CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Hệ số an toàn vốn CAR của các Ngân hàng thương mại là một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá mức độ an toàn tr
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
-
PHẠM TIẾN DŨNG
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HỆ SỐ AN TOÀN VỐN
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
TRONG GIAI ĐOẠN 2005 – 2015
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh, tháng 08 – 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
-
PHẠM TIẾN DŨNG
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HỆ SỐ AN TOÀN VỐN
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
TRONG GIAI ĐOẠN 2005 – 2015
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS TRƯƠNG QUANG THÔNG
TP Hồ Chí Minh, tháng 08 – 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của tôi, có sự hướng dẫn của PGS.TS Trương Quang Thông Nội dung luận văn được trình bày trong phạm vi hiểu biết của tôi, có tham khảo và sử dụng thông tin, dữ liệu được đăng tải trên các tài liệu tiếng Việt, tiếng Anh theo danh mục tài liệu tham khảo
Tôi xin chịu trách nhiệm hoàn toàn về lời cam đoan của mình
TPHCM, ngày tháng năm 2017
Người cam đoan
Phạm Tiến Dũng
Trang 4MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1
1.1 Lý do chọn đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 1
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
1.4 Phương pháp nghiên cứu 2
1.5 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 3
1.6 Kết cấu đề tài 3
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ HỆ SỐ AN TOÀN VỐN TỐI THIỂU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 4
2.1 Cơ sở lý luận về hệ số an toàn vốn 4
Khái niệm hệ số an toàn vốn (Capital Adequacy Ratio – CAR) 4
Sự ra đời của hệ số CAR 6
Vai trò của hệ số CAR 8
2.2 Một số nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến hệ số CAR 8
Các yếu tố ảnh hưởng đến hệ số CAR của TS.Thân Thị Thu Thủy và Ths.Nguyễn Thị Kim Chi (2015) 8
Trang 5Nghiên cứu về tác động của kỷ luật thị trường đối với an toàn vốn của các ngân hàng: Bằng chứng từ các nền kinh tế mới nổi, Ayesha Afzal (2015)
10
An toàn vốn và rủi ro ngân hàng – Nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam của Tiến sĩ Đào Thị Thanh Bình Trường đại học Hà Nội và Ankenbrand Thomas thuộc Trường đại học Zurich (2014) 10
Nghiên cứu về an toàn vốn và chính sách cổ tức: Bằng chứng từ các ngân hàng Ý, Marina Brogi – Đại học Rome (2010) 11
Nghiên cứu về các yêu cầu điều kiện vốn của Ngân hàng thương mại Etiopia, Yonas Mekonnen – Giảng viên Đại Học Jimma, Ethiopia (2015) 12 2.3 KẾT LUẬN TỪ CÁC NGHIÊN CỨU TẠI VIỆT NAM Và TRÊN THẾ GIỚI 12
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG AN TOÀN VỐN TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 14
3.1 Quy định về hệ số an toàn vốn tại việt nam 14 3.2 Thực trạng an toàn vốn của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam 15
Giai đoạn từ sau khủng hoảng tài chính khu vực năm 2005 đến năm
Trang 64.1 Mô hình nghiên cứu 18
4.2 Phương pháp nghiên cứu 20
4.3 Dữ liệu nghiên cứu 21
Mẫu nghiên cứu 21
Nguồn dữ liệu nghiên cứu 22
4.4 Kết quả nghiên cứu 23
Thống kê mô tả các biến trong mô hình 23
Phân tích tương quan 25
Kiểm tra đa cộng tuyến 26
Kiểm định Hansen 27
4.5 Kết quả nghiên cứu 28
CHƯƠNG 5: kết luận và KIẾN NGHỊ 34
5.1 kết luận 34
5.2 Giải pháp nâng cao hệ số an toàn vốn tại các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam 35
Định hướng nâng cao hệ số an toàn vốn tại các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam 35
5.3 Giải pháp nâng cao hệ số an toàn vốn tại các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam 36
Nhóm các giải pháp về tài chính 36
Nhóm các giải pháp nâng cao năng lực hoạt động, tăng cường thanh khoản 38
Trang 7Nhóm các giải pháp nâng cao năng lực quản trị 40 Nhóm giải pháp hỗ trợ: 44 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Phụ lục I: Danh sách 16 NHTM Việt Nam nghiên cứu
Phụ lục II: Số liệu hồi quy
Phụ lục III: Kết quả chạy hồi quy
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
- BCTC Báo cáo tài chính
- CIC Trung tâm Thông tin tín dụng
- NHNN Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
- NHTM Ngân hàng thương mại
- TMCP Thương mại cổ phần
- NHTMCP Ngân hàng thương mại cổ phần
- NHTMNN Ngân hàng thương mại Nhà nước
- TCTD Tổ chức tín dụng
- CAR Hệ số an toàn vốn
- TSC Trụ sở chính
Trang 9DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1: Các biến sử dụng trong mô hình nghiên cứu 20
Bảng 2: Thống kê mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu 23
Bảng 3: Ma trận tương quan giữa các biến trong mô hình nghiên cứu 26
Bảng 4: Hệ số phóng đại (VIF) của các biến trong mô hình nghiên cứu 27
Bảng 5: Kết quả ước tính các yếu tố ảnh hưởng đến CAR theo phương pháp GMM 28
Bảng 6: Kết quả hồi quy 29
Trang 10CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Hệ số an toàn vốn (CAR) của các Ngân hàng thương mại là một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá mức độ an toàn trong hoạt động kinh doanh theo thông lệ quốc tế Các cơ quan quản lý nhà nước cũng như các nhà quản trị ngân hàng luôn có sự quan tâm đặc biệt đối với hệ số CAR và luôn tìm cách duy trì, nâng cao hệ số CAR bằng nhiều cơ chế, chính sách Việc nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến hệ số CAR sẽ giúp các nhà quản lý có thể nâng cao hệ số CAR để tạo ra một tấm đệm chống lại những
cú sốc tài chính, vừa tự bảo vệ được ngân hàng chính mình, vừa bảo vệ được quyền lợi của người gửi tiền
Tại Việt Nam, trong giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2015, hệ thống ngân hàng Việt Nam mặc dù có sự tăng trưởng mạnh mẽ về số lượng và quy mô tuy nhiên cũng bộc lộ nhiều yếu kém đặc biệt là về an toàn vốn Năm 2016, Chính Phủ và Ngân hàng Nhà Nước đặt ra nhiều mục tiêu quan trọng cho ngành ngân hàng, trong đó việc áp dụng chuẩn Basel II được ưu tiên hàng đầu Như vậy việc áp dụng Basel II đồng nghĩa với việc các NHTM tại Việt Nam phải đáp ứng yêu cầu về hệ số CAR theo chuẩn thông lệ
quốc tế Xuất phát từ thực tiễn đó, tôi xin chọn đề tài luận văn “Các nhân tố ảnh hưởng đến hệ số an toàn vốn của Ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn 2005- 2015” làm luận văn nghiên cứu
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu nhằm đạt được các mục tiêu sau:
- Đánh giá thực trạng an toàn vốn của hệ thống NHTM tại Việt Nam trong giai đoạn 2005-2015 và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hệ số CAR của NHTM Việt Nam
Trang 11- Vận dụng kết quả nghiên cứu để đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hệ số CAR, bảo đảm an toàn hoạt động cho hệ thống NHTM tại Việt Nam
1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Đối tượng nghiên cứu: 16 Ngân hàng thương mại tại Việt Nam (theo phụ lục I đính kèm)
- Thời gian nghiên cứu: Giai đoạn từ năm 2005 đến 2015
- Phạm vi nghiên cứu: Nguồn số liệu từ báo cáo tài chính của 16 NHTM tại Việt Nam trong giai đoạn 2005 – 2015
Do thời gian và nguồn lực có hạn, bên cạnh đó trong năm trong giai đoạn 2005 đến 2015 nhiều ngân hàng thương mại không công bố báo cáo tài chính trong một số năm dẫn đến ảnh hưởng đến số liệu thu thập của mẫu, năm 2016 một số ngân hàng cũng chưa công bố đủ thông tin, do đó bài nghiên cứu lựa chọn ra 16 ngân hàng thương mại
có công bố đủ thông tin báo cáo tài chính, báo cáo thường niên hàng năm trong giai đoạn 2005-2015 Với 16 ngân hàng thương mại cổ phần mà luận văn lựa chọn có thể đại diện được cho hệ thống ngân hàng tại Việt Nam vì đây đều là những ngân hàng có quy mô và thị phần lớn hàng nhất tại Việt Nam, các hoạt động của các ngân hàng này ảnh hưởng lớn đến toàn bộ hệ thống ngân hàng Việt Nam và đặc biệt ảnh hưởng đến hệ số an toàn vốn chung của tổng thể ngành ngân hàng
1.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Luận văn tiếp cận các cơ sở lý thuyết và mô hình thông qua các nghiên cứu trong
nước và trên thế giới về các yếu tố tác động đến hệ số an toàn vốn của ngân hàng thương mại Nghiên cứu thực nghiệm thông qua phương pháp thống kê, so sánh, tổng hợp các
số liệu, phân tích thực trạng để tìm ra các nhân tố có ảnh hưởng đến hệ số an toàn vốn của ngân hàng thương mại từ đó đưa ra những kiến nghị nhằm nâng cao hệ số CAR tại
Trang 12các ngân hàng thương mại tại Việt Nam Xử lý số liệu cho mô hình hồi quy lựa chọn với
sự hỗ trợ của phần mềm Stata, ứng dụng kết quả nghiên cứu và lý thuyết đưa ra các nhân
tố ảnh hưởng đến hệ số an toàn vốn, từ đó đề xuất các biện pháp duy trì và nâng cao hệ
số an toàn vốn cho các NHTM Việt Nam
1.5 Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
Việc xác định ra các nhân tố có ảnh hưởng đến hệ số an toàn vốn sẽ giúp các nhà quản trị ngân hàng đưa ra được các chính sách quản lý phù hợp nhằm nâng cao hệ số an toàn vốn, đảm bảo sự hoạt động ổn định cho chính ngân hàng của mình cũng như hệ thống NHTM tại Việt Nam nói chung
1.6 KẾT CẤU ĐỀ TÀI
Để thực hiện các mục tiêu trên, nghiên cứu được chia thành 5 chương với những nội dung như sau:
Chương 1: Giới thiệu tổng quan nghiên cứu
Chương 2: Tổng quan về hệ số an toàn vốn
Chương 3: Thực trạng về hệ số an toàn vốn của các NHTM tại Việt Nam trong
giai đoạn 2005-2015
Chương 4: Kết quả nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hệ số CAR
Chương 5: Kiến nghị nhằm nâng cao hệ số CAR cho hệ thống NHTM Việt Nam
Trang 13CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ HỆ SỐ AN TOÀN VỐN TỐI THIỂU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỆ SỐ AN TOÀN VỐN
Khái niệm hệ số an toàn vốn (Capital Adequacy Ratio – CAR)
Hệ số an toàn vốn (CAR) được sử dụng để làm thước đo độ an toàn vốn của các
tổ chức tín dụng Nó được tính theo tỉ lệ phần trăm của tổng vốn cấp I và vốn cấp II so với tổng tài sản đã điều chỉnh rủi ro của NHTM, theo hiệp ước Basel II cụ thể như sau:
- Vốn cấp II: bao gồm các loại nguồn lực tài chính có độ tin cậy ở hàng thứ cấp (thấp hơn so với vốn cấp 1) như: đánh giá lại tài sản, đánh giá lại các khoản quỹ dự trữ hay các công cụ nợ,…
- Tài sản điều chỉnh có rủi ro: là tổng tất cả các tài sản do ngân hàng nắm giữ được tính toán theo trọng số đối với rủi ro tín dụng theo một công thức do cơ quan quản
lý (thường là Ngân hàng trung ương) đưa ra Hầu hết các ngân hàng Trung ương đều theo chuẩn BIS – Ngân hàng thanh toán quốc tế – để đặt ra những trọng số này Các tài sản như tiền mặt, tiền xu thường có trọng số rủi ro là 0, trong khi các khoản vay không
có bảo đảm có trọng số 100%
Nhìn chung khái niệm về CAR là như vậy tuy nhiên cơ quan quản lý hệ thống ngân hàng mỗi nước, tùy theo ý mình có những quy định cụ thể riêng khi tính toán những
Trang 14công cụ tài chính vào hai loại vốn nêu trên Tại Việt Nam, vốn cấp 1 và vốn cấp 2 hiện nay được hướng dẫn và tính toán theo Thông Tư số 36/2014/TT-NHNN ngày 20/11/2014 của Ngân hàng Nhà nước cụ thể như sau:
- Vốn cấp I:
Vốn điều lệ (vốn đã được cấp, vốn đã góp);
Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ;
Quỹ đầu tư phát triển nghiệp vụ;
Lợi nhuận không chia;
Thặng dư cổ phần được tính vào vốn theo quy định của pháp luật, trừ đi phần dùng để mua cổ phiếu quỹ (nếu có)
- Các khoản loại trừ khỏi vốn cấp I:
Lợi thế thương mại;
Khoản lỗ kinh doanh, bao gồm các khoản lỗ lũy kế;
Các khoản góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng khác;
Các khoản góp vốn, mua cổ phần của công ty con; và một số phần góp vốn, mua cổ phần của doanh nghiệp, quỹ đầu tư, dự án
- Vốn cấp II: có giá trị tối đa bằng 100% vốn cấp 1, và bao gồm các khoản mục
Trang 15 Trái phiếu chuyển đổi do tổ chức tín dụng phát hành thỏa mãn một số điều kiện;
Các công cụ nợ ưu tiên thấp thỏa mãn một số điều kiện
- Tổng tài sản Có rủi ro: là tổng giá trị các tài sản Có nội bảng được xác định
theo mức độ rủi ro và giá trị tài sản Có nội bảng tương ứng của cam kết ngoại bảng được xác định theo mức độ rủi ro theo quy định tại Phụ lục 2 Thông tư 36/2014/TT- NHNN
Sự ra đời của hệ số CAR
Hiệp ước vốn Basel I, II là những quy định về hệ thống đo lường vốn được Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (Basel Committee on Banking Supervision - BCBS) gồm 10 nước phát triển (G10) ban hành
BCBS ra đời năm 1974 nhằm ngăn chặn sự đổ vỡ của các ngân hàng vào thập kỷ
80 Hội đồng thư ký của Ủy ban Basel được đề xuất bởi Ngân hàng Thanh toán Quốc tế
ở Basel (Thụy Sỹ), gồm 15 thành viên là những nhà giám sát hoạt động ngân hàng chuyên nghiệp được biệt phái tạm thời từ các tổ chức tín dụng tài chính thành viên
Đến năm 1988, Basel I ra đời (hiệu lực 1992) cung cấp khung đo lường rủi ro tín dụng với tiêu chuẩn vốn tối thiểu là 8%
Theo Basel I, công thức tính tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (CAR) = Vốn bắt buộc/Tài sản tính theo độ rủi ro gia quyền (RWA)
Trong đó, vốn cấp 1 > vốn cấp 2 + vốn cấp 3
Vốn cấp 1 là lượng vốn dự trữ sẵn có và các nguồn dự phòng được công bố, như
là khoản dự phòng cho các khoản vay, bao gồm: Vốn chủ sở hữu vĩnh viễn; Lợi nhuận giữ lại; Lợi ích thiểu số tại các công ty con, có hợp nhất báo cáo tài chính; Lợi thế kinh doanh
Trang 16Vốn cấp 2 (Vốn bổ sung) gồm: Lợi nhuận giữ lại không công bố; Dự phòng đánh giá lại tài sản; Dự phòng chung/dự phòng thất thu nợ chung; Công cụ vốn hỗn hợp; Vay với thời hạn ưu đãi; Đầu tư vào các công ty con tài chính và các tổ chức tài chính khác
Vốn cấp 3 (Dành cho rủi ro thị trường) = Vay ngắn hạn
Vốn tính theo rủi ro gia quyền: RWA = Tổng (Tài sản x Mức rủi ro phân định cho từng tài sản trong bảng cân đối kế toán) + Tổng (Nợ tương đương x Mức rủi ro ngoại bảng)
Basel I đưa ra trọng số rủi ro gồm 4 mức: quốc gia 0%; ngân hàng 20%; doanh nghiệp 100% Trọng số rủi ro không phản ánh độ nhạy cảm rủi ro trong mỗi loại này Theo đó, ngân hàng có mức vốn tốt là ngân hàng có CAR > 10%, có mức vốn thích hợp khi CAR > 8%, thiếu vốn khi CAR < 8%, thiếu vốn rõ rệt khi CAR < 6% và thiếu vốn trầm trọng khi CAR < 2%
Ngày 26/6/2004, Basel II ra đời nhằm làm lành mạnh hơn kỷ luật thị trường tài chính (hiệu lực 2007), với 3 trụ cột chính: Yêu cầu vốn tối thiểu dựa trên Basel I; Xem xét giám sát quá trình đánh giá nội bộ và sự đủ vốn của các tổ chức tài chính; Sử dụng hiệu quả công bố thông tin nhằm lành mạnh kỷ luật thị trường
Trụ cột thứ I: Liên quan đến tỷ lệ vốn bắt buộc tối thiểu (CAR) vẫn là 8% của tổng tài sản có rủi ro như Basel I, nhưng rủi ro được tính toán theo ba yếu tố chính mà ngân hàng phải đối mặt: rủi ro tín dụng, rủi ro vận hành (hay rủi ro hoạt động) và rủi ro thị trường Trọng số rủi ro của Basel II bao gồm nhiều mức (từ 0%-150% hoặc hơn) và rất nhạy cảm với xếp hạng
Trụ cột thứ II: Liên quan tới việc hoạch định chính sách ngân hàng Trụ cột này cung cấp một khung giải pháp cho các rủi ro mà ngân hàng đối mặt, như rủi ro hệ thống, rủi ro chiến lược, rủi ro danh tiếng, rủi ro thanh khoản và rủi ro pháp lý, mà hiệp ước tổng hợp lại dưới cái tên rủi ro còn lại
Trang 17Trụ cột thứ III: Các ngân hàng cần phải công khai thông tin một cách thích đáng theo nguyên tắc thị trường Basel II đưa ra một danh sách các yêu cầu buộc các ngân hàng phải công khai thông tin, từ những thông tin về cơ cấu vốn, mức độ đầy đủ vốn đến những thông tin liên quan đến mức độ nhạy cảm của ngân hàng với rủi ro tín dụng, rủi
ro thị trường, rủi ro vận hành và quy trình đánh giá của ngân hàng đối với từng loại rủi
ro này
Vai trò của hệ số CAR
Tỷ lệ này giúp xác định khả năng đáp ứng các nghĩa vụ của ngân hàng với khả năng tự vệ từ vốn tự có và đánh giá khả năng thích ứng các rủi ro tín dụng, rủi ro hoạt động…Ngân hàng Trung ương các nước thường quy định tỷ lệ CAR tối thiểu để bảo vệ người gửi tiền, người cho vay, và qua đó giúp đảm bảo an toàn hệ thống tài chính.CAR cho ý nghĩa tương tự như tỷ lệ đòn bẩy tài chính
2.2 MỘT SỐ NGHIÊN CỨU VỀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HỆ SỐ CAR
Các yếu tố ảnh hưởng đến hệ số CAR của TS.Thân Thị Thu Thủy và Ths.Nguyễn Thị Kim Chi (2015)
Mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến hệ số an toàn vốn tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam được công bố năm 2013 bởi tiến sĩ Thân Thị Thu Thủy và thạc sĩ Nguyễn Thị Kim Chi Dạng tổng quát của mô hình là CARit = α + β1SIZEit + β2LEVit + β3LLRit + β4DEPit + β5LOAit + β6LIQit + β7ROAit + εit Trong đó:
- (CAR)it: hệ số an toàn vốn của ngân hàng i tại thời điểm t
- (SIZE)it: quy mô của ngân hàng i tại thời điểm t, được lượng hóa bằng logarit của tổng tài sản ngân hàng i tại thời điểm t
Trang 18- (LEV)it: hệ số đòn bẩy tài chính được lượng hóa bằng vốn chủ sở hữu của ngân hàng i tại thời điểm t chia cho tổng tài sản ngân hàng i trong năm t
- (LLR)it: dự phòng các khoản cho vay khó đòi tại ngân hàng i tại thời điểm t, được lượng hóa bằng dự phòng tổn thất rủi ro tín dụng của ngân hàng i trong năm t chia cho tổng dư nợ tín dụng tại ngân hàng i trong năm t
- (DEP)it: khoản tiền gửi của khách hàng tại ngân hàng i tại thời điểm t, được lượng hóa bằng tổng tiền gửi của khách hàng tại ngân hàng i trong năm t chia cho tổng tài sản của ngân hàng i trong năm t
- (LOA)it: khoản tiền cho vay của ngân hàng i tại thời điểm t, được lượng hóa bằng tiền cho vay của ngân hàng i trong năm t chia cho tổng tài sản của ngân hàng i trong năm t
- (LIQ)it: hệ số thanh khoản của ngân hàng i tại thời điểm t, được lượng hóa bằng tiền mặt và các khoản tương đương tiền chia cho tổng tài sản của ngân hàng i trong năm
t
- (ROA)it: khả năng sinh lợi trên tổng tài sản của ngân hàng i tại thời điểm t, được lượng hóa bằng lợi nhuận sau thuế chia cho tổng tài sản của ngân hàng i trong năm t
Mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến hệ số CAR là một trong những mô hình đánh giá các yếu tố tác động đến hệ số CAR của ngân hàng thương mại với lợi thế dễ tính toán
do sử dụng các dữ liệu từ báo cáo tài chính để tính toán Mô hình không đánh giá đến các chỉ tiêu phi tài chính như môi trường ngành, tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh, khả năng quản trị doanh nghiệp, kiểm soát nội bộ,… mà tập trung vào đánh giá, lượng hóa các chỉ tiêu tài chính trên báo cáo tài chính
Trang 19Mô hình sử dụng dạng hàm tuyến tính bậc nhất giữa các chỉ tiêu tài chính được lượng hóa bằng các hệ số Mô hình sử dụng phương pháp phân tích dữ liệu bảng (panel data) với phương pháp GMM, đây là phương pháp được Lars Peter Hansen trình bày lần đầu tiên vào năm 1982 trong bài viết “Large Sample Properties of Generalized Methods
of Moments Estimators” được đăng trong tạp chí Econometrica, quyển số 50, trang
- Kết quả của nghiên cứu:
Các kết quả cho thấy có mối quan hệ đáng kể giữa sự an toàn vốn và các yếu tố khác, bằng chi phí của tiền gửi cho thấy người gửi tiền điều chỉnh yêu cầu hoàn trả tiền căn cứ vào mức độ rủi ro của ngân hàng
An toàn vốn và rủi ro ngân hàng – Nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam của Tiến sĩ Đào Thị Thanh Bình Trường đại học Hà Nội và Ankenbrand Thomas thuộc Trường đại học Zurich (2014)
Bài nghiên cứu trình bày về mối quan hệ giữa mức độ an toàn vốn, các rủi ro và các chỉ số sinh lời của các ngân hàng thương mại Việt Nam thông quả cả nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm Báo cáo cung cấp ngắn gọn các quy định về vốn, tổng quan tiêu chuẩn về vốn của Basel và các quy định của Việt Nam về an toàn vốn nói chung Bài
Trang 20nghiên cứu sử dụng dữ liệu thứ cấp, nghiên cứu thực nghiệm xem xét tác động của một
số biến số độc lập đối với an toàn vốn của ngân hàng
- Kết quả của bài nghiên cứu:
Kết quả cho thấy sự kết hợp giữa rủi ro vốn, vòng quay tài sản, tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu có ảnh hưởng đáng kể đến mức độ an toàn vốn của ngân hàng Việt Nam
Nghiên cứu về an toàn vốn và chính sách cổ tức: Bằng chứng từ các ngân hàng Ý, Marina Brogi – Đại học Rome (2010)
Bài nghiên cứu mô tả sự phát triển của vốn ngân hàng và sự an toàn vốn của các ngân hàng Ý một cách toàn diện Bài viết quan tâm đặc biệt đến chính sách chia cổ tức
vì hai lý do: mặt khác, về mặt lịch sử, chính sách cổ tức có thể đóng vai trò làm suy yếu nguồn vốn của các ngân hàng lớn, và mặt khác trong tương lai nếu khủng hoảng kinh tế tiếp tục, thu nhập được giữ lại có thể là nguồn chính của vốn có chất lượng cao
mà có thể được yêu cầu để tuân thủ các tỷ lệ vốn cao hơn sẽ được áp đặt trong tương lai
- Kết quả của bài nghiên cứu:
Chính sách cổ tức nằm ở sự kết hợp giữa tính đầy đủ về vốn và quản trị doanh nghiệp là hai trong ba trụ cột để quản lý ngân hàng một cách khôn ngoan và thận trọng Chính sách cổ tức do Đại hội đồng cổ đông quyết định theo đề nghị của Hội đồng quản trị Chính sách vốn, chính sách cổ tức và quản trị doanh nghiệp thể hiện sự gắn bó chặt chẽ gắn bó chặt chẽ Mục tiêu của bài báo là phân tích độ an toàn vốn, chính sách chia
cổ tức và các vấn đề cổ phần mới của các ngân hàng châu Âu Để đạt được mục đích này, phân tích đầu tiên đánh giá hệ thống ngân hàng của Ý, sau đó tập trung vào các nhóm chính của Ý về tổng tài sản, và điều tra cuối cùng 54 ngân hàng châu Âu được liệt
kê làm nên chỉ số chứng khoán Stoxx Europe 600 ngành ngân hàng Nhìn chung, kết quả cho thấy mức độ an toàn vốn của hệ thống ngân hàng Ý đã không cải thiện đáng kể trong
Trang 2115 năm qua, qua đó cho thấy một trong những mục tiêu theo đuổi trong việc tư nhân hoá
hệ thống ngân hàng để bảo đảm sự an toàn vốn không đạt được như kỳ vọng
Nghiên cứu về các yêu cầu điều kiện vốn của Ngân hàng thương mại Etiopia, Yonas Mekonnen – Giảng viên Đại Học Jimma, Ethiopia (2015)
Mục tiêu bài nghiên cứu là khảo sát thực nghiệm các yếu tố quyết định đến hệ số CAR trong các ngân hàng thương mại của Ethiopia Thời kỳ nghiên cứu là từ năm 2004-
2013, trong đó có 8 ngân hàng được lựa chọn Nghiên cứu sử dụng số liệu thứ cấp được thu thập từ các báo cáo hàng năm của các ngân hàng Nghiên cứu này và phân tích các mối quan hệ giữa các biến cụ thể của ngân hàng: SIZE (Quy mô ngân hàng), DEP (Vòng quay tiền), LNTA (Cho vay tổng tài sản), LIQ (Thanh khoản), DEP (Tỷ lệ tiền gửi), ROA (Lợi nhuận trên tổng tài sản), ROE (Lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu), NIM (Lợi nhuận ròng), LEV (Đòn bẩy) và biến phụ thuộc là CAR
- Kết quả nghiên cứu:
Kết quả của bài nghiên cứu cho thấy ROA, DEP và SIZE có ảnh hưởng tích cực đến CAR và ROE, NIM có ảnh hưởng tiêu cực đến CAR nhưng LIQ và LNTA và LEV thì không ảnh hưởng đáng kể
2.3 KẾT LUẬN TỪ CÁC NGHIÊN CỨU TẠI VIỆT NAM VÀ TRÊN THẾ GIỚI
Từ kết quả của các nghiên cứu tại Việt Nam và trên thế giới nêu trên cho thấy hệ
số an toàn vốn có thể được giải thích tốt bởi một số yếu tố cơ bản của NHTM như quy
mô ngân hàng, hệ số đòn bẩy tài chính, tiền gửi, tính thanh khoản, khả năng sinh lời
…Tại Việt Nam, việc tìm hiểu, nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hệ số CAR của các ngân hàng thương mại nhằm phân tích và dự báo tình hình ngành ngân hàng được nhiều tác giả phát triển trong thời gian qua Bài nghiên cứu sử dụng phương pháp GMM
Trang 22(đây là phương pháp được Lars Peter Hansen trình bày lần đầu vào năm 1982 trong bài viết “Large Sample Properties of Generalized Methods of Moments Estimators” để đánh giá các nhân tố có ảnh hưởng đến hệ số an toàn vốn của các Ngân hàng thương mại Việt Nam với 8 chỉ tiêu được thu thập từ báo cáo tài chính của 16 ngân hàng thương mại trong giai đoạn 2005-2015 Kết quả nghiên cứu mở ra việc xác định được một số nhân tố có
sự ảnh hưởng tiêu cực hoặc tích cực đối với hệ số CAR, từ đó đưa ra được các chính sách, giải pháp cho nhà quản trị ngân hàng để nâng cao hệ số CAR đảm bảo an toàn vốn cho chính ngân hàng đó cũng như toàn bộ hệ thống
là khung lý thuyết định hướng cho quá trình nghiên cứu thực hiện mục tiêu của đề tài Trên cơ sở đó, đề tài dựa trên nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hệ số an toàn vốn tại các NHTMCP tại Việt Nam của Tiến sĩ Thân Thị Thu Thủy và Thạc Sĩ Nguyễn Kim Chi
để tham khảo và làm nền tảng
Trang 23CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG AN TOÀN VỐN TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
3.1 QUY ĐỊNH VỀ HỆ SỐ AN TOÀN VỐN TẠI VIỆT NAM
Cách xác định hệ số CAR của các TCTD được quy định tại Điều 9 theo thông tư
số 36/2014/TT-NHNN ngày 20/11/2014 của Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam
Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ;
Quỹ đầu tư phát triển nghiệp vụ;
Lợi nhuận không chia;
Thặng dư cổ phần được tính vào vốn theo quy định của pháp luật, trừ đi phần dùng để mua cổ phiếu quỹ (nếu có)
- Các khoản loại trừ khỏi vốn cấp I:
Lợi thế thương mại;
Khoản lỗ kinh doanh, bao gồm các khoản lỗ lũy kế;
Các khoản góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng khác;
Các khoản góp vốn, mua cổ phần của công ty con; và một số phần góp vốn, mua cổ phần của doanh nghiệp, quỹ đầu tư, dự án
Trang 24- Vốn cấp II: có giá trị tối đa bằng 100% vốn cấp 1, và bao gồm các khoản mục
Các công cụ nợ ưu tiên thấp thỏa mãn một số điều kiện
- Tổng tài sản Có rủi ro: là tổng giá trị các tài sản Có nội bảng được xác định
theo mức độ rủi ro và giá trị tài sản Có nội bảng tương ứng của cam kết ngoại bảng được xác định theo mức độ rủi ro theo quy định tại Phụ lục 2 Thông tư 36/2014/TT- NHNN
Theo đó, NHNN quy định hệ số CAR riêng lẻ và hệ số CAR hợp nhất của các TCTD và Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài phải đảm bảo giá trị tối thiểu tại mọi thời điểm không thấp hơn 9%
3.2 THỰC TRẠNG AN TOÀN VỐN CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
Giai đoạn từ sau khủng hoảng tài chính khu vực năm 2005 đến năm 2009
Trước những thiếu sót của Quyết định 297, Quyết định 457 được ban hành năm
2005 nhằm sửa đổi những bất hợp lý về khái niệm vốn tự có, theo đó vốn tự có được tính bằng vốn cấp 1 và vốn cấp 2 trừ đi các khoản giảm trừ Năm 2006, Chính Phủ tiếp tục ban hành thêm Nghị định 141 quy định về vốn pháp định của NHTM với mức tối thiểu
Trang 253.000 tỷ đồng Những quy định này là những bước tiến để việc quản lý an toàn hệ thống tiến sát với thông lệ quốc tế hơn
Hệ thống ngân hàng trong giai đoạn này tăng trưởng nhanh cả về số lượng và quy
mô tài sản Tính đến cuối năm 2010, thị trường Việt Nam có khoảng 100 Ngân hàng và Chi nhánh ngân hàng nước ngoài, trong đó chỉ có 11 trong tổng số 42 ngân hàng trong nước có vốn điều lệ trên 5.000 tỷ đồng Tuy nhiên so với các nước trong khu vực thì các ngân hàng Việt Nam vẫn nhỏ hơn khá nhiều Số liệu của một số NHTM có quy mô hoạt động lớn cho thấy nhiều ngân hàng đã đạt được tỷ lệ an toàn vốn 8% trong giai đoạn này như Vietcombank, Techcombank, Sacombank, ACB, DongAbank, … Điều này được lý giải bởi giai đoạn này môi trường kinh doanh khá thuận lợi kết hợp sự bùng nổ của thị trường chứng khoán (2006-2008) khiến vốn tự có của các ngân hàng được cải thiện nhanh chóng
Giai đoạn từ sau khủng hoảng tài chính khu vực năm 2010 đến năm 2014
Năm 2010, NHNN ban hành Thông tư 13 với những quy định mới hơn về bảo đảm an toàn vốn trong hoạt động ngân hàng (CAR nâng lên tối thiểu 9%, hạn chế các TCTD kinh doanh vào chứng khoán và bất động sản bằng cách nâng hệ số rủi ro của các khoản vay trong hai lĩnh vực này lên 250%)
Đến cuối tháng 6/2011, hệ thống ngân hàng có 7 NHTM (chủ yếu là NHTMNN)
có vốn điều lệ hơn 10.000 tỷ đồng, 9 NHTM cổ phần có vốn điều lệ từ 5.000-10.000 tỷ đồng, 10 NHTM cổ phần có vốn điều lệ từ 3.000-5.000 tỷ đồng và vẫn còn khoảng 15 NHTM có vốn điều lệ dưới 3.000 tỷ đồng Như vậy, tiến độ tăng vốn được kéo giãn thêm một năm nhưng một số ngân hàng nhỏ vẫn chưa đáp ứng được mức vốn pháp định Đến ngày 30/06/2014, tất cả các NHTM Việt Nam đều có vốn điều lệ trên 3.000 tỷ đồng Nhóm các ngân hàng có ổn định nhất về quy mô và tốc độ tăng trưởng của cả vốn tự có
và vốn điều lệ trong giai đoạn này là nhóm NHTM cổ phần, tiếp đến là nhóm các ngân
Trang 26hàng liên doanh và ngân hàng nước ngoài, nhóm các NHTMNN chỉ tăng trưởng 1.02% trong năm 2014 Xét trên toàn hệ thống ngân hàng, tốc độ tăng trưởng vốn tự có trong giai đoạn 2012-2015 đạt 7,39% Tính trung bình, các NHTM Việt Nam có hệ số CAR bình quân toàn ngành trên 13%, trong đó khối NHTM Liên doanh và nước ngoài có CAR cao nhất là 25%
Giai đoạn từ sau khủng hoảng tài chính khu vực năm 2014 đến nay
Mặc dù, Thông tư 13 năm 2010 được NHNN ban hành quy định chi tiết về cách tính toán hệ số CAR tuy nhiên vẫn còn nhiều bất cập trong vấn đề này như: hệ số điều chỉnh rủi ro vẫn chưa phản ánh được hết mức độ rủi ro tín dụng vì chưa tính đến mức xếp hạng của khách hàng Theo khuyến nghị của Basel II, hệ số rủi ro tính dụng trong mẫu số CAR nên áp dụng khác nhau với các loại tài sản và mức xếp hạng, từ 0-350% Ngoài ra, CAR Việt Nam vẫn chưa tính đến rủi ro thị trường và rủi ro hoạt động
Ngày 20/11/2014, NHNN ban hành Thông tư 36 quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn hoạt động của TCTD, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài trên cơ sở pháp lý dựa trên Basel I, Basel II, thực tiễn áp dụng Thông tư 13, tình hình thị trường tài chính trong giai đoạn 2010-2014 Điểm khác biệt cơ bản của Thông tư 36 năm 2014 và Thông
tư 13 năm 2010 là bổ sung thêm đối tượng thực hiện là Chi nhánh ngân hàng nước ngoài
và khoản mục trái phiếu chuyển đổi trong vốn cấp 2 phải có mức lãi suất cố định để đảm bảo tính chất ổn định lâu dài và có đủ những đặc điểm để xác định như vốn chủ sở hữu thì mới bảo vệ được quyền lợi của người gửi tiền Tuy nhiên, so với chuẩn mực Basel II,
tỷ lệ CAR trong thông tư 36 vẫn chưa xét đến rủi ro thị trường và rủi ro hoạt động trong tổng tài sản có rủi ro Nếu các NHTM Việt Nam tính toán đầy đủ hai loại rủi ro này, mẫu
số sẽ tăng lên làm giá trị CAR nhỏ đi
Trang 27CHƯƠNG 4: PHƯƠNG PHÁP VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
Bài “nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng tới hệ số an toàn vốn tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam” của Tiến sĩ Thân Thị Thu Thủy và Thạc sĩ Nguyễn Kim Chi đã nghiên cứu 22 ngân hàng TMCP trong giai đoạn 2007-2013 lấy nền tảng từ bài nghiên cứu tại các NHTM tại Thổ Nhĩ Kỳ của tác giả Ahmet Büyükşalvarcı và Hasan Abdioğlu (2011) Dựa trên mô hình nghiên cứu của hai bài viết trên, bài luận sử dụng
mô hình nghiên cứu phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam và có thay đổi như sau:
CARit = 𝛼 + 𝛽1𝑆𝐼𝑍𝐸𝑖𝑡 + 𝛽2𝐿𝐸𝑉𝑖𝑡 + 𝛽3𝐿𝐿𝑅𝑖𝑡 + 𝛽4𝐷𝐸𝑃𝑖𝑡 + 𝛽5𝐿𝑂𝐴𝑖𝑡 + 𝛽6𝐿𝐼𝑄𝑖𝑡 + 𝛽7𝑅𝑂𝐴𝑖𝑡 + 𝛽8𝑅𝑂𝐸𝑖𝑡 + 𝜀𝑖𝑡
Trong đó:
- CARit: hệ số an toàn vốn của ngân hàng i tại thời điểm t
- (SIZE)it: quy mô ngân hàng i tại thời điểm t, được lượng hóa bằng logarit của tổng tài sản ngân hàng i tại thời điểm t
- (LEV)it: hệ số đòn bẩy tài chính, được lượng hóa bằng vốn chủ sở hữu của ngân hàng i trong năm t chia cho tổng tài sản của ngân hàng i trong năm t
- (LLR)it: dự phòng các khoản cho vay khó đòi của ngân hàng i tại thời điểm t, được lượng hóa bằng dự phòng tổn thất rủi ro tín dụng của ngân hàng i trong năm t chia cho tổng dư nợ tín dụng của ngân hàng i trong năm t
- (DEP)it: khoản tiền gửi của khách hàng tại ngân hàng i tại thời điểm t, được lượng hóa bằng tổng tiền gửi của khách hàng tại ngân hàng i trong năm t chia cho tổng tài sản của ngân hàng i trong năm t
Trang 28- (LOA)it: khoản tiền cho vay của ngân hàng i tại thời điểm t, được lượng hóa bằng tiền cho vay của ngân hàng i trong năm t chia cho tổng tài sản của ngân hàng i trong năm t
- (LIQ)it: hệ số thanh khoản của ngân hàng i tại thời điểm t, được lượng hóa bằng tiền mặt và các khoản tương đương tiền của ngân hàng i trong năm t chia cho tổng tài sản của ngân hàng i trong năm t
- (ROA)it: khả năng sinh lời trên tổng tài sản của ngân hàng i tại thời điểm t, được lượng hóa bằng lợi nhuận sau thuế của ngân hàng i trong năm t chia cho tổng tài sản của ngân hàng i trong năm t
- (ROE)it: khả năng sinh lời trên vốn chủ sở hữu của ngân hàng i tại thời điểm t, được lượng hóa bằng lợi nhuận sau thuế của ngân hàng i trong năm t chia cho tổng vốn chủ sở hữu của ngân hàng i trong năm t
Trang 29Bảng 1: Các biến sử dụng trong mô hình nghiên cứu
Hệ số an toàn vốn Hệ số an toàn vốn của ngân hàng
i tại thời điểm t
Hệ số thanh khoản Tiền mặt và các khoản tương
đương tiền/ tổng tài sản
Trang 30Để đo lường mối quan hệ giữa CAR với các yếu tố như quy mô ngân hàng, hệ số đòn bẩy tài chính, dự phòng các khoản cho vay khó đòi, tiền gửi của khách hàng, tiền cho vay của ngân hàng, hệ số thanh khoản và các chỉ tiêu về khả năng sinh lời, bài luận
sử dụng phương pháp phân tích dữ liệu bảng (panel data) với phương pháp GMM, đây
là phương pháp được Lars Peter Hansen trình bày lần đầu tiên vào năm 1982 trong bài viết “Large Sample Properties of Generalized Methods of Moments Estimators” được đăng trong Econometrica, Vol.50, số 4 (Tháng 7, 1982) trang 1029-1054 Một cách tổng quan, GMM là phương pháp tổng quát của rất nhiều phương pháp ước lượng phổ biến như OLS, GLS, MLE,… Ngay cả trong điều kiện giả thiết nội sinh bị vi phạm, phương pháp GMM cho ra các hệ số ước lượng vững, không lệch, phân phối chuẩn và hiệu quả
4.3 DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU
Mẫu nghiên cứu
Tính đến thời điểm 31/12/2015, có 33 NHTMCP Việt Nam, tuy nhiên do thời gian nghiên cứu có hạn và một số ngân hàng chưa công bố số liệu nên chỉ nghiên cứu được trong phạm vi 16 NHTMCP Việt Nam bao gồm:
- Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam (CTG)
- Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam (VCB)
- Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV)
- Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu (ACB)
- Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quốc tế Việt Nam (VIB)
- Ngân hàng Thương mại Cổ phần Nam Á
- Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank)
- Ngân hàng Thương mại Cổ phần Kỹ Thương Việt Nam (Techcombank)
Trang 31- Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn – Hà Nội (SHB)
- Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín (Sacombank)
- Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quốc Dân (NCB)
- Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân Đội (MBBank)
- Ngân hàng Thương mại Cổ phần Hàng Hải Việt Nam (Maritime Bank)
- Ngân hàng Thương mại Cổ phần Xuất Nhập khẩu Việt Nam (Eximbank)
- Ngân hàng Thương mại Cổ phần Tiên Phong (TPbank)
- Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bản Việt (Viet Capital Bank)
Trong năm 2016, nhiều ngân hàng vẫn chưa công bố báo cáo tài chính đầy đủ vì vậy bài luận văn sử dụng dữ liệu bảng của 16 NHTMCP Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2015
Nguồn dữ liệu nghiên cứu
Dữ liệu được tập hợp từ 16 NHTM Việt Nam trong khoảng thời gian từ năm
2005-2015 Các dữ liệu được các NHTM công bố từ năm 2004-2015, tuy nhiên vào 2004-2006
có nhiều NHTM không công bố thông tin trong khoảng thời gian này Ngoài ra, trong khoảng thời gian 2008-2012, nền kinh tế VN chịu tác động của khủng hoảng kinh tế thế giới cộng với những vấn đề nội tại khiến kinh tế Việt Nam rơi vào suy thoái Kèm theo
đó là những sự kiện biến động lớn về tình hình chung của toàn ngành ngân hàng Việt Nam, tình hình hoạt động kinh doanh của từng ngân hàng thương Việt Nam nói riêng khá bất ổn dẫn đến dữ liệu nhiều ngân hàng thương mại trong thời kỳ 2005-2015 cũng
bị đứt quãng Bài luận thu thập dữ liệu từ các báo cáo tài chính và báo cáo thường niên được công bố hàng năm trên website của các ngân hàng của các NHTM Việt Nam Dữ liệu được tập hợp từ 16 NHTM Việt Nam có đầy đủ nhất các số liệu cần thiết trong giai
Trang 32đoạn đưa ra nghiên cứu, với hy vọng mang được tính đại diện cho tổng thể các NHTM Việt Nam.
4.4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Thống kê mô tả các biến trong mô hình
Bài luận lấy mẫu 16 NHTMCP trong mười năm từ 2005-2015 để tìm ra tác động của 8 nhân tố đặc thù đối với hệ số an toàn vốn của ngân hàng Số liệu thống kê mô tả được tóm tắt trong bảng 2
Bảng 2: Thống kê mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu
sát
Giá trị trung bình
Độ lệch chuẩn
Giá trị nhỏ nhất
Giá trị lớn nhất
Trang 33Thống kê mô tả cho thấy trung bình, độ lệch chuẩn, giá trị nhỏ nhất và giá trị lớn nhất Tổng số quan sát cho mỗi biến là 169
Biến phụ thuộc CAR của 16 NHTM Việt Nam có giá trị trung bình là 0.1678065 (16.78%), giá trị lớn nhất là 1.01 (101%) và giá trị nhỏ nhất là 0.0518 (5.18%) Trong khi đó, theo quy định tại thông tư 36/2014/TT-NHNN ngày 20/11/2014 và sửa đổi bổ sung tại thông tư 06/2016/TT-NHNN ngày 27/05/2016, CAR của các NHTM phải đạt tối thiểu ở mức 9% Như vậy, giá trị trung bình CAR vượt so mức quy định của NHNN Điều này có nghĩa, các NHTM Việt Nam nhìn chung có đủ khả năng về vốn để chống lại những cú sốc về tài chính, vừa tự bảo vệ mình, vừa tự bảo vệ những người gửi tiền Tuy nhiên, số liệu thực tế tại các NHTM Việt Nam cho thấy những ngân hàng nhỏ thì CAR càng cao, điều này có thể không thể hiện các ngân hàng đang hoạt động an toàn như ý nghĩa vốn có của nó mà báo hiệu các ngân hàng đang gặp khó khăn trong việc huy động tiền gửi hoặc tìm kiếm đầu ra cho hoạt động cho vay
Quy mô của các NHTM Việt Nam khá cách biệt nhau khi giá trị trung bình logarit
tự nhiên của tổng tài sản đạt 7.757858 với độ lệch chuẩn lên tới 71.46% Giá trị tối thiểu
và tối đa lần lượt là 4.319918 và 8.927889
Hệ số đòn bẩy tài chính trung bình của các NHTM đạt 0.110287 với độ lệch chuẩn 10.66% Giá trị tối thiểu và tối đa lần lượt đạt 0.0308 và 1.030161
Tỉ lệ trích lập dự phòng trên tổng dư nợ tín dụng trung bình trong 10 năm qua là 1.22%, với độ lệch chuẩn là 0.68%
Tỷ lệ tiền gửi của khách hàng trên tổng tài sản trong 10 năm gần đây tại các NHTMCP Việt Nam trung bình đạt 60.08% với độ lệch chuẩn 14.06% Một khoảng cách lớn trong việc thu hút nguồn tiền gửi của các ngân hàng từ mức 18.51% với 89.21%
Trung bình tỉ lệ cho vay trên tổng tài sản của các NHTM Việt Nam đạt 50.40%, với độ lệch chuẩn 12.29% Tối thiểu là 14.73% và tối đa là 78.47%