TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH LÊ THỊ MAI CHI CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC LỰA CHỌN CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN CỦA DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA – NGHIÊN CỨU ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP SẢN
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LÊ THỊ MAI CHI
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC LỰA CHỌN CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN CỦA DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA – NGHIÊN CỨU ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT NGÀNH DỆT MAY TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ
CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2017
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LÊ THỊ MAI CHI
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC LỰA CHỌN CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN CỦA DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA – NGHIÊN CỨU ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT NGÀNH DỆT MAY TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ
CHÍ MINH
Chuyên ngành: Kế Toán
Mã số: 60340301
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS TRẦN THỊ THANH HẢI
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2017
Trang 3Đề tài nghiên cứu này do chính tác giả thực hiện, các kết quả nghiên cứu chính trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Tác giả luận văn
Lê Thị Mai Chi
Trang 4MỤC LỤC TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỀU
DANH MỤC HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ
PHẦN MỞ ĐẦU - 1
1 Tính cấp thiết của đề tài - 1
2 Mục tiêu nghiên cứu - 2
3 Câu hỏi nghiên cứu - 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu - 3
5 Phương pháp nghiên cứu - 3
6 Đóng góp mới của luận văn - 4
7 Bố cục của nghiên cứu - 4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU - 5
1.1 Các nghiên cứu nước ngoài - 5
1.2 Các nghiên cứu trong nước - 10
1.3 Nhận xét chung về các nghiên cứu - 14
1.4 Khe hổng và định hướng nghiên cứu - 14
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT - 16
2.1 Chính sách kế toán - 16
2.1.1 Khái niệm chính sách kế toán - 16
2.1.2 Vai trò của chính sách kế toán - 17
Trang 52.2 Các văn bản quy định liên quan đến chính sách kế toán hiện hành tại Việt
Nam - 18
2.3 Định nghĩa doanh nghiệp nhỏ và vừa - 20
2.4 Đặc điểm ngành sản xuất dệt may ảnh hưởng đến việc lựa chọn CSKT 22
2.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn chính sách kế toán - 26
2.6 Lý thuyết nền - 27
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU - 30
3.1 Quy trình nghiên cứu - 30
3.2 Phương pháp nghiên cứu - 31
3.3 Mô hình nghiên cứu và phát triển giả thuyết nghiên cứu - 33
3.3.1 Mô hình nghiên cứu - 33
3.3.2 Giả thuyết nghiên cứu - 34
3.4 Thang đo các biến trong mô hình - 35
3.5 Mẫu nghiên cứu - 38
3.5.1 Xác định kích cỡ mẫu - 38
3.5.2 Cấu trúc bảng câu hỏi - 39
3.5.3 Kết quả chọn mẫu - 39
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN - 42
4.1 Kết quả nghiên cứu - 42
4.1.1 Đánh giá thang đo bằng hệ số tin cậy Cronbach Alpha - 42
4.1.2 Phân tích nhân tố khám phá EFA - 45
4.1.3 Kết quả phân tích hồi quy - 52
4.2 Bàn luận - 58
CHƯƠNG 5 : KẾT LUẬN VÀ GỢI Ý CHÍNH SÁCH - 61
Trang 65.2 Gợi ý chính sách - 62 5.3 Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo - 66 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7CSKT : Chính sách kế toán
DN : Doanh nghiệp DNNVV : Doanh nghiệp nhỏ và vừa
TP : Thành Phố TP.HCM : Thành Phố Hồ Chí Minh BCTC : Báo cáo tài chính
TNDN : Thu nhập doanh nghiệp TSCĐ : Tài sản cố định
TNHH : Trách nhiệm hữu hạn LCCSKT : Lựa chọn chính sách kế toán
Trang 8Bảng 2.1 Tiêu chí phân chia Doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam Bảng 2.2 Tỷ trọng của ngành dệt may TP HCM trong vùng và cả nước Bảng 2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn chính sách kế toán Bảng 3.1 Tổng hợp thang đo biến độc lập
Bảng 3.2 Tổng hợp thang đo biến phụ thuộc
Bảng 3.3 Sự liên kết giữa các thang đo lường và bảng câu hỏi
Bảng 4.1 Tổng kết các thang đo sau khi phân tích Cronbach’s Alpha Bảng 4.2 Kết quả kiểm định Barlett
Bảng 4.3 Phân tích nhân tố - phương sai trích
Bảng 4.4 Ma trận mẫu
Bảng 4.5 Hệ số KMO phân tích sự lựa chọn CSKT
Bảng 4.6 Phân tích nhân tố - phương sai trích cho biến phụ thuộc
Bảng 4.7 Tổng hợp thang đo biến độc lập sau phân tích nhân tố khám phá EFA
Bảng 4.8 Phân tích tương quan
Bảng 4.9 Phân tích ANOVA trong hồi quy bội
Bảng 4.10 Các chỉ số kiểm định trong hồi quy bội
Bảng 4.11 Kết quả phân tích hồi quy đa biến
Trang 9Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến Sự lựa chọn
Trang 10PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
CSKT là các nguyên tắc, cơ sở và phương pháp kế toán cụ thể mà DN áp dụng để trình bày BCTC Lựa chọn chính sách kế toán là việc thiết lập các nguyên tắc, cơ sở và phương pháp kế toán cụ thể mà doanh nghiệp áp dụng để lập và trình bày báo cáo tài chính (VAS 29, 2005) nhằm đảm bảo sự phản ánh trung thực hợp lý tình hình tài chính, tình hình hoạt động của doanh nghiệp, đáp ứng nhu cầu cung cấp thông tin hữu ích cho số đông những người sử dụng báo cáo tài chính trong việc đưa ra quyết định kinh tế (VAS 21, 2003) Như vậy CSKT của mỗi DN bị chi phối bởi nhiều nhân tố chủ quan của DN đó
Báo cáo tài chính là sản phẩm cuối cùng của công tác kế toán, là mục tiêu của bộ phận kế toán để cung cấp thông tin tài chính cho các đối tượng bên trong và bên ngoài công ty Do tính đa dạng của đối tượng sử dụng thông tin nên thông tin
mà báo cáo tài chính cung cấp và mức độ chính xác, chi tiết của thông tin luôn là chủ đề được nhiều đối tượng quan tâm Với mỗi chính sách kế toán được lựa chọn thì thông tin trình bày trên báo cáo tài chính là khác nhau và mỗi đơn vị kinh doanh các ngành nghề khác nhau thì sự lựa chọn chính sách kế toán cũng khác nhau, với mỗi loại hình doanh nghiệp sẽ có nhiều chiến lược kinh doanh và các nguồn thông tin tài chính khác nhau nhằm thu hút vốn đầu tư từ bên ngoài, mà các thông tin tài chính này do kế toán cung cấp Chính vì vậy thông tin kế toán cung cấp ngày càng phát huy tính hữu hiệu trong việc ra quyết định của các đối tượng có liên quan và báo cáo tài chính là công cụ thể hiện thông tin này Báo cáo tài chính được lập dựa trên cơ sở của chuẩn mực kế toán, các thông tư hướng dẫn mà các chuẩn mực kế toán luôn tạo khoảng không tự do cho các doanh nghiệp lựa chọn, tùy theo từng mục đích công bố thông tin mà doanh nghiệp có thể lựa chọn chính sách kế toán thích hợp nhằm điều chỉnh thông tin trình bày trên báo cáo tài chính Như vậy, việc lựa chọn chính sách kế toán ảnh hưởng trực tiếp đến sản phẩm đầu ra là thông tin trình bày trên báo cáo tài chính
Trang 11Ngành công nghiệp dệt may là một ngành có truyền thống từ lâu đời ở Việt Nam Đây là ngành quan trọng trong nền kinh tế của nước ta vì nó phục vụ nhu cầu thiết yếu của con người, là ngành giải quyết được nhiều việc làm cho xã hội đặc biệt
nó là ngành có thế mạnh trong xuất khẩu, tạo điều kiện cho kinh tế phát triển, góp phần cân bằng cán cân xuất nhập khẩu của đất nước, đồng thười nghành dệt may là một trong những ngành quang trọng trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế Đây
là ngành xuất khẩu chủ lực, chiếm tỷ trọng cao trong tổng kim ngạch xuất khẩu của
cả nước, chỉ đứng sau ngành dầu khí Đất nước ta đang trong quá trình kinh tế hội nhập điều này có nghĩa đem lại nhiều thuận lợi hơn cũng như nhiều thách thức cạnh tranh hơn nữa cho các ngành công nghiệp trong nước, ngành công nghiệp dệt may cũng không nằm trong ngoại lệ này Việc này đòi hỏi các nhà quản lý của công ty ngành dệt may có những chiến lược và tư duy nhạy bén để đề ra những quyết định nhanh, chính xác nhằm không bỏ lỡ cơ hội của doanh nghiệp Để đáp ứng mục tiêu này đòi hỏi những thông tin cung cấp cho nhà quản trị phải nhanh chóng, kịp thời, chính xác và hiệu quả ngày càng được chú trọng Hiện tại, TP Hồ Chí Minh được xem là khu vực có những đóng góp đáng kể vào quá trình phát triển của ngành dệt may ở Việt Nam, chiếm khoảng 10 – 20% tổng giá trị xuất khẩu công nghiệp của cả nước và có nhiều doanh nghiệp đạt kim ngạch xuất khẩu rất cao và khẳng định thương hiệu của mình trên thị trường quốc tế Riêng so với trong vùng và cả nước thì tỷ trọng ngành dệt may tại TP HCM chiếm một tỷ trọng khá lớn
Xuất phát từ thực tế trên tác giả chọn đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng đến
việc lựa chọn chính sách kế toán của DNNVV – Nghiên cứu đối với DN sản xuất ngành dệt may trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh” nhằm tìm kiếm bằng chứng
thực nghiệm trong phạm vi cụ thể cho mối quan hệ này
2 Mục tiêu nghiên cứu
Bài nghiên cứu hướng đến mục tiêu chung: tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT của doanh nghiệp sản xuất ngành dệt may có quy mô nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
Trang 12Từ mục tiêu chung đã đề ra, tác giả đi vào chi tiết với hai mục tiêu cụ thể cho bài nghiên cứu:
Thứ nhất: Nhận diện các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn chính sách kế toán của các doanh nghiệp sản xuất ngành dệt may có quy mô nhỏ và vừa trên địa bàn Thành Phố Hồ Chí Minh
Thứ hai: Đo lường mức độ tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT của doanh nghiệp sản xuất ngành dệt may có quy mô nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh hiện nay
3 Câu hỏi nghiên cứu
Tương ứng với hai mục tiêu cụ thể như đã nêu ở trên, bài nghiên cứu trả lời hai câu hỏi:
Câu hỏi thứ 1: Có những nhân tố nào ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT của doanh nghiệp sản xuất ngành dệt may có quy mô nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố
Hồ Chí Minh hiện nay?
Câu hỏi thứ 2: Mức độ tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT của doanh nghiệp sản xuất ngành dệt may có quy mô nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh hiện nay như thế nào?
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT của doanh nghiệp sản xuất ngành dệt may có quy mô nhỏ và vừa
Phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu giới hạn trong các doanh nghiệp sản xuất ngành dệt may có quy mô nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh Việc thực hiện nghiên cứu được tiến hành khảo sát và thu thập dữ liệu trong khoảng thời gian từ năm 2015 đến năm 2016
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu, tác giả đã sử dụng chủ yếu phương pháp nghiên cứu định lượng: từ kết quả khảo sát thực tế, tác giả tiến hành kiểm định độ
Trang 13tin cậy của thang đo bằng hệ số Cronbach’s alpha, phân tích nhân tố khám phá (EFA), phân tích tương quan, phân tích hồi quy, Anova để phân tích mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến việc lựa chọn CSKT tại các doanh nghiệp dệt may có quy mô nhỏ và vừa trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
6 Đóng góp mới của luận văn
Luận văn đã hệ thống hóa được một số lý thuyết về CSKT hiện nay giúp người đọc có cái nhìn bao quát hơn về CSKT Kết quả nghiên cứu của luận văn cung cấp bằng chứng thực nghiệm về các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT của DNNVVsản xuất ngành dệt may tại TP.HCM hiện nay từ đó đưa ra các giải pháp nhằm đóng góp một số kiến nghị về CSKT, giúp cho đối tượng sử dụng BCTC giảm thiểu tác động tiêu cực từ việc điều chỉnh BCTC thông qua việc lựa chọn CSKT của các DN và giúp các DN sản xuất ngành dệt may có quy mô nhỏ và vừa trên địa bàn TP HCM nâng cao hiệu quả trong việc lựa chọn CSKT
7 Bố cục của nghiên cứu
Luận văn được chia thành 05 chương với nội dung cụ thể như sau:
Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý thuyết
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận
Chương 5: Kết luận và gợi ý chính sách
Trang 14CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn chính sách kế toán trong doanh nghiệp không phải là đề tài mới trong thời gian gần đây, hướng nghiên cứu này đã được phát triển từ những năm 1980 với các nghiên cứu thực nghiệm của Healy (1985) cho đến nghiên cứu của Watts và Zimmerman (1990) làm nền tảng cho rất nhiều nghiên cứu sau này Vì vậy trong chương này, tác giả tiến hành lược khảo các nghiên cứu có liên quan đến việc lựa chọn chính sách kế toán trong và ngoài nước nhằm làm cơ sở cho việc xây dựng mô hình trong đề tài ở các chương sau
1.1 Các nghiên cứu nước ngoài
Nghiên cứu của Healy (1985): Ảnh hưởng của kế hoạch tiền thưởng đến lựa chọn chính sách kế toán Healy đã thực hiện nghiên cứu về ảnh hưởng của kế hoạch
tiền thưởng đối với người quản lý đến số liệu kế toán trên BCTC nhằm thu thập
bằng chứng rằng liệu các kế hoạch này có ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT của người quản lý không Nghiên cứu đã khảo sát cách thức tính khoản thưởng cho nhà
quản lý và tính hiệu số giữa lợi nhuận trong kỳ và lợi nhuận tối thiểu:
Pt {max [Et – Lt]} hoặc Pt (min {Ut, max [ Et – Lt], 0})
Khi lợi nhuận trong kỳ (Et) nhỏ hơn mức tối thiểu (Lt), hiệu số (Et - Lt) nhỏ hơn 0 khoản tiền thưởng sẽ là 0 Khi lợi nhuận trong kỳ cao hơn mức tối thiểu phần chênh lệch sẽ được nhân tỷ lệ phần trăm Pt để tính ra khoản thưởng Quy định này khuyến khích các nhà quản lý nâng cao lợi nhuận cao hơn mức tối thiểu; nhằm khắc phục tâm lý sợ rủi ro của nhà quản lý Khi khoản chênh lệch (Et – Lt) quá lớn, vượt khỏi mức lợi nhuận tối đa Ut thì nhà quản lý chỉ tính tiền thưởng trên Ut Cách tính này nhằm hạn chế người quản lý chạy theo lợi nhuận quá mức, mang lại rủi ro quá cao cho DN Trong bối cảnh trên, người quản lý sẽ tìm cách ảnh hưởng đến số liệu
kế toán để mang lại lợi ích cho mình
Healy cũng xem xét vấn đề lựa chọn CSKT bằng cách khảo sát tổng dồn tích của DN Tổng dồn tích là chênh lệch giữa lợi nhuận và dòng tiền từ hoạt động kinh
Trang 15doanh bao gồm khấu hao, chênh lệch hàng tồn kho, các khoản phải thu và phải trả của DN Các khoản dồn tích sẽ tăng lên khi nhà quản lý muốn tăng lợi nhuận và ngược lại Nghiên cứu sử dụng danh sách năm 1980 của 250 công ty niêm yết thuộc lĩnh vực công nghiệp lớn nhất, sau đó chọn lọc 94 công ty có đầy đủ kế hoạch khen
thưởng Kết quả phân tích thống kê của Healy cho kết quả như mong đợi tức là kế
hoạch tiền thưởng đối với nhà quản lý có ảnh hưởng rất lớn đến việc lựa chọn
CSKT của DN
Nghiên cứu của Watts và Zimmerman (1990): Watts và Zimmerman
(1990) đã xem xét lại các nghiên cứu kế toán thực chứng trong lựa chọn kế toán Nhóm tác giả đã chỉ trích nhiều nhà nghiên cứu chỉ tập trung vào một lựa chọn kế toán tại một thời điểm trong khi hầu hết các nhà quản lý tìm kiếm một kết quả có thể là do kết hợp ảnh hưởng của một số lựa chọn kế toán Ba giả thuyết chính thường xuyên được sử dụng để giải thích và dự đoán mối tương quan thuận hay nghịch của các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn phương pháp kế toán trong nghiên cứu là: giả thuyết kế hoạch tiền thưởng, giả thuyết nợ và giả thuyết chính trị với giả thiết người quản lý là người theo chủ nghĩa cơ hội và giả thiết chi phí kết hợp đồng hiệu quả
Giả thuyết kế hoạch tiền thưởng là giả thuyết nhà quản lý của các DN chi trả tiền thưởng theo lợi nhuận có nhiều khả năng sẽ sử dụng phương pháp kế toán làm tăng lợi nhuận kỳ báo cáo để tăng giá trị các khoản tiền thưởng theo lợi nhuận kỳ báo cáo nhằm tăng giá trị khoản tiền thưởng trả cho mình Tuy nhiên những thử nghiệm ban đầu của giả thiết tiền thưởng cho thấy nó không thích hợp trong nhiều trường hợp Giả thuyết nợ (còn gọi là giả thuyết nợ trên vốn chủ sở hữu) cho rằng nếu tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu của DN càng cao thì nhà quản lý có nhiều khả năng sử dụng các phương pháp kế toán làm tăng lợi nhuận để tránh vi phạm trong những cam kết vay vốn Cuối cùng, giả thuyết chi phí chính trị cho rằng các DN lớn
có nhiều khả năng lựa chọn CSKT làm giảm lợi nhuận báo cáo hơn là các DNNVV
để giảm thiểu chi phí chính trị Bằng chứng thực nghiệm thu được nhìn chung phù hợp với giả thuyết chi phí chính trị Sau Watts và Zimmerman có rất nhiều nghiên
Trang 16cứu được xây dựng trên các giả thuyết này và có thể được phát triển thêm để dự đoán những quy luật thực nghiệm mới
Nghiên cứu của Steven Young (1998): Mục đích của nghiên cứu Steven
Young là xác định các nhân tố quyết định sự lựa chọn CSKT quản trị ở nước Anh được thực hiện tại các công ty thuộc ngành công nghiệp và thương mại Các giả thuyết nghiên cứu của tác giả kế thừa từ nghiên cứu của Watts và Zimmerman trên
cơ sở lý thuyết chi phí ký kết hợp đồng, lý thuyết ổn định lợi nhuận và lý thuyết tín hiệu thông tin Lý thuyết chi phí ký kết hợp đồng chi phối giả thuyết nợ và giả thuyết kế hoạch tiền thưởng dựa trên lợi nhuận có mối quan hệ tích cực với sự lựa chọn kế toán
Kết quả nghiên cứu cho thấy việc lựa chọn CSKT ổn định lợi nhuận là theo nguyên tắc kế toán thận trọng và các nhà quản lý sử dụng CSKT để thấy được dấu hiệu của dòng tiền mong muốn trong tương lai đồng thời giảm khả năng vi phạm các hợp đồng nợ Mối quan hệ giữa tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu và CSKT có thể phản ánh những thay đổi trong khả năng vi phạm hợp đồng nợ Theo đó, trong từng thời kỳ, dựa vào mối quan hệ giữa tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu và CSKT, các DN
có thể lựa chọn CSKT để có lợi nhất cho mình Tuy nhiên nhiều nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến quyết định quản lý đã không được xem xét trong nghiên cứu là sự khác biệt trong tác động quản trị công ty
Nghiên cứu Charles P Cullinan (1999): Nghiên cứu của Charles khai thác
một nhân tố mới ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT là các hoạt động thương mại
quốc tế Hoạt động thương mại quốc tế có thể tạo ra động lực lựa chọn CSKT theo
hướng lợi nhuận ngày càng tăng thông qua kết quả kiểm tra thực tế sự lựa chọn phương pháp trích khấu hao của các DN ở Canada Charles đặt ra giả thuyết là DN xuất khẩu có nhiều khả năng lựa chọn CSKT lợi nhuận tăng hơn DN không xuất khẩu và DN nhập khẩu nhiều khả năng lựa chọn CSKT lợi nhuận tăng hơn DN không nhập khẩu
Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng DN nhập khẩu thường lựa chọn CSKT theo hướng lợi nhuận ngày càng tăng so với DN không nhập khẩu, xuất khẩu thì lại
Trang 17không có ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT Điểm mới của Charles là tác giả đã nghiên cứu thêm nhóm các bên liên quan khác mà các nhà nghiên cứu trước không
đề cập đến là khách hàng và nhà cung cấp nước ngoài Các bên liên quan có thể đánh giá khả năng của các đối tác thương mại dựa trên cảm nhận sức mạnh tài chính
vì thế các DN có hoạt động thương mại quốc tế có thể lựa chọn CSKT tối đa hóa lợi nhuận Bên cạnh đó nghiên cứu vẫn có một số hạn chế nhất định liên quan đến dữ liệu có sẵn và khả năng khái quát, kết quả nghiên cứu chỉ giới hạn trong phạm vi các DN lớn và thương mại công khai
Nghiên cứu của Christos Tzovas (2006): Năm 2006 Christos Tzovas đã
công bố nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT của các DN thông qua một cuộc khảo sát các nhà quản lý tài chính của 200 DN lớn nhất ở Hy Lạp Theo những người tham gia vào cuộc khảo sát, sự lựa chọn CSKT chịu ảnh
hưởng bởi nhận thức các bên liên quan, mục tiêu lợi nhuận, mục tiêu tối thiểu hóa
nghĩa vụ thuế của DN tuy nhiên những mục tiêu này có thể không đồng nhất thậm
chí mâu thuẫn với nhau bởi chiến lược giảm thuế có nhiều khả năng làm phát sinh chi phí ngoài thuế đáng kể mà những chi phí này có thể sẽ thúc đẩy DN đi lệch với chiến lược giảm thuế
Tác giả đã ghi lại bằng chứng về mức độ mà DN muốn báo cáo lợi nhuận giảm (để giảm nghĩa vụ thuế) và mức độ DN muốn báo cáo lợi nhuận tăng (để tác động tích cực đến quyết định cho vay của ngân hàng, tránh vi phạm cam kết vay vốn hay tăng giá trị cổ phiếu của DN) Kết quả nghiên cứu này cũng có thể áp dụng cho những DN hoạt động trong các quốc gia có môi trường tương tự như Hy Lạp, những phát hiện của nghiên cứu này có thể tạo điều kiện cho các chuyên gia tiến hành phân tích tài chính quốc tế, đồng thời góp phần vào việc giải thích các quyết định kế toán của những DN ở Hy Lạp Bên cạnh đó, nghiên cứu vẫn còn có hạn chế nhất định như không thể đảm bảo loại trừ hết câu trả lời mang tính chủ quan cá nhân, vì vậy cần có một cuộc điều tra thực nghiệm nữa dựa trên báo cáo hàng năm
để cung cấp thêm bằng chứng liên quan đến các nhân tố ảnh hưởng đến CSKT của
DN và cần điều tra khả năng lựa chọn CSKT chịu tác động bởi chiến lược tối thiểu
Trang 18hóa thuế TNDN dựa trên tấm chắn thuế vì ở Hy Lạp nhiều DN sử dụng tỷ lệ nợ vay cao
Nghiên cứu của Colin R Dey và cộng sự (2007): Colin R Dey và cộng sự
tiến hành nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT dưới những giả thuyết của lý thuyết thực chứng đã có (Watts và Zimmerman (1990)) là giả thuyết
thuế Bằng chứng thu thập được phù hợp với giả thuyết tiền thưởng, giả thuyết nợ
và giả thuyết thuế đó là sự tồn tại của kế hoạch tiền thưởng khuyến khích nhà quản
lý, phương pháp kế toán khấu hao, phương pháp xác định giá trị hàng tồn kho làm tăng lợi nhuận kế toán mà không làm tăng các khoản thanh toán thuế Kết luận của nghiên cứu cũng phù hợp với các nghiên cứu thực nghiệm về mối liên hệ giữa các cải cách kinh tế, thay đổi kinh tế xã hội và sự lựa chọn CSKT của HassabElnaby và Mosebach ở Ai Cập trước đó.Tuy nhiên nghiên cứu cũng có những hạn chế từ các
dữ liệu thu thập được vì chỉ tìm dữ liệu trên ý kiến của người trả lời về lý do lựa chọn phương pháp khấu hao và các phương pháp định giá cổ phiếu, đồng thời nghiên cứu cũng khẳng định có tồn tại những lý do khác cho sự lựa chọn CSKT mà nghiên cứu không đề cập đến
Nghiên cứu của Cudia và Cynthia P (2008): Các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn giữa cơ sở kế toán dồn tích và cơ sở kế toán tiền ở Metro Manila
Thông qua quá trình khảo sát và thu thập dữ liệu từ các kiểm toán viên thực hiện kiểm toán cho 163 DNNVV ở Metro Manila nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn giữa cơ sở kế toán dồn tích và cơ sở kế toán tiền ở các DNNVV tại vùng này Nghiên cứu đã sử dụng phương pháp thống kê mô tả để tìm ra các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn cơ sở kế toán dồn tích và cơ sở kế toán tiền ở
các DNNVV tại Metro Manila
Kết quả nghiên cứu đã tìm ra 5 nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn giữa hai
cơ sở kế toán trên đó là: Bản chất của việc kinh doanh, sự thuận tiện trong lưu trữ
hồ sơ, sự phức tạp trong yêu cầu kế toán và công bố thông tin, chi phí lập báo cào tài chính, tính hữu dụng trong việc ra quyết định Trong đó nhân tố bản chất việc
Trang 19kinh doanh có tác động mạnh nhất đến việc lựa chọn giữa cơ sở kế toán dồn tích và
cơ sở kế toán tiền ở các DNNVV tại Metro Manila
Nghiên cứu của Szilveszter Fekete và cộng sự (2010): Szilveszter và cộng
sự thực hiện một cuộc nghiên cứu điều tra các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT của các DNNVV ở Rumani Nhóm dựa trên bảng tổng hợp nhân tố đã nghiên cứu của Bosnyák (2003) tại các DNNVV ở Hungary có sự điều chỉnh Dữ liệu được thu thập thông qua khảo sát yêu cầu người trả lời chỉ ra mức độ mà mỗi nhân tố được liệt kê trong bảng câu hỏi ảnh hưởng đến sự lựa chọn phương pháp kế toán của DN
Kết quả có 6 nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT ở Rumani là nhân tố:
thông tin, thuế, sự tin cậy của các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp, đáp ứng yêu cầu các đối tượng bên trong, chi phí, tính trung thực và hợp lý báo cáo tài chính thu
được từ phân tích nhân tố khám phá Trong đó nhân tố thông tin có tác động mạnh nhất đến sự lựa chọn phương pháp kế toán, tiếp theo là nhân tố thuế, các nhân tố
còn lại tác động yếu Tuy nhiên đó không phải là kết quả mong đợi của nhóm tác giả bởi vì theo lý thuyết kế toán tài chính, DN lựa chọn những phương pháp kế toán
để lập BCTC phản ánh trung thực và hợp lý tình hình tài chính, tình hình hoạt động
của DN, nhưng nhân tố này là nhân tố yếu nhất trong việc giải thích sự thay đổi của CSKT Ngoài ra, có thể thấy nghiên cứu này tập hợp khá đầy đủ các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT của DNNVV đã được khám phá trước đó
1.2 Các nghiên cứu trong nước
Nghiên cứu của Bùi Thị Thu Lan (2016): Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn CSKT của các DN thủy sản trên địa bàn Tỉnh Bạc Liêu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính thực hiện nghiên cứu tại bàn để tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn CSKT sau đó thảo luận tay đôi với các chuyên gia để khám phá, điều chỉnh và bổ sung thang đo lựa chọn CSKT, thang
đo các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn CSKT của các DN thủy sản trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu Nghiên cứu cũng sử dụng phương pháp định lượng áp dụng mô
Trang 20hình hồi quy bội để phân tích mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến việc lựa chọn
CSKT của các DN thủy sản trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu
Kết quả nghiên cứu cho thấy có 6 nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn
CSKT của các DN thủy sản trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu bao gồm: kế hoạch tiền
thưởng cho nhà quản lý, thuế, mức vay nợ, trình độ của kế toán viên, khả năng vi phạm hợp đồng vay nợ, nhu cầu thông tin của người sử dụng Nghiên cứu cũng đưa
ra một số kiến nghị giúp cho cơ quan thuế, bên thứ ba giảm thiểu tác động tiêu cực
từ việc điều chỉnh thông tin trên BCTC thông qua việc lựa chọn CSKT của DN và giúp cho bản thân các DN thủy sản trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu nâng cao hiệu quả trong việc lựa chọn CSKT
Nghiên cứu của Huỳnh Thị Cẩm Nhung (2015): Nghiên cứu các nhân tố
ảnh hưởng đến lựa chọn CSKT của các DN xây lắp trên địa bàn TP Đà Nẵng
Nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng dựa trên các kỹ thuật phân tích thống
kê mô tả, phân tích độ tin cậy của thang đo, phân tích nhân tố khám phá, và phân tích hồi quy Mục tiêu là tìm ra các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn CSKT của các DN xây lắp trên địa bàn TP Đà Nẵng Nghiên cứu thực hiện thu thập thông tin
cơ bản, điều tra và phỏng vấn đối với 100 DN xây lắp trên địa bàn TP Đà Nẵng
Kết quả nghiên cứu cho thấy, theo quan điểm của các đối tượng khảo sát, có
4 nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn CSKT tại các DN xây lắp trên địa bàn TP
Đà Nẵng, và có sự thống nhất khá cao trong quan điểm của kế toán viên và kiểm toán viên khi đánh giá ảnh hưởng của các nhân tố này đến việc lựa chọn CSKT đó
là: Chi phí thuế, mức vay nợ, tình trạng niêm yết, trình độ kế toán viên
Nghiên cứu của Nguyễn Hồng Hà (2015): Các nhân tố ảnh hưởng đến sự
lựa chọn CSKT của các DNNVV trên địa bàn Thành Phố Hồ Chí Minh Tác giả sử
dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp giữa nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng theo thiết kế hỗn hợp khám phá nhằm mô tả nội dung các nghiên cứu trước, lý thuyết kế toán liên quan đến CSKT, phân tích đánh giá thực trạng lựa chọn CSKT của DNNVV kết hợp với xin ý kiến chuyên gia để tổng hợp nên thang đo các nhân tố nghiên cứu, và với kỹ thuật phân tích nhân tố khám phá (EFA) và phân tích
Trang 21hồi quy bội (MLR) tìm ra mô hình các nhân tố ảnh hưởng Dựa vào các nghiên cứu trước, tác giả đưa ra giả thuyết ảnh hưởng của nhân tố “Thuế” đến sự lựa chọn CSKT của các DNNVV Kết quả của bài nghiên cứu cho thấy sự thay đổi trong lựa chọn CSKT ảnh hưởng 92,4% bởi nhân tố “Thuế”, 7,6% còn lại là do sai số ngẫu nhiên hoặc nhân tố khác ngoài mô hình
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Phương Hồng và Nguyễn Thị Kim Oanh
(2014): nghiên cứu chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT dựa trên
ảnh hưởng kinh tế mà các chính sách này mang lại Nhóm tác giả xác định sơ bộ các
nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT là: chi phí thuế TNDN, mức vay nợ, khả
năng vi phạm hợp đồng vay nợ, chính sách thưởng dành cho nhà quản trị, tình trạng niêm yết, sự ổn định giữa các mức lợi nhuận, mức độ sử dụng các hợp đồng liên quan các chỉ tiêu kế toán Nghiên cứu đã sử dụng phương pháp thống kê mô tả
để tìm ra các nhân tố có giá trị trung bình cao, sau đó sử dụng T-test để kiểm định
sự khác biệt trong quan điểm về các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT của hai nhóm đối tượng khảo sát và đề xuất một số kiến nghị để cải thiện chất lượng BCTC Nghiên cứu đã hệ thống lại các nghiên cứu trước về vấn đề xác định và đo lường tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT, tuy nhiên vẫn còn hạn chế vì chỉ tổ hợp các nhân tố rời rạc trong các nghiên cứu trước mà chưa tìm được mô hình mối quan hệ giữa các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT của DN
Phạm Thị Bích Vân (2013): thực hiện nghiên cứu các cách đo lường sự
trung thực của chỉ tiêu lợi nhuận trên BCTC giúp cho nhà đầu tư lựa chọn danh mục
cổ phiếu tránh nguy cơ mất vốn đồng thời giúp các nhà hoạch định chính sách nắm bắt tình hình quản trị lợi nhuận của DN niêm yết để ban hành các giải pháp bảo vệ nhà đầu tư vào thị trường chứng khoán Việt Nam Trong nghiên cứu tác giả cũng đã
đi sâu tìm hiểu động cơ quản trị lợi nhuận cũng là động cơ dẫn đến sự lựa chọn
CSKT của DN là: hợp đồng thù lao, san bằng lợi nhuận giữa các kỳ kế toán để đảm
bảo xu hướng lợi nhuận bền vững trong dài hạn, tránh vi phạm hợp đồng đi vay,
Trang 22phát hành cổ phiếu ra công chúng, đáp ứng sự kỳ vọng của giới phân tích thị trường, thay đổi nhà quản lý
Nghiên cứu đã đưa ra được các mô hình đo lường sự trung thực của chỉ tiêu lợi nhuận để các bên liên quan có thể đánh giá được tình hình hoạt động của DN và đưa ra quyết định kinh tế tốt nhất Tuy nhiên, nghiên cứu thuộc chuyên ngành tài chính nên chỉ đi sâu vào các nhân tố gây nên tình trạng bất cân xứng thông tin về mặt tài chính mà bỏ qua các nhân tố nhằm giảm thiểu tình trạng này như ý kiến của kiểm toán viên, ý kiến của thanh tra thuế, đặc điểm nguồn lực của DN hay yêu cầu phản ánh trung thực và hợp lý …
Nghiên cứu của Phạm Bích Vân (2012): nghiên cứu đi sâu phân tích ảnh
hưởng của nhân tố thuế TNDN đến sự lựa chọn CSKT của các DN trên địa bàn TP
Đà Nẵng Tác giả đã phân tích được sự tương đồng và khác biệt giữa mục tiêu kế
toán và mục tiêu thuế đồng thời đánh giá ảnh hưởng của nhân tố thuế TNDN đến sự
lựa chọn CSKT trong thực tế dựa trên mô hình đánh giá chênh lệch giữa lợi nhuận
kế toán và thu nhập chịu thuế ở DN
Kết quả nghiên cứu cho thấy DN lập BCTC ưu tiên cung cấp thông tin cho cơ quan thuế và chính DN hơn là ngân hàng, các tổ chức tín dụng và sự lựa chọn CSKT trong việc lập BCTC và báo cáo thuế ở các DN cùng quy mô trên địa bàn
TP Đà Nẵng đa phần giống nhau Kết quả nghiên cứu là một bằng chứng thực
nghiệm về sự ảnh hưởng của nhân tố thuế TNDN, tuy nhiên, nhân tố thuế TNDN
không phải là nhân tố duy nhất ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT của DN, đây cũng chính là hạn chế lớn nhất của nghiên cứu
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Minh Trang (2010): Tác giả nghiên cứu việc
lựa chọn chính sách kế toán trong bối cảnh thay đổi thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp, kết quả nghiên cứu của tác giả cho thấy với mỗi loại hình doanh nghiệp sẽ
có các nguyên nhân điều chỉnh lợi nhuận khác nhau Thường đối với các công ty cổ phần, động cơ điều chỉnh lợi nhuận nhằm tiết kiệm chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp không phải lúc nào cũng được ưu tiên lựa chọn mà có thể động cơ điều chỉnh tăng lợi nhuận thu hút vốn đầu tư từ bên ngoài chiếm ưu thế hơn Các loại
Trang 23hình doanh nghiệp còn lại thường sẽ ưu tiên lựa chọn điều chỉnh giảm lợi nhuận nhằm tiết kiệm chi phí thuế TNDN vì ít quan tâm đến việc điều chỉnh tăng lợi nhuận để thu hút vốn đầu tư từ bên ngoài hay bán cổ phần
1.3 Nhận xét chung về các nghiên cứu
Trong các công trình nghiên cứu trên thế giới có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT được khám phá, mỗi công trình đều có ý nghĩa nghiên cứu riêng và trong mỗi công trình các nhân tố được nghiên cứu không hoàn toàn giống nhau vì mục tiêu nghiên cứu của các công trình này khác nhau và xuất phát từ sự khác biệt về đối tượng, phương pháp nghiên cứu, và đặc điểm nền kinh tế của các quốc gia nghiên cứu Do đó tác giả tìm kiếm mô hình phù hợp với mục tiêu nghiên cứu và đặc điểm của doanh nghiệp sản xuất ngành dệt may có quy mô nhỏ và vừa trong bối cảnh nền kinh tế ở Việt Nam cụ thể là TP.HCM
Đối với các nghiên cứu trong nước, hướng nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT không phải là hướng nghiên cứu mới vì trên thế giới
đã có rất nhiều nghiên cứu lý thuyết lẫn thực nghiệm, tuy nhiên ở Việt Nam đến thời điểm hiện tại còn rất ít công trình nghiên cứu thực nghiệm nào đi sâu vào phân tích mối quan hệ và mức độ tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT một cách đầy đủ, dưới quan điểm của các nhóm đối tượng khảo sát, hoặc chỉ chú trọng đến nhân tố “Thuế” mà xem nhẹ các yếu tố khác
1.4 Khe hổng và định hướng nghiên cứu
Từ việc xem xét tổng quan các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế, tác giả nhận thấy mặc dù trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT nhưng tại Việt Nam đa phần các nghiên cứu đều thuộc ngành tài chính và đi sâu vào phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến động cơ quản trị lợi nhuận, vẫn còn rất ít nghiên cứu thuộc chuyên ngành kế toán xem xét vấn đề này và chỉ chú trọng đến nhân tố “Thuế”
Mặt khác, chưa có học giả nào nghiên cứu đối với DN sản xuất ngành dệt
may có quy mô nhỏ và vừa trên địa bàn TP.HCM Vì vậy, trên quan điểm kế thừa
những công trình nghiên cứu trước đã có kết hợp với việc tìm hiểu thực trạng lựa
Trang 24chọn CSKT dưới góc độ kế toán, tác giả thực hiện nghiên cứu khám phá mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT của DN ngành dệt may có quy mô vừa và nhỏ trên địa bàn TP.HCM hiện nay Từ đó tác giả sẽ đưa ra những giải pháp nhằm giúp cho đối tượng sử dụng BCTC giảm thiểu tác động tiêu cực từ việc điều chỉnh BCTC thông qua việc lựa chọn CSKT của DN và giúp các DN sản xuất ngành dệt may có quy mô nhỏ và vừa trên địa bàn TP HCM nâng cao hiệu quả trong việc lựa chọn CSKT
Tóm tắt chương 1
Qua việc kế thừa và lược khảo các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn chính sách kế toán đã được thực hiện ở nhiều quốc gia trên thế gưới như: Anh, Pháp, Hy Lạp, … và tại Việt Nam Tác giả nhìn nhận những kết quả đạt được cũng như hạn chế, khiếm khuyết của các nghiên cứu đã thực hiện có ý nghĩa rất quan trọng trong việc xác định mục tiêu của luận văn Trong quá trình lược khảo lại các nghiên cứu trước, tác giả đã nêu lên được tổng quan các đề tài nghiên cứu bao gồm trong nước và nước ngoài cũng như tìm ra các khe hổng của các đề tài trước từ đó định hướng cho đề tài nghiên cứu
Trang 25CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Nội dung chính chương này trình bày các khái niệm và vấn đề có liên quan trong luận văn như CSKT, vai trò của CSKT, mục tiêu của CSKT, các tiêu chí xác định DNNVV, các quy định hiện hành về CSKT ở Việt Nam, lý thuyết nền dùng để giải thích cho các nhân tố ảnh hưởng sẽ nghiên cứu và thang đo các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT của DNNVV
2.1 Chính sách kế toán
2.1.1 Khái niệm chính sách kế toán
Theo chuẩn mực kế toán quốc tế số 8 (IAS 8) chính sách kế toán là nguyên tắc cụ thể, căn cứ, quy ước, quy tắc và thông lệ được áp dụng bởi một thực thể trong việc chẩn bị và trình bày báo cáo tài chính Các chính sách kế toán là các chính sách
và thủ tục cụ thể được sử dụng bởi một công ty để chuẩn bị báo cáo tài chính
Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 29 (VAS 29, 2005) chính sách kế toán
là các nguyên tắc, cơ sở và phương pháp kế toán cụ thể được DN áp dụng trong việc lập và trình bày BCTC CSKT áp dụng ở mỗi DN được quy định trong chuẩn mực
kế toán và chế độ kế toán hiện hành cho phép lựa chọn phù hợp với quy mô, đặc điểm và tính chất hoạt động sản xuất kinh doanh của DN đó
Tổng hợp từ các nội dung có liên quan trong Hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam, Trần Đình Khôi Nguyên (2012) cho rằng CSKT bao gồm ba phần lớn: Phần thứ nhất, CSKT là những nguyên tắc chung mà tất cả mọi DN phải áp dụng (cơ sở dồn tích, nguyên tắc thận trọng, nguyên tắc phù hợp, nguyên tắc giá gốc…)
Phần thứ hai, CSKT là những lựa chọn về phương pháp kế toán trong khuôn khổ phạm vi từng chuẩn mực cho phép, tùy thuộc vào đặc điểm của giao dịch, điều kiện
và khả năng vận dụng của từng DN (phương pháp tính giá hàng tồn kho, phương pháp khấu hao TSCĐ…)
Trang 26Phần thứ ba, CSKT là những phương pháp mà DN tự xây dựng và phát triển do bản thân chuẩn mực không thể bao quát hết mọi vấn đề trong thực tiễn
Có thể thấy rằng thành phần đầu tiên của CSKT thể hiện tính nguyên tắc bắt buộc nhưng hai thành phần sau lại thể hiện tính linh hoạt của kế toán, gắn liền với đặc thù quản lý của từng DN và tác động trực tiếp đến lợi ích các bên có liên quan (ngân hàng, nhà đầu tưu, chủ nợ, …)
Vậy trong đề tài này, tác giả đề cập đến chính sách kế toán ở phạm vi những phương pháp kế toán và đi vào khảo sát các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT là những phương pháp kế toán mà thôi
2.1.2 Vai trò của chính sách kế toán
Đối với nhân viên kế toán, khi phát sinh nghiệp vụ kinh tế CSKT là công cụ
để xử lý thông tin và số liệu theo đối tượng và nội dung công việc kế toán, đảm bảo tuân thủ chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán hiện hành Nhân viên kế toán có nhiệm vụ tham mưu, đề xuất cho nhà quản lý CSKT phù hợp với yêu cầu quản trị
và mục tiêu của DN trong ngắn hạn và dài hạn (Nguyễn Hồng Hà, 2015)
Đối với nhà quản lý DN, CSKT là công cụ nhằm tạo ra ngôn ngữ kinh doanh
mà họ sử dụng để trao đổi với các bên liên quan như cơ quan thuế, kiểm toán, ngân hàng, chủ nợ, (Nguyễn Hồng Hà, 2015)
Đối với chủ sở hữu, cổ đông của DN, CSKT dùng để xem xét và so sánh kết quả hoạt động của DN mà nhà quản lý báo cáo (Nguyễn Hồng Hà, 2015)
Đối với cơ quan thuế, CSKT dùng để kiểm tra, giám sát thông tin công bố trên BCTC nhằm phát hiện và ngăn ngừa các hành vi vi phạm pháp luật về tài
chính, kế toán (Nguyễn Hồng Hà, 2015)
Đối với tổ chức kiểm toán độc lập, CSKT dùng để phân tích thông tin, số liệu kế toán, tài chính mà trên cơ sở đó họ đưa ra ý kiến nhận xét cho bên thứ ba sử dụng thông tin BCTC để ra quyết định kinh tế (Nguyễn Hồng Hà, 2015)
Trang 27Đối với nhà đầu tư tiềm năng, ngân hàng, tổ chức tín dụng, CSKT là công cụ phân tích, so sánh thông tin số liệu kế toán, tài chính giữa các DN để có thể ra quyết định ký kết các hợp đồng kinh tế (Nguyễn Hồng Hà, 2015)
2.1.3 Mục tiêu của việc lựa chọn chính sách kế toán
Theo kết luận nghiên cứu của Mariana Gurău (2014) những người khác nhau thì có góc nhìn khác nhau về tình hình tài chính của DN, vì vậy tùy vào từng trường hợp cụ thể mà sẽ có mục tiêu lựa chọn CSKT tương ứng Có ba mục đích của việc lựa chọn CSKT: Mục đích thứ nhất, CSKT nhằm mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận Các
DN sẽ có động cơ mạnh liên quan đến việc lựa chọn CSKT theo hướng giảm chi phí trong báo cáo thu nhập (báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh) bởi vì những quy định nghiêm ngặt trong ghi nhận doanh thu
Mục đích thứ hai, CSKT nhằm mục tiêu bảo toàn vốn bằng cách giảm thiểu chi phí để ổn định DN trong nguyên tắc hoạt động liên tục cùng với sự phát triển kinh doanh Các DN sẽ lựa chọn CSKT có thể san bằng lợi nhuận giữa các kỳ kế toán để đảm bảo xu hướng lợi nhuận bền vững trong dài hạn (đảm bảo hoạch định tài chính dài hạn)
Mục đích thứ ba, CSKT nhằm thực hiện tuân thủ các quy định của luật thuế Các DN sẽ lựa chọn CSKT sao cho trong toàn chu kỳ sống của DN, số thuế thu nhập (thu nhập doanh nghiệp và thu nhập cá nhân của chủ doanh nghiệp /cổ đông) phải đóng là thấp nhất
Lựa chọn chính sách kế toán là việc lựa chọn có cân nhắc nằm trong khuôn khổ của chuẩn mực kế toán về các nguyên tắc, cơ sở và phương pháp kế toán mà doan hnghiệp có thể áp dụng trong các trường hợp khác nhau nhằm phục vụ cho mục đích chủ quan của nhà quản trị
2.2 Các văn bản quy định liên quan đến chính sách kế toán hiện hành tại Việt Nam
Hiện nay tại Việt Nam cơ quan quản lý nhà nước, cụ thể là Bộ Tài Chính là
tổ chức lập quy, chịu trách nhiệm ban hành các văn bản pháp lý liên quan đến chính
Trang 28sách kế toán Hoạt động kế toán DN hiện nay được điều tiết thực hiện theo khung pháp lý bao gồm: Luật kế toán và Nghị định hướng dẫn thi hành luật, Hệ thống chuẩn mự kế toán và các thông tư hướng dẫn chuẩn mực, chế độ kế toán hướng dẫn thực hành công tác kế toán
Luật kế toán và nghị định hướng dẫn thi hành luật: là văn bản về kế toán có giá trị cao nhất được Quốc hội ban hành ngày 17/03/2003 và có hiệu lực thi hành từ 01/01/2004 Luật quy định những vấn đề chung nhất làm cơ sở để xây dựng chuẩn mực và chế độ kế toán
Tiếp đến là chuẩn mực kế toán Việt Nam: là những quy định và hướng dẫn các nguyên tắc, nội dung, phương pháp và thủ tục kế toán cơ bản nhất về chính sách
kế toán, làm cơ sở ghi chép kế toán và lập BCTC nhằm đạt được sự đánh giá trung thực, hợp lý, khách quan về thực trạng tài chính và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Hiện nay, Bộ tài chính đã ban hành 26 chuẩn mực kế toán áp dụng cho DN cùng với thông tư hướng dẫn kèm theo hướng dẫn chi tiết nội dung các chuẩn mực liên quan đến chính sách kế toán, từ đó giúp chính sách kế toán nhanh chóng đi vào thực tế công tác kế toán tại doanh nghiệp, giúp các doanh nghiệp áp dụng các chuẩn mực vào thực tiễn diễn ra hàng ngày
Chế độ kế toán là văn bản pháp lý do Bộ tài chính ban hành nhằm hướng dẫn
cụ thể về kế toán cho doanh nghiệp bao gồm quy định cụ thể về kết cấu tài khoản, chứng từ, sổ sách, báo cáo và các sơ đồ kế toán chủ yếu Hiện tại các DN hoạt động
có quy mô lớn, kinh doanh nhiều ngành nghề, hoạt động kinh doanh phức tạp thì hoạt động kế toán tuân thủ theo Thông tư 200/2014/TT – BTC, Thông tư này thay thế cho Quyết định 15/2006/QĐ – BTC Các DNNVV thì hoạt động theo Thông tư 133/2016/TT – BTC, Thông tư này thay thế cho Quyết định 48/2006/QĐ – BTC ban hành vào tháng 09/2006
Tại Việt Nam hiện nay việc thực hiện chính cách kế toán chịu sự chi phối của nhiều cấp văn bản khác nhau, các văn bản này được ban hành bởi cơ quan quản
lý nhà nước Chính vì vậy, các doanh nghiệp phải căn cứ vào các văn bản pháp lý
Trang 29hiện hành có liên quan khi lựa chọn chính sách kế toán áp dụng cho doanh nhiệp mình
2.3 Định nghĩa doanh nghiệp nhỏ và vừa
Doanh nghiệp nhỏ và vừa: là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ về vốn, lao
động và doanh thu Tuy nhiên, ở các quốc gia khác nhau tiêu chí xác định Doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng khác nhau, tùy theo mục đích nghiên cứu và giác độ tiếp cận Sự phân định quy mô doanh nghiệp và tiêu chí xác định Doanh nghiệp nhỏ và vừa chỉ mang tính chất tương đối
Ở Việt Nam, việc xác định doanh nghiệp là Doanh nghiệp nhỏ và vừa dựa trên sự kết hợp của các tiêu chí và nhưng các định mức thay đổi phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của nước ta
Theo khoản 1 điều 3 Nghị định 56/2009/NĐ – CP ngày 30/6/2009 DNNVV được định nghĩa: Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh
doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: Siêu nhỏ, vừa và nhỏ theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương với tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên) Cụ thể như sau:
Trang 30Bảng 2.1 Tiêu chí xác định Doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam
Quy mô
Khu vực
Doanh nghiệp siêu nhỏ
Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa
Số lao động Tổng
nguồn vốn
Số lao động
Tổng nguồn vốn Số lao động
I Nông, lâm
nghiệp và thuỷ
sản
10 người trở xuống
20 tỷ đồng trở xuống
Từ trên 10 người đến
20 tỷ đồng trở xuống
Từ trên 10 người đến
300 người
III Thương
mại và dịch vụ
10 người trở xuống
10 tỷ đồng trở xuống
Từ trên 10 người đến
Các hợp tác xã đăng ký hoạt động theo luật hợp tác xã
Các hộ kinh doanh cá thể đăng ký hoạt động theo Nghị định số
88/2006/NĐ-CP ngày 29 tháng 8 năm 2006 của Chính phủ
Các Doanh nghiệp nhỏ và vừa có những đặc trưng riêng, vừa có những ưu thế rất quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế xã - hội nói chung và chiến
Trang 31lược công nghiệp hóa, song đồng thời cũng bị hạn chế mặt hoạt động kinh doanh và cạnh tranh với các loại hình lớn và các tập đoàn kinh tế
Dưới đây là một số định nghĩa doanh nghiệp nhỏ và vừa tại một số Quốc gia, khu vực kinh tế ngoài vùng lãnh thổ Việt Nam mà tác giả có tìm hiểu:
(1) Tại Úc: Doanh nghiệp nhỏ và vừa là DN có dưới 200 nhân viên
(2) Tại Ai Cập: Hầu hết các Doanh nghiệp ở Ai Cập đều là quy mô nhỏ, DN có hơn 50 lao động chiếm tỉ lệ 0.4% tổng số DN trên toàn quốc
(3) Tại Anh: DN được xác định quy mô vừa và nhỏ nếu nó đáp ứng hai trong số
3 tiêu chí: có doanh thu ít hơn 25 triệu bảng Anh, có ít hơn 250 nhân viên, có tài sản gộp ít hơn 12.5 triệu bảng Anh
(4) Tại Liên Minh Châu Âu
Theo Ủy Ban Châu Âu quyết định Doanh nghiệp nhỏ và vừa là DN có số lượng nhân viên nhỏ hơn 250 người, doanh thu nhỏ hơn 50 triệu Euro, tổng nguồn vốn (tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của DN) nhỏ hơn 43 triệu euro, nhưng định nghĩa về DNNVV có thể giới hạn hẹp hơn trong từng nước thành viên
Như vậy, định nghĩa Doanh nghiệp nhỏ và vừa mà tác giả xác định gần như tương đồng với các quốc gia tác giả nghiên cứu mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến
sự lựa chọn CSKT của Doanh nghiệp nhỏ và vừa, các kết quả nghiên cứu ở các quốc gia khác có thể áp dụng ở Việt Nam mà không bị hạn chế về sự khác biệt về quy mô DN
2.4 Đặc điểm ngành sản xuất dệt may ảnh hưởng đến việc lựa chọn CSKT
Ngành công nghiệp dệt may là một ngành có truyền thống từ lâu đời ở Việt Nam Đây là ngành quan trọng trong nền kinh tế của nước ta vì nó phục vụ nhu cầu thiết yếu của con người, là ngành giải quyết được nhiều việc làm cho xã hội đặc biệt
nó là ngành có thế mạnh trong xuất khẩu, tạo điều kiện cho kinh tế phát triển, góp phần cân bằng cán cân xuất nhập khẩu của đất nước, đồng thời nghành dệt may là một trong những ngành quang trọng trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế Đây
Trang 32là ngành xuất khẩu chủ lực, chiếm tỷ trọng cao trong tổng kim ngạch xuất khẩu của
cả nước, chỉ đứng sau ngành dầu khí
Tại Việt Nam, hiện cả nước có khoảng 6.000 DN dệt may; thu hút hơn 2,5 triệu lao động; chiếm khoảng 25% lao động khu vực kinh tế công nghiệp Việt Nam Theo số liệu của VITAS, mỗi tỷ USD xuất khẩu hàng dệt may có thể tạo ra việc làm cho 150 – 200 ngàn lao động, trong đó có 100 ngàn lao động trong doanh nghiệp dệt may và còn lại là từ các DN hỗ trợ khác Phần lớn các DN dệt may đều là tư nhân chiếm khoảng 84% và tập trung ở Đông Nam Bộ 58% …
Hiện tại Việt Nam nằm trong tốp 5 quốc gia xuất khẩu dệt may lớn nhất thế giới Thương mại dệt may toàn cầu năm 2014 đạt 1.116,7 tỷ USD, trong đó xuất khẩu đạt 589 tỷ USD Trung Quốc, Ấn Độ, Thổ Nhỹ Kỳ, Việt Nam là 4 quốc gia xuất khẩu dệt may lớn nhất thế giới, chiếm 50,3% tổng kim ngạch xuất khẩu dệt may toàn cầu
Các doanh nghiệp trong ngành phần lớn có quy mô nhỏ và vừa: xét theo quy
mô lao động, doanh nghiệp có quy mô dưới 50 lao động chiếm 65,4%, quy mô từ
50 lao động đến dưới 300 lao động chiếm 21,2%, quy mô từ 300 lao động đến dưới
500 lao động chiếm 4%, quy mô từ 500 lao động trở lên chiếm 9,4% Xét theo quy
mô vốn, có tới 88,1% số doanh nghiệp có quy mô dưới 50 tỷ đồng, số doanh nghiệp
có quy mô vốn trên 50 tỷ đồng chiếm tỷ trọng thấp
Hiện tại, TP Hồ Chí Minh được xem là khu vực có những đóng góp đáng kể vào quá trình phát triển của ngành dệt may ở Việt Nam, chiếm khoảng 10 – 20% tổng giá trị xuất khẩu công nghiệp của cả nước và có nhiều doanh nghiệp đạt kim ngạch xuất khẩu rất cao và khẳng định thương hiệu của mình trên thị trường quốc
tế Riêng so với trong vùng và cả nước thì tỷ trọng ngành dệt may tại TP HCM chiếm một tỷ trọng khá lớn
Trang 33Bảng 2.2 Tỷ trọng của ngành dệt may TP HCM trong vùng và cả nước
Nguồn: Lê Thị Kiều Oanh và Hồ Thị Minh Hương (2014)
Theo tác giả tìm hiểu, do các doanh nghiệp sản xuất ngành dệt may trên địa bàn TP.HCM đa phần có quy mô nhỏ và vừa nên số lượng nhân viên kế toán tại các
DN này khoảng từ 1 tới dưới 10 nhân viên tùy theo quy mô của từng DN Mỗi nhân viên có thể thực hiện toàn bộ hoặc từng phần hành kế toán tùy thuộc vào quy mô của DN Hiện nay, các DN sản xuất ngành dệt may có quy mô nhỏ và vừa trên địa bàn TP.HCM đa phần tổ chức công tác kế toán theo mô hình tập trung
Việc lựa chọn chính sách kế toán của các DN sản xuất ngành dệt may có quy
mô nhỏ và vừa trên địa bàn TP HCM tương đối đáp ứng được mục tiêu của nhà quản trị và tuân thủ yêu cầu lập và nộp báo cáo tài chính định kỳ Tuy nhiên, ở các
DN này khái niệm cũng như nhận biết về CSKT còn rất mới và tồn tại nhiều hạn chế, kế toán chỉ thực hiện công tác của mình qua những nguyên tắc cơ bản như tính giá tài sản, ghi nhận doanh thu, tập hợp chi phí, tính giá thành hay xác định lợi nhuận điều này dẫn đến giảm thiểu vai trò của việc lựa chọn CSKT trong các DN này Việc lựa chọn CSKT chỉ thực sự được chú ý đến khi các DN vào thời điểm cuối năm, lúc mà BCTC cần được làm “đẹp” theo yêu cầu của nhà quản lý để giảm nghĩa vụ thuế hay cung cấp BCTC theo yêu cầu của bên thứ 3 khác cơ quan thuế để
Trang 34đảm bảo hợp đồng kinh doanh cũng như hợp đồng vay hay hợp đồng tín dụng Trong trường hợp này số liệu trên BCTC sẽ được điều chỉnh để chỉnh lợi nhuận kinh doanh trong kỳ thông qua điều chỉnh về phân bổ chi phí, trích lập dự phòng, … Hiện nay đa phần các DN tại Việt Nam đang tiến hành chạy song song hai hệ thống
sổ sách kế toán:một phục vụ cho nội bộ không tuân thủ theo nguyên tắc kế toán nào
mà đa phần chỉ ghi nhận đúng doanh thu thu được và chi phí bỏ ra của DN trong kỳ
kế toán, một phục vụ cho cơ quan thuế thường tuân theo quy tắc mà luật thuế đặt ra nhưng không phản ánh được tình trạng thực tế hoạt động trong kỳ của DN, thậm chí tồn tại hệ thống sổ thứ 3 phục vụ cho các đối tác bên ngoài khác cơ quan thuế), các
DN sản xuất ngành dệt may cũng không là ngoại lệ trong trường hợp này
Đặc biệt do nhóm DN nghiên cứu là DN có quy mô nhỏ và vừa nên để tiết kiệm chi phí kế toán, chủ DN thường chỉ sử dụng nhân viên kế toán có trình độ trung bình hoặc thấp, thậm chí một DN chỉ có một nhân viên kế toán và nhân viên này thường kiêm nhiệm luôn các chức vụ khác như văn thư hay nhân viên kinh doanh … TP HCM là thành phố phát triển mạnh về các ngành cung ứng dịch vụ bao gồm cả dịch vụ ké toán, chính vì vậy các DN bao gồm các DN sản xuất ngành dệt may thường có xu hướng sử dụng dịch vụ kế toán thuê ngoài vì vậy đa số các
DN này đều cho ra BCTC theo phương thức lựa chọn CSKT đơn giản, quen thuộc
và dễ áp dụng, điều này ương ứng với việc CSKT của các DN này không phản ánh được tính đa dạng của các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong kỳ làm ảnh hưởng đến
số liệu kế toán và ảnh hưởng đến quyết định của người sử dụng BCTC
Tóm lại, do nhiều nguyên nhân như: quy mô của DN, trình độ kê toán viên, tình hình kinh doanh của DN, … mà việc áp dụng CSKT tại các DN sản xuất ngành dệt may có quy mô nhỏ và vừa trên địa bàn TP.HCM còn nhiều hạn chế và bất cập
Trang 352.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn chính sách kế toán
Bảng 2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn chính sách kế toán
1 Thông tin
Là cơ sở khoa học về CSKT, sự thống nhất giữa sổ sách kế toán và hồ sơ tài chính của
DN, quy định yêu cầu thông tin riêng biệt của cổ đông và nhà quản lý Nhân tố này bao gồm các yêu cầu của người sử dụng thông tin trên BCTC
Szilveszter Fekete và các cộng sự (2010), Nguyễn Hồng Hà (2015)
2 Chi phí
Là cách đánh giá, ghi nhận chi phí khi DN lựa chọn áp dụng CSKT (tối thiểu hóa chi phí, hợp lý hóa chi phí, …), mặt khác lại là chi phí DN bỏ ra khi thay đổi CSKT mà
DN áp dụng
Szilveszter Fekete và các cộng sự (2010), Nguyễn Hồng Hà (2015)
Watts và Zimmerman (1990), Cloyd và cộng
sự (1996), Christos Tzovas (2006), Colin
R Dey và cộng sự (2007), Szilveszter Fekete và các cộng sự (2010), Phạm Thị Bích Vân (2012), Nguyễn Thị Kim Oanh (2012), Nguyễn Thị Phương Hồng và Nguyễn Thị Kim Oanh (2014), Nguyễn Hồng Hà (2015), Nguyễn Thị Cẩm Nhung (2015), Bùi Thị Thu Lan (2016)
có xu hướng tạo ra hình ảnh DN tốt đẹp cho các cổ đông hay chủ sở hữu hiện tại thông qua BCTC dựa vào ciệc lựa chọn CSKT
Szilveszter Fekete và các cộng sự (2010), Nguyễn Hồng Hà (2015)
Trang 36sự tin cậy (như làm tăng lợi nhuận, …) cho các đối tượng sử dụng thông tin trên BCTC
Szilveszter Fekete và các cộng sự (2010), Nguyễn Hồng Hà (2015)
Szilveszter Fekete và các cộng sự (2010), Nguyễn Hồng Hà (2015)
2.6 Lý thuyết nền
Để giải thích cho các nhân tố được lựa chọn nghiên cứu trong phạm vi luận văn, tác giả đã sử dụng lý thuyết ủy nhiệm (lý thuyết người đại diện) được phát triển bởi Jensen và Meckling (1976) Lý thuyết này nghiên cứu các mối quan hệ mâu thuẫn đại diện bên trong và mâu thuẫn đại diện bên ngoài DN Mâu thuẫn bên trong tồn tại ở các DN mà chủ sở hữu DN không phải là nhà quản lý Người chủ sở hữu mong muốn vốn đầu tư bỏ ra được sử dụng tốt nhất và có hiệu quả nhưng ngược lại nhà quản lý dung quyền điều hành của mình để đạt được những mục đích riêng có lợi cho bản thân mà lợi ích đó cỏ thể mâu thuẫn với lợi ích của chủ sở hữu
Trong mâu thuẫn này, BCTC là một công cụ để đánh giá kết quả hoạt động của DN, vì vậy việc lựa chọn CSKT để lập BCTC bị ảnh hưởng bởi các nhân tố như quy định và yêu cầu thông tin riêng biệt của nhà quản lý (do nhà quản lý yêu cầu để hướng đến mục tiêu mà họ mong muốn ví dụ như đạt được chính sách khen thưởng của DN hay kết quả điều hành của mình được công nhận) hoặc quy định và yêu cầu thông tin riêng biệt của cổ đông, chủ sở hữu (do cổ đông, chủ sở hữu yêu cầu để
Trang 37hướng đến mục tiêu mà họ mong muốn trong từng thời kỳ), những thông tin cung cấp cho cổ đông, chủ sở hữu phải dựa trên những CSKT nhất định, mục đích tạo ra hình ảnh tốt đẹp của DN cho các cổ đông hiện tại và cả nhân tố lợi nhuận phân chia cho cổ đông, chủ sở hữu và nhà quản lý tương ứng với kết quả hoạt động của DN
Mâu thuẫn bên ngoài là mâu thuẫn giữa bản thân DN, chủ sở hữu, cổ đông, nhà quản lý với các bên liên quan khác như nhà đầu tư, cổ đông tiềm năng, chủ nợ, ngân hàng và các tổ chức tín dụng, cơ quan công quyền… bắt nguồn từ việc bất cân xứng về thông tin DN, để nắm rõ các mâu thuẫn bên ngoài, tác giả phân chia các bên liên quan thành từng nhóm nhỏ Nhóm đầu tiên là nhà đầu tư, cổ đông tiềm năng, chủ nợ, ngân hàng và các tổ chức tín dụng, theo Myers và Majluf (1984) việc bất cân xứng thông tin ảnh hưởng lên quyết định đầu tư và tài trợ của DN Người chủ sở hữu, nhà quản lý mong muốn có thể tiếp cận được nguồn vốn bên ngoài dễ dàng thuận lợi thì phải sáng tạo nên hình ảnh tốt đẹp của DN cho các cổ đông tiềm năng thông qua BCTC có được sự chấp thuận, đồng ý của kiểm toán viên để chứng minh cho nhà đầu tư, cổ đông tiềm năng, chủ nợ, ngân hàng và các tổ chức tín dụng thấy tính khả thi, tính hiệu quả, khả năng hoàn vốn và lãi đúng hạn của DN Trong thực tế khả năng tài chính của DN không phải lúc nào cũng tốt trong khi các hợp đồng tín dụng thường có các điều khoản hạn chế như kiểm soát việc chia cổ tức, kiểm soát hoạt động đầu tư, yêu cầu thông tin để giám sát tình hình hoạt động DN… người quản lý sẽ lựa chọn CSKT phản ánh tốt nhất những đặc điểm nguồn lực của DN (yếu tố sản xuất) để giảm thiểu các xung đột về lợi ích với các bên có liên quan, để tăng cường hiệu quả trong quan hệ với nhà đầu tư, nhưng về phía bên cung ứng vốn để đảm bảo phản ánh tính trung thực và hợp lý tình hình hoạt động của DN thì DN phải tiến hành xem xét lựa chọn CSKT trên cơ sở khoa học hiện nay
về CSKT hoặc thông tin về CSKT của công ty đối thủ (hoặc công ty tương đồng) với DN Nhóm thứ hai là cơ quan công quyền như cơ quan thuế Ở Phương diện CSKT, người bên trong DN thường hiểu rõ ràng việc lựa chọn CSKT và ảnh hưởng của CSKT đến kết quả hoạt động kinh doanh của DN, việc sử dụng linh hoạt các CSKT giúp cho DN tận dụng các chính sách ưu đãi về thuế, các chương trình hỗ trợ
Trang 38kinh tế khó khăn… do đó tối thiểu hóa số thuế phải nộp cho nhà nước, tối thiểu thuế TNDN và các loại thuế khác (ngoài thuế TNDN), chi phí tài chính và các khoản đóng góp liên quan đến thu nhập của cổ đông (chủ sở hữu) có ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT Bất cân xứng thông tin trong trường hợp này có thể gây ra những ảnh hưởng tiêu cực như gây thất thoát ngân sách nhà nước, do đó, lựa chọn CSKT của
DN cũng phải được sự chấp thuận, đồng ý của thanh tra thuế
Tóm tắt chương 2
Nội dung chương này tác giả trình bày khái niệm về chính sách kế toán, vai trò, mục tiêu của chính sách kế toán trong việc lập BCTC, và các văn bản liên quan đến chính sách kế toán hiện hành ở Việt Nam Ngoài ra tác giả nêu lên lý thuyết nền
là lsy thuyết ủy nhiệm (lý thuyết người đại diện), và trình bày về đặc điểm của nhành sản xuất dệt may ảnh hưởng đến việc lựa chọn chính sách kế toán Nội dung tiếp theo tác giả sẽ trình bày và kiểm định các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn chính sách của các doanh nghiệp sản xuất ngành dệt may có quy mô nhỏ và vừa trên
địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 39CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong chương này tác giả trình bày phương pháp sẽ sử dụng trong toàn bộ nghiên cứu với mục đích thể hiện tính chất khoa học, độ tin cậy và chất lượng của nghiên cứu Qua đó người đọc có thể hình dung được công việc của tác giả từ việc xây dựng thang đo đến chọn mẫu, xác định cỡ mẫu và thu thập dữ liệu nghiên cứu
3.1 Quy trình nghiên cứu
Quy trình nghiên cứu Các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn chính sách kế toán tại các doanh nghiệp Dệt may có quy mô nhỏ và vừa được thể hiện ở các bước sau:
Bước 1: Xây dựng thang đo
Các thang đo (thang đo nháp) được xây dựng trên cơ sở hệ thống hóa lý thuyết, nhận định bước đầu các nhân tố tác động đến sự lựa chọn chính sách kế toán nói chung
Bước 2: Nghiên cứu khám phá
Thiết kế bảng câu hỏi phỏng vấn và điều tra thử: Thang đo nháp sau khi điều chỉnh, bổ sung được dùng để thiết kế thành bảng câu hỏi Bảng câu hỏi được thiết
kế xong sẽ được sử dụng để phỏng vấn thử với cỡ mẫu nhỏ (N=20) nhằm kiểm tra mức độ rõ ràng của bảng câu hỏi và thông tin thu về
Bước 3: Nghiên cứu định lượng chính thức
Nghiên cứu này được thực hiện để kiểm định lại mô hình các nhân tố tác động đến sự lựa chọn chính sách kế toán của các doanh nghiệp ngành Dệt may có quy mô nhỏ và vừa trên địa bàn TP Hồ Chí Minh Nghiên cứu chính thức được thực hiện bằng phương pháp nghiên cứu định lượng với kỹ thuật phỏng vấn trực tiếp khách hàng thông qua bảng câu hỏi để thu thập thông tin
Trang 40Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến Sự lựa chọn
chính sách kế toán
3.2 Phương pháp nghiên cứu
Tác giả sử dụng phần mềm SPSS 19 để thống kê và phân tích dữ liệu khảo sát thông qua các công cụ như thống kê mô tả mẫu nghiên cứu, kiểm định độ tin cậy của thang đo bằng hệ số Cronbach’s alpha, phân tích nhân tố khám phá (EFA), phân tích tương quan, phân tích hồi quy, Anova Cụ thể:
Xây dựng
mô hình nghiên cứu
Xây dựng thang đo nháp
Nghiên cứu
sơ bộ: N=20 Điều chỉnh
Thang đo chính thức
Trình bày kết quả
Thảo luận nhóm Phỏng vấn thử Loại các biến có hệ số tương quan biến
tổng nhỏKiểm tra hệ số Cronbach Anpha
Loại các biến có trọng số EFA nhỏ Kiểm tra yếu tố trích được Kiểm tra phương sai trích được