1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Pháp luật về thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh

119 258 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 0,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhận thức được ý nghĩa và tầm quan trọng đó trong công tác áp dụng Luật thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh có thu nhập từ hoạt động kinh doanh, sản xuất vào thực tiễn

Trang 1

NGUYỄN THANH LIÊM

PHÁP LUẬT VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN ĐỐI VỚI

CÁ NHÂN KINH DOANH VÀ HỘ KINH DOANH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, NĂM 2017

Trang 2

NGUYỄN THANH LIÊM

PHÁP LUẬT VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN ĐỐI VỚI

CÁ NHÂN KINH DOANH VÀ HỘ KINH DOANH

Chuyên ngành: Luật Kinh tế

Mã số: 60380107 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS LÊ VŨ NAM

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, NĂM 2017

Trang 3

hiện, đây là công trình nghiên cứu riêng của tôi Các thông tin, tư liệu, số liệu được

sử dụng, tham khảo trong luận văn này là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và đều được trích dẫn nguồn gốc, xuất xứ một cách đầy đủ và cẩn thận./

Tác giả luận văn

Nguyễn Thanh Liêm

Trang 4

Qua 2 năm học tập Chương trình cao học Luật kinh tế của khoa Luật trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, bản thân có nhiều cố gắng nghiên cứu và

đã tích lũy kiến thức có giá trị phục vụ cho việc viết luận văn thạc sỹ

Để hoàn thành được đề tài này, bên cạnh nỗ lực, cố gắng tìm hiểu, nghiên cứu học tập của bản thân, tác giả còn nhận sự giúp đỡ, hướng dẫn nhiệt tình của quý Thầy, Cô, bạn bè và đồng ngiệp

Trước tiên, xin được gởi lời cảm ơn quý thầy (cô) đã giảng dạy và truyền đạt kiến thức quý báu cho tác giả trong suốt 2 năm nghiên cứu tại trường Đại học Kinh

tế Thành phố Hồ chí Minh Đây chính là nền tảng để tác giả hoàn thành tốt luận văn của mình Và xin gửi lời cảm ơn đến, bạn bè, đồng nghiệp trong thời gian tác giả thực hiện đề tài đã động viên, giúp đỡ tin thần rất lớn để có động lực hoàn thành tốt luận văn của mình

Và cuối cùng, đặc biệt tác giả gửi lời cảm ơn chân thành sâu sắc đến

PGS.TS: Lê Vũ Nam, nhờ sự giảng dạy, giúp đỡ và hướng dẫn nhiệt tình của Thầy

đã giúp tác giả định hướng đúng trong hoạt động nghiên cứu đề tài Và đây cũng chính là một trong những yếu tố quan trọng nhất để có thể giúp tác giả hoàn thành tốt luận văn này

Trân trọng

Tác giả luận văn

Nguyễn Thanh Liêm

Trang 5

Số thứ tự Viết tắt Diễn giải

Trang 6

Biểu đồ 1 Cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh có thu nhập

sản xuất, kinh doanh qua các năm năm 2014, 2015, 2016 trang 57

Biểu đồ 2 Tổng thu nhập từ thuế thu nhập cá nhân qua các năm

Biểu đồ 3 Mức doanh thu mà cơ quan thuế khoán cho cá nhân

Biểu đồ 4 Cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh có người phụ

Trang 7

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọ đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu 3

3 Mục đích nghiên cứu 4

4 Phạm vi nghiên cứu 5

5 Phương pháp nghiên cứu 5

6 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng 6

7 Bố cục luận văn 6

CHƯƠNG 1 7

THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN ĐỐI VỚI 7

CÁ NHÂN KINH DOANH VÀ HỘ KINH DOANH 7

1.1 Khái quát về thuế thu nhập cá nhân 7

1.1.1 Khái niệm, nguồn gốc của thuế thu nhập cá nhân 7

1.1.2 Đặc điểm của thuế thu nhập cá nhân 9

1.1.3 Vai trò thuế thu nhập cá nhân 12

1.1.3.1 Thuế thu nhập cá nhân là một công cụ đảm bảo nguồn thu quan trọng cho ngân sách Nhà nước 12

1.1.3.2 Thuế thu nhập cá nhân là một công cụ phân phối thu nhập đảm bảo công bằng xã hội 14

1.1.3.3 Thuế thu nhập cá nhân góp phần tích cực vào mạng lưới bảo hiểm 15

Trang 8

phần phòng chống tội phạm 15

1.1.4 Nội dung cơ bản thuế thu nhập cá nhân 16

1.1.4.1 Đối tượng chịu thuế 16

1.1.4.2 Đối tượng nộp thuế 18

1.1.4.3 Căn cứ tính thuế thu nhập cá nhân 18

1.1.4.4 Quản lý thuế thu nhập cá nhân 19

1.2 Thuế thu nhập cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh 23

1.2.1 Khái quát về cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh 23

1.2.1.1 Khái niệm về cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh 23

1.2.2 Đặc trưng của thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh 28

1.2.3 Tầm quan trọng của thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh 29

1.2.4 Lược sử phát triển đối với thuế thu nhập cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh 30

1.2.4.1 Trước khi có Luật thuế thu nhập cá nhân 30

1.2.4.2 Sau khi có Luật thuế thu nhập cá nhân 32

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 34

CHƯƠNG 2 35

QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN 35

ĐỐI VỚI CÁ NHÂN KINH DOANH VÀ HỘ KINH DOANH 35

2.1 Người nộp thuế 35

2.2 Thu nhập chịu thuế, thu nhập miễn giảm thuế 37

2.2.1 Thu nhập chịu thuế 37

2.2.2 Đối với thu nhập miễn thuế 38

2.3 Nguyên tắc áp dụng 40

Trang 9

2.3.4 Đối với cá nhân trực tiếp ký hợp đồng làm đại lý xổ số, đại lý bảo

hiểm, bán hàng đa cấp 42

2.4 Căn cứ tính thuế 43

2.4.1 Doanh thu tính thuế 43

2.4.2 Thuế suất 46

2.5 Quản lý thuế thu nhập cá nhân 46

2.5.1 Đăng ký, kê khai thuế 46

2.5.2 Nộp thuế, quyết toán thuế 51

2.5.3 Xác định doanh thu và mức thuế khoán đối với cá nhân kinh doanh nộp thuế khoán 52

2.5.4 Ủy nhiệm thu thuế đối với cá nhân nộp thuế khoán 53

2.5.5 Công khai thông tin cá nhân kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khoán 54

2.5.6 Một số nội dung khác về công tác quản lý thuế đối với cá nhân nộp thuế khoán 56

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 59

CHƯƠNG 3 60

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ THUẾ 60

THU NHẬP CÁ NHÂN ĐỐI VỚI CÁ NHÂN KINH DOANH 60

VÀ HỘ KINH DOANH VÀ CÁC KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN 60

3.1 Đánh giá quy định pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh 60

3.1.1 Một số ý kiến đánh giá quy định pháp luật với cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh 61

3.1.1.1 Kê khai thuế 69

3.1.1.2 Về quyết toán thuế 70

Trang 10

3.1.1.5 Công khai thông tin thuế khoán 72

3.1.2 Thực trạng áp dụng Luật pháp về thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh 74

3.1.2.1 Trước khi có Luật sửa đổi, bổ sung một sô Điều của các Luật về thuế năm 2014 74 3.1.2.2 Sau khi có Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của các Luật về thuế năm 2014 78

3.2 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh 89 3.2.1 Một số kiến nghị về mặt quy định của Luật thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh 89 3.2.2 Một số kiến nghị về công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân đối với

cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh 91 KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 96 KẾT LUẬN CHUNG 97 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 11

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do chọ đề tài

Thuế thu nhập cá nhân (thuế TNCN) là một trong những loại thuế đã xuất hiện cách nay hàng trăm năm và hiện nay đã trở thành một trong những loại thuế rất quan trọng đối với sự phát triển của các Quốc gia, đó là một trong những nguồn thu quan trọng đóng góp vào ngân sách Nhà nước Với vai trò quan trọng đó, trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt từ khi nước ta gia nhập tổ chức thương mại Thế giới (WTO) Năm 2007, Quốc hội ban hành Luật thuế TNCN là cơ sở pháp lý quan trọng để nâng cao vai trò quản lý của Nhà nước, tạo hành lang pháp lý và hoàn thiện hệ thống thuế thu nhập ở Việt Nam trong quá trình phát triển và hội nhập quốc

tế Với vai trò quan trọng đó, để toàn diện hơn Quốc hội đã sửa đổi, bổ sung Luật thuế TNCN số 04/2007/QH12 ngày 21/11/2007 bằng Luật số 26/2012/QH13 ngày 22/11/2012 Đáng chú ý, là phạm vi điều chỉnh của Luật thuế TNCN đã bao gồm cả

cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh có thu nhập từ kinh doanh, trong khi trước đây những đối tượng này chịu sự điều chỉnh của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp Như vậy, sự ra đời của Luật thuế TNCN đã đảm bảo công bằng hơn giữa cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh có thu nhập từ kinh doanh với cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công

Tuy nhiên, khi áp dụng những quy định của luật này thì không tránh khỏi những bất cập như: thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh đang

áp dụng quy trình tính thuế phức tạp Trường hợp cá nhân kinh doanh chưa thực hiện được chế độ kế toán, không xác định được thu nhập chịu thuế thì cơ quan thuế

ấn định thu nhập, sau đó lại xác định thu nhập tính thuế trên cơ sở trừ gia cảnh để áp dụng biểu thuế lũy tiến Trên thực tế đa số cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh không thực hiện chế độ kế toán nên phải thực hiện ấn định thu nhập chịu thuế

Ngoài ra, công tác quản lý thuế đối với cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh cũng rất phức tạp, tiêu tốn nhân lực nhưng không hiệu quả Theo bản thuyết minh chi tiết dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều tại các Luật về thuế ngày 17 tháng

10 năm 2014 của Chính phủ, tổng số thu từ nhóm cá nhân kinh doanh và hộ kinh

Trang 12

doanh chỉ chiếm khoảng 2% tổng thu (trừ dầu) nhưng tổng số nhân lực ngành thuế

để quản lý đối tượng này lên đến 60% Mặc dù ngành thuế đã thực hiện việc công khai thông tin hộ khoán trước và sau khi ấn định thuế Tuy nhiên, do chính sách thuế phức tạp nên cá nhân cũng không thể tự biết được việc tính thuế như thế nào

để xác định số thuế mình phải nộp Việc công khai minh bạch về chính sách thuế đối với cá nhân kinh doanh cũng không đạt hiệu quả Do đó, để tạo điều kiện thuận lợi cho người nộp thuế và giảm gánh nặng quản lý đối với cơ quan thuế, ngày 26 tháng 11 năm 2014, Quốc hội đã ban hành Luật số 71/2014/QH13 về việc sửa đổi,

bổ sung một số Điều của các Luật về thuế Theo đó, sửa đổi quy định về phương pháp tính thuế đối với cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh theo hướng đơn giản để

cá nhân có thể tự khai, tự nộp Đồng thời, bổ sung nguyên tắc thu thuế đối với cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh, quy định mức thuế khoán chi tiết đối với từng lĩnh vực, ngành nghề, sản xuất kinh doanh Do đó, đây chính là quy định mới so với trước đây nên câu hỏi đặt ra là việc áp dụng quy định mới này đạt được hiệu quả như thế nào ? Mức thuế có hợp lý không ? Việc áp dụng quy định mới có đảm bảo công bằng so với trước đây không ?

Nhận thức được ý nghĩa và tầm quan trọng đó trong công tác áp dụng Luật thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh có thu nhập từ hoạt động

kinh doanh, sản xuất vào thực tiễn người viết đã chọn đề tài “Pháp luật về Thuế

thu nhập cá nhân đối với cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh” làm luận văn

Thạc sỹ Luật học của mình Với mong muốn thông qua phân tích, đánh giá của mình về những quy định của Luật thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh có thu nhập từ kinh doanh để từ đó đưa ra những kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật về thuế TNCN để áp dụng một cách có hiệu quả hơn Từ đó hạn chế những bất cập trong việc triển khai thực hiện Luật thuế TNCN, đặc biệt là tình trạng thất thu thuế cho ngân sách Nhà nước và giúp cho công tác quản lý thuế

dễ dàng, thuận lợi hơn Đồng thời, tạo điều kiện thuận lợi cho những cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh phát triển hoạt động sản xuất, kinh doanh

Trang 13

2 Tình hình nghiên cứu

Qua tìm hiểu, thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh là một vấn đề khá mới chưa có nhiều công trình nghiên cứu toàn diện về thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh Tuy nhiên, đã có một số công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài như:

- Đề tài: “Pháp luật về thu nhập chịu thuế trong thuế thu nhập cá nhân:

Thực trạng và định hướng hoàn thiện” Luận văn thạc sỹ Luật học, của tác giả

Nguyễn Đăng Bình, Thành phố Hồ Chí Minh năm 2011

- Đề tài: “Thực tiễn thi hành pháp luật thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam và

định hướng hoàn thiện” Luận văn thạc sỹ Luật học, của tác giả La Thị Tuyết Anh,

Hà Nội năm 2011

- Đề tài: “Pháp luật Quản lý thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam - Thực trạng

và giải pháp” Luận văn thạc sỹ Luật học, của tác giả Tạ Minh Hảo, Hà Nội năm

2013

- Đề tài: “Thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ kinh doanh tiền lương,

tiền công và thực tiễn áp dụng trên một số địa bàn của Thành phố Cần Thơ và tỉnh Tiền Giang” Luận văn thạc sỹ Luật học, của tác giả Nguyễn Thị Huỳnh Như, Cần

Thơ năm 2014

- Đề tài: “Một số vấn đề pháp lý về thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam - Thực

trạng và giải pháp hoàn thiện” Luận văn thạc sỹ Luật học, của tác giả Hồ Thị Hải,

Hà Nội năm 2014

- Đề tài nguyên cứu khoa học: “Bảo đảm quyền con người trong Luật thuế

thu nhập cá nhân”, Đề tài nghiên cứu khoa học, của tác giả Trần Minh Hiệp, Đại

học Luật thành phố Hồ Chí Minh năm 2012

Nhìn chung, các công trình trên đều có đề cập ở mức độ nhất định về thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh cũng như phân tích những quy định pháp luật về thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh Tuy nhiên, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện và

Trang 14

sâu sắc về thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh dưới góc độ luật học

Bên cạnh đó, các bài báo cáo khoa học rất ít viết về vấn đề này, chỉ tập trung

đề cập đến những vấn đề chung của TNCN như: “Bản chất thuế thu nhập cá nhân”,

Trần Đình Thiên, Vũ Thành Tự Anh, nghiên cứu lập pháp, Văn phòng Quốc hội số

12, năm 2006; “Thuế thu nhập cá nhân nên thu như thế nào?”, Lê Nết, nghiên cứu lập pháp, Văn phòng Quốc hội số 7, năm 2007; “Thực trạng pháp luật thuế thu

nhập cá nhân ở Việt Nam hiện nay và phương hướng hoàn thiện”, Trần Vũ Hải,

Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội số 10, năm 2007; “Luật thuế thu nhập cá

nhân: Những bất cập và hướng hoàn thiện” Lê Thị Thu Thủy, nghiên cứu lập pháp,

Văn phòng Quốc hội số 19, năm 2012; “Cơ sở xác định thu nhập thuế trong pháp

luật thuế thu nhập cá nhân dưới góc độ công bằng”, Trần Minh Đức, Nhà nước và

Pháp luật, viện Nhà nước và Pháp luật số 2, năm 2012; “Bảo đảm công bằng trong

thuế thu nhập cá nhân”, Trần Minh Đức, nghiên cứu lập pháp, Văn phòng Quốc hội

số 6 năm 2012; “Vấn đề kiểm soát thu nhập pháp luật thuế thu nhập cá nhân ở Việt

Nam”, Nguyễn Hải Ninh, Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội số 3, năm 2015

Từ khi Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của các Luật năm 2014 có hiệu lực thì vẫn chưa có một công trình nghiên cứu nào đề cập cụ thể đến thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh trong pháp luật thuế TNCN, mặc dù vấn

đề này còn chứa đựng nhiều vấn đề cần bàn luận về lý luận và thực tiễn Hy vọng rằng, đây sẽ là đề tài nghiên cứu tổng quát về thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh thông qua việc phân tích đánh giá các quy định và tìm hiểu thực trạng áp dụng pháp luật trong thực tiễn hiện nay

3 Mục đích nghiên cứu

Việc nghiên cứu đề tài nhằm mục đích là phân tích, đánh giá và tổng hợp các quy định của pháp luật nhằm làm rõ những vấn đề lý luận; nêu lên thực trạng và kết quả thực hiện thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh Thông qua việc nghiên cứu đó, luận văn sẽ làm rõ những điểm tiến bộ so với những quy định trước đây, đồng thời cho thấy được ưu, nhược điểm đang tồn tại trong các văn bản

Trang 15

quy phạm pháp luật hiện hành Để từ đó, tác giả đưa ra các kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh

Mục đích cụ thể của tác giả khi thực hiện đề tài này là:

- Tổng hợp, hệ thống hóa và làm rõ hơn cơ sở lý luận, quy định pháp luật về thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh

- Làm rõ tình hình và kết quả thực hiện thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh trong những năm vừa qua Song song đó, tác giả phân tích

và đánh giá quy định của Pháp luật thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh

- Đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định Pháp luật thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh

4 Phạm vi nghiên cứu

Do điều kiện khách quan về thời gian và để nhằm đạt được mục tiêu nghiên cứu trên phạm vi nghiên cứu Đề tài chỉ tập trung phân tích, đánh giá những quy định của Pháp luật thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh, và thực trạng áp dụng Pháp luật thuế TNCN từ năm 2013 đến năm 2017 (sau khi Luật thuế TNCN số 04/2007/QH12 ngày 21/11/2007 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 26/2012/QH13 ngày 22/11/2012) Ngoài ra, tác giả còn tiến hành khảo sát một số địa bàn tỉnh Cà Mau

5 Phương pháp nghiên cứu

Để nghiên cứu đề tài này, tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như sau:

- Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – LêNin, tư tưởng Hồ Chí Minh cũng như quán triệt quan điểm đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước

- Sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp, hệ thống hóa và khái quát các tài liệu như: văn bản pháp luật, sách báo, tạp chí, các trang mạng và các công trình nghiên cứu khác có các vấn đề liên quan đến mục đích nghiên cứu của đề tài Từ đó,

Trang 16

tác giả có thể xây dựng các cơ sở lý thuyết và để có thể đưa ra các so sánh, phân tích phục vụ cho đề tài

- Tác giả sử dụng phương pháp xử lý câu hỏi, tổng hợp, phân tích, đánh giá, thống kê, lưu trữ số liệu thực tế, bảng số liệu, biểu đồ… để kết quả khảo sát phản ánh đúng thực tế khách quan

- Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu tác giả còn sử dụng một số phương pháp cơ bản khác như: phương pháp bình luận những quy định pháp luật, phương pháp so sánh, đối chiếu những văn bản trước đây với văn bản hiện hành để rút ra những hạn chế, những bài học kinh nghiệm

6 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng

Đề tài có sự kết hợp với việc phân tích quy định pháp luật hiện hành về thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh và những hạn chế của thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh để đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện hơn những quy định thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh góp phần thu ngân sách Nhà nước

Bên cạnh đó, tác giả hy vọng nội dung được trình bày trong đề tài này sẽ là tài liệu hữu ích cho những ai quan tâm đến vấn đề của đề tài Ngoài ra, đề tài hoàn thành sẽ là tài liệu tham khảo cho những người nghiên cứu thuế TNCN, đặc biệt là thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh

Chương 3 Đánh giá thực trạng pháp luật về thuế thu nhập cá nhân đối với

cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh và kiến nghị hoàn thiện

Trang 17

CHƯƠNG 1 THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN ĐỐI VỚI

CÁ NHÂN KINH DOANH VÀ HỘ KINH DOANH 1.1 Khái quát về thuế thu nhập cá nhân

1.1.1 Khái niệm, nguồn gốc của thuế thu nhập cá nhân

Thuế là một khoản nộp bắt buộc vào ngân sách Nhà nước để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước1 Thông thường hệ thống thuế của một quốc gia có cấu trúc bởi ba nhóm thuế, bao gồm: thuế đánh trên thu nhập, thuế đánh trên tài sản và thuế đánh trên hành vi người tiêu dùng2, dựa trên đó mà các sắc thuế được thiết lập Thuế đánh trên tài sản như: thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, thuế đánh vào người tiêu dùng thường được sử dụng là thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt… Đối với thuế thu nhập, hiện nay hầu hết các nước trên thế giới người sử dụng hai sắc thuế là thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân Các sắc thuế này thường phức tạp và khó thu nhưng nó được xem là sắc thuế bình đẳng bởi nó góp phần điều tiết thu nhập giữa các tầng lớp dân cư trên cơ sở xem xét đến hoàn cảnh

cụ thể của người nộp thuế Chính vì vậy, thuế TNCN là một loại thuế trực thu, thu vào thu nhập của cá nhân trong một khoảng thời gian nhất định3

Hay nói cách khác, thuế TNCN là khoản tiền mà người có thu nhập phải trích nộp một phần tiền lương hoặc từ các nguồn thu nhập khác vào ngân sách Nhà nước

Thuế TNCN ra đời rất sớm, lần đầu tiên thuế TNCN được áp dụng tại Hà Lan vào năm 1797, nước Anh áp dụng vào năm 1799, nước Pháp áp dụng vào năm

1808, nước Mỹ áp dụng thuế TNCN từ năm 1864 Tại các nước Châu Á: Nhật Bản

áp dụng thuế TNCN vào cuối thuế kỉ XIX, Thái Lan áp dụng vào năm 1939, lip-pin áp dụng vào năm 1945, Hàn Quốc năm 1948, In-đô-nê-si-a áp dụng vào năm

Phi-1949, Trung Quốc năm 1984, các nước Đông Âu mới áp dụng như: Ru-ma-ni vào năm 1990, Nga năm 1991, Ba Lan năm 19924 Tại các quốc gia phát triển, thuế

1 Lê Thị Nguyệt Châu (2009), Giáo Trình Luật tài chính 2 (thuế), NXB Đại học Cần Thơ, trang 9, trang 11

2 Lê Thị Nguyệt Châu (2009), Giáo Trình Luật tài chính 2 (thuế), NXB Đại học Cần Thơ, trang 9, trang 11

3 Lê Quang Cường, Nguyễn Kim Quyến (2013), Giáo trình thuế I, NXB Kinh tế TPHCM, trang 205

4 Lê Quang Cường, Nguyễn Kim Quyến (2013), Giáo trình thuế I, NXB Kinh tế TPHCM, trang 205

Trang 18

TNCN đóng góp một nguồn thu khổng lồ vào ngân sách Nhà nước Ví dụ: Ở nước

Mỹ, Nhật, Canada, Úc, thuế TNCN chiếm 50% nguồn thu ngân sách Nhà nước từ thuế Ở các nước đang phát triển như Thái Lan, Malaixia, Phi-lip-pin chiếm từ 15% đến 30% nguồn thu ngân sách Nhà nước từ thuế5

Hiện nay trên giới có hai phương pháp đánh thuế TNCN: có nước tính thuế vào từng khoản thu nhập thực tế của mỗi cá nhân, có nước tính thuế trên tổng thu nhập của cả hộ gia đình:

- Cách thứ nhất được áp dụng phổ biến ở các nước Anh, Nhật, Thụy Điển, các nước Châu Phi, Liên Xô, Hunggari, Tiệp Khắc… Ưu điểm của cách này là đơn giản, dễ thực hiện, đảm bảo thu kịp thời vào ngân sách Nhà nước, nhược điểm là chưa đảm bảo yêu cầu cần phân phối lại thu nhập quốc dân qua thuế sao cho có hiệu quả và đáp ứng được sự công bằng xã hội và nhất là đối với những cá nhân có nhiều phụ thuộc

- Cách thứ hai áp dụng ở các nước Pháp, Hà Lan… các chuyên gia cho rằng cách này công bằng hơn về mặt đạo đức xã hội nhưng không kịp thời vì mỗi gia đình đều có ít nhất 2 người trở lên Đã có nhiều người thì sẽ có nhiều khoản thu nhập khác nhau, do đó phải mở sổ sách kế toán, theo dõi từng nguồn thu nhập và phải đối chiếu với nơi phát sinh thu nhập, vì có nhiều phức tạp nên rất ít quốc gia áp dụng cách thứ hai6

- Ở Việt Nam, trước năm 1975 ở miền Nam thì chính quyền Sài Gòn đã áp dụng thuế TNCN nhưng với tên gọi là Thuế lợi tức lương bổng được ban hành vào năm 1962 và sau đó được cải cách vào năm 1972 Năm 1990, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao Để cho phù hợp với từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao đã có 6 lần sửa đổi, bổ sung vào các năm: lần thứ nhất vào năm 1992, lần thứ 2 vào năm 1994, lần thứ ba vào năm 1997,

5

Nguyễn Thị Mỹ Linh (2009), Thuế Thực Hành, Nxb Thống kê, trang 262

6 Trang công ty Luật Minh Khuê, Kiến thức cơ bản về thuế thu nhập cá nhân,

https://luatminhkhue.vn/kien-thuc-phap-luat-thue/kien-thuc-co-ban-ve-thue-thu-nhap-ca-nhan.asp, [Truy cập ngày 15/3//2017]

Trang 19

lần thứ tư vào năm 1999, lần thứ năm vào năm 2001 và lần thứ sáu là Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung số 14/2004/PL-UBTVQH11 ban hành năm 2004 Do Pháp luật thuế TNCN của Việt Nam với tên gọi là Thuế thu nhập đối với những người có thu nhập cao nên phạm vi điều chỉnh hẹp và còn nhiều bất cập Bên cạnh đó, cùng với quá trình hội nhập quốc tế hiện nay vấn đề đặt ra hành lang pháp lý chặt chẽ cũng như các biện pháp chế tài đủ mạnh và có tính thuyết phục để thuế TNCN được thực thi một cách có hiệu lực và hiệu quả Với tính cấp thiết đó, Quốc hội đã thông qua Luật

số 04/2007/QH12 ngày 21/11/2007 và được sửa đổi bằng Luật số 26/2012/QH13 ngày 22/11/2012 đã điều chỉnh phù hợp hơn với các loại thuế thu nhập mà cá nhân

có được, không phân biệt mức độ cao, thấp như trước

1.1.2 Đặc điểm của thuế thu nhập cá nhân

Chính vì thuế TNCN là một loại thuế trực thu, thu vào thu nhập của cá nhân trong một khoảng thời gian nhất định nên có những đặc điểm sau:

Thứ nhất, thuế TNCN là một loại thuế trực thu nên luôn tạo cảm giác gánh

nặng thuế cho người chịu thuế, hay nói theo một cách khác, người nộp thuế không thể chuyển giao gánh nặng thuế cho người khác7

Tính trực thu của thuế TNCN còn thể hiện ở chỗ, người nộp thuế cũng đồng thời là người chịu thuế, tức là Nhà nước sẽ trực tiếp đánh thuế vào thu nhập phát sinh của đối tượng nộp thuế, theo đó đối tượng nộp thuế có nghĩa vụ tự kê khai và nộp thuế

Bên cạnh đó, thuế TNCN với tính trực thu thường đụng chạm trực tiếp đến lợi ích của người nộp thuế bởi tính nhạy cảm và dễ gây ra phản ứng trong xã hội vì

nó ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập bản thân, tình hình tài chính cũng như cuộc sống của gia đình của bản thân người nộp thuế

Vì vậy, việc điều tiết một phần TNCN không đơn giản, hơn nữa thuế TNCN được xem là một loại thuế khá phức tạp Do đó, Nhà nước phải xác định mức thu hợp lý, phù hợp với khả năng đóng góp của người nộp thuế

7 Lê Quang Cường, Nguyễn Kim Quyến (2013), Giáo trình thuế I, NXB Kinh tế TPHCM, trang 205

Trang 20

Thứ hai, thuế TNCN có phạm vi đánh thuế rất rộng từ đối tượng chịu thuế

đến người nộp thuế8 Cụ thể: Đối tượng chịu thuế bao gồm toàn bộ các khoản TNCN không phân biệt thu nhập có nguồn gốc phát sinh trong nước hay ngoài nước Đối tượng nộp thuế bao gồm tất cả các công dân của nước sở tại và những người nước ngoài cư trú thường xuyên hoặc không thường xuyên tại nước sở tại

Việc xác định đối tượng nộp thuế TNCN phụ thuộc vào phương pháp đánh thuế mà mỗi quốc gia áp dụng Hiện nay, trên thế giới có hai phương thức đánh thuế

TNCN phổ biến, đó là phương thức đánh thuế dựa trên tiêu chí “nơi cư trú” và “địa

điểm phát sinh thu nhập” 9

Theo phương thức đánh thuế trên cơ sở “địa điểm phát sinh thu nhập”, đối

tượng nộp thuế TNCN là mọi cá nhân có thu nhập chịu thuế phát sinh trên lãnh thổ của một quốc gia Theo đó, cá nhân chỉ nộp thuế TNCN đối với khoản thu nhập chịu thuế phát sinh tại nước sở tại, còn đối với những khoản thu nhập phát sinh ở nước ngoài thì không phải nộp thuế Cách điều tiết thuế theo phương thức này thì không được phổ biến, nhưng nó lại tạo được sự hấp dẫn về thuế để thu hút vốn đầu

tư nước ngoài

Tuy nhiên, phương thức đánh thuế này chỉ thích hợp với những nước có nhiều nước ngoài đến làm việc và đầu tư, còn công dân nước có ít người làm việc hoặc đầu tư ở nước ngoài Điển hình như Hồng Kông đây là nơi mà có số lượngkhá lớn người nước ngoài đến làm việc và đầu tư10

Tuy cùng căn cứ vào tiêu chí “nơi cư trú” để đánh thuế nhưng mỗi quốc gia

có định nghĩa khác nhau về khái niệm thế nào là một đối tượng cư trú tại một nước trong Luật thuế TNCN của nước mình Nhiều nước quy định cá nhân cư trú là người định cư ở nước đó hoặc là những người không sống thường xuyên nhưng có tổng số ngày cư trú là người định cư ở nước đó vượt qua 183 ngày trong một năm

8 Lê Quang Cường, Nguyễn Kim Quyến (2013), Giáo trình thuế I, NXB Kinh tế TPHCM, trang 205

9 Lê Nết (2007), “Thuế thu nhập cá nhân nên thu như thế nào?”, tạp chí nghiên cứu lập pháp, (07), trang 19

10 Lê Văn Ái, Đỗ Đức Minh (2002), Thuế thu nhập cá nhân trên thế giới và định hướng vận dụng ở Việt

Nam, NXB Tài Chính, trang 28.

Trang 21

tính thuế (có thể là năm dương lịch hoặc là năm tài chính) hoặc trong khoản thời gian 12 tháng liên tục11

Phương thức đánh thuế dựa vào “nơi cư trú” lại được sử dụng rộng rãi ở hầu

hết các nước trên trên thế giới Theo phương thức này, các cá nhân cư trú ở một nước phải nộp thuế tại nước sở tại đối với thu nhập phát sinh trong và ngoài lãnh thổ quốc gia đó, cá nhân không cư trú chỉ bị đánh thuế đối với phần thu nhập phát sinh tại nước đó Như vậy, cá nhân là đối tượng cư trú hay không cư trú nhưng có phát sinh thu nhập chịu thuế trong năm hoặc kỳ tính thuế đều là đối tượng phải nộp thuế TNCN

Ngoài ra, một số quốc gia lại có quy định một cách cụ thể hơn và có điểm khác biệt với định nghĩa nêu trên Ví dụ: Luật thuế TNCN của Mỹ quy định cá nhân

cư trú là: công dân Mỹ và những người sinh sống ở Mỹ tối thiểu là 330 ngày đêm12

Tuy theo điều kiện kinh tế xã hội, chính sách và trình độ quản lý của mỗi quốc gia mà có thể lựa chọn nguyên tắc đánh thuế phù hợp Ở Việt Nam, pháp Luật thuế TNCN từ khi ban hành đến nay vẫn áp dụng đồng thời hai tiêu chí khi xác định đối tượng nộp thuế nhưng Luật thuế TNCN đã được điều chỉnh theo hướng phù hợp

hơn với thông lệ quốc tế khi quy định đối tượng nộp thuế dựa vào tiêu chí “nơi cư

trú” 13

Thứ ba, thuế TNCN thường điều tiết theo biểu thuế suất lũy tiến từng phần,

thực hiện vai trò điều tiết công bằng thu nhập giữa các tầng lớp dân cư14 Việc điều tiết này thực hiện theo nguyên tắc phù hợp với khả năng chi trả thuế Do đó, thuế suất thường được thiết kế theo biểu thuế lũy tiến15 Khi đánh thuế TNCN, Nhà nước cần nghiên cứu kỹ lưỡng hoàn cảnh, nhân thân, tình trạng thu nhập chung của người nộp cần đảm bảo mức độ thuế từ những thu nhập ngang bằng nhau là như nhau, với

11

Lê Văn Ái, Đỗ Đức Minh (2002), Thuế thu nhập cá nhân trên thế giới và định hướng vận dụng ở Việt

Nam, NXB Tài Chính, trang 100

12 Tập thể tác giả (2008), Giáo trình Luật thuế Việt Nam, NXB Tư pháp, trang 183

13 Trần Vũ Hải (2007), “Thực trạng pháp luật thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam hiện nay và phương hướng

hoàn thiện”, Tạp chí Luật học, (10), trang 21

14 Lê Quang Cường, Nguyễn Kim Quyến (2013), Giáo trình thuế I, NXB Kinh tế HCM, trang 206

15 Thuế suất lũy tiến là hình thức, theo đó thuế suất quy định theo tỷ lệ % và tăng dần theo dự gia tăng của cơ

sở thuế Thuế suất lũy tiến bao gồm lũy tiến từng phần và toàn phần Lê Quang Cường, Nguyễn Kim Quyến

(2013), Giáo trình thuế I, NXB Kinh tế HCM, trang 2006

Trang 22

những phần thu nhập cao hơn mới bị điều tiết thuế mạnh hơn và chỉ động viên sự đóng góp nhẹ của những người có thu nhập thấp, kiểu điều tiết thỏa mãn yêu cầu này chỉ có thể là điều tiết theo phương pháp thuế lũy tiến từng phần Việc tính toán

và kiểm tra thuế suất lũy tiến từng phần tuy khá phức tạp nhưng loại thuế suất này được đánh giá công bằng hơn so với thuế suất lũy tiến toàn phần, không gây ra mâu thuẫn vì nó đảm bảo số thuế phải nộp tăng lên một cách lũy tiến theo mức thu nhập tăng lên mà không đột biến cùng tốc độ tăng của cơ sở thuế Thêm vào đó, thuế suất lũy tiến từng phần còn được coi là phương pháp hiệu quả nhất để đánh thuế theo khả năng của đối tượng nộp thuế Do vậy, đây là loại thuế suất đảm bảo tính công bằng khá cao và có tác dụng lớn trong việc điều tiết thu nhập Chính vì vậy, phần lớn các quốc gia (Anh, Mỹ, Pháp, Trung Quốc…) đều áp dụng thuế suất lũy tiến từng phần để điều tiết thuế TNCN

Ở Việt Nam cũng áp dụng biểu thuế suất lũy tiến từng phần như thế, biểu thuế suất lũy tiến từng phần ở nước ta được thiết kế với mức thuế suất cao nhất là 35% và được chia làm bảy bậc16

1.1.3 Vai trò thuế thu nhập cá nhân

Thuế TNCN là một bộ phận của hệ thống, nó vừa mang vai trò chủ yếu của thuế nói chung, vừa mang vai trò đặc trưng mà các sắc thuế khác không có Trải qua nhiều giai đoạn phát triển khác nhau, thuế TNCN ngày càng khẳng định vị thế của mình thông qua vai trò ngày càng to lớn của nó

1.1.3.1 Thuế thu nhập cá nhân là một công cụ đảm bảo nguồn thu quan trọng cho ngân sách Nhà nước

Trước tiên xuất phát từ đặc trưng của thuế TNCN là có phạm vi đánh thuế rộng, nên khả năng tạo nguồn thu cho ngân sách rất lớn Ở nhiều nướcphát triển, thuế TNCN rất quen thuộc với người dân do đại bộ phận dân cư trong độ tuổi lao động, mặt bằng thu nhập bình quân đầu người cao, ý thức nghĩa vụ thuế TNCN cao,

hệ thống quản lý Nhà nước khá chặt chẽ nên thuế thu nhập đang chiếm tỷ trọng khá

16 Xem điều 22, Luật thuế thu nhập cá nhân năm 2007 sửa đổi, bổ sung năm 2012

Trang 23

lớn trong tổng thu ngân sách Nhà nước như: Mỹ 51,35%, Nhật Bản 68,79%, Australia 61,36%, Canada 52,71% Ở các nước đang phát triển, do thu nhập dân

cư chưa cao, đồng thời do hệ thống quản lý còn yếu kém nên thuế TNCN chiếm tỷ trọng nhỏ hơn so với các nước phát triển và tỷ lệ này không đáng kể (ở các nước Thái lan, Malayxia, Philippin chiếm khoảng 12-16% thổng thu ngân sách Nhà nước)17 Tại Việt Nam, cũng như các nước đang phát triển khác, cho đến nay thu nhập của người dân vẫn còn thấp, trình độ quản lý còn hạn chế do đó thuế TNCN chiếm tỷ trọng không cao Theo báo cáo của Chính phủ trình trước Quốc hội kèm theo Tờ trình Quốc hội số 423/TTr-CP ngày 17/10/2014: người có thu nhập cao hơn mức giảm trừ gia cảnh phải nộp thuế theo biểu thuế luỹ tiến từng phần gồm 7 bậc (5%; 10%; 15%; 20%; 25%; 30%; 35%) Người có thu nhập như nhau nhưng có hoàn cảnh khác nhau thì mức nộp thuế khác nhau Số người có thu nhập từ tiền lương, tiền công chưa đến mức phải nộp thuế năm 2013 là: 11.376 nghìn người; số người có thu nhập từ tiền lương, tiền công nộp thuế ở bậc 1 chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số người phải nộp thuế năm 2013: 76,9% nhưng số thuế nộp không lớn so với tổng số thuế thu từ tiền lương, tiền công năm 2013: 10,4% Số người nộp thuế từ bậc 2 trở lên không lớn năm 2013: 23% nhưng số thuế nộp chiếm tỷ trọng lớn năm 2013: 89,8%, Số thu 2012 bằng 116,72% so với thực hiện 2011, đạt 8,04% tổng thu nội địa; số thu 2013 bằng 103,44% so với thực hiện 2012, đạt 6,88% tổng thu nội địa, bằng 1,3% GDP18

Qua đó, thuế TNCN đã góp phần làm giảm hợp lý khoảng cách thu nhập giữa các tầng lớp dân cư góp phần đảm bảo công bằng xã hội; giảm khoảng cách chênh lệch về thu nhập giữa các tầng lớp dân cư và tăng nguồn thu cho ngân sách

và ngày càng trở thành nguồn thu quan trọng cho Ngân sách Nhà nước

Trang 24

1.1.3.2 Thuế thu nhập cá nhân là một công cụ phân phối thu nhập đảm bảo công bằng xã hội

Một trong những khuyết điểm vốn có lớn nhất của nền kinh tế thị trường là

sự phân hóa giàu nghèo trong xã hội và thể hiện rõ nét trong nền kinh tế của Việt Nam vấn đề này cần được quan tâm và giải quyết Thu nhập của các tầng lớp nhân dân có sự chênh lệch nhau, số đông dân cư còn có thu nhập thấp, nhưng cũng có một số cá nhân có thu nhập cao

Vì vậy, thuế TNCN ra đời để đảm bảo sự công bằng trong phân phối thu nhập, thông qua chức năng phân phối của thuế, thuế TNCN góp phần giảm bớt chênh lệch giàu, nghèo thực hiện mục tiêu công bằng xã hội19

Trong pháp luật thuế TNCN, nguyên tắc công bằng được hiểu theo hai góc

độ là: công bằng theo chiều ngang và công bằng theo chiều dọc20

- Ở góc độ thứ nhất, công bằng theo chiều ngang là sự đối xử về thuế như

nhau giữa các cá nhân Theo đó, đối với các đối tượng có cùng mức thu nhập, những điều kiện và hoàn cảnh sống như nhau thì họ có nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước với số tiền như nhau

- Ở góc độ thứ hai, công bằng theo chiều dọc được hiểu, đối với những đối

tượng nộp thuế không có cùng mức thu nhập, có điều kiện và hoàn cảnh sống khác nhau sẽ có nghĩa vụ nộp các khoản tiền thuế khác nhau cho Nhà nước Trong đó, đảm bảo người có thu nhập cao thì phải nộp tiền nhiều hơn so với những người có thu nhập thấp, người có thu nhập như nhau nhưng hoàn cảnh khó khăn hơn thì phải nộp ít hơn

Thông qua việc thuế TNCN đảm bảo được cả hai nguyên tắc công bằng theo chiều ngang lẫn chiều dọc thì nó sẽ góp phần điều tiết TNCN, hạn chế được phần nào chênh lệch về thu nhập giữa các tầng lớp dân cư, thu hẹp khoảng cách giữa người giàu, người nghèo, góp phần tạo công bằng xã hội

Trang 25

1.1.3.3 Thuế thu nhập cá nhân góp phần tích cực vào mạng lưới bảo hiểm

Quỹ bảo hiểm xã hội và quỹ bảo hiểm y tế mang tính bắt buộc và hoạt động dựa trên nguyên tắc số đông Hai loại quỹ này sẽ gặp nhiều khó khăn khi dân số già

đi, kinh tế khủng hoảng, thất nghiệp gia tăng

Khi đó, hai quỹ bắt buộc này sẽ gặp nhiều khó khăn, thậm chí có thể đi đến phá sản khi phải đơn độc chu cấp cho các nhu cầu phúc lợi của cộng đồng mà không có sự hỗ trợ đắc lực của các quỹ tự nguyện tư nhân khác Mạng lưới bảo hiểm tư nhân tự nguyện có thể được tạo điều kiện để phát triển thông qua việc soạn thảo các khoản giảm trừ thuế cho các khoản phí bảo hiểm tự nguyện mà người nộp thuế đã đóng góp cho các quỹ tự nguyện này

1.1.3.4 Thuế thu nhập cá nhân góp phần khắc phục tích lũy thoái của các sắc thuế gián thu

Nhược điểm của một số sắc thuế gián như thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt là tích lũy thoái mà ở đó tỷ trọng thuế gián thu từ người giàu đôi khi thấp hơn người nghèo Nhược điểm này là do thuế gián thu tính trong giá cả của hàng tiêu thụ và dịch vụ, Nhà nước thu thuế gián thu thông qua giá bán hàng, cung ứng dịch vụ; mức thu cố định trong mỗi đơn vị sản phẩm hàng hóa, dịch vụ Do đó khi tiêu thụ cùng một lượng hàng hóa, dịch vụ, bất kỳ người tiêu dùng nào không phân biệt giàu, nghèo, thu nhập cao hay thu nhập thấp đều phải chịu mức thuế như nhau Thuế TNCN với thuế suất lũy tiến góp phần khắc phục được tính lũy thoái của sắc thuế gián thu vì người có thu nhập càng cao sẽ nộp thuế càng nhiều và ngược lại21

1.1.3.5 Thuế thu nhập cá nhân góp phần quản lý thu nhập ngầm và góp phần phòng chống tội phạm

Thu nhập “ngầm” là khoản thu nhập được từ việc thực hiện các hoạt động

bất hợp pháp hoặc bằng cách lợi dụng những kẽ hở của pháp luật như: tham ô, hối

lộ, lừa đảo, chiếm đoạt tài sản của Nhà nước, của công dân; sản xuất, buôn bán, vận chuyển, tàn trữ hàng cấm, đây được xem là những hành vi vô cùng nguy hiểm cho

21 Lê Quang Cường, Nguyễn Kim Quyến (2013), Giáo trình thuế I, NXB Kinh tế Tp.HCM, tr.209

Trang 26

xã hội Thuế TNCN đóng vai trò không nhỏ trong việc ngăn chặn, đấu tranh góp phần hạn chế, loại bỏ những hành vi nguy hiểm đó

Về lý thuyết, các khoản thu nhập “ngầm” là một loại thu nhập được tạo ra từ

các hoạt động bất hợp pháp mà Nhà nước chưa kiểm soát được Tuy nhiên, trong quá trình quản lý thuế TNCN Nhà nước có phát hiện ra những khoản thu nhập ngầm Thông thường, việc phát hiện có thể xuất phát từ sự chênh lệch giữa thu nhập

kê khai và thu nhập trên thực tế Khi đó, cơ quan thuế sẽ phối hợp các cơ quan có liên quan để tiến hành xác minh, làm rõ những khoản chênh lệch đó và nguồn gốc của chúng

Qua quá trình phân tích và đánh giá vai trò của thuế TNCN có thể thấy sắc thuế này giữ vị trí khá quan trọng trong hệ thống thuế, đồng thời có vai trò rất quan trọng trong sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia Trải qua nhiều giai đoạn phát triển, thì thuế TNCN ngày càng khẳng định được vị thế, vai trò của mình trong thực tiễn, sắc thuế TNCN ở Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ

1.1.4 Nội dung cơ bản thuế thu nhập cá nhân

1.1.4.1 Đối tượng chịu thuế

Đối tượng chịu thuế là mục tiêu tác động của thuế, mỗi một sắc thuế có đối tượng chịu thuế riêng tùy theo tính chất và mục đích sắc thuế đó Đối với thuế TNCN nếu căn cứ vào các tiêu chí khác nhau của thu nhập thì thu nhập được phân chia thành: Thu nhập thường xuyên và thu nhập không thường xuyên; thu nhập hợp pháp và thu nhập bất hợp pháp; thu nhập thực tế đã phát sinh và thu nhập tiềm năng; thu nhập có tính phổ biến và thu nhập không có tính phổ biến; thu nhập Nhà nước

có tính kiểm soát và thu nhập Nhà nước chưa kiểm soát được; thu nhập của các tổ chức và thu nhập của các cá nhân; thu nhập phát sinh trong lãnh thổ quốc gia và thu nhập phát sinh ngoài lãnh thổ quốc gia22

Trước đây, theo Pháp lệnh thuế thu nhập cao, các nhà làm luật khi phân định thu nhập chịu thuế đã dựa trên tính chất ổn định của các khoản thu nhập Do đó, thu

22 Trần Đức Minh (2012), “Cơ sở xác định thu nhập chịu thuế trong pháp luật thuế thu nhập cá nhân dưới gốc

độ công bằng”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, (02), tr17

Trang 27

nhập chịu thuế được chia thành: thu nhập thường xuyên và thu nhập không thường xuyên23 Nhưng hiện nay, Luật thuế TNCN đã sử dụng cách thức xác định thu nhập chịu thuế dựa trên nguồn gốc phát sinh thu nhập, đây là cách thức đang được áp dụng phổ biến tại các quốc gia trên thế giới: như ở Thái Lan, thu nhập tính thuế chia làm 8 loại sau: 1) Thu nhập từ tiền lương, tiền công; 2) Thu nhập có bản chất tiền lương, tiền công; 3) Thu nhập từ bản quyền, từ tài sản vô hình, bằng sáng chế, phát minh, tiền nhận bút và các quyền tài sản khác; 4) Thu nhập có bản chất là tiền lãi cho vay, cổ tức, thu nhập từ đầu tư, giảm vốn góp, tiền lời vốn góp, lãi việc mua bán hoặc chuyễn nhượng cổ phiếu; 5) Thu nhập từ thuê tài sản, tiền lãi từ hợp đồng mua bán trả góp, hoặc hợp đồng thuê mua tài sản; 6) Thu nhập từ ngành nghề tự do như luật sư, kỹ sư, kiến trúc sư và kế toán; 7) Thu nhập từ hợp đồng làm việc trong trường hợp người nhận thầu cung cấp các nguyên vật liệu chính và các công cụ sản xuất; 8) Thu nhập từ kinh doanh, thương mại, nông nghiệp, công nghiệp, vận tải hoặc bất kỳ hoạt động kinh doanh khác ngoài lĩnh vực trên24 Ở Indonesia thu nhập chịu thuế chia thành thu nhập tiền lương, tiền công; thu nhập kinh doanh và ngành nghề tự do; thu nhập đầu tư Tại Trung Quốc thì thu nhập chịu thuế được phân loại

là thu nhập tiền công; thu nhập từ hành nghề độc lập; thu nhập đầu tư25

Tuy nhiên, không phải mọi khoản thu nhập của người nộp thuế đều dựa vào đối tượng tính thuế, khi quy định những khoản thu nhập chịu thuế thì những khoản thu nhập này phải là những khoản thu nhập hợp pháp, đã thực tế phát sinh và Nhà nước có thể kiểm soát được

Theo Luật thuế TNCN nước ta hiện nay thì đối tượng chịu thuế gồm 10 loại sau: thu nhập từ kinh doanh; thu nhập từ tiền lương, tiền công; thu nhập từ đầu tư vốn; thu nhập từ chuyển nhượng vốn; thu nhập từ chuyển bất động sản; thu nhập từ trúng thưởng; thu nhập từ bản quyền; thu nhập từ nhượng quyền thương mại; thu

25 Trần Đức Minh (2012), “Cơ sở xác định thu nhập chịu thuế trong pháp luật thuê thu nhập cá nhân dưới gốc

độ công bằng”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, (02), tr17.

Trang 28

nhập từ thuế; thu nhập từ quà tặng26 Trong đó đã loại trừ các khoản thu nhập không thuộc diện chịu thuế chủ yếu là các khoản trợ cấp, các khoản phụ cấp mang tính chất ưu đãi, khuyến khích của Nhà nước đối với các đối tượng chính sách xã hội; các khoản thu nhập mang tính chất bồi thường đền bù; các khoản thu nhập mang tính chất từ thiện nhân đạo

1.1.4.2 Đối tượng nộp thuế

Đối tượng nộp thuế TNCN là cá nhân cư trú có thu nhập chịu thuế phát sinh trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam và cá nhân không cư trú có thu nhập chịu thuế phát sinh trong lãnh thổ Việt Nam Trong đó, cá nhân cư trú là người có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên tính trong một năm dương lịch hoặc tròn 12 tháng liên tục; hoặc có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam, gồm nơi đăng ký thường trú hoặc có nơi thuê nhà để ở theo hợp đồng thuê có thời hạn, còn cá nhân không cư trú là người không có các điều kiện trên27 Việc phân biệt cá nhân cư trú vì mức điều tiết giữa hai đối tượng này rất khác nhau

1.1.4.3 Căn cứ tính thuế thu nhập cá nhân

Căn cứ tính thuế là cấu thành quan trọng của một sắc thuế Tùy thuộc vào nội dung, tính chất từng sắc thuế mà căn cứ tính thuế được quy định cụ thể khác nhau song đó, căn cứ tính thuế theo quy định Luật thuế TNCN nước ta hiện nay là thu nhập tính thuế và thuế suất

Thu nhập tính thuế được xác định bằng thu nhập chịu thuế: bao gồm 10 khoản thu nhập liệt kê tại Điều 3, Luật thuế TNCN năm 2007 sửa đổi, bổ sung

2012 Trong đó, quy định cách xác định thu nhập chịu thuế dựa vào nguồn gốc phát sinh thu nhập và có sự khác nhau giữa đối tượng nộp thuế là cá nhân cư trú và cá nhân không cư trú Bên cạnh thu nhập thuế thì luật có thêm quy định về giảm trừ gia cảnh trong một chừng mực nhất định nhằm động viên người nộp thuế cũng như làm giảm tính nhạy cảm của thuế TNCN và đảm bảo cho người nộp thuế đủ nhu cầu chi tiêu để tái sản xuất lao động

26 Xem Điều 3, Luật thuế TNCN năm 2007 sửa đổi, bổ sung năm 2012

27 Xem Điều 2, Luật thuế TNCN năm 2007 sửa đổi, bổ sung năm 2012

Trang 29

Đối với thuế sản xuất, Luật thuế TNCN hiện hành đã áp dụng thống nhất biểu thuế suất lũy tiến từng phần đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công áp dụng biểu thuế toàn phần đối với các khoản thu nhập còn lại

1.1.4.4 Quản lý thuế thu nhập cá nhân

Quản lý thuế là khâu tổ chức, phân công trách nhiệm cho các bộ phận trong

cơ quan thuế, xác lập mối quan hệ phối hợp giữa các bộ phận một cách hữu hiệu trong việc thực thi các chính sách thuế để ngày một nâng cao chất lượng cũng như hiệu quả thu cho ngân sách Nhà nước Bên cạnh đó, quản lý thuế góp phần tích cực hướng dẫn tuyên truyền chính sách thuế cho quần chúng nhân dân

Luật thuế TNCN quy định việc đăng ký thuế, kê khai, khấu trừ thuế, nộp thuế, quyết toán thuế, hoàn thuế và các biện pháp quản lý thuế được thực hiện trên

cơ sở kế thừa các quy định hiện hành và Luật quản lý thuế Mặc dù Luật quản lý thuế là văn bản chính thống cao nhất về quản lý toàn bộ hệ thống thuế nói chung Nhưng với thuế TNCN do có những đặc trưng riêng của nó nên việc quản lý thuế TNCN còn phải tuân thủ các quy định của Luật thuế TNCN

* Đăng ký thuế

Đăng ký thuế là việc người nộp thuế kê khai những thông tin của người nộp thuế theo mẫu quy định và nộp tờ khai cho cơ quan quản lý thuế để bắt đầu thực hiện nghĩa vụ về thuế với Nhà nước theo các quy định của pháp luật

Theo Điều 21, Luật quản lý thuế 2006 sửa đổi, bổ sung năm 2012 thì đối tượng đăng ký thuế bao gồm: tổ chức, hộ gia đình, cá nhân kinh doanh; cá nhân có thu nhập thuộc diện chịu thuế TNCN; tổ chức cá nhân có trách nhiệm khấu trừ và nộp thuế thay; tổ chức, cá nhân khác theo quy định của pháp luật về thuế Có thể hiểu, đăng ký thuế TNCN là thủ tục pháp lý mà theo đó người nộp thuế có thu nhập đến mức chịu thuế tiến hành kê khai những thông tin theo mẫu quy định và nộp tờ khai cho cơ quan quản lý thuế để bắt đầu thực hiện nghĩa vụ về thuế đối với Nhà nước theo quy định của pháp luật Việc quản lý về đăng ký thuế và cấp mã số thuế

do Tổng cục thuế chịu trách nhiệm

* Kê khai thuế thu nhập cá nhân

Trang 30

Kê khai thuế là cơ chế hành thu mà đối tượng nộp thuế tự kê khai, tự tính toán số thuế phải nộp của mình dựa trên sự tuân thủ tự nguyện chấp hành pháp luật

và chủ động nộp tờ khai thuế và nộp thuế cho Nhà nước theo số thuế mà mình đã tính toán đúng thời hạn28 Cơ quan không can thiệp vào việc thực hiện nghĩa vụ thuế của đối tượng nộp thuế nếu đối tượng nộp thuế tự giác tuân thủ nghĩa vụ Quy định này nhằm đề cao vai trò của người nộp thuế nhưng với phương thức này người nộp thuế có thể lợi dụng quy định này để gian lận thuế, trốn thuế Do đó, khi kê khai thuế, người nộp thuế phải kê khai chính xác, trung thực, đầy đủ các nội dung trong

tờ khai thuế Nếu có dấu hiệu nghi ngờ về sự chênh lệch giữa thu nhập thực tế phát sinh và thu nhập khai báo, cơ quan thuế sẽ cùng với cơ quan chức năng khác tiến hành xác minh, làm rõ nguồn gốc và xử lý theo quy định pháp luật

Hiện tại, ở Việt Nam các hình thức kê khai thuế TNCN gồm kê khai theo từng lần phát sinh, kê khai theo tháng, kê khai theo quý, kê khai theo năm29

* Quyết toán thuế thu nhập cá nhân

Theo Khoản 7, Điều 5, Luật quản lý thuế năm 2007 sửa đổi, bổ sung năm

2012 thì khi quyết toán thuế là việc xác định số thuế phải nộp của năm tính thuế hoặc thời gian từ đầu năm tính thuế đến khi chấm dứt hoạt động phát sinh nghĩa vụ thuế hoặc thời gian tính thuế từ khi phát sinh đến khi chấm dứt hoạt động phát sinh nghĩa vụ thuế theo quy định của pháp luật Hiện tại, đối với thuế TNCN chỉ có cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công, tuy nhiên các cá nhân này được quyền cho tổ chức chi trả quyết toán thay

* Nộp thuế thu nhập cá nhân

Nộp thuế TNCN là việc người nộp thuế vào ngân sách Nhà nước một khoản tiền nhất định, số tiền thuế mà người nộp thuế phải nộp sẽ dựa vào số thuế người nộp thuế đã kê khai hoặc cơ quan thuế ấn định

28 Nguyễn Ngọc Hùng, Tôn Thất Cảnh Hòa, Nguyễn Kim Quyến, Đặng Thị Bạch Vân (2012), Giáo trình

quản lý thuế 2, Nhà xuất bản kinh tế, trang 172

29 Xem Điều 30, Nghị định 65/2013/NĐ-CP, ngày 27/6/2013 Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết một

số Điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân và sửa đổi, bổ sung một số Điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân

2012

Trang 31

Hiện nay, ở Việt Nam và hầu hết các quốc gia trên thế giới đều tiến hành thu thuế TNCN theo 2 phương thức sau:

- Thứ nhất, phương pháp khấu trừ thuế tại nguồn: tổ chức, cá nhân chi trả thu

nhập sẽ quản lý TNCN đó và thực hiện khấu trừ trước khi trả thu nhập theo biểu lũy tiến từng phần và tạm nộp vào ngân sách Nhà nước Phương thức này thường áp dụng cho những khoản thu nhập phát sinh có tính chất ổn định như thu nhập từ tiền lương, tiền công

- Thứ hai, phương thức thu trực tiếp: là phương pháp mà theo đó người nộp

thuế, chủ yếu là các cá nhân có điều khoản thu nhập, cá nhân hành nghề tự do,người nước ngoài làm việc trong các văn phòng đại diện… tự kê khai thu nhập và gửi tờ khai thuế cho cơ quan thuế Cơ quan thuế xác định số tiền phải nộp dựa trên

tờ khai về thu nhập và về các khoản được khấu trừ, giảm trừ30

* Khấu trừ thuế thu nhập cá nhân

Khấu trừ thuế là việc tổ chức, cá nhân trả thu nhập thực hiện tính trừ số thuế phải nộp vào thu nhập của người nộp thuế trước khi trả thu nhập Theo Điều 28, Nghị định số 65/2013/NĐ-CP ngày 27/6/2013, của Chính phủ quy định chi tiết một

số điều của Luật thuế TNCN và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế TNCN năm 2012 (sau đây gọi tắc là Nghị định số 65/2013/NĐ-CP), các khoản thu nhập được khấu trừ bao gồm: TNCN không cư trú, bao gồm cả trường hợp không hiện diện tại Việt Nam; thu nhập từ tiền lương, tiền công, tiền thù lao, kể cả tiền thù lao từ hoạt động môi giới; TNCN từ hoạt động đại lý bảo hiểm, đại lý sổ số, bán hàng đa cấp; thu nhập từ đầu tư vốn; thu nhập từ chuyển nhượng vốn của cá nhân không cư trú, chuyển nhượng chứng khoán; thu nhập trúng thưởng; thu nhập từ bản quyền; thu nhập từ chuyển nhượng quyền thương mại

* Hoàn thuế thu nhập cá nhân

Hoàn thuế là việc Nhà nước trả lại số thuế mà đối tượng nộp thuế đã nộp cho ngân sách nhà nước trong một số trường hợp nhất định Theo Điều 8, Luật thuế

30 Lê Quang Cường, Nguyễn Kim Quyến (2013), Giáo trình thuế I, Nhà xuất bản Kinh tế TPHCM

Trang 32

TNCN năm 2007 sửa đổi, bổ sung năm 2012 cá nhân được hoàn thuế được áp dụng trong các trường hợp sau:

Thứ nhất, số tiền thuế đã nộp lớn hơn số tiền phải nộp

Thứ hai, cá nhân đã nộp thuế nhưng có thu nhập tính thuế chưa đến mức phải

số thuế phải nộp của kỳ tiêp theo Đối với cá nhân thuộc diện khai trực tiếp với cơ

quan thuế có thể lựa chọn hoàn thuế hoặc bù trừ vào kỳ sau tại cùng cơ quan thuế

số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn, trốn thuế, gian lận thuế

Đối với hành vi vi phạm thủ tục thuế, thời hiệu xử phạt là 2 năm kể từ ngày ban hành vi phạm được thực hiện Đối với hành vi trốn thuế, gian lận thuế chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, hành vi khai thiếu số thuế phải nộp hoặc tăng số thuế được hoàn, thời hiệu xử phạt là năm năm, kể từ ngày thực hiện hành vi vi phạm

Tuy nhiên, nếu quá thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính về thuế thì người nộp thuế không bị xử phạt nhưng vẫn phải nộp số tiền thuế thiếu, số tiền thuế trốn,

số tiền thuế gian lận, tiền chậm nộp tiền thuế vào ngân sách Nhà nước trong thời hạn 10 năm trở về trước, kể từ ngày phát hiện hành vi vi phạm Trường hợp người

Trang 33

nộp thuế không đăng ký thuế thì phải nộp đủ số tiền thuế thiếu, số tiền thuế trốn, số tiền thuế gian lận, tiền chậm nộp tiền thuế cho toàn bộ thời gian trở về trước, kể từ ngày phát hiện hành vi vi phạm

1.2 Thuế thu nhập cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh

1.2.1 Khái quát về cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh

1.2.1.1 Khái niệm về cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh

‘Cá nhân kinh doanh” hay “hộ kinh doanh” đều là những thuật ngữ thường

dùng để chỉ về người sản xuất, buôn bán chủ yếu dựa vào khả năng lao động của bản thân người lao động và khả năng của gia đình, tuy nhiên trong quá trình sản xuất, buôn bán vẫn có thể mướn lao động như thu nhập chủ yếu vẫn do sức lao động

và vốn của bản thân hoặc của hộ gia đình

Hiện nay, pháp luật chưa có định nghĩa cụ thể nào về “cá nhân kinh doanh”

Tuy nhiên thông qua các quy định tại Luật thương mại năm 2005, có thể nhận thấy

cá nhân kinh doanh có thể là cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh hoặc cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên không phải đăng ký kinh doanh, bao gồm:

- Buôn bán rong (buôn bán dạo) là các hoạt động mua, bán không có địa điểm cố định (mua rong, bán rong hoặc vừa mua rong, vừa bán rong), bao gồm cả việc nhận sách báo tạp chí, văn hóa phẩm của các thương nhân được phép kinh doanh các sản phẩm này theo quy định của pháp luật để bán rong

- Buôn bán vặt là hoạt động mua bán những vật dụng nhỏ lẻ có hoặc không

có địa điểm cố định

- Bán quà vặt là hoạt động bán quà bánh, đồ ăn nước uống (hàng nước) có hoặc không có địa điểm cố định

- Buôn chuyến là hoạt động mua hàng hóa từ nơi khác về theo từng chuyến

để bán cho người mua buôn hoặc người bán lẻ

- Thực hiện các dịch vụ: Đánh giày, bán vé số, chữa khóa, sửa chữa xe, trông

xe, giữ xe, rửa xe, cắt tóc, vẽ tranh, chụp ảnh và các dịch vụ khác có hoặc không có địa điểm cố định

Trang 34

- Các hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên không phải đăng ký kinh doanh khác31

Còn theo Luật thuế TNCN thì cá nhân kinh doanh được hiểu bao gồm: cá nhân, nhóm cá nhân, hộ gia đình có hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch

vụ thuộc tất cả các lĩnh vực, ngành nghề sản xuất, kinh doanh sau:

- Hành nghề độc lập trong những lĩnh vực, ngành nghề được cấp giấy phép hoặc giấy chứng chỉ hành nghề theo quy định của pháp luật

- Làm đại lý bán đúng giá đối với đại lý xổ số, đại lý bảo hiểm, bán hàng đa cấp của cá nhân trực tiếp ký hợp đồng với công ty xổ số kiến thiết, doanh nghiệp bảo hiểm, danh nghiệp bán hàng đa cấp

- Hợp tác kinh doanh với tổ chức

- Sản xuất kinh doanh nông nghiệp, lâm nghiệp, làm muối, nuôi trồng, đánh bắt thủy sản không đáp ứng điều kiện được miễn thuế32

Từ những phân tích trên có thể hiểu “cá nhân kinh doanh” có thể là một cá

nhân hay một nhóm cá nhân hay hộ gia đình có hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thuộc tất cả các lĩnh vực, ngành nghề sản xuất kinh doanh theo quy định của pháp luật

Đối với “hộ kinh doanh” thì “hộ kinh doanh” lần đầu tiên được pháp luật

Việt Nam công nhận tại Nghị định số 27/HĐBT Nghị định của Hội đồng Bộ trưởng ban hành ngày 09/3/1988 quy định về chính sách đối với kinh tế cá thể Kinh tế tư doanh sản xuất công nghiệp, dịch vụ công nghiệp xây dựng vận tải, theo bản quy định ban hành kèm theo Nghị định số 27/HĐBT, các đơn vị kinh tế cá thể, kinh tế

tư doanh được xem là các đơn vị kinh tế tự quản có điều kiện sản xuất và các vốn khác, tự quyết định mọi vấn đề sản xuất kinh doanh, tự chịu trách nhiệm về thu

Trang 35

nhâp, lỗ lãi Các đơn vị kinh tế này được tổ chức theo hình thức: Hộ cá thể, hộ tiểu công nghiệp, xí nghiệp kinh doanh Từ các hình thức này dần tiến tới hộ kinh doanh, doanh nghiệp tư nhân và các công ty ngày nay ở Việt Nam Hộ cá thể, theo bản quy định này có các điều kiện sau:

- Tư liệu sản xuất và các vốn khác thuộc quyền sở hữu của người đứng tên đăng ký kinh doanh;

- Chủ đăng ký kinh doanh phải là người lao động trực tiếp Những người lao động khác phải là bố mẹ, vợ chồng, hoặc những người thân khác có tên trong sổ đăng ký hộ khẩu của người đứng tên đăng ký kinh doanh;

- Thu nhập sau khi đóng thuế thuộc quyền sở hữu của chủ hộ;

Đối với tiểu công nghiệp thì phải đáp ứng đủ các điều kiện sau:

- Tư liệu sản xuất và các vốn khác thuộc sở hữu của chủ hộ;

- Được thuê mướn lao động theo hợp đồng thỏa thuận giữa chủ và người làm thuê;

- Chủ hộ là người lao động trực tiếp hoặc đóng vai trò chính về kỷ thuật sản xuất và tự điều hành sản xuất kinh doanh;

- Thu nhập sau khi đóng thuế và trả công cho người làm thuê thuộc sở hữu của chủ hộ

Có thể hiểu, đây chính là cá nhân kinh doanh hay thương nhân tiến hành hoạt động kinh doanh cho chính mình

Sau khi Luật doanh nghiệp năm 1999 ban hành thì “hộ cá thể”, được đổi tên thành “hộ kinh doanh cá thể” và được ghi nhận tại hai Nghị định của Chính phủ về

đăng ký kinh doanh là Nghị định số 02/2000/NĐ-CP, ngày 03/2/2000 và Nghị định

số 109/2004/NĐ-CP, ngày 02/4/2004 Theo đó “hộ kinh doanh cá thể” được định

nghĩa: “Hộ kinh doanh cá thể do một cá nhân hoặc hộ gia đình làm chủ, chỉ được

đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng không quá mười lao động, không có con dấu và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh”

Trang 36

Đến khi Luật doanh nghiệp năm 2005 ra đời thì một lần nữa sửa đổi tên “hộ

kinh doanh cá thể” thành “hộ kinh doanh” và được định nghĩa tại Nghị định số

88/2006/NĐ-CP, ngày 29/8/2004 của Chính phủ về đăng ký kinh doanh, Sau đó được thay thế bằng Nghị định số 43/2010/NĐ-CP, ngày 15/4/2010 của Chính phủ

về đăng ký kinh doanh Theo đó, hộ kinh doanh do một cá nhân là công dân Việt

Nam hoặc một nhóm người hoặc một gia đình làm chủ, chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng không quá mười người lao động, không có con dấu

và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh

So với quy định trước đây thì Nghị định số 43/2010/NĐ-CP, thu hẹp phạm vi

hộ kinh doanh lại, theo đó hộ kinh doanh nếu là cá nhân làm chủ thì phải là công dân Việt Nam

Khi Luật doanh nghiệp năm 2014 ra đời thay cho Luật doanh nghiệp năm

2005 mặc dù vẫn dùng thuật ngữ “hộ kinh doanh” nhưng tại Nghị định số

78/2015/NĐ-CP, ngày 19/4/2015 của Chính phủ về đăng ký kinh doanh đã có một

khái niệm rộng hơn trước Cụ thể, Điều 66, Nghị định số 78/2015/NĐ-CP: Hộ kinh

doanh do một cá nhân hoặc một nhóm người gồm cá nhân là công dân Việt Nam đủ

18 tuổi, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ đăng

ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng mười người lao động và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh So với Nghị định số

43/2010/NĐ-CP, ngày 15/4/2010 của Chính phủ thì Nghị định này tiếp tục thu hẹp lại chủ thể của hộ kinh doanh Theo đó, cá nhân hay nhóm cá nhân đều phải là công dân Việt Nam và phải đủ 18 tuổi, có đủ năng lực hành vi dân sự thì mới được phép

đăng ký hộ kinh doanh Như vậy, khái niệm “hộ cá thể” theo Nghị định số

27/HĐHT đã có nhiều thay đổi qua từng thời điểm và được ghi nhận trong từng thời điểm nêu trên

Từ định nghĩa mà tác giả diễn dẫn như trên về “hộ kinh doanh” Có thể hiểu,

hộ kinh doanh được chia thành ba loại dựa trên căn cứ vào chủ tạo lập ra nó: thứ

nhất, hộ kinh doanh do một cá nhân làm chủ, cá nhân này phải là công dân Việt

Nam và có đủ năng lực hành vi dân sự; thứ hai, hộ kinh doanh do một nhóm người

Trang 37

làm chủ những người này phải là công dân Việt Nam và có đủ năng lực hành vi dân

sự; thứ ba, hộ kinh doanh do hộ gia đình làm chủ

Tóm lại, có thể hiểu hộ kinh doanh có thể là cá nhân kinh doanh, cũng có thể

là hộ gia đình kinh doanh hoặc một nhóm người cùng nhau góp vốn, công sức để kinh doanh Bên cạnh đó, theo Nghị định số 78/2015/NĐ-CP đối với hộ gia đình sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, làm muối và những người bán hàng rong, quà vặt, buôn chuyến, kinh doanh lưu động, dịch vụ có thu nhập thấp mặc dù không đăng ký kinh doanh nhưng vẫn được xem là hộ kinh doanh

Từ những phân tích trên có thể thấy, “cá nhân kinh doanh” theo Luật thuế TNCN hay “hộ kinh doanh là những cá nhân hoặc nhóm cá nhân hộ gia đình có

thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh theo quy định của pháp luật

1.2.1.2 Đặc điểm cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh

Thứ nhất, về hình thức sở hữu: cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh có đặc

điểm khác với loại hình công ty Nếu đối với loại hình công ty, công ty là một thực thể tách biệt với chủ sở hữu, nhân doanh công ty để thực hiện hoạt động kinh doanh sản xuất chủ yếu dựa vào vốn, tài sản và sức lao động của bản thân hoặc những thành viên trong hộ và không có tư cách pháp nhân, hộ kinh doanh là một thực thể không tách biệt với chủ sở hữu, tự nhân danh mình thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh Mọi tài sản cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh đều là tài sản thuộc chủ sở hữu, cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh được hưởng toàn bộ lợi nhuận sau khi đã thực hiện các nghĩa vụ tài chính và thanh toán theo quy định của pháp luật

Thứ hai, cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh là hình thức kinh doanh quy

mô nhỏ Đặc điểm này không xuất phát từ bản chất bên trong của hình thức này mà xuất phát từ các quy định của pháp luật Việt Nam căn cứ vào số lượng lao động được sử dụng trong hộ kinh doanh33

Cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh theo Nghị định số 78/2015/NĐ-CP thì không được sử dụng trên mười lao động và chỉ được phép tiến hành kinh doanh tại một địa điểm, có nghĩa là mỗi cá nhân kinh

33 Ngô Huy Chương (2009), “Phân tích pháp luật về hộ kinh doanh để tìm ra bất cập”, Tạp chí Luật học, (25), Trang 23

Trang 38

doanh và hộ kinh doanh chỉ có thể một cửa hàng hoặc một cơ sản xuất đặt tại một địa phương nhất định, không được phép mở chi nhánh, những cửa hàng kinh doanh

ở địa phương khác

Thứ ba, cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh phải chịu trách nhiệm vô hạn

đối với các khoản nợ của mình bởi, do cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh, không phải là một thực thể độc lập, tách biệt với chủ nhân của nó34, nên về nguyên tắc phải chịu trách nhiệm vô hạn đối với khoản nợ của mình, có nghĩa là cá nhân hay chủ nhân của hộ kinh doanh phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình kể cả tài sản không đưa vào kinh doanh Nếu hộ kinh doanh do một hộ gia đình làm chủ, thì ngoài việc đưa tài sản kinh doanh để ra trả nợ, việc xác định trách nhiệm của từng thành viên hộ gia đình được xác định theo quy định của Bộ Luật dân sự năm

2015

Thứ tư, cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh hoạt động một số ngành nghề,

hình thức mua bán không bắt buộc phải đăng ký kinh doanh như: sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, làm muối và những người bán rong, quà vặt, buôn chuyến, kinh doanh lưu động, làm dịch vụ có thu nhập thấp không phải đăng ký kinh doanh, nhưng lại có tư cách như những cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh có đăng ký kinh doanh Những người này cũng là một thực thể không tách biệt với chủ sở hữu,

tự nhân danh mình thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh và cũng chịu trách nhiệm vô hạn đối với các khoản nợ của mình, đồng thời cũng phải thực hiện nghĩa

vụ thuế với cơ quan Nhà nước

1.2.2 Đặc trưng của thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân kinh doanh

và hộ kinh doanh

Ngoài những đặc trưng chung của thuế TNCN như một loại thuế trực thu, có

phạm vi đánh thuế rất rộng từ đối tượng chịu thuế đến người nộp thuế thì thuế

TNCN đối với cá nhân là công cụ phân phối thu nhập đảm bảo công bằng của xã

34 Ngô Huy Chương (2009), “Phân tích pháp luật về hộ kinh doanh để tìm ra bất cập”, Tạp chí Luật học, (25), Trang 23

Trang 39

hội và khắc phục tính lũy thoái của các sắc thuế gián thu thì thuế TNCN đối với cá

nhân kinh doanh và hộ kinh doanh là một loại thuế rất phức tạp và khó quản lý

Theo thông tin của Chính phủ, ở nước ta hiện 4 triệu hộ gia đình, cá nhân đang thực hiện hoạt động kinh doanh với quy mô hộ trên toàn quốc35, con số này chưa tính đến những cá nhân ngành nghề độc lập và những cá nhân, nhóm cá nhân hoặc hộ gia đình có thực hiện hoạt động kinh doanh nhưng Nhà nước không kiểm soát được như: buôn bán hàng rong; buôn bán vặt; thực hiện các dịch vụ: đánh giày, bán vé số, chữa khóa, sửa chữa xe, trông giữ xe, rửa xe, cắt tóc, vẽ tranh, chụp ảnh

và các dịch vụ khác có hoặc không có địa điểm cố định Tuy nhiên, nó lại chỉ chiếm khoản 2% tổng thu (trừ dầu) Ngân hàng Nhà nước trái ngược lại, nhân lực ngành thuế dùng để quản lý đối tượng này lên đến 60%36 Nguyên nhân dẫn đến công tác quản lý thuế đối với cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh phức tạp, tiêu tốn nhân lực một phần do hiện tại đại đa số các cá nhân hộ thường kinh doanh với dạng quy

mô vừa và nhỏ, hình thức sản xuất kinh doanh chủ yếu dựa vào vốn và sức lao động của bản thân nên còn hạn chế trong việc thực hiện chế độ kế toán cũng như sử dụng hóa đơn, chứng từ Từ đó cơ quan thuế rất khó xác định được doanh thu của các cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh cũng như việc xác định các khoản thu chi được trừ và không được trừ trong kỳ tính thuế dẫn đến việc thu thuế và xác định thu nhập của loại thuế này trở nên phức tạp và tiêu tốn nhiều nhân lực

1.2.3 Tầm quan trọng của thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân kinh

doanh và hộ kinh doanh

So với các loại thuế khác mặc dù không chiếm tỷ trọng cao trong tổng thu ngân sách Nhà nước (chỉ khoản 2% tổng thu ngân sách Nhà nước)37, nhưng trong điều kiện kinh tế nước ta hiện nay, do nhu cầu, chỉ tiêu phát triển kinh tế rất lớn nên

đã xảy ra tình trạng thiếu hụt ngân sách thì với 2% đó, thuế TNCN đối với cá nhân

Trang 40

kinh doanh và hộ kinh doanh cũng góp một phận quan trọng vào trong ngân sách Nhà nước Đồng thời nếu chúng ta có những phương pháp tổ chức, quản lý, thu thuế tốt đối với nhóm đối tượng này thì chắc chắn một lực lượng hùng hậu (khoảng 4 triệu cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh)38 nộp thuế thì sẽ đóng góp một phần không nhỏ vào ngân sách Nhà nước

Bên cạnh đó, thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh cũng góp phần quản lý hướng dẫn và khuyến khích phát triển sản xuất kinh doanh theo hướng phát triển của Nhà nước, bằng cách đều chỉnh mức nâng caohoặc hạ thấp mức thuế suất, miễn giảm thuế của những lĩnh vực, ngành nghề sản xuất kinh doanh Mặt khác, việc quản lý TNCN đối với cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh còn giúp Nhà nước kiểm tra, kiểm soát các ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh, từ đó giúp cho cơ quan quản lý kinh tế có định hướng phát triển ngành nghề phù hợp

Ngoài ra, việc thu thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh còn góp phần đảm bảo công bằng xã hội giữa các cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh cùng thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh và giữa các cá nhân và hộ kinh doanh có thu nhập từ hoạt động khác như: thu nhập từ tiền lương, tiền công, thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản, thu nhập từ trúng thưởng, xổ số

1.2.4 Lược sử phát triển đối với thuế thu nhập cá nhân kinh doanh và

hộ kinh doanh

Tùy từng giai đoạn phát triển mà pháp luật nước ta có những quy định khác nhau đối với thu nhập từ sản xuất kinh doanh của cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh Cụ thể như sau:

1.2.4.1 Trước khi có Luật thuế thu nhập cá nhân

Trước khi có Luật thuế TNCN, thì TNCN và hộ kinh doanh thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh được điều chỉnh bởi Luật thuế lợi tức năm 1990 và được sửa đổi, bổ sung năm 1993 (tiền thân của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp) Trong giai đoạn này, đất nước ta vừa mới chuyển đổi từ kinh tế tập trung quan liêu, bao

38 Trang Thời báo kinh tế Sài Gòn online, Doanh thu trên 150 triệu, cá nhân mới đóng thuế, Minh Tâm, http://www.thesaigontimes.vn/135245/De-xuat-doanh-thu-tren-150-trieu-ca-nhan-moi-dong-thue.html, [ngày truy cập 13/3/2017]

Ngày đăng: 06/06/2018, 23:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w