Cụ thể, đối với HĐND cấp huyện có quyền bầu Chủ tịch, các Phó chủ tịch và các Ủy viên UBND huyện để điều hành kinh tế - xã hội địa phương; quyết định việc miễn nhiệm, bãi nhiệm đại biểu
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
HUỲNH VIỆT HÙNG
NHIỆM VỤ HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP HUYỆN VỚI
PHÁT TRIỂN KINH TẾ ĐỊA PHƯƠNG;
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP TẠI HUYỆN ĐẦM DƠI,
TỈNH CÀ MAU
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
HUỲNH VIỆT HÙNG
NHIỆM VỤ HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP HUYỆN VỚI
PHÁT TRIỂN KINH TẾ ĐỊA PHƯƠNG;
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP TẠI HUYỆN ĐẦM DƠI,
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên là Huỳnh Việt Hùng– mã số học viên: 7701250553A, là học viên lớp
Cao học Luật Kinh tế, Khóa 24, Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh;
là tác giả của Luận văn thạc sĩ luật học với đề tài “Nhiệm vụ của Hội đồng nhân dân cấp huyện trong phát triển kinh tế địa phương; thực trạng và giải pháp tại huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau”
Tôi xin cam đoan tất cả các nội dung được trình bày trong Luận văn này là kết quả nghiên cứu độc lập của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn của Phó giáo sư – Tiến sỹ Võ Trí Hảo Trong Luận văn có sử dụng, trích dẫn một số văn bản, ý kiến, quan điểm khoa học của một số tác giả Các thông tin này đều được trích dẫn nguồn
cụ thể, chính xác và có thể kiểm chứng Các số liệu, thông tin được sử dụng trong Luận văn là hoàn toàn khách quan và trung thực
Học viên thực hiện
Huỳnh Việt Hùng
Trang 4MỤC LỤC TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
PHẦN MỞ ĐẦU 1
Chương 1 Nhiệm vụ Hội đồng nhân dân cấp huyện trong vấn đề chính sách phát triển kinh tế và ban hành văn bản quy phạm pháp luật 3
1.1 Quy định của pháp luật 4
1.1.1 Luật tổ chức chính quyền địa phương 4
1.1.2 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật 6
1.1.3 Luật đầu tư công 7
1.2 Thực trạng, bất cập và giải pháp 9
1.2.1 Thực trạng 9
1.2.1.1 Thực trạng đối với Luật Tổ chức chính quyền địa phương 9
1.2.1.2 Thực trạng đối với Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của HĐND huyện Đầm Dơi 17
1.2.1.3 Thực trạng vai trò của Hội đồng nhân dân huyện Đầm Dơi trong lĩnh vực đầu tư công 18
1.2.2 Một số bất cập, hạn chế 20
1.2.2.1 Bất cập đối với Luật Tổ chức chính quyền địa phương 20
1.2.2.2 Bất cập đối với hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật 22
1.2.2.3 Bất cập trong thực hiện chức năng của Hội đồng nhân dân cấp huyện đối với đầu tư công 25
1.2.3 Giải pháp 26
1.2.3.1 Giải pháp đối với Luật Tổ chức chính quyền địa phương 26
1.2.3.2 Giải pháp đối với Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật 27
1.2.3.3 Giải pháp đối với Luật đầu tư công 27
Tiểu kết luận Chương 1 28
Chương 2 Nhiệm vụ Hội đồng nhân dân cấp huyện quyết định các vấn đề về kinh tế 29
2.1 Quy định pháp luật về nhiệm vụ quyết định các vấn đề kinh tế của HĐND cấp huyện 29
2.1.1 Về quy hoạch 29
2.1.2 Về kế hoạch kinh tế 30
Trang 52.1.3 Về dự toán, phân bổ dự toán và quyết toán ngân sách, bao gồm ngân sách cho
phát triển kinh tế 32
2.2 Thực trạng, bất cập và giải pháp 35
2.2.1 Thực trạng 35
2.2.1.1 Thực trạng về quy hoạch 35
2.2.1.2 Thực trạng về kế hoạch kinh tế 38
2.2.1.3 Thực trạng về dự toán, phân bổ dự toán và quyết toán ngân sách 41
2.2.1.3.1 Thực trạng về dự toán ngân sách 41
2.2.1.3.2 Thực trạng về phân bổ dự toán ngân sách 42
2.2.1.3.3 Thực trạng về quyết toán ngân sách 45
2.2.2 Bất cập 47
2.2.2.1 Bất cập về quy hoạch 47
2.2.2.2 Bất cập về kế hoạch kinh tế 48
2.2.2.3 Bất cập về dự toán, phân bổ dự toán và quyết toán ngân sách 49
2.2.3 Giải pháp 49
2.2.3.1 Giải pháp về quy hoạch 49
2.2.3.2 Giải pháp về kế hoạch kinh tế 50
2.2.3.3 Giải pháp về dự toán, phân bổ dự toán và quyết toán ngân sách 50
Tiểu kết luận Chương 2 51
Chương 3 Nhiệm vụ Hội đồng nhân dân cấp huyện trong giám sát các hoạt động quản lý nhà nước về kinh tế 52
3.1 Quy định pháp luật về giám sát 52
3.1.1 Các chủ thể liên quan giám sát 52
3.1.1.1 Chủ thể giám sát 52
3.1.1.2 Chủ thể chịu sự giám sát 53
3.1.1.3 Các chủ thể tham gia giám sát cùng Hội đồng nhân dân 54
3.1.2 Thẩm quyền giám sát 54
3.1.3 Phạm vi giám sát 55
3.1.4 Nội dung giám sát 55
3.1.4.1 Hoạt động giám sát tại kỳ họp Hội đồng nhân dân cấp huyện gồm các nội dung sau đây: 55
3.1.4.2 Hoạt động giám sát của thường trực Hội đồng nhân dân cấp huyện gồm các nội dung sau đây: 56
3.1.4.3 Hoạt động giám sát của các Ban của Hội đồng nhân dân cấp huyện gồm các nội dung sau đây: 57
Trang 63.1.4.4 Hoạt động giám sát của các Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện gồm
các nội dung sau đây: 59
3.1.4.5 Hoạt động giám sát của đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện gồm các nội dung sau đây: 59
3.1.5 Hình thức giám sát 62
3.1.5.1 Giám sát trực tiếp 62
3.1.5.2 Giám sát gián tiếp 62
3.1.6 Thời gian giám sát 63
3.1.6.1 Giám sát tại kỳ họp 63
3.1.6.2 Giám sát giữa hai kỳ họp 63
3.2 Thực trạng, bất cập, giải pháp 63
3.2.1 Thực trạng 63
3.2.1.1 Thực trạng các chủ thể liên quan giám sát 63
3.2.1.2 Thực trạng thẩm quyền giám sát 66
3.2.1.3 Thực trạng phạm vi giám sát 66
3.2.1.4 Thực trạng nội dung giám sát 67
3.2.1.5 Thực trạng hình thức giám sát 71
3.2.1.6 Thực trạng thời gian giám sát 72
3.2.2 Bất cập 73
3.2.2.1 Bất cập đối với các chủ thể liên quan giám sát 73
3.2.2.2 Bất cập thẩm quyền giám sát 75
3.2.2.3 Bất cập phạm vi giám sát 76
3.2.2.4 Bất cập nội dung giám sát 77
3.2.2.5 Bất cập hình thức giám sát 78
3.2.2.6 Bất cập thời gian giám sát 78
3.2.3 Giải pháp 79
Tiểu kết luận Chương 3 80
KẾT LUẬN 81 DANH MỤC VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7DANH MỤC TỪ NGỮ VIẾT TẮT
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Thời gian qua, Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp huyện trên địa bàn tỉnh Cà Mau nói chung và huyện Đầm Dơi nói riêng, trong hoạt động đạt được những kết quả quan trọng, là nơi cử tri gửi gấm niềm tin, là cầu nối đặc biệt quan trọng giữa của cử tri với đến Đảng và Nhà nước Tuy nhiên, trong thực tế về tổ chức và hoạt động của HĐND cấp huyện vẫn còn những hạn chế nhất định Một trong những hạn chế đó mà nhiều người đã cho là HĐND chỉ hoạt động “hình thức” - có nghĩa là có HĐND cũng được và không có HĐND cũng được Và đặc biệt hơn cũng có nhiều luận điểm cho rằng HĐND chưa thể hiện tốt vai trò, nhiệm vụ của mình trong phát triển kinh tế địa phương Bản thân tôi là một công chức trực tiếp tham mưu giúp việc cho hoạt động của HĐND huyện, nên tôi quyết định chọn đề tài này nghiên cứu, với mục đích tìm ra nguyên nhân dẫn đến những tồn tại đã qua và thực tế của HĐND để đưa ra phương hướng khắc phục những hạn chế đó, góp phần giúp HĐND cấp huyện nói chung và huyện Đầm Dơi nói riêng thể hiện tốt vai trò, nhiệm
vụ trong phát triển kinh tế địa phương
2 Câu hỏi cần nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài để làm rõ câu hỏi, tại sao vai trò của HĐND cấp huyện đối với sự phát triển kinh tế địa phương rất mờ nhạt? Từ đó tìm giải pháp để HĐND cấp huyện thể hiện tốt vai trò, nhiệm vụ đối với sự phát triển kinh tế địa phương
Để làm rõ hơn câu hỏi cần nghiên cứu, tác giả chia câu hỏi lớn này thành ba câu hỏi nhỏ tương ướng với ba chương của Luận văn:
Thứ nhất: Trong thực thi chức năng quy hoạch chính sách kinh tế, ban hành văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) của HĐND cấp huyện có gì bất cập, cần được hoàn thiện thêm?
Thứ hai: Trong thực thi chức năng quyết định các vấn đề quan trọng về kinh
tế địa phương của HĐND cấp huyện có gì bất cập, cần được hoàn thiện thêm?
Thứ ba: HĐND cấp huyện đã thực hiện tốt chức năng giám sát đối với hoạt động kinh tế tại địa phương hay chưa?
3 Đối tƣợng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là HĐND cấp huyện, cụ thể là HĐND huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài trên địa bàn huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau
Trang 94 Mục tiêu nghiên cứu
- Mục mục tiêu chung: Nghiên cứu đề tài này với mục tiêu làm rõ hơn vai trò, nhiệm vụ của HĐND cấp huyện, cũng như những tồn tại, hạn chế trong hoạt động của HĐND đối với lĩnh vực kinh tế từ cơ chế, văn bản quy phạm pháp luật đến thực tiễn Từ đó, có những giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế, văn bản cũng như hoạt động thực tiễn của HĐND cấp huyện đối với lĩnh vực kinh tế đạt hiệu quả hơn
- Mục tiêu cụ thể: Giúp HĐND huyện Đầm Dơi thể hiện tốt vai trò, nhiệm vụ trong việc quyết định và giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước địa phương đối với lĩnh vực kinh tế, góp phần quan trọng vào nhiệm vụ phát triển kinh tế địa phương
5 Phương pháp nghiên cứu
Tác giả nghiên cứu đề tài dự trên các quy định của pháp luật hiện hành và hình hình thực tế của địa phương Từ đó áp dụng nhiều phương pháp để nghiên cứu, nhưng chủ yếu trong đề tài sử dụng nhiều nhất là phương pháp phân tích, so sánh Phân tích, so sánh để thấy được những điểm còn hạn chế của các quy định pháp luật, từ đó đề ra một số giải pháp
6 ngh a và khả năng ứng dụng
Bản thân người nghiên cứu mong muốn đạt được ở đề tài này là góp phần làm rõ hơn nguyên nhân dẫn đến những tồn tại, hạn chế đã qua của HĐND cấp huyện trong việc phát triển kinh tế địa phương Từ đó, có một số phương pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật cũng như để HĐND cấp huyện thể hiện tốt vai trò, nhiệm vụ đối với việc phát triển kinh tế của huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau
Trang 10Chương 1 Nhiệm vụ Hội đồng nhân dân cấp huyện trong vấn
đề chính sách phát triển kinh tế và ban hành văn bản quy phạm pháp luật
Hội đồng nhân dân là cơ quan có vị trí quan trọng trong bộ máy nhà nước, hệ thống chính trị, có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển kinh tế, văn hóa – xã hội, quốc phòng an ninh, thực thi pháp luật ở địa phương Vì vậy, muốn tìm hiểu nhiệm vụ của HĐND đối với sự phát triển kinh tế địa phương trước hết cần
phải hiểu về Hội đồng nhân dân “Hội đồng nhân dân gồm các đại biểu Hội đồng
nhân dân do cử tri ở địa phương bầu ra, là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên”1 Đại biểu HĐND là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân địa phương, chịu trách nhiệm trước cử tri địa phương và trước HĐND về thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn đại biểu của mình Đại biểu HĐND bình đẳng trong thảo luận và quyết định các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân
Để điều hành các hoạt động của HĐND trong đó có lĩnh vực phát triển kinh tế địa phương, Luật quy định HĐND bầu ra cơ quan điều hành đó là Thường trực Hội đồng nhân dân Thường trực HĐND là cơ quan thường trực của HĐND, thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật; chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Hội đồng nhân dân Đối với huyện Đầm Dơi đến thời điểm hiện tại, Thường trực HĐND có 5 vị, đó là: Chủ tịch HĐND (đồng chí Bí thư Huyện ủy kiêm Chủ tịch HĐND), 2 vị Phó Chủ tịch HĐND (chuyên trách), Trưởng ban Kinh
tế - Xã hội và Trưởng ban Pháp chế HĐND huyện (do Trưởng 2 ban của Huyện ủy kiêm Trưởng 2 ban của HĐND)
Nhiệm vụ chính của HĐND theo Luật định là quyết định các chỉ tiêu, nhiệm
vụ trên các lĩnh vực do Nhà nước quản lý; đối với lĩnh vực kinh tế thì HĐND huyện quyết định các chính sách phát triển kinh tế, về dự toán, phân bổ dự toán, quyết toán ngân sách, đầu tư xây dựng để Ủy ban nhân dân (UBND) tổ chức thực hiện; đồng thời HĐND huyện thực hiện chức năng giám sát việc tổ chức thực hiện của UBND đối với các chỉ tiêu, nhiệm vụ HĐND đề ra
1 Theo Điều 6, Luật Tổ chức chính quyền địa phương đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 19 tháng 6 năm 2015
Trang 111.1 Quy định của pháp luật
1.1.1 Luật tổ chức chính quyền địa phương
Theo quy định, “Chính quyền địa phương ở huyện là cấp chính quyền địa
phương gồm có Hội đồng nhân dân huyện và Ủy ban nhân dân huyện”2 Vì thế, Hội đầng nhân dân và Ủy ban nhân dân huyện có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Chính quyền địa phương ở huyện có nhiệm vụ và quyền hạn sau:
- Tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật trên địa bàn huyện Vì vậy, HĐND huyện có nhiệm vụ tổ chức lấy ý kiến các dự thảo và triển khai thực hiện Hiến pháp và pháp luật trên địa bàn huyện khi các văn bản này có hiệu lực, để cán bộ và nhân dân hiểu, thực hiện đúng Hiến pháp và pháp luật
- Quyết định các vấn đề của huyện trong phạm vi được phân quyền, phân cấp theo quy định Cụ thể, đối với HĐND cấp huyện có quyền bầu Chủ tịch, các Phó chủ tịch và các Ủy viên UBND huyện để điều hành kinh tế - xã hội địa phương; quyết định việc miễn nhiệm, bãi nhiệm đại biểu HĐND huyện; quyết định các nội dung liên quan đến ngân sách huyện
- Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do cơ quan hành chính nhà nước cấp trên ủy quyền Chịu trách nhiệm trước chính quyền địa phương cấp tỉnh về kết quả thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương ở huyện
- Quyết định và tổ chức thực hiện các biện pháp nhằm pháp huy quyền làm chủ của Nhân dân, huy động các nguồn lực xã hội để xây dựng và phát triển kinh tế
- xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh trên địa bàn huyện
Riêng Hội đồng nhân dân huyện có 5 nhiệm vụ, quyền hạn sau:
“1 Nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND huyện trong tổ chức và bảo đảm việc thi
hành Hiến pháp, pháp luật và trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, xây dựng chính quyền:
Ban hành Nghị quyết về những vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND huyện Quyết định biện pháp thực hiện nhiệm vụ về quốc phòng, an ninh; biện pháp bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh, phòng, chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật khác, phòng, chống quan liêu, tham nhũng trong phạm vi được phân quyền; biện pháp bảo vệ tài sản của cơ quan, tổ chức, bảo hộ tính mạng, tự
do, danh dự, nhân phẩm, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của công dân trên địa bàn huyện theo quy định của pháp luật
2
Theo Điều 23 Luật tổ chức chính quyền địa phương
Trang 12Quyết định biện pháp để thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn do cơ quan nhà nước cấp trên phân cấp; quyết định việc phân cấp cho chính quyền địa phương, cơ quan nhà nước cấp dưới thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương ở huyện
Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch HĐND, Phó Chủ tịch HĐND, Trưởng ban, Phó Trưởng ban của HĐND huyện; bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch UBND, Phó Chủ tịch UBND và các Ủy viên UBND huyện; bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Hội thẩm Tòa án nhân dân (TAND) huyện
Lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người giữ chức vụ do HĐND bầu theo quy định tại Điều 88 và Điều 89 Luật Tổ chức chính quyền địa phương
Bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản trái pháp luật của UBND, Chủ tịch UBND huyện; bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản trái pháp luật của HĐND cấp
xã
Quyết định thành lập, bãi bỏ cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện Giải tán HĐND cấp xã trong trường hợp HĐND đó làm thiệt hại nghiêm trọng đến lợi ích của Nhân dân và trình HĐND cấp tỉnh phê duyệt trước khi thi hành
Bãi nhiệm đại biểu HĐND huyện và chấp nhận việc đại biểu HĐND huyện xin thôi làm nhiệm vụ đại biểu
2 Nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND huyện trong lĩnh vực kinh tế, tài nguyên,
môi trường:
Thông qua kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trung hạn và hằng năm của huyện, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của huyện trước khi trình UBND cấp tỉnh phê duyệt
Quyết định dự toán thu ngân sách nhà nước trên địa bàn; dự toán thu, chi ngân sách địa phương và phân bổ dự toán ngân sách huyện; điều chỉnh dự toán ngân sách địa phương trong trường hợp cần thiết; phê chuẩn quyết toán ngân sách địa phương Quyết định chủ trương đầu tư chương trình, dự án của huyện theo quy định của pháp luật
Quyết định quy hoạch, kế hoạch phát triển các ngành, lĩnh vực trên địa bàn huyện trong phạm vi được phân quyền
Quyết định biện pháp quản lý và sử dụng đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi ở vùng biển và các nguồn tài nguyên
Trang 13thiên nhiên khác; biện pháp bảo vệ và cải thiện môi trường, phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, bão, lụt ở địa phương theo quy định của pháp luật
3 Quyết định biện pháp phát triển hệ thống giáo dục mầm non, tiểu học và
trung học cơ sở; biện pháp phát triển sự nghiệp văn hóa, thông tin, thể dục, thể thao; biện pháp bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân, phòng, chống dịch bệnh, thực hiện chính sách dân số, kế hoạch hóa gia đình; biện pháp phát triển việc làm, thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng, chính sách bảo trợ xã hội, xóa đói, giảm nghèo; biện pháp bảo đảm việc thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo trên địa bàn huyện theo quy định của pháp luật
4 Giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phương, việc thực
hiện Nghị quyết của HĐND huyện; giám sát hoạt động của Thường trực HĐND, UBND, TAND, Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) cùng cấp, Ban của HĐND cấp mình; giám sát văn bản quy phạm pháp luật của UBND cùng cấp và văn bản của HĐND cấp xã
5 Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật”.3
1.1.2 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật
“Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản có chứa quy phạm pháp luật được
ban hành theo đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục theo quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật Văn bản có chứa quy phạm, pháp luật nhưng được ban hành không đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục quy định thì không phải là văn bản quy phạm pháp luật”.4
Tại Điều 4 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật có quy định hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và cơ quan được ban hành văn bản quy phạm pháp luật Theo đó, đã quy định Nghị quyết của Hội đồng nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung
là cấp huyện) Như thế thì HĐND cấp huyện được ban hành Nghị quyết với thể thức và nội dung là loại văn bản quy phạm pháp luật Việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật nói chung và HĐND cấp huyện ban hành Nghị quyết loại quy phạm pháp luật nói riêng phải tuân thủ đúng nguyên tắc về xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật; trong đó phải bảo đảm:
- Tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của văn bản quy phạm pháp luật trong hệ thống pháp luật
Trang 14- Tuân thủ đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật
- Bảo đảm tính minh bạch trong quy định của văn bản quy phạm pháp luật
- Bảo đảm tính khả thi, tiết kiệm, hiệu quả, kịp thời, dễ tiếp cận, dễ thực hiện của văn bản quy phạm pháp luật; bảo đảm lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong văn bản quy phạm pháp luật; bảo đảm yêu cầu cải cách thủ tục hành chính
- “Bảo đảm yêu cầu về quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường, không ngăn
cản việc thực hiện các điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên Bảo đảm công khai, dân chủ trong việc tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong quá trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật”.5
1.1.3 Luật đầu tƣ công
“Đầu tư công là hoạt động đầu tư của Nhà nước vào các chương trình, dự án
xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và đầu tư vào các chương trình, dự án phục vụ phát triển kinh tế - xã hội”.6 “Cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư công
bao gồm Chính phủ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ủy ban nhân dân các cấp”.7
“Dự án đầu tư công là dự án đầu tư sử dụng toàn bộ hoặt một phần vốn đầu
tư công”8
“Vốn đầu tư công bao gồm: vốn ngân sách nhà nước, vốn công trái quốc gia, vốn trái phiếu chính phủ, vốn trái phiếu chính quyền địa phương, vốn hỗ trợ phát triển chính thức và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài, vốn tín dụng đầu tư phát triển Nhà nước, vốn từ nguồn thu để lại cho đầu tư nhưng chưa đưa vào cân đối ngân sách nhà nước, các khoản vốn vay khác của ngân sách địa phương để đầu tư”9
Căn cứ vào tính chất, dự án đầu tư công được phân thành hai loại:
Thứ nhất, dự án có cấu phần xây dựng là dự án đầu tư, bao gồm các dự án:
xây dựng mới, cải tạo, nâng cấp, mở rộng dự án đã đầu tư xây dựng, bao gồm các phần mua tài sản, mua trang thiết bị dự án;
Thứ hai, dự án không có cấu phần xây dựng là dự án mua tài sản, nhận chuyển
nhượng quyền sử dụng đất, mua, sửa chữa, nâng cấp trang thiết bị, máy móc
5
Theo Điều 5, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật
6 Khoản 15, Điều 4, Luật đầu tư công
7 Khoản 12, Điều 4, Luật đầu tư công
8 Khoản 13, Điều 4, Luật đầu tư công
9
Khoản 21, Điều 4, Luật đầu tư công
Trang 15Căn cứ vào mức độ quan trọng và quy mô, dự án đầu tư công được phân loại thành dự án quan trọng quốc gia, dự án nhóm A, dự án nhóm B và dự án nhóm C Đối với các dự án đầu tư công, thì HĐND có vai trò quan trọng trong việc quyết định chủ trương đầu tư, cụ thể HĐND các cấp quyết định chủ trương đầu tư chương trình, dự án sau đây:
Chương trình đầu tư bằng toàn bộ vốn cân đối ngân sách địa phương, vốn trái phiếu chính quyền địa phương, vốn từ nguồn thu để lại cho đầu tư nhưng chưa đưa vào cân đối ngân sách địa phương thuộc thẩm quyền quyết định của HĐND các cấp
và các khoản vốn vay khác của ngân sách địa phương để đầu tư
Dự án nhóm B và dự án trọng điểm nhóm C thuộc cấp mình quản lý, trừ các
dự án quy định tại điểm đ khoản 3 Điều 17 Luật đầu tư công Tiêu chí dự án trọng điểm nhóm C của địa phương do HĐND cấp tỉnh quyết định phù hợp với mục tiêu, định hướng phát triển, khả năng tài chính và đặc điểm cụ thể của địa phương
Đối với dự án nhóm B và dự án trọng điểm nhóm C do UBND cấp huyện, cấp
xã quản lý, UBND trình HĐND cùng cấp cho ý kiến về Báo cáo đề xuất chủ trương đầu tư
Sau khi HĐND cùng cấp chấp thuận, UBND cấp huyện, cấp xã gửi UBND cấp tỉnh Báo cáo đề xuất chủ trương đầu tư UBND cấp tỉnh giao Sở Kế hoạch và Đầu tư thẩm định nguồn vốn và khả năng cân đối vốn trước khi gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư Báo cáo đề xuất chủ trương đầu tư
Về trình, phê duyệt và giao kế hoạch đầu tƣ hằng năm vốn cân đối ngân
sách địa phương, vốn trái phiếu chính quyền địa phương, vốn từ nguồn thu để lại cho đầu tư nhưng chưa đưa vào cân đối ngân sách địa phương và các khoản vốn vay
khác của ngân sách địa phương để đầu tư thì thực hiện theo quy trình:
Trước ngày 20 tháng 11 hằng năm, UBND trình HĐND cùng cấp kế hoạch đầu tư năm sau, bao gồm danh mục và mức vốn bố trí cho từng dự án theo từng nguồn vốn Trước ngày 10 tháng 12 hằng năm, HĐND cấp tỉnh quyết định kế hoạch đầu tư năm sau của cấp mình, bao gồm danh mục và mức vốn bố trí cho từng dự án
theo từng nguồn vốn “Trước ngày 20 tháng 12 hằng năm, HĐND cấp huyện, cấp
xã quyết định kế hoạch đầu tư năm sau của cấp mình, bao gồm danh mục và mức vốn cân đối ngân sách địa phương, vốn từ nguồn thu để lại cho đầu tư nhưng chưa đưa vào cân đối ngân sách địa phương bố trí cho từng dự án Trước ngày 31 tháng
Trang 1612 hằng năm, UBND các cấp giao kế hoạch đầu tư năm sau cho các đơn vị thực hiện”.10
1.2 Thực trạng, bất cập và giải pháp
1.2.1 Thực trạng
1.2.1.1 Thực trạng đối với Luật Tổ chức chính quyền địa phương
Luật tổ chức chính quyền địa phương đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 19 tháng 6 năm
2015 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2016 Qua hơn một năm
áp dụng thực hiện Luật Tổ chức chính quyền địa phương, bản thân nhận thấy Luật
Tổ chức chính quyền địa phương có nhiều đổi mới hơn so với Luật Tổ chức HĐND
và UBND trước đây; những điểm đổi mới đã ảnh hưởng, tác động tích cực đến vai trò, nhiệm vụ của HĐND huyện trong quyết định, giám sát trên lĩnh vực kinh tế của
địa phương “Một số điểm mới” 11 cụ thể như sau:
Luật Tổ chức chính quyền địa phương được xây dựng trên cơ sở sửa đổi toàn diện Luật tổ chức HĐND và UBND năm 2003 cho phù hợp với tinh thần Hiến pháp năm 2013 Luật Tổ chức chính quyền địa phương đã cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 2013 và các chủ trương, định hướng của Đảng về chính quyền địa phương; đồng thời kế thừa những nội dung hợp lý và sửa đổi, bổ sung những bất cập, vướng mắc trong hơn 10 năm thực hiện Luật tổ chức HĐND và UBND năm
2003 Luật tổ chức chính quyền địa phương gồm 8 chương và 143 điều, tăng 2 chương và 3 điều so với Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003
Điểm đổi mới thứ nhất, về đơn vị hành chính: Luật Tổ chức chính quyền
địa phương xác định các đơn vị hành chính gồm có tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc Trung ương; xã, phường, thị trấn và đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt Như vậy, so với Luật tổ chức HĐND và UBND năm 2003, thì Luật Tổ chức chính quyền địa phương đã bổ sung thêm đơn vị hành chính: thành phố thuộc thành phố trực thuộc Trung ương và đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt Đây là quy định thể hiện
sự quan tâm đặc biệt của Nhà nước đối với các đơn vị thành phố và đơn vị kinh tế đặc biệt, nhằm cụ thể hóa Điều 110, Hiến pháp năm 2013
Điểm đổi mới thứ hai, đó là về tổ chức chính quyền địa phương ở các đơn
Trang 17Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định “Cấp chính quyền địa phương
gồm có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân được tổ chức ở các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”12 Chính quyền địa phương ở nông thôn gồm chính quyền địa phương ở tỉnh, huyện, xã Chính quyền địa phương
ở đô thị gồm chính quyền địa phương ở thành phố trực thuộc trung ương, quận, thị
xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương, phường, thị trấn Như vậy, sau một thời gian dài thực hiện thí điểm không tổ chức HĐND huyện, quận, phường theo Nghị quyết số 26/2008/QH12 của Quốc hội, Nghị quyết
số 724/2009/UBTVQH12 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Luật Tổ chức chính quyền địa phương đã quy định cấp chính quyền địa phương được tổ chức ở các đơn
vị hành chính đều phải có HĐND và UBND Ngoài ra, một trong những điểm mới nổi bật của Luật Tổ chức chính quyền địa phương so với Luật tổ chức HĐND và UBND năm 2003 đó là có sự phân biệt giữa chính quyền địa phương ở nông thôn
và ở đô thị, phù hợp với đặc điểm kinh tế, địa lý, dân cư, kết cấu hạ tầng và yêu cầu quản lý ở mỗi địa bàn
Điểm đổi mới thứ ba, đó là về nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của chính quyền địa phương:
- Đối với HĐND: Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hơn về
cơ cấu tổ chức của HĐND tạo cơ sở pháp lý để củng cố, hoàn thiện tổ chức và nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của HĐND các cấp Về cơ cấu tổ chức của HĐND, Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định HĐND thành phố trực thuộc trung ương được thành lập thêm Ban đô thị vì đây là những đô thị tập trung, có quy mô lớn, mức độ đô thị hóa cao và có nhiều điểm đặc thù khác với các địa bàn đô thị thị
xã, thành phố thuộc tỉnh Về số lượng đại biểu HĐND thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh từ 95 đại biểu lên 105 đại biểu để phù hợp với quy mô dân số, đặc điểm, tính chất của các đô thị lớn này Phó Chủ tịch HĐND cấp tỉnh, cấp huyện là 2
vị và Phó Chủ tịch HĐND cấp xã là 1 vị, tất cả đều hoạt động chuyên trách; Trưởng các Ban của HĐND cấp tỉnh, cấp huyện có thể hoạt động chuyên trách; Phó Trưởng Ban HĐND cấp tỉnh, cấp huyện hoạt động chuyên trách; Trưởng Ban, Phó Trưởng Ban của HĐND cấp xã tất cả đều hoạt động kiêm nhiệm
- Đối với UBND: Về cơ cấu tổ chức của UBND, nếu như trước đây, theo quy định của Luật tổ chức HĐND và UBND năm 2003, không phải tất cả những người
12
Trích khoản 1, Điều 4, Luật tổ chức chính quyền địa phương
Trang 18đứng đầu của các cơ quan chuyên môn của UBND nào cũng là ủy viên của UBND thì đến Luật Tổ chức chính quyền địa phương đã mở rộng cơ cấu tổ chức của UBND, cụ thể là tất cả người đứng đầu của các cơ quan chuyên môn của UBND đều là ủy viên của UBND Đây là một quy định mới nhằm phát huy trí tuệ tập thể của các thành viên UBND, tăng cường hiệu lực giám sát của HĐND đối với UBND cùng cấp thông qua cơ chế lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người giữ chức vụ do HĐND bầu, bởi vì tất cả thành viên UBND đều do HĐND bầu
Về số lượng Phó Chủ tịch UBND các cấp được quy định theo phân loại đơn vị hành chính, mà theo đó đối với đơn vị hành chính cấp tỉnh loại đặc biệt (Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh) có không quá 05 Phó Chủ tịch, loại I có không quá 04 Phó Chủ tịch, loại II và loại III có không quá 03 Phó Chủ tịch Đối với đơn vị hành chính cấp huyện loại I có không quá 03 Phó Chủ tịch, loại II và loại III có không quá 02 Phó Chủ tịch UBND Đối với đơn vị hành chính cấp xã loại I có không quá
02 Phó Chủ tịch, loại II và loại III thì có 01 Phó Chủ tịch UBND Luật tổ chức chính quyền địa phương còn bổ sung Điều 124 quy định về việc điều động, cách chức Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND cho phù hợp với quy định của Hiến pháp, Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch UBND cấp tỉnh, cấp huyện chủ động và trách nhiệm hơn trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao
Điểm đổi mới thứ tƣ, đó là về việc thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính: Theo Luật Tổ chức chính quyền địa phương
quy định “Sau khi lấy ý kiến cử tri về việc thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh
địa giới đơn vị hành chính, nếu có trên năm mươi phần trăm tổng số cử tri trên địa bàn tán thành thì cơ quan xây dựng đề án có trách nhiệm hoàn thiện đề án và gửi HĐND ở các đơn vị hành chính có liên quan để lấy ý kiến”13 Luật còn bổ sung quy định về thẩm quyền đặt tên, đổi tên đơn vị hành chính và giải quyết tranh chấp đất đai liên quan đến địa giới hành chính giữa các đơn vị hành chính Theo đó, Quốc hội quyết định thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính cấp tỉnh; đặt tên, đổi tên đơn vị hành chính cấp tỉnh; giải quyết tranh chấp liên quan đến địa giới đơn vị hành chính cấp tỉnh Còn đối với Ủy ban thường vụ Quốc hội thì quyết định thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính cấp
13
Trích khoản 1, Điều 132 Luật tổ chức chính quyền địa phương
Trang 19huyện, cấp xã; đặt tên, đổi tên đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã; giải quyết tranh chấp liên quan đến địa giới đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã
Điểm đổi mới thứ năm, đó là về tiêu chí, tiêu chuẩn thành lập Ban dân tộc của HĐND: Đây là vấn đề rất cụ thể, liên quan đến việc bảo đảm thực hiện chính
sách dân tộc chung của cả nước cũng như ở từng địa phương nơi có nhiều đồng bào dân tộc sinh sống, cần phải được tiếp tục xem xét, cân nhắc kỹ lưỡng Do đó, để có thời gian nghiên cứu kỹ lưỡng, luật quy định Quốc hội giao Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định cụ thể tiêu chí, tiêu chuẩn thành lập Ban dân tộc của HĐND Theo đó, ngày 14 tháng 01 năm 2016, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Nghị quyết
số 1130/2016/UBTVQH13 quy định về tiêu chuẩn, điều kiện thành lập Ban Dân tộc của HĐND tỉnh, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh Cụ thể, Ban dân tộc của HĐND tỉnh được thành lập khi có hai trong ba tiêu chuẩn, điều kiện sau:
Thứ nhất: Tỉnh có trên 20.000 người dân tộc thiểu số sống tập trung thành
cộng đồng làng, bản;
Thứ hai: Tỉnh có trên 5.000 người dân tộc thiểu số đang cần Nhà nước tập
trung giúp đỡ, hỗ trợ phát triển;
Thứ ba: Tỉnh có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống ở địa bàn xung yếu về an
ninh, quốc phòng, địa bàn xen canh, xen cư, biên giới có đông đồng bào dân tộc thiểu số nước ta và nước làng giềng thường xuyên qua lại
Đối với tỉnh có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống nhưng chưa đáp ứng tiêu chuẩn, điều kiện thành lập Ban dân tộc theo quy định trên thì Ban văn hóa – xã hội của HĐND tỉnh thực hiện các nhiệm vụ liên quan đến công tác dân tộc
Riêng đối với cấp huyện, Ban dân tộc HĐND huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh được thành lập khi có một trong hai tiêu chuẩn, điều kiện sau đây:
Thứ nhất: huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có trên 5.000 người dân tộc
thiểu số đang cần Nhà nước tập trung giúp đỡ, hỗ trợ phát triển;
Thứ hai: huyện, thị xã, thành phố các tỉnh có đồng bào dân tộc thiểu số sinh
sống ở địa bàn xung yếu về an ninh, quốc phòng; địa bàn xen canh, xen cư, biên giới có đông đồng bào dân tộc thiểu số nước ta và nước làng giếng thường xuyên qua lại
Đối với huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống nhưng chưa đáp ứng tiêu chuẩn, điều kiện để thành lập Ban dân tộc thì ban Kinh tế - xã hội của Hội đồng nhân dân huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thực hiện các nhiệm vụ liên quan đến công tác dân tộc
Trang 20Điểm mới thứ sáu, đó là Trưởng các Ban của HĐND cấp tỉnh, cấp huyện có
thể hoạt động chuyên trách; Phó Trưởng Ban HĐND cấp tỉnh, cấp huyện thì hoạt
động chuyên trách Trưởng, Phó Ban của HĐND cấp xã thì hoạt động kiêm nhiệm
Phó Chủ tịch HĐND cấp tỉnh, cấp huyện với số lượng là 2 vị và Phó Chủ tịch HĐND cấp xã với số lượng là 1 vị và tất cả đều hoạt động chuyên trách
Về các Ban của HĐND cấp xã, đây là quy định mới, gồm Ban pháp chế và Ban kinh tế - xã hội; Trưởng ban, Phó Trưởng ban và các thành viên khác của các Ban của HĐND hoạt động kiêm nhiệm; Trưởng ban không nằm trong Thường trực HĐND nên không tăng biên chế và không khó khăn cho bộ máy ở cấp xã Luật quy định Thường trực HĐND phê chuẩn Ủy viên của các Ban của HĐND theo đề nghị của Trưởng ban; HĐND chỉ tiến hành bầu Trưởng ban, Phó Trưởng ban Ban đô thị của HĐND chỉ tổ chức ở thành phố trực thuộc trung ương vì đây là những đô thị tập trung, có quy mô lớn, mức độ đô thị hóa cao và có nhiều điểm đặc thù khác với các địa bàn đô thị đơn lẻ khác là thị xã, thành phố thuộc tỉnh
Điểm đổi mới thứ bảy, đó là về cơ cấu Thường trực HĐND tỉnh gồm Chủ
tịch HĐND, Phó Chủ tịch HĐND, Trưởng các Ban của HĐND và Chánh Văn phòng HĐND tỉnh Đối với Thường trực HĐND cấp huyện gồm Chủ tịch HĐND,
hai Phó Chủ tịch HĐND và Trưởng các Ban của HĐND huyện
Luật cũng quy định rõ cơ cấu tổ chức chính quyền địa phương ở nông thôn và
đô thị, cụ thể là chính quyền địa phương ở nông thôn gồm chính quyền địa phương
ở tỉnh, huyện, xã; còn chính quyền địa phương ở đô thị gồm chính quyền địa phương ở thành phố trực thuộc trung ương, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương, phường, thị trấn
Điểm đổi mới thứ tám, đó là về cơ cấu tổ chức của UBND: Luật tổ chức
chính quyền địa phương đã bổ sung những điểm mới nhằm quy định chi tiết hơn về
số lượng, cơ cấu thành viên UBND, nguyên tắc hoạt động của UBND; phiên họp UBND; phạm vi, trách nhiệm giải quyết công việc của các thành viên UBND Theo
đó, cơ cấu tổ chức và hoạt động của UBND có những nội dung mới Trong đó, nổi bật là việc quy định số lượng Phó Chủ tịch UBND các cấp theo phân loại đơn vị hành chính Cụ thể, đối với cấp tỉnh, thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh
có không quá 5 Phó Chủ tịch UBND; các thành phố trực thuộc Trung ương còn lại
và các tỉnh loại I có không quá 4 Phó Chủ tịch UBND; tỉnh loại II và loại III có không quá 3 Phó Chủ tịch UBND Đối với cấp huyện, huyện loại I có không quá 3 Phó Chủ tịch UBND; huyện loại II và huyện loại III thì có không quá 2 Phó Chủ
Trang 21tịch UBND huyện Riêng đối với cấp xã, xã loại I có không quá 2 Phó Chủ tịch UBND, xã loại II và xã loại III có 1 Phó Chủ tịch UBND xã
Theo quy định của Luật tổ chức chính quyền địa phương thì cơ cấu UBND bao gồm người đứng đầu của các cơ quan chuyên môn của UBND nhằm phát huy trí tuệ tập thể của các thành viên UBND dân, tăng cường hiệu lực giám sát của HĐND đối với UBND cùng cấp thông qua cơ chế lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do HĐND bầu Thành phần của UBND các cấp gồm Chủ tịch UBND, các phó Chủ tịch UBND, người đứng đầu các cơ quan chuyên môn của UBND, 01 Ủy viên phụ trách quân sự và 01 Ủy viên phụ trách công an để phụ trách về các lĩnh vực hoạt động quan trọng, mang tính đặc thù ở địa phương
Điểm đổi mới thứ chín, đó là phân định thẩm quyền giữa trung ương, địa phương và giữa các cấp chính quyền: Một trong những điểm mới của luật là phân
định thẩm quyền giữa trung ương, địa phương và giữa các cấp chính quyền nhằm cụ thể hóa Điều 112 Hiến pháp năm 2013 Theo đó, để tạo cơ sở pháp lý cho việc phân quyền, phân cấp, ủy quyền cho chính quyền địa phương, Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 đã quy định các nguyên tắc phân định thẩm quyền, các trường hợp phân quyền, phân cấp, ủy quyền Cụ thể là có 6 nguyên tắc về phân định thẩm quyền gồm: Bảo đảm quản lý nhà nước thống nhất về thể chế, chính sách, chiến lược và quy hoạch đối với các ngành, lĩnh vực; bảo đảm tính thống nhất, thông suốt của nền hành chính quốc gia Phát huy quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của chính quyền địa phương Kết hợp chặt chẽ giữa quản lý theo ngành với quản lý theo lãnh thổ, phân định rõ nhiệm vụ quản lý nhà nước giữa chính quyền địa phương các cấp đối với các hoạt động kinh tế - xã hội trên địa bàn lãnh thổ Việc phân định thẩm quyền phải phù hợp điều kiện, đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo
và đặc thù của các ngành, lĩnh vực Công việc liên quan đến phạm vi từ hai đơn vị hành chính cùng cấp trở lên thì thuộc thẩm quyền giải quyết của chính quyền cấp trên, trừ trường hợp luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, nghị định của Chính phủ có quy định khác Nguyên tắc cuối cùng là chính quyền địa phương được bảo đảm nguồn lực để thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn đã được phân quyền, phân cấp
Về phân quyền, Luật quy định việc phân quyền cho các cấp chính quyền địa phương phải được quy định trong các luật; chính quyền địa phương tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong việc thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn được phân quyền Về
Trang 22phân cấp, Luật quy định căn cứ vào yêu cầu công tác, khả năng thực hiện và điều kiện, tình hình cụ thể khác của địa phương, cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương được quyền phân cấp cho chính quyền địa phương hoặc cơ quan nhà nước cấp dưới thực hiện một cách liên tục, thường xuyên một hoặc một số nhiệm vụ, quyền hạn thuộc thẩm quyền của mình
Về ủy quyền, Luật tổ chức chính quyền địa phương quy định trong trường hợp cần thiết, cơ quan hành chính nhà nước cấp trên có thể ủy quyền bằng văn bản cho UBND cấp dưới hoặc cơ quan, tổ chức khác thực hiện một hoặc một số nhiệm vụ, quyền hạn của mình trong khoảng thời gian xác định kèm theo các điều kiện cụ thể
Trên đây là một số điểm chung, đổi mới của Luật tổ chức chính quyền địa phương 2015 so với Luật tổ chức HĐND và UBND năm 2003
Riêng đối với huyện Đầm Dơi, thuộc tỉnh Cà Mau khi đối chiếu lại thì đơn vị cũng đã thực hiện Luật tổ chức chính quyền địa phương đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận, cụ như sau:
Về tổ chức HĐND đã có sự thay đổi lớn, trước hết là thay đổi trong Thường
trực HĐND huyện Trước đây, khi thực hiện theo Luật tổ chức HĐND và UBND thì Thường trực HĐND huyện chỉ có ba đồng chí, cụ thể là đồng chí Phó Bí thư hoặc Bí thư Huyện ủy kiêm Chủ tịch HĐND huyện, một đồng chí Phó Chủ tịch HĐND huyện và một đồng chí là Ủy viên Thường trực HĐND huyện Còn thực hiện Luật tổ chức chính quyền địa phương hiện nay trong Thường trực HĐND huyện Đầm Dơi đã nâng lên đến 5 đồng chí, cụ thể: đồng chí Bí thư Huyện ủy kiêm Chủ tịch HĐND huyện, một đồng chí Ủy viên Ban Thường vụ Huyện ủy và một đồng chí Huyện ủy viên giữ chức vụ Phó Chủ tịch HĐND huyện hoạt động chuyên trách, hai đồng chí Ủy viên Ban thường vụ Huyện ủy kiêm nhiệm chức danh Trưởng hai ban của HĐND huyện (đồng chí Ủy viên Ban thường vụ - Trưởng ban
Tổ chức Huyện ủy kiêm Trưởng ban Pháp chế HĐND huyện; đồng chí Ủy viên Ban thường vụ - Trưởng ban Tuyên giáo Huyện ủy kiêm Trưởng ban Kinh tế - xã hội HĐND huyện) Như vậy, về số lượng trong Thường trực HĐND huyện thì rõ ràng
đã có sự đổi mới, từ 3 đồng chí hiện nay đã tăng lên 5 đồng chí Trước đây chỉ có một Phó chủ tịch HĐND huyện, đến nay tăng lên hai phó Chủ tịch HĐND huyện; một trong hai đồng chí phó Chủ tịch HĐND có một đồng chí là Ủy viên Ban thường
vụ Huyện ủy Hơn nữa, Trưởng hai ban của HĐND huyện trước đây không nằm trong Thường trực thì hiện nay Trưởng hai Ban của HĐND huyện đã nằm trong Thường trực HĐND huyện Vậy hiện nay Thường trực HĐND huyện Đầm Dơi là 5
Trang 23đồng chí, trong đó có 4 đồng chí là Ủy ban Thường vụ Huyện ủy Đây rõ ràng là sự đổi mới có chiều hướng tích cực làm cho Thường trực HĐND huyện mạnh hơn cả
về số lượng và cơ cấu, để hoạt động hiệu hiệu lực, quả hơn
Đối với các Ban của HĐND huyện cũng đã có sự đổi mới về tổ chức Theo Luật tổ chức HĐND và UBND thì Trưởng Ban, Phó trưởng Ban và các ủy viên các ban HĐND huyện không cho phép hoạt động chuyên trách Nhưng theo Luật tổ chức chính quyền địa phương đã cho phép Trưởng ban có thể hoạt động chuyên trách và bắt buộc Phó trưởng ban HĐND cấp tỉnh, cấp huyện phải hoạt động chuyên trách Như vậy, Trưởng các ban HĐND huyện có thể hoạt động kiêm nhiệm và cũng có thể hoạt động chuyên trách, tùy theo địa phương sắp xếp; riêng các Phó trưởng ban của HĐND thì hoạt động chuyên trách Đối với huyện Đầm Dơi, mỗi ban của HĐND có 7 thành viên, cụ thể:
Đối với Ban pháp chế: đồng chí Ủy viên Ban thường vụ - Trưởng ban Tổ chức Huyện ủy kiêm chức danh Trưởng ban Pháp chế HĐND huyện; một đồng chí công chức, đại biểu HĐND huyện làm Phó ban chuyên trách, còn lại 5 đồng chí đại biểu HĐND huyện là thành viên Ban pháp chế HĐND huyện hoạt động kiêm nhiệm Đối với Ban Kinh tế - xã hội: đồng chí Ủy viên Ban thường vụ - Trưởng ban Tuyên giáo Huyện ủy kiêm chức danh Trưởng ban Kinh tế - xã hội HĐND huyện; một đồng chí công chức, đại biểu HĐND huyện làm Phó ban chuyên trách, còn lại 5 đồng chí đại biểu HĐND huyện là thành viên Kinh tế - xã hội HĐND huyện hoạt động kiêm nhiệm Cơ cấu các đồng chí thành viên các ban của HĐND về trình độ chuyên môn phù hợp để thực hiện nhiệm vụ chuyên sâu của từng ban
Đối với huyện Đầm Dơi, đối chiếu với quy định về việc thành lập Ban dân tộc thì đảm bảo đủ điều kiện, nhưng hiện nay do số lượng công chức được quy định rất khó khăn, chiều hướng ngày càng thắt chặt, cụ thể năm 2016 tỉnh giao cho huyện
128 biên chế, nhưng năm 2017 chỉ còn 125 biên chế, giảm 3 biên chế so với năm
2016 Hơn nữa, khối lượng công việc các cơ quan Nhà nước phải thực hiện thì không giảm, thậm chí ngày càng tăng, nên lãnh đạo huyện quyết định tuy có đủ điều kiện về dân số là người dân tộc thiểu số để thành lập Ban dân tộc nhưng không thành lập Ban dân tộc, nhiệm vụ này theo Luật thì Ban kinh tế - xã hội của Hội đồng nhân dân huyện phải thực hiện
HĐND cấp xã trên địa bàn huyện Đầm Dơi cũng thực hiện theo quy định mới,
đó là trước kia HĐND các xã – thị trấn không có các Ban của HĐND, nhưng hiện nay HĐND của tất cả 16/16 xã – thị trấn đã có các Ban của HĐND, cụ thể là Ban
Trang 24pháp chế và Ban kinh tế - xã hội Sự thay đổi này cũng là một bước đổi mới, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho HĐND cấp xã hoạt động hiệu quả hơn trong thời gian tới
Đối với UBND, cũng đã có sự thay đổi so với thực hiện theo Luật Tổ chức
HĐND và UBND Một thay đổi lớn đó là số lượng Phó Chủ tịch UBND, Luật quy định rõ, huyện loại I có không quá ba Phó Chủ tịch; huyện loại II và loại III có không quá hai Phó Chủ tịch Ủy viên UBND huyện gồm các Ủy viên là người đứng đầu cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện, Ủy viên phụ trách quân sự và Ủy viên phụ trách công an Như vậy, tất cả các đồng chí thủ trưởng các cơ quan chuyên môn trực thuộc UBND huyện đều là Ủy viên UBND huyện Trước đây thì chỉ một
số đồng chí thủ trưởng cơ quan chuyên môn và Trưởng công an, Chỉ huy trưởng quân sự mới được bầu Ủy viên UBND huyện Đây cũng là một thay đổi lớn Theo quy định này, đối với huyện Đầm Dơi là huyện loại I, nên tại kỳ họp thứ nhất của HĐND huyện khóa XI, nhiệm kỳ 2016-2021 đã bầu Chủ tịch và ba Phó Chủ tịch UBND huyện; đồng thời đã bầu tất cả thủ trưởng các cơ quan chuyên môn trực thuộc UBND huyện làm Ủy viên UBND huyện nhiệm kỳ 2016-2021 đúng luật định
Đối với UBND cấp xã, Luật tổ chức chính quyền địa phương cũng quy định
rõ xã loại I có không quá hai Phó Chủ tịch; xã loại II và loại III có một Phó Chủ tịch Huyện Đầm Dơi cũng đã thực hiện tốt quy định này, hiện nay các xã loại I thì
có hai Phó Chủ tịch, các xã loại II đều có một Phó Chủ tịch UBND
Nhìn chung, từ khi thực hiện Luật tổ chức chính quyền địa phương đến nay, huyện Đầm Dơi đã có nhiều đổi mới, thể hiện rõ hơn vai trò của chính quyền địa phương, đặc biệt là HĐND trong đời sống xã hội
1.2.1.2 Thực trạng đối với Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của HĐND huyện Đầm Dơi
Theo Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật thì HĐND cấp huyện được ban hành Nghị quyết Trên cơ sở đó và trước đây thực hiện Luật tổ chức HĐND và UBND năm 2003, hằng năm HĐND cấp huyện trên địa bàn tỉnh Cà Mau nói chung
và HĐND huyện Đầm Đơi nói riêng đều ban hành Nghị quyết về nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội địa phương – ban hành theo trình tự, thủ tục, thể thức và nội dung là loại văn bản quy phạm pháp luật Nghị quyết này đề cập đến tất cả các lĩnh vực về mặt quản lý nhà nước, từ các chỉ tiêu kinh tế, xã hội, quốc phòng an ninh, thực thi pháp luật đến các giải pháp thực hiện trên từng lĩnh vực
Trang 25Đối với HĐND huyện Đầm Dơi hằng năm đều ban hành Nghị quyết về nhiệm
vụ phát triển kinh tế - xã hội Mục tiêu của Nghị quyết là phát huy và khai thác tốt tiềm năng, lợi thế của huyện, đẩy mạnh thực hiện tái cơ cấu kinh tế, chuyển đổi mô hình sản xuất theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả bền vững; huy động các nguồn lực đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng nông thôn mới Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng tránh thiên tai và bảo vệ môi trường Thực hiện tốt an sinh xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân Tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động của bộ máy hành chính từ huyện đến cơ sở Đấu tranh, ngăn chặn quan liêu, tham nhũng; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; đảm bảo quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội, giảm thiểu tai nạn giao thông Phấn đấu thực hiện đạt và vượt các chỉ tiêu, nhiệm vụ Nghị quyết HĐND huyện đề ra
Từ các chỉ tiêu Nghị quyết HĐND huyện đề ra, bản thân tác giả nhận thấy, cần phải đưa ra nhiệm vụ và giải pháp để thực hiện đạt các chỉ tiêu mục tiêu là phát triển kinh tế - xã hội của huyện Đầm Dơi
Tuy nhiên, từ khi Luật tổ chức chính quyền địa phương ra đời thì HĐND huyện Đầm Dơi đang xem xét các nghị quyết về kinh tế - xã hội trước đây HĐND huyện ban hành rất khó xác định có phải là VBQPPL hay không Đây cũng là một vấn đề thực tế đang đặt ra rất khó cho địa phương trong việc ban hành VBQPPL của HĐND huyện Đầm Dơi Vì vậy, từ khi thực hiện Luật tổ chức chính quyền địa phương đến nay HĐND huyện Đầm Dơi chưa ban hành VBQPPL nào
1.2.1.3 Thực trạng vai trò của Hội đồng nhân dân huyện Đầm Dơi trong l nh vực đầu tƣ công
Đối với huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau từ khi Luật đầu tư công có hiệu lực thi hành đến nay, đơn vị đã thực hiện đúng trình tự, quy định về đầu tư công Các công trình, danh mục đầu tư công đều được tổng hợp từ các ngành, địa phương để thông qua HĐND xác nhận trình cấp trên đúng quy định
Thực hiện quy trình đầu tư công, vào ngày 25 tháng 6 năm 2015, kỳ họp thứ
12 – HĐND huyện khóa X, nhiệm kỳ 2011-2016, UBND huyện đã trình xin thông qua kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016-2020; kế hoạch đầu tư công của huyện đã được Ban Kinh tế - Xã hội của HĐND huyện thẩm tra, đại biểu HĐND huyện thảo luận và đi đến thống nhất quyết nghị thông qua bằng nghị quyết thống nhất kế hoạch đầu tư công trung hạn của huyện Đầm Dơi giai đoạn 2016-2020 Trên
cơ sở kế hoạch đăng ký, tỉnh phân khai kế hoạch vốn hằng năm và UBND huyện
Trang 26trình HĐND huyện về kế hoạch đầu tư công của từng năm Tại kỳ họp cuối năm
2016, UBND huyện đã trình HĐND huyện Phương án phân bổ kế hoạch vốn đầu tư công năm 2017; UBND huyện đã đưa ra nguyên tắc và thứ tự bố trí kế hoạch vốn đầu tư công rất rõ ràng, cụ thể, trong đó nguyên tắc là nhằm thực hiện mục tiêu, định hướng phát triển trong quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của huyện Đầm Dơi đến năm 2020; tuân thủ các nguyên tắc, tiêu chí và định hướng phân bổ vốn đầu tư công đã được quyết định Trong thực hiện đầu tư công, UBND
đã cân nhắc, trình HĐND huyện thông qua thứ tự ưu tiên trong từng ngành, từng lĩnh vực
Trên cơ sở dự kiến phân bổ kế hoạch đầu tư công trung hạn vốn ngân sách nhà nước giai đoạn 2016-2020 và kế hoạch vốn năm 2017 tỉnh giao cho huyện Đầm Dơi là 28 tỷ 171 triệu đồng, tăng 29,22% so với kế hoạch vốn năm 2016, cụ thể:
“- Vốn cân đối ngân sách huyện, được bố trí để phân bổ cho các công trình năm 2017 là 5 tỷ 850 triệu đồng, tăng 18,18% so với năm 2016, trong đó: các công trình chuyển tiếp là 4 công trình, số tiền 4 tỷ 056 triệu đồng; các công trình mới là
3 công trình, số tiền 1 tỷ 794 triệu đồng
- Nguồn vốn tỉnh hỗ trợ đầu tư có mục tiêu, được bố trí để phân bổ cho các công trình năm 2017 là 22 tỷ 321 triệu đồng, tăng 32,47% so với năm 2016, trong đó: lĩnh vực giao thông là 16 công trình, số tiền 7 tỷ 150 triệu đồng; lĩnh vực trường đạt chuẩn quốc gia là 2 công trình, số tiền 6 tỷ 386 triệu đồng; lĩnh vực hỗ trợ đầu tư theo chủ trương của UBND tỉnh có 1 công trình, số tiền 1 tỷ 800 triệu đồng; đầu tư cơ sở hạ tầng các xã khó khăn 135, có 11 công trình, số tiền 5 tỷ đồng; lĩnh vực khác 1 tỷ đồng, dùng để tất toán các công trình sau quyết toán” 14Theo Phương án và Danh mục đầu tư công năm 2017 UBND huyện trình HĐND huyện, thì HĐND huyện đã xem xét, thông qua báo cáo thẩm tra và thảo luận, đi đến thống nhất: HĐND huyện đã thống nhất cho thông qua Phương án và Danh mục đầu tư công năm 2017; trong đó, giao UBND triển khai thực hiện đúng danh mục đã được thông qua Điều này cho thấy vai trò của HĐND huyện đặc biệt quan trọng trong việc thực hiện Luật đầu tư công tại địa phương; quy trình thực hiện là phải thông qua HĐND quyết, nghị quyết của HĐND là cơ sở để UBND triển khai thực hiện; nếu không thông qua HĐND, không có sự thống nhất quyết nghị của HĐND là không thể thực hiện được đối với danh mục các công trình đầu tư
14
Số liệu theo Phương án phân bổ vốn đầu tư công huyện Đầm Dơi năm 2017
Trang 27công hằng năm Từ đó cho thấy mối quan hệ đặc biệt giữa HĐND và UBND trong phát triển kinh tế - xã hội địa phương nói chung và trong thực hiện Luật đầu tư công tại địa phương nói riêng
1.2.2 Một số bất cập, hạn chế
1.2.2.1 Bất cập đối với Luật Tổ chức chính quyền địa phương
- Về tổ chức, HĐND cấp huyện: theo Luật tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ về cơ cấu tổ chức của Thường trực HĐND huyện gồm Chủ tịch HĐND, hai Phó Chủ tịch HĐND và các Ủy viên là Trưởng ban của HĐND huyện Như vậy, Thường trực HĐND huyện không chỉ có Chủ tịch, các Phó Chủ tịch mà kể cả các đồng chí Trưởng các ban của HĐND huyện cũng là nằm trong Thường trực Hội đồng nhân dân huyện Xét về mặt số lượng thì rõ ràng Luật tổ chức chính quyền địa phương quy định số lượng thành viên trong Thường trực HĐND huyện nhiều hơn
so với Luật tổ chức HĐND và UBND trước đây Tuy nhiên, bản thân tác giả nhận thấy, quy định các đồng chí Trưởng các ban của HĐND huyện nằm trong Thường trực HĐND huyện chưa thật phù hợp Muốn nâng cao vị thế của HĐND cấp huyện trong hệ thống chính trị thì còn tùy thuộc vào rất nhiều yếu tố, không nên để Trưởng ban là thành viên trong Thường trực HĐND huyện; Trưởng ban nằm trong Thường trực HĐND mặt nào đó nâng cao vị thế của các đồng chí Trưởng ban, nhưng ngược lại vị thế của Thường trực HĐND huyện trong hệ thống chính trị không hề được nâng lên
Một vấn đề nữa, hiện nay đang trong giai đoạn củng cố, nâng chất cán bộ công chức, siết chặt chỉ tiêu biên chế, nhưng quy định của Luật tổ chức chính quyền địa phương thống nhất cho HĐND cấp huyện được bầu hai Phó Chủ tịch HĐND Nhìn vào số lượng thì có tốt hơn so với Luật tổ chức HĐND và UBND trước đây vì
số lượng Phó Chủ tịch HĐND cấp huyện tăng thêm một đồng chí, nhưng chúng ta xem kỹ lại nhiệm vụ, hay nói cách khác công việc mà Hội đồng nhân dân cấp huyện phải thực hiện hàng ngày thì rất ít, nhưng lại thêm một Phó Chủ tịch HĐND cấp huyện thì rõ ràng không phù hợp; công việc ít nhưng số lượng Phó Chủ tịch HĐND huyện nhiều, làm thừa biên chế, phần lớn thời gian không có công việc để làm nhưng lại được hưởng lương và nhiều phụ cấp khác dành cho đại biểu HĐND, cho
Thường trực HĐND huyện Đây cũng là điểm cần nên xem xét lại
Một vấn đề tác giả nhận thấy bất cập nữa đó là: Luật Tổ chức chính quyền địa
phương quy định “Ủy viên UBND huyện gồm các Ủy viên là người đứng đầu cơ
quan chuyên môn thuộc UBND huyện, Ủy viên phụ trách quân sự, Ủy viên phụ
Trang 28trách công an”15 Như vậy, tất cả các đồng chí Thủ trưởng các cơ quan chuyên môn trực thuộc UBND huyện đều là Ủy viên UBND huyện Nhìn vào số lượng trước tiên thì thấy theo Luật tổ chức chính quyền địa phương quy định số lượng Ủy viên UBND nhiều hơn so với Luật tổ chức HĐND và UBND trước đây Tuy nhiên, riêng tác giả nhận thấy quy định như hiện nay thì giá trị của chức danh Ủy viên UBND không cao như trước Trước đây Ủy viên UBND huyện được lựa chọn từ 7 đến 9 đồng chí, ngoài các đồng chí trong Thường trực UBND và công an, quân sự thì lựa chọn thêm một số đồng chí trong số Thủ trưởng cơ quan chuyên môn trực thuộc UBND huyện; như thế sẽ có sự phấn đấu, cạnh tranh công bằng, vị nào trội hơn sẽ được bầu vào Ủy viên UBND huyện, chứ không như hiện nay, ai làm Thủ trưởng
cơ quan chuyên môn trực thuộc UBND huyện là sẽ được bầu vào Ủy viên UBND huyện
Nguyên do nào Luật quy định tất cả thủ trưởng các cơ quan chuyên môn trực thuộc UBND huyện được bầu vào Ủy viên UBND huyện thì bản thân tác giả chưa hiểu chính xác Tuy nhiên, bản thân tác giả thiết nghĩ luật quy định như thế để ràng buộc thủ trưởng các cơ quan chuyên môn trực thuộc UBND huyện ở chỗ các đồng chí này nằm trong số những người được HĐND lấy phiếu tín nhiệm hoặc bỏ phiếu tín nhiệm Nhưng tác giả xét thấy, đây không phải biện pháp tốt nhất để quản lý, nâng cao chất lượng hoạt động của đối tượng này Trái lại quy định như vậy sẽ làm giảm đi sự canh tranh trong đội ngũ thủ trưởng cơ quan chuyên môn trực thuộc UBND huyện, vì đồng chí thủ trưởng nào cũng sẽ được bầu làm Ủy viên UBND huyện
Một bất cập nữa tác giả nhận thấy đó là, Luật quy định: “Ủy ban nhân dân xã
loại I có không quá hai Phó Chủ tịch; xã loại II và loại III có một Phó Chủ tịch” 16
Thực tế hoạt động của chính quyền địa phương cho thấy, tất cả các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật Nhà nước muốn đến được nhân dân thì phải qua cấp xã; cấp xã là cấp trực tiếp chuyền tãi chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đến với nhân dân và hàng ngày phải gặp gở, xử lý công việc trực tiếp với nhân dân; cấp xã rất nhiều công việc nhưng quy định xã loại II và loại III chỉ có một Phó Chủ tịch UBND thì không hợp lý Một nội dung cụ thể và rất quan trọng chúng ta đều biết đó là các cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND các cấp; việc bầu cử này là cả hệ thống chính trị cùng nhau thực hiện, nhưng
15 Theo khoản 1, Điều 27 Luật tổ chức chính quyền địa phương
16
Trích Điều 34 Luật tổ chức chính quyền địa phương
Trang 29nặng nhất vẫn là cấp xã – cấp trực tiếp thực hiện các công việc – trực tiếp gặp gỡ nhân dân để thực hiện nhiệm vụ này Nếu cuộc bầu cử mà cấp xã làm không xong thì cấp huyện, cấp tỉnh và trung ương cũng không thể hoàn thành nhiệm vụ Và trong thực tế, cấp xã rất nhiều công việc, rất nặng nề, nhưng nhìn khách quan mà nói thì cấp xã còn nhiều khó khăn và thiệt thòi Hơn nữa, như đã phân tích phần trên, Thường trực HĐND huyện công việc ít nhưng được bố trí thêm một Phó Chủ tịch HĐND, nhưng ở xã công việc rất nhiều mà lại chỉ được bố trí có một Phó Chủ tịch UBND thì không phù hợp Cấp xã ảnh hưởng rất lớn đối với việc phát triển kinh tế - xã hội, tất cả các xã phát triển thì huyện mới phát triển được và ngược lại các xã công việc không tốt thì chắt chắn huyện đó sẽ khó mà phát triển được Riêng nói về thị trấn cũng là đơn vị hành chính cấp xã, nhưng thị trấn công việc nhiều hơn rất nhiều so với các xã, mà luật quy định nếu thị trấn loại II thì cũng chỉ được bầu
một Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân, đây cũng là điểm vô cùng không phù hợp Vì thế, vấn đề này cũng cần nên xem xét lại
1.2.2.2 Bất cập đối với hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật
Theo quy định “Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã ban hành nghị quyết,
Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã ban hành quyết định để quy định những vấn đề được luật giao”17 Tuy nhiên, cụm từ “vấn đề được luật giao” chưa rõ ràng đã gây
khó khăn cho địa phương khi áp dụng thực hiện Cụ thể là HĐND cấp huyện khi ban hành Nghị quyết về kinh tế - xã hội hằng năm của huyện rất khó khi xác định
đó là loại văn bản quy phạm hay không phải quy phạm
Chính quy định chưa rõ ràng này đã làm khó khăn cho HĐND và UBND cấp huyện, cấp xã Vì thực tế luật không thể giao loại công việc nào HĐND ban hành văn bản quy phạm pháp luật, nếu không giao như thế thì HĐND không thể ban hành văn bản quy phạm pháp luật Trong khi đó theo quy định chung thì HĐND cấp huyện, cấp xã được ban hành nghị quyết và Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã được ban hành quyết định loại quy phạm pháp luật Như thế Điều 30 của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật gây rất khó khăn cho HĐND và UBND cấp huyện, cấp xã
Thực tế rất nhiều địa phương đã khó khăn, không chỉ ở cấp huyện, cấp xã, mà đến cả cấp tỉnh cũng rất khó khăn, từ đó có nhiều địa phương đã có văn bản gửi Bộ
Tư pháp yêu cầu làm rõ Cụ thể là Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương và Tây Ninh có văn
17
Trích Điều 30 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015
Trang 30bản đề nghị Bộ Tư pháp cho biết thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật
của cấp huyện, cấp xã; “vấn đề được luật giao” được hiểu như thế nào và việc xác
định một số văn bản có phải là văn bản quy phạm pháp luật hay không? Ví dụ: quyết định quy định tổ chức bộ máy và nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện; nghị quyết về kinh tế - xã hội của HĐND huyện được ban hành theo quy định của văn bản cơ quan nhà nước cấp trên Bộ Tư pháp đã trả lời:
“Điều 30 của Luật năm 2015 quy định: HĐND cấp huyện, cấp xã ban hành nghị quyết, UBND cấp huyện, cấp xã ban hành quyết định để quy định những vấn
đề được luật giao Như vậy, kể từ ngày Luật năm 2015 có hiệu lực (ngày 01 tháng 7 năm 2016), HĐND, UBND cấp huyện, cấp xã chỉ được ban hành văn bản quy phạm pháp luật khi được giao trong luật, không phải trong các loại văn bản khác Trường hợp văn bản quy phạm pháp luật của cấp huyện, cấp xã được ban hành trước ngày Luật năm 2015 có hiệu lực để cụ thể hóa các quy định của văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên như: nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quyết định của Thủ tướng Chính phủ, thông tư của các bộ thì tiếp tục có hiệu lực thi hành cho đến khi có văn bản thay thế hoặc bãi bỏ”.18
Về xác định hình thức của một số văn bản cụ thể do HĐND, UBND cấp huyện ban hành, Bộ Tư pháp trả lời:
- Đối với quyết định quy định tổ chức bộ máy và nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện, Bộ Tư pháp cho rằng đây là văn bản quy phạm pháp luật vì quyết định của UBND cấp huyện quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện được áp dụng nhiều lần đối với mọi đối tượng có liên quan (không chỉ riêng trong nội bộ phòng), có hiệu lực trong phạm vi địa phương, được nhà nước bảo đảm thực hiện bằng các biện pháp theo quy định của pháp luật
- “Đối với nghị quyết về phát triển kinh tế - xã hội của cấp huyện: để xác định
nghị quyết này có phải là văn bản quy phạm pháp luật hay không thì cần phải đối chiếu nội dung cụ thể của nghị quyết với khái niệm về văn bản quy phạm pháp luật
và quy phạm pháp luật” 19
Bản thân tác giả nhận thấy, Bộ Tư pháp cũng chưa khẳng định nghị quyết của HĐND cấp huyện về kinh tế - xã hội có phải là văn bản quy phạm pháp luật hay
18 Theo Công văn số 4218/BTP-VĐCXDPL ngày 28/11/2016 của Bộ Tư pháp
19
Trích Công văn số 4218/BTP-VĐCXDPL ngày 28/11/2016 của Bộ Tự pháp
Trang 31không, nếu muốn biết thì phải đối chiếu nội dung nghị quyết với các khái niệm về quy phạm và văn bản quy phạm pháp luật Thế nhưng, ở địa phương cơ quan chuyên môn cấp tỉnh hướng dẫn cấp huyện cụ thể như sau:
Tại Điều 30, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 quy định
“HĐND cấp huyện, cấp xã ban hành nghị quyết; UBND cấp huyện, cấp xã ban hành quyết định để quy định những vấn đề được luật giao Tại điểm a, khoản 2, Điều 26
và Điều 54 Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 quy định “Thông qua
kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trung hạn và hằng năm của huyện, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của huyện trước khi trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt” Đối chiếu với quy định tại Điều 2, Luật ban hành VBQPPL năm 2015 quy định về VBQPPL và khoản 1, điều 3, Luật ban hành VBQPPL năm 2015, giải thích
từ ngữ về quy phạm pháp luật thì HĐND cấp huyện ban hành Nghị quyết về thông qua kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của huyện, thành phố phải trình UBND tỉnh
phê duyệt “Như vậy, nghị quyết này sẽ không có đầy đủ yếu tố của một văn bản
quy phạm pháp luật được quy định tại Điều 2 và khoản 1, Điều 3 của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 Do đó, HĐND cấp huyện ban hành nghị quyết này với hình thức văn bản hành chính (không phải là văn bản quy phạm pháp luật) sẽ phù hợp và đúng quy định của pháp luật”20
Bản thân tác giả nhận thấy, Luật ban hành VBQPPL quy định phần nghị quyết
về kinh tế - xã hội của HĐND cấp huyện còn chưa rõ ràng, đặc biệt là cụm từ “vấn
đề được luật giao”; cũng chính cụm từ này mà Bộ Tư pháp trả lời phân hai, không
khẳng định nghị quyết về kinh tế - xã hội hằng năm của HĐND cấp huyện là VBQPPL hay không phải là VBQPPL Từ đó, tại địa phương cũng rất khó khăn, Sở chuyên môn của tỉnh cũng có văn bản phân tích khá kỹ, lập luận chặt chẽ và đi đến khẳng định nghị quyết về kinh tế - xã hội mà hằng năm HĐND huyện ban hành không phải là văn bản quy phạm pháp luật Tác giả nhận thấy, đây là Luật do Quốc hội ban hành nhưng địa phương gặp khó khăn trong áp dụng, Sở chuyên môn thì cho là văn bản hành chính thông thường, Bộ Tư pháp thì không khẳng định là quy
phạm pháp luật hay hành chính thông thường Nhƣ thế điều luật này cần nên xem xét lại
20
Trích mục 1 Công văn số 1283/STP-XD&KTVBQPPL ngày 07/12/2017 của Sở Tư pháp tỉnh Cà Mau
Trang 321.2.2.3 Bất cập trong thực hiện chức năng của Hội đồng nhân dân cấp huyện đối với đầu tƣ công
Luật Đầu tư công 2014 đã được thông qua và có hiệu lực từ ngày 01/01/2015 Tuy nhiên cho đến nay, việc triển khai, chỉ đạo, tổ chức thực hiện đối với các nội dung phân bổ nguồn vốn, quản lý đầu tư vẫn còn những khó khăn, lúng túng cho các địa phương Theo Luật đầu tư công, một trong những điều kiện để chương trình,
dự án được bố trí kế hoạch vốn đầu tư công trung hạn là “đã được cấp có thẩm
quyền quyết định chủ trương đầu tư; phải xác định rõ nguồn vốn và khả năng cân đối vốn để thực hiện chương trình, dự án” 21 Tuy nhiên, việc thực hiện theo quy định trên là rất khó khăn do khó có thể lập, trình phê duyệt chủ trương đầu tư tất cả các dự án trong kế hoạch trung hạn 05 năm tại thời điểm năm đầu của 05 năm kế hoạch; hơn nữa mức vốn của dự án tại thời điểm phê duyệt chủ trương đầu tư sẽ không còn phù hợp khi triển khai thực hiện ở những năm sau, nhất là những năm về cuối của kế hoạch
Bên cạnh đó, trong quá trình thực hiện Luật đầu tư công, cũng có phát sinh vướng mắc: Tại Nghị định số 136/2015/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2015 của Chính phủ hướng dẫn một số điều của Luật đầu tư công có quy định: Sở Kế hoạch
và Đầu tư chủ trì, phối hợp với Sở Tài chính thẩm định nguồn vốn và khả năng cân đối vốn các dự án sử dụng vốn cân đối ngân sách địa phương, vốn trái phiếu chính quyền địa phương, vốn từ nguồn thu để lại cho đầu tư nhưng chưa đưa vào cân đối ngân sách địa phương Vì vậy, mỗi dự án khi thẩm định, trình UBND cấp tỉnh phê duyệt chủ trương đầu tư, nguồn vốn, khả năng cân đối vốn, Sở Kế hoạch và Đầu tư đều có văn bản đề nghị Sở Tài chính tham gia Tuy nhiên, các dự án phát sinh là rất nhiều, trong khi đó việc thẩm định các dự án không tập trung cùng thời điểm - phát sinh tới đâu thì đề nghị tham gia tới đó, vì vậy Sở Tài chính không thể chủ động cân đối nguồn, khả năng cân đối vốn để đề xuất theo yêu cầu
Đối với cấp huyện, trong thực hiện Luật đầu tư công vẫn còn khó khăn, cụ thể
là ở một số ngành, địa phương năng lực cán bộ chuyên môn còn yếu, nên đăng ký danh mục đầu tư công chưa tính toán được cơ bản vốn đầu tư; hơn nửa danh mục đã đăng ký nhưng do địa phương huyện Đầm Dơi là vùng sông nước, nên bị sạt lở đất, dẫn đến nền đất, mặt bằng để thực hiện công trình không đảm bảo, phải xin thay đổi
21
Khoản 1, khoản 2, Điều 55 Luật đầu tư công
Trang 33danh mục công trình, đây cũng là một trong những khó khăn thực tế của địa phương khi thực hiện Luật đầu tư công
1.2.3 Giải pháp
1.2.3.1 Giải pháp đối với Luật Tổ chức chính quyền địa phương
Từ phân tích nêu trên và thực tế công việc ở huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau, tác giả nhận thấy đối với Luật tổ chức chính quyền địa phương, cần xem xét và sửa đổi 4 điểm như sau:
- Thứ nhất: Luật quy định “Thường trực HĐND huyện gồm Chủ tịch HĐND,
hai Phó Chủ tịch HĐND và ”22 Bản thân tác giả nhận thấy từ thực tế và đề xuất Phó Chủ tịch HĐND cấp huyện chỉ cần một là đủ, nếu hai là dư, không có nhiều công việc để làm, dẫn đến lãng phí
- Thứ hai: Luật quy định “Ủy viên UBND huyện gồm các Ủy viên là người
đứng đầu cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện, Ủy viên phụ trách quân sự, Ủy viên phụ trách công an”23 Như thế thì tất cả các đồng chí thủ trưởng các cơ quan chuyên môn trực thuộc UBND huyện đương nhiên sẽ được bầu vào vị trí Ủy viên UBND huyện Như phân tích ở phần thực trạng, bản thân tác giả nhận thấy cần nên giảm số lượng Ủy viên UBND huyện, nên quy định số lượng là tốt nhất
Đối với huyện loại I và loại II, loại III có số lượng Phó Chủ tịch khác nhau; huyện loại I thì có không quá ba Phó Chủ tịch, huyện loại II và huyện loại III có không quá hai Phó Chủ tịch, nên số lượng thành viên UBND huyện sẽ khác nhau Quy định số lượng Phó Chủ tịch UBND như thế là phù hợp Tuy nhiên, như phân tích phần thực trạng thì các đồng chí là Thủ trưởng cơ quan chuyên môn trực thuộc UBND huyện đương nhiên là Ủy viên UBND huyện Như thế không tốt, phải quy định để có sự cạnh tranh, có sự phấn đấu, thủ trưởng đơn vị nào làm tốt việc, nổi trội thì cho bầu vào ủy viên UBND huyện, trừ các chức danh đương nhiên như công
an, quân sự, văn phòng Ngoài ba chức danh này ra, thì cần nên lựa chọn, so sánh, đồng chí thủ trưởng cơ quan chuyên môn nào làm việc tốt, nổi trội, thể hiện được tầm quan trọng của ngành, đơn vị đó thì xin ý kiến Ban Thường vụ Huyện ủy để bầu vào chức danh ủy viên UBND huyện Số lượng thành viên UBND huyện nên quy định từ 7 đến 9 là tốt nhất
Quy định số lượng thành viên UBND huyện 7 là dành cho các huyện loại II và huyện loại III, các huyện này chỉ có 2 Phó Chủ tịch Cụ thể từng thành viên UBND
22 Trích khoản 2, Điều 25 Luật tổ chức chính quyền địa phương
23
Khoản 1, Điều 27, Luật tổ chức chính quyền địa phương
Trang 34huyện loại II và loại III như sau: Chủ tịch, hai Phó Chủ tịch, công an, quân sự, văn phòng; còn lại do thực tế địa phương xin ý kiến Huyện ủy quyết định, thêm một hoặc hai, tùy vào khả năng của từng đồng chí, để có tính cạnh tranh vào vị trí ủy viên UBND huyện này Đối với huyện loại I nên quy định số lượng thành viên UBND huyện là 9 phù hợp hơn, cụ thể ở các vị trí: Chủ tịch, ba Phó Chủ tịch, công
an, quân sự, văn phòng, còn lại hai vị trí ủy viên UBND huyện là để cho các đồng chí thủ trưởng các cơ quan chuyên môn phấn đấu; sau đó, UBND huyện xin ý kiến Ban Thường vụ Huyện ủy quyết định, để UBND huyện trình khoản 1, Điều 27, Luật
tổ chức chính quyền địa phương huyện bầu vào vị trí ủy viên UBND huyện
- Thứ ba: như phần trên, phân tích về Điều 34, Luật tổ chức chính quyền địa phương chúng ta thấy còn chưa thật phù hợp Theo quan điểm tác giả, nên sửa đoạn thứ hai của Điều 34, nội dung sửa để Ủy ban nhân dân thị trấn có hai Phó Chủ tịch
1.2.3.2 Giải pháp đối với Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật
Từ thực tiễn nêu trên, bản thân tác giả nhận thấy, chúng ta cần phân tích kỹ Điều 30 của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 để có cái nhìn khách quan; luật là phải rõ ràng, không trừu tượng Nhưng điều luật này rất khó khăn trong áp dụng, thậm chí từ Bộ Tư pháp đến Sở Tư pháp địa phương còn chưa thống nhất với nhau Vì thế cá nhân tác giả xin đề xuất bỏ 9 từ trong Điều 30 của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, đó là các từ: “để quy định những vấn đề được luật giao“; đồng thời thay một dấu phẩy thành dấu chấm phẩy giữa HĐND với UBND
Nguyên văn “Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã ban hành nghị quyết, Ủy
ban nhân dân cấp huyện, cấp xã ban hành quyết định để quy định những vấn đề được luật giao”24
Sau khi bỏ 9 từ và thay dấu, Điều 30 sẽ là: “Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã ban hành nghị quyết; Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã ban hành quyết định”
1.2.3.3 Giải pháp đối với Luật đầu tƣ công
Để xử lý những vướng mắc khi thực hiện Luật Đầu tư công đối với cấp tỉnh, cấp huyện, chỉ nên quy định điều kiện chương trình, dự án được bố trí kế hoạch vốn đầu tư công trung hạn là nằm trong quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch ngành của địa phương Ngoài ra, trong các văn bản hướng dẫn thi hành Luật đầu tư công nên nghiên cứu lại nội dung vừa phù hợp với quy định của Luật, nhưng cũng
24
Điều 30 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật
Trang 35phải phù hợp với thực tế để dễ cho các địa phương triển khai thực hiện Riêng đối với cấp huyện, nên quy định giao nguồn cho địa phương và địa phương – cấp huyện được phép quyết định thay đổi danh mục công trình cấp xã khi xét thấy thực tế cần phải thay đổi, sau đó báo cáo cấp trên trực tiếp; việc thay đổi danh mục công trình của cấp xã Chủ tịch UBND huyện chịu mọi trách nhiệm nếu thực hiện không đúng
Tiểu kết luận Chương 1
Sau khi nghiên cứu các quy định liên quan đến cơ cấu tổ chức của HĐND huyện theo Luật tổ chức chính quyền địa phương; nghiên cứu chức năng, nhiệm vụ của HĐND và từ thực tế hoạt động của HĐND huyện Đầm Dơi đầu nhiệm kỳ 2016-
2021 đến nay tác giả nhận thấy cơ cấu tổ chức của Thường trực HĐND huyện đã có
sự đổi mới nhưng cần phải được xem xét lại Thứ nhất, số lượng Phó Chủ tịch HĐND huyện không cần phải có đến hai vị, chỉ cần một phó Chủ tịch HĐND huyện
là phù hợp để thực hiện công việc Thứ hai, các đồng chí Trưởng các Ban của HĐND không nên đưa vào nằm trong Thường trực HĐND huyện Thứ ba, đối với UBND thị trấn cho dù là loại II cũng cần phải bầu hai Phó Chủ tịch UBND, nếu một Phó Chủ tịch như hiện nay sẽ khó có thể đảm bảo hoàn thành tốt công việc của đô thị Thứ tư, nên quy định số lượng Ủy viên UBND cấp huyện từ 7 đến 9 đồng chí được, không nên quy định như hiện nay – tất cả các đồng chí Thủ trưởng cơ quan chuyên môn trực thuộc UBND huyện đều được bầu vào Ủy viên UBND huyện Đối với Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật hoặc văn bản hướng dẫn của Bộ Tư pháp hướng dẫn cụ thể các Nghị quyết về kinh tế - xã hội hằng năm mà HĐND huyện ban hành có phải là văn bản quy phạm pháp luật hay không, để các địa phương không gặp khó khăn trong thực hiện; bản thân tác giả nhận thấy Nghị quyết kinh tế - xã hội của HĐND huyện là văn bản quy phạm pháp luật là phù hợp Riêng việc thực hiện Luật đầu tư công, tác giả nhận thấy, nên cho cơ chế mở
là thống nhất giao quyền cho Chủ tịch UBND cấp huyện được quyền thay đổi danh mục các công trình thuộc danh mục đầu tư công cấp xã và chịu trách nhiệm về việc quyết định cho thay đổi danh mục này
Trang 36Chương 2 Nhiệm vụ Hội đồng nhân dân cấp huyện quyết định các vấn đề về kinh tế
2.1 Quy định pháp luật về nhiệm vụ quyết định các vấn đề kinh tế của HĐND cấp huyện
2.1.1 Về quy hoạch
Quy hoạch, là tiến trình lựa chọn trong số những phương án, cái nào tỏ ra rộng
mở vào tương lai, rồi tìm cách bảo đảm cho sự thực hiện đó, điều đó lệ thuộc vào sự cung ứng các nguồn lực cần thiết Vì quy hoạch là quá trình ra quyết định và là hoạt động cung ứng nguồn lực cho nên quy hoạch mang tính chính trị, trong đó các phương án lựa chọn sẽ không mang lại lợi ích đồng đều và như nhau đối với tất cả các thành viên của xã hội
Đối với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, là một hoạt động nhằm cụ thể hóa chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, vùng, địa phương nhằm xác định một cơ cấu ngành của quá trình tái sản xuất xã hội thông qua việc xác định các
cơ sở sản xuất, phục vụ sản xuất, phục vụ đời sống, nhằm không ngừng nâng cao mức sống dân cư, hợp lý hóa lãnh thổ và phát triển kinh tế bền vững
Bản chất của quy hoạch phát triển là sự cụ thể hóa các chiến lược phát triển, là
cơ sở định hướng cho kế hoạch 5 năm và hàng năm; trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay quy hoạch phát triển có hai nội dung cơ bản
Thứ nhất, là dự báo khả năng phát triển, nghĩa là dự báo phát triển đối với các
ngành, lĩnh vực trên phạm vi lãnh thổ nghiên cứu, nó trả lời cho câu hỏi: làm cái gì, làm cho ai và làm trong thời gian bao nhiêu lâu?
Thứ hai, là luận chứng các phương án tổ chức kinh tế - xã hội theo lãnh thổ,
nó trả lời cho câu hỏi, làm ở đâu?
Hai nội dung của quy hoạch nó gắn kết chặt chẽ với nhau và chúng phải được trả lời một cách thỏa đáng, chính xác và rõ ràng
Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội có vai trò rất quan trọng Do xã hội có nhiều thành phần kinh tế, nhiều chủ thể kinh tế khác nhau, với mục tiêu hoạt động của chủ thể là theo đuổi lợi ích tối đa về họ, không quan tâm đến lợi ích xã hội, do
đó cần có quy hoạch về dự kiến bố trí địa điểm, không gian sử dụng tài nguyên thiên nhiên hợp lý, bảo đảm lợi ích xã hội tốt nhất và tạo điều kiện tốt cho hoạt động của các thành phần kinh tế
Trang 37Quy hoạch sẽ đánh giá được hiện trạng về việc sử dụng đất và các thu nhập khác, dự kiến được khả năng sử dụng đất làm căn cứ cho nhà quản lý nắm được số lượng đất đai hiện còn lại và hướng mở rộng không gian sử dụng đất cho tương lai, trước mắt và lâu dài
Đối với Việt Nam, các loại quy hoạch đang được thiết lập hiện nay chủ yếu là quy hoạch phát triển ngành và quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội lãnh thổ Đối với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội lãnh thổ bao gồm 4 cấp:
Thứ nhất: quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của cả nước;
Thứ hai: quy hoạch tổng thể phát triển các vùng kinh tế - xã hội, các vùng
kinh tế trọng điểm, các lãnh thổ đặc biệt – gọi chung là quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng
Thứ ba: quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội các tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương – gọi chung là quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh
Thứ tư: quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội thành phố, thị xã và
huyện, quận thuộc tỉnh - gọi chung là quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện
Luật tổ chức HĐND và UBND năm 2003 đã quy định về chức năng, nhiệm vụ của HĐND huyện là quyết định kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hằng năm; chủ trương, biện pháp về xây dựng và phát triển kinh tế hợp tác xã và kinh tế hộ gia đình ở địa phương Kế thừa quy định này, đến Luật tổ chức chính quyền địa phương quy định nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND huyện là: “Thông qua kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trung hạn và hằng năm của huyện, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của huyện trước khi trình UBND cấp tỉnh phê duyệt”.25
Từ đó cho thấy, nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND theo Luật tổ chức chính quyền địa phương đã nâng lên là phải thông qua kế hoạch, quy hoạch trung hạn và hằng năm để làm cơ sở cho cơ quan chấp hành là UBND cấp huyện triển khai tổ chức thực hiện
2.1.2 Về kế hoạch kinh tế
Theo Luật Tổ chức HĐND và UBND trước đây và hiện nay là Luật Tổ chức chính quyền địa phương đều quy định nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND trong lĩnh vực kinh tế Trong đó, Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003 thì quy định tại Điều 19; còn Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân trong lĩnh vực kinh tế tại khoản 2, Điều 26
25
Điểm a, khoản 2, Điều 26 Luật tổ chức chính quyền địa phương
Trang 38Tại Điều 19, Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003 quy định rõ, trong lĩnh vực kinh tế, HĐND thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
- Quyết định kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hàng năm; chủ trương, biện pháp về xây dựng và phát triển kinh tế hợp tác xã và kinh tế hộ gia đình ở địa phương Quyết định biện pháp bảo đảm thực hiện chương trình khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, khuyến công và biện pháp phát huy mọi tiềm năng của các thành phần kinh tế ở địa phương, bảo đảm quyền tự chủ sản xuất, kinh doanh của các cơ sở kinh tế theo quy định của pháp luật
- Quyết định dự toán thu ngân sách nhà nước trên địa bàn; dự toán thu, chi ngân sách địa phương và phân bổ dự toán ngân sách cấp mình; phê chuẩn quyết toán ngân sách địa phương; quyết định các chủ trương, biện pháp triển khai thực hiện ngân sách; điều chỉnh dự toán ngân sách địa phương trong trường hợp cần thiết; giám sát việc thực hiện ngân sách đã được HĐND quyết định
- Quyết định quy hoạch, kế hoạch phát triển mạng lưới giao thông, thủy lợi và biện pháp bảo vệ đê điều, công trình thủy lợi, bảo vệ rừng theo quy định của pháp luật Quyết định biện pháp thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, chống tham nhũng, chống buôn lậu và gian lận thương mại
Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định chi tiết hơn nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND huyện trong lĩnh vực kinh tế, tài nguyên, môi trường, đó là:
- Thông qua kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trung hạn và hằng năm của huyện, quy hoạch sử dụng đất của huyện trước khi trình UBND cấp tỉnh phê duyệt
- Quyết định quy hoạch, kế hoạch phát triển các ngành, lĩnh vực trên địa bàn huyện trong phạm vi được phân quyền
- Quyết định biện pháp quản lý và sử dụng đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi ở vùng biển và các nguồn tài nguyên thiên nhiên nhiên khác; biện pháp bảo vệ và cải thiện môi trường, phòng, chống và khắc phục hậu quả thiên tai, bão lụt ở địa phương theo quy định của pháp luật
- Quyết định biện pháp phát triển hệ thống giáo dục mầm non, tiêu học và trung học cơ sở; biện pháp phát triển sự nghiệp văn hóa, thông tin, thể dục, thể thao; biện pháp bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân, phòng, chống dịch bệnh, thực hiện chính sách dân số, kế hoạch hóa gia đình; biện pháp phát triển việc làm, thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng, chính sách bảo trợ xã hội, xóa đói, giảm nghèo; biện pháp bảo đảm việc thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo trên địa bàn huyện theo quy định của pháp luật
Trang 39- “Giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phương, việc thực
hiện Nghị quyết của HĐND huyện; giám sát hoạt động của Thường trực HĐND, UBND, TAND, VKSND cùng cấp, Ban của HĐND cấp mình; giám sát văn bản quy phạm pháp luật của UBND cùng cấp và văn bản của HĐND cấp xã”26
Nếu so sánh giữa hai Luật thì Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định nhiều vấn đề về kinh tế hơn so với Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003 Theo quy định này, thì HĐND huyện có nhiệm vụ, quyền hạn xem xét, đưa ra kế hoạch kinh tế - xã hội trung hạn và hằng năm cho địa phương mình; trong đó, tùy theo điều kiện thực tế của từng địa phương mà HĐND quyết định đề ra chỉ tiêu cụ thể, đặc biệt là các chỉ tiêu liên quan đến lĩnh vực kinh tế để thực hiện cho từng năm và giai đoạn Cụ thể như hiện nay, thì HĐND huyện phải đề ra kế hoạch trung hạn đến năm 2020 hoặc đến 2021 (cuối nhiệm kỳ) cần phải đạt được mục tiêu cụ thể nào của lĩnh vực kinh tế; từ đó, có chỉ tiêu cụ thể để thực hiện cho từng năm, để đến thời điểm đó hoàn thành mục tiêu giai đoạn trung hạn
2.1.3 Về dự toán, phân bổ dự toán và quyết toán ngân sách, bao gồm ngân sách cho phát triển kinh tế
Về dự toán, phân bổ dự toán và quyết toán ngân sách thì Luật Tổ chức chính
quyền địa phương cũng đã quy định HĐND huyện có nhiệm vụ, quyền hạn: “Quyết
định dự toán thu ngân sách nhà nước trên địa bàn; dự toán thu, chi ngân sách địa phương và phân bổ dự toán ngân sách huyện; điều chỉnh dự toán ngân sách địa phương trong trường hợp cần thiết; phê chuẩn quyết toán ngân sách địa phương Quyết định đầu tư chương trình, dự án của huyện theo quy định của pháp luật”27
Đối với Luật ngân sách thì quy định rất cụ thể liên quan đến HĐND huyện trong quản lý, sử dụng ngân sách; dự toán, phân bổ dự toán, quyết toán ngân sách
“UBND các cấp quyết định sử dụng dự phòng ngân sách cấp mình, định kỳ báo cáo
Thường trực HĐND và báo cáo HĐND cùng cấp tại kỳ họp gần nhất”.28
Tại Điều 15 Luật ngân sách quy định: dự toán ngân sách nhà nước trình HĐND; dự toán ngân sách nhà nước đã được cấp có thẩm quyền quyết định; báo cáo tình hình thực hiện ngân sách nhà nước; quyết toán ngân sách nhà nước được HĐND phê chuẩn; dự toán, tình hình thực hiện, quyết toán ngân sách của các đơn vị
dự toán ngân sách, các tổ chức được ngân sách nhà nước hỗ trợ và các chương trình,
26 Khoản 4, Điều 26, Luật tổ chức chính quyền địa phương
27 Điểm b, khoàn, Điều 26 Luật tổ chức chính quyền địa phương
28
Điểm b, khoản 3, Điều 10 Luật ngân sách
Trang 40dự án đầu tư xây dựng cơ bản sử dụng vốn ngân sách nhà nước được công khai theo quy định sau đây:
- Nội dung công khai: số liệu và báo cáo thuyết minh dự toán ngân sách nhà nước trình HĐND, dự toán đã được cấp có thẩm quyền quyết định, tình hình thực hiện ngân sách nhà nước và quyết toán ngân sách nhà nước; kết quả thực hiện các kiến nghị của Kiểm toán nhà nước; trừ số liệu chi tiết, báo cáo thuyết minh thuộc lĩnh vực quốc phòng, an ninh, dự trữ quốc gia
- Công khai ngân sách nhà nước được thực hiện bằng một trong các hình thức: công bố tại kỳ họp, niêm yết tại trụ sở làm việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị; phát hành ấn phẩm; thông báo bằng văn bản đến các cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có liên quan; đưa lên trang thông tin điện tử; thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng
- Báo cáo quyết toán ngân sách nhà nước phải được công khai chậm nhất là 5 ngày làm việc kể từ ngày UBND gửi đại biểu HĐND
- Báo cáo dự toán ngân sách nhà nước đã được cấp có thẩm quyền quyết định, báo cáo quyết toán ngân sách nhà nước đã được cấp có thẩm quyền phê chuẩn, kết quả kiểm toán ngân sách nhà nước, kết quả thực hiện các kiến nghị của kiểm toán nhà nước phải được công khai chậm nhất là 30 ngày kể từ ngày văn bản được ban hành
Báo cáo tình hình thực hiện ngân sách nhà nước hàng quý, 6 tháng phải được công khai chậm nhất là 15 ngày kể từ ngày kết thúc quý và 6 tháng
Về nhiệm vụ và quyền hạn của HĐND thì tại Điều 30 Luật Ngân sách đã quy định rõ:
- Căn cứ vào nhiệm vụ thu, chi ngân sách được cấp trên giao và tình hình thức
tế tại địa phương, HĐND quyết định:
Dự toán thu ngân sách nhà nước trên địa bàn, bao gồm thu nội địa, thu từ hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, thu viện trợ không hoàn lại, đảm bảo không thấp hơn
dự toán thu ngân sách nhà nước được cấp trên giao Dự toán thu ngân sách địa phương, bao gồm các khoản thu ngân sách địa phương hưởng 100%, phần ngân sách địa phương được hưởng từ các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm, thu
bổ sung từ ngân sách cấp trên Dự toán chi ngân sách địa phương, bao gồm chi ngân sách cấp mình và chi ngân sách địa phương cấp dưới, chi tiết theo chi đầu tư phát triển, chi thường xuyên, chi trả nợ lãi, chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính, dự phòng