh từ giá trị mà con người tạo ra khi lao động Họ khẳng định cơ chế tự điều tiết của thị trường tự do theo quy luật khách quan

là tốt nhất, bất kỳ sự can thiệp nào từ phía chính phủ đều sẽ chỉ làm kiềm chế tăng trưởng mà thôi Nói tóm lại, “theo họ (các nhà kinh tế học cổ điển), chính phủ chỉ biết lấy đi của cải của xã hội (dưới hình thức nộp thuế bắt buộc) chứ không trả lại cho xã hội, vì vậy cần phải triệt tiêu mọi khoản chi của chính phủ để tránh lãng phí nguồn lực

xã hội”, giáo trình Tài chính công (2005, trang 226)

Nhưng theo thời gian quan điểm đó đã dần phai mờ bởi học thuyết của Keynes Theo Vedder và Gallaway (1998, trang 1), không có xã hội nào trong lịch sử đạt được một mức độ cao của sự sung túc về kinh tế mà không có chính phủ Bên cạnh đó, chính phủ

Trang 17

còn có một vai trò quan trọng đó là tái phân phối thu nhập xã hội; bằng việc chính phủ chi tiêu thì chính phủ đã “bơm ra” cho xã hội những khoản thu nhập đã lấy đi từ xã hội bởi hình thức thu thuế Bằng quá trình đó, chính phủ đã thực hiện tái phân phối thu nhập xã hội một cách công bằng hơn, hạn chế những thất bại của thị trường (như hàng hóa công thuần túy, tình trạng độc quyền, thông tin bất cân xứng và ngoại tác) để nhằm đảm bảo sự tăng trưởng ổn định của nền kinh tế

Vai trò của chi tiêu chính phủ tuy có thay đổi qua thời gian nhưng chúng đều có những đặc điểm cơ bản sau:

(i) Phục vụ vì lợi ích cộng đồng, lợi ích của người dân ở một phạm vi vùng hay một quốc gia Điều này xuất phát từ chức năng quản lý toàn diện nền kinh tế và xã hội của chính phủ và cũng chính trong quá trình thực hiện chức năng đó chính phủ đã cung cấp một lượng hàng hoá và dịch vụ công cộng khổng lồ cho nền kinh tế quốc gia (ii) Luôn gắn liền với bộ máy Nhà nước và những nhiệm vụ về kinh tế, chính trị

và xã hội mà Nhà nước phải thực hiện

(iii) Hoàn toàn mang tính công cộng Chi tiêu chính phủ tương ứng với việc cung cấp hàng hoá và dịch vụ công cho nền kinh tế quốc gia với mục đích thực hiện các chức năng và nhiệm vụ mà chính phủ được giao Đồng thời đó là các khoản chi cần thiết, phát sinh, đáp ứng nhu cầu tương đối ổn định như: chi tiền lương cho cán bộ công chức, chi nhằm duy trì hàng hoá dịch vụ công để phục vụ người dân, …

(iv) Mang tính không hoàn trả hay hoàn trả không trực tiếp Biểu hiện ở chỗ người dân nộp tiền thuế cho nhà nước không vì mục đích mua được một món hàng nào

đó mà do tính bắt buộc của nhà nước Hơn nữa, khi nhà nước dùng tiền thuế để cung cấp hàng hóa dịch vụ công phục vụ công dân thì không thể xác định được số tiền đó cụ thể là của người nào

Bên cạnh đó, nhằm giúp chính phủ xây dựng những chương trình hành động, tăng cường hiệu quả trong quá trình thi hành ngân sách Nhà nước nói chung và chi tiêu chính phủ nói riêng Cũng như phân chia trách nhiệm rõ ràng về phân phối và chấp

Trang 18

hành ngân sách Nhà nước Đồng thời để các nhà kinh tế có thể phân tích ảnh hưởng của các hoạt động tài chính từ phía chính phủ đối với nền kinh tế thì việc phân loại chi tiêu chính phủ là hết sức quan trọng Có nhiều cách phân loại chi tiêu chính phủ, sau đây là một số cách thông thường:

(i) Căn cứ vào chức năng của Nhà nước, chi tiêu chính phủ được phân ra: Xây dựng cơ sở hạ tầng; Toà án và Viện kiểm soát; Chi cho quân đội và an ninh xã hội; Chi giáo dục; Chi an sinh xã hội; Chi hỗ trợ doanh nghiệp; Chi để quản lý hành chính Nhà nước; Chi cho các chính sách đặc biệt và chi khác

(ii) Căn cứ vào tính chất kinh tế, chi tiêu chính phủ phân ra thành: Chi thường xuyên và Chi đầu tư phát triển

(iii) Căn cứ vào quy trình lập ngân sách, chi tiêu chính phủ được chia ra theo yếu tố đầu vào và đầu ra

1.1.2 Vai trò của chi tiêu chính phủ và các nhân tố tác động

 Chi tiêu chính phủ có những vai trò quan trọng chủ yếu:

Thứ nhất, vai trò phân bổ nguồn lực xã hội đây là một vai trò quan trọng nhất Chính phủ can thiệp vào nền kinh tế thị trường để hạn chế những thất bại của thị trường như độc quyền, hàng hóa công cộng, ngoại tác hay thông tin không đối xứng Tuy nhiên, ta phải chấp nhận rằng sự can thiệp của chính phủ không phải là chìa khóa vạn năng để giải quyết tất cả vấn đề Bởi lẽ chính phủ cũng có những hạn chế của mình và mọi chính sách can thiệp của chính phủ đều kèm theo những chi phí nhất định Chính vì thế, khi chính phủ thực thi một chính sách thì lợi ích mà chính sách này mang lại cho

xã hội lớn hơn chi phí phát sinh mà xã hội phải gánh chịu từ chính sách này và lúc đó chính sách này mới được xem là tốt Chẳng hạn như chính phủ ban hành chính sách ưu đãi về vốn cho doanh nghiệp để xây nhà cho hộ gia đình có thu nhập thấp thì lợi ích mà các ngôi nhà hoặc chung cư đó mang lại cho xã hội phải lớn hơn chi phí bỏ ra như chi phí cơ hội, các khoản phí để xây dựng, …

Trang 19

Thứ hai, chi tiêu chính phủ có vai trò phân phối lại thu nhập Đây là mục tiêu quan trọng cần đạt được đằng sau nhiều chính sách của chính phủ Chính phủ có thể đạt được mục tiêu này bằng nhiều cách thức nhưng trực tiếp nhất và thường dùng nhất là đánh thuế luỹ tiến rồi sau đó chi trợ cấp cho một số đối tượng nhất định Bên cạnh đó, việc chính phủ cung cấp các dịch vụ về giáo dục, đào tạo, y tế, nhà ở và các dịch vụ xã hội khác cũng liên quan tới vai trò phân phối lại của chính phủ Ngoài ra, các hoạt động điều tiết thị trường như chống độc quyền, an toàn lao động, vệ sinh thực phẩm… cũng mang hàm ý phân phối lại Tuy nhiên, đứng sau mỗi mức độ phân phối lại đó đều hàm chứa sự đánh đổi giữa công bằng và hiệu quả, vì nó có liên quan đến những chi phí nhất định để đảm bảo vai trò phân phối lại đạt được hiệu quả tối ưu nhất

Thứ ba, chi tiêu chính phủ có vai trò ổn định hóa nền kinh tế Các chính sách của chính phủ nhằm đạt được các mục tiêu vĩ mô trong nền kinh tế như cải thiện cán cân thanh toán, gia tăng tốc độ tăng trưởng dài hạn của nền kinh tế,… Bằng việc sử dụng một cách cẩn thận công cụ chi của chính phủ mà chính phủ có thể ảnh hưởng tới tổng chi tiêu của xã hội, tốc độ tăng trưởng kinh tế, tổng sản lượng, tỷ lệ người lao động có việc làm, mức giá của nền kinh tế

Tóm lại, chi tiêu chính phủ có một vai trò hết sức quan trọng trong việc phát triển nền kinh tế và xã hội của một quốc gia Và để hiện thực hóa vai trò của chi tiêu chính phủ,

ta cũng cần phải biết rõ các nhân tố tác động đến nó, để từ đó có những chiến lược, kế hoạch, biện pháp nhằm ngăn ngừa, hạn chế hoặc phát huy trong từng trường hợp cần thiết

 Có nhiều nhân tố tác động chi tiêu chính phủ, nhưng cơ bản có các nhân tố sau: Thứ nhất, là do nhu cầu về vai trò của nhà nước trong nền kinh tế ngày càng tăng cao Khi xã hội phát triển, công nghiệp hóa ngày càng diễn ra mạnh mẽ thì hệ thống các mối quan hệ trong xã hội, thương mại và pháp lý của nền kinh tế ngày càng trở nên đa dạng hóa và phức tạp hóa hơn Khi đó, chính phủ cần phải có vị thế cao hơn để xây dựng và vận hành tổ chức để giải bài toán về các mối quan hệ đan xen đó, điều này tất yếu dẫn

Trang 20

đến sự gia tăng về quy mô và số lượng chi của chính phủ, đặc biệt trong lĩnh vực pháp luật và duy trì trật tự giao thông, thông tin liên lạc, y tế, giáo dục, …

Hơn thế nữa, khu vực tư nhân sẽ không thể cũng như không muốn sản xuất những hàng hóa dịch vụ công cho xã hội vì cơ chế “người hưởng tự do không phải trả tiền” Sự phát triển của nền kinh tế sẽ làm xuất hiện những nhu cầu về hàng hóa dịch vụ công mới, tuy nhiên, khu vực tư sẽ không tham gia vì không có lời hoặc không đủ nguồn lực để thực hiện Vì vậy, vai trò của chính phủ là cần thiết nhằm tham gia sản xuất những loại hàng hóa dịch vụ công để thỏa mãn nhu cầu của người dân

Thứ hai, là do xã hội hóa các rủi ro Bắt nguồn từ sự thay đổi phong tục và tư tưởng Đáng lý ra mỗi cá nhân trong xã hội phải cố gắng tự mình đối phó với rủi ro bằng cách phòng ngừa, hạn chế hoặc khắc phục rủi ro Nhưng do không đủ khả năng hoặc không nhận thức được đầy đủ trách nhiệm nên dần dần các cá nhân này đã đẩy sang “vai” của nhà nước Nghĩa là chính phủ phải đứng ra bảo hiểm, phụ cấp lương và tái phân phối các gánh nặng đó cho toàn thể xã hội Ví dụ như người nông dân ở Kontum phá rừng trồng mì vì thấy rằng giá mì tăng cao nhưng không nhận thức được hậu quả từ việc phá rừng cũng như giá cả chỉ là nhất thời, cũng như việc phải phụ thuộc rất nhiều vào người mua (có mua hay không) và khi đỗ vỡ thì gánh nặng thất nghiệp, lỗ vốn, môi trường huỷ hoại,… lại đè nặng lên vai chính phủ

Thứ ba, là do thay đồi công nghệ Sự thay đổi công nghệ ảnh hưởng lớn đến tỷ trọng chi tiêu hàng hóa công cộng, thể hiện qua việc quy trình sản xuất bị thay đổi cũng như

số lượng và chủng loại sản phẩm được tạo ra Ảnh hưởng này có thể theo chiều hướng làm gia tăng hoặc thu hẹp tầm ảnh hưởng của hàng hóa dịch vụ công, kéo theo nó sẽ tác động làm thay đổi tăng hoặc giảm chi tiêu chính phủ

Thứ tư, là thay đổi dân số Đây cũng là một yếu tố quan trọng, nó quyết định sự thay đổi tỷ trọng của chi tiêu chính phủ Dân số tăng sẽ khiến cho chính phủ quốc gia phải gia tăng các khoản chi cho giáo dục, y tế, cơ sở hạ tầng… Tương tự hiện tượng “lão

Trang 21

hóa dân số” cũng khiến chính phủ phải gia tăng các khoản chi cho y tế, chăm sóc sức khỏe và phúc lợi xã hội

Thứ năm, là quá trình đô thị hóa Tiến trình đô thị hóa sẽ làm nảy sinh nhiều nhu cầu mới (vốn không có ở vùng nông thôn) Đại bộ phận những nhu cầu phát sinh thêm đó

là các hàng hóa dịch vụ công cộng như cầu, đường, hệ thống cấp thoát nước, nhà máy nước, nhà máy điện, khu vui chơi, giải trí, dịch vụ chăm sóc y tế, giáo dục… và vì thế, chi tiêu chính phủ cũng sẽ thay đổi

Ngoài ra, còn có các yếu tố bên ngoài khác như khủng hoảng kinh tế (nó trực tiếp ảnh hưởng đến thị trường mua bán trong nước), vấn đề an ninh quốc phòng khu vực cũng như thế giới (làm gia tăng chi tiêu cho quân đội),…

1.1.3 Quan điểm của các nhà kinh tế học về chi tiêu chính phủ

 Thứ nhất là trường phái kinh tế học cổ điển:

Adam Smith (1723–1790), ông là người đầu tiên đưa ra lý thuyết tăng trưởng đầy mới

mẻ cho xã hội loài người và được xướng danh là cha đẻ của nền kinh tế học với tác phẩm tiêu biểu Tài Sản Quốc Gia (1776) đặc trưng bởi hai học thuyết cơ bản: “Giá trị Lao Động” và “Bàn Tay Vô Hình” Ông đánh giá cao vai trò của lao động, chính lao động đã tạo ra giá trị của xã hội và sau đó nó trở thành thước đo cho giá trị Nguồn gốc tạo ra sự thịnh vượng của một quốc gia đó là lao động Giá trị làm cơ sở cho giá cả bao gồm giá cả ban đầu thể hiện qua giá trị thực của hàng hóa và giá cả thị trường được hình thành dựa trên quan hệ cung cầu Học thuyết “Giá Trị Lao Động” có vai trò quan trọng trong việc đưa ra cơ sở để xác định giá trị của hàng hóa Tuy nhiên trong xã hội lúc bấy giờ học thuyết này chỉ phù hợp đối với nền kinh tế sản xuất hàng hóa giản đơn, bởi vì khi nó được đưa vào đánh giá trong quá trình tái sản xuất thì bộc lộ nhiều khuyết điểm Bên cạnh học thuyết “Giá Trị Lao Động” đề cao sức lao động trong xã hội, Adam Smith đã phủ nhận vai trò điều tiết và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của chính phủ thộng qua học thuyết “Bàn Tay Vô Hình” Học thuyết này cho rằng nếu chính phủ không có bất kỳ sự can thiệp nào thì lao động sẽ đạt được hiệu quả cao nhất Nhưng

Trang 22

phủ nhận này chỉ được đánh giá về mặt kinh tế còn về mặt xã hội thì tồn tại vô số vấn

đề khác nhau bên cạnh vấn đề kinh tế, do đó, cần có một cơ quan đứng ra quản lý chứ không thể nào tự do được Ông cho rằng chính phủ sẽ kiềm chế động lực lao động mà động lực này phát sinh từ giá trị mà con người tạo ra khi lao động Ông khẳng định cơ chế tự điều tiết của nền kinh tế thị trường theo quy luật khách quan là tốt nhất và tối ưu nhất, bất kỳ sự can thiệp nào của chính phủ đều sẽ chỉ kiềm chế tăng trưởng mà thôi Trên tinh thần kế thừa và phát triển học thuyết của Smith, nhà kinh tế học người Anh David Ricardo (1772–1823) là một gương mặt đại diện cho trường phái cổ điển, ông đã cho ra đời cuốn sách nổi tiếng là “Những Nguyên Lý Của Kinh Tế Chính Trị Và Thuế Khóa” Ở đây, ông nhận định rằng tăng trưởng có 3 yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến

đó là lao động (điều này ông kế thừa từ quan điểm của Adam Smith), vốn và yếu tố cuối cũng là quan trọng nhất là đất đai Quan điểm của ông phát sinh trong thời đại nông nghiệp là chính, do đó, để tạo ra của cải vật chất hàng hóa cho xã hội thì nông nghiệp phải phát triển đầu tiên Đứng từ cách nhìn này thì đất chính là yếu tố quyết định, con người sử dụng đất nhưng không thể làm ra đất, chính vì vậy đất cũng chính là yếu tố giới hạn tăng trưởng của nền kinh tế Bên cạnh đó, ông cũng thừa rằng sự can thiệp của chính phủ sẽ chỉ làm cho xã hội giảm tích lũy vì để chi tiêu cho những mục đích không sinh lời Chính vì vậy, ông chủ trương không cần chính phủ can thiệp vào nền kinh tế quốc dân hay thậm chí là chính phủ không được can thiệp vì điều đó sẽ cản trở sự phát triển của nền kinh tế

 Thứ hai, học thuyết Karl Marx:

Khi khủng hoảng kinh tế toàn cầu lần thứ nhất xảy ra năm 1825, cùng với nó là hiện tượng thất nghiệp và sự bần cùng hoá của giai cấp công nhân Lúc bấy giờ, Karl Marx cho rằng yếu tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế phải là đất đai, lao động, vốn và tiến bộ kĩ thuật Và ông đặc biệt quan tâm đến vai trò của lao động trong quá trình tạo

ra giá trị thặng dư Theo ông, đối với nhà tư bản sức lao động là một loại hàng hoá đặc biệt Trong quá trình nhà tư bản thuê công nhân làm việc, hàng hoá mà người công

Trang 23

nhân làm ra có giá trị lớn hơn giá trị bản thân của nó, giá trị đó bằng giá trị sức lao động của người công nhân cộng với giá trị thặng dư Theo ông yếu tố vốn và tiến bộ kĩ thuật có mối quan hệ với nhau: tiến bộ khoa học kĩ thuật sẽ làm tăng số lượng máy móc

và dụng cụ lao động, nghĩa là nhà tư bản phải cần nhiều tiền vốn hơn để mua máy móc, trang thiết bị Và cách duy nhất để gia tăng vốn là tiết kiệm, do đó, các nhà tư bản chia giá trị thặng dư ra hai phần: một phần để tiêu dùng và một phần tích luỹ nhằm phát triển sản xuất

Về quan hệ cung cầu và vai trò của nhà nước: dựa trên việc phân tích chu kỳ kinh doanh và khủng hoảng kinh tế của chủ nghĩa tư bản, ông cho rằng khủng hoảng thừa là

do cầu thiếu, mà kết quả là mức tiền công của người công nhân giảm và mức lợi nhuận của nhà tư bản cũng giảm Do đó, muốn thoát khỏi tình trạng khủng hoảng thừa này, ông nhấn mạnh vai trò các chính sách của nhà nước, đặc biệt là các chính sách nhằm kích cầu tiêu dùng Như vậy, Karl Marx đã đặt nền tảng đầu tiên cho việc xác định vai trò của chính phủ của chính sách nhà nước trong điều tiết cung cầu của nền kinh tế

 Thứ ba là trường phái kinh tế học tân cổ điển:

Trường phái này xuất hiện vào cuối thế kỉ thứ 19 là thời kì đánh dấu sự hát triển vượt bậc của khoa học công nghệ cùng với hàng loạt các phát minh vĩ đại và nguồn tài nguyên dồi dào được khai thác để phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh Người đi tiên phong là Alfred Marshall (1842-1924) Trường phái tân cổ điển cho rằng tăng trưởng chịu tác động bởi các yếu tố sau: lao động, vốn, tài nguyên thiên nhiên và khoa hoc công nghệ Họ phân yếu tố nguồn lực ra thành hai nhóm cơ bản: nhóm thứ nhất gồm lao động, vốn và tài nguyên thiên nhiên hay còn gọi là nhóm các yếu tố tăng trưởng theo chiều rộng; nhóm thứ hai gồm khoa hoc và công nghệ hay còn gọi là nhóm yếu tố tăng trưởng theo chiều sâu Các nhà kinh tế học của trường phái tân cổ điển cho rằng công nghệ là yếu tố đặc biệt quan trọng trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Đồng thời, họ cũng không chấp nhận quan điểm cho rằng sản xuất yêu cầu phải có tỷ lệ nhất định về lao động và vốn, bởi vì khi đưa yếu tố công nghệ vào thì sẽ có nhiều cách để

Trang 24

tối ưu hoaá kết hợp giữa lao động và vốn Do vậy, ta có nhiều cách thức để tăng trưởng kinh tế bằng việc sử dụng các công nghệ khác nhau phù hợp với điều kiện của mỗi doanh nghiệp, của mỗi quốc gia Bên cạnh đó, họ cũng cho rằng chi tiêu chính phủ là không cần thiết

 Thứ tư, trường phái Keynes:

Khi “Đại khủng hoảng” xảy ra từ năm 1929 đến năm 1933, lý thuyết cổ điển tỏ ra bất lực trong việc giải thích những hiện tượng kinh tế lúc bấy giờ như mức sản lượng thấp nhưng tỉ lệ thất nghiệp cao và kéo dài Lúc này khoa học công nghệ có nhiều bước tiến vượt bậc trong các lĩnh vực như phân bón, thuốc trừ sâu, máy kéo, giống cây mới, kĩ thuật thâm canh,…điều này đã giúp cho sản lượng của ngành nông nghiệp tăng lên nhanh chóng Do đó, yếu tố đất đai cho dù là có giới hạn thì lương thực, thực phẩm vẫn cung cấp đủ cho con người

Điều đó đã dẫn đến lý thuyết Keynes ra đời của do nhà kinh tế học người Anh đề ra, John Maynard Keynes Tư tưởng của ông về kinh tế học đã mang lại cái nhìn đầy mới

mẻ với cuốn sách nổi tiếng “Lý Thuyết Chung Về Việc Làm, Lãi Suất Và Tiền Tệ” (1936), ông đề cao vai trò đầu tư công của chính phủ_nó là lực đẩy để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của quốc gia Và theo lý thuyết Keynes, cung cầu cân bằng có thể tại mức sản lượng dưới ngưỡng tiềm năng, tại trạng thái cân bằng này, công việc chưa đáp ứng đủ nhu cầu lao động Vì vậy, thu nhập tạo ra không đủ trang trải chi tiêu dẫn đến tiêu dùng vượt qua thu nhập Một tình trạng đặc biệt đã xảy ra, khi thu nhập được nâng lên thì theo dự đoán tiêu dùng sẽ tăng thêm Tuy nhiên, nếu dựa trên quy luật tâm lý cơ bản, đặc biệt trong trường hợp một người đạt được trạng thái bão hòa trong nhu cầu của mình, thì người đó lại có xu hướng tiết kiệm nhiều hơn là tiêu dùng Điều đó dẫn đến việc tiêu dùng sẽ tăng chậm hơn mức tăng của thu nhập Theo quan điểm của Keynes, tổng cầu xã hội sẽ giảm trong trường hợp này và đây chính là nguyên nhân làm nền kinh tế tăng trưởng chậm Mặt khác đối với hoạt động đầu tư của hội, đặc biệt

là đầu tư công, nó đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng nền

Trang 25

kinh tế của quốc gia Họat động đầu tư sẽ giải quyết việc làm cho người lao động, khi người lao động có thu nhập và khi thu nhập tăng tới một mức độ nào đó thì tổng cầu tiêu dùng sẽ tăng và nền kinh tế sẽ tăng trưởng theo Như vậy, chính phủ có vai trò quan trọng trong việc kích cầu tiêu dùng và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của quốc gia

 Thứ năm, trường phái kinh tế học hiện đại;

Các quốc gia áp dụng lý thuyết Keynes trong một khoảng thời gian khá dài Thì chính phủ tại các quốc gia này lại có xu hướng quá đề cao vai trò điều tiết của chính phủ và xem nhẹ cơ chế tự điều tiết của nền kinh tế thị trường, chính điều này đã trở thành một chướng ngại mới cho quá trình phát triển của các quốc gia Trong bối cảnh đó, vào những năm 40 của thế kỷ XX một trường phái kinh tế mới đã ra đời Đó là lý thuyết kinh tế của Paul Samuelson, ông ủng hộ xây dựng một nền kinh tế hỗn hợp_bằng việc kết hợp một cách tối ưu giữa “bàn tay hữu hình” và “bàn tay vô hình” Về mặt bản chất

đó là sự xích lại gần nhau giữa học thuyết kinh tế cổ điển và học thuyết kinh tế Keynes Tuy nhiên nó không đơn thuần chỉ là một phép cộng toán học mà là sự kết hợp phức tạp giữa những điều kiện và những yếu tố với nhau

Lý thuyết kinh tế hiện đại thống nhất các yếu tố nguồn lực của trường phái cổ điển là vốn, lao động, tài nguyên thiên nhiên và công nghệ Đồng thời, cũng thống nhất phương pháp phân tích của hàm Cobb–Douglas về các tác động của các yếu tố nguồn lực và Samuelson cho rằng nguồn gốc của tăng trưởng chính là do tác động của những yếu tố này Tuy nhiên ông lại đưa tài nguyên thiên nhiên vào vốn và gọi công nghệ là hiệu quả sản xuất Bên cạnh đó, yếu tố lao động không chỉ đơn giản là lao động tay chân, lao động cơ bắp nữa mà là lao động có trình độ có tư duy

Mặt khác, lý thuyết kinh tế hiện đại cũng gợi ý cho các nhà sản xuất kinh doanh rằng

họ có thể lựa chọn sản xuất kinh doanh bằng hình thức nhiều vốn hoặc nhiều lao động

Và Samuelson cho rằng một trong những đặc tính cơ bản của nền kinh tế hiện đại ngày nay là “kỹ thuật tiên tiến dựa trên việc sử dụng vốn lớn” Do đó vốn là yếu tố quan trọng để phát huy các yếu tố khác

Trang 26

Nói chung nhất, lý thuyết kinh tế học hiện đại đã giải quyết được vướng mắc của các lý thuyết trước đó Bằng việc khắc phục nhược điểm, đánh giá một cách có hệ thống, chính xác và rõ ràng về vai trò của các yếu tố nguồn lực và mối quan hệ giữa chúng cũng như sự kết hợp của “bàn tay vô hình và hữu hình” vào quá trình tăng trưởng 1.2 Biến đổi khí hậu

1.2.1 Biến đổi khí hậu là gì?

Hiện nay, con người đang phải hứng chịu hàng loạt các vấn đề bức xúc về môi trường trên phạm vi toàn cầu, chẳng hạn: biến đổi khí hậu, tuyệt chủng một số giống loài, nguồn nước ngọt ngày càng khan hiếm, tầng ôzôn bị hủy hoại, đất đai dần biến thành hoang mạc, nguy cơ phát tán các chất độc hại… Những vấn đề này đều trực tiếp tác động tới sự sống còn của con người cũng như sự phát triển của nhân loại Trong các vấn đề kể trên, dù ở mức độ quốc gia hay toàn cầu thì biến đổi khí hậu luôn được xem

là vấn đề sống còn và là một yếu tố quan trọng cho sự phát triển lâu dài của nhân loại Định nghĩa mang tính phổ quát nhất cho biến đổi khí hậu là các yếu tố cấu thành hệ thống khí hậu bị thay đổi bao gồm khí quyển, thủy quyển, sinh quyển, thạch quyển khi xem xét trong một khoảng thời gian kéo dài vài thập kỷ hoặc lâu hơn, mà không kể đến nguyên nhân Bên cạnh đó, thuật ngữ “biến đổi khí hậu” đôi khi còn được sử dụng để nhắc đến trường hợp hoạt động của con người gây ra biến đổi khí hậu; ví dụ, tại điều 1 trong Công ước khung của Liên hợp Quốc về Biến đổi khí hậu (1992), định nghĩa biến đổi khí hậu là “sự thay đổi của khí hậu mà hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp do tác động của hoạt động con người dẫn đến thay đổi thành phần khí quyển toàn cầu và ngoài ra là những biến thiên tự nhiên của khí hậu được quan sát trên một chu kỳ thời gian dài.” Theo đó, biến đổi khí hậu được biểu hiện bằng các hình thức (IPCC, 2007) như sau: (i) Khí quyển nóng dần lên làm nhiệt độ trung bình trên toàn cầu tăng lên;

(ii) Mực nước biển dâng cao do hiện tượng băng tan ở hai cực;

(iii) Thay đổi thành phần và chất lượng khí quyển;

(iv) Các đới khí hậu trên các vùng của trái đất xuất hiện hiện tượng di chuyển;

Trang 27

(v) Quá trình hoàn lưu khí quyển thay đổi cường độ hoạt động, cũng như chu trình tuần hoàn nước trong tự nhiên và các chu trình sinh địa hoá khác cũng bị thay đổi; (vi) Năng suất sinh học của các loài động thực vật bị ảnh hưởng cũng như chất lượng và thành phần của thuỷ quyển, sinh quyển, địa quyển

1.2.2 Nguyên nhân gây biến đổi khí hậu

Nguyên nhân gây ra biến đổi khí hậu, theo các nhà khoa học thì có hai nguyên nhân chính đó là do tự nhiên và do con người Thứ nhất, nguyên nhân gây ra hiện tượng biến đổi khí hậu là do tự nhiên bao gồm:

(i) Các điểm đen trên Mặt trời xuất hiện sẽ làm cho cường độ tia bức xạ từ mặt trời chiếu xuống trái đất thay đổi, tức có nghĩa là năng lượng mà mặt trời cung cấp cho trái đất gia tăng Chính điều này làm gia tăng nhiệt độ bề mặt của hành tinh xanh (Lean

và cộng sự, 1992)

(ii) Cường độ sáng của Mặt trời thay đổi cũng làm thay đổi năng lượng chiếu xuống mặt đất và kéo theo là làm thay đổi nhiệt độ của bề mặt trái đất Cụ thể là sau khoảng 4,5 tỷ năm từ khi Mặt trời tạo thành đến nay, cường độ sáng của Mặt trời đã tăng lên hơn 30% (Lean và cộng sự, 1992)

(iii) Núi lửa phun trào Khi một ngọn núi lửa phun trào sẽ phát thải vào khí quyển một lượng cực lớn khí sulfur dioxide (SO2), bụi, hơi nước và tro Khối lượng lớn khí

và tro có thể ảnh hưởng đến khí hậu trong nhiều năm Các hạt nhỏ được phun ra từ núi lửa gọi là sol khí, các sol khí này phản chiếu lại bức xạ mặt trời trở lại vào không gian

do đó chúng có tác dụng làm giảm nhiệt độ ở lớp bề mặt của hành tinh xanh (Oppenheimer và Clive, 2003)

(iv) Thay đổi dòng chảy ở đại dương Các đại dương là thành phần quan trọng trong hệ thống khí hậu Dòng hải lưu của đại dương di chuyển mang theo một lượng lớn nhiệt chảy trên khắp hành tinh Và do đó, việc dòng chảy ở đại dương bị thay đổi

có thể tác động đến khí hậu cả Trái đất

Trang 28

(v) Thay đổi quỹ đạo quay của Trái Đất Hiên tại Trái đất quay quanh Mặt trời với một quỹ đạo nhất định và có góc nghiêng là 23,5 độ Việc độ nghiêng quỹ đạo quay của trái đất bị thay đổi có thể dẫn đến những thay đổi rất nhỏ (Hays và cộng sự, 1976; Gale, 1989) Tốc độ thay đổi cực kỳ nhỏ có thời gian tính đến hàng tỷ năm vì vậy có thể nói nguyên nhân này không ảnh hưởng lớn đến biến đổi khí hậu

Từ đây ta có thể thấy rằng, yếu tố tự nhiên là nguyên nhân gây ra hiện tượng biến đổi khí hậu, tuy nhiên, nó có đóng góp rất nhỏ vào sự biến đổi này và có tính chu kỳ trong một khoảng thời gian rất dài

Thứ hai, nguyên nhân gây ra hiện tượng biến đổi khí hậu là do hoạt động của con người, đã làm tăng nồng độ các loại khí nhà kính trong bầu khí quyển, dẫn tới hiệu ứng nhà kính, làm hành tinh xanh nóng dần lên và gây ra hiện tượng biến đổi khí hậu

Có các loại khí nhà kính như:

 Khí Cacbon điôxít (CO2): là khí nhà kính được phát thải nhiều nhất và nó cũng

là yếu tố chính gia tăng hiệu ứng nhà kính làm cho Hành tinh xanh nóng dần lên (IPCC, 2014)

Hình 1.1: Nguồn phát thải khí nhà kính liên quan CO2

Nguồn: Stern, 2006, trang 1

Như hình 1.1 ở trên, các nguồn phát thải khí carbonic gồm:

Tiêu thụ năng lượng hóa thạch 61%

Nông nghiệp 14%

Thay đổi mục đích

sử dụng đất 18%

Trang 29

(i) Đốt các nhiên liệu hóa thạch (như khí metan, xăng, dầu, than đá,…) nhằm phục vụ hoạt động trong các lĩnh vực gồm công nghiệp, xây dựng, giao thông, sản xuất điện, sưởi ấm, vận tải…;

(ii) Thay đổi mục đích sử dụng đất trong nông lâm nghiệp và nạn phá rừng; (iii) Ngoài ra, còn có đốt rừng, đốt than, củi, rơm, đốt sinh khối, hoạt động hô hấp của động vật và chăn nuôi…

 Khí Metan (CH4): là khí thúc đẩy phản ứng oxy hóa hơi nước trong khí quyển,

sự gia tăng hơi nước gây hiệu ứng nhà kính mạnh hơn nhiều so với hiệu ứng trực tiếp của khí metan lên khí quyển CH4 được sinh ra từ quá trình khai thác, vận chuyển sử dụng dầu mỏ, than đá, phản ứng sinh học như men hóa đường ruột của gia súc, phân giải yếm khí, cháy rừng…

 Các khí clorolfuorocacbon (CFC): là những hóa chất tổng hợp, có mặt trong lĩnh vực làm lạnh và trong các sản phẩm mỹ phẩm Bên cạnh khả năng làm nóng trái đất mạnh (hơn CO2 gấp 11.000 lần), CFC ở sang sol khí có khả năng làm thương tổn tầng ozon Bên cạnh đó, nó có thời gian phân hủy rất lâu sau khoảng 100 năm sau

 Khí nitơ đioxit (NO2): chiếm tỷ trọng nhỏ trong các khí gây hiệu ứng nhà kính Khí này tương tự như khí CFC ngoài khả năng làm trái đất nóng lên thì nó còn có khả năng làm thương tổn tầng ozon và nó cũng có thời gian phân hủy rất lâu kéo dài đến nhiều thế kỷ sau Các nguồn phát thải khí nitơ đioxit gồm: sản xuất phân bón, hóa chất, đốt nhiên liệu hóa thạch, cháy rừng, đốt rơm rạ, xử lí nước thải, quá trình nitrat hóa các loại phân bón trong lĩnh vực nông nghiệp

 Ôzôn (O3) được tạo ra tự nhiên do các phản ứng trong khí quyển và do hoạt động của con người từ các nhà máy năng lượng Trong khi ở tầng cao của khí quyển, tầng ôzôn có vai trò bảo vệ trái đất khi hấp thu bức xạ tia cực tím nguy hiểm cho sinh vật Thì sự gia tăng ôzôn ở tầng thấp của khí quyển sẽ có hại cho trái đất vì nó góp phần làm cho trái đất nóng lên Tuy nhiên, khí này có thời gian phân hủy ngắn nên nó chủ yếu gây nóng lên ở quy mô khu vực nhiều hơn là phạm vi toàn cầu

Trang 30

Biến đổi khí hậu, nguyên nhân gây ra có thể là do tự nhiên hoặc hoạt động của con người Nhưng theo công bố qua các năm của Ủy Ban Liên Chính Phủ về biến đổi khí hậu (IPCC) thì nguyên nhân chính là do con người:

(i) IPCC, 1995: cho rằng hoạt động con người đóng góp vào 50% nguyên nhân gây ra biến đổi khí hậu

(ii) IPCC, 2001: Sau khi các nhà nghiên cứu thực hiện nghiên cứu một cách khoa học thì kết quả chỉ ra rằng hoạt động con người đóng góp tới 67%

(iii) IPCC, 2007: Con số này lên tới 90% nguyên nhân gây ra biến đổi khí hậu (iv) IPCC, 2014: kết luận rằng hoạt động con người đóng góp vào 95% nguyên nhân gây ra biến đổi khí hậu

Đồng ý với quan điểm trên, Mitchell (1989) cho rằng biến đổi khí hậu nguyên nhân chính gây ra là khí nhà kính Hơn nữa, theo nghiên cứu thực nghiệm của Crowley (2000) cho rằng trước năm 1850 vai trò của núi lửa và ánh sánh mặt trời là rất quan trọng, giải thích từ 41 đến 64% biến đổi khí hậu; trong khi đó từ sau năm 1850 thì khí nhà kính mà cụ thể là CO2 có ảnh hưởng rất lớn tới hiện tượng biến đổi khí hậu

1.2.3 Tác động của biến đổi khí hậu

Trong vài thập kỷ gần đây, những thay đổi về khí hậu đã gây ra nhiều tác động lên hệ thống tự nhiên và con người trên tất cả các lục địa và trên khắp đại dương Cụ thể, tác động của biến đổi khí hậu (IPCC, 2014), bao gồm:

(i) Ở nhiều vùng, thay đổi lượng mưa hoặc tuyết tan đang làm thay đổi hệ thống thủy văn, ảnh hưởng đến tài nguyên nước về số lượng và chất lượng: Các sông băng tiếp tục thu hẹp trên phạm vi toàn cầu do sự thay đổi khí hậu, ảnh hưởng đến dòng chảy và tài nguyên nước hạ lưu; bên cạnh đó, biến đổi khí hậu làm tan các tảng băng vĩnh cửu và tan băng ở các vùng có vĩ độ cao và ở các vùng có cao độ lớn làm gia tăng lượng nước chảy và ngập lụt ở hạ lưu Mặt khác, quá trình axít hóa đại dương tác động tiêu cực đến tổ chức và cấu trúc của các rặng san hô, điều này làm trầm trọng thêm biến đổi khí hậu

Trang 31

(ii) Nhiều loài sinh vật trên cạn, ở nước ngọt và ở biển đã thay đổi phạm vi địa lý, hoạt động theo mùa, mô hình di cư, sự phong phú và thậm chí là sự tương tác giữa các loài dưới sự thay đổi của khí hậu đang diễn ra Mặc dù chỉ có một số loài bị tuyệt chủng gần đây do biến đổi khí hậu, nhưng số lượng chúng ngày càng giảm dần

(iii) Dựa trên nhiều nghiên cứu tại nhiều vùng với nhiều loại cây trồng, những tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu đến năng suất cây trồng là phổ biến hơn các tác động tích cực Và đặc biệt là tình hình an ninh lương thực, ở một vài giai đoạn, giá thực phẩm và lương thực tăng nhanh do ở các vùng sản xuất chính xảy ra thiên tai cho thấy thị trường hiện tại rất nhạy cảm đối với sự thay đổi của khí hậu

(iv) Hiện nay gánh nặng bệnh tật trên toàn thế giới về sức khoẻ con người do biến đổi khí hậu là tương đối nhỏ so với tác động của các yếu tố khác và không được định lượng Tuy nhiên, đã có sự gia tăng tỷ lệ tử vong liên quan đến “nóng” và giảm tử vong liên quan đến “lạnh” ở một số khu vực Sự thay đổi nhiệt độ và lượng mưa ở địa phương đã làm thay đổi sự phân bố một số bệnh từ nước

(v) “Dễ bị tổn thương” phát sinh từ các yếu tố khí hậu và từ các bất bình đẳng đa chiều (thường do quá trình phát triển không đồng đều) Những khác biệt này tạo ra những nguy cơ khác nhau dưới sự thay đổi của khí hậu Những người có liên quan đến

xã hội, kinh tế, văn hoá hoặc một số cách biệt khác thì đặc biệt dễ bị tổn thương trước

sự thay đổi khí hậu Bên cạnh đó, quá trình giao thoa trong xã hội dẫn đến bất bình đẳng về tình trạng kinh tế xã hội và thu nhập, ví dụ, phân biệt đối xử dựa trên giới tính, tầng lớp, dân tộc, tuổi tác và khả năng

(vi) Các tác động liên quan đến khí hậu như sóng nhiệt, hạn hán, lũ lụt, lốc xoáy

và cháy rừng đã cho thấy một số hệ sinh thái và con người dễ bị tổn thương đối với biến đổi khí hậu Tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu bao gồm thay đổi hệ sinh thái; phá vỡ sản xuất lương thực; cung cấp nước; phá hủy cơ sở hạ tầng; định cư, bệnh tật,

tử vong, hậu quả đối với sức khoẻ và phúc lợi của con người Dường như tất cả các nước đều thiếu sự chuẩn bị nhằm đối phó với những tác động này

Trang 32

(vii) Biến đổi khí hậu làm trầm trọng thêm những vấn đề khác, thường là đối với sinh kế, đặc biệt đối với những người nghèo Biến đổi khí hậu ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của người nghèo thông qua khả năng sinh kế của họ, ví dụ như, giảm sản lượng cây trồng hoặc tiêu hủy nhà cửa Hơn nữa, những ảnh hưởng này còn trầm trọng hơn đối với những người bị xã hội xa lánh

(viii) Mâu thuẫn bạo lực làm tăng tính “dễ bị tổn thương” Mâu thuẫn kèm bạo lực trên quy mô lớn làm tổn hại đến tài sản, bao gồm, cơ sở hạ tầng, thể chế, tài nguyên thiên nhiên, vốn xã hội và các cơ hội sinh kế

1.3 Những nhân tố tác động tới biến đổi khí hậu

1.3.1 Chi tiêu chính phủ của quốc gia

Biến đổi khí hậu cũng giống với các vấn đề về môi trường khác ở chổ: việc phát thải gây thiệt hại cho người dân nhưng nơi phát thải lại không bị ảnh hưởng Do đó, theo Stern (2006) cho rằng chính phủ cần phải thực hiện trợ cấp hoặc gia tăng các hợp đồng

ở nơi phát thải ít hoặc ban hành những quy định ràng buộc trực tiếp hay còn gọi là tiêu chuẩn phát thải Thực vậy, học thuyết Keynes đã đề cập một trong những công cụ quan trọng nhằm giảm bớt những hậu quả tiêu cực của thất bại thị trường và góp phần gia tăng tính “tăng trưởng bền vững” là vai trò chi tiêu của chính phủ

Mặc dù hành động nhằm nâng cao chất lượng môi trường không phải là mục đích chính của chi tiêu chính phủ, nhưng điều quan trọng là phải xem xét các ảnh hưởng của chúng lên các quy định tiêu chuẩn về môi trường cũng như mức độ ô nhiễm Ban đầu, Heyes (2000) gợi ý một mô hình Keynes tăng cường khi thêm một ràng buộc là môi trường Ông kết luận rằng bất kỳ chính sách nào gây ra lãi suất cao hơn (như chính sách tài khóa mở rộng) sẽ thúc đẩy các phương pháp sản xuất tốt cho môi trường hơn

và do đó tổng thu nhập sẽ thấp hơn Trong một nỗ lực giúp trở về trạng thái cân bằng, Lawn (2003) đề xuất việc sử dụng giấy phép mua bán khi sản lượng vượt quá mức bền vững về mặt môi trường Khi giá giấy phép tăng, phản ánh nhu cầu gia tăng, chi phí sản xuất cũng tăng, tạo ra một chính sách tiền tệ thắt chặt làm giảm mức sản lượng

Trang 33

Tuy nhiên, chi phí tài nguyên cao hơn dẫn đến sự phát triển của công nghệ và tiết kiệm tài nguyên hơn Do đó, mức sản lượng phụ thuộc vào chi phí giảm do tiến bộ công nghệ có đủ để ngăn chặn giá hàng hóa tăng Sim (2006) lập luận rằng, chính sách tài khóa mở rộng, để quay về trạng thái cân bằng khi có sự xuống cấp về môi trường thì chi phí xã hội sẽ tăng và nó tăng đến mức sản lượng trở lại với rằng buộc môi trường bền vững Sau đó gần đây, theo Halkos và Paizanos (2016) có năm cách khác biệt mà thông qua đó các khoản chi của chính phủ có thể tác động đến chất lượng của môi trường:

(i) Thứ nhất, khi quy mô chính phủ tăng lên, góp phần chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế thay đổi theo hướng gia tăng tỷ trọng ngành dịch vụ, lĩnh vực vốn ít gây ô nhiễm so với ngành công nghiệp và nông nghiệp;

(ii) Thứ hai, chi tiêu của chính phủ nhằm duy trì trật tự, an ninh công cộng và bảo vệ quyền sở hữu, từ đó có thể làm giảm các tác động ngoại tác về môi trường như việc các nguồn tài nguyên thiên nhiên bị khai thác một cách quá mức và hỗ trợ thực hiện các quy định của nhà nước về môi trường;

(iii) Thứ ba, các khoản chi của chính phủ trong giáo dục và y tế có thể làm tăng nhận thức của công chúng liên quan đến ảnh hưởng tiêu cực từ ô nhiễm môi trường và

do đó làm tăng nhu cầu về cải thiện chất lượng môi trường;

(iv) Thứ tư, một trình độ học vấn cao cũng có thể đóng góp vào kiểm soát tốc độ tăng dân số và từ đó có thể làm giảm áp lực môi trường Hơn nữa, nếu môi trường được xem là hàng công cộng cao cấp thì có khả năng nó chỉ được đáp ứng khi đã đáp ứng các nhu cầu về hàng hoá công khác;

(v) Cuối cùng, đầu tư vào hạ tầng cơ sở kỹ thuật (như xe buýt, ga điện ngầm, nhà máy sử dụng năng lượng tái tạo…) có thể làm giảm sự xuống cấp của môi trường bằng cách thúc đẩy các phương pháp sản xuất và hành vi của người tiêu dùng sạch hơn Đồng thời theo McAusland (2008), điều quan trọng là chi tiêu tài khóa có thể ảnh hưởng đến ô nhiễm môi trường là khác nhau tùy thuộc vào nguồn ô nhiễm: ô nhiễm

Trang 34

được tạo ra trong sản xuất hay trong tiêu dùng Đối với ô nhiễm được tạo ra trong sản xuất, Lopez và cộng sự (2011) nhận ra bốn cơ chế khác nhau mà qua đó chi tiêu chính phủ có thể ảnh hưởng đến chất lượng môi trường:

(i) Mức thu nhập cao hơn, thường là việc tăng chi tiêu chính phủ, tăng cường nhu cầu về cải thiện chất lượng môi trường (hiệu ứng thu nhập);

(ii) Tăng chi tiêu tài khóa thúc đẩy thâm dụng vốn con người, vốn ít gây hại cho môi trường so với thâm dụng tài nguyên (tác động thành phần);

(iii) Cải thiện hiệu quả lao động kết hợp với cấp độ cao hơn của chi tiêu chính phủ trên các lĩnh vực y tế và giáo dục (tác động kỹ thuật);

(iv) Cuối cùng, tùy thuộc vào mối quan hệ giữa chi tiêu chính phủ-tăng trưởng kinh

tế và hình dạng của đường cong Kuznets về môi trường (EKC), mà việc gia tăng chi tiêu chính phủ có thể dẫn đến ô nhiễm lớn hơn ở mức GDP nhất định (hiệu ứng quy mô) Xem xét ô nhiễm được tạo ra do tiêu dùng, chi tiêu tài khóa trên các lĩnh vực như sức khỏe và giáo dục làm tăng thu nhập hiện tại cũng như tương lai của người tiêu dùng, và

có thể dẫn đến suy giảm chất lượng môi trường (thông qua hiệu ứng thu nhập) Mặt khác, chi tiêu chính phủ cao hơn cùng với đó là tính hiệu quả của các quy định về môi trường có thể dẫn đến sự phát triển của các tổ chức nhằm nâng cao chất lượng môi trường (Fullerton và Kim, 2008), đại diện cho tác động kĩ thuật Đồng ý với quan điểm trên, theo Galinato và Islam (2014) thì ở chế độ dân chủ, khả năng áp dụng các quy định về môi trường là nghiêm ngặt hơn so với phi dân chủ, tác động của các quy định

về môi trường có thể làm giảm mức độ ô nhiễm nhiều hơn nữa Ngoài ra, theo Lopez

và các cộng sự (2008), chi tiêu chính phủ có thể làm giảm bớt ô nhiễm bằng cách thay đổi hàng hóa tiêu thụ ít gây ô nhiễm hơn, tác động thành phần Ví dụ, gia tăng chi tiêu công vào giao thông công cộng và khi tăng việc sử dụng các phương tiện giao thông này được xem là ít gây áp lực cho môi trường hơn so với việc sử dụng các hình thức vận tải tư nhân (Zimmerman 2005; Islam và Lopez 2015)

Trang 35

Nói tóm lại, chính phủ tác động vào nền kinh tế của quốc gia bằng chính sách tài khóa,

mà cụ thể là dưới hình thức chi tiêu ngân sách, có tác động đáng kể tới môi trường Và

sự tương tác đó được thể hiện thông qua hình bên dưới, chi tiêu chính phủ tác động lên tăng trưởng kinh tế và ảnh hưởng đến môi trường một cách gián tiếp

Hình 2.1: Tương tác giữa chi tiêu chính phủ và môi trường

Nguồn: Lopez và cộng sự, 2010, trang 8

Giả thuyết 1: Chi tiêu chính phủ càng tăng thì mức độ ô nhiễm càng giảm hay càng giảm biến đổi khí hậu

1.3.2 Mức tăng trưởng kinh tế của quốc gia

Tại cuộc họp thường niên lần thứ 67 của Hiệp hội Kinh tế châu Mỹ năm 1954, Simon Kuznets lần đầu tiên giới thiệu về khái niệm đường cong Kuznets, mô tả mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và vấn đề bất bình đẳng thu nhập Đến năm 1991, đường cong Kuznets trở thành một phương tiện để mô tả mối quan hệ giữa chất lượng môi trường

và thu nhập đầu người theo thời gian Nhiều bằng chứng đã cho thấy, mức độ suy thoái môi trường và mức thu nhập đầu người cũng tuân theo quy luật đường cong chữ U ngược Kuznets: suy thoái môi trường sẽ gia tăng trong các giai đoạn đầu của phát triển, nhưng cuối cùng sẽ đạt đến đỉnh hay ngưỡng chuyển đổi và bắt đầu giảm khi mức thu nhập vượt ngưỡng đó Đây được gọi là đường cong Kuznets về môi trường (EKC)

Chi tiêu chính phủ

Trang 36

Hình 3.1: Đường cong Kuznets về môi trường

Nguồn: Halkos và Paizanos, 2016, trang 19

Lo-gic của của đường cong EKC khá dễ hiểu Vào thời kỳ đầu của quá trình công nghiệp hóa, ô nhiễm gia tăng một cách nhanh chóng do đặt ưu tiên cao cho việc gia tăng năng suất đầu ra và người dân thì quan tâm nhiều đến việc làm và thu nhập hơn là không khí hay nguồn nước sạch Sự phát triển nhanh chóng dẫn đến việc sử dụng nhiều hơn nguồn tài nguyên thiên nhiên, phát thải các chất ô nhiễm nhiều hơn và làm suy thoái môi trường trầm trọng Ở các thời kỳ sau của công nghiệp hóa, khi thu nhập tăng lên, người dân có ý thức hơn về giá trị môi trường, luật pháp, chính sách môi trường cũng như các cơ quan thi hành trở nên nghiêm khắc và hiệu quả hơn, các công nghệ sạch, công nghệ tiên tiến được nghiên cứu và áp dụng rộng rãi tạo điều kiện cải thiện chất lượng môi trường

Rõ ràng, theo lý thuyết đường cong EKC, sự tăng ô nhiễm là không thể tránh khỏi trong giai đoạn đầu của phát triển kinh tế Tuy nhiên, sẽ rất nguy hiểm nếu người làm chính sách nhầm hiểu ý nghĩa của đường cong EKC ở chỗ ô nhiễm không là vấn đề gì bởi sự tổn hại sẽ tự động phục hồi sau này Mặt khác, chính sách cực đoan của đường EKC hàm ý sẽ khuyến khích tăng trưởng kinh tế và tránh các quy định môi trường tốn kém – đặc biệt đối với các nước phát triển đã đạt được ngưỡng chuyển đổi Tuy nhiên

Ngưỡng chuyển đổi

Chính sách 1

Chính sách 2

Trang 37

cần phải chú ý rằng, sự phục hồi của chất lượng môi trường có xảy ra hay không và xảy ra nhanh hay chậm đòi hỏi người làm chính sách phải đưa ra những quyết sách đúng đắn Ngoài ra, các nhà làm chính sách cũng cần phải chú ý đến ngưỡng phục hồi của môi trường sinh thái Nếu như tiếp tục phát triển mà không quan tâm đúng mức đến công tác bảo vệ môi trường thì có thể sẽ vượt qua ngưỡng phục hồi của hệ sinh thái trước khi đạt đến ngưỡng chuyển đổi của đường cong EKC, giống như hình 3.2 khi thực hiện chính sách 2 Khi đó, chất lượng môi trường không những không thể phục hồi trở lại cho dù có thực hiện bất cứ biện pháp nào mà còn có thể tác động tiêu cực trở lại sự phát triển kinh tế

Do đó, có nhiều lý do để đưa ra câu hỏi về sự liên quan của các giả thuyết về đường cong EKC trong việc hoạch định chính sách:

(i) Thứ nhất, định nghĩa về chất lượng môi trường thường được sử dụng trong các phân tích về đường EKC đều dựa trên một tập hợp giới hạn về các chất gây ô nhiễm

Do vậy, các kết luận rút ra từ những phân tích này không được áp dụng cho tất cả những loại thiệt hại môi trường Ví dụ, không có chứng cớ nào cho thấy quan hệ đường EKC trong Dấu chân sinh thái (phương pháp đo lường tổng hợp những sức ép của con người lên môi trường), trừ khi việc tiêu thụ năng lượng không được tính trong phương pháp này (Harris và cộng sự, 2009) Đường cong Kuznets về môi trường thể hiện rõ nhất đối với các chất ô nhiễm ảnh hưởng tại địa phương phát thải Tuy nhiên, những ảnh hưởng từ CO2 và các khí nhà kính lại mang tính toàn cầu và có sự lan tỏa, hoặc thậm chí một kết quả không mong đợi có thể xảy ra là phát thải tiếp tục tăng khi thu nhập bình quân đầu người ở mức cao (các quốc gia giàu có)

(ii) Thứ hai, các bằng chứng kinh tế đưa ra ủng hộ đường EKC được cho là kém tin cậy so với những quan điểm trước đây Ví dụ, việc lựa chọn mô hình sử dụng để mô

tả mối quan hệ giữa thu nhập và ô nhiễm có ảnh hưởng đáng kể đến kết quả phân tích (iii) Thứ ba, sự tồn tại của “hiện tượng trễ” có thể làm giảm mức độ tương quan của đường EKC tới các chính sách môi trường Đặc biệt, chi phí để khắc phục thiệt hại

Trang 38

và cải thiện chất lượng môi trường khi mà nền kinh tế đã vượt qua ngưỡng chuyển đổi

có thể cao hơn so với chi phí phòng ngừa thiệt hại hoặc thực hiện giảm nhẹ ô nhiễm ở giai đoạn trước đó Ví dụ, khi làm sạch dòng sông bị ô nhiễm, ngay từ đầu, chi phí để phòng tránh tình trạng ô nhiễm thấp hơn hẳn chi phí làm sạch phát sinh sau này

(iv) Thứ tư, người ta chỉ ra rằng, những quốc gia với mức độ giàu có như nhau nhưng lại hành động tương đối khác nhau, không có bất kỳ dấu hiệu thống nhất rõ ràng hoặc có sự hội tụ Ngoài ra, điều này còn cho thấy phần đi xuống của đường EKC chỉ tồn tại trong nền kinh tế mà sự bất bình đẳng ít hơn và phân phối của cải đồng đều một cách tương đối

Do vậy, các nhà làm chính sách phải đưa ra những quyết sách đúng đắn trong việc điều phối nguồn ngân sách tăng lên, nâng cao năng lực của hệ thống quản lý môi trường, nghiên cứu chuyển giao và áp dụng công nghệ sạch, công nghệ tiên tiến, nâng cao ý thức cộng đồng

Giả thuyết 2: Cho rằng tồn tại mối quan hệ phi tuyến của thu nhập đầu người và mức

độ ô nhiễm của quốc gia hay biến đổi khí hậu

1.3.3 Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào nền kinh tế

Bên cạnh dòng vốn đầu tư trong nước, một dòng vốn đầu tư vào nền kinh tế không thể thiếu đó là dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài hay FDI Từ thập kỷ trước, giới học thuật thế giới đã có nhiều bài viết nghiên cứu tác động của dòng vốn này lên ô nhiễm môi trường tại các quốc gia đang phát triển Trong số đó có 2 lý thuyết đáng quan tâm

và đối ngược nhau: một lý thuyết gọi là “lý thuyết thiên đường ô nhiễm”-Pollution Haven Hypothesis và lý thuyết còn lại là “lý thuyết hào quang FDI”-Foreign Direct Investment Halo Hypothesis

Đầu tiên, lý thuyết thiên đường ô nhiễm được Copeland và Taylor (1994) xây dựng Lý

do đằng sau lý thuyết này là quy định về môi trường làm tăng chi phí, điều đó dẫn đến xuất khẩu của các nước có quy định nghiêm ngặt hơn sẽ có giá đắt hơn, so với xuất khẩu từ các nước với các quy định lỏng lẻo (Grossman và Krueger, 1993 và Tobey,

Trang 39

1990) Và theo Mabey và McNally (1999) cho rằng bên cạnh mục đích khai thác tài nguyên, dòng vốn FDI này còn nhằm thay đổi nơi xả các chất thải không xử lý được

mà ở các quốc gia phát triển, doanh nghiệp không được phép thực hiện hay không thể thực hiện do những quy định rất nghiêm ngặt về môi trường, chi phí xử lý và thuế suất

xả thải rất cao Có nhiều nghiên cứu cho thấy các công ty nước ngoài không có kết quả

về môi trường tốt hơn các công ty trong nước (Hettige và cộng sự, 1996; Desgupta và cộng sự 1997) và thậm chí chúng có khuynh hướng lờ đi (Aden và cộng sự, 1999) Điều này góp phần tạo nên sự dịch chuyển mạnh mẽ của các doanh nghiệp thuộc các ngành công nghiệp nặng có nguy cơ gây ô nhiễm lớn như sản xuất sắt thép, dệt may, da giày, khai thác khoáng sản từ các nước đã phát triển sang các nước đang phát triển Thứ hai, lý thuyết hào quang FDI theo Zarsky (1999) lại cho rằng các công ty nước ngoài sử dụng thực tiễn quản lý tốt hơn và công nghệ tiên tiến hơn dẫn đến môi trường

ở nước tiếp nhận sẽ sạch hơn Nhìn chung, người ta tin rằng đầu tư trực tiếp nước ngoài

có thể có tác động tích cực đối với nỗ lực phát triển của nước sở tại Ngoài việc đáp ứng về nguồn vốn, dòng vốn đầu tư nước ngoài cũng giúp bù đắp khoảng cách về tài nguyên bằng việc đầu tư có mục tiêu cũng như huy động tiết kiệm, giải quyết nhu cầu ngoại hối và tạo thu nhập từ xuất khẩu ròng Đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng giúp phát triển kỹ năng quản lý và đổi mới kỹ thuật sản xuất, thông qua các chương trình đào tạo và quá trình học tập của nước chủ nhà Hơn nữa, dòng vốn FDI cũng khuyến khích các doanh nghiệp trong nước tăng cường đầu tư vào các dự án phát triển và tạo

cơ hội việc làm cho cả lao động lành nghề và không có tay nghề tại nước tiếp nhận Theo Garcia-Johnson (2000), việc phổ biến các công nghệ sạch và thực hiện công tác quản lý thân thiện với môi trường được thúc đẩy bởi áp lực từ các cổ đông tại quê nhà của các công ty đa quốc gia đồng thời phải tuân theo các tiêu chuẩn về môi trường của quốc gia quê nhà Sau khi các công ty đa quốc gia mở một chi nhánh trong nền kinh tế nước sở tại, những người lao động mới được đào tạo ở đây có thể truyền bá công nghệ tốt hơn về môi trường cho các công ty trong nước (Gorg và Strobl, 2004) Ngoài ra,

Ngày đăng: 07/06/2018, 00:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w