1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Xử lý vi phạm pháp luật về môi trường đối với doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh cà mau thực trạng và giải pháp

88 333 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 1,4 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, những quy định của pháp luật hiện hành vẫn còn nhiều bất cập; thực tế, nhiều vụ VPPL về MT của DN trong thời gian qua không thể xử lý hình sự2; một số quy định tại Nghị định 1

Trang 1

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS, TS Võ Trí Hảo

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2017

Trang 2

Tôi tên là Lê Tấn Vinh – mã số học viên: 7701251129A, là học viên lớp Cao học luật Khóa 25, chuyên ngành Luật kinh tế, Khoa Luật, Trường Đại học Kinh tế

TP Hồ Chí Minh, là tác giả của Luận văn thạc sĩ luật học với đề tài “Xử lý vi phạm pháp luật về môi trường đối với doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Cà Mau: Thực trạng và giải pháp” (Sau đây gọi tắt là “Luận văn”)

Tôi xin cam đoan tất cả các nội dung được trình bày trong Luận văn này là kết quả nghiên cứu độc lập của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn của người hướng dẫn khoa học Trong Luận văn có sử dụng, trích dẫn một số ý kiến, quan điểm khoa học của một số tác giả Các thông tin này đều được trích dẫn nguồn cụ thể, chính xác và

có thể kiểm chứng Các số liệu, thông tin được sử dụng trong Luận văn là hoàn toàn khách quan và trung thực

Học viên thực hiện

Lê Tấn Vinh

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ NGỮ VIẾT TẮT

PHẦN MỞ ĐẦU 1

Chương 1: Phân tích ROCCIPI tìm nguyên nhân vi phạm pháp luật về môi trường của doanh nghiệp 8

1.1 Quy tắc (R – Rule; quy định của pháp luật) 8

1.1.1 Giai đoạn 1993 đến 2005 8

1.1.2 Giai đoạn 2005 đến 2012 8

1.1.3 Giai đoạn 2012 đến nay 9

1.2 Cơ hội (O) 12

1.2.1 Giám sát của cơ quan quản lý nhà nước (Thanh tra chuyên ngành MT, Cảnh sát môi trường) 12

1.2.2 Giám sát phi nhà nước 13

1.3 Năng lực (C) 14

1.4 Truyền thông (nhận thức - C) 16

1.5 Lợi ích (I) 17

1.6 Quy trình (thủ tục - P) 18

1.6.1 Giai đoạn chuẩn bị dự án đầu tư, xây dựng 18

1.6.2 Giai đoạn khi doanh nghiệp đã đi vào hoạt động, vận hành dự án 19

1.6.3 Các hồ sơ môi trường khác 20

1.7 Ý thức hệ, quan niệm, tư tưởng (I- Ideology) 22

Chương 2: Quy trình phát hiện, xử lý vi phạm pháp luật về môi trường đối với doanh nghiệp theo quy định của pháp luật Việt Nam 23

2.1 Phát hiện, xử lý VPPL về MT của DN theo quy định hành chính 23

2.1.1 Quy định của pháp luật 23

2.1.1.1 Quy trình thanh, kiểm tra theo kế hoạch 23

2.1.1.2 Quy trình thanh, kiểm tra đột xuất: 25

2.1.2 Thực tiễn tại Cà Mau 28

2.1.2.1 Đối với lực lượng Thanh tra chuyên ngành môi trường tỉnh 28

2.1.2.2 Đối với lực lượng Cảnh sát môi trường Công an trong tỉnh 28

2.1.2.3 Kết quả thực hiện 29

2.1.3 Những bất cập và giải pháp 31

Trang 4

2.2.1 Quy định của pháp luật 34

2.2.1.1 Trước ngày 01/7/2016 34

2.2.1.2 Sau ngày 01/7/2016 38

2.2.1.3 Mối quan hệ giữa Luật Thanh tra với Luật Hình sự 41

2.2.2 Thực tiễn tại Cà Mau 42

2.2.3 Những bất cập và giải pháp 42

2.2.3.1 Những bất cập 42

2.2.3.2 Những giải pháp 43

Chương 3: Chế tài áp dụng đối với vi phạm pháp luật về môi trường đối với doanh nghiệp 45

3.1 Các biện pháp XLHC đối với hành vi VPHC trong lĩnh vực BVMT 45

3.1.1 Quy định của pháp luật 45

3.1.1.1 Đối tượng bị xử phạt VPHC 45

3.1.1.2 Các hành vi VPHC trong lĩnh vực BVMT 45

3.1.1.3 Hình thức, mức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi VPHC trong lĩnh vực BVMT 45

3.1.1.4 Thẩm quyền xử phạt 48

3.1.2 Thực tiễn tại Cà Mau 48

3.1.3 Những bất cập và giải pháp 49

3.1.3.1 Những bất cập 49

3.1.3.2 Những giải pháp 50

3.2 Các biện pháp xử lý hình sự 51

3.2.1 Quy định của pháp luật 51

3.2.1.1 Một số quy định chung 51

3.2.1.2 Cơ sở pháp lý trong xử lý tội phạm về môi trường 53

3.2.2 Thực tiễn tại Cà Mau 60

3.2.3 Một số bất cập và giải pháp 60

3.2.3.1 Một số hạn chế, bất cập 60

3.2.3.2 Một số giải pháp 62

KẾT LUẬN 65

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 5

Phụ lục 2: Thống kê số vụ, số tiền xử phạt VPHC về MT; số chuyển cơ quan CSĐT,

số khởi tố các DN trên địa bàn tỉnh, giai đoạn 2011 – 2016

Phụ lục 3: Thống kê nguồn tin tiếp nhận số vụ VPPL về môi trường của DN trên

địa bàn tỉnh, giai đoạn 2011 – 2016

Phụ lục 4: Thống kê hành vi VPPL về môi trường bị xử lý VPHC phổ biến của DN

trên địa bàn tỉnh, giai đoạn 2011 – 2016

Phụ lục 5: Thống kê 90 hồ sơ xử phạt VPHC về môi trường của doanh nghiệp trên

địa bàn tỉnh, giai đoạn 2011 – 2016

Phụ lục 6: Thống kê số vụ VPPL về môi trường của doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh,

giai đoạn 2011 – 2016

Phụ lục 7: Thống kê nguồn tin tiếp nhận số vụ VPPL về môi trường của DN trên

địa bàn tỉnh, giai đoạn 2011 – 2016

Phụ lục 8: Thống kê hành vi VPPL về MT bị xử phạt VPHC phổ biến của DN trên

địa bàn tỉnh, giai đoạn 2011 – 2016

Phụ lục 9: Thống kê 18 hồ sơ xử phạt VPHC về môi trường của doanh nghiệp trên

địa bàn tỉnh, giai đoạn 2011 – 2016

Phụ lục 10: Công tác điều tra, xử lý các vụ VPPL về môi trường trên toàn quốc của

lực lượng CS PCTP môi trường, giai đoạn 2011 – 2016

Phụ lục 11: Thống kê nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường của các doanh nghiệp

trên địa bàn tỉnh, giai đoạn 2011 – 2016

Phụ lục 12: Thống kê lĩnh vực kinh doanh gây ô nhiễm môi trường bị phát hiện

VPHC trên địa bàn tỉnh, giai đoạn 2011 – 2016

Trang 6

BVMT Bảo vệ môi trường

CSMT Cảnh sát môi trường

CQĐT Cơ quan điều tra

CKMT Cam kết bảo vệ môi trường

ĐTM Đánh giá tác động môi trường

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

(1) Môi trường có tầm quan trọng đặc biệt đối với đời sống của con người, sinh vật; đối với sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của mỗi quốc gia, dân tộc và toàn nhân loại Giữ cho MT trong lành luôn là mối quan tâm toàn cầu Vì MT có trong sạch, lành mạnh thì con người mới có điều kiện sống tốt, mới đảm bảo được

sự phát triển của xã hội Thế nhưng, sự tác động ngày càng nhiều của con người đã gây ra những tác động xấu đến MT Trong đó, ô nhiễm MT là vấn đề nóng, đang ngày càng diễn tiến theo chiều hướng xấu làm nảy sinh những nguy cơ hủy hoại nghiêm trọng MT

Ở nước ta, trong những năm qua, vấn đề ô nhiễm MT và VPPL về BVMT có

xu hướng tăng nhanh và diễn biến phức tạp Rừng tiếp tục bị tàn phá nặng nề, khoáng sản bị khai thác bừa bãi; đất đai bị xói mòn và thoái hóa; đa dạng sinh học trên đất liền và dưới biển đều bị suy giảm; nguồn nước mặt bị ô nhiễm; nhiều đô thị

và khu công nghiệp bị ô nhiễm do nước thải, khí thải, chất thải rắn; các sự cố môi trường ngày càng gia tăng về số lượng và tính chất nghiêm trọng gây biến đổi khí hậu, các thảm họa hạn hán, bão lụt, động đất, sạt lỡ, lũ quét… đe dọa trực tiếp đến phát triển kinh tế - xã hội, sự phát triển bền vững của đất nước, ảnh hưởng trực tiếp đến tính mạng, sức khỏe và chất lượng cuộc sống của con người, tại một số địa phương trở thành mầm móng mất an ninh trật tự

Cà Mau là một trong 4 tỉnh thuộc Vùng kinh tế trọng điểm khu vực đồng bằng sông Cửu Long, vì vậy, tốc độ phát triển đô thị cũng như công nghiệp hoá trên địa bàn tỉnh những năm gần đây diễn ra rất nhanh, các khu công nghiệp, đô thị theo

đó hình thành, thường nằm ở các khu vực ven sông (do Cà Mau có hệ thống sông ngòi chằng chịt) Cà Mau hiện có 03 khu, cụm công nghiệp (KCN Khánh An, KCN Hòa Trung, Cụm công nghiệp Sông Đốc) và khu kinh tế Năm Căn, chủ yếu là các công ty chế biến thủy, hải sản; trong khi đó, cơ sở hạ tầng các khu công nghiệp, nhất là hệ thống xử lý nước thải tập trung chưa được quan tâm đầu tư đúng mức Vì vậy, tình trạng ô nhiễm MT không khí, môi trường nước trên các con sông xung quang khu, cụm công nghiệp ngày càng nghiêm trọng, đã ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống và sức khỏe của người dân

Những năm gần đây, tình hình VPPL về môi trường của DN trên địa bàn tỉnh

Cà Mau diễn biến khá phức tạp Các DN thường sử dụng nhiều thủ đoạn rất tinh vi để

Trang 8

gây tác hại đến MT, như: Lén lút xả nước thải không qua xử lý ra môi trường vào ban đêm hoặc lắp đặt đường ống dẫn nước âm dưới đất để xả nước thải chưa xử lý

ra các sông, rạch; phơi đầu, vỏ tôm bên ngoài, không có nhà phơi, sấy, để mùi hôi thối thoát ra MT gây ô nhiễm không khí nghiêm trọng, ảnh hưởng sức khỏe đến người dân sống trong khu vực1

Qua khảo sát cho thấy, tình trạng ô nhiễm môi trường một số nơi trên địa bàn tỉnh Cà Mau rất nghiêm trọng và có xu hướng gia tăng cả về tính chất và mức độ ô nhiễm, một số địa phương phải kể đến đó là: Thành phố Cà Mau, huyện Cái Nước, Trần Văn Thời

Nguyên nhân của tình trạng trên là do tỉnh chưa có nhà máy xử lý nước thải tập trung tại các KCN; một số DN chỉ quan tâm đến lợi nhuận, không quan tâm đến BVMT (không đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải hoặc đầu tư nhưng không

sử dụng thường xuyên; đầu tư dây chuyền sản xuất lạc hậu…); công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát, phát hiện và xử lý DN vi phạm về BVMT còn lỏng lẻo, bất cập, chưa nghiêm minh

Môi trường là vấn đề sống còn của một đất nước, của toàn nhân loại BVMT bằng pháp luật là định hướng cơ bản của mỗi quốc gia Xử lý VPPL về MT là công

cụ quan trọng trong hoạt động quản lý nhà nước về MT nhằm duy trì trật tự kỷ cương pháp chế, góp phần phát triển bền vững đất nước

Trước sự xuống cấp nghiêm trọng của môi trường, những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách, pháp luật về BVMT, như:

Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 1999 và các Luật sửa đổi, bổ sung một số điều luật của BLHS đã được Quốc hội thông qua ngày 28/12/1989, 12/8/1991, 22/12/1992, 10/5/1997, 19/6/2009; BLHS năm 2015; Chỉ thị số 36/CT-TW ngày 25/6/1998 của

Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương khoá VIII và Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị (Khoá IX) về BVMT trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; Chỉ thị số 29-CT/TW ngày 21/01/2009 của Ban Bí thư về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 41-NQ/TW của Bộ Chính trị; Luật BVMT năm 2005, 2014; Luật Xử lý VPHC năm 2012; Nghị định số 117/2009/NĐ-

CP ngày 31/12/2009 của Chính phủ quy định về xử lý VPPL trong lĩnh vực BVMT,

1

http://www.tienphong.vn/xa-hoi/xa-ban-gay-o-nhiem-512633.tpo : Xả bẩn gây ô nhiễm;

http://tinmientay.net/ca-mau-dieu-dung-vi-nha-may-xa-thai-truc-tiep/:Cà Mau: Điêu đứng vì nhà máy xả thải trực tiếp;

http://www.tinmoitruong.vn/di-thay-va-viet/ca-mau khu-cong-nghiep-boc-mui-hoi-thoi_71_20178_1.html:Cà Mau: Khu công nghiệp bốc mùi hôi thối;

http://maivang.nld.com.vn/thoi-su-trong-nuoc/song-nuoc-ca-mau-dang-giay-chet-241834.htm:Sông nước Cà Mau

đang “giãy chết”

Trang 9

Nghị định số 179/2013/NĐ-CP ngày 14/01/2013 và nay là Nghị định số 155/2016/NĐ-CP ngày 18/11/2016 của Chính phủ quy định về xử phạt VPHC trong lĩnh vực BVMT, có hiệu lực từ ngày 01/02/2017 (gọi tắt là Nghị định 155) Các văn bản quy phạm pháp luật nêu trên đánh dấu một bước phát triển của pháp luật trong xử lý các hành vi VPPL về MT của DN

Tuy nhiên, những quy định của pháp luật hiện hành vẫn còn nhiều bất cập; thực tế, nhiều vụ VPPL về MT của DN trong thời gian qua không thể xử lý hình

sự2; một số quy định tại Nghị định 179 (khi Nghị định 155 chưa có hiệu lực thi hành) của Chính phủ đã bộc lộ nhiều điểm bất hợp lý, gây khó khăn cho cơ quan có thẩm quyền trong thực thi pháp luật và ảnh hưởng đến hiệu quả của việc xử lý các hành vi VPHC trong lĩnh vực BVMT; đồng thời, việc lùi thời gian thi hành BLHS năm 2015 càng làm cho việc xử lý các hành vi gây ô nhiễm MT hiện nay theo BLHS năm 1999 còn gặp nhiều vướng mắc, bất cập

Với hai lý do cơ bản nêu trên, học viên chọn đề tài: “Xử lý VPPL về môi trường đối với doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Cà Mau: Thực trạng và giải pháp”

làm luận văn thạc sỹ luật học, chuyên ngành Luật Kinh tế

2 Giả thuyết, câu hỏi nghiên cứu

Tình hình VPPL về BVMT của DN trên địa bàn tỉnh Cà Mau trong những năm gần đây có xu hướng diễn biến phức tạp; tính chất, mức độ vi phạm ngày càng nghiêm trọng, thủ đoạn ngày càng tinh vi nhưng việc phát hiện ngăn chặn chưa kịp thời, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến MT sống, ảnh hưởng đến đời sống của người dân, đến sự phát triển bền vững của địa phương Bên cạnh đó, việc xử lý các hành vi vi phạm về MT đối với DN còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc Để làm rõ đề tài trên, tác giả đưa ra một số giả thuyết sau:

2.1 Giả thuyết nghiên cứu

Các giả thuyết khoa học được sử dụng để nghiên cứu:

2

Những vụ sai phạm điển hình như Công ty TNHH Vedan xả nước thải trực tiếp xuống sông Thị Vải (Đồng Nai), Công

ty sửa chữa tàu biển Huyndai-Vinashin xả chất thải rắn (hạt nix) độc hại không qua xử lý ra môi trường (Khánh Hòa), Nhà máy Miwon (Việt Trì - Phú Thọ) xả nước thải chưa qua xử lý ra sông Hồng; hành vi xả nước thải độc hại ra sông Đông Điền (huyện Nhà Bè - TP Hồ Chí Minh) của Công ty cổ phần thuộc da Hào Dương; các công ty nhập chất thải phế liệu về cảng Hải Phòng, Sài Gòn và Đà Nẵng đều không bị xử lý hình sự Các biện pháp xử phạt hành chính đối với các

vụ sai phạm này đã bộc lộ những bất cập của chính sách hình sự hóa vi phạm môi trường Trong số 11 tội danh về tội phạm môi trường trong BLHS, đến nay ở Việt Nam mới chỉ có 2 tội danh bị khởi tố điều tra và đưa ra xét xử là tội hủy hoại rừng (Điều 189) và vi phạm các quy định về bảo vệ động vật hoang dã, quý hiếm (Điều 190)

Trang 10

(1) Nguyên nhân để tình hình VPPL về MT của DN ngày càng nghiêm trọng là

do quy trình phát hiện, xử lý hành chính, hình sự còn nhiều bất cập, gây khó khăn trong thực tiễn xử lý các hành vi VPPL trong lĩnh vực MT

(2) Nếu chế tài đủ mạnh thì sẽ hạn chế tình trạng VPPL về MT

2.2 Câu hỏi nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, thực tiễn và các giả thuyết trên, học viên xác định luận văn cần trả lời 03 câu hỏi sau:

(1) Nguyên nhân của tình trạng VPPL về MT là do đâu?

(2) Quy trình phát hiện, xử lý VPPL về MT theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện nay như thế nào? Có gì bất cập?

(3) Chế tài áp dụng khi có hành vi VPPL về MT theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện nay Như thế nào? Có gì bất cập?

3 Tình hình nghiên cứu

3.1 Tình hình nghiên cứu xung quanh câu hỏi nghiên cứu thứ nhất

Nghiên cứu Bộ quy tắc ROCCIPI3 (của Seidman) để tìm hiểu các quy định của pháp luật Việt Nam; nguyên nhân của tình trạng VPPL về MT của các DN trên địa bàn tỉnh Cà Mau

3.2 Tình hình nghiên cứu xung quanh câu hỏi nghiên cứu thứ hai

Nghiên cứu nội dung các quy định của pháp luật Việt Nam về quy trình phát hiện, xử lý các hành vi VPPL về MT của DN; đối chiếu thực tiễn để phát hiện những sai sót, bất cập, khó khăn Trên cơ sở đó, đề ra các giải pháp

3.3 Tình hình nghiên cứu xung quanh câu hỏi nghiên cứu thứ ba

Nghiên cứu nội dung các chế tài của pháp luật hành chính, hình sự về xử lý các hành vi VPPL về MT của DN Tìm ra những khó khăn, hạn chế Trên cơ sở đó,

đề xuất một số giải pháp

Công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm về môi trường và những vấn đề

có liên quan đến môi trường, đến nay đã có một số đề tài nghiên cứu như:

- Nguyễn Duy Hùng (2003), “Những vi phạm pháp luật về môi trường – Giải pháp phòng, chống”, Đề tài khoa học cấp nhà nước, Hà Nội

3

Giáo trình Phương pháp nghiên cứu Luật học của PGS TS Phạm Duy Nghĩa, Khoa luật, Trường Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh (An Seidman et al, Xem xét dự án luật: Cẩm nang cho các nhà lập pháp, NXB CTQG, 2004)

Trang 11

- Vũ Văn Thiết (2012), “Hoạt động phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường trên địa bàn miền Tây Nam bộ của lực lượng cảnh sát nhân dân - Thực trạng và giải pháp”, Đề tài khoa học cấp Bộ, Cần Thơ

- Vũ Đức Khiển (2013), “Giải pháp phòng, chống vi phạm pháp luật về môi trường ở khu công nghiệp thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Nam của lực lượng Cảnh sát nhân dân”, Đề tài khoa học cấp Bộ, Thành phố Hồ Chí Minh

- Đỗ Văn Mạnh (2010), “Phòng chống tội phạm môi trường ở các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Nai”, Luận văn thạc sĩ Luật học, Đại học Cảnh sát

nhân dân, Thành phố Hồ Chí Minh

Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, đầy đủ,

có hệ thống về hoạt động xử lý vi phạm pháp luật về MT đối với DN ở tỉnh Cà

Mau Do đó, việc nghiên cứu đề tài “Xử lý VPPL về MT đối với DN trên địa bàn

tỉnh Cà Mau: Thực trạng và giải pháp” nhằm làm rõ thực trạng hoạt động này, từ

đó tìm giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động xử lý hành chính, xử lý hình sự đối với các hành vi VPPL về MT đối với DN trong thời gian tới là hết sức cần thiết

Ngoài ra, học viên còn nghiên cứu một số bài báo, tạp chí trên lĩnh vực này nhưng tiếp cận ở góc độ khác hoặc phạm vi khảo sát tại địa phương khác để làm cơ

sở nghiên cứu đề tài này

4 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn đi sâu tìm hiểu nội dung các quy định của pháp luật Việt Nam về BVMT; tìm hiểu thực trạng xử lý VPPL về lĩnh vực MT của DN từ năm 2011 đến năm 2016 trên địa bàn tỉnh Cà Mau và nguyên nhân; những hạn chế, bất cập về quy trình phát hiện, chế tài xử lý các hành vi VPPL về MT đối với các DN Trên cơ sở

đó, đề ra một số giải pháp thiết thực góp phần hoàn thiện một số quy định pháp luật, cũng như nâng cao hiệu quả công tác xử lý các hành vi VPPL về MT của DN trên địa bàn tỉnh trong thời gian tới

Để đạt được mục đích trên, luận văn có các nhiệm vụ cơ bản sau:

(1) Phân tích ROCCIPI để tìm hiểu các quy định của pháp luật, nguyên nhân của tình trạng VPPL về MT là do đâu?

(2) Quy trình phát hiện, xử lý VPPL về MT theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện nay như thế nào? Có gì bất cập?

Trang 12

(3) Chế tài áp dụng khi có hành vi VPPL về MT theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện nay ra sao? Có gì bất cập?

4.2 Đối tượng nghiên cứu

Xử lý VPPLvề MT của DN trên địa bàn tỉnh Cà Mau

4.3 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi về thời gian: Từ năm 2011 đến năm 2016

- Phạm vi về địa bàn nghiên cứu: Tỉnh Cà Mau

5 Các phương pháp tiến hành nghiên cứu; khung lý thuyết

5.1 Các phương pháp nghiên cứu

Để phù hợp với đối tượng, mục đích nghiên cứu, tác giả đề tài sử dụng một cách linh hoạt và hợp lý các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:

- Phương pháp tổng kết thực tiễn

- Phương pháp phân tích số liệu

- Phương pháp tổng hợp, đối chiếu, so sánh, thống kê

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu

5.2 Khung lý thuyết

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung

của đề tài bao gồm 03 chương:

Chương 1: Phân tích ROCCIPI tìm nguyên nhân VPPL về MT của DN

1.1 Quy tắc (R – Rule; quy định của pháp luật)

1.2 Cơ hội (cơ chế giám sát)

2.1 Phát hiện, xử lý VPPL về MT của DN theo quy định hành chính

2.1.1.Quy định của pháp luật

2.1.2 Thực tiễn tại Cà Mau

2.1.3 Những bất cập và giải pháp

2.2 Phát hiện, xử lý VPPL về MT của DN theo quy định hình sự

Trang 13

2.2.1.Quy định của pháp luật

2.2.2 Thực tiễn tại Cà Mau

2.2.3 Những bất cập và giải pháp

Tiểu kết chương 2

Chương 3: Chế tài áp dụng đối với VPPL về môi trường của DN

3.1 Các biện pháp xử lý hành chính

3.1.1 Quy định của pháp luật

3.1.2 Thực tiễn tại Cà Mau

3.1.3 Những bất cập và giải pháp

3.2 Các biện pháp xử lý hành sự

3.2.1 Quy định của pháp luật

3.2.2 Thực tiễn tại Cà Mau

3.2.3 Những bất cập và giải pháp

Tiểu kết chương 3

6 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài

- Những kết quả đạt được của đề tài sẽ làm sáng tỏ các quy định của pháp luật về BVMT, đồng thời, góp phần bổ sung, hoàn thiện các quy định về quy trình phát hiện, xử lý và chế tài xử lý đối với các DN có hành vi VPPL về MT

- Ðề tài còn giúp lãnh đạo và cán bộ các cơ quan chuyên môn trực tiếp làm công tác quản lý nhà nước trên lĩnh vực MT, cán bộ, chiến sĩ làm công tác phòng, chống tội phạm về MT thuộc lực lượng Công an tỉnh Cà Mau nghiên cứu, tham khảo và vận dụng

thực hiện nhiệm vụ này tại địa phương

Trang 14

Chương 1: Phân tích ROCCIPI tìm nguyên nhân vi phạm pháp luật về môi trường của doanh nghiệp

1.1 Quy tắc (R – Rule; quy định của pháp luật)

Việc BVMT có trở nên trật tự hay không trước hết phụ thuộc nội dung các quy định pháp luật về BVMT Phân tích dưới đây nhằm đánh giá pháp luật nội dung (material law) về BVMT có bất cập nào dẫn tới tình trạng VPPL về MT của DN hay không

Luật BVMT năm 1993 là văn bản pháp lý đầu tiên ghi nhận vấn đề VPPL về

MT Những quy định của Luật BVMT 1993 bước đầu đã tạo cơ sở pháp lý cho việc xác định các hành vi VPPL về MT

1.1.2 Giai đoạn 2005 đến 2012

Sau gần 10 năm thực hiện, Luật BVMT năm 1993 đã bộc lộ nhiều bất cập và hạn chế, như: Nhiều quy phạm còn chung chung, thiếu cụ thể và chưa rõ ràng nên việc thực thi pháp luật thấp; chưa luật hoá các chính sách lớn, quan trọng về phát triển bền vững của Đảng và Nhà nước trong thời gian qua cũng như các cam kết quốc tế mà Việt Nam là thành viên; định hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và chủ trương cải cách hành chính đòi hỏi phải đổi mới và tăng cường thể chế về BVMT4… Do vậy, ngày 29 tháng 11 năm 2005, tại kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XI đã thông qua Luật BVMT năm 2005 Luật BVMT năm 2005 có nhiều điểm mới, tiến bộ hơn so với Luật BVMT năm 1993

Sau đó, Chính phủ đã ban hành một số Nghị định nhằm triển khai thực hiện Luật BVMT năm 2005 như: Nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 09 tháng 8 năm

2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật BVMT năm

2005 (ngày 28/02/2008, Chính phủ ban hành Nghị định số 21 sửa đổi, bổ sung một

số điều của Nghị định 80); Nghị định số 29/2011/NĐ-CP ngày 18 tháng 4 năm 2011

4 “Giới thiệu Luật Bảo vệ môi trường năm 2005”, Nguồn:http://thongtinphapluatdansu.edu.vn/2008/05/01/5834/, cập nhập: 10 giờ ngày 15 tháng 09 năm 2015

Trang 15

quy định về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và cam kết BVMT, Nghị định số 117/2009/NĐ-CP ngày 31/12/2009 về xử lý VPPL trong lĩnh vực BVMT…

1.1.3 Giai đoạn 2012 đến nay

Qua thực tiễn thực hiện, Luật BVMT 2005 đã bộc lộ nhiều hạn chế và bất cập do một số quy định chưa sát thực tế, thiếu cụ thể, chậm đi vào cuộc sống, không theo kịp yêu cầu phát triển của xã hội; cơ chế, chính sách BVMT chậm đổi mới, chưa đồng bộ 5

Nhằm khắc phục những hạn chế nêu trên, ngày 23 tháng 6 năm 2014, tại kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật BVMT năm 2014 Luật BVMT năm 2014 kế thừa những nội dung và cấu trúc cơ bản của Luật BVMT năm 2005; khắc phục hạn chế của những điều khoản thiếu tính thực thi; luật hóa những chủ trương, chính sách mới về BVMT; mở rộng và cụ thể hóa một số nội dung về BVMT; xử lý những trùng lặp và mâu thuẫn với các luật khác để bảo đảm tính thống nhất trong hệ thống pháp luật; tạo tiền đề pháp lý để xây dựng các Nghị định,

Thông tư hướng dẫn xử lý các hành vi VPPL về MT

Trên cơ sở Luật BVMT năm 2014; Luật Xử lý VPHC năm 2012 (có hiệu lực thi hành ngày 01/7/2013) và những bất cập, tồn tại của Nghị định số 117/2009/NĐ-

CP ngày 31/12/2009 của Chính phủ quy định về xử lý VPPL trong lĩnh vực BVMT

(hành vi vi phạm còn chung chung và thiếu, mức phạt đối với một số hành vi chưa hợp lý, mức phạt đối với những hành vi có tính nguy hại cao còn thấp, ), ngày

14/01/2013, Chính phủ ban hành Nghị định số 179/2013/NĐ-CP quy định về xử phạt VPHC trong lĩnh vực BVMT

Mặc dù, các văn bản quy phạm pháp luật nêu trên, đánh dấu một bước phát triển mới của pháp luật về xử lý các hành vi VPPL về MT Tuy nhiên, do quá trình phát triển của xã hội, một số quy định pháp luật hiện hành tiếp tục tồn tại nhiều bất cập, hạn chế, cụ thể: Nhiều vụ VPPL về MT trong thời gian qua không thể xử lý hình sự6; một số quy định tại Nghị định số 179 của Chính phủ đã bộc lộ nhiều điểm

5 “Đề cương giới thiệu Luật Bảo vệ môi trường năm 2014”, Nguồn: http://www.mof.gov.vn/portal/page/portal/nif/Newdetail?pers_id=42972409&item_id=152738766&p_details=1, cập nhật: 11 giờ ngày 15 tháng 09 năm 2015

6

Những vụ sai phạm điển hình như Công ty TNHH Vedan xả nước thải trực tiếp xuống sông Thị Vải (Đồng Nai), Công

ty sửa chữa tàu biển Huyndai-Vinashin xả chất thải rắn (hạt nix) độc hại không qua xử lý ra môi trường (Khánh Hòa), Nhà máy Miwon (Việt Trì - Phú Thọ) xả nước thải chưa qua xử lý ra sông Hồng; hành vi xả nước thải độc hại ra sông Đông Điền (huyện Nhà Bè - TP Hồ Chí Minh) của Công ty cổ phần thuộc da Hào Dương; các công ty nhập chất thải phế liệu về cảng Hải Phòng, Sài Gòn và Đà Nẵng đều không bị xử lý hình sự Các biện pháp xử phạt hành chính đối với các

vụ sai phạm này đã bộc lộ những bất cập của chính sách hình sự hóa vi phạm môi trường

Trang 16

bất hợp lý, gây khó khăn cho cơ quan có thẩm quyền trong thực thi pháp luật và ảnh hưởng đến hiệu quả của việc xử lý các hành vi VPHC trong lĩnh vực BVMT (trước khi Nghị định 155/2016/NĐ-CP có hiệu lực); đồng thời, việc lùi thời gian thi hành BLHS năm 2015 càng làm cho việc xử lý các hành vi gây ô nhiễm MT hiện nay theo BLHS năm 1999 còn gặp nhiều khó khăn, bất cập

Chính phủ đã ban hành Nghị định số 155/2016/NĐ-CP ngày 18/11/2016 quy định về xử phạt VPHC trong lĩnh vực BVMT, có hiệu lực từ ngày 01/02/2017 (thay

thế Nghị định 179), theo hướng tăng mức xử phạt VPHC đối với một số hành vi vi

phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT

Từ năm 2012 đến nay, thực hiện các văn bản của Đảng, Nhà nước về BVMT, UBND tỉnh Cà Mau đã ban hành nhiều văn bản để triển khai, chỉ đạo thực hiện có hiệu quả công tác BVMT trên địa bàn tỉnh, cụ thể một số văn bản như: Quyết định số 1552/QĐ-UBND ngày 30/10/2012 của Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau

về việc ban hành kế hoạch triển khai thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TU ngày 17/5/2012 của BCH Đảng bộ tỉnh về BVMT, thích ứng với biến đổi khí hậu và nước biển dâng tỉnh Cà Mau đến năm 2015, định hướng đến năm 2020; Quyết định

số 1597/QĐ-UBND ngày 31/10/2013 của Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau về việc phân công nhiệm vụ triển khai thực hiện Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 18/3/2013 của Chính phủ trên địa bàn tỉnh Cà Mau; Quyết định số 885/QĐ-UBND ngày 23/5/2016 của Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau về việc thành lập Ban chỉ đạo xử lý ONMT và Tổ kiểm tra liên ngành về BVMT (thay thế Quyết định số 26/QĐ-UBND ngày 10/01/2014, Quyết định số 1704/QĐ-UBND ngày 30/11/2012 của Chủ tịch UBND tỉnh); Chỉ thị số 09/CT-UBND ngày 10/8/2016 của Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau về việc tăng cường công tác BVMT trên địa bàn tỉnh Cà Mau; kế hoạch BVMT từ năm 2011 đến năm 2016; kế hoạch, công văn triển khai thực hiện Nghị định số 179/2013/NĐ-CP, 155/2016/NĐ-CP của Chính phủ về xử phạt VPHC trong lĩnh vực BVMT

Có thể nói, UBND tỉnh Cà Mau đã chủ động, kịp thời ban hành các văn bản

cụ thể hóa các chính sách, pháp luật của nhà nước về BVMT, chỉ đạo triển khai thực hiện có hiệu quả trên địa bàn tỉnh, góp phần quan trọng triển khai thực hiện có hiệu quả Luật BVMT năm 2014 và các văn bản chỉ đạo của Đảng, Nhà nước về

Trong số 11 tội danh về tội phạm môi trường trong BLHS, đến nay ở Việt Nam mới chỉ có 2 tội danh bị khởi tố điều tra và đưa ra xét xử là tội hủy hoại rừng (Điều 189) và vi phạm các quy định về bảo vệ động vật hoang dã, quý hiếm (Điều 190)

Trang 17

BVMT Qua nghiên cứu nội dung các văn bản trên, thấy rằng, UBND tỉnh rất quan tâm chỉ đạo công tác BVMT, thể hiện qua việc triển khai đầy đủ, kịp thời các văn bản quy phạm pháp luật; Tỉnh ủy ban hành Nghị quyết, UBND tỉnh ban hành kế hoạch triển khai thực hiện đến năm 2020; thành lập Ban chỉ đạo xử lý ô nhiễm MT,

Tổ kiểm tra liên ngành; gần đây nhất là năm 2016 ban hành Chỉ thị số UBND về tăng cường công tác BVMT trên địa bàn tỉnh Đây là chỉ thị có nhiều chỉ đạo quan trọng, cụ thể về công tác BVMT, điển hình như: Khẩn trương xây dựng

09/CT-Đề án nâng cao năng lực công tác BVMT trên địa bàn tỉnh đến năm 2025; xây dựng Quy hoạch BVMT cấp tỉnh theo quy định của Luật BVMT; tăng cường hoạt động của Ban chỉ đạo và Tổ kiểm tra liên ngành BVMT trong công tác thanh, kiểm tra đột xuất

Mặc dù triển khai các văn bản rất đầy đủ, nội dung rất phong phú, nhiều chỉ tiêu đặt ra (xây dựng các khu, cụm công nghiệp có đầy đủ cơ sở hạ tầng kỹ thuật BVMT hoàn chỉnh; quy hoạch cụm công nghiệp có mùi để di dời các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm mùi; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, phát hiện và xử lý nghiêm minh mọi hành vi xả thải không đúng quy chuẩn kỹ thuật BVMT ); tuy nhiên, qua đối chiếu với thực tế thì hiệu quả đạt được chưa cao, VPPL về BVMT trên địa bàn tỉnh Cà Mau vẫn còn diễn biến phức tạp, nhất là tại các khu, cụm công nghiệp

Vì vậy, để triển khai thực hiện có hiệu quả các quy định của pháp luật nói chung, các quy định của địa phương nói riêng về BVMT, cần phải có sơ, tổng kết định kỳ, qua đó, phải phê bình, kiểm điểm nghiêm túc những địa phương làm chưa đạt chỉ tiêu, hiệu quả kém để rút kinh nghiệm chung; thực hiện kiểm điểm trách nhiệm người đứng đầu địa phương phải thực sự nghiêm túc, nếu không việc “đánh trống, bỏ dùi” sẽ tiếp tục diễn ra không chỉ trong lĩnh vực BVMT mà còn nhiều lĩnh vực khác trong đời sống xã hội

* So sánh với chính sách của Chính phủ Nhật Bản

Trong thập niên 1960, với tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh đã làm cho Nhật Bản phải chịu những áp lực lớn về vấn đề BVMT Tình trạng ô nhiễm MT không khí, MT nước ngày càng gia tăng Trước thực trạng này, Chính phủ Nhật Bản đã tiến hành các giải pháp về cải thiện hệ thống pháp luật và thiết lập cơ quan quản lý nhà nước về môi trường, để giải quyết ngay 3 vấn đề: Giảm thiểu ô nhiễm, bảo vệ môi trường; Giảm được chi phí kiểm soát ô nhiễm và chi phí về sức khỏe của cộng đồng; Giảm giá thành sản xuất và giảm chi phí năng lượng Đây là tư duy mới về

Trang 18

quản lý sản xuất, tức là: "Không phải chỉ lo xử lý chất thải ở công đoạn cuối của sản phẩm, mà phải tính toán ngay từ đầu làm sao để sản xuất hợp lý nhất, phát thải ít nhất"7

Chính tư duy kiểm soát phát thải ít nhất ngay từ đầu vào, Chính phủ Nhật Bản đã ban hành những quy định của pháp luật về tiêu chuẩn phát thải chất thải, kiểm soát ô nhiễm nước, không khí và giám sát ô nhiễm chất độc hại rất nghiêm ngặt Hệ thống Luật Môi trường cơ bản được ban hành vào năm 1993, đã đưa ra Hệ thống kiểm soát ô nhiễm; trong đó, quy định về kiểm soát ô nhiễm không khí (có Luật Kiểm soát ô nhiễm không khí); Luật Kiểm soát ô nhiễm nước chính thức được thông qua vào năm 1970, tập trung vào 3 vấn đề: Tiêu chuẩn chất lượng môi trường nước; tiêu chuẩn và quy định phát thải; kiểm soát tổng lượng chất ô nhiễm; Luật Ngăn ngừa ô nhiễm đất tại vùng đất nông nghiệp

Chính những thành tựu trên đã tạo cho Nhật Bản phát triển bền vững như ngày hôm nay Đó chính là kinh nghiệm quý cho Việt Nam trong thực hiện công tác BVMT hiện nay

1.2 Cơ hội (O)

Mặc cho pháp luật đã nghiêm cấm nhưng hành vi VPPL về MT vẫn có cơ hội diễn ra Cơ hội này diễn ra hay không trước hết phụ thuộc cơ chế giám sát thực thi pháp luật về MT

1.2.1 Giám sát của cơ quan quản lý nhà nước (Thanh tra chuyên ngành MT, Cảnh sát môi trường)

Thanh tra, kiểm tra là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, là công cụ quan trọng của quản lý nhà nước Việc tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra và xử lý

vi phạm được xem là giải pháp hàng đầu

Trong những năm qua công tác thanh tra, kiểm tra BVMT trên địa bàn tỉnh

Cà Mau đạt được những kết quả quan trọng Tuy nhiên, công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát và sự phối hợp giữa các ngành, các cấp trong tỉnh còn bị động, chưa thường xuyên, thiếu quyết liệt, hiệu quả thấp; hoạt động thanh tra, kiểm tra giữa lực lượng Cảnh sát môi trường và cơ quan quản lý môi trường các cấp trong tỉnh đối với DN còn chồng chéo, dẫn đến phiền hà cho DN; lực lượng, năng lực của cơ quan

7

http://tapchicongthuong.vn/quan-ly-moi-truong-o-nhat-ban-2015061110581803p33c403.htm

Trang 19

Thanh tra BVMT và Cảnh sát môi trường không đủ sức giám sát nên VPPL về MT vẫn diễn ra

Vì vậy, công tác thanh tra, kiểm tra cần phải quyết đoán, kiên định theo đúng quy định của pháp luật, nhưng cần phải mềm mỏng, khéo léo với các đối tượng thanh tra để tránh tình trạng hiểu lầm, gây ra những phản ứng không đáng có Do

đó, cần nâng cao trình độ, năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác thanh tra, kiểm tra

về BVMT, tăng cường chia sẻ, trao đổi thông tin với các đơn vị chức năng có liên quan, phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương để phục vụ tốt hơn công tác quản lý nhà nước về BVMT

1.2.2 Giám sát phi nhà nước

Giám sát việc thực thi pháp luật về môi trường không chỉ là trách nhiệm của các cấp chính quyền mà còn là quyền và nghĩa vụ của mọi công dân và toàn xã hội

Luật BVMT 2014 quy định: “Nhà nước cần tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân tham gia hoạt động BVMT; kiểm tra, giám sát việc thực hiện hoạt động BVMT theo quy định của pháp luật” (Điều 5) Đặc biệt, Điều 83 Luật BVMT

2014 đã xác lập quyền lập các tổ chức tự quản về BVMT của cộng đồng và người

dân, nêu rõ “Tổ chức tự quản về môi trường có nhiệm vụ tham gia giám sát việc thực hiện pháp luật về BVMT của cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trên địa

bàn”

Điều 144, 145, 146 Luật BVMT 2014 còn quy định, người dân có quyền được tiếp cận với mọi thông tin liên quan đến tình trạng vi phạm BVMT ở địa phương Quy định này là cơ sở pháp lý để người dân và tổ chức cộng đồng địa phương thực hiện các hoạt động kiểm tra, giám sát hiệu quả công tác BVMT

Với tư cách là những cộng đồng tự quản ở địa phương mà lực lượng đều là nhân dân, các tổ chức tự quản đóng một vai trò quan trọng trong việc phát hiện, tố giác những vi phạm về BVMT; đưa ra những đề xuất, kiến nghị cho việc xử lý và giải quyết các vấn đề liên quan đến MT Như vậy, vai trò của cộng đồng dân cư nói chung, tổ chức tự quản về MT nói riêng trong việc kiểm tra, giám sát là hết sức quan trọng

Mặc dù đảm trách nhiều vai trò trong hoạt động giám sát BVMT, song cơ chế giám sát việc thực thi pháp luật về BVMT của các tổ chức tự quản chưa được xác lập rõ ràng và thống nhất Hiện nay, cơ chế tham gia của các tổ chức tự quản chủ yếu là cơ chế gián tiếp, tức thông qua vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt

Trang 20

Nam Bên cạnh đó, sự tham gia của các các tổ chức tự quản vào các hoạt động giám sát BVMT vẫn ở mức độ khiêm tốn và chưa thực sự mang tầm ảnh hưởng rộng lớn

Trên địa bàn tỉnh Cà Mau, vấn đề giám sát việc thực hiện pháp luật về BVMT của các tổ chức cộng đồng tự quản địa phương chưa được các cấp, các ngành, nhất là cấp cơ sở quan tâm triển khai thực hiện Mặt trận Tổ quốc các cấp trong tỉnh chưa phát huy hết vai trò trong triển khai Luật BVMT nên chưa đi sâu triển khai việc giám sát BVMT của các tổ chức tự quản Trong khi đó, tỉnh Bình

Dương lại triển khai thực hiện có hiệu quả “Mô hình Tổ tự quản BVMT”, mô hình

này do Sở TN&MT phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Bình Dương phát động thực hiện từ năm 2008 Đến nay, mô hình đã triển khai rộng rãi đến nhiều khu phố, ấp trên toàn tỉnh và mang lại hiệu quả thiết thực trong giám sát các hành vi VPPL về BVMT8

Một trong những nguyên nhân cơ bản là do thiếu cơ chế tham gia, thiếu khuôn khổ pháp lý đồng bộ và một chế tài thực thi hiệu quả Đây là điểm yếu khiến các các tổ chức tự quản ở Việt Nam nói chung, Cà Mau nói riêng hoạt động trong lĩnh vực BVMT chưa thực sự hiệu quả, chưa mang lại những tác động tích cực

Từ những lập luận trên, có thể khẳng định do thiếu cơ chế giám sát nên thời gian qua, các DN ở Việt Nan nói chung, Cà Mau nói riêng có nhiều cơ hội VPPL về

MT mà không bị phát hiện

* Tại Nhật Bản, sự tham gia của cộng đồng và các tổ chức xã hội dân sự rất

tích cực, thể hiện qua việc "có hàng nghìn tổ chức phi chính phủ hoạt động trong lĩnh vực môi trường, hàng trăm tờ báo chuyên về môi trường, về xử lý chất thải và bảo tồn đa dạng sinh học"9 Khắp nọi nơi trên đất nước Nhật Bản, ở đâu cũng có các thông điệp về BVMT, tràn ngập các đường phố, trên các phương tiện thông tin đại chúng, đã tác động trực tiếp vào nhận thức của người dân Nhật Bản về tình yêu đối với MT và cuộc sống, vì các thế hệ mai sau

1.3 Năng lực (C)

Việc tuân thủ các tiêu chuẩn môi trường sẽ làm tăng chi phí của doanh nghiệp, ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của DN và sẽ làm tăng giá thành sản phẩm, tác động đến năng lực cạnh tranh của sản phẩm

Việc tuân thủ các tiêu chuẩn môi trường không chỉ phụ thuộc năng lực kinh

tế, mà còn phụ thuộc năng lực công nghệ của từng DN trực tiếp sản xuất và DN

8

http://www1.binhduong.gov.vn/chinhquyen/news_detail.php?id=15263&idcat=17&idcat2=287

9

http://tapchicongthuong.vn/quan-ly-moi-truong-o-nhat-ban-2015061110581803p33c403.htm

Trang 21

cung ứng nguyên liêu, năng lực chế biến, sử dụng các sản phẩm phụ của các DN trên cùng địa bàn

Đằng sau giá thành sản phẩm, sẽ liên quan năng lực kinh tế của người tiêu dùng, liệu họ đã sẵn sàng mua sắm những sản phẩm có tiêu chuẩn môi trường cao nhưng giá thành kèm theo cao tương ứng

Trên địa bàn tỉnh Cà Mau, qui mô các DN, chủ yếu là DN chế biến thủy sản xuất khẩu có qui mô tương đối lớn, các DN có nhiều bước đột phá về sản lượng thông qua việc đầu tư trang thiết bị, công nghệ sản xuất, chế biến hiện đại, ngang tầm với các nước trong khu vực, điển hình như Công ty cổ phần Tập đoàn thủy sản Minh Phú, là DN đứng thứ 23 trong số 100 doanh nghiệp thủy sản lớn nhất thế giới

và là cánh chim đầu đàn của thủy sản Việt Nam Nhiều DN phấn đấu thực hiện quản trị chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế khác như SA 8000 (quản trị trách nhiệm

xã hội), OHSAS 18001 (tiêu chuẩn cho hệ thống quản lý sức khỏe và an toàn); đẩy mạnh xây dựng thương hiệu, minh bạch hóa về chất lượng sản phẩm, tuân thủ nghiêm quy định về BVMT, an toàn vệ sinh thực phẩm trong quá trình nuôi, góp phần đưa ngành thủy sản Cà Mau thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh và Vùng đồng bằng sông Cửu Long

Tuy nhiên, hiện chỉ có trên 40% sản phẩm thủy sản xuất khẩu của DN, công

ty trong tỉnh đạt giá trị gia tăng, các DN còn lại chủ yếu xuất hàng thô, hàng sơ chế, điều đó cho thấy còn nhiều DN có trang thiết bị công nghệ còn lạc hậu, chưa quan tâm đầu tư đúng mức Cụ thể chỉ có khoảng 63.000 tấn sản phẩm thuỷ sản các loại xuất khẩu qua dây chuyền công nghệ hiện đại và mang về giá trị kinh tế cao, còn lại trên 92.000 tấn sản phẩm thuỷ sản trong tỉnh xuất đi trong tình trạng sản phẩm thô, mới qua sơ chế Vì vậy, năng lực cạnh tranh của một số DN Cà Mau đối với DN trong nước, các nước trong khu vực và trên thế giới còn hạn chế

* Tại Đài Loan, đã thành công trong việc sử dụng các quy định tiêu chuẩn môi trường để thúc đẩy đổi mới công nghệ thân thiện với môi trường Năm 1995, Đài Loan thành lập Trung tâm sản xuất sạch hơn quốc gia Trung tâm này đã ưu tiên phát triển các chỉ tiêu sản xuất sạch hơn như chỉ tiêu lượng rác thải tạo ra, số năng lượng tiêu thụ và chỉ tiêu độc hại Bên cạnh đó, Trung tâm sản xuất sạch hơn quốc gia cũng đưa ra một chương trình hợp tác chính thức với hiệp hội các DN Theo đó, các thành viên thuộc hiệp hội sẽ phải tuân thủ các quy định MT và áp dụng các quy tắc sản xuất sạch hơn trong quá trình sản xuất, với sự hỗ trợ về kỹ thuật từ Trung tâm

Trang 22

Một điểm đáng chú ý, Chính phủ Đài Loan đặc biệt quan tâm đến vấn đề thực thi chính sách pháp luật Chính phủ đã thành lập một lực lượng công an đặc biệt để đảm bảo thực thi các quy định về MT Lực lượng công an được Chính phủ đầu tư cả về nhân lực và tài chính để phát hiện và xử lý các vụ vi phạm trong lĩnh vực MT

Việc thực hiện nêu trên đã thúc đẩy các DN Đài Loan áp dụng các công nghệ mới, giảm thiểu ONMT và sử dụng năng lượng, nguyên liệu hiệu quả hơn

1.4 Truyền thông (nhận thức - C)

Thời gian gần đây, trên địa bàn tỉnh Cà Mau, các DN đã có những nỗ lực đáng kể trong việc triển khai các quy định của pháp luật về MT Họ tập trung vào việc triển khai công nghệ tiên tiến nhằm tiết kiệm nhiên liệu, thân thiện môi trường, phân loại rác thải, tái chế và sử dụng; áp dụng các giải pháp sản xuất sạch hơn… Đây là kết quả rất đáng trân trọng

Việc tuân thủ các quy định của pháp luật về MT của DN là điều kiện tiên quyết để thực hiện hoạt động đầu tư các dự án cụ thể, góp phần giảm chi phí trong hoạt động sản xuất kinh doanh Chẳng hạn, từ việc tuân thủ các quy định về quản lý chất thải, đặc biệt là nghĩa vụ giảm thiểu, phân loại tái chế, tái sử dụng chất thải, các

cơ sở kinh doanh có thể tiết kiệm được các chi phí đầu vào và thu được lợi ích kinh

tế từ chất thải có thể tái chế, tái sử dụng Việc giảm thiểu chất thải, tái chế chất thải

để tái sử dụng đồng nghĩa với việc nâng cao hiệu suất sử dụng nguyên nhiên vật liệu trong quá trình sản xuất, tiết kiệm chi phí sản xuất

Việc tuân thủ một cách nghiêm túc các quy định của pháp luật về MT của

DN trong hoạt động kinh doanh sẽ giúp chủ DN tránh được việc áp dụng các trách nhiệm pháp lý Các trách nhiệm pháp lý áp dụng đối với DN khi DN có hành vi

VPPL MT có thể làm ảnh hưởng tới kinh tế của các DN (tiền phạt, tiền bồi thường thiệt hại), ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của DN (tạm thời đình chỉ hoạt động, chấm dứt hoạt động) hoặc ảnh hưởng tới việc tiêu thụ sản phẩm do gặp phải sự phản ứng của người tiêu dùng (do bị tẩy chay hàng hóa khi có hành vi gây ONMT), ảnh hưởng tới uy tín, hình ảnh, thương hiệu của chủ thể kinh doanh

Tuy nhiên, nhiều DN trên địa bàn tỉnh Cà Mau vẫn chưa nhận thức đúng đắn

về công tác BVMT cũng như tuân thủ các quy định của pháp luật về BVMT nên tình trạng gây ô nhiễm MT và vi phạm các quy định của pháp luật về BVMT vẫn còn diễn ra phổ biến Ý thức của DN trong BVMT chưa tốt, trách nhiệm với xã hội, cộng đồng chưa cao, chỉ vì mục tiêu tiết kiệm chi phí, tăng lợi nhuận, tăng lợi ích

Trang 23

nên các DN tìm mọi cách, bất chấp sức khỏe và những lợi ích của cộng đồng bằng những hành vi khác nhau để VPPL về BVMT Ngoài ra, do sức cạnh tranh của một

số ít DN kém, họ tìm mọi cách cắt giảm chi phí sản xuất để giảm giá thành, kể cả việc vi phạm các quy định của pháp luật về BVMT

Về mặt quản lý xã hội, Nhà nước ta đã ban hành các thể chế và tiến hành kiểm tra, giám sát quá trình hoạt động của DN nhưng một số nhà lãnh đạo, quản lý Công ty, DN không nhận thức được vai trò của mình trong quá trình phát triển và điều đó đã làm hạn chế quá trình hợp tác BVMT Họ cho rằng, DN của họ không thể cạnh tranh về mặt tài chính với các DN khác, khi DN khác không tuân thủ theo tiêu chuẩn về BVMT Vì vậy, tình trạng không nộp phí BVMT xảy ra ở một số DN, trong khi đó, biện pháp XPHC chưa đủ sức răn đe, thấp hơn mức phí mà DN phải nộp nên nhiều DN chấp nhận nộp phạt thay vì nộp phí

Vì vậy, cần phải nâng cao nhận thức, năng lực tuân thủ pháp luật của DN góp phần bảo vệ MT xanh, sạch, đẹp

Trang 24

Công thức trên cho thấy, nếu một DN có hành vi vi phạm xả thải vượt tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật ra môi trường, giả sử bị cơ quan chức năng phát hiện và chế tài xử phạt doanh nghiệp nộp tiền phạt chỉ bằng hoặc ít hơn giá trị do hành vi

mà doanh nghiệp vi phạm thì quy định pháp luật đó sẽ vô hình trung khuyến khích

DN tiếp tục vi phạm

Một khía cạnh khác, nếu xác suất phát hiện, xử lý của cơ quan chức năng càng ít đi, lúc này lợi nhuận (C) gần như bằng chế tài (S), thì DN chỉ được hưởng lợi Tư duy này xem ra chưa ổn, bởi chế tài chưa đủ sức răn đe

Trên địa bàn tỉnh Cà Mau, VPPL về BVMT của các DN còn diễn biến phức tạp, một trong các nguyên nhân được các cơ quan quản lý nhà nước về BVMT xác định là do các DN chỉ quan tâm đến lợi nhuận mà chưa chú trọng đến công tác BVMT, chưa đầu tư hệ thống xử lý nước thải hoặc đầu tư nhưng không vận hành thường xuyên để bớt gánh nặng về kinh tế, tăng lợi nhuận nhưng đã làm hủy hoại môi trường sinh thái ngày càng nghiêm trọng

1.6 Quy trình (thủ tục - P)

Nhà nước ban hành luật BVMT cùng những quy định, thủ tục đi kèm để bảo

vệ, cải tạo môi trường nhằm tránh những tác động, hậu quả xấu có thể xảy ra, bảo

vệ cho cuộc sống, sức khỏe của chính chúng ta hiện tại và trong tương lai Đó là lý

do mà mỗi DN phải tuân thủ nghiêm các quy định về BVMT Vậy, một DN cần hoàn tất những thủ tục gì về MT?

1.6.1 Giai đoạn chuẩn bị dự án đầu tư, xây dựng

Tiến hành ĐTM đối với các dự án có quy mô tương ứng phụ lục II Nghị định 18/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 2 năm 2015 của Chính phủ về quy hoạch BVMT, đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ

môi trường (gọi tắt là Nghị định 18/2015/NĐ-CP), nhằm đánh giá những tác động

xấu mà dự án có thể gây ra cho môi trường khu vực và đưa ra những biện pháp giảm thiểu

Đối với dự án không thuộc phụ lục II Nghị định 18/2015/NĐ-CP, DN không tiến hành lập ĐTM mà lập Kế hoạch BVMT (Cam kết BVMT – CKMT)

ĐTM và CKMT là hồ sơ pháp lý ràng buộc trách nhiệm giữa DN với cơ quan quản lý môi trường, với cộng đồng Thông qua việc thực hiện các công việc như xác định, dự đoán, đánh giá và giảm thiểu các ảnh hưởng của việc phát triển dự

án tới các yếu tố sinh học, xã hội và các yếu tố liên quan khác trước khi đưa ra

Trang 25

quyết định và thực hiện những CKMT, đề xuất những giải pháp thích hợp về BVMT ĐTM và CKMT phải được lập đồng thời với dự án nghiên cứu khả thi của

dự án hoặc dự án đầu tư

Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ đăng ký kế hoạch BVMT, cơ quan tiếp nhận hồ sơ có trách nhiệm xem xét, xác nhận đăng ký

kế hoạch BVMT theo mẫu quy định tại Phụ lục 5.7 Thông tư số BTNMT ngày 29/5/2015 của Bộ TN&MT quy định về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường (gọi tắt là Thông

27/2015/TT-tư 27/2015/TT-BTNMT) Trường hợp chưa xác nhận phải có thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do theo mẫu quy định tại Phụ lục 5.8 Thông tư 27/2015/TT-BTNMT11

Sau khi nhận được hồ sơ đề nghị phê duyệt báo cáo ĐTM do chủ dự án gửi đến, cơ quan thẩm định có trách nhiệm: "Trong thời hạn hai mươi (20) ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị phê duyệt báo cáo ĐTM, thủ trưởng hoặc người đứng đầu cơ quan thẩm định ban hành quyết định phê duyệt báo cáo ĐTM theo mẫu quy định tại Phụ lục 2.7 Thông tư 27/2015/TT-BTNMT và xác nhận vào mặt sau trang phụ bìa của báo cáo ĐTM đã được phê duyệt theo mẫu quy định tại Phụ lục 2.8 Thông tư 27/2015/TT-BTNMT Trường hợp chưa đủ điều kiện phê duyệt hoặc không phê duyệt phải có văn bản nêu rõ lý do trong thời hạn mười (10) ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị phê duyệt báo cáo ĐTM"12

Vi phạm các quy định về BVMT trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch

vụ mà không có kế hoạch BVMT hoặc ĐTM được xác nhận theo quy định sẽ bị xử phạt hành chính theo quy định tại Điểm d Khoản 1, 2, 3, 4, 5 Điều 11, Nghị định 155/2016/NĐ-CP về quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực BVMT

1.6.2 Giai đoạn khi doanh nghiệp đã đi vào hoạt động, vận hành dự án

Sau khi đi vào hoạt động chính thức, các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ chưa tiến hành lập một trong hai loại hồ sơ trên (ĐTM và CKMT) thì phải tiến hành lập Đề án BVMT Nếu có hành vi vi phạm các quy định về thực hiện đề án BVMT

sẽ bị xử lý hành chính theo quy định tại Điều 10 Nghị định 155/2016/NĐ-CP của Chính phủ

Trang 26

1.6.3 Các hồ sơ môi trường khác

* Đăng ký chủ nguồn thải chất thải nguy hại đối với DN có phát sinh chất thải nguy hại theo Luật BVMT 55/2014/QH13, Thông Tư 36/2015/TT-BTNMT; QCVN 07:2009/BTNMT; Nghị định 38/2015/NĐ-CP ngày 24/04/2015 về quản lý chất thải và phế liệu (có hiệu lực từ ngày 15/06/2015)

Cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có hoạt động phát sinh chất thải nguy hại phải đăng ký chủ nguồn thải chất thải nguy hại với Sở TN&MT nơi có cơ sở phát sinh chất thải nguy hại

Những cơ sở phát sinh chất thải nguy hại thường xuyên hay định kỳ hàng năm với số lượng không quá 600kg/năm không phải thực hiện thủ tục lập hồ sơ đăng ký để được cấp Sổ đăng ký chủ nguồn thải chất thải nguy hại mà chỉ đăng ký bằng báo cáo quản lý chất thải nguy hại định kỳ13

Chủ nguồn thải chất thải nguy hại lập báo cáo quản lý chất thải nguy hại lần đầu theo quy định tại Phụ lục 4 (A) ban hành kèm theo Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT của Bộ TN&MT và nộp trực tiếp hoặc gửi qua bưu điện đến Sở TN&MT14

Những cơ sở có phát sinh chất thải nguy hại với số lượng lớn hơn 600kg/năm đều phải lập hồ sơ đăng ký chủ nguồn thải chất thải nguy hại Chủ nguồn thải chất thải nguy hại, phải lập báo cáo quản lý chất thải nguy hại định kỳ hàng năm gửi Sở TN&MT trước ngày 31/01 của năm tiếp theo Trong thời hạn 15 ngày làm việc kể

từ ngày nhận được hồ sơ đầy đủ, hợp lệ, Sở TN&MT xem xét và cấp Sổ đăng ký chủ nguồn thải chất thải nguy hại (có trường hợp là 30 ngày làm việc, nếu có tiến hành kiểm tra)15

Các hành vi vi phạm các quy định về BVMT đối với chủ nguồn thải chất thải nguy hại sẽ bị xử phạt VPHC theo quy đinh tại Điều 21 Nghị định số 155/2016/NĐ-

CP của Chính phủ về quy định XPHC trong lĩnh vực BVMT

* Báo cáo giám sát môi trường định kỳ

Báo cáo giám sát môi trường (BCGSMT) định kỳ là hình thức đánh giá chất lượng môi trường ngắn hạn tại cơ sở và báo cáo định kỳ về cơ quan thẩm quyền Tần suất Báo cáo giám sát môi trường xung quanh tối thiểu 6 tháng/lần, giám sát chất thải tối thiểu 3 tháng/lần Tùy theo cơ quan chức năng của mỗi địa phương quy

13

Khoản 1, khoản 3 Điều 12 Thông tư số 36 /2015/TT – BTNMT ngày 30/6/2015 của BTNMT về quản lý CTNH

14 Điểm a, Khoản 4, Điều 14 Thông tư số 36 /2015/TT – BTNMT ngày 30/6/2015 của BTNMT về quản lý CTNH

15

Điểm a, Khoản 6 và Khoản 2, 3 Điều 7 Thông tư số 36 /2015/TT – BTNMT ngày 30/6/2015 của BTNMT về quản lý CTNH

Trang 27

định mà thời gian và tần suất nộp Báo cáo giám sát MT khác nhau, có thể 2 lần/năm hoặc 1 lần/năm

Đánh giá chất lượng MT là đánh giá một cách tổng quan trên nhiều nguồn phát sinh chất thải như: Nước thải, khí thải, chất thải rắn (bao gồm: chất thải rắn sinh hoạt, công nghiệp và nguy hại)

Hình thức đánh giá bằng cách đo đạc mẫu khí thải, nước thải, tính toán lượng chất thải rắn phát sinh và tra cứu mức độ ô nhiễm theo quy định của nhà nước

Tất cả các DN sản xuất, thương mại dịch vụ, khu công nghiệp, nhà máy, nhà xưởng, bệnh viện có xả thải đều phải lập Báo cáo giám sát MT

Trong trường hợp các DN phải lập Báo cáo giám sát MT định kỳ mà không làm sẽ bị xử phạt hành chính theo quy định tại Nghị định số 155/2016/NĐ-CP của Chính phủ

* Đăng ký giấy phép xả nước thải vào nguồn nước

Mọi tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài có các hoạt động xả nước thải vào nguồn nước với lưu lượng 10m3/ ngày đêm phải xin giấy phép xả nước thải vào nguồn nước Giấy phép xả nước thải vào nguồn nước có thời hạn tối đa là 10 năm, tối thiểu là 03 năm và được xem xét gia hạn nhiều lần, mỗi lần gia hạn tối thiểu là 02 năm, tối đa là 05 năm

Trường hợp tổ chức, cá nhân đề nghị cấp hoặc gia hạn giấy phép với thời hạn ngắn hơn thời hạn tối thiểu quy định tại Khoản này thì giấy phép được cấp hoặc gia hạn theo thời hạn đề nghị trong đơn

Bộ TN&MT cấp giấy phép đối với các trường hợp xả nước thải với lưu lượng từ 3.000m3/ngày đêm trở lên Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cấp giấy phép đối với các trường hợp không quy định tại Khoản 1 Điều 28 Nghị định số 201/2013/NĐ-CP ngày 27/11/2013 của Chính phủ quy đinh chi tiết thi hành một số điều của Luật Tài nguyên nước năm 2012

Nếu các cơ sở thuộc đối tượng phải xin giấy phép xả thải mà không thực hiện sẽ bị xử phạt hành chính theo quy định tại Điều 13 Nghị định số 142/2013/NĐ-

CP ngày 24/10/2013 của Chính phủ quy định về xử phạt VPHC trong lĩnh vực tài nguyên nước và khoáng sản

Với những quy định nêu trên, có thể thấy rằng, các quy định về BVMT đối với DN là khá chặt chẽ Tuy nhiên, các thủ tục hồ sơ pháp lý, hồ sơ MT của DN khá phức tạp, quy định của pháp luật về MT hiện nay còn quá chú trọng hình thức thủ

Trang 28

tục, điều này gây khó khăn cho DN trong quá trình thực hiện nhưng lại dễ phát sinh tiêu cực của cơ quan nhà nước trong thực thi công vụ

1.7 Ý thức hệ, quan niệm, tư tưởng (I- Ideology)

Ý thức về BVMT vẫn chưa thành thói quen, nếp sống của người Việt Nam nói chung, người dân Cà Mau nói riêng; các thói quen xấu gây ô nhiễm MT, làm ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng, như vứt rác, chất thải, xác súc vật bừa bãi ở nơi công cộng, nguồn nước, chưa được loại bỏ, thậm chí một số nơi còn phổ biến Ý thức trách nhiệm về BVMT của lãnh đạo một số nhà máy, xí nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh còn thấp, chưa chủ động, tự giác thực hiện, phần lớn vẫn chạy theo lợi

nhuận, coi nhẹ BVMT

Nói chung, chúng ta chưa coi trọng việc BVMT, chưa xem hành vi VPPL về

MT là hành vi vi phạm đạo đức, như là một loại tội phạm khác Do đó, những thói quen xấu gây ô nhiễm MT vẫn còn tồn tại trong cuộc sống hàng ngày Vì vậy, việc giáo dục mọi người dân nâng cao ý thức BVMT là một trong những nhiệm vụ cấp bách hàng đầu Phải xây dựng văn hóa ứng xử thân thiện với MT trên cơ sở đổi mới

tư duy, cách làm, hành vi ứng xử, ý thức trách nhiệm với thiên nhiên, MT trong xã hội và của mỗi người dân

Tóm lại, trong chương này, luận văn đã khái quát được các quy phạm pháp

luật về MT; qua đó thấy rằng một số vấn đề còn nhiều bất cập như: Cơ chế giám sát chưa hiệu quả; công tác thanh tra, kiểm tra của cơ quan chức năng chưa thường xuyên; năng lực thực thi của DN còn kém; lợi ích, lợi nhuận lớn hơn so với mức phạt vi phạm; các quy định hành chính nhiêu khê; ý thức BVMT của người dân chưa tốt

Trên cơ sở phân tích ROCCIPI VPPL về MT của DN nêu trên, trong chương

2, chương 3, luận văn sẽ tập trung phân tích sâu 02 vấn đề (Phân tích ROCCIPI cấp

độ 2): VPPL về MT diễn ra là do công tác thanh tra, kiểm tra chưa thường xuyên và

lợi ích, lợi nhuận của DN lớn hơn nhiều so với mức phạt vi phạm theo quy định của pháp luật

Trang 29

Chương 2: Quy trình phát hiện, xử lý vi phạm pháp luật về MT đối với doanh nghiệp theo quy định của pháp luật Việt Nam

2.1 Phát hiện, xử lý VPPL về MT của DN theo quy định hành chính

2.1.1 Quy định của pháp luật

Để phát hiện, xử lý VPPL về MT của DN theo quy định hành chính phải thông qua công tác thanh tra, kiểm tra chuyên ngành của Thanh tra môi trường và công tác kiểm tra của lực lượng Cảnh sát môi trường, cụ thể được tiến hành dưới hình thức thanh tra, kiểm tra theo kế hoạch và đột xuất

2.1.1.1 Quy trình thanh, kiểm tra theo kế hoạch

Thanh tra, kiểm tra theo kế hoạch là hình thức được tiến hành theo kế hoạch

đã được xây dựng và phê duyệt Đây là hoạt động phục vụ cho yêu cầu công tác quản lý nhà nước về MT Lực lượng tiến hành thanh, kiểm tra theo kế hoạch gồm Thanh tra môi trường chủ trì, Cảnh sát môi trường và các lực lượng khác phối hợp theo kế hoạch được phê duyệt Các giai đoạn tiến hành một cuộc thanh, kiểm tra theo kế hoạch được thực hiện như sau:

Căn cứ pháp lý xây dựng kế hoạch thanh tra: Căn cứ Luật Thanh tra 2010; Thông tư số 01/2014/TT-TTCP ngày 23/4/2014 của Thanh tra Chính phủ quy định việc xây dựng, phê duyệt định hướng chương trình thanh tra, kế hoạch thanh tra; Công văn của Tổng Thanh tra Chính phủ, về việc hướng dẫn xây dựng kế hoạch thanh tra hàng năm, Thanh tra ngành TN&MT xây dựng kế hoạch thanh tra bao gồm các lĩnh vực (có lĩnh vực MT) thanh tra, kiểm tra hàng năm trình Bộ, Giám đốc

Sở TN&MT phê duyệt, kế hoạch cụ thể hóa mục đích, yêu cầu, nội dung cuộc thanh tra, kiểm tra; xác định rõ đối tượng, thời hạn, phạm vi, thời gian thanh tra; lực lượng tiến hành và phương pháp tiến hành; yêu cầu về kinh phí, phương tiện vật chất cho cuộc thanh tra chuyên ngành

Căn cứ Quyết định phê duyệt kế hoạch thanh tra hằng năm, Chánh Thanh tra

tổ chức thực hiện kế hoạch thanh tra, quyết định thành lập đoàn thanh tra hoặc phân công thanh tra viên chuyên ngành thực hiện nhiệm vụ thanh tra Trưởng đoàn thanh tra chịu trách nhiệm lập kế hoạch thanh tra chi tiết, xây dựng đề cương trình người

có thẩm quyền phê duyệt

Quyết định thanh tra phải gửi cho đối tượng thanh tra chậm nhất 03 ngày làm việc và được công bố chậm nhất 15 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định

Trang 30

Tiến hành cuộc thanh tra không quá 30 ngày làm việc, kể từ ngày công bố quyết định thanh tra đến khi kết thúc cuộc thanh tra; người ra quyết định thanh tra

có thể gia hạn một lần, không vượt quá 45 ngày

Trong quá trình thanh tra, Trưởng đoàn thanh tra hoặc Thanh tra viên khi tiến hành thanh tra độc lập, có quyền lập biên bản vi phạm của đối tượng thanh

tra và ra quyết định xử phạt VPHC theo quy định của pháp luật xử phạt VPHC

Trường hợp Thanh tra viên chuyên ngành khi tiến hành thanh tra độc lập phát hiện hành vi VPPL vượt quá thẩm quyền xử lý của mình thì báo cáo Chánh Thanh tra quyết định

Chậm nhất 15 ngày làm việc, kể từ ngày kết thúc cuộc thanh tra, Trưởng đoàn thanh tra phải có báo cáo kết quả thanh tra cho người ra quyết định thanh tra

Chậm nhất 15 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được báo cáo kết quả thanh tra, người ra quyết định thanh tra phải ban hành Kết luận thanh tra

Trong quá trình ra kết luận thanh tra, người ra quyết định thanh tra có quyền yêu cầu Trưởng Đoàn thanh tra, thành viên Đoàn thanh tra báo cáo, yêu cầu đối tượng thanh tra giải trình để làm rõ những vấn đề cần thiết phục vụ cho việc ban hành Kết luận thanh tra

Kết luận thanh tra có thể gửi cho đối tượng thanh tra hoặc được công bố Kết luận thanh tra được gửi tới Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp và đối tượng thanh tra Trường hợp Bộ trưởng Bộ TN&MT, Giám đốc Sở TN&MT ra quyết định thanh tra thì Kết luận thanh tra còn được gửi cho Tổng Thanh tra Chính phủ, Chánh Thanh tra tỉnh Nếu công bố thì người ra quyết định thanh tra có trách nhiệm công bố hoặc có thể uỷ quyền cho Trưởng Đoàn thanh tra công bố kết luận thanh tra Việc công bố kết luận phải được lập thành biên bản

Tổng kết hoạt động của Đoàn thanh, kiểm tra: Sau khi có kết luận thanh tra,

Trưởng đoàn có trách nhiệm tổ chức họp Đoàn thanh tra để tổng kết, rút kinh nghiệm Nội dung tổng kết nêu rõ: Đánh giá kết quả thực hiện so với mục đích, yêu cầu của cuộc thanh tra; Đánh giá kết quả thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao; Những bài học kinh nghiệm rút ra qua cuộc thanh tra; Những kiến nghị, đề xuất của Đoàn thanh tra (nếu có)

Lập hồ sơ kiểm tra: Khi công tác thanh tra kết thúc phải tiến hành xây dựng

và lưu trữ hồ sơ thanh tra theo đúng quy định Hồ sơ công tác thanh tra là tập hợp các tài liệu có liên quan về một cuộc thanh tra, bao gồm những tài liệu cơ bản như: Quyết định thanh tra; Biên bản thanh tra (do đoàn thanh tra lập); Báo cáo giải trình

Trang 31

của đối tượng bị thanh tra; Báo cáo kết quả thanh tra; Kết luận thanh tra; Các văn bản về việc xử lý hoặc kiến nghị xử lý

2.1.1.2 Quy trình thanh, kiểm tra đột xuất:

Lực lượng tiến hành ở đây chỉ nghiên cứu giới hạn gồm: Thanh tra Sở TN&MT tiến hành thanh, kiểm tra đột xuất; Cảnh sát môi trường tiến hành kiểm tra đột xuất theo quy định của pháp luật Các giai đoạn tiến hành một cuộc thanh tra, kiểm tra đột xuất được thực hiện như sau:

- Giai đoạn chuẩn bị

Xác định căn cứ ra quyết định thanh, kiểm tra đột xuất: Thanh tra Sở

TN&MT thực hiện thanh, kiểm tra đột xuất khi phát hiện có dấu hiệu VPPL hoặc theo yêu cầu của việc giải quyết khiếu nại, tố cáo hoặc phòng, chống tham nhũng hoặc theo yêu cầu của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chánh Thanh tra

bộ, Giám đốc sở, Chánh Thanh tra sở TN&MT hoặc Cảnh sát môi trường thực hiện kiểm tra đột xuất khi trực tiếp phát hiện có dấu hiệu tội phạm, VPHC về MT hoặc tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, VPHC về MT hoặc yêu cầu của việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm và VPHC về

MT cần tiến hành xác minh để xác định chính xác thông tin đó Tùy theo nguồn tin

sẽ có phương pháp xác minh phù hợp

Ra quyết định thanh, kiểm tra đột xuất: Căn cứ vào kết quả xác minh thông

tin làm căn cứ ra quyết định kiểm tra và tình hình liên quan đến đối tượng định kiểm tra, lãnh đạo đơn vị đề xuất người có thẩm quyền ra quyết định kiểm tra

Quyết định kiểm tra gồm các nội dung sau: Căn cứ kiểm tra; phạm vi, đối tượng, nội dung, nhiệm vụ, phương pháp kiểm tra; thời hạn kiểm tra; thành phần đoàn kiểm tra; quyền và trách nhiệm của người thực hiện nhiệm vụ kiểm tra; quyền

và nghĩa vụ của của đối tượng được kiểm tra; họ, tên, chức vụ, chữ ký của người ra quyết định và đóng dấu của cơ quan người ra quyết định kiểm tra theo thẩm quyền

Thẩm quyền ra quyết định thanh, kiểm tra: Đối với ngành TN&MT gồm:

“Chánh Thanh tra bộ, Chánh Thanh tra sở ra quyết định thanh tra đột xuất, thành lập Đoàn thanh tra và gửi quyết định thanh tra đột xuất để báo cáo Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Giám đốc sở TN&MT Trường hợp người ra quyết định thanh tra là Tổng cục trưởng, Cục trưởng thuộc Bộ, Chi cục trưởng thuộc Sở thì quyết định thanh tra đột xuất được gửi để báo cáo Chánh Thanh tra bộ, Chánh Thanh tra sở TN&MT Đối với vụ việc phức tạp, liên quan đến trách nhiệm quản lý

Trang 32

của nhiều cơ quan, đơn vị, nhiều cấp, nhiều ngành thì Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước ra quyết định thanh tra đột xuất và thành lập Đoàn thanh tra"

Đối với lực lượng CAND, gồm: Cục trưởng Cục Cảnh môi trường; Giám đốc Công an cấp tỉnh; Trưởng Công an cấp huyện Trường hợp người có thẩm quyền vắng mặt có thể uỷ quyền cho cấp phó của mình ra quyết định kiểm tra đột xuất

Xây dựng và phê duyệt kế hoạch: Trưởng đoàn thanh, kiểm tra có trách

nhiệm chủ trì xây dựng dự thảo kế hoạch tiến hành kiểm tra và báo cáo người ra quyết định thanh, kiểm tra phê duyệt kế hoạch

Phổ biến kế hoạch: Trưởng đoàn kiểm tra tổ chức họp đoàn để phổ biến kế

hoạch, phân công nhiệm vụ cho các thành viên; Thảo luận về phương pháp, cách thức tổ chức tiến hành kiểm tra, sự phối hợp giữa các thành viên trong đoàn

- Giai đoạn tiến hành thanh, kiểm tra

Công bố quyết định thanh, kiểm tra: Trưởng đoàn chủ trì buổi công bố

quyết định thanh, kiểm tra, đọc toàn văn quyết định Trưởng đoàn phân công thành viên trong Đoàn ghi biên bản về việc công bố quyết định thanh, kiểm tra và diễn biến cuộc thanh, kiểm tra

Thu thập thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung thanh, kiểm tra: Trưởng

đoàn thanh, kiểm tra yêu cầu đối tượng kiểm tra cung cấp hồ sơ, tài liệu có liên quan đến nội dung thanh, kiểm tra Trong quá trình kiểm tra, nếu xét thấy cần thiết, Trưởng đoàn hoặc thành viên trong Đoàn tiếp tục yêu cầu đối tượng bị thanh, kiểm tra cung cấp thông tin, tài liệu có liên quan đến nội dung thanh, kiểm tra

Kiểm tra, xác minh thông tin, tài liệu: Trên cơ sở các thông tin, tài liệu đã

thu thập được, Đoàn thanh, kiểm tra có trách nhiệm nghiên cứu, phân tích, đối chiếu, so sánh, đánh giá; yêu cầu đối tượng bị thanh, kiểm tra giải trình về những vấn đề liên quan đến nội dung kiểm tra; tiến hành kiểm tra, xác minh thực tế và chịu trách nhiệm về tính chính xác, khách quan của những thông tin, tài liệu đã kiểm tra, xác minh

Trường hợp cần kiểm tra, xác minh thông tin, tài liệu tại tổ chức, cá nhân không phải là đối tượng kiểm tra thì thành viên đoàn kiểm tra phải đề xuất xin ý kiến Trưởng đoàn thanh, kiểm tra và phải được sự đồng ý của Trưởng đoàn

Trong khi tiến hành thanh, kiểm tra, nếu phát hiện có sai phạm thì phải tiến hành lập biên bản để xác định rõ nội dung, tính chất, mức độ của hành vi vi phạm, nguyên nhân dẫn đến vi phạm

Trang 33

Khi phát hiện vụ việc có dấu hiệu VPPL đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự, Trưởng đoàn thanh, kiểm tra có trách nhiệm báo cáo với người ra quyết định thanh, kiểm tra xem xét, chuyển giao (nếu là Thanh tra TN&MT) hoặc quyết định tiến hành các thủ tục TTHS

Gia hạn thời gian: Trong trường hợp cần thiết Trưởng đoàn thanh, kiểm tra

có văn bản đề nghị người ra quyết định thanh, kiểm tra gia hạn thời gian kiểm tra Văn bản đề nghị phải nêu rõ lý do, thời gian gia hạn Căn cứ đề nghị của Trưởng đoàn thanh, kiểm tra, người có thẩm quyền ra quyết định thanh, kiểm tra xem xét, quyết định gia hạn thời gian kiểm tra phù hợp với quy định của pháp luật Quyết định gia hạn thời gian thanh, kiểm tra được gửi cho Đoàn kiểm tra, đối tượng kiểm tra và các tổ chức, cá nhân có liên quan (thực tế thì không có)

- Giai đoạn kết thúc

Đây là giai đoạn xác định rõ những vấn đề trong nội dung kiểm tra, đưa ra kết luận kiểm tra, đồng thời tiến hành các vấn đề về tổ chức, hành chính, hình sự mà kết luận kiểm tra đặt ra

Xây dựng báo cáo kết quả kiểm tra: Trưởng đoàn thanh, kiểm tra có trách

nhiệm chủ trì xây dựng báo cáo kết quả thanh, kiểm tra Trong quá trình xây dựng báo cáo, trường hợp cần thiết, Trưởng đoàn kiểm tra tham khảo ý kiến của các tổ chức, cá nhân có liên quan để đảm bảo cho việc kết luận, kiến nghị xử lý được chính xác, khách quan

Chậm nhất là 05 ngày, kể từ ngày hết thời hạn thanh, kiểm tra, đoàn phải có văn bản báo cáo kết luận về những nội dung đã thanh, kiểm tra Khi xây dựng báo cáo cần đảm bảo các nội dung cơ bản như sau:

+ Kết luận cụ thể về từng nội dung đã tiến hành kiểm tra

+ Xác định rõ tính chất, mức độ vi phạm, nguyên nhân trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm (nếu có)

+ Ý kiến của các thành viên trong đoàn đối với báo cáo kết quả công tác kiểm tra (nếu có)

+ Các biện pháp xử lý theo thẩm quyền đã được áp dụng, kiến nghị các biện pháp xử lý

Đánh giá kết quả của Đoàn thanh, kiểm tra: Khi xây dựng báo cáo kết quả

kiểm tra hoặc trong trường hợp đề xuất chuyển vụ việc sang cơ quan điều tra, Trưởng đoàn phải tổ chức để các thành viên trong Đoàn tham gia đánh giá kết quả

đối với từng nội dung kết luận, kiến nghị, đề xuất

Trang 34

Xem xét báo cáo kết quả thanh, kiểm tra: Người ra quyết định thanh, kiểm

tra trực tiếp nghiên cứu hoặc giao cho cơ quan, đơn vị chuyên môn giúp việc nghiên cứu, xem xét các nội dung trong báo cáo.Trường hợp cần phải làm rõ hoặc cần phải

bổ sung thêm nội dung trong báo cáo, người ra quyết định thanh, kiểm tra tổ chức họp để nghe Đoàn thanh, kiểm tra báo cáo trực tiếp hoặc có ý kiến chỉ đạo bằng văn bản yêu cầu Trưởng đoàn và các thành viên trong Đoàn báo cáo cụ thể

Ký và công bố kết luận thanh, kiểm tra: Chậm nhất là 15 ngày, kể từ ngày

nhận được báo cáo kết quả kiểm tra, người ra quyết định thanh, kiểm tra phải ra văn bản kết luận Văn bản kết luận thanh, kiểm tra phải được gửi cho cơ quan, tổ chức, cá nhân theo quy định của Luật Thanh tra, Pháp lệnh Cảnh sát môi trường và các nghị định có liên quan để theo dõi

Tổng kết hoạt động của Đoàn thanh, kiểm tra và lập hồ sơ thanh, kiểm tra

giống như thanh tra theo kế hoạch

2.1.2 Thực tiễn tại Cà Mau

2.1.2.1 Đối với lực lượng Thanh tra chuyên ngành môi trường tỉnh

Căn cứ Luật Thanh tra 2010 và các quy định của pháp luật có liên quan16, hàng năm, Thanh tra Sở TN&MT xây dựng kế hoạch thanh tra (kèm danh mục thanh tra, kiểm tra), bao gồm các lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực môi trường, kế hoạch nêu đối tượng, nội dung, thời hạn, phạm vi, thời gian thanh tra và đơn vị phối

hợp (chủ yếu là UBND các huyện, thành phố Cà Mau; Cảnh sát môi trường; Chi cục Bảo vệ môi trường), trình Giám đốc Sở TN&MT tỉnh Cà Mau phê duyệt

Trên cơ sở Quyết định phê duyệt của Giám đốc Sở TN&MT tỉnh Cà Mau, Thanh tra sở tiến hành tổ chức thực hiện theo kế hoạch Căn cứ đối tượng, thời gian theo danh mục đã được phê duyệt, Chánh Thanh tra sở ban hành quyết định thanh tra, kiểm tra Mời các đối tượng được thanh tra theo danh mục đã được duyệt để công bố quyết định và đề nghị báo cáo theo đề cương do Đoàn thanh tra yêu cầu Quy định thời hạn gửi báo cáo cho Đoàn thanh tra và Đoàn Thanh tra sẽ thanh tra, kiểm tra thực tế Trình tự, thủ tục tiếp theo thực hiện như mục 2.1.1 nêu trên

2.1.2.2 Đối với lực lượng Cảnh sát môi trường Công an trong tỉnh

Căn cứ Pháp lệnh Cảnh sát môi trường năm 2014 và Nghị định số 105/2015/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp

Trang 35

lệnh Cảnh sát môi trường, lực lượng Cảnh sát môi trường Công an tỉnh Cà Mau cử lực lượng tham gia các Đoàn thanh tra, kiểm tra liên ngành do Thanh tra ngành tài nguyên môi trường địa phương chủ trì theo định kỳ và tổ chức thực hiện hoạt động

kiểm tra đột xuất theo quy định của Pháp lệnh Cảnh sát môi trường (Lực lượng Cảnh sát môi trường Cà Mau không thực hiện kiểm tra theo chương trình, kế hoạch)

Quy trình cuộc kiểm tra đột xuất do lực lượng Cảnh sát môi trường Cà Mau thực hiện trong thời gian qua như sau:

Hàng tuần, tháng, quý, cán bộ trinh sát địa bàn phải xây dựng kế hoạch thực hiện các mặt công tác được phân công đối với địa bàn, đối tượng được giao phụ trách Khi trực tiếp phát hiện có dấu hiệu VPHC hoặc khi có tố giác, tin báo VPHC

về BVMT của DN thì cán bộ trinh sát chủ động xây dựng báo cáo đề xuất lãnh đạo đơn vị xin ý kiến ra quyết định kiểm tra Nếu thuộc thẩm quyền thì Trưởng phòng, Trưởng Công an thành phố ra quyết định kiểm tra; nếu vượt thẩm quyền thì đề xuất Giám đốc Công an tỉnh ra quyết định kiểm tra

Sau đó, đoàn kiểm tra tiến hành công bố quyết định kiểm tra và lập biên bản triển khai quyết đinh; đồng thời tiến hành kiểm tra thực tế theo quyết định và kế hoạch

Lực lượng kiểm tra tiến hành thu giữ mẫu vật, tài liệu, vật chứng liên quan đến VPHC và lập biên bản VPHC theo quy định của pháp luật về xử lý VPHC

Gửi mẫu vật thu thập được cho cơ quan, tổ chức có thẩm quyền để kiểm định, giám định

Căn cứ thông báo kết quả giám định và các quy định của pháp luật, cụ thể là Nghị định số 155/2016/NĐ-CP của Chính phủ để làm căn cứ ra quyết định xử phạt hoặc đề xuất cấp có thẩm quyền XPHC theo quy định của pháp luật

ánh của báo chí, người dân “Theo số liệu thống kê, từ năm 2011 đến 2015, Bộ TN&MT đã chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương tiến hành thanh tra, kiểm tra 3.440 cơ sở và khu công nghiệp, cụm công nghiệp, trong đó phát hiện và

Trang 36

xử phạt 2.170 tổ chức vi phạm, với số tiền phạt lên tới 277 tỷ đồng Các sai phạm, chủ yếu như: Không có báo cáo ĐTM hoặc bản cam kết BVMT; không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ các nội dung báo cáo ĐTM được phê duyệt và cam kết BVMT; vi phạm về quản lý chất thải nguy hại; xả thải vượt tiêu chuẩn cho phép ra ngoài môi trường; thực hiện không đầy đủ chế độ báo cáo; vi phạm các quy định về BVMT thuộc danh mục các cơ sở gây ô nhiễm MT nghiêm trọng như thực hiện không đúng nội dung yêu cầu, tiến độ xử lý ô nhiễm MT”17

Trên địa bàn tỉnh Cà Mau, công tác thanh tra, kiểm tra luôn được lực lượng thanh tra TN&MT, lực lượng Cảnh sát môi trường trong tỉnh quan tâm, xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của công tác quản lý nhà nước về MT tại địa phương Công tác phối hợp thanh tra, kiểm tra liên ngành cũng được Thanh tra Sở TN&MT, lực lượng Cảnh sát môi trường tỉnh Cà Mau thực hiện theo định kỳ Thông qua hoạt động thanh, kiểm tra đã phát hiện những bất cập, vướng mắc của

DN trong quá trình thực thi các quy định của pháp luật về BVMT; kịp thời phát hiện VPPL về MT của DN để có biện pháp chấn chỉnh, nhắc nhở và xử lý vi phạm, góp phần nâng cao nhận thức của DN trong vấn đề BVMT

Theo thống kê, từ năm 2011 đến 2016, lực lượng Thanh tra Tài nguyên và Môi trường các cấp đã triển khai thực hiện có hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra đối với các DN trên địa bàn tỉnh Đã tiến hành 32 cuộc thanh tra, kiểm tra, (có 14 cuộc kiểm tra đột xuất, chiếm 46,6%), phát hiện 332 trường hợp vi phạm, XPHC 90 trường hợp vi phạm, số tiền trên 7.560 triệu

Thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao theo quy định của pháp luật, từ năm 2011 – 2016, lực lượng Cảnh sát môi trường Công an trong tỉnh đã tiến hành

100 cuộc kiểm tra đột xuất, phát hiện 100 trường hợp vi phạm, XPHC 18 trường hợp vi phạm, số tiền trên 1,1 tỷ đồng

Qua rà soát, có khoảng 40% nguồn tin tiếp nhận từ phản ánh của người dân qua “đường dây nóng” và qua báo, đài; 60% còn lại là do lực lượng Thanh tra chuyên ngành thực hiện thanh tra, kiểm tra và lực lượng Cảnh sát môi trường sử dụng các biện pháp nghiệp vụ trực tiếp phát hiện VPHC về MT thực hiện kiểm tra đột xuất

17

http://www.nhandan.com.vn/khoahoc/item/30037702-doi-moi-thanh-tra-kiem-tra-moi-truong.html

Trang 37

2.1.3 Những bất cập và giải pháp

2.1.3.1 Những bất cập

Không thể phủ nhận những đóng góp tích cực của hoạt động thanh tra, kiểm tra trong việc phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm về MT Tuy nhiên, công tác thanh tra, kiểm tra về MT trên địa bàn tỉnh Cà Mau còn nhiều hạn chế, bất cập:

Thứ nhất, một số trường hợp ngay từ khâu xây dựng kế hoạch thanh tra,

kiểm tra về MT chưa xác định đúng đối tượng, nội dung thanh tra, kiểm tra, chưa tập trung vào các vấn đề bức xúc xã hội Do đó, kết quả thanh tra chưa giải quyết được vấn đề bức xúc để nâng cao hiệu lực, hiệu quả, đảm bảo pháp luật được thực thi và phát hiện những sơ hở, bất cập của cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoàn thiện

Thứ hai, mặc dù, thẩm quyền kiểm tra được quy định cho tất cả các cơ quan

quản lý nhà nước, tuy nhiên, hiện chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể về trình tự, thủ tục, thời hạn kiểm tra dẫn đến tình trạng thiếu thống nhất, chồng chéo trong hoạt động kiểm tra giữa Thanh tra TN&MT các cấp với nhau và với Cảnh sát môi trường

Thứ ba, lực lượng thanh tra chuyên ngành môi trường, Cảnh sát môi trường

địa phương còn thiếu, trình độ hạn chế18 Một số ít cán bộ thanh tra chuyên ngành

MT trong quá trình thực hiện nhiệm vụ còn biểu hiện tiêu cực, “hù dọa” để DN

“biết điều”19

Thứ tư, các vi phạm về BVMT ngày càng tinh vi, khó phát hiện, hệ thống xả

thải, quy trình xả thải rất phức tạp nên các DN che giấu hành vi xả thải rất tinh vi, hoặc lợi dụng các điều kiện tự nhiên, sự cố môi trường nhăm trốn tránh trách nhiệm; việc tiếp cận các vi phạm xả thải gặp nhiều khó khăn (đường ống xả ngầm dưới đất, dưới lòng sông) Trong khi đó, hoạt động thanh tra chuyên ngành còn bị ràng buộc bởi nhiều thủ tục hành chính theo quy định của Luật Thanh tra 2010 như:

Trước khi tiến hành hoạt động thanh tra, kiểm tra phải có quyết định thanh, kiểm tra; phải thông báo trước cho cơ sở bị thanh tra, kiểm tra; chỉ làm việc trong giờ hành chính Điều này làm hạn chế hiệu quả của hoạt động thanh tra trong lĩnh vực

18 Sở TN&MT tỉnh có từ 5 - 6 công chức/thanh tra viên cho 6 hoặc 7 lĩnh vực chuyên ngành; Cảnh sát môi trường tỉnh cũng chỉ có trên 18 người phụ trách phòng, chống tội phạm về MT trên các lĩnh vực công nghiệp, xây dựng, đô thị, tài nguyên , trong khi đó số lượng đối tượng thanh tra, kiểm tra rất lớn

19

http://www.baomoi.com/vu-thanh-tra-hu-doanh-nghiep-ubnd-tinh-ca-mau-lam-viec-voi-doan-kiem-tra/c/13938362.epi

Trang 38

MT, làm cho việc phát hiện và xử lý các VPHC, đặc biệt là đối với hành vi xả thải gây ONMT càng khó khăn hơn, do DN có điều kiện, thời gian đối phó

Xây dựng quy trình từ khâu lập kế hoạch thanh tra, kiểm tra đến tổ chức đoàn thanh tra, kiểm tra; ra kết luận thanh tra

Thanh tra Bộ phải có sự phối hợp với địa phương trong việc triển khai thực hiện kế hoạch thanh tra, kiểm tra, tránh chồng chéo, trùng lặp; kết hợp giữa thanh tra, kiểm tra chuyên ngành với thanh tra, kiểm tra trách nhiệm của UBND các cấp trong tỉnh, có như vậy kết quả thanh tra, kiểm tra mới phản ánh được tình hình thực thi pháp luật, thấy rõ được những bất cập trong chính sách để kịp thời bổ sung, sửa đổi hoàn thiện

Các kết luận thanh tra, kiểm tra phải chỉ rõ những bất cập, kẽ hở, lỗ hổng về chính sách để kiến nghị sửa đổi bổ sung, hoàn thiện ngay Phải giao trách nhiệm cho người đứng đầu cơ quan địa phương kiểm tra, đôn đốc thực hiện kết luận thanh tra, kiểm tra và báo cáo kết quả về Bộ theo định kỳ Phải giám sát chặt việc thực hiện các kết luận thanh tra, kiểm tra để tăng cường công tác thực thi pháp luật Phải công khai các kết luận thanh tra, kiểm tra ra công luận để nhân dân giám sát việc thực hiện

Bộ TN&MT sớm xây dựng cơ sở dữ liệu về thanh tra, kiểm tra, trong đó xác định các đối tượng có nguy cơ gây ô nhiễm MT, nhiều lần tái phạm về MT để cùng với việc thanh tra, kiểm tra sẽ thực hiện các biện pháp theo dõi, giám sát Đồng thời, cần hoàn thiện cơ chế tiếp nhận, phản hồi ý kiến của nhân dân và DN để tiếp nhận ý kiến của nhân dân và phản ánh của báo chí, kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm các hành vi VPPL về MT theo quy định của pháp luật

Thứ hai, đề xuất ban hành và bổ sung, sửa đổi một số văn bản quy phạm

pháp luật sau:

Trang 39

Thanh tra Chính phủ sớm ban hành Thông tư quy định về trình tự, thủ tục, thời hạn kiểm tra, tạo hành lang pháp lý, sự thống nhất trong hoạt động kiểm tra, nhằm tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước theo ngành, lĩnh vực

Chính phủ sớm ban hành Nghị định hướng dẫn hoạt động thanh tra, kiểm tra

DN thay thế Nghị định số 61/1998/NĐ-CP của Chính phủ về công tác thanh tra, kiểm tra đối với các DN, vì các căn cứ ban hành Nghị định số 61/1998/NĐ-CP đã

có sự thay đổi (căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 30 tháng 9 năm 1992 nay là Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015 có hiệu lực từ ngày 01/01/2016; căn cứ Pháp lệnh Thanh tra ngày 01 tháng 4 năm 1990 nay là Luật Thanh tra 2010) và để giảm

bớt chồng chéo trong hoạt động thanh tra, kiểm tra, giảm phiền hà cho DN theo Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 16/5/2016 của Chính phủ

Chính phủ sớm sửa đổi, bổ sung Nghị định số 07/2012/NĐ-CP theo hướng

bổ sung các cơ quan có chức năng thanh tra chuyên ngành phù hợp với yêu cầu quản lý nhà nước của ngành, lĩnh vực, trong đó, cần thiết phải bổ sung chức năng thanh tra chuyên ngành cho Chi cục BVMT thuộc Sở TN&MT địa phương

Thứ ba, nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ làm công tác thanh tra, kiểm

tra Cán bộ làm công tác thanh tra, kiểm tra phải có tâm, đủ tầm, trong sạch, bản lĩnh, hiểu biết pháp luật để vận dụng, xử lý tốt các tình huống cụ thể trong công tác BVMT Đồng thời, tiếp tục củng cố, hoàn thiện cơ cấu tổ chức về BVMT từ Trung ương đến địa phương, tăng cường biên chế cán bộ quản lý MT cho cấp huyện, thanh tra môi trường cho cấp xã để đáp ứng yêu cầu quản lý MT trong thời gian tới

Thứ tư, đối với các DN có nguy cơ gây ô nhiễm MT cao, tái phạm nhiều lần,

cần có biện pháp tăng cường công tác kiểm tra đột xuất, có như vậy mới giải quyết được hạn chế của thanh tra, kiểm tra theo kế hoạch

Thứ năm, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 155/2016/NĐ-CP ngày

18/11/2016 quy định về xử phạt VPHC trong lĩnh vực BVMT, có hiệu lực thi hành

từ ngày 01/02/2017 (thay thế Nghị định số 179/2013/NĐ-CP), Nghị định này quy

định rõ hơn, mức xử phạt cao hơn đối với từng hành vi vi phạm về MT so với nghị định 179 Để Nghị định 155/2016/NĐ-CP được thực hiện một cách triệt để, đi vào cuộc sống, trước hết phải đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, quán triệt Nghị định này đến cán bộ, công chức, viên chức, DN và các tầng lớp nhân dân, góp phần nâng cao nhận thức về sự cần thiết phải xử phạt nghiêm đối với các hành vi vi phạm BVMT Đồng thời, thực hiện công khai thông tin vi phạm về BVMT trên các

Trang 40

phương tiện thông tin đại chúng để tạo áp lực buộc các cơ sở sản xuất, kinh doanh phải tuân thủ nghiêm túc quy định về BVMT

Thanh tra chuyên ngành môi trường và lực lượng Cảnh sát Môi trường, chủ động trong xây dựng, phối hợp xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch kiểm tra, thanh tra về BVMT hàng năm trên địa bàn theo quy định của Luật Thanh tra 2010

và Điều 53 Nghị định số 155/2016/NĐ-CP, đảm bảo thống nhất, không chồng chéo, không làm ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của DN; đồng thời xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân vi phạm theo quy đinh Sở TN&MT tỉnh Cà Mau chủ trì, phối hợp với Công an tỉnh tổng hợp, báo cáo Bộ TN&MT, UBND tỉnh tình hình, kết quả kiểm tra, thanh tra và xử phạt VPHC trong lĩnh vực BVMT trên địa bàn tỉnh định kỳ 06 tháng và hàng năm theo quy định

Đầu tư cơ sở vật chất, phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ cho Sở TN&MT và lực lượng Cảnh sát môi trường tỉnh theo quy định tại Nghị định số 165/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định việc quản lý, sử dụng

và danh mục các phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ được sử dụng, đảm bảo có

đủ phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ để kịp thời phát hiện các VPHC trong lĩnh vực BVMT

Các cơ sở, chủ đầu tư hạ tầng các khu, cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh phải lắp đặt hệ thống, thiết bị quan trắc tự động, liên tục nước thải, khí thải theo quy đinh của Nghị định số 38/2015/NĐ-CP của Chính phủ; liên tục có camera theo dõi

và truyền số liệu về Sở TN&MT tỉnh để kiểm tra, giám sát; trường hợp tổ chức, cá nhân không thực hiện sẽ xử lý nghiêm vi phạm theo quy định của Nghị định số 155/2016/NĐ-CP của Chính phủ

Để thực hiện nhiệm vụ trên, đòi hỏi phải khẩn trương đầu tư cơ sở vật chất,

hạ tầng kỹ thuật cho Sở TN&MT tỉnh phục vụ việc tiếp nhận, xử lý, lưu giữ số liệu

quan trắc tự động, liên tục chất thải của các cơ sở, khu công nghiệp truyền về (theo hướng dẫn tại Công văn số 5417/BTNMT- TCMT ngày 18/11/2016 của Bộ TN&MT

về việc hướng dẫn truyền, nhận số liệu quan trắc tự động, liên tục)

2.2 Phát hiện, xử lý VPPL về MT của DN theo quy định hình sự

2.2.1 Quy định của pháp luật

2.2.1.1 Trước ngày 01/7/2016

Chủ thể tiến hành hoạt động phát hiện, xử lý VPPL về MT của DN theo quy định hình sự do hai lực lượng tiến hành: Lực lượng Cảnh sát môi trường tiến hành

Ngày đăng: 06/06/2018, 23:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w