1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Pháp luật về bảo hiểm tiền gửi từ góc độ bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền tại các tổ chức tín dụng

86 241 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 706,45 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy, việc tập trung nghiên cứu để hoàn thiện hơn các quy định của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi nhằm bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền tại các tổ chức tín dụng trong giai đoạn hiện

Trang 1

kiện để tôi hoàn thành việc học cũng như thực hiện tốt luận văn này

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến PGS.TS Lê Vũ Nam – Người thầy đã tận tình hướng dẫn, dành thời gian quý báo của mình để chỉ bảo tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu luận văn Những kiến thức bổ ích đó đã chỉ dạy, giúp tôi

có thêm nhiều kinh nghiệm không chỉ trong suốt thời gian làm luận văn mà còn vận dụng vào cuộc sống và công việc

Xin gửi lời cảm ơn đến tất cả quý thầy cô đã nhiệt tình truyền đạt kiến thức cho tôi trong suốt thời gian qua, đó chính là cơ sở, nền tảng giúp tôi có thể hoàn thành tốt luận văn này

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến bạn bè, những người đã ủng hộ, khích

lệ tôi trong suốt quá trình làm luận văn

Chân thành cảm ơn tất cả!

Ngày 15 tháng 6 năm 2017

Tác giả luận văn

Huỳnh Hồng Duy

Trang 2

Tôi tên: Huỳnh Hồng Duy, mã số học viên 7701250405A là học viên lớp

LOP_K25_MBL_CaMau; khóa K25-2 chuyên ngành Luật Kinh tế, Khoa Luật, Trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh, là tác gia luận văn thạc sĩ luật học với đề tài “Pháp luật về bảo hiểm tiền gửi từ góc độ bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền tại các tổ chức tín dụng”

Tôi xin cam đoan tất cả các nội dung được trình bày trong luận văn này là kết quả nghiên cứu độc lập của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn của người hướng dẫn khoa học Trong Luận văn có sử dụng, trích dẫn một số ý kiến, quan điểm khoa học của một số tác giả Các thông tin này đề được trích dẫn nguồn cụ thể, chính xác và

có thể kiểm chứng Các số liệu, thông tin được sử dụng trong Luận văn hoàn toàn có tính khách quan và trung thực

TÁC GIẢ

Huỳnh Hồng Duy

Trang 3

STT Chữ viết tắt Nguyên văn

Trang 4

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2

3 Mục đích, đối tượng nghiên cứu, giới hạn phạm vi nghiên cứu 3

3.1 Mục đích nghiên cứu 3

3.2 Giới hạn đối tượng, phạm vi nghiên cứu nghiên cứu 3

4 Các phương pháp tiến hành nghiên cứu 4

5 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài 4

6 Kết cấu của luận văn 4

CHƯƠNG 1 5

TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM TIỀN GỬI VÀ 5

PHÁP LUẬT BẢO HIỂM TIỀN GỬI 5

1.1 Lý luận chung về bảo hiểm tiền gửi 5

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của bảo hiểm tiền gửi 5

1.1.2 Phân loại bảo hiểm tiền gửi 12

1.1.3 Vai trò của BHTG 14

1.1.4 Sự cần thiết phải bảo hiểm tiền gửi 18

1.1.5 Các mô hình hoạt động của tổ chức bảo hiểm tiền gửi: 19

1.2 Khái quát pháp luật về bảo hiểm tiền gửi: 22

1.2.1 Khái niệm pháp luật về bảo hiểm tiền gửi: 22

1.2.2 Quan hệ pháp luật về bảo hiểm tiền gửi: 23

1.2.3 Pháp luật bảo hiểm tiền gửi là công cụ quan trọng bảo vệ người gửi tiền 25

1.3 Tổng quan về người gửi tiền tại các tổ chức tín dụng 26

1.3.1 Khái niệm người gửi tiền 26

1.3.2 Phân loại người gửi tiền 26

1.3.3 Các quyền và lợi ích của người gửi tiền tại các TCTD 27

1.3.4 Sự cần thiết bảo vệ quyền và lợi ích của người gửi tiền 29

Trang 5

CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG 32

2.1 Thực trạng các quy định pháp luật bảo hiểm tiền gửi dưới góc độ bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền 32

2.1.1 Quy định về chủ thể tham gia quan hệ bảo hiểm tiền gửi 33

2.1.2 Các quy định về loại tiền gửi, phí bảo hiểm tiền gửi và hạn mức chi trả bảo hiểm tiền gửi 43

2.1.3 Hoạt động đầu tư của Bảo hiểm tiền gửi 49

2.1.4 Quy định về thời điểm tổ chức BHTG có nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm cho người gửi tiền và thủ tục chi trả bảo hiểm 50

2.2 Kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật bảo hiểm tiền gửi nhằm bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền 55

2.2.1 Sự cần thiết của việc hoàn thiện các quy định pháp luật BHTG trong việc bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền 55

2.2.2 Các nguyên tắc và định hướng cơ bản hoàn thiện các quy định pháp luật bảo hiểm tiền gửi trong việc bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền 60

2.2.3 Một số kiến nghị hoàn thiện các quy định pháp luật bảo hiểm tiền gửi nhằm bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền 61

2.2.4 Các giải pháp hỗ trợ cho việc hoàn thiện pháp luật về BHTG 71

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 74

KẾT LUẬN 75 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong giai đoạn đất nước đang thực hiện công cuộc đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hóa thì nhu cầu huy động các nguồn vốn từ các tổ chức tín dụng ngày càng tăng lên theo xu thế phát triển của xã hội Kèm theo sự tăng lên về nhu cầu đó

là những rủi ro trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ này cũng tăng lên do quá trình cạnh tranh trong hoạt động kinh doanh

Trong khi các tổ chức tín dụng thường là một bộ máy to lớn với nhiều khâu quản lý, điều hành chuyên nghiệp thì người gửi tiền ở đây đơn thuần chỉ là những tổ chức, cá nhân với những khoản tiền gửi nhằm mục đích chủ yếu là gửi tiết kiệm, đầu tư sinh lời Đặc biệt, đối với người gửi tiền là các cá nhân thì đó là những khoản tiền dành dụm, chắt chiu của họ gửi gắm niềm tin vào ngân hàng vì muốn sự an toàn cho số tiền gửi của họ thì việc bảo vệ quyền, lợi ích của những con người này

là việc làm hết sức cần thiết và ý nghĩa Họ cần một cơ chế để bảo vệ cho họ khi mà nơi họ đã tin tưởng, đặt niềm tin khi tham gia gửi tiền gặp sự cố trong kinh doanh, không còn khả năng thanh toán cho số tiền họ đã bỏ ra

Hiện nay, để tồn tại và phát triển, các Tổ chức tín dụng (TCTD) phải nổ lực cạnh tranh bằng nhiều hình thức khác nhau để có thể kêu gọi các nguồn vốn từ bên ngoài có hiệu quả nhất, từ đó tạo thêm điều kiện thuận lợi cho người gửi tiền càng

có nhiều sự lựa chọn, hưởng được nhiều chính sách ưu đãi hơn từ các TCTD Ngoài

ra, trong bối cảnh Việt Nam đang ra sức tham gia hội nhập với nền kinh tế thế giới, bên cạnh những thuận lợi, những ưu đãi mà Việt Nam được hưởng trong quá trình này thì những khó khăn, thách thức và sức ép to lớn từ hội nhập, việc các TCTD nước ngoài với nguồn, tiềm năng vốn dồi dào được tự do cạnh tranh với các TCTD trong nước là thử thách khó khăn, to lớn đối với các ngân hàng nhỏ, các ngân hàng chưa có chiến lược cạnh tranh phù hợp, rỏ ràng của Việt Nam Hậu quả là sự tồn tại

và phát triển của các TCTD có năng lực cạnh tranh thấp, quy mô vốn, năng lực quản lý chưa đủ sức phòng ngừa, xử lý những rủi ro đối với những hệ lụy xảy ra trong quá trình cạnh tranh,… có nguy có rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán,

Trang 7

gây thiệt hại cho toàn hệ thống các tổ chức tín dụng và ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của người gửi tiền là điều không tránh khỏi Một trong những công cụ để phòng ngừa rủi ro đối với hoạt động của các TCTD đang được áp dụng phổ biến hiện nay

đó là Bảo hiểm tiền gửi (BHTG)

Có vai trò hết sức quan trọng với sự tồn tại, phát triển của hệ thống các TCTD và nền kinh tế của đất nước Tuy nhiên, khung pháp lý về bảo hiểm tiền gửi vẫn còn nhiều bất cập, tồn tại và chưa phù hợp với thông lệ quốc tế, chưa bảo vệ lợi ích của nhà đầu tư Tác giả nhận thấy việc nghiên cứu và đánh giá một cách toàn diện pháp luật bảo hiểm tiền gửi trên phương diện pháp lý, có sự đối chiếu với thực tiễn để làm rỏ những ưu điểm và những hạn chế, tồn tại của pháp luật Việt Nam hiện hành về Bảo hiểm tiền gửi dưới góc độ bảo vệ quyền và lợi ích của người gửi tiền, từ đó đưa ra những kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo hiểm tiền gửi của Việt Nam là việc làm cần thiết và có ý nghĩa thiết thực Từ những lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài “Pháp luật về Bảo hiểm tiền gửi từ góc độ bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền tại các tổ chức tín dụng” để làm luận văn tốt nghiệp cao học ngành luật của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Xét về góc độ đảm bảo an toàn cho tiền gửi đã có nhiều tác giả, bài viết nghiên cứu lựa chọn làm đề tài khoa học, luận văn tốt nghiệp như “Các giải pháp phát triển hoạt động bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam”- Luận án tiến sĩ kinh tế của tác giả Nguyễn Thị Kim Oanh, bảo vệ tại Học viện Quốc gia vào năm 2004; “Giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam” – Luận văn thạc sĩ kinh

tế của tác giả Nguyễn Thị Thu Hiền, bảo vệ tại Học viện chính sách và phát triển của Bộ Kế hoạch và Đầu tư vào năm 2014,… Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trên chủ yếu nghiên cứu ở góc độ các vấn đề kinh tế, không tập trung trọng tâm vào các quy định của pháp luật, các vấn đề pháp lý đặt ra trong giai đoạn hiện nay

Bên cạnh đó cũng có một số công trình nghiên cứu ở góc độ pháp luật về bảo hiểm tiền gửi như “Pháp luật về hoạt động bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam” luận án tiến sĩ của tác giả Hoàng Thu Hằng, bảo vệ tại trường Đại học Quốc gia Hà Nội

Trang 8

vào năm 2013; “Bảo hiểm tiền gửi – quy định của pháp luật và áp dụng thực tiễn” – Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị Diệu Linh, bảo vệ tại trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh vào năm 2009;… các nghiên cứu trên cũng chỉ tập trung giải quyết các vấn đề pháp luật về bảo hiểm tiền gửi, chưa nghiên cứu sâu đến các quyền lợi, lợi ích khác về pháp luật liên quan đến người gửi tiền

Vì vậy, việc tập trung nghiên cứu để hoàn thiện hơn các quy định của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi nhằm bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền tại các tổ chức tín dụng trong giai đoạn hiện nay, giai đoạn Việt Nam đang ra sức hội nhập với nền kinh tế chung của thế giới thì đây là việc làm hết sức cần thiết

3 Mục đích, đối tượng nghiên cứu, giới hạn phạm vi nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Tác giả tập trung nghiên cứu các vấn đề còn bất cập, vướng mắc về pháp luật hiện hành của bảo hiểm tiền gửi đang tác động trực tiếp, gián tiếp đến quyền lợi của người gửi tiền tại các TCTD Tìm hiểu những khó khăn, trăn trở của người gửi tiền

để làm rỏ hơn các hạn chế của hệ thống pháp luật về bảo hiểm tiền gửi hiện nay; đồng thời đề xuất một số giải pháp của bản thân nhằm tiếp tục phát huy những ưu điểm và giải pháp khắc phục các hạn chế, khuyết điểm để góp phần hoàn thiện hơn

hệ thống pháp luật về bảo hiểm tiền gửi, tạo niềm tin cho người gửi tiền khi gửi tiền tại các tổ chức tín dụng, giúp họ yên tâm sản xuất, lao động và kinh doanh,… góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

3.2 Giới hạn đối tượng, phạm vi nghiên cứu nghiên cứu

Luận văn sẽ tập trung nghiên cứu thực tiễn việc áp dụng pháp luật về bảo hiểm tiền gửi trong việc bảo vệ quyền, lợi ích của người gửi tiền tại các TCTD Các chủ thể tham gia quan hệ bảo hiểm tiền gửi, loại tiền được bảo hiểm, phí bảo hiểm tiền gửi, hạn mức chi trả bảo hiểm tiền gửi, thời điểm chi trả bảo hiểm và thủ tục chi trả bảo hiểm tiền gửi khi có sự kiện bảo hiểm phát sinh Từ đó lý giải những nội dung mang tính thực tiễn về thực trạng pháp luật bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam Dưới góc độ nhìn nhận, đánh giá những thành tựu cũng như hạn chế của những quy

Trang 9

định về những vấn đề trên, luận văn sẽ đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam

4 Các phương pháp tiến hành nghiên cứu

Trong bài nghiên cứu này, tác giả sử dụng biện pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để giải quyết các vấn đề khoa học và thực tiễn một cách toàn diện nhất Ngoài ra, luận văn sẽ phân tích các vấn đề và tìm ra phương hướng giải quyết trên nguyên tắc tổng hợp, thống kê các thông tin thu thập, so sánh nhiều thông tin khác nhau nhằm đảm bảo tính chính xác, thực tế của các vấn đề và cách giải quyết trong khuôn khổ luận văn này

5 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài

Luận văn nghiên cứu các vấn đề trên cơ sở khoa học và thực tiễn, các vấn đề

và cách giải quyết của tác giả hi vọng góp phần hoàn thiện hơn hệ thống pháp luật

về bảo hiểm tiền gửi nhằm bảo vệ quyền, lợi ích của người gửi tiền tại các TCTD, tạo thêm niềm tin của người gửi tiền đối với các TCTD

Sau khi nghiên cứu hoàn thành, luận văn cũng có thể là tài liệu để các cá nhân, tổ chức có nhu cầu nghiên cứu đến lĩnh vực này tìm đến, phục vụ nhu cầu cá nhân hoặc nhu cầu giảng dạy, học tập,… Đặc biệt, đây là hành trang quan trọng đối với tác giả trong việc nghiên cứu cao hơn về lĩnh vực này trong thời gian tới

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được chia thành 02 chương, bao gồm:

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM TIỀN GỬI VÀ PHÁP LUẬT BẢO HIỂM TIỀN GỬI

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM TIỀN GỬI VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN NHẰM BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI GỬI TIỀN

Trang 10

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM TIỀN GỬI VÀ PHÁP LUẬT BẢO HIỂM TIỀN GỬI

1.1 Lý luận chung về bảo hiểm tiền gửi

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của bảo hiểm tiền gửi

1.1.1.1 Khái niệm bảo hiểm tiền gửi

Nói đến lịch sử hình thành các khái niệm cơ bản về bảo hiểm tiền gửi thì Mỹ

là một trong những quốc gia tiên phong trên thế giới trong hình thành các hình thức

về bảo vệ tiền gửi, “Mỹ là quốc gia đầu tiên trên thế giới hình thành hệ thống BHTG Tổng Công ty BHTG Liên bang Mỹ (FDIC) thành lập ngày 16/6/1993 Tính đến nay, số TCTD hiện tại đang hoạt động và đang được bảo lãnh bởi FDIC lên tới 6656”1

Nguồn gốc ra đời của BHTG là xuất phát từ hoạt động “bảo vệ tiền gửi công khai” Bảo vệ tiền gửi công khai là chính sách đảm bảo tất cả hoạt một phần tiền gửi cùng với tiền lãi nhập gốc trên tài khoản tiền gửi sẽ được thanh toán cho người gửi tiền theo cơ chế hợp đồng hoặc cam kết công khai2 Bảo vệ tiền gửi công khai xuất hiện đầu tiên ở New York vào năm 1892 với tên gọi “Chương trình bảo hiểm trách nhiệm ngân hàng”3

Còn theo quy chế bảo hiểm của Công ty BHTG Canada, quy định:

Bảo hiểm tiền gửi bảo vệ những khoản tiền gửi quy định tại các tổ chức thành viên của hệ thống bảo hiểm tiền gửi trong trường hợp tổ chức thành viên bị phá sản Nếu một tổ chức thành viên bị phá sản, công ty bảo hiểm tiền gửi sẽ đứng

ra bồi thường cho thành viên bị phá sản, công ty bảo hiểm tiền gửi sẽ đứng ra bồi thường cho những người gửi tiền tại tổ chức đó

1 Nguyễn Thị Thu Trang, “Hoạt động bảo hiểm tiền gửi (BHTG), kinh nghiệm một số nước trên thế giới”,

http://dainam.edu.vn/hoat-dong-bao-hiem-tien-gui-bhtg-kinh-nghiem-mot-so-nuoc-tren-the-gioi.htm Truy cập này 20/3/2017

2 Nguyễn Thị Kim Oanh(2009), “Nghiên cứu bảo hiểm tiền gửi trên thế giới”, Bản tin Đại học quốc gia Hà Nội, (số 220), tr.21

3

Nguyễn Thị Kim Oanh (2009), tlđd số 220, tr.30

Trang 11

Nhìn chung, BHTG là một loại dịch vụ bảo hiểm, theo đó nghĩa vụ chi trả trong tương lai các khoản tiền gửi của người gửi tiền tại các tổ chức tham gia BHTG được bảo đảm khi các tổ chức này gặp rủi ro dẫn đến tình trạng mất khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn Khi tham gia tổ chức BHTG, các tổ chức huy động tiền gửi phải đóng góp một khoản chi phí nhất định theo một định kỳ nhất định, khoản chi phí này là một trong những nền tảng cơ bản duy trì hoạt động của tổ chức BHTG Trường hợp các tổ chức huy động tiền gửi bị phá sản, bị lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán, tổ chức BHTG sẽ đứng ra thanh toán một số tiền phù hợp với hạn mức chi trả tối đa theo quy định của pháp luật cho người gửi tiền tại các tổ chức huy động tiền gửi đó

Ở Việt Nam, Nghị định số 89/1999/NĐ-CP của Chính phủ ngày 01 tháng 9 năm 1999 về BHTG và Nghị định số 109/2005/NĐ-CP của Chính phủ, ngày 24 tháng 8 năm 2005 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 89/1999/NĐ-CP ngày 01 tháng 9 năm 1999 đã không đưa ra khái niệm về BHTG Mãi đến khi Luật BHTG được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 18 tháng 6 năm 2012 (Luật bảo hiểm tiền gửi năm 2012) Việt Nam chính thức có khái niệm đầu tiên về BHTG: “Bảo hiểm tiền gửi là sự bảo đảm hoàn trả tiền cho người được bảo hiểm tiền gửi trong hạn mức trả tiền bảo hiểm khi tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi lâm vào tình trạng mất khả năng chi trả tiền gửi cho người gửi tiền hoặc phá sản”4 Khái niệm này đã xác định rỏ thời điểm tổ chức BHTGVN có nghĩa

vụ chi trả trong hạn mức cho người gửi tiền là khi tổ chức tham gia BHTG lâm và tình trạng mất khả năng chi trả tiền gửi cho người gửi tiền hoặc phá sản

1.1.1.2 Đặc điểm của bảo hiểm tiền gửi:

BHTG là một loại hình bảo hiểm đặc biệt chỉ xuất hiện trong nền kinh tế thị trường Bên cạnh những đặc tính, bản chất chung của hình thức bảo hiểm là một phương thức chia sẻ hoặc giảm thiểu rủi ro bằng cách biến tổn thất cá thể thành tổn thất cộng đồng và có thể dự tính, ngăn ngừa, hạn chế rủi ro thì BHTG còn có những nét khác biệt, mang tính chất đặc thù, được thể hiện như sau:

4

Khoản 1 Điều 4 Luật BHTG năm 2012

Trang 12

Thứ nhất, BHTG là loại nghiệp vụ bảo hiểm phi thương mại: Thông thường

tổ chức đứng ra thực hiện nhiệm vụ BHTG là các định chế do nhà nước thành lập và cấp vốn hoạt động Các tổ chức này thường hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận

mà vì mục tiêu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền, góp phần duy trì sự ổn định của toàn hệ thống ngân hàng Ngoài những mục tiêu chính đó, hoạt động BHTG còn tạo ra một môi trường cạnh tranh để các ngân hàng nhỏ, mới thành lập có thể cạnh tranh được với các ngân hàng có quy mô lớn, lâu đời; tăng cường tiết kiệm và khuyến khích tăng trưởng kinh tế; xác định mức độ can thiệp của Chính phủ đối với các thiệt hại xảy ra khi một các tổ chức tín dụng bị mất khả năng thanh toán hoặc phá sản Hoạt động này không nhằm mục tiêu sinh lời mà thực hiện những mục tiêu xã hội, vì lợi ích chung của cộng đồng Điều này giúp phân biệt BHTG với các loại hình bảo hiểm khác hoạt động theo luật kinh doanh bảo hiểm như bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm tài sản,… Hiện nay, có hơn 33 quốc gia tổ chức BHTG theo hình thức này5 Tuy nhiên, ở ở một số nước, BHTG là hoạt động bảo hiểm mang tính thương mại, thực hiện theo nguyên tắc hạch toán Điển hình là BHTG tại Đức, quỹ BHTG do hiệp hội ngân hàng thương mại (NHTM) Đức tổ chức6 Quỹ bảo hiểm tiền gửi được thành lập với mục đích tương trợ các ngân hàng hội viên để đảm bảo an toàn cho hệ thống Các ngân hàng thành viên của hiệp hội

có nghĩa vụ đóng góp phí bảo hiểm vào quỹ bảo hiểm Tổ chức thực hiện BHTG có quyền tiến hành đầu tư tìm kiếm lợi nhuận dựa trên vốn nhàn rỗi đó

Thứ hai, BHTG là loại hình dịch vụ thuộc hàng hóa công không thuần túy7, BHTG hoạt động nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của người gửi tiền tại các TCTD, mang tính chất bảo vệ lợi ích chung của cộng đồng Xuất phát từ một trong các mục đích của hoạt động BHTG là góp phần đảm bảo tính ổn định của hệ thống tài chính quốc gia, người thụ hưởng dịch vụ BHTG là toàn xã hội

5

Bùi Thị Kim Ngân (2010), Kinh nghiệm của tổ chức bảo hiểm tiền gửi Hoa Kỳ trong việc xử lý các ngân hàng bị đỗ vỡ và bài học cho Việt Nam, Luận văn Thạc sỹ Kinh tế, Đại học Ngoại thương, tr.5

6 Đại học Luật Hà Nội (2010), Giáo trình Luật ngân hàng Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, tr.14

7 Nguyễn Thị Kim Oanh (2004), Các giải pháp phát triển hoạt động bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam, luận án

tiến sỹ kinh tế,bảo vệ tại Học viện ngân hàng năm 2004, tr.9

Trang 13

Tổ chức BHTG có trách nhiệm chi trả tiền bảo hiểm cho người gửi tiền tại các TCTD có tham gia BHTG khi các TCTD đó mất khả năng thanh toán Tổ chức nhận tiền gửi cũng là đối tượng được hưởng lợi từ dịch vụ BHTG ở chổ tính ổn định của hệ thống tài chính giúp cho họ sử dụng tiền vay được an toàn và có trách nhiệm hơn đối với những khoản tiền đó Chính vì đặc tính không loại trừ thụ hưởng tuyệt đối mà dịch vụ BHTG được xếp vào hàng hóa không thuần túy Bên cạnh đó, hoạt động BHTG cũng như của tổ chức BHTG không chịu sự điều chỉnh của Luật Bảo hiểm như các loại bảo hiểm tài sản khác mà theo quy định của Luật chuyên ngành như Luật ngân hàng, Luật bảo hiểm tiền gửi,

Thứ ba, BHTG là loại hình bảo hiểm trách nhiệm dân sự: Bởi nghĩa vụ thực hiện trách nhiệm chi trả tiền bảo hiểm cho người gửi tiền của các TCTD chính là một trách nhiệm dân sự và BHTG là tổ chức đứng ra làm thay cho các TCTD những nghĩa vụ đó Trách nhiệm dân sự này phát sinh từ hợp đồng huy động tiền gửi được

ký kết giữa người gửi tiền và các TCTD Khác với các loại bảo hiểm thương mại như bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm tài sản,… một khi TCTD huy động tiền gửi có tham gia BHTG mà bị mất khả năng thanh toán thì trong hoạt động BHTG, trách nhiệm này sẽ được chuyển giao cho tổ chức BHTG Số tiền vượt quá hạn mức chi trả tiền gửi được bảo hiểm cho mỗi khoản tiền gửi của người gửi tiền sẽ được nhận trong quá trình thanh lý, tổ chức tham gia BHTG với thứ tự ưu tiên về vị trí chủ nợ theo quy định của pháp luật về giải thể hoặc phá sản

Thứ tư, chủ thể tham gia BHTG là những chủ thể đặc thù: khác với các loại hình bảo hiểm khác như bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm tài sản,… (gọi chung là các loại hình bảo hiểm thương mại), thì chủ thể tham gia BHTG có nhiều điểm đặc thù hơn Cụ thể là khi gửi tiền vào các tổ chức nhận tiền gửi, người gửi tiền không phải làm các thủ tục để tham gia BHTG Chỉ có tổ chức nhận tiền gửi mới có trách nhiệm tham gia BHTG Người gửi tiền sẽ đương nhiên được tổ chức BHTG bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp khi tổ chức nhận tiền gửi mất khả năng thanh toán hoặc phá sản Tuy nhiên, không có bất kỳ hợp đồng bảo hiểm nào được hình thành giữa người gửi tiền và tổ chức BHTG

Trang 14

Một điểm đáng lưu ý nữa là người nộp phí BHTG trong mọi trường hợp luôn tách rời với người thụ hưởng bảo hiểm Người nộp phí BHTG luôn là tổ chức huy động tiền gửi Còn người gửi tiền trong mọi trường hợp luôn là người thụ hưởng bảo hiểm

Thứ năm, đối tượng được bảo hiểm là nghĩa vụ thanh toán các khoản tiền gửi tại các tổ chức có hoạt động huy động tiền gửi: Trong khi đối tượng được bảo hiểm của các bảo hiểm thương mại khác chính là tính mạng, sức khỏe, tài sản,… được thỏa thuận trực tiếp giữa doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm với người tham gia bảo hiểm Sau khi hợp đồng bảo hiểm đã được hình thành thì việc bảo hiểm của BHTG được phát sinh một cách tự động Đó là nghĩa vụ thanh toán các khoản tiền gửi của

tổ chức nhận tiền gửi đối với người gửi tiền

Việc xác định loại tiền gửi nào được bảo hiểm là cơ sở tính phí BHTG định

kỳ phụ thuộc vào chính sách tiền tệ của mỗi quốc gia Nguyên tắc hoạt động BHTG nói chung là bảo vệ quyền lợi người gửi tiền, đặc biệt là những người gửi tiền với số lượng không lớn Tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi của cá nhân bằng nội tệ là loại tiền gửi mà đến nay tất cả các hệ thống BHTG trên thế giới đều bảo vệ Việc loại trừ những khoản tiền gửi được bảo hiểm cũng như quy định mức BHTG tối đa nhằm giảm thiểu rủi ro cho tổ chức BHTG và nâng cao trách nhiệm quản lý hoạt động kinh doanh của các tổ chức tham gia BHTG Các khoản tiền gửi không được bảo hiểm thường là bằng ngoại tệ hoặc tiền của các tổ chức Việc quyết định bảo hiểm cho đồng ngoại tệ hay không là một vấn đề cần nghiên cứu kỹ đối với mỗi quốc gia

Ở những quốc gia mà tiền gửi bằng ngoại tệ chiếm tỷ lệ thấp, các giao dịch chủ yếu được thực hiện thông qua đồng nội tệ thì việc loại trừ đối tượng bảo hiểm là đồng ngoại tệ là điều dễ dàng được chấp nhận Còn ở những nước đang phát triển, việc loại trừ bảo hiểm đối với đồng ngoại tệ thường gắn với lý do là nhằm ngăn chặn tình trạng đô la hóa hoặc ngoại tệ hóa nền kinh tế

Thứ sáu, cơ sở pháp lý ràng buộc trách nhiệm của các chủ thể tham gia BHTG được quy định cụ thể trong các văn bản quy phạm pháp luật: Các sản phẩm bảo hiểm thương mại khác cũng là các văn bản quy phạm pháp luật nhưng đó là

Trang 15

những văn bản pháp luật quy định về vấn đề kinh doanh trong lĩnh vực bảo hiểm

Khác với các dịch vụ bảo hiểm thương mại khác, trong quan hệ BHTG sẽ không có việc thỏa thuận giữa tổ chức tham gia BHTG và tổ chức BHTG, giữa người gửi tiền và tổ chức BHTG Tổ chức tham gia BHTG, người gửi tiền cũng như

tổ chức BHTG không thể tự thỏa thuận với nhau để thay đổi một nội dung nào đó nếu không đồng ý, do đó không xuất hiện hợp đồng BHTG giữa tổ chức BHTG và các tổ chức tham gia BHTG vì hợp đồng phải dựa trên cơ sở thỏa thuận, còn mối quan hệ giữa các chủ thể tham gia BHTG là theo hình thức bắt buộc, BHTG là loại hình dịch vụ thực hiện chính sách công của Nhà nước với mục tiêu là bảo vệ người gửi tiền, góp phần đảm bảo sự phát triển an toàn và lành mạnh của hệ thống tài chính – ngân hàng, nên ở đây hoàn toàn không có sự cạnh tranh trong lĩnh vực hoạt động BHTG như các sản phẩm bảo hiểm thương mại khác Khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, việc thanh toán của tổ chức tham gia BHTG sẽ được thực hiện căn cứ vào việc tham gia BHTG của tổ chức huy động tiền gửi, tuân theo các quy định tại các văn bản pháp luật mà không có sự thỏa thuận giữa các bên chủ thể trên cơ sở hợp đồng như bảo hiểm thương mại

Thứ bảy, về cơ chế bảo hiểm: Đối với các loại hình bảo hiểm thương mại, khi chủ thể tham gia bảo hiểm sẽ xuất hiện mối quan hệ trực tiếp giữa tổ chức bảo hiểm với tổ chức tham gia bảo hiểm (đối tượng được bảo hiểm) Còn ở BHTG, khi gửi tiền vào các tổ chức nhận tiền gửi, người gửi tiền không phải làm các thủ tục để tham gia BHTG mà tổ chức nhận tiền gửi phải có trách nhiệm tham gia BHTG Ở đây, xuất hiện mối quan hệ ba bên, đó là mối quan hệ giữa tổ chức tham gia BHTG

và người gửi tiền (khi người dân gửi tiền vào các tổ chức nhận tiền gửi); mối quan

hệ giữa tổ chức BHTG và tổ chức nhân tiền gửi; mối quan hệ giữa tổ chức BHTG với người gửi tiền (khi tổ chức nhận tiền gửi bị giải thể) Hiện nay, theo quy định của pháp luật về BHTG của nhiều nước, bất cứ một TCTD nào có hoạt động nhận tiền gửi từ dân cư thì điều này phải tham gia bảo hiểm tiền gửi bắt buộc

Thứ tám, phí bảo hiểm hình thành trên cơ sở quy định của pháp luật mà không dựa trên sự thỏa thuận của các bên tham gia BHTG: Phí BHTG là khoản phí

Trang 16

do pháp luật quy định Các bên tham gia quan hệ BHTG không thể thỏa thuận về mức phí như các loại hình bảo hiểm khác Các hệ thống BHTG trên thế giới thường đứng trước sự lựa chọn hai loại phí bảo hiểm: phí đồng hạn hoặc phí căn cứ vào mức độ rủi ro của từng ngân hàng Các nước khi mới thành lập hệ thống BHTG thường áp dụng mức phí bảo hiểm đồng hạng để dễ thực hiện và quản lý Tuy nhiên, chế độ phí này không đề cập tới mức độ rủi ro của từng ngân hàng đối với hệ thống nên không đảm bảo tính công bằng, dễ gây những phản ứng từ các ngân hàng hoạt động tốt, có quy mô và uy tín hơn trên thị trường Do vậy, xu hướng những năm 90 của thế kỷ XX trở lại đây, các nước chuyển sang chế độ tính phí theo mức

độ rủi ro Theo cách tính này, cơ sở để xác định tỷ lệ phí BHTG là kết quả phân loại

tổ chức tham gia BHTG Ngân hàng nào hoạt động với mức độ rủi ro lớn sẽ phải chịu tỷ lệ phí BHTG cao, ngược lại ngân hàng nào hoạt động tốt, rui ro thấp sẽ được

áp dụng tính phí thấp và còn có thể được miễn phí

Việc tính phí bảo hiểm theo mức độ rủi ro trong hoạt động của tổ chức tham gia BHTG tạo ra cơ chế đối xử bình đẳng giữa các tổ chức này và thể hiện xu thế thị trường trong hoạt động BHTG Bên cạnh đó, nó còn góp phần hạn chế rủi ro đạo đức phát sinh Nếu áp dụng một mức phí, các ngân hàng dễ dàng hoạt động bất cẩn, huy động vốn lãi suất cao, hoạt động đầu tư với mức độ rủi ro lớn và luôn an tâm với các khoản tiền gửi của khách hàng vẫn được bảo hiểm khi bị mất khả năng thanh toán Trong trường hợp này, hệ thống ngân hàng dễ bị lâm vào tình trạng khủng hoảng do các ngân hàng bị “yếu đi”, mất uy tín trên thương trường và tổ chức chi trả bảo hiểm cũng phải chịu hậu quả nặng nề liên quan đến các khoản chi phí bảo hiểm cho người gửi tiền8

Thứ chín, BHTG là loại hình bảo hiểm bắt buộc: Tại nhiều quốc gia có hoạt động BHTG trên thế giới, trong đó có Việt Nam, đều quy định việc tham gia BHTG

là bắt buộc Quy định này đã tạo nên sự bình đẳng giữa các TCTD có quy mô hoạt động khác nhau trong hệ thống tài chính ngân hàng, cũng như đảm bảo nguyên tắc

8 Rủi ro đạo đức là rủi ro xuất phát từ hành vi cư xử thiếu đạo đức của những chủ thể hưởng lợi ích từ BHTG, qua đó tác động tiêu cực đến sự tồn tại và phát triển lành mạnh của tổ chức BHTG Rủi ro đạo đức có thể xuất phát từ hành vi chủ yếu của người hưởng lợi là người gửi tiền hoặc tổ chức tham gia BHTG

Trang 17

lấy “số đông bù số ít” của loại hình dịch vụ bảo hiểm Điều này là hợp lý vì BHTG

là hoạt động mang tính chất công, nó không đơn thuần chỉ là hoạt động chia sẻ rủi

ro mà nó còn phục vụ công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động ngân hàng Hơn nữa, trong kinh doanh ngân hàng, tính lan truyền cao, dễ gây ảnh hưởng đến toàn hệ thống các TCTD khi có sự cố xảy ra

Trong khi đó, người tham gia bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm phi nhân thọ,…

là bất kỳ cá nhân nào có nhu cầu nhận dịch vụ bảo hiểm thương mại Nói cách khác, việc tham gia bảo hiểm thương mại phần lớn dựa trên tinh thần tự nguyện của các chủ thể tham gia Đây là một trong những điểm khác biệt quan trọng nhất của BHTG với các loại hình bảo hiểm thương mại khác

Ngoài sự khác biệt cơ bản nêu trên, giữa BHTG và các loại hình bảo hiểm thương mại khác còn có sự khác nhau về mô hình tổ chức, về cách tổ chức hoạt động9

Tóm lại, BHTG là một định chế tài chính, được Nhà nước sử dụng để bảo vệ người gửi tiền, góp phần đảm bảo sự phát triển an toàn lành mạnh của hoạt động ngân hàng BHTG là nơi người gửi tiền gửi gắm niềm tin tại các tổ chức tín dụng, góp phần thúc đẩy quy trình huy động vốn để phát triển kinh tế đất nước Chính vai trò quan trọng của hệ thống BHTG đối với quốc gia nên các nước rất chú trọng đến việc xây dựng và phát triển hệ thống BHTG

1.1.2 Phân loại bảo hiểm tiền gửi

Căn cứ vào những tiêu chí khác nhau, có thể chia BHTG thành những loại khác nhau

Một là, căn cứ theo đối tượng bảo hiểm, BHTG được phân thành 2 loại BHTG đối với cá nhân và BHTG đối với tổ chức

BHTG đối với cá nhân tức là đối tượng được BHTG là những cá nhân có tiền gửi tại các TCTD Tùy theo chính sách của mỗi quốc gia mà tiền gửi của đối tượng

là cá nhân có thể được xác định là tiền riêng của cá nhân, vợ chồng hay đồng sở hữu

9 Trung tâm thông tin, thư viện và nghiên cứu khoa học, của Văn phòng Quốc hội (2008), Vai trò của tổ chức bảo hiểm tiền gửi Việt Nam trong việc bảo vệ người gửi tiền và đảm bảo an sinh xã hội, Chuyên đề nghiên

cứu chuyên sâu

Trang 18

đứng tên của cá nhân mà tiền gửi này không đại diện cho bất kỳ cơ quan, tổ chức nào Nhìn chung, chính sách BHTG của các quốc gia trên thế giới đều BHTG cho đối tượng này vì mục tiêu của BHTG là bảo vệ quyền lợi cho những người gửi tiền nhỏ lẻ, thiếu thông tin, không có điều kiện tham gia sản xuất kinh doanh

BHTG đối với tổ chức: tổ chức có thể được hiểu là hai hay nhiều người cùng làm việc, phối hợp với nhau để đạt kết quả chung, gồm các tổ chức kinh tế, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp Với chính sách BHTG đối với

tổ chức thì các đối tượng nêu trên sẽ được BHTG khi có tiền gửi tại các tổ chức có tham gia BHTG Tùy theo chính sách của các nước mà tiền gửi của tổ chức có thể được bảo hiểm hoặc không Việc không bảo hiểm cho tiền gửi của các tổ chức thường gắn với lý do tiền gửi này không nhằm mục đích tiết kiệm mà thường được dùng để thanh toán, tính luân chuyển cao, được quản lý chặt chẽ bởi chế độ quản lý của tổ chức nên ít có vấn đề thiếu thông tin về tổ chức huy động tiền gửi

Hai là, căn cứ theo loại tiền gửi được bảo hiểm, BHTG được phân thành 3 loại, gồm: BHTG đối với tiền gửi là đồng nội tệ, BHTG đối với tiền gửi là đồng ngoại tệ và BHTG đối với tiền gửi là vàng, kim khí, đá quý

BHTG đối với đồng nội tệ: đối tượng được bảo hiểm là đồng tiền do các quốc gia phát hành (đồng bản tệ) Đây là loại tiền gửi được bảo hiểm trong chính sách BHTG của hầu hết các quốc gia có sử dụng BHTG như một công cụ giám sát tài chính

BHTG đối với đồng ngoại tệ: loại tiền gửi được bảo hiểm theo chính sách này là đồng tiền nước ngoài hoặc đồng tiền chung của một nhóm nước được gửi tại các tổ chức huy động tiền gửi từ công chúng

BHTG đối với vàng, kim loại quý: vàng bao gồm vàng thuộc dự trữ nhà nước, vàng trên tài khoản nước ngoài của người cư trú, vàng khối, vàng thỏi, vàng miếng Do vàng cũng là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của người dân thì một khi các tổ chức có huy động tiền gửi là vàng, kim loại quý thì dây cũng là thuộc đối tượng được bảo hiểm tiền gửi

Trang 19

1.1.3 Vai trò của BHTG

1.1.3.1 Bảo hiểm tiền gửi góp phần bảo vệ người gửi tiền, góp phần củng cố

và nâng cao niềm tin của người gửi tiền

Trong nền kinh tế thị trường, bảo vệ người tiêu dùng nói chung và bảo vệ người gửi tiền nói riêng là yêu cầu đặt ra đối với mỗi quốc gia Bảo vệ người tiêu dùng là để đảm bảo cân bằng giữa sự phát triển và đảm bảo quyền lợi của người dân trong xã hội

Vai trò của BHTG xuất phát từ bản chất của hoạt động tài chính luôn gắn liền với yếu tố niềm tin, mang tính nhạy cảm và có tính lan truyền cao Trong hoạt động tài chính ngân hàng, nếu niềm tin của người gửi tiền vào hệ thống này bị mất

đi, điều đó không chỉ ảnh hưởng đến hoạt động của một TCTD đơn lẻ mà còn tác động đến toàn bộ nền kinh tế

Có thể nói, niềm tin của người gửi tiền đối với hệ thống tài chính ngân hàng

là rất quan trọng, và một trong những mối quan tâm của người người tiền là tính an toàn của tiền gửi và tính ổn định trong hoạt động ngân hàng Sự ra đời của BHTG

đã tạo ra và củng cố niềm tin của người gửi tiền khi chọn các tổ chức tham gia BHTG là nơi gửi tiền Niềm tin của người gửi tiền vào độ an toàn của tiền gửi được thể hiện ngay từ lúc người gửi tiền lựa chọn TCTD nào để gửi tiền, đặc biệt thể hiện

rỏ nhất trong trường hợp tổ chức huy động tiền gửi gặp rủi ro gây ra tình trạng mất khả năng thanh toán BHTG xây dựng và củng cố niềm tin của công chúng đối với

hệ thống ngân hàng thông qua một số hoạt động như:

Thứ nhất, tổ chức BHTG cung cấp đầy đủ hơn cho công chúng thông tin về các ngân hàng ở một mức độ nào đó, giúp họ nắm bắt được tình hình hoạt động của ngân hàng Khi đó, họ lựa chọn được nơi gửi tiền tin cậy mà họ cảm thấy yên tâm nhất

Thứ hai, tổ chức BHTG thực hiện các nghiệp vụ kiểm tra, giám sát rủi ro đối với tổ chức tham gia BHTG, hỗ trợ các tổ chức tham gia BHTG khi gặp khó khăn

về tài chính nhằm phục hồi hoạt động của tổ chức đó

Trang 20

Thứ ba, khi tổ chức tham gia BHTG bị giải thể hoặc phá sản, BHTG sẽ tham gia vào quá trình xử lý tổ chức bị đổ vỡ, đồng thời thực hiện chi trả tiền gửi cho người gửi tiền (bao gồm cả phần tiền gốc và lãi phát sinh trên phần gốc) với mức chi trả tối đa theo quy định của phát luật

Qua đó cho thấy BHTG có vai trò quan trọng trong việc xây dựng và củng cố niềm tin của công chúng đối với hệ thống tài chính – ngân hàng Và một khi quyền lợi của người gửi tiền được bảo đảm thì thực tế cho thấy, BHTG góp phần củng cố lòng tin của công chúng vào hệ thống ngân hàng Như vậy, sự ra đời của BHTG và hoạt động tích cực của tổ chức này chính là chỗ dựa quan trọng cho các TCTD trong việc củng cố, duy trì và làm tăng lòng tin của dân chúng cũng như toàn xã hội trong việc mở rộng hoạt động huy động vốn

1.1.3.2 Bảo hiểm tiền gửi góp phần xử lý khủng hoảng tài chính

Hầu hết các cuộc khủng hoảng kinh tế trên thế giới bùng nổ đều do ảnh hưởng từ hoạt động của hệ thống tài chính ngân hàng, do đây là hoạt động mang nhiều tính rủi ro và đổ vỡ theo dây chuyền, đôi khi chỉ vì những tin đồn không chính xác mà không phải xuất phát từ nguyên nhân sâu xa do hoạt động của một TCTD yếu kém nào đó Trường hợp này, BHTG có những hoạt động quan trọng công khai hỗ trợ tài chính, là “lá chắn” quan trọng để ngăn chặn hiện tượng đó BHTG sẽ chịu trách nhiệm chi trả bảo hiểm cho người gửi tiền khi tổ chức nhận tiền gửi mất khả năng thanh toán, hoạt động hỗ trợ tài chính dưới các hình thức cho vay, bảo lãnh, mua lại nợ, ngăn chặn sự phát triển của các khoản nợ xấu, nợ khó đòi, hạn chế những rủi ro tiềm ẩn dẫn đến sự đổ vỡ của các TCTD, đối với các TCTD trước khi lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán, từ đó giữ lòng tin của người dân, tránh hiện tượng người gửi tiền ào ạt rút tiền khi có một TCTD bị mất khả năng thanh toán10

Chính vì thế, xuyên suốt quá trình phát triển của hệ thống tài chính hiện đại, các nhà hoạch định chính sách luôn coi BHTG là một công cụ quan trọng nhằm bảo

vệ quyền lợi của người gửi tiền và góp phần duy trì ổn định hệ thống tài chính Điều

10 Lê Thị Thu Thủy (2008), “Pháp luật về bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam” Nxb Đại học quốc gia Hà Nội

tr.23

Trang 21

đó lý giải tại sao hệ thống BHTG đầu tiên trên thế giới hình thành sau khi xảy ra khủng hoảng tài chính ở Mỹ và hàng loạt các quốc gia ở khu vực Châu Á thành lập

hệ thống BHTG sau khi xảy ra khủng hoảng tài chính, kinh tế trong khu vực Có thể thấy, ở một quốc gia mà hoạt động của hệ thống BHTG thực hiện hiệu quả thì việc

xử lý khủng hoảng tài chính ở quốc gia đó sẽ tốt hơn và ngược lại

1.1.3.3 Bảo hiểm tiền gửi tạo sự cạnh tranh bình đẳng giữa các tổ chức tín dụng

Ngoài chức năng, nhiệm vụ lớn nhất là bảo vệ quyền lợi người gửi tiền, BHTG còn là một công cụ tạo nên sự phát triển, cạnh tranh lành mạnh trong hoạt động của các TCTD trên thị trường BHTG đã tạo ra thị trường bình đẳng cho tất cả các TCTD, đặc biệt là TCTD có quy mô hoạt động nhỏ, năng lực cạnh tranh còn hạn chế Bên cạnh đó, yếu tố tâm lý cũng ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động ngân hàng Trong cuộc chạy đua giành thị phần khách hàng, thông thường lợi thế cạnh tranh sẽ thuộc về các TCTD có quy mô lớn và uy tín hơn hoặc các TCTD được đảm bảo hoạt động bởi nguồn vốn Nhà nước Nếu không có BHTG thì thông thường người gửi tiền sẽ có cảm giác yên tâm hơn khi gửi tiền tại các TCTD này Tuy nhiên, nếu có hoạt động của hệ thống BHTG thì họ cũng có thể lựa chọn nhiều TCTD khác nhau, những TCTD có quy mô nhỏ nếu tổ chức đó có tham gia BHTG, điều đó vẫn đảm bảo an toàn cho khoản tiền gửi của họ và thúc đẩy hoạt động tín dụng phát triển bình đẳng, tránh tình trạng người gửi tiền chỉ quan tâm, ưu tiên và tin tưởng khi gửi tiền tại các TCTD có quy mô lớn hoặc loại hình khác nhau

Ngoài ra, bên cạnh BHTG đồng hạng, việc quy định mức phí BHTG trên cơ

sở xác định mức độ rủi ro được xây dựng trên kết quả đánh giá, xếp loại rủi ro của các TCTD đã thúc đẩy các TCTD không ngừng cạnh tranh với nhau để giảm thiểu rủi ro, nâng cao an toàn trong hoạt động của mình để được hưởng mức phí BHTG thấp, thúc đẩy các TCTD hoạt động có trách nhiệm hơn đối với khách hàng và đối với chính TCTD, bản thân ngân hàng đó11

11 Nguyễn Thị Diệu Linh (2009), Bảo hiểm tiền gửi – quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng, luận văn Thạc

sỹ luật học, Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, tr.20

Trang 22

1.1.3.4 Bảo hiểm tiền gửi góp phần thúc đẩy việc huy động các nguồn vốn cho đầu tư phát triển đất nước

Huy động vốn trong dân để phục vụ phát triển là yêu cầu quan trọng đặt ra đối với mỗi nền kinh tế, đặc biệt ở những nước đang phát triển thì nhu cầu này càng cao hơn Nhà nước sử dụng nhiều kênh để thu hút nguồn vốn đầu tư, trong đó thu hút vốn đầu tư qua các TCTD được xem là một trong những kênh quan trọng nhất

Để thu hút được vốn trong dân tức là người dân cần có hành động gửi tiền và các ngân hàng thay vì cất giữ dưới dạng vàng, ngoại tệ, bất động sản hoặc cất giữ ở nhà

Do đó, điều kiện đầu tiên là cần phải làm cho người dân có niềm tin đối với hệ thống tài chính ngân hàng Người dân biết được có tổ chức BHTG thay mặt Nhà nước để bảo vệ tiền gửi của họ thì họ sẽ yên tâm hơn khi gửi tiền vào các TCTD

Điển hình như ở Việt Nam, vào khoảng những năm 90, hàng loạt quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) sụp đổ và người dân mất tin tưởng vào hệ thống tài chính ngân hàng, việc huy động vốn của các TCTD thời kỳ đó gặp rất nhiều khó khăn12

Mãi đến khi BHTGVN được thành lập và đi vào hoạt động vào năm 2000 đã chứng minh được vai trò của mình trong việc bảo vệ người gửi tiền, nhờ đó người gửi tiền

an tâm hơn khi chọn việc gửi tiền vào các tổ chức huy động tiền gửi như một kênh sinh lợi an toàn cho nguồn tiền nhàn rỗi của mình Từ đó, việc huy động vốn phục

vụ cho nhu cầu đầu tư phát triển kinh tế được gia tăng, hội nhập quốc tế cũng dễ dàng được thực hiện, xã hội bình ổn, các ngành kinh tế phát triển, giảm tình trạng thất nghiệp, giúp cho đời sống nhân dân được đảm bảo và nâng cao, nhiều đối tượng được hưởng lợi từ BHTG Sự hưởng lợi này đem lại tính cộng đồng cao, không loại trừ một cá nhân hay tổ chức nào một cách tuyệt đối Điều đó cho thấy BHTG có vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội của một đất nước nếu “nó” thể hiện và thực hiện hết vai trò của mình

1.1.3.5 Bảo hiểm tiền gửi góp phần đảm bảo sự ổn định và an toàn hệ thống tài chính – ngân hàng

Trang 23

Tổ chức BHTG có vai trò quan trọng đối với việc đảm bảo sự phát triển an toàn, bền vững của hệ thống ngân hàng, điều đó được thể hiện qua một số khía cạnh như:

Thứ nhất, hoạt động BHTG có tác dụng tạo điều kiện thuận lợi cho các TCTD mới ra đời hoặc có quy mô hoạt động hạn chế có điều kiện phát triển tốt hơn Với các TCTD này, người dân có tâm lý lo ngại có thể mất tiền gửi khi nó bị mất khả năng thanh toán Tuy nhiên, khi các tổ chức này tham gia BHTG thì người gửi tiền sẽ yên tâm hơn khi biết rằng tiền gửi có họ đã được bảo hiểm, điều đó hết sức quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của các TCTD có quy mô nhỏ, lịch sử kinh doanh còn mới mẻ

Thứ hai, hoạt động BHTG giúp các TCTD thực sự yếu kém, không thể tiếp tục duy trì hoạt động có thể rút khỏi lĩnh vực kinh doanh ngân hàng một cách có trật

tự, không ảnh hưởng tới các ngân hàng khác theo dây chuyền Thông qua hoạt động nghiệp vụ kiểm tra và giám sát của mình, tổ chức BHTG có khả năng đánh giá kịp thời thực trạng hoạt động của ngân hàng tham gia BHTG Chẳng hạn, trong trường hợp phát hiện ngân hàng nào có hoạt động yếu kém, không hiệu quả thì tổ chức BHTG sẽ triển khai một số biện pháp hỗ trợ như: đưa ra phương án sáp nhập với ngân hàng khác, hay chi trả BHTG cho người gửi tiền thuộc đối tượng BHTG, hoặc tham gia vào quá trình thanh lý tài sản của ngân hàng đó để tiếp tục bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền,

Thứ ba, hoạt động BHTG tạo động lực để các ngân hàng giám sát lẫn nhau, thúc đẩy nâng cao chất lượng hoạt động từ đó đảm bảo sự phát triển bền vững của

cả hệ thống tài chính ngân hàng quốc gia; đồng thời đây cũng là động lực để các TCTD củng cố, hoàn thiện hơn cơ chế quản lý của TCTD mình, tránh được những sai sót, sai phạm trong quá trình hoạt động, nâng cao được hiệu quả trong quản lý,

sử dụng nguồn tiền nhàn rỗi này

1.1.4 Sự cần thiết phải bảo hiểm tiền gửi

Từ những vai trò quan trọng của hoạt động BHTG, có thể thấy rằng đây là một hoạt động hết sức cần thiết đối với sự phát triển của nền kinh tế quốc gia cần

Trang 24

được quan tâm và đẩy mạnh hoạt động Hoạt động ngân hàng được coi là một trong những hoạt động mang lại lợi nhuận cao nhưng song hành với nó là sự mạo hiểm, rủi ro có thể xảy ra bất cứ lúc nào Các rủi ro tín dụng như rủi ro mất khả năng thanh toán, rủi ro lãi suất, rủi ro tỷ giá hối đoái,… là nguy cơ dẫn đến việc thua lỗ, phá sản của hàng loạt các TCTD mà nguyên nhân của nó là xuất phát từ nhiều phía như do môi trường kinh tế không ổn định, do quản lý nhà nước còn nhiều bất cập, lỏng lẽo, do trình độ quản lý của các doanh nghiệp còn hạn chế,… cũng có thể nó xuất phát từ các TCTD như chuyên môn – nghiệp vụ kém, quá trình xét duyệt và quản lý vốn vay kém hoặc do sự thay đổi của phát luật, điều chỉnh của chính trị, sự thay đổi địa giới hành chính,…

Để đảm bảo an toàn trong kinh doanh của các TCTD, mỗi quốc gia điều ban hành những quy định pháp luật về an toàn kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, ví dụ như giới hạn cho vay đối với một khách hàng; tỷ lệ đảm bảo an toàn vốn,… qua đó nhằm bảo đảm độ an toàn trong hoạt động của các TCTD Trên thực tế, các biện pháp này cũng đã hạn chế được phần nào những rủi ro, tạo ra môi trường ổn định cho hoạt động của các TCTD Tuy nhiên, dường như những biện pháp đó vẫn chưa

đủ tạo niềm tin cho người gửi tiền cũng như đảm bảo an toàn đến mức cao nhất cho các TCTD Trước yêu cầu đó, BHTG ra đời nhằm góp phần vào sự bảo đảm an toàn cho những người gửi tiền ở các TCTD, duy trì sự ổn định của các TCTD, sự ổn định của nền kinh tế

Nhận thấy được công dụng hiệu quả của BHTG, các quốc gia trên thế giới cũng lần lượt cho ra đời các tổ chức BHTG nhằm bảo vệ người gửi tiền trước nguy

cơ phá sản của các tổ chức tài chính, đảm bảo sự ổn định của hệ thống ngân hàng và hạn chế các cuộc khủng hoảng tài chính Vì thế, ngày nay BHTG đã trở thành thiết chế không thể thiếu được trong bất kỳ nền kinh tế nào

1.1.5 Các mô hình hoạt động của tổ chức bảo hiểm tiền gửi:

BHTG trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế có những điểm đặc trưng cơ bản, bị tác động bởi những yếu tố nhất định như: cạnh tranh giữa các ngân hàng, nhu cầu kiện toàn bộ máy giám sát tài chính quốc gia Trong điều kiện mở cửa của

Trang 25

thị trường và tự do hóa tài chính hiện nay, hệ thống TCTD đang phát triển rất nhanh

về quy mô và tốc độ, nhưng cũng đối mặt với không ít rủi ro, thách thức, khủng hoảng mang tính hệ thống Do vậy, cần có những chiến lược nhất định trong việc phát triển các thiết chế nhằm giảm thiểu rủi ro ho hệ thống ngân hàng, trong đó BHTG là thiết chế đóng vai trò quan trọng trong việc giám sát an toàn hoạt động và cảnh báo rủi ro đối với các tổ chức tham gia BHTG Trên thế giới hiện nay tồn tại 3

mô hình tổ chức BHTG cơ bản:

1.1.5.1 Mô hình chi trả

Tổ chức BHTG hoạt động theo mô hình chi trả thực hiện các mục tiêu của chính sách công như: Khẳng định sự bảo đảm của Nhà nước đối với tiền gửi của dân chúng tại các TCTD và bảo vệ những người gửi tiền nhỏ thông qua việc hình thành có chế bồi thường13

Với mô hình này, tổ chức BHTG chỉ thực hiện chức năng thu phí BHTG và chi trả tiền BHTG cho người gửi tiền được bảo hiểm trong trường hợp tổ chức tham gia BHTG bị mất khả năng thanh toán

Với những đặc điểm nêu trên, mô hình chi trả thường được các nước đang phát triển, hoặc tổ chức BHTG mới được thành lập, quy mô nhỏ và năng lực tài chính chưa cao Các nước theo mô hình này bao gồm: Phần Lan, Cộng hòa Sec, Braxin, Lithuania, Cyprus, Hungary, Anh, Tazania, Slovenia, Tây Ban Nha, Anh, Pháp, Thụy điển14

1.1.5.2 Mô hình chi trả với quyền hạn mở rộng

Ngoài các chức năng của mô hình chi trả, tổ chức BHTG có thêm chức năng tham gia vào quá trình xử lý tài sản của tổ chức tham gia BHTG bị mất khả năng thanh toán

Các mục tiêu chính sách công như hạn chế rủi ro, tránh xảy ra khủng hoảng tài chính, gia tăng niềm tin của công chúng đối với tổ chức nhận tiền gửi,… cũng có thể đạt được Các nước theo mô hình này gồm: Bungary, Kazakhstan, Colombia,

13 Đinh Dũng Sỹ (2008), “Mô hình bảo hiểm tiền gửi hiện nay và những vấn đề cần quan tâm khi xây dựng Luật Bảo hiểm tiền gửi” Tạp chí nghiên cứu lập pháp (số 115)

14

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, “Báo cáo đánh giá tác động Luật bảo hiểm tiền gửi”, tr.4

Trang 26

Jamaica, Nhật Bản, Jodan, Hàn quốc, Bồ Đào Nha, Quebec, Nga, Đài Loan, Venezuala15

1.1.5.3 Mô hình giảm thiểu rủi ro

Đây là mô hình có tính ưu việt nhất, bởi nó đã thể hiện được tốt nhất vai trò của tổ chức BHTG trong việc bảo vệ người gửi tiền Quyền hạn và phạm vi hoạt động theo mô hình giảm thiểu rui ro rộng lớn hơn hai mô hình kể trên

Với mô hình này, tổ chức BHTG có các chức năng, nhiệm vụ cơ bản sau đây:

Thứ nhất, giám sát để ngăn ngừa và cảnh báo rủi ro đối với hoạt động ngân hàng: Tổ chức BHTG thực hiện chức năng này thông qua hai hình thức là giám sát

từ xa và kiểm tra tại chỗ, trong đó giám sát từ xa là chủ yếu Đây là nghiệp vụ quan trọng trong quá trình quản lý rủi ro đối với các tổ chức tham gia BHTG nhằm đánh giá chính xác, khách quan mức độ rủi ro cũng như tính tuân thủ pháp luật của tổ chức BHTG

Thứ hai, chi trả tiền gửi được bảo hiểm cho người gửi tiền tại tổ chức tham gia BHTG bị giải thể, phá sản: Đây là việc tổ chức BHTG thực hiện cam kết thanh toán cho người gửi tiền thuộc đối tượng được bảo hiểm (bao gồm cả gốc và lãi) theo một mức độ nhất định, tùy thuộc vào quy định về hạn chế mức chi trả ở mỗi hệ thống BHTG

Thứ ba, tham gia vào việc tái cấu trúc hệ thống ngân hàng thông qua nghiệp

vụ tiếp nhận, xử lý: Đây là một trong những chức năng nhiệm vụ rất qua trọng của

tổ chức BHTG theo mô hình giảm thiểu rủi ro, đặc biệt là trong giai đoạn xảy ra khủng hoảng tài chính

Trong khuôn khổ hoạt động của mình, mô hình giảm thiểu rủi ro luôn hạn chế đến mức tối đa những rủi ro có thể gây hại đến hệ thống tài chính ngân hàng nói riêng và nền kinh tế quốc gia nói chung Vai trò của tổ chức BHTG theo mô hình này còn thể hiện ở chỗ khi tổ chức tham gia BHTG bị mất khả năng thanh toán, tổ chức BHTG sẽ đứng ra thực hiện chi trả tiền gửi và có biện pháp giúp các TCTD rút

15

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, tlđd, tr.4

Trang 27

khỏi thị trường một cách có trật tự, tránh lây lan, ảnh hưởng xấu tới sự an toàn của thị trường tài chính và cả nền kinh tế Đây là chức năng tái cấu trúc hệ thống ngân hàng và mô hình chi trả với quyền hạn mở rộng không có được Như vậy, có thể khẳng định với mô hình giảm thiểu rủi ro, các mục tiêu của chính sách công được thực hiện nhiều nhất Các nước theo mô hình này gồm: Canada, Philippines, Mỹ16

Tuy nhiên, vì mỗi mô hình trên đều có ưu nhược điểm riêng nên không có một mô hình BHTG nào có thể hoạt động hiệu quả ở mỗi quốc gia Việc lựa chọn

mô hình nào là tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, xã hội của từng quốc gia, có tính đến sự phát triển của hệ thống tài chính, lịch sử phát triển của các TCTD và niềm tin của công chúng vào hệ thống này Mô hình BHTG tại một quốc gia sẽ hoạt động hiệu quả nhất khi nó phù hợp với nền tảng kinh tế - xã hội của chính quốc gia đó

1.2 Khái quát pháp luật về bảo hiểm tiền gửi:

1.2.1 Khái niệm pháp luật về bảo hiểm tiền gửi:

Một trong những vai trò của pháp luật là công cụ để nhà nước quản lý nền kinh tế và xã hội Pháp luật về BHTG cũng như thế, nó ra đời để góp phần vào các chính sách, công cụ kinh tế - pháp lý điều chỉnh hoạt động ngân hàng, góp phần ổn định kinh tế - xã hội của đất nước

Pháp luật và kinh tế luôn có sự tác động qua lại với nhau Song pháp luật vẫn

có tính độc lập tương đối so với kinh tế17 Pháp luật phụ thuộc vào kinh tế, mặc khác, pháp luật lại có sự tác động trở lại một cách mạnh mẽ đối với nền kinh tế Ở pháp luật BHTG, ta có thể thấy rỏ được mối quan hệ đó Pháp luật về BHTG ra đời

để đáp ứng yêu cầu về sự ổn định của toàn hệ thống ngân hàng và của cả nền kinh

tế Nội dung của nó bị chi phối bởi ý chí của những nhà hoạch định chính sách và tùy thuộc vào tình hình cụ thể của nền kinh tế Khi pháp luật về BHTG điều chỉnh một cách toàn diện hoạt động của hệ thống BHTG, đặc biệt là khi hệ thống BHTG hoạt động có hiệu quả thì sẽ phát huy hết ý nghĩa của nó, giúp cho hệ thống ngân hàng hoạt động ổn định và ngày càng phát triển Từ đó có thể thấy được pháp luật

16 Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2011), “Báo cáo tổng kết thi hành pháp luật về bảo hiểm tiền gửi giai đoạn 1999 – 2010” tr.16

17

Đại học Luật Hà Nội (2005), Giáo trình Lý luận Nhà nước và pháp luật, Nxb Tư pháp, Hà Nội, tr.66

Trang 28

BHTG là sự phản ánh ý chí của Nhà nước Đó là một công cụ tất yếu cần phải có để đáp ứng yêu cầu khách quan của sự phát triển

Qua phân tích, có thể đưa ra khái niệm pháp luật về BHTG là tổng thể các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành và đảm bảo thực hiện, thể hiện ý chí của nhà nước trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực BHTG, bao gồm các quy định về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia quan hệ BHTG, quy định liên quan đến hoạt động, chính sách BHTG và quản lý nhà nước

về BHTG

1.2.2 Quan hệ pháp luật về bảo hiểm tiền gửi:

1.2.2.1 Chủ thể của quan hệ pháp luật về bảo hiểm tiền gửi:

Với bản chất là chính sách công giúp nhà nước điều chỉnh hoạt động của hệ thống tài chính ngân hàng nên quan hệ pháp luật về BHTG cũng mang tính chất đặc biệt Chủ thể của quan hệ pháp luật BHTG là những chủ thể trực tiếp tham gia vào các quan hệ này và phát sinh các quyền, nghĩa vụ Có thể chia quan hệ pháp luật BHTG thành 2 loại:

Một là, quan hệ pháp luật phát sinh trong quá trình quản lý nhà nước về BHTG Đối với loại quan hệ này, chủ thể tham gia quan hệ bao gồm nhà nước, tổ chức BHTG và các tổ chức có nghĩa vụ bắt buộc tham gia BHTG

Nhà nước tham gia vào quan hệ thông qua một cơ quan chuyên trách có thẩm quyền được Nhà nước giao phó nhiệm vụ quản lý, giám sát và kiểm tra, xử lý chung các vấn đề thuộc chính sách BHTG Cơ quan đại diện cho nhà nước này sẽ được trao những quyền hạn và có những nhiệm vụ cụ thể trong quá trình thực hiện nhiệm

vụ của mình Điển hình như có thẩm quyền điều chỉnh hạn mức BHTG tối đa trong trường hợp duy trì và đảm bảo lòng tin người tiêu dùng hay xử lý những tổ chức tham gia BHTG không tuân thủ nghĩa vụ bắt buộc hoặc xử lý khi những tổ chức tham gia BHTG không thực hiện nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm,…

Hai là, quan hệ pháp luật BHTG phát sinh liên quan đến hoạt động chính của BHTG, đó là bảo hiểm rủi ro cho những người gửi tiền Trong loại quan hệ này

Trang 29

cũng có 3 chủ thể, bao gồm tổ chức BHTG, tổ chức tham gia BHTG và người được hưởng quyền lợi BHTG

Đối với tổ chức BHTG là tổ chức do Chính phủ thành lập để thực hiện chính sách BHTG, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền tại các tổ chức nhận tiền gửi và góp phần đảm bảo sự phát triển an toàn của hệ thống tài chính quốc gia Nhiệm vụ của tổ chức này là thực hiện các nghiệp vụ BHTG và triển khai chính sách BHTG quốc gia như: cấp và thu hồi chứng nhận tham gia BHTG, tính và thu phí BHTG, quản lý, sử dụng và bảo toàn nguồn vốn BHTG; đồng thời bên cạnh nhiệm vụ chính là chi trả bảo hiểm khi phát sinh sự kiện tổ chức nhận tiền gửi bị mất khả năng thanh toán hoặc phá sản, tổ chức này cũng có những quyền hạn và nhiệm vụ khác bổ trợ cho việc đảm bảo hiệu quả các dấu hiệu các tổ chức này hoạt động không an toàn, tham gia quá trình kiểm soát đặc biệt đối với các tổ chức tham gia BHTG, tham gia quản lý, thanh lý tài sản của tổ chức tham gia BHTG,… chính sách BHTG của các quốc gia quy định rỏ nhiệm vụ và quyền hạn của tổ chức này

Còn tổ chức tham gia BHTG là tổ chức nhận tiền gửi của công chúng Thường tổ chức này là các ngân hàng và các tổ chức có hoạt động ngân hàng thực hiện việc nhận tiền gửi của người dân để tiến hành kinh doanh tiền tệ Hầu hết các quốc gia đều quy định nghĩa vụ bắt buộc tham gia BHTG của các tổ chức này

Riêng đối với chủ thể được hưởng quyền lợi bảo hiểm là những người gửi tiền, có tài khoản tiền gửi tại ngân hàng, họ không trực tiếp tham gia vào quan hệ pháp luật BHTG mà chỉ thực sự tham gia khi ngân hàng mất khả năng thanh toán hoặc phá sản Khi đó, tổ chức BHTG sẽ đứng ra chi trả một số tiền nhất định cho những chủ thể này, bù đắp lại một phần tổn thất mà họ phải chịu

1.2.2.2 Khách thể của quan hệ pháp luật BHTG

Khách thể là yếu tố thứ ba cấu thành nên một quan hệ pháp luật Khách thể

là những lợi ích vật chất, tinh thần và những lợi ích xã hội khác có thể thỏa mãn những nhu cầu, đòi hỏi của các tổ chức hoặc cá nhân mà vì chúng, các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật18 Xét trong quan hệ pháp luật về BHTG thì khách thể của

18

Đại học Luật Hà Nội (2005), “Giáo trình lý luận Nhà nước và pháp luật” Nxb Đại học quốc gia” tr.457

Trang 30

quan hệ này là quyền lợi người gửi tiền được bảo vệ Nhà nước cho ra đời chính sách cũng chỉ để bảo vệ người gửi tiền Tổ chức BHTG thay nhà nước thực hiện mục đích đó, tổ chức tham gia BHTG tham gia vào quan hệ này cũng nhằm hướng đến việc thiết lập niềm tin nơi người gửi tiền thông qua một công cụ bảo vệ người gửi tiền Và tất nhiên, những lợi ích cũng chính là mục tiêu chủ yếu mà người gửi tiền hướng đến

1.2.3 Pháp luật bảo hiểm tiền gửi là công cụ quan trọng bảo vệ người gửi tiền

Vai trò bảo vệ người gửi tiền của tổ chức BHTG được thể hiện cụ thể:

Tổ chức BHTG sẽ cung cấp cho người gửi tiền những thông tin về ngân hàng

ở một mức độ nào đó, giúp họ nắm bắt được tình hình hoạt động của các ngân hàng Làm cơ sở để họ chọn được những nơi gửi tiền tin cậy mà họ cảm thấy yên tâm nhất theo những suy nghĩ của họ Như vậy, có thể nói dựa trên những thông tin được cung cấp bởi tổ chức BHTG, người gửi tiền có thể trước tiên tự bảo vệ mình trước những rủi ro tài chính liên quan đến tiền gửi của họ có thể xảy ra trong tương lai

Bên cạnh đó, người gửi tiền sẽ được BHTG bảo vệ trực tiếp trong trường hợp tổ chức tham gia BHTG bị mất khả năng thanh toán19 Bằng chính nguồn vốn

có được từ ngân sách nhà nước cấp ban đầu và phí bảo hiểm được đóng bởi các tổ chức tham gia BHTG, tổ chức BHTG sẽ thực hiện việc chi trả tiền gửi cho người gửi tiền (bao gồm cả phần tiền gốc và lãi phát sinh trên phần tiền gốc) với hạn mức chi trả theo quy định của pháp luật Hơn nữa, BHTG sẽ tham gia vào quá trình thanh lý tài sản của tổ chức tham gia BHTG bị phá sản để tiếp tục chi trả cho những người gửi tiền có số tiền được bảo hiểm lớn hơn hạn mức chi trả Như vậy, có thể nói vai trò của BHTG không chỉ tính bằng tiền mà còn là thước đo niềm tin của người gửi tiền, là công cụ bảo vệ hữu hiệu đối với các quyền lợi của người gửi tiền

Hơn nữa, người gửi tiền còn được BHTG bảo vệ gián tiếp thông qua các hoạt động nghiệp vụ như: kiểm tra, giám sát để kiểm soát và phòng ngừa rủi ro xảy ra trong hoạt động của các tổ chức tham gia BHTG, hoạt động an toàn hiệu quả của hệ

19 Nguyễn Lệ Thu (2008), “Nâng cao vai trò bảo vệ người gửi tiền của bảo hiểm tiền gửi Việt Nam” Tạp chí

ngân hàng, số 05, tr 10

Trang 31

thống ngân hàng cũng đồng nghĩa với việc quyền lợi của người gửi tiền được bảo vệ triệt để20

1.3 Tổng quan về người gửi tiền tại các tổ chức tín dụng

1.3.1 Khái niệm người gửi tiền

Người gửi tiền là các cá nhân, tổ chức thực hiện các giao dịch gửi tiền tại các TCTD, mua các giấy tờ có giá do các TCTD phát hành Do Luật hiện nay chưa khái niệm cụ thể về người gửi tiền, nên ta có thể hiểu khái quát là “Người gửi tiền là các

tổ chức, cá nhân thực hiện các giao dịch có liên quan đến tiền gửi đối với các TCTD”

1.3.2 Phân loại người gửi tiền

Người gửi tiền tại các TCTD với nhiều nhu cầu khác nhau, nhiều thành phần khác nhau Do đó ta có thể phân loại chủ thể gửi tiền theo mục đích gửi tiền và chủ thể gửi tiền

1.3.2.1 Căn cứ vào chủ thể gửi tiền:

- Chủ thể gửi tiền là cá nhân

Đối với chủ thể gửi tiền là cá nhân, thì phần lớn nguồn tiền gửi là do quá trình lao động, sản xuất đã tích góp được và chưa có hoặc không có điều kiện để đầu tư, kinh doanh, họ muốn sử dụng số tiền nhàn rỗi này gửi tiền vào các TCTD nhằm mục đích an toàn và hưởng lãi suất để tăng thêm phần nào thu nhập Trong xã hội hiện nay, thành phần này có thể chiếm số lượng khá lớn, vì vậy, chính sách liên quan đến bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền luôn quan tâm nhiều hơn đến các đối tượng này

- Chủ thể gửi tiền là tổ chức

Chủ thể gửi tiền là tổ chức phần lớn là các doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng các dịch vụ thanh toán từ các TCTD, họ mở tài khoản và gửi tiền tại các TCTD nhằm mục đích phục vụ tiện lợi, nhanh chóng hơn trong việc kinh doanh, đầu tư của

họ Ngoài ra, còn có một số tổ chức có những khoản tiền nhàn rỗi, họ gửi tiền tại

20

Nguyễn Lệ Thu (2008), tlđd, tr 7

Trang 32

các TCTD với mục đích tăng thêm lợi nhuận, thu nhập cho các thành viên trong tổ chức đó

1.3.2.2 Căn cứ vào mục đích gửi tiền:

- Chủ thể gửi tiền nhằm mục đích hưởng lãi

Xét theo mục đích gửi tiền thì chủ thể gửi tiền nhằm mục đích hưởng lãi suất phần lớn là các cá nhân gửi tiền tại các TCTD, những chủ thể này thường là muốn

an toàn cho tiền gửi của mình và một phần lợi nhuận nên thông thường, họ sẽ chọn hình thức gửi tiền là tiền gửi tiết kiệm thay vì các hình thức khác vì mục đích riêng của họ

- Chủ thể gửi tiền nhằm mục đích thanh toán

Chủ thể gửi tiền với mục đích này rộng rãi hơn so với chủ thể gửi tiền nhằm mục đích hưởng lãi suất, họ có thể là cá nhân và tổ chức, nó bao gồm tất cả các chủ thể nào có nhu cầu thanh toán qua các TCTD, mục đích lãi suất của họ không được

đề cao đối với phân loại chủ thể này vì lãi suất mà các TCTD chi trả cho các chủ thể

sử dụng với mục đích thanh toán là rất thấp

1.3.3 Các quyền và lợi ích của người gửi tiền tại các TCTD

1.3.3.1 Quyền được tạo thuận lợi khi gửi tiền và rút tiền

Việc các tổ chức, cá nhân gửi tiền vào các TCTD là tạo điều kiện cho họ huy động vốn nhiều hơn để mang “cho vay lại” Do đó, việc tạo điều kiện thuận lợi cho người gửi tiền khi gửi tiền là quyền lợi chính đáng bởi đó cũng là lợi ích của chính các TCTD này Ngoài ra các TCTD phải có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi khi người gửi tiền có nhu cầu rút tiền và nếu họ có đầy đủ điều kiện mà pháp luật quy định để yêu cầu được rút tiền

1.3.3.2 Quyền được trả đầy đủ, đúng hạn gốc và lãi

Các TCTD xét về bản chất cũng là chủ thể đi vay, vay của người gửi tiền để cho vay lại, do đó việc phải trả đầy đủ, đúng hạn gốc và lãi vừa là nghĩa vụ, vừa là trách nhiệm của các TCTD đối với người gửi tiền Đây có thể được xem là quyền lợi cơ bản nhất của người gửi tiền cần được quan tâm và bảo vệ nhiều nhất, bởi sự

an toàn trong tiền gửi luôn được người gửi tiền coi trọng, đôi khi một TCTD mất

Trang 33

khả năng thanh toán có thể ảnh hưởng đến cả một quá trình dành dụm, tích góp của

01 cá nhân nào đó Do đó, gửi tiền cần có quyền được trả đầy đủ, đúng hạn gốc và lãi

1.3.3.3 Quyền được bảo mật thông tin tiền gửi và người gửi tiền

Đây cũng là một hình thức đảm bảo an toàn cho tiền gửi của khách hàng, các thông tin về tiền gửi nếu không được bảo mật sẽ có nguy cơ bị các thành phần xấu lợi dụng, thực hiện các giao dịch nhằm chiếm đoạt tài sản, gây thiệt hại về tiền, uy tin cho chủ thể gửi tiền Nhất là trong thời đại khoa học công nghệ, ứng dụng thông tin đang phát triển mạnh mẽ như hiện nay thì quyền được bảo mật thông tin tiền gửi càng phải được chú trọng nhiều hơn, các thủ đoạn lừa đảo, chiếm đoạt tài sản hoạt động ngày càng tinh vi hơn bao giờ hết

Tuy nhiên, đối với một số trường hợp các tổ chức, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền các TCTD cung cấp thông tin tiền gửi, người gửi tiền cho họ để phục

vụ cho các nhiệm vụ theo quy định của pháp luật thì các TCTD phải thực hiện cung cấp theo đúng quy định

1.3.3.4 Quyền được yêu cầu Tổ chức tín dụng cung cấp thông tin tiền gửi

Lãi suất, số dư tiền gửi, lịch sử giao dịch,… là những thông tin mà các TCTD có nhiệm vụ phải cung cấp cho người gửi tiền khi họ có nhu cầu được biết nhằm phục vụ cho các nhu cầu riêng của từ chủ thể gửi tiền do tài khoản tiền gửi tại các TCTD luôn luôn thay đổi, điều đó cũng ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của họ Những thông tin về tài khoản trên có thể giúp họ thay đổi lựa chọn về hình thức gửi tiền của mình nhằm thu về lãi suất nhiều hơn, thụ hưởng các dịch vụ thanh toán nhiều hơn,…

1.3.3.5 Quyền được bảo hiểm chi trả khi các TCTD bị mất khả năng thanh toán

Trong kinh doanh luôn có những yếu tố thuận lợi và cũng tiềm ẩn không ít rủi ro, đối với mặt hàng kinh doanh là tiền tệ thì những rủi ro này có thể dễ dàng xảy ra bất cứ lúc nào và khi đó nguy cơ dẫn đến phá sản, mất khả năng thanh toán là điều khó tránh khỏi Để đảm bảo an toàn trong kinh doanh của các TCTD thì các

Trang 34

quốc gia đều ban hành những quy định pháp luật về an toàn trong kinh doanh của các TCTD nhằm tránh sự đổ vỡ theo dây chuyền hệ thống các TCTD, mà cụ thể ở Việt Nam là Bảo hiểm tiền gửi

Theo đó, người gửi tiền sẽ được chi trả bảo hiểm gồm tất cả hoặc một phần tiền gửi và lãi suất tuỳ theo mức độ bảo hiểm của TCTD đó tham gia khi bị phá sản hoặc mất khả năng thanh toán

1.3.3.6 Quyền khiếu nại, khởi kiện của người gửi tiền

Khiếu nại, khởi kiện là giải pháp cuối cùng đối với tất các các tranh chấp khi các bên không tự thoả thuận được, trong hoạt động tín dụng cũng vậy, khi người gửi tiền và tổ chức nhận tiền gửi xảy ra mâu thuẫn, tranh chấp mà không tự thoả thuận được thì giải pháp khiếu nại, khởi kiện cũng là lựa chọn cuối cùng Khi các TCTD

vi phạm quyền lợi của người gửi tiền và người gửi tiền không tự giải quyết được với các TCTD này thì họ có quyền khiếu nại, khởi kiện đến các cơ quan Nhà nước

có thẩm quyền theo quy định của pháp luật

Có thể thấy, quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền luôn chiếm vị trí hàng đầu trong toàn bộ hoạt động của BHTG Khi quyền và lợi ích của người gửi tiền được bảo vệ cũng là hoạt động của các TCTD và của ngân hàng nói chung luôn

ở trong tình trạng ổn định

1.3.4 Sự cần thiết bảo vệ quyền và lợi ích của người gửi tiền

1.3.4.1 Xuất phát từ yêu cầu đảm bảo sự bình đẳng giữa tổ chức tín dụng và người gửi tiền

Một môi trường kinh doanh bình đẳng là môi trường mà bất cứ nền kinh tế nào cũng mong muốn đạt được, Nhà nước cũng trang bị nhiều quy định để hướng đất nước xây dựng một môi trường như thế, tuy nhiên việc làm trước mắt cần từng bước phát hiện và chỉnh sửa các lổ hỏng nhỏ để có thể đạt được mục đích cuối cùng

Ngay trong quan hệ giao dịch giữa TCTD và người người tiền, chúng ta có thể dễ dàng thấy được bên cho vay tiền (người gửi tiền) lại không thể nhận được tài sản nào có giá trị từ bên đi vay (các TCTD) ngoài những niềm tin và uy tín của

Trang 35

TCTD đó Tuy nhiên, ở một giao dịch khác, ngược lại các TCTD (bên cho vay) thường phải bắt buộc khách hàng có nhu cầu vay tiền từ các TCTD phải thuế chấp tài sản để đảm bảo cho khoản tiền vay tại các TCTD, điều này cho thấy có sự thiếu bình đẳng, công bằng đối với các chủ thể tham gia các quan hệ giao dịch như trên, đặc biệt là người gửi tiền Vì vậy, việc bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền là việc làm hết sức cần thiết và cũng là công cụ để tạo nên một môi trường kinh doanh bình đẳng

1.3.4.2 Bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền góp phần đảm bảo an toàn hệ thống các tổ chức tín dụng

Hoạt động tín dụng được xem là một trong những hoạt động mang lại lợi nhuận cao, nhưng lại tiềm ẩn không ít nguy hiểm, rủi ro; nó có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau như: trình độ quản lý còn hạn chế, những biến động liên tục của thị trường, sự cạnh tranh của các tổ chức khác,… dẫn đến sự sụp đổ, phá sản của các tổ chức này Các hiện tượng đó nếu không được xử lý kịp thời có thể là nguyên nhân dẫn đến sự phá sản ngân hàng hàng loạt, và đây là một trong những vai trò quan trọng của tổ chức BHTG nhằm hạn chế những hậu quả này

Trong trường hợp đó, để hạn chế phần nào mức độ thiệt hại đối với nền kinh

tế thì việc làm cho người gửi tiền có niềm tin vào quyền lợi của họ, tình trạng rút tiền ồ ạt sẽ không diễn ra, làm ảnh hưởng đến cả hệ thống TCTD Chính vì lẽ đó, có thể nói bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền cũng chính là góp phần vào bảo đảm an toàn cho hệ thống các tổ chức tín dụng Vì vậy, việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền có một tầm quan trọng đặc biệt không những trong đời sống kinh tế, mà quan trọng hơn nhiều là trong việc duy trì được sự ổn định trong đời sống chính trị và xã hội của đất nước

Vì những ý nghĩa trên, tham gia BHTG đã trở thành bắt buộc đối với tất cả các TCTD và các tổ chức không phải là TCTD có hoạt động ngân hàng ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam Do “các nghiệp vụ tín dụng đều là các nghiệp vụ pháp luật” nên BHTG đã và đang trở thành một chế định pháp luật quan trọng trong pháp luật về ngân hàng ở các nước, trong đó có Việt Nam

Trang 36

Bảo hiểm tiền gửi và pháp luật về bảo hiểm tiền gửi ra đời và đang đóng vai trò ngày càng quan trọng trong việc vận hành hệ thống tài chính ngân hàng của mỗi quốc gia cũng như sự phát triển kinh tế - xã hội của một đất nước Sự ra đời của BHTG là phù hợp với xu thế hiện đại và đáp ứng nhu cầu tất yếu khách quan của lĩnh vực đặc biệt này

Các vấn đề lý luận chung về BHTG và pháp luật bảo hiểm tiền gửi được tác giả trình bày tại Chương 1 đã khái quát được những điểm cơ bản về BHTG, từ đó giúp chúng ta hiểu rỏ hơn vai trò của BHTG đối với hoạt động tài chính ngân hàng nói riêng và toàn xã hội nói chung, giúp ta có thể hiểu rỏ hơn vì sao BHTG xuất hiện và ngày càng quan tâm để bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích của người gửi tiền trong pháp luật BHTG của các quốc gia

Trang 37

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM TIỀN GỬI VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN NHẰM BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA NGƯỜI GỬI

về mức vốn pháp định của các TCTD, mức dự trữ bắt buộc, trích lập dự phòng rủi

ro, hạn mức đầu tư vốn huy động, tỷ lệ an toàn vốn… và gần đây nhất là công cụ BHTG

Cơ sở pháp lý đầu tiên cho hoạt động BHTG ở Việt Nam và sự ra đời tổ chức BHTG được quy định tại khoản 1 Điều 17 Luật các TCTD năm 1997: “Tổ chức tín dụng có trách nhiệm tham gia tổ chức bảo toàn hoặc bảo hiểm tiền gửi; mức bảo toàn hoặc bảo hiểm do Chính phú quy định”

Để triển khai quy định này, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 89/1999/NĐ-CP ngày 01/9/1999 về BHTG và Nghị định số 109/2005/NĐ-CP ngày 24/8/2005 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 89/1999/NĐ-CP Bên cạnh các văn bản nêu trên, thiết chế BHTG tại Việt Nam cũng đã được điều chỉnh bởi các văn bản quy phạm pháp luật sau đây:

- Quyết định số 218/1999/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 09/11/1999 về việc thành lập bảo hiểm tiền gửi Việt Nam Theo Quyết định này, BHTGVN được thành lập và chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01/7/2000

- Quyết định số 75/2000/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 28/6/2000,

về việc phê duyệt điều lệ và tổ chức hoạt động của BHTGVN quy định cụ thể về

Trang 38

hoạt động, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức, quản trị và điều hành, chế độ tài chính của BHTGVN; quan hệ giữa BHTGVN với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền và tổ chức khác có liên quan đã được quy định cụ thể

- Thông tư số 03/2006/TT-NNNH của Ngân hàng Nhà nước ngày 25/4/2006

về việc hướng dẫn thi hành một số nội dung tại Nghị định số 89/1999/NĐ-CP của Chính phủ ngày 01/9/1999 về BHTG và Nghị định số 109/2005/NĐ-CP của chính phủ ngày 24/8/2005 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 89/1999/NĐ-CP

- Quyết định số 13/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 18/01/2008, về việc ban hành Quy chế quản lý tài chính đối với bảo hiểm tiền gửi Việt Nam; Quyết định số 132/2009/QĐ-TTg về sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 13/2008/QĐ-TTg

- Quyết định số 62/2008/QĐ-BTC ngày 01/8/2008 của Bộ Tài chính về hướng dẫn thực hiện Quy chế quản lý tài chính đối với bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Tổ chức BHTG sau 12 năm được thành lập và đi vào hoạt động, khung pháp

lý cho hoạt động BHTG đã hình thành Đồng thời, để đáp ứng tốt hơn yêu cầu thực

tế khách quan, luật BHTG đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 18 tháng 6 năm 2012 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2013 Trên cơ sở đó, ngày 02/7/2012, Chủ tịch nước ban hành Lệnh số 04/2012/L-CTN về việc công bố Luật BHTG đã góp phần hoàn thiện hơn các quy định về nghiệp vụ BHTG, nâng cao giá trị pháp lý của các quy định pháp luật về BHTG và bảo đảm cho các quy định pháp luật về BHTG được điều chỉnh bằng văn bản luật, đảm bảo sự thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật

2.1.1 Quy định về chủ thể tham gia quan hệ bảo hiểm tiền gửi

2.1.1.1 Quy định về tổ chức bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Việc xác định mô hình tổ chức BHTG giúp nhận diện rõ hơn vị trí, vai trò của tổ chức BHTG trong cơ cấu các định chế tài chính của nền kinh tế thị trường cũng như vai trò công cụ bảo đảm an toàn tài chính quốc gia, minh bạch hóa chính sách pháp luật của nhà nước và xác định cụ thể, chính xác cơ cấu tổ chức, chức

Trang 39

năng, nhiệm vụ quyền hạn của tổ chức BHTG, trách nhiệm và nội dung quản lý Nhà nước đối với tổ chức BHTG

Tổ chức BHTGVN là tổ chức hoạt động theo Luật BHTG năm 2012 Để đảm bảo triển khai chính sách BHTG hiệu quả vả tăng cường niềm tin của công chúng, Luật Ngân Hàng Nhà nước Việt Nam năm 2010 đã quy định cụ thể nguyên tắc tổ chức BHTG hoạt động tương đối độc lập với hệ thống ngân hàng Tổ chức BHTGVN là một mắc xích quan trọng trong cấu trúc mạng an toàn tài chính tại Việt Nam, bởi thực tế hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh trên cơ sở niềm tin Chính vì vậy, tổ chức BHTGVN cần được thiết kế theo mô hình đảm bảo để người dân yên tâm rằng đã có một tổ chức độc lập với hệ thống ngân hàng để đứng ra bảo

vệ quyền lợi cho người gửi tiền Đồng thời, tổ chức BHTGVN phải đóng góp tích cực cho quá trình tái cấu trúc hệ thống ngân hàng

Hiện nay trên thế giới, tổ chức BHTG được thành lập dưới 3 mô hình tổ chức chủ yếu là:

Thứ nhất, là định chế tài chính do Nhà nước thành lập, nhiệm vụ của những định chế này thường được quy định trong luật như Canada, Nhật Bản, Mỹ… Theo

đó, mô hình này đòi hỏi nguồn vốn hoạt động lớn, tính độc lập khá cao, phù hợp với các quốc gia phát triển21

Thứ hai, là định chế tài chính tài chính phi lợi nhuận do các TCTD góp vốn thành lập và quản lý, chức năng và nhiệm vụ của những định chế này cũng thường được quy định trong luật như Anh, Pháp, Argentina, Brazil, Đức… Ngoài ra, tại một số quốc gia, tổ chức BHTG còn do các hiệp hội nghề nghiệp quản lý về mặt nghiệp vụ22

Thứ ba, là định chế thuộc ngân hàng trung ương, Bộ Tài chính hoặc cơ quan giám sát Mô hình này đơn giản nhưng hoạt động phụ thuộc nhiều vào nguồn lực của cơ quan chủ quản Hơn nữa, vì tập trung nhiều chức năng vào một cơ quan chủ quản (Bộ, cơ quan giám sát hay ngân hàng trung ương) nên có thể dẫn đến việc khó tách bạch các nhiệm vụ quan trọng khác với chức năng BHTG

21 Phòng Giám sát II – DIV (2012), “DIV diện mạo mới sau Luật bảo hiểm tiền gửi”

22

Phòng Giám sát II – DIV (2012), tlđd, tr.22

Trang 40

Tuy nhiên, dù được thành lập và tổ chức như thế nào thì nhiệm vụ của tổ chức BHTG phải được quy định rõ ràng trong Luật, được trao đầy đủ quyền hạn để thực thi nhiệm vụ được giao và độc lập trong hoạt động23

Ở Việt Nam, tổ chức BHTG được thành lập theo Quyết định số 218/1999/QĐ-TTg ngày 09/11/1999, về việc thành lập BHTGVN và chính thức đi vào hoạt động ngày 07/7/2000, BHTGVN vẫn là cơ quan duy nhất thực hiện chính sách BHTG tại việt Nam

Luật BHTG năm 2012 quy định “Tổ chức bảo hiểm tiền gửi là tổ chức tài chính nhà nước do Thủ tướng Chính phủ thành lập và quy định chức năng, nhiệm

vụ , tổ chức bảo hiểm tiền gửi có tư cách pháp nhân, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, bảo đảm an toàn vốn và tự bù đắp chi phí”24

Bên cạnh đó, Luật cũng đã xác định rõ ràng trách nhiệm quản lý nhà nước đối với BHTG Theo đó, “Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về bảo hiểm tiền gửi; Ngân hàng nhà nước Việt Nam chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về bảo hiểm tiền gửi”25 Đồng thời, luật cũng bổ sung một điều riêng về trách nhiệm quản lý nhà nước về BHTG của NHNN, ngoài ra, Luật còn quy định “Bộ, cơ quan ngang Bộ khác trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong việc quản lý nhà nước về bảo hiểm tiền gửi,

và Ủy ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện quản lý nhà nước về bảo hiểm tiền gửi tại địa phương”26 Quy định này nhằm tạo điều kiện giúp các TCTD hạn chế khả năng xảy ra khủng hoảng, bảo đảm sự ổn định và an toàn cho hệ thống các TCTD, giảm thiểu các nguy cơ về tổn thất các quỹ tín dụng

Dưới góc độ của nhà nghiên cứu lập pháp, Tiến sỹ Đinh Xuân Thảo - Viện trưởng viện nghiên cứu lập pháp của Quốc hội nhận định rằng :

23 Phòng Giám sát II – DIV (2012), tlđd , tr.36

24 Xem Điều 29 Luật BHTG năm 2012

25 Xem Điều 8 Luật BHTG năm 2008

26

Xem Điều 8 và Điều 29 Luật BHTG năm 2012

Ngày đăng: 06/06/2018, 23:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w