Trách nhiệm bồi thường thiệt hại nói chung, bồi thường thiệt hại trong một số trường hợp cụ thể như: Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra, Bồi thường thiệt hại do oan sa
Trang 1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
*****
LÂM VĂN ĐOÀN
TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG:
PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN XÉT XỬ TẠI CÀ MAU
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2017
Trang 2
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
*****
LÂM VĂN ĐOÀN
TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG:
PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN XÉT XỬ TẠI CÀ MAU
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số: 60380107
Người hướng dẫn khoa học:
TS ĐOÀN THỊ PHƯƠNG DIỆP
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2017
Trang 3
LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên Lâm Văn Đoàn mã số học viên: 7701250441A là học viên lớp
LOP-K25-MBL-CaMau; Khóa K25-2 chuyên ngành Luật kinh tế, Khoa Luật, Trường Đại học
Kinh tế TP Hồ Chí Minh, là tác giả của Luận văn thạc sĩ luật học với đề tài “Trách
nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng: Pháp luật và thực tiễn xét xử tại Cà Mau" (Sau đây gọi tắt là “Luận văn”)
Tôi xin cam đoan tất cả các nội dung được trình bày trong Luận văn này là kết quả nghiên cứu độc lập của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn của người hướng dẫn khoa học Trong Luận văn có sử dụng, trích dẫn một số ý kiến, quan điểm khoa học của một số tác giả Các thông tin này đều được trích dẫn nguồn cụ thể, chính xác và có thể kiểm chứng Các số liệu, thông tin được sử dụng trong Luận văn là hoàn toàn khách quan và trung thực
Học viên thực hiện
Lâm Văn Đoàn
Trang 4
MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
LỜI NÓI ĐẦU 3
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG 7
1.1 Khái niệm và đặc điểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng 7
1.1.1 Khái niệm 7
1.1.2 Đặc điểm của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng 8
1.2 Điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng 10
1.3 Nguyên tắc và năng lực bồi thường thiệt hại 14
1.3.1 Nguyên tắc bồi thường thiệt hại 14
1.3.2 Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại 15
1 4 Xác định thiệt hại 17
1.5 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong một số quốc gia 26
1.6 Sơ lược về trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng trong pháp luật Dân sự Việt Nam 29
Tiểu kết luận Chương 1 33
Chương 2: TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG NGOÀI HỢP ĐỒNG TRONG MỘT SỐ TRƯỜNG HỢP CỤ THỂ 34
2.1 Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra 34
2.1.1 Khái niệm nguồn nguy hiểm cao độ 34
2.1.2 Chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường 37
2.1.2.1 Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ 39
2.1.2.2 Người được chủ sở hữu giao chiếm hữu sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ (Điều 187 BLDS năm 2015 ) 40
2.1.3 Về trách nhiệm liên đới trong bồi thường thiệt hại 41
2.1.4 Thực tiễn áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra và kiến nghị 43
Trang 5
2.2 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với oan sai trong tố tụng 46
2.2.1 Khái niệm về bồi thường oan sai trong tố tụng 47
2.2.2 Phân định trách nhiệm bồi thường oan sai giữa các cơ quan tố tụng 48
2.2.3 Thực tiễn áp dụng bồi thường do oan sai và các kiến nghị thực hiện 51
2.3 Bồi thường thiệt hại do vi phạm quyền lợi người tiêu dùng 59
2.3.1 Xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm quyền lợi người tiêu dùng 60
2.3.2 Các chủ thể có liên quan trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm quyền lợi người tiêu dùng 62
2.3.3 Cơ chế yêu cầu bồi thường thiệt hại do vi phạm quyền lợi người tiêu dùng 64
2.3.4 Thực tiễn áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm quyền lợi người tiêu dùng và kiến nghị 65
Tiểu kết luận Chương 2 67
KẾT LUẬN 68 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT
Trang 7Trách nhiệm bồi thường thiệt hại nói chung, bồi thường thiệt hại trong một
số trường hợp cụ thể như: Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra, Bồi thường thiệt hại do oan sai, Bồi thường thiệt hại do vi phạm quyền lợi người tiêu dùng nói riêng là một trong những loại trách nhiệm gây nhiều tranh cãi về căn
cứ phát sinh, mức bồi thường ; hơn nữa qui định của pháp luật về vấn đề này chủ yếu dừng lại ở các qui định mang tính "định tính" mà không "định lượng" nên gây khó khăn rất nhiều cho các cán bộ áp dụng pháp luật Bên cạnh đó, án kiện về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra, Bồi thường thiệt hại
do oan sai, Bồi thường thiệt hại do vi phạm quyền lợi người tiêu dùng chiếm tỉ trọng tương đối lớn trong các án kiện về bồi thường; sự đối lập về tâm lý của người gây thiệt hại với người bị thiệt hại hoặc gia đình của người bị thiệt hại làm cho các án kiện về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trên bị kháng cáo, khiếu nại từ phía đương
sự gia tăng
Trước sự phức tạp và đa dạng của loại trách nhiệm dân sự này, tác giả chọn
nghiên cứu đề tài “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng: Pháp luật
và thực tiễn xét xử tại Cà Mau" để thực hiện trong khuôn khổ luận văn tốt nghiệp
cao học chuyên ngành Luật Kinh tế
2 Giả thuyết, câu hỏi nghiên cứu
2.1 Giả thuyết nghiên cứu
Việc nghiên cứu tìm hiểu, phân tích, áp dụng pháp luật về BTTH ngoài hợp đồng trong một số trường hợp cụ thể, có sự so sánh với pháp luật của một số
Trang 84
nước, để qua đó, có sự đánh giá về pháp luật Việt Nam nhằm đưa ra đề xuất, kiến nghị cho phù hợp tình hình thực tế Bên cạnh đó, việc đánh giá thực trạng để đưa ra các giải pháp thích hợp cho việc áp dụng pháp luật, qua đó các ngành, các cấp có thể nghiên cứu, điều chỉnh cơ chế, chính sách, vận dụng phù hợp nhằm góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng một cách chính xác, thể hiện tính nghiêm minh, hiệu quả tức thời của pháp luật
Giả thuyết nghiên cứu được đặt ra trong việc thực hiện đề tài được xác định tuỳ thuộc vào từng loại bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Cụ thể như sau:
Đối với trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra: nguồn nguy hiểm cao độ hiện tại chưa được quy định cụ thể trong luật dân sự cũng như các luật khác có liên quan
Tương tự như vậy, đối với trách nhiệm bồi thường thiệt hại do oan sai, giả thuyết đặt ra là đã có định nghĩa như thế nào là oan sai trong các quy định của pháp luật hiện hành và các chủ thể BTTH có liên quan khi có tranh chấp phát sinh do vi phạm quyền lợi người tiêu dùng chịu trách nhiệm liên đới ra sao, cần làm rõ
2.2 Câu hỏi nghiên cứu
Các câu hỏi nghiên cứu được thiết kế trên cơ sở các Chương của luận văn, mỗi Chương giải quyết một câu hỏi nghiên cứu đặt ra, cụ thể như sau:
- Việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng dựa trên nền tảng những vấn đề lý luận nào? Những điều kiện cụ thể nào?
- Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được xác định trong các trường hợp cụ thể sau như thế nào?
+ Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra
Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong tư pháp quốc tế hiện đại - PGS.TS Nguyễn Bá Diến; Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị Hương về
“Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người của pháp nhân gây ra”; … Nhìn chung,
Trang 95
trong các công trình khoa học kể trên, vấn đề bồi thường thiệt hại đã được nghiên cứu tương đối cụ thể Tuy nhiên, các tác giả đã nghiên cứu vấn đề theo một số khía cạnh khác nhau, để đi sâu nghiên cứu về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong một số trường hợp cụ thể một cách toàn diện hơn theo Bộ luật dân sự
2015 nên tác giả đã lựa chọn vấn đề này làm đề tài luận văn của mình
4 Mục đích và phạm vi nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Tập trung nghiên cứu về trách nhiệm bồi thường ngoài hợp đồng trong một
số trường hợp cụ thể từ đó đưa ra các kiến nghị về các quy định của pháp luật đối với các chế định về việc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, cũng như các biện pháp để giải quyết các vụ án dân sự liên quan đến vấn đề này
từ thực trạng trên, tác giả chọn nghiên cứu đề tài “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng: Pháp luật và thực tiễn xét xử tại Cà Mau” Với phạm vi nghiên cứu trong lĩnh vực này tương đối rộng, do vậy tác giả giới hạn trong ba trường hợp bồi thường thiệt hại sau đây: Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra, Bồi thường thiệt hại do oan sai, Bồi thường thiệt hại do vi phạm quyền lợi người tiêu dùng Việc giới hạn phạm vi nghiên cứu này giúp tác giả có điều kiện tập trung hơn vào các trường hợp được xem là khá đặc thù hiện nay cũng như trên địa bàn tỉnh Cà Mau
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu như phương pháp điều tra, khảo sát; phương pháp phân tích, tổng hợp;
Trang 106
phương pháp so sánh đối chiếu, phương pháp quy nạp, diễn dịch….để đi sâu nghiên cứu một cách đúng đắng trên cơ sở lý luận và thực tiễn nhằm giải quyết các tranh chấp trong quan hệpháp luật về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
6 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài
Rất nhiều các đề tài nghiên cứu và công trình khoa học đề cập đến vấn đề Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói chung, nhưng chưa đi sâu vào nghiên cứu mang tính chất toàn diện về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong một số trường hợp cụ thể, vì vậy tác giả nghiên cứu Luận văn này có những đóng góp mới như sau:
- Làm sáng tỏ về mặt lý luận đối với trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong một số trường hợp cụ thể, đồng thời kiến nghị bổ sung vần đề áp dụng pháp luật phù hợp với tình hình thực tiễn;
- Làm rõ các vấn đề về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong một số trường hợp cụ thể theo pháp luật Việt Nam;
- Chỉ ra những mặt tồn tại, hạn chế, đề ra những kiến nghị đối với hệ thống pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của nước ta một cách
rõ ràng, cụ thể, dễ nắm bắt và dễ hiểu
Trang 117
NỘI DUNG Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG
1.1 Khái niệm và đặc điểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
1.1.1 Khái niệm
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử phát triển của pháp luật thế giới cũng như pháp luật Việt Nam Kế thừa những quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong Bộ luật Hồng Đức, Bộ luật Gia Long, pháp luật dân sự ngày nay đã có những quy định khá chi tiết về vấn đề này, cụ thể tại Điều 275 BLDS 2015, một trong những căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ dân sự là sự kiện “gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật” và tương ứng với căn cứ này là các quy định tại Chương XX BLDS 2015 về “Trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng” Tuy nhiên, trong cả hai phần này đều không nêu rõ khái niệm BTTH mà chỉ nêu lên căn
cứ phát sinh trách nhiệm, nguyên tắc bồi thường, năng lực chịu trách nhiệm,…
Tiếp cận dưới góc độ khoa học pháp lý, ta có thể hiểu trách nhiệm BTTH là
một loại trách nhiệm dân sự mà theo đó thì khi một người vi phạm nghĩa vụ pháp lí của mình, gây tổn hại cho người khác thì phải bồi thường những tổn thất mà mình gây ra 1
Trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng là một loại TNDS Khái niệm về trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng cũng chỉ được xây dựng dưới dạng quan điểm mà chưa được ghi nhận chính thức trong bất cứ một văn bản pháp luật nào Theo đó,
trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng được hiểu là một loại trách nhiệm dân sự theo
đó, người có hành vi trái pháp luật dân sự phải bồi thường cho người bị thiệt hại
Trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng phát sinh khi chủ thể luật dân sự có hành
vi vi phạm nói chung như xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm,
uy tín, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp của người khác Ngoài ra, trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng còn phát sinh ngay cả khi hai bên có quan hệ hợp đồng trong trường hợp gây thiệt hại về sức khỏe, tính mạng hoặc các bên có quan hệ hợp đồng nhưng thiệt hại xảy ra không liên quan đến việc thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng
1 ThS Nguyễn Minh Oanh – Khoa pháp luật dân sự, Đại học Luật Hà Nội, Khái niệm chung về trách nhiệm
bồi thường thiệt hại và phân loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại
Trang 128
Là một loại trách nhiệm dân sự nên ngoài những đặc điểm của trách nhiệm dân sự nói chung, trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng còn có những đặc điểm riêng như:
- Trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng chỉ đặt ra khi thỏa mãn những điều kiện nhất định do pháp luật quy định, giữa các bên không có quan hệ hợp đồng, thiệt hại xảy ra không liên quan đến hợp đồng
- Thiệt hại xảy ra rất đa dạng
- Trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng là trách nhiệm tài sản, hậu quả pháp lí mà người gây thiệt hại phải gánh chịu là hậu quả bất lợi về tài sản
- Người gây thiệt hại phải bồi thường và trách nhiệm này còn đặt ra ngay cả trong trường hợp người gây thiệt hại không có lỗi
Nếu trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo hợp đồng bao giờ cũng được phát sinh trên cơ sở một hợp đồng có trước thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một loại trách nhiệm pháp lý do pháp luật quy định đối với người có hành vi trái pháp luật xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác Hiện nay, pháp luật Việt Nam quy định chủ yếu về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng đối với hành vi xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản của các cá nhân và tổ chức khác Nghĩa là trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng phát sinh trong cả hai trường hợp, giữa người gây thiệt hại và người bị thiệt hại không có hợp đồng hoặc có hợp đồng với nhau nhưng thiệt hại gây ra hoàn toàn không phát sinh từ việc thực hiện hợp đồng
1.1.2 Đặc điểm của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cũng là một loại trách nhiệm BTTH, trên cơ sở này, trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng có những đặc điểm cơ bản sau đây:
- Do cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng Trách nhiệm BTTH là một loại trách nhiệm pháp lý trong số các lọai trách nhiệm pháp lý (dân sự, hình sự, hành chính, kỷ luật) Vì vậy, trách nhiệm BTTH do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền
áp dụng đối với người có hành vi vi phạm Tuy nhiên, với tư cách là một loại trách nhiệm dân sự, các bên có thể thỏa thuận áp dụng, chỉ trong trường hợp không thỏa thuận được thì mới cần đến sự can thiệp của cơ quan có thẩm quyền (mà cụ thể là tòa án)
- Áp dụng đối với người có hành vi vi phạm pháp luật hành vi vi phạm pháp luật được xác định là hành vi vi phạm các quy định của pháp luật mà trong trường hợp cụ thể này là vi phạm quyền được đảm bảo an toàn về tài sản, tính
Trang 13vi phạm
- Được đảm bảo thực hiện bằng cưỡng chế nhà nước Trách nhiệm BTTH như đã phân tích trên đầu tiên có thể được xác định thông qua thoả thuận của các bên, trong trường hợp thoả thuận không đạt được thì việc khởi kiện ra toà án là con đường duy nhất để xác định trách nhiệm và cưỡng chế thực hiện nghĩa vụ này
Như vậy, về cơ sở pháp lý thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại là một loại trách nhiệm Dân sự và chịu sự điều chỉnh của pháp luật Dân sự Khi một người gây
ra tổn thất cho người khác thì họ phải bồi thường thiệt hại và bồi thường thiệt hại chính là một quan hệ tài sản do Luật Dân sự và các văn bản hướng dẫn thi hành BLDS điều chỉnh
Vì là một loại trách nhiệm pháp lý nên để hình thành nên nó thì cần có các quy định cụ thể về điều kiện phát sinh Như vậy, trách nhiệm bồi thường thiệt hại chỉ đặt ra khi thoả mãn các điều kiện nhất định đó là: Có thiệt hại xảy ra, có hành vi
vi phạm nghĩa vụ dân sự (nghĩa vụ theo hợp đồng hoặc ngoài hợp đồng), có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi gây thiệt hại với thiệt hại xảy ra, có lỗi của người gây thiệt hại (không phải là điều kiện bắt buộc) Đây là những điều kiện chung nhất để xác định trách nhiệm của một người phải bồi thường những thiệt hại do mình gây ra Tuy nhiên, trong một số trường hợp đặc biệt trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể phát sinh khi không cần có đủ các điều kiện trên, điển hình là các trường hợp bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra, trường hợp này không cần có yếu tố lỗi
Xét về về hậu quả thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại luôn mang đến một hậu quả bất lợi về tài sản cho người gây thiệt hại Bởi lẽ, khi một người gây ra tổn thất cho người khác thì tổn thất đó phải tính toán được bằng tiền hoặc phải được pháp luật quy định là một đại lượng vật chất nhất định nếu không sẽ không thể thực hiện được việc bồi thường Do đó, những thiệt hại về tinh thần mặc dù không thể tính toán được nhưng cũng sẽ được xác định theo quy định của pháp luật để bù đắp lại tổn thất cho người bị thiệt hại Và cũng chính vì vậy, thực hiện trách nhiệm bồi thường sẽ giúp khôi phục lại thiệt hại cho người bị thiệt hại
Về chủ thể bị áp dụng trách nhiệm, ngoài người trực tiếp có hành vi gây thiệt hại thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại còn được áp dụng cả đối với những
Trang 1410
chủ thể khác đó là cha, mẹ của người chưa thành niên, người giám hộ của người được giám hộ, pháp nhân đối với người của pháp nhân gây ra thiệt hại, trường học, bệnh viện trong trường hợp người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân
sự gây thiệt hại hoặc tổ chức khác như cơ sở dạy nghề
1.2 Điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là những yếu tố, những cơ sở để xác định trách nhiệm bồi thường, người phải bồi thường, người được bồi thường và mức độ bồi thường Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng - một trong những chế định pháp luật có ý nghĩa quan trọng trong đời sống dân sự để đảm bảo lợi ích hợp pháp của các chủ thể khi có thiệt hại xảy ra Đây chính là cơ sở pháp lý quan trọng để các cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp về BTTH ngoài hợp đồng cũng như ngăn chặn các hành vi trái pháp luật gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức
Theo quy định tại Điều 275 BLDS 2015, một trong những căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ dân sự là sự kiện “gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật” và tương ứng với căn cứ này là các quy định tại Chương XX, Phần thứ ba BLDS 2015 về “Trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng” Trong trường hợp này, trách nhiệm được hiểu là bổn phận, nghĩa vụ của người gây thiệt hại phải bồi thường cho người bị thiệt hại Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng làm phát sinh nghĩa vụ bồi thường và từ nghĩa vụ phải BTTH tạo ra quan hệ nghĩa vụ tương ứng
Căn cứ phát sinh trách nhiệm BTTH là cơ sở pháp lý mà dựa vào đó, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể xác định trách nhiệm BTTH
Về căn cứ làm phát sinh trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng, BLDS 2015 đã được sửa đổi và có sự tiến bộ so với BLDS 2005 Cụ thể, khoản 1 Điều 584 quy định: “Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm,
uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải
bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác” Như
vậy, trong BLDS 2015, căn cứ xác định trách nhiệm BTTH là “hành vi xâm phạm
của người gây thiệt hại” Cho đến thời điểm hiện tại, quy định này chưa được hướng
dẫn bởi các cơ quan nhà nước có thẩm quyền Trong khi các điều kiện này được hướng dẫn khá chi tiết trong Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao Trong bối cảnh hiện nay, khi quy định của BLDS
2015 chưa được hướng dẫn rõ ràng, phần viết này của tác giả được phân tích trên cơ
Trang 1511
sở Nghị quyết này kết hợp với quy định của BLDS 2015, trong đó nền tảng là các quy định của BLDS 2015
Thông thường trách nhiệm pháp lý nói chung và trách nhiệm bồi thường thiệt
hại phải có đủ điều kiện phát sinh, trong đó hành vi trái pháp luật và lỗi là yếu tố bắt buộc Tuy nhiên, trong trách nhiệm dân sự yếu tố lỗi có thể được suy đoán mà không cần chứng minh Theo lý thuyết về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng từ thời điểm áp dụng Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại muốn được áp dụng phải có 04 điều kiện phát sinh như sau:
- Thứ nhất, có thiệt hại xảy ra
Thiệt hại xảy ra là tiền đề, là điều kiện tiên quyết của trách nhiệm bồi thường thiệt hại bởi mục đích của loại trách nhiệm này là nhằm khắc phục thiệt hại do hành
vi trái pháp luật gây ra, khôi phục tình trạng như ban đầu cho chủ thể bị vi phạm Thiệt hại được hiểu là những tổn thất, mất mát về mặt vật chất hoặc tinh thần mà người có hành vi gây thiệt hại đã gây ra đối với chính người bị thiệt hại hay cả với những người thân thích của họ Vì thiệt hại là điều kiện bắt buộc phải có trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nên không có thiệt hại thì không phải bồi thường
Thiệt hại xảy ra bao gồm thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần Thiệt hại về vật chất được hiểu là những mất mát về tài sản, thể chất mà người bị thiệt hại phải gánh chịu Còn thiệt hại về tinh thần là sự tổn thất về giá trị tinh thần, tình cảm hoặc sự suy sụp về tâm lý, tình cảm cá nhân Hình thức biểu hiện thiệt hại về tinh thần rất đa dạng như: Sự suy sụp tâm lý của người bị thiệt hại sau khi sức khỏe bị xâm phạm; những người thân thích của người bị xâm phạm tính mạng suy sụp, hoang mang, lo lắng, đau buồn Trong khi việc xác định thiệt hại vật chất khá rõ ràng, chi tiết, cụ thể thì việc xác định thiệt hại tinh thần phức tạp và khó khăn hơn vì thiệt hại về tinh thần là những thiệt hại phi vật chất, không có tiêu chí chung để xác định cho mọi cá nhân bởi điều kiện, hoàn cảnh của từng cá nhân là không giống nhau
Thiệt hại xảy ra trên thực tế vô cùng đa dạng, phong phú Việc định ra một mức bồi thường cụ thể là bao nhiêu phải dựa trên thiệt hại thực tế đã xảy ra Bởi vậy, việc xác định chính xác thiệt hại xảy ra là cơ sở quan trọng để xác định chính xác mức bồi thường trong từng vụ việc Khi xác định thiệt hại cần phải dựa trên những căn cứ khách quan để tính toán ra một khoản bồi thường cụ thể, chính xác
- Thứ hai, có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại
Hành vi gây thiệt hại có thể là hành vi hành động hoặc không hành động Hành
Trang 1612
động gây thiệt hại có thể tác động trực tiếp vào người bị thiệt hại hoặc tác động gián tiếp thông qua công cụ, phương tiện gây thiệt hại Không hành động gây thiệt hại là một hình thức của hành vi gây thiệt hại, nó làm biến đổi tình trạng bình thường của đối tượng tác động, gây thiệt hại cho khách thể bằng việc chủ thể không làm một việc pháp luật quy định bắt buộc phải làm mặc dù có đầy đủ điều kiện làm việc đó Không phải trong mọi trường hợp hành vi gây thiệt hại đều là hành vi trái pháp luật mà hành vi gây thiệt hại có thể là hành vi hợp pháp nếu người thực hiện hành vi
đó theo nghĩa vụ mà pháp luật quy định hoặc nghề nghiệp buộc họ phải thực hiện các hành vị đó (ví dụ, bác sĩ cắt bỏ bộ phận cơ thể người hoặc làm các phẫu thuật) Trong những trường hợp này người gây thiệt hại không phải bồi thường thiệt hại Ngoài ra, người gây thiệt hại không phải bồi thường thiệt hại trong trường hợp phòng vệ chính đáng (Điều 594 BLDS), trong tình thế cấp thiết (khoản 2 Điều 595 BLDS) hoặc trong trường hợp thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại
- Thứ ba, có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại xảy ra và hành vi trái pháp luật
Thiệt hại xảy ra phải là kết quả tất yếu của hành vi trái pháp luật và ngược lại hành vi trái pháp luật phải là nguyên nhân trực tiếp hoặc có ý nghĩa quyết định đối với thiệt hại xảy ra Việc xác định đúng mối quan hệ nhân quả có ý nghĩa pháp lý trong việc áp dụng pháp luật, xác định đúng trách nhiệm của cá nhân, tổ chức vi phạm, bảo vệ quyền lợi chính đáng của người bị thiệt hại và bảo đảm công bằng xã hội Việc xác định mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy
ra trong nhiều trường hợp là rất khó khăn Do đó cần phải xem xét, phân tích, đánh giá tất cả các sự kiện liên quan một cách thận trọng, khách quan và toàn diện để từ
đó rút ra đúng nguyên nhân và xác định đúng trách nhiệm của người gây thiệt hại
- Thứ tư, người gây thiệt hại có lỗi
Xét về hình thức thì lỗi là thái độ tâm lý của người thực hiện hành vi gây ra thiệt hại Lỗi được thể hiện dưới hai dạng là lỗi cố ý và lỗi vô ý
+ Lỗi cố ý là trường hợp một người nhận thức rõ hành vi của mình sẽ gây thiệt hại cho người khác mà vẫn thực hiện và mong muốn hoặc tuy không mong muốn nhưng để mặc cho thiệt hại xảy ra
+ Lỗi vô ý là trường hợp một người không thể thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, mặc dù phải biết trước hoặc có thể biết trước thiệt hại sẽ xảy
ra hoặc thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, nhưng cho rằng thiệt hại sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được
Trang 1713
Những người không có khả năng nhận thức và làm chủ được hành vi của mình như người không có năng lực hành vi dân sự, người mất năng lực hành vi dân sự thì không có lỗi trong việc thực hiện hành vi gây thiệt hại nên họ không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại Trong trường hợp này thì cha mẹ, người giám hộ, bệnh viện, trường học là những người theo quy định của pháp luật phải chăm sóc, giáo dục, quản lý người gây thiệt hại được suy đoán là có lỗi khi không thực hiện nghĩa
vụ trên và họ phải chịu trách nhiệm do lỗi của mình
Lỗi của pháp nhân, cơ quan nhà nước trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại được xác định thông qua lỗi của nhân viên các cơ quan này trong khi thực hiện nhiệm vụ được giao Vì vậy, các cơ quan này phải bồi thường thiệt hại do thành viên của họ gây ra khi thực hiện nhiệm vụ được giao
Lỗi là yếu tố cần phải xem xét khi xác định trách nhiệm pháp lý nói chung và trách nhiệm dân sự nói riêng Tuy nhiên trong một số trường hợp pháp luật quy định người gây thiệt hại phải bồi thường ngay cả khi không có lỗi theo quy định tại Điều
601, Điều 604, Điều 605 BLDS Những trường hợp này được coi là trách nhiệm khách quan của chủ sở hữu tài sản mà pháp luật quy định dựa trên nguyên tắc thực hiện quyền sở hữu
Theo nguyên tắc chung, mọi trách nhiệm pháp lý đều phải có yếu tố lỗi nếu không có lỗi thì không phải chịu trách nhiệm pháp lý trừ một số trường hợp luật quy định cụ thể như trách nhiệm dân sự do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra Vấn đề mới của BLDS 2015 là "lỗi suy đoán", có nghĩa là gây thiệt hại là có lỗi mà không cần phải chứng minh Người gây thiệt hại chứng minh do bất khả kháng, do lỗi cố ý của người bị hại có nghĩa là họ không có lỗi cho nên không bồi thường Tuy nhiên, trong trách nhiệm dân sự thì yếu tố lỗi có thể được xác định cụ thể nhưng cũng có thể suy đoán là lỗi cố ý hoặc vô ý (Điều 364 BLDS) Yếu tố lỗi có ý nghĩa trong việc xác định trách nhiệm dân sự và trong việc xét giảm mức bồi thường thiệt hại Khoản 2 của Điều luật này quy định về căn cứ loại trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người gây thiệt hại Theo đó, người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hai trường hợp sau:
- Trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng: đây là những sự kiện mang tính chất khách quan mà người gây thiệt hại không lường trước được và mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết nhưng cũng không thể tránh được thiệt hại xảy ra
- Thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy đinhk khác: trường hợp này nguyên nhân chính gây ra thiệt hại là hành vi cố ý của người bị hại, cho nên người gây thiệt hại không
Trang 18Tuy nhiên, theo quy định của BLDS 2015 trong tình trạng chưa có hướng dẫn như hiện nay, yếu tố lỗi trong rất nhiều trường hợp là không cần thiết phải xem xét
Do vậy, khi đi vào từng trường hợp bồi thường cụ thể, căn cứ vào quy định hiện hành, tác giả sẽ có hoặc không có phân tích đến yếu tố lỗi này
1.3 Nguyên tắc và năng lực bồi thường thiệt hại
1.3.1 Nguyên tắc bồi thường thiệt hại
Các nguyên tắc cần tuân thủ trong xác định trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng được quy đinh cụ thể tại Điều 585 BLDS 2015 Cụ thể như sau:
Khi có thiệt hại thực tế xảy ra thì bên bồi thường và bên bị thiệt hại có thể thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường và phương thức bồi thường Nếu các bên không thỏa thuận được thì việc giải quyết bồi thường sẽ được thực hiện theo nguyên tắc sau đây:
- Thứ nhất, thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời
Bồi thường toàn bộ được hiểu là trên thực tế xảy ra những thiệt hại nào thì người chịu trách nhiệm bồi thường phải bồi thường toàn bộ thiệt hại đó Bồi thường kịp thời là việc bồi thường được tiến hành một cách khẩn trương, nhanh chóng ngay sau khi có thiệt hại xảy ra nhằm khắc phục tổn thất cho người bị thiệt hại
- Thứ hai, người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể được giảm mức
bồi thường, nếu không có lỗi hoặc có lỗi vô ý và gây thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của mình
Theo nguyên tắc của việc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì thiệt hại bao nhiêu phải bồi thường bấy nhiêu Tuy nhiên, trên thực tế có những trường hợp nếu
áp dụng nguyên tắc trên sẽ không mang lại hiệu quả trong việc áp dụng pháp luật vì người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại không thể bồi thường toàn bộ thiệt hại Cho nên, pháp luật dự liệu các trường hợp giảm mức bồi thường cho người chịu
Trang 19+ Thiệt hại xảy ra quá lớn so với khả năng kinh tế của người chịu trách nhiệm bồi thường Điều này có nghĩa là xét tại thời điểm bồi thường cũng như trong tương lai thì người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại không có khả năng kinh tế để bồi thường phần lớn hay toàn bộ thiệt hại mà mình đã gây ra Đây là một quy định mang tính nhân văn cũng như mang tính hỗ trợ cao cho việc thực thi pháp luật (Điểm c mục số 2 Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP)
- Thứ ba, khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì bên bị thiệt
hại hoặc bên gây thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường
Bên gây thiệt hại hoặc bên bị thiệt hại có thể yêu cầu thay đổi mức bồi thường khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế Nghĩa là do có thay đổi về tình hình kinh tế, xã hội, sự biến động về giá cả hoặc do có sự thay đổi về tình trạng thương tật, khả năng lao động của người bị thiệt hại hoặc do có sự thay đổi về khả năng kinh tế của người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại mà mức bồi thường đang được thực hiện không còn phù hợp trong điều kiện thực tế Khi xảy ra những điều kiện trên, thì người bị thiệt hại hoặc người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường
- Thứ tư, khi bên bị thiệt hại có lỗi trong việc gây thiệt hại thì không được bồi
thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra Đây là trường hợp người bị thiệt hại cũng có lỗi trong việc gây ra thiệt hại xảy ra với chính họ Do đó, với những thiệt hại xảy ra tương ứng với mức độ lỗi của họ thì không được bồi thường
- Thứ năm, bên có quyền, lợi ích bị xâm phạm không được bồi thường nếu
thiệt hại xảy ra do không áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại cho chính mình Nguyên tắc này nâng cao trách nhiệm của bên bị thiệt hại, nhằm hạn chế thấp nhất các trường hợp bên bị thiệt hại để mặc cho thiệt hại xảy
ra nhằm được hưởng bồi thường
1.3.2 Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại
Theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành thì trách nhiệm BTTH được BLDS 2015 quy định tại Điều 360 về trách nhiệm BTTH nói chung và
Trang 2016
chương XX về trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng Tuy nhiên, trong cả hai phần này đều không nêu rõ khái niệm trách nhiệm BTTH mà chỉ nêu lên căn cứ phát sinh trách nhiệm, nguyên tắc bồi thường, năng lực chịu trách nhiệm, Bồi thường thiệt hại do nhiều người cùng gây ra,
Tiếp cận dưới góc độ khoa học pháp lý chúng ta thấy rằng, mỗi người sống trong xã hội đều phải tôn trọng quy tắc chung của xã hội, không thể vì lợi ích của mình mà xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác Khi một người
vi phạm nghĩa vụ pháp lý của mình gây tổn hại cho người khác thì chính người đó phải chịu bất lợi do hành vi của mình gây ra Sự gánh chịu một hậu quả bất lợi bằng việc bù đắp tổn thất cho người khác được hiểu là BTTH
Như vậy, có thể hiểu trách nhiệm BTTH là một loại trách nhiệm Dân sự mà
theo đó thì khi một người vi phạm nghĩa vụ pháp lý của mình gây tổn hại cho người khác phải bồi thường những tổn thất mà mình gây ra
Theo nguyên tắc chung, một người chỉ phải chịu trách nhiệm đối với hành vi
của mình khi họ có nhận thức để làm chủ và điều khiển được hành vi đó “Chỉ đề
cập đến vấn đề trách nhiệm cá nhân trong trường hợp con người, một mặt, có năng lực tự định hướng và chủ động lựa chọn xử sự của mình”
Trách nhiệm bồi thường của cá nhân Theo quy định tại Điều 586 - BLDS năm
2015 về Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân như sau:
Cá nhân phải tự chịu trách nhiệm bồi thường toàn bộ thiệt hại khi họ có năng lực hành vi dân sự đầy đủ Đây là những người có khă năng nhận thức và làm chủ hành vi của mình nên phải chịu trách nhiệm về hành vi gây thiệt hại do mình gây ra
Đối với cá nhân là người chưa thành niên gây thiệt hại thì việc xác định năng
lực bồi thường theo hai khả năng sau:
- Nếu người gây thiệt hại dưới mười lăm tuổi thì người chịu trách nhiệm bồi thường là cha, mẹ của người đó; trong trường hợp tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường mà người con đã gây ra thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản của con
để bồi thường phần còn thiếu Nếu người con không có tài sản riêng thì cha, mẹ của người gây thiệt hại phải tiếp tục thực hiện việc bồi thường khi có tài sản;
- Nếu người gây thiệt hại đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi thì người gây thiệt hại phải bồi thường thiệt hại bằng tài sản của mình Nếu tài sản không đủ để bồi thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu Theo quy định của pháp luật lao động, người từ đủ mười lăm tuổi tới chưa đủ mười tám tuổi có thể tham gia vào quan hệ lao động trong một số lĩnh vực, cho nên lứa tuổi này có thể tạo
Trang 2117
ra thu nhập cho bản thân, vì vậy phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại nếu có tài sản
Pháp luật hiện hành chưa có quy định về phương thức lấy tài sản của cha, mẹ
đã ly hôn để bồi thường thay cho con chưa thành niên Tuy nhiên theo nguyên tắc bình đẳng, tự do thỏa thuận thì phần tài sản mà cha, mẹ phải bồi thường thay cho người chưa thành niên sẽ được phân chia theo sự thỏa thuận Nếu không thỏa thuận được thì phần bồi thường sẽ được lấy theo tỷ lệ bằng nhau, có tính đến khả năng kinh tế của mỗi người
Đối với trường hợp người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi gây thiệt hại mà có người giám
hộ thì việc xác định trách nhiệm bồi thường được tiến hành như sau:
- Nếu người gây thiệt hại có đủ tài sản để bồi thường toàn bộ thiệt hại thì người giám hộ lấy tài sản của họ để bồi thường;
- Nếu người gây thiệt hại không có tài sản hoặc tài sản không đủ để bồi thường thì người giám hộ phải lấy tài sản của mình để bồi thường trừ trường hợp họ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ
Xuất phát từ năng lực chủ thể của cá nhân khi tham gia vào quan hệ dân sự, BLDS quy định năng lực chịu trách nhiệm của cá nhân phụ thuộc vào mức độ năng lực hành vi, tình trạng tài sản và khả năng bồi thường của cá nhân
Trường hợp người gây thiệt hại là người chưa đủ 15 tuổi theo quy định tại
BLDS 2015 Điều 599:
“1 Người chưa đủ mười lăm tuổi trong thời gian trường học trực tiếp quản
lý mà gây thiệt hại thì trường học phải bồi thường thiệt hại xảy ra
2 Người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại cho người khác trong thời gian bệnh viện, pháp nhân khác trực tiếp quản lý thì bệnh viện, pháp nhân khác phải bồi thường thiệt hại xảy ra
3 Trường học, bệnh viện, pháp nhân khác quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này không phải bồi thường nếu chứng minh được mình không có lỗi trong quản lý; trong trường hợp này, cha, mẹ, người giám hộ của người dưới mười lăm tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự phải bồi thường”
1 4 Xác định thiệt hại
Thiệt hại là điều kiện đầu tiên làm phát sinh nghĩa vụ bồi thường Nguyên tắc bồi thường toàn bộ thiệt hại chỉ có thể thực hiện được đầy đủ và chính xác khi xác định toàn bộ thiệt hại là bao nhiêu và trên cơ sở đó xác định mức bồi thường
Trang 2218
Xác định thiệt hại là một việc khó khăn và phức tạp Những thiệt hại phải bồi thường là thiệt hại về tài sản, thiệt hại về sức khoẻ, thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm, thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm Tuy nhiên, quá trình nghiên cứu có giới hạn, tác giả chỉ phân tích việc xác định thiệt hại ở một số trường hợp cụ thể sau:
* Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm:
Quyền sở hữu tài sản của cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác được pháp luật ghi nhận và bảo vệ Bởi vậy, khi tài sản của chủ sở hữu bị xâm phạm thì người gây ra thiệt hại phải chịu trách nhiệm bồi thường những thiệt hại sau:
bồi thường của Nhà nước 2009 có quy định về vấn đề này như sau: "Trường hợp tài
sản đã bị phát mại, bị mất thì thiệt hại được xác định căn cứ vào giá trị thị trường của tài sản cùng loại hoặc tài sản có cùng tính năng, tiêu chuẩn kỹ thuật và mức độ hao mòn của tài sản bị phát mại, bị mất trên thị trường tại thời điểm giải quyết bồi thường" 2 Theo quy định thì giá trị của tài sản bị mất được xác định theo giá của tài
sản cùng loại trên thị trường tại thời điểm giải quyết bồi thường Quy định này chỉ
áp dụng cho tài sản bị mất là tài sản cùng loại, tức là tài sản cùng loại trên thị trường
để làm căn cứ xác định giá Tuy nhiên, nếu tài sản bị mất là vật đặc định thì quy định trên không thể áp dụng để xác định thiệt hại, vì trên thị trường không có loại tài sản đó Do vậy, việc định giá tài sản là vật đặc định phải được tiến hành bởi cơ quan, tổ chức có thẩm quyền trong việc định giá tài sản Khi giải quyết việc bồi thường đối với tài sản bị mất thì cũng cần xem xét đến yếu tố cũ, mới, độ hao mòn của tài sản Nếu tài sản bị mất là tài sản mới thì thiệt hại được bồi thường là toàn bộ giá trị tài sản; trong trường hợp tài sản đã được sử dụng thì khi xác định giá trị tài sản bị mất phải trừ đi gía trị phần tài sản đã hao mòn
- Tài sản bị hủy hoại hoặc bị hỏng:
Tài sản bị hủy hoại là những tài sản bị thiệt hại nặng, không thể phục hồi chức năng như ban đầu, cho nên chủ sở hữu không thể khai thác tính năng, công dụng của
2 Khoản 1, Điều 45 Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2009
Trang 2319
tài sản Việc xác định thiệt hại đối với tài sản bị hủy hoại giống với trường hợp tài sản bị mất Tức là người gây thiệt hại bồi thường toàn bộ giá trị tài sản cho người bị thiệt hại theo giá thị trường vào thời điểm giải quyết bồi thường
Tài sản bị hư hỏng là những tài sản bị hỏng hóc một hay nhiều bộ phận, làm giảm hay mất khả năng sử dụng tài sản Tuy nhiên, tài sản bị hư hỏng vẫn có khả năng sửa chữa, phục hồi lại tính năng sử dụng Trong Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2009 có quy định về vấn đề này Theo Điều 45 Luật trách nhiệm bồi
thường của Nhà nước năm 2009 quy định như sau: "Trường hợp tài sản bị hư hỏng
thì thiệt hại được xác định là chi phí có liên quan theo giá thị trường tại thời điểm giải quyết bồi thường để sửa chữa, khôi phục lại tài sản; nếu tài sản bị hư hỏng không thể sửa chữa, khôi phục thì thiệt hại được xác định theo quy định tại khoản 1 Điều này" 3. Như vậy, đối với tài sản bị hư hỏng thì việc bồi thường được xác định theo hai trường hợp:
+ Nếu như tài sản hư hỏng có thể khôi phục, sửa chữa lại được thì thiệt hại được xác định là chi phí cần thiết, hợp lý bỏ ra để khôi phục, sửa chữa tài sản Nhưng chi phí này được tính theo giá thị trường tại thời điểm giải quyết bồi thường; + Trường hợp tài sản bị hư hỏng đến mức không thể sửa chữa, khôi phục được thì thiệt hại được xác định giống với trường hợp tài sản bị mất
- Lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản:
Trong khai thác, sử dụng tài sản thì chủ sở hữu có thể thu được hoa lợi, lợi tức
là tài sản Tuy nhiên, do hành vi gây thiệt hại mà chủ sở hữu mất đi hoa lợi, lợi tức,
vì vậy, người bị thiệt hại về tài sản có quyền yêu cầu bên gây thiệt hại bồi thường những lợi ích gắn liền với việc khai thác, sử dụng tài sản
- Chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại:
Trước nguy cơ thiệt hại xảy ra đối với tài sản thì người bị thiệt hại có thể phải
bỏ ra chi phí để ngăn chặn; khi thiệt hại đó đang xảy ra đối với tài sản thì người bị thiệt hại phải bỏ ra chi phí để không cho thiệt hại tiếp tục xảy ra; khi đã xảy ra thiệt hại đối với tài sản thì người bị thiệt hại phải bỏ ra chi phí để khắc phục thiệt hại Đây cũng là những khoản mà người bị thiệt hại có quyền yêu cầu người xâm phạm đến tài sản bồi thường nếu người bị thiệt hại chứng minh được tính xác thực của những chi phí này
- Các thiệt hại khác do pháp luật quy định Đây là một quy định mở để xác định những thiệt hại mà luật liên quan khác có quy định thì áp dụng để tính toán và
ấn định mức bồi thường thiệt hại
3 Khoản 2, Điều 45 Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2009
Trang 2420
* Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm:
Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm được hiểu là những tổn thất, mất mát về vật chất cũng như tinh thần mà người có hành vi gây thiệt hại gây ra cho người bị thiệt hại Theo quy định tại Điều 590 BLDS, những thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm bao gồm:
- Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng
bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại
Đây là những chi phí hợp lý cho việc khắc phục thiệt hại về mặt sức khỏe cho người bị thiệt hại, những chi phí này bao gồm: Tiền thuê phương tiện đưa người bị thiệt hại đi cấp cứu tại cơ sở y tế; tiền thuốc và tiền mua các thiết bị y tế, chi phí chiếu, chụp X-quang, chụp cắt lớp, siêu âm, xét nghiệm, mổ, truyền máu, vật bổ, tiếp đạm, tiền bồi dưỡng phục hồi sức khỏe cho người bị thiệt hại theo chỉ định của bác sỹ; các chi phí thực tế, cần thiết khác cho người bị thiệt hại (nếu có) và các chi phí cho việc lắp chân giả, tay giả, mắt giả, mua xe lăn, xe đẩy, nạng chống và khắc phục thẩm mỹ để hỗ trợ hoặc thay thế một phần chức năng của cơ thể bị mất hoặc
bị giảm sút của người bị thiệt hại (nếu có)
- Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại
Thu nhập thực tế bị mất được hiểu là những khoản thu nhập mà người bị thiệt hại không được hưởng trong thời gian điều trị Còn thu nhập bị giảm sút là bị khoản thu nhập bị giảm so với thu nhập thực tế trước đó của người bị thiệt hại Như vậy,
để xác định mức thu nhập bị mất hay thu nhập thực tế bị giảm sút cần dựa trên việc
so sánh mức thu nhập thực tế của người bị thiệt hại trước và sau khi bị xâm phạm đến sức khỏe Thu nhập thực tế của người bị thiệt hại được xác định như sau:
+ Nếu trước khi sức khỏe bị xâm phạm, người bị thiệt hại có thu nhập ổn định
từ tiền lương trong biên chế, tiền công từ hợp đồng lao động, thì căn cứ vào mức lương, tiền công của tháng liền kề trước khi người đó bị xâm phạm sức khỏe nhân với thời gian điều trị để xác định khoản thu nhập thực tế của người bị thiệt hại + Nếu trước khi sức khỏe bị xâm phạm, người bị thiệt hại có làm việc và hàng tháng có thu nhập thực tế nhưng mức thu nhập của các tháng khác nhau, thì lấy mức thu nhập trung bình của 6 tháng liền kề (nếu chưa đủ 6 tháng thì của tất cả các tháng) trước khi sức khỏe bị xâm phạm nhân với thời gian điều trị để xác định khoản thu nhập thực tế của người bị thiệt hại
+ Nếu trước khi sức khỏe bị xâm phạm, người bị thiệt hại có thu nhập thực tế, nhưng không ổn định và không thể xác định được, thì áp dụng mức thu nhập trung
Trang 25- Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần phải có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại
Chi phí hợp lý cho người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị có thể là tiền tàu, xe đi lại, tiền thuê nhà trọ theo giá trung bình ở địa phương nơi thực hiện việc chi phí cho một trong những người chăm sóc cho người bị thiệt hại trong thời gian điều trị do cần thiết hoặc theo yêu cầu của cơ sở y tế Thông thường người gây thiệt hại phải bồi thường cho một người thân chăm sóc người bị thiệt hại Tuy nhiên trường hợp đặc biệt cần hai người chăm sóc theo yêu cầu của cơ sở điều trị, thì phải bồi thường cho hai người cùng chăm sóc người bị thiệt hại
Trong thời gian chăm sóc người bị thiệt hại về sức khỏe thì người chăm sóc có thể bị mất thu nhập thực tế, cho nên người gây thiệt hại phải bồi thường thu nhập bị mất cho người chăm sóc người bị thiệt hại Phương thức xác định thu nhập thực tế
bị mất như sau:
+ Nếu người chăm sóc người bị thiệt hại có thu nhập thực tế ổn định từ tiền lương trong biên chế, tiền công từ hợp đồng lao động thì căn cứ vào mức lương, tiền công của tháng liền kề trước khi người đó phải đi chăm sóc người bị thiệt hại nhân với thời gian chăm sóc để xác định khoản thu nhập thực tế bị mất
+ Nếu người chăm sóc người bị thiệt hại có làm việc và hàng tháng có thu nhập
ổn định, nhưng có mức thu nhập khác nhau thì lấy mức thu nhập trung bình của 6 tháng liền kề (nếu chưa đủ 6 tháng thì lấy mức thu nhập trung bình của tất cả tháng) trước khi người đó phải đi chăm sóc người bị thiệt hại nhân với thời gian chăm sóc
để xác định khoản thu nhập thực tế bị mất
+ Nếu người chăm sóc người bị thiệt hại không có làm việc hoặc có tháng làm việc, có tháng không, do đó không có thu nhập ổn định thì được hưởng tiền công chăm sóc bằng mức tiền công trung bình trả cho người chăm sóc người tàn tật tại địa phương nơi người bị thiệt hại cư trú
+ Nếu trong thời gian chăm sóc người bị thiệt hại, người chăm sóc vẫn được cơ quan, người sử dụng lao động trả lương, trả tiền công lao động theo quy định
Trang 2622
của pháp luật lao động , bảo hiểm xã hội thì họ không bị mất thu nhập thực tế, do đó không được bồi thường
Trong trường hợp khi điều trị, người bị thiệt hại mất khả năng lao động (người
bị thiệt hại không còn khả năng lao động do bị liệt cột sống, mù hai mắt, liệt hai chi,
bị tâm thần nặng và các trường hợp khác do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định bị suy giảm khả năng lao động vĩnh viễn từ 81% trở lên) và cần có người thường xuyên chăm sóc thì người gây thiệt hại phải bồi thường chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại Chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại bao gồm: chi phí hợp lý hàng tháng cho việc nuôi dưỡng, điều trị người bị thiệt hại
và chi phí hợp lý cho người thường xuyên chăm sóc người bị thiệt hại; chi phí hợp
lý cho người thường xuyên chăm sóc người bị thiệt hại được tính bằng mức tiền công trung bình trả cho người chăm sóc người tàn tật tại địa phương nơi người bị thiệt hại cư trú Về nguyên tắc, chỉ tính bồi thường thiệt hại cho một người chăm sóc người bị thiệt hại do mất khả năng lao động
- Thiệt hại khác do luật quy định Đây là một quy định mở để xác định những thiệt hại mà luật liên quan khác có quy định thì áp dụng để tính toán và ấn định mức bồi thường thiệt hại
- Khoản tiền để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người có sức khỏe bị xâm phạm gánh chịu
Sức khỏe được coi là vốn quý giá và quan trọng nhất của mỗi cá nhân Bởi vậy, khi một người bị xâm phạm về sức khỏe thì bên cạnh những mất mát về vật chất thì
họ còn phải gánh chịu tổn thất về mặt tinh thần Mức độ tổn thất về tinh thần có thể được xác định dựa trên căn cứ sau: tình trạng thể chất và tinh thần của người bị thiệt hại; mức độ và tính chất nghiêm trọng của sự tổn hại về tâm lý và về thân thể; lứa tuổi; quan hệ thân nhân và quan hệ tài sản của người bị thiệt hại và của người gây thiệt hại Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định tối đa không quá năm mươi lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định
* Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm:
Theo quy định tại Điều 591 BLDS thì thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm bao gồm những khoản sau đây:
- Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm theo quy định tại Điều 590 của BLDS
2015 Thực tế, các thiệt hại này phải được hiểu là chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng chăm sóc người bị thiệt hại trước khi chết
Trang 2723
Cụ thể, theo quy định tại Điều 590 BLDS 2015, trường hợp thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm theo Điều 590 của BLDS bao gồm: Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại; Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại, nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại; Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần phải có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại
- Chi phí hợp lý cho việc mai táng
Chi phí mai táng được hiểu là những khoản chi cho việc chôn cất hay hỏa táng, người chết Cách tính những khoản chi phí này có thể tham khảo khoản 2
Điều 48 Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2009: "Chi phí cho việc mai
táng theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội" Hoặc tham khảo quy định tại
điểm 2.2 mục 2 Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP “Chi phí hợp lý cho việc mai táng bao gồm: các khoản tiền mua quan tài, các vật dụng cần thiết cho việc khâm liệm, khăn tang, hương, nến, hoa, thuê xe tang và các khoản chi khác phục vụ cho việc chôn cất hoặc hỏa táng nạn nhân theo thông lệ chung Không chấp nhận yêu cầu bồi thường chi phí cúng tế, lễ bái, ăn uống, xây mộ, bốc mộ ”
Hiện nay, theo quy định tại khoản 2 Điều 66 Luật bảo hiểm xã hội 2014, khoản trợ cấp mai táng được xác định bằng 10 lần mức lương cơ sở tại tháng mà người bị thiệt hại chết
Theo quan điểm của tác giả, hướng dẫn tại Nghị quyết số 03/NQ-HĐTP nêu trên là hợp lý bởi vì các chi phí mai tang phải xác định cụ thể căn cứ và các khoản chi thực tế dùng cho mai táng người chết
- Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng trước khi chết
Chỉ xem xét khoản tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng, nếu trước khi tính mạng bị xâm phạm người bị thiệt hại thực tế đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng
Đối tượng được bồi thường khoản tiền cấp dưỡng theo quy định hiện hành bao gồm:
+ Vợ hoặc chồng không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi
Trang 28+ Cha, mẹ là người không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình mà con là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng;
+ Vợ hoặc chồng sau khi ly hôn đang được bên kia (chồng hoặc vợ trước khi ly hôn) là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng;
+ Con chưa thành niên hoặc con đã thành niên không có khả năng lao đông, không có tài sản để tự nuôi mình mà cha hoặc mẹ không trực tiếp nuôi dưỡng là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng;
+ Em chưa thành niên không có tài sản để tự nuôi mình hoặc em đã thành niên không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình trong trường hợp không còn cha mẹ hoặc cha mẹ không có khả năng lao động, không có tài sản để cấp dưỡng cho con được anh, chị đã thành niên không sống chung với em là người
bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng;
+ Anh, chị không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình mà
em đã thành niên không sống chung với anh, chị là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng;
+ Cháu chưa thành niên hoặc cháu đã thành niên không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình và không còn người khác cấp dưỡng mà ông bà nội, ông bà ngoại không sống chung với cháu là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng;
+ Ông bà nội, ông bà ngoại không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình và không có người khác cấp dưỡng mà cháu đã thành niên không sống chung với ông bà nội, ông bà ngoại là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng
Thời điểm bắt đầu được hưởng tiền cấp dưỡng là thời điểm tính mạng của người bị thiệt hại bị xâm phạm Thời điểm chấm dứt việc cấp dưỡng được quy định
tại Điều 593 BLDS 2015, cụ thể: "Người chưa thành niên hoặc người đã thành thai
là con của người chết và còn sống sau khi sinh ra được hưởng tiền cấp dưỡng cho đến khi đủ mười tám tuổi, trừ trường hợp người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi đã tham gia lao động và có thu nhập đủ nuôi sống bản thân; Người
Trang 29- Khoản tiền để bù đắp tổn thất về tinh thần
Nếu như trong trường hợp sức khỏe bị xâm phạm, người được bồi thường một khoản tiền để bù đắp tổn thất về mặt tinh thần chính là người bị xâm phạm về sức khỏe thì đối với trường hợp tính mạng bị xâm phạm, người chịu tổn thất về mặt tinh thần chính là những người thân thích của người chết Bởi vậy, đây là khoản tiền bồi thường cho những người thân thích của người bị thiệt hại là những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại, bao gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người bị thiệt hại Nếu không có những người trên thì người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng hoặc người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại được hưởng khoản tiền này
Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận Nếu không thỏa thuận được thì mức bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần cho tất
cả những người thân thích của người bị thiệt hại phải căn cứ vào mức độ tổn thất về tinh thần, số lượng người thân thích của họ, nhưng tối đa cho một người có tính mạng bị xâm phạm không quá 100 lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định tại thời điểm giải quyết bồi thường Việc xác định khoản tiền bồi thường tổn thất về tinh thần trong từng trường hợp cụ thể thì cần căn cứ vào nhiều yếu tố khác nhau như: Vai trò của người bị thiệt hại đối với gia đình; hoàn cảnh gia đình người bị thiệt hại; độ tuổi, tình trạng sức khỏe của người bị xâm phạm; cách thức xâm phạm tính mạng của người bị thiệt hại trên cơ sở đó sẽ ấn định một mức bồi thường hợp tình, hợp lý Cũng liên quan đến khoản bồi thường này, tại khoản 3 Điều 47 Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2009 quy định mức bồi thường thiệt hại do tổn thất về tinh thần cho thân nhân của người chết là 360 tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định
* Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm:
Khi danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân hoặc danh dự, uy tín của pháp nhân, tổ chức bị xâm phạm thì những chủ thể này được bồi thường các khoản sau đây:
- Chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại
Trang 3026
Danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân bị xâm hại bằng nhiều phương thức khác nhau như bị vu khống, bị làm nhục hoặc vi phạm trên báo chí Khi có hành vi xâm phạm, người bị thiệt hại có thể phải chi phí một khoản tiền nhất định để hạn chế hay khắc phục những thiệt hại đã xảy ra như: chi phí cần thiết cho việc thu hồi
ấn phẩm có nội dung xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người bị thiệt hại; chi phí cho việc thu thập tài liệu, chứng cứ chứng minh danh dự, nhân phẩm, uy tín
bị xâm phạm; tiền tàu, xe đi lại, thuê nhà trọ (nếu có); chi phí để yêu cầu cơ quan chức năng xác minh sự việc, cải chính trên các phương tiện thông tin đại chúng; chi phí tổ chức xin lỗi, cải chính công khai tại nơi cư trú hoặc nơi làm việc của người bị thiệt hại và các chi phí thực tế, cần thiết khác để hạn chế, khắc phục thiệt hại
- Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút
Trên thực tế, thu nhập của người bị thiệt hại có thể liên quan tới danh dự, uy tín của người đó, ví dụ, một cá nhân hay doanh nghiệp bán hàng cần có uy tín với khách hàng hoặc một người là bác sỹ cần có uy tín với mọi người thì sẽ nhiều bệnh nhân tìm đến chữa trị Do đó, khi danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm hại thì có thể thu nhập thực tế của người bị thiệt hại sẽ bị giảm sút hoặc bị mất Trong trường hợp thu nhập thực tế của người bị xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín bị mất hoặc bị giảm sút thì họ có quyền yêu cầu người xâm phạm phải bồi thường cho khoản thu nhập này Theo quy định của pháp luật, cá nhân bị xâm phạm tới danh dự, nhân phẩm, uy tín dẫn tới thu nhập thực tế bị giảm sút hoặc bị mất thì việc xác định khoản thiệt hại này được xác định như đối với trường hợp cá nhân bị xâm phạm tới sức khỏe
- Thiệt hại khác do luật quy định Đây là một quy định mở để xác định những thiệt hại mà luật liên quan khác có quy định thì áp dụng để tính toán và ấn định mức bồi thường thiệt hại
1.5 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong một số quốc gia
Trang 3127
Nếu nhìn vào pháp luật các nước khác, có thể thấy một vài quốc gia không
có sự phân biệt rạch ròi về TNDS trong hợp đồng hay ngoài hợp đồng Như trong pháp luật dân sự của Nhật Bản, TNDS trong hợp đồng không được quy định cụ thể
mà pháp luật chỉ chia ra hai trường hợp chịu trách nhiệm là trách nhiệm do không thực hiện nghĩa vụ và trách nhiệm do vi phạm nghĩa vụ4
Trong Bộ luật dân sự Nhật Bản, trách nhiệm bồi thường thiệt hại được qui định tại Chương V- Hành vi không hợp pháp Chương này qui định về bồi thường thiệt hại do hành vi không hợp pháp của con người trực tiếp hoặc gián tiếp gây thiệt hại Người có hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại thì phải bồi thường thiệt hại Trường hợp tài sản gây thiệt hại thì cần phải xác định người chủ sở hữu, người trực tiếp quản lý, người sử dụng có lỗi hay không Nếu thiệt hại xảy ra mà người quản lý
sử dụng hoàn toàn không có lỗi thì không phải bồi thường Lỗi của người quản lý tài sản thể hiện trong từng trường hợp cụ thể khác nhau Thiệt hại xảy ra có thể do hành
vi của con người hoặc do tài sản nhưng nguyên nhân chính là hành vi cố ý hoặc bất cẩn của con người trong việc quản lý, sử dụng tài sản, vì thế trong BLDS Nhật Bản
qui định một nguyên tắc chung là: “Một người vi phạm do cố ý hoặc do vô ý mà vi
phạm quyền của người khác thì phải bồi thường thiệt hại phát sinh từ vi phạm ấy” 5
Theo qui định trên quyền của người khác là các quyền dân sự như quyền nhân thân, quyền tài sản (quyền sở hữu)…Tùy thuộc vào loại thiệt hại mà người gây thiệt hại phải bồi thường theo các mức khác nhau Điều 709 BLDS Nhật bản qui định hai cơ sở bồi thường là người gây thiệt hại có lỗi vô ý hoặc cố ý và thiệt hại là xâm phạm quyền dân sự của cá nhân, tổ chức Đây là một qui định mang tính tổng quát, cho nên không cần thiết phải qui định cụ thể từng trường hợp gây thiệt hại Tuy nhiên, có những thiệt hại xảy ra xét về thực tế người phải bồi thường không có lỗi hoặc lỗi của họ là bị suy đoán như công trình xây dựng gây thiệt hại trong thời gian sử dụng Lỗi có thể là do thiết kế, thi công hoặc do các nguyên nhân khác mà
không phải là sự kiện bất khả kháng Liên quan đến vấn đề này, còn có qui định:
"Nếu việc xảy ra thiệt hại đối với người khác vì nguyên nhân sai sót trong xây dựng hoặc bảo quản cấu trúc trên đất thì người chiếm hữu cấu trúc chịu trách nhiệm về những thiệt hại đối với bên bị thiệt hại, song nếu như người chiếm hữu đã thể hiện
sự quan tâm đúng mức nhằm ngăn chặn việc xảy ra thiệt hại thì chủ của cấu trúc đó phải bồi thường” 6
6 Điều 717 BLDS Nhật Bản
Trang 3228
Theo qui định trên, nếu công trình đang xây dựng mà gây thiệt hại thì phải xác định lỗi của người đang thi công Trường hợp người thi công có lỗi như vi phạm qui trình kỹ thuật xây dựng, vô ý để tài sản gây thiệt hại cho người khác thì bên thi công phải bồi thường thiệt hại Qui định này hoàn toàn phù hợp với thực tế, bởi lẽ xây dựng là công việc thuộc chuyên môn kỹ thuật cao, người làm nghề xây dựng phải có thẻ hành nghề và mua bảo hiểm nghề nghiệp, vì vậy nếu trong quá trình xây dựng do lỗi của bên thi công thì bên thi công phải bồi thường thiệt hại và bên thi công có quyền yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm bồi thường thay
Trường hợp các công trình xây dựng hoặc các cấu trúc khác như nhà khung sắt, nhà gỗ…sụp đổ gây thiệt hại, trước hết xem xét người chiếm hữu cấu trúc đó có lỗi trong việc sử dụng hay không, nếu người chiếm hữu không có lỗi trong việc cấu trúc gây thiệt hại thì chủ sở hữu công trình phải bồi thường Rõ ràng trường hợp này người chủ sở hữu không có lỗi trong việc khai thác tài sản cho nên qui định có tính chất suy đoán người chủ sở hữu có lỗi nên buộc phải bồi thường thiệt hại Tuy nhiên, xét về mặt thực tiễn qui định này có tính hợp lý, thể hiện là công trình xây dựng là những khối bê tông cốt thép khổng lồ được chôn sâu trong lòng đất, vì công trình xây dựng do con người tạo ra, do vậy mọi tính toán của con người đều không thể đúng một cách tuyệt đối, cho nên có thể dẫn đến thiếu sót trong thăm dò địa chất, thiết kế, hoặc thi công dẫn đến gây thiệt hại cho người khác, vì vậy cần phải buộc chủ sở hữu bồi thường cho người bị thiệt hại là phù hợp Mặt khác pháp luật qui định như vậy để buộc chủ sở hữu phải mua bảo hiểm các công trình xây dựng, nếu xảy ra thiệt hại thì doanh nghiệp bảo hiểm sẽ bồi thường thay
Đối với trách nhiệm dân sự do súc vật gây ra, cần phải xác định lỗi của
người chủ sở hữu, người quản lý súc vật theo đó : “Người chiếm hữu động vật phải
bồi thường thiệt hại do nó gây ra cho người thứ ba, song điều này không áp dụng nếu người chiếm hữu đã bảo quản nó với quan tâm đúng mức phù hợp với đặc tính
và bản chất của động vật Người chăm sóc động vật thay cho người chiếm hữu cũng phải gánh vác trách nhiệm nêu ở phần trên” 7
Khi xảy ra thiệt hại, để xác định lỗi của chủ sở hữu, người quản lý súc vật phải căn cứ vào từng trường hợp cụ thể xem xét chủ sở hữu, người quản lý súc vật
đã áp dụng các biện pháp bảo vệ, ngăn ngừa súc vật gây thiệt hại phù hợp với đặc tính của từng loại súc vật hay chưa, ngoài ra các biện pháp đó có phù hợp với hoàn cảnh nuôi giữ súc vật hay không Nếu súc vật gây thiệt hại mà người chủ sở hữu, người quản lý súc vật không có lỗi thì không phải bồi thường thiệt hại Qui định này phù hợp với lý luận và thực tiễn, bởi lẽ nguyên tắc xác định trách nhiệm dân sự là
7 Điều 718 BLDS Nhật Bản
Trang 3329
lỗi của người gây thiệt hại mà trường hợp này người chủ sở hữu, người quản lý súc vật đã sử dụng các biện pháp ngăn ngừa cho phép nên đã thể hiện sự thận trọng trong việc nuôi, giữ súc vật Ví dụ: nuôi chó trong nhà, chủ sở hữu đã xích chó một chỗ cố định mà trộm vào nhà bị chó cắn Trường hợp này không thể coi chủ sở hữu
có lỗi trong việc chó gây thiệt hại cho kẻ trộm
Còn trong BLDS của Pháp thì chỉ có quy định về bồi thường thiệt hai do không thực hiện nghĩa vụ, theo đó, người có nghĩa vụ phải bồi thường thiệt hại nếu không thực hiện hoặc chậm thực hiện nghĩa vụ, trừ phi chứng minh được rằng việc không thực hiện nghĩa vụ hoặc chậm thực hiện nghĩa vụ là do một nguyên nhân khách quan không thuộc trách nhiệm của mình mà không do ác ý Ví dụ: Bộ luật dân sự Pháp qui định:
- “Mỗi người phải chịu trách nhiệm không những về thiệt hại do mình gây
ra mà cả về thiệt hại do những người mà mình chịu trách nhiệm hoặc những vật mà mình coi giữ gây ra” 8.
- “Chủ sở hữu con vật hoặc người sử dụng con vật ấy phải chịu trách
nhiệm về thiệt hại do con vật gây ra, dù nó đang được coi giữ hoặc bị xổng ra” 9
- “Chủ sở hữu công trình xây dựng phải chịu trách nhiệm về thiệt hại gây
ra do công trình bị đổ vì thiếu bảo dưỡng hoặc vì khuyết tật trong khi xây dựng” 10
Những qui định về bồi thường thiệt hại trong Luật dân sự của Pháp và đặc biệt của Luật dân sự Nhật Bản rất hợp lý và hợp tình trong việc xác định trách nhiệm dân sự của người gây thiệt hại hoặc của chủ sở hữu, người quản lý sử dụng tài sản Những qui định này chỉ rõ trường hợp nào có lỗi, trường hợp nào không có lỗi nhưng vẫn phải bồi thường, trên cơ sở đó áp dụng pháp luật sẽ được chính xác
1.6 Sơ lƣợc về trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng trong pháp luật Dân
sự Việt Nam
Chế định trách nhiệm dân sự luôn là một chế định lớn được sự quan tâm của các nhà làm luật, các luật gia trong mỗi thời kỳ phát triển của xã hội Dựa vào tính chất và nguồn gốc của nghĩa vụ được tạo lập mà các vi phạm trách nhiệm được phân thành TNDS do vi phạm nghĩa vụ phát sinh từ các cam kết, thỏa thuận (TNDS trong hợp đồng - TNDS do vi phạm hợp đồng) và TNDS do vi phạm các nghĩa vụ pháp lý
do pháp luật quy định chung (TNDS ngoài hợp đồng) Nhưng không phải trong giai đoạn lịch sử nào hay pháp luật nước nào cũng có sự phân định rõ ràng hai loại TNDS này Với mong muốn mang đến một cái nhìn toàn diện hơn về TNDS, tác giả
8 Điều 1384 Bộ luật dân sự Pháp
9 Điều 1385 BLDS Pháp
10 Điều 1386 BLDS Pháp
Trang 34ngoài khế ước Ví dụ như: Điều 455 Quốc triều Hình luật quy định cấm không được
chứa chấp quân trộm cướp mà người chủ trang trại lại chứa chấp, thì ngoài việc bị phạt 500 quan tiền và tịch thu cả trang trại, người đó còn phải bồi thường cả tang vật nếu có; hay Điều 111 Hoàng Việt luật lệ quy định người giữ kho thu thuế lương
mà không đúng bằng dấu của quan thì bị phạt, số lượng dư ấy được trả về cho chủ, quan lại biết mà không tố cáo thì đồng tội với người giữ kho, không biết thì không
có tội (thể hiện dấu hiệu lỗi) Qua các ví dụ trên, có thể nhận ra các nhà làm luật
thời kỳ phong kiến cũng chú trọng phân biệt lỗi cố ý và vô ý trong việc gây thiệt hại
để ấn định mức bồi thường, tuy không phân định nghĩa vụ theo khế ước hay ngoài khế ước
Đến thời kỳ đất nước ta bị thực dân Pháp đô hộ, TNDS cũng được Bộ Dân luật Bắc Kỳ và Hoàng Việt Trung Kỳ hộ luật quy định, và đã được tách bạch ra khỏi trách nhiệm hình sự, nhưng TNDS vẫn chỉ được tiếp cận một cách chung, khái quát, chưa được phân định thành TNDS do vi phạm nghĩa vụ trong hay ngoài khế
ước/hợp đồng Điều này thể hiện qua quy định sau của hai Bộ luật: "Người nào làm
bất cứ việc gì gây thiệt hại cho người khác do lỗi của mình đều phải bồi thường thiệt hại" 11
Pháp luật dân sự của nước ta sau khi giải phóng đất nước, giành độc lập,
với xu hướng pháp luật xã hội chủ nghĩa đã có sự phân biệt rành mạch giữa TNDS trong hợp đồng và ngoài hợp đồng Trước tiên, hai loại TNDS này đều mang tính chất của TNDS là:
- Căn cứ phát sinh trách nhiệm là hành vi vi phạm pháp luật dân sự và chỉ
áp dụng với người thực hiện hành vi vi phạm đó;
- Tính chất của chế tài là hậu quả pháp lý bất lợi mang tính tài sản dành cho người thực hiện hành vi vi phạm;
11 Điều 712 Bộ luật Bắc Kỳ và Điều 761 Hoàng Việt Trung Kỳ hộ luật
Trang 35bị thiệt hại
- Về căn cứ xác định trách nhiệm:
Thiệt hại, bao gồm thiệt hại về vật chất và tinh thần, không chỉ là nền tảng
cơ bản mà còn là điều kiện bắt buộc của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng; trong khi đó thiệt hại không phải là điều kiện bắt buộc trong việc xác định TNDS trong hợp đồng, bởi chỉ cần có hành vi vi phạm nghĩa vụ đã có thể phát sinh TNDS và khi xét đến vấn đề thiệt hại trong hợp đồng, chỉ xét đến những tổn thất về mặt vật chất Nói rõ hơn, bên vi phạm vẫn phải chịu trách nhiệm dù đã có hay chưa
có thiệt hại xảy ra khi bên kia bị vi phạm hợp đồng Bên cạnh đó, khi xem xét đến hành vi vi phạm, thì đối với TNDS trong hợp đồng, hành vi này là hành vi vi phạm những cam kết cụ thể, những nghĩa vụ mà hai bên tự ràng buộc nhau trong hợp đồng, tức là hành vi này chưa chắc đã vi phạm các quy định pháp luật chung mà chỉ
vi phạm “pháp luật” thiết lập giữa những người tham gia giao kết hợp đồng; còn đối với TNDS ngoài hợp đồng, hành vi này là hành vi vi phạm những quy định của pháp luật nói chung, những quy định do Nhà nước ban hành dẫn đến thiệt hại, vì vậy
đó có thể là hành vi vi phạm những quy định của pháp luật chuyên ngành khác như hình sự, hành chính, kinh tế…
Đối với TNDS trong hợp đồng, khi hợp đồng được giao kết, các bên có nghĩa vụ thực hiện đúng những cam kết đã thỏa thuận trong hợp đồng Nếu một bên không thực hiện, thực hiện không đúng, không đầy đủ là vi phạm hợp đồng Hai bên
có thể dự liệu và thỏa thuận trước về những trường hợp thiệt hại do vi phạm hợp đồng và cách thức chịu trách nhiệm như bồi thường thiệt hại hay phạt vi phạm
Trang 3632
Trong khi đó, đối với trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, căn cứ xác định trách nhiệm là hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại và lỗi
- Về phương thức thực hiện trách nhiệm:
Đối với TNDS do vi phạm hợp đồng, các bên có thể thỏa thuận mức bồi thường hay phạt vi phạm kể từ khi giao kết hợp đồng (thể hiện bản chất thỏa thuận của hợp đồng) Đối với TNDS ngoài hợp đồng thì bên gây thiệt hại phải bồi thường toàn bộ và kịp thời, cả thiệt hại trực tiếp và thiệt hại gián tiếp, điều quan trọng là các bên trong quan hệ TNDS không biết nhau và không biết trước việc sẽ xảy ra để làm phát sinh quan hệ TNDS, do đó không thể thỏa thuận trước bất cứ một việc gì Việc thực hiện nghĩa vụ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thường sẽ làm chấm dứt nghĩa vụ Các bên có thể thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác
- Về thời điểm xác định trách nhiệm:
Một trong những nội dung quan trọng để có thể xác định được đúng mức bồi thường thiệt hại của bên vi phạm là xác định thời điểm chịu TNDS, TNDS sẽ phát sinh tại thời điểm xảy ra thiệt hại hay tại thời điểm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên bị vi phạm, điều này tùy thuộc vào tính chất của TNDS Đối với TNDS trong hợp đồng, thời điểm TNDS phát sinh kể từ thời điểm hợp đồng có hiệu lực và
có bên vi phạm nghĩa vụ hợp đồng; còn với TNDS ngoài hợp đồng, TNDS phát sinh
kể từ thời điểm xảy ra hành vi gây thiệt hại
- Về tính liên đới trong chịu TNDS:
Với TNDS do vi phạm hợp đồng, trường hợp nhiều người cùng gây thiệt hại thì họ liên đới chịu trách nhiệm nếu khi giao kết hợp đồng họ có thỏa thuận trước về vấn đề chịu trách nhiệm liên đới Còn với TNDS ngoài hợp đồng, trong trường hợp nhiều người cùng gây thiệt hại thì họ đều phải chịu trách nhiệm liên đới theo các quy định cụ thể của pháp luật dân sự
Trang 3733
Tiểu kết luận Chương 1
Như vậy, qua nghiên cứu các nội dung tại Chương 1, đã cho thấy rõ về mặt lý luận, cơ sở pháp lý về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng; nghiên cứu phân tích các đặc điểm, điều kiện phát sinh trách nhiệm, nguyên tắc năng lực chịu trách nhiệm về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của pháp luật Việt Nam, đồng thời tác giả diện dẫn so sánh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của một số quốc gia, chỉ ra những nội dung cơ bản về trách nhiệm BTTH, từ đó xây dựng khái niệm về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng một cách cụ thể Chính vì thế, Việt Nam cũng như một số quốc gia đã luật hóa các quy định liên quan đến Trách nhiệm BTTH, đưa ra các quy định chi tiết bảo vệ lợi ích chính đáng của các tổ chức, cá nhân bị thiệt hại trong các quan hệ pháp luật cũng như tạo ra công cụ
để nhà nước có thể quản lý xã hội bằng pháp luật một cách bền vững và hiệu quả
Để qua đó, đánh giá những ưu điểm và những hạn chế trong áp dụng quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Tại chương tiếp theo, tác giả sẽ đánh giá trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong một số trường hợp cụ thể, góp phần giải quyết những vụ việc phức tạp, khó xác định của các chủ thể tham gia trong quan hệ pháp luật này Đây là nội dung quan trọng để từ đó, đề xuất những giải pháp, kiến nghị được hoàn chỉnh hơn
Trang 382.1 Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra
2.1.1 Khái niệm nguồn nguy hiểm cao độ
Cho đến nay pháp luật hiện hành (BLDS 2005 kể cả BLDS 2015) vẫn chưa
có khái niệm cụ thể nào về nguồn nguy hiểm cao độ mà chỉ liệt kê những nguồn nguy hiểm cao độ trong thực tế : Nguồn nguy hiểm cao độ bao gồm các phương tiện giao thông cơ giới, hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp đang hoạt động, vũ khí, chất nổ, chất cháy, chất phóng xạ, thú dữ và các nguồn nguy hiểm cao độ khác do pháp luật qui định
Qua việc liệt kê như thế ta thấy rằng không có một khái niệm cụ thể nào được nêu từ 2 Bộ luật dân sự Đồng thời cũng từ những liệt kê đó ta thấy được việc xác định đâu là những nguồn nguy hiểm cao độ là dựa vào mức độ nguy hiểm của nó từ
đó tạm có khái niệm: “Nguồn nguy hiểm cao độ là những tài sản tiềm ẩn những nguy cơ lớn gây ra thiệt hại cho người và tài sản mà con người không hoàn toàn kiểm soát được nguy cơ gây thiệt hại”12
“1 Nguồn nguy hiểm cao độ bao gồm phương tiện giao thông vận tải cơ giới,
hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp đang hoạt động, vũ khí, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, thú dữ và các nguồn nguy hiểm cao độ khác do pháp luật quy định
Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải vận hành, sử dụng, bảo quản, trông giữ, vận chuyển nguồn nguy hiểm cao độ theo đúng quy định của pháp luật
2 Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra; nếu chủ sở hữu đã giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng thì người này phải bồi thường, trừ trường hợp có thỏa thuận khác
3 Chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại cả khi không có lỗi, trừ trường hợp sau đây:
12 TS Nguyễn Minh Tuấn, Bình luận khoa học BLDS 2015