Đặc biệt với mô hình hỗ trợ vốn cho phụ nữ nghèo được thực hiện bởi các tổ chức tài chính vi mô đang phát triển ngày càng mạnh mẽ đã giúp phụ nữ nghèo chủ động sử dụng vốn tham gia vào s
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
NGUYỄN THỊ THANH HOA
ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA QUỸ HỖ TRỢ PHỤ NỮ
PHÁT TRIỂN KINH TẾ HUYỆN BA TRI ĐẾN THU NHẬP CỦA CÁC THÀNH VIÊN VAY VỐN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Tp Hồ Chí Minh - Năm 2017
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
NGUYỄN THỊ THANH HOA
ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA QUỸ HỖ TRỢ PHỤ NỮ
PHÁT TRIỂN KINH TẾ HUYỆN BA TRI ĐẾN THU NHẬP CỦA CÁC THÀNH VIÊN VAY VỐN
Mã ngành: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS TRẦN TIẾN KHAI
Tp Hồ Chí Minh - Năm 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên Nguyễn Thị Thanh Hoa là học viên cao học khóa 25 chuyên ngành Ngân hàng theo hướng ứng dụng Trong quá trình thực hiện đề tài bản thân tôi đã cố gắng nghiên cứu tài liệu, trao đổi, lắng nghe và tiếp thu ý kiến đóng góp của giảng viên hướng dẫn khoa học để hoàn thành khóa luận
Tôi xin cam đoan bản thân là tác giả của luận văn này với tên đề tài là “Đánh giá tác động của Quỹ hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế huyện Ba Tri đến thu nhập của các thành viên vay vốn” Tất cả các số liệu, kết quả nghiên cứu trong đề tài là trung thực do bản thân trực tiếp khảo sát và xử lý
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm với cam kết trên
Tp.Hồ Chí Minh, ngày 13 tháng 11 năm 2017
Người thực hiện luận văn
Nguyễn Thị Thanh Hoa
Trang 4MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các ký hiệu, chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục hình vẽ, đồ thị
Tóm tắt
CHƯƠNG 1: PHẦN MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3
1.4 Phương pháp nghiên cứu 3
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍN DỤNG VI MÔ VÀ MỘT SỐ MÔ HÌNH HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH VI MÔ 5
2.1 KHÁI QUÁT VỀ TÍN DỤNG VI MÔ 5
2.2 MỘT SỐ MÔ HÌNH TÀI CHÍNH VI MÔ TRÊN THẾ GIỚI 7
2.3 MỘT SỐ MÔ HÌNH TÀI CHÍNH VI MÔ Ở VIỆT NAM 8
CHƯƠNG 3: TỔNG QUAN VỀ QUỸ HỖ TRỢ PHỤ NỮ PHÁT TRIỂN KINH TẾ 13
3.1 GIỚI THIỆU VỀ QUỸ HỖ TRỢ PHỤ NỮ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TỈNH BẾN TRE 13
3.1.1 Mục đích hoạt động của Quỹ 13
3.1.2 Nhiệm vụ hoạt động của Quỹ 13
3.1.3 Nguồn vốn hoạt động của Quỹ 14
3.1.4 Kết quả hoạt động của Quỹ 14
3.1.5 Quy chế hoạt động của Quỹ 14
Trang 53.2 TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA QUỸ HỖ TRỢ PHỤ NỮ PHÁT
TRIỂN KINH TẾ HUYỆN BA TRI 15
3.3 MỘT SỐ THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN CỦA QUỸ 19
3.3.1 Thuận lợi và mặt đạt được 19
3.3.2 Hạn chế và khó khăn 20
CHƯƠNG 4: TÁC ĐỘNG CỦA QUỸ HỖ TRỢ PHỤ NỮ PHÁT TRIỂN KINH TẾ HUYỆN BA TRI 21
4.1 MÔ TẢ MẪU NGHIÊN CỨU 21
4.2 CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG CỦA QUỸ HỖ TRỢ PHỤ NỮ PHÁT TRIỂN THEO ĐÁNH GIÁ CỦA CÁC THÀNH VIÊN 27
4.3 LỢI ÍCH CỦA CÁC THÀNH VIÊN KHI THAM GIA VÀO QUỸ HỖ TRỢ PHỤ NỮ PHÁT TRIỂN KINH TẾ 34
4.4 MỘT SỐ KHÓ KHĂN KHI VAY VỐN CỦA QUỸ 37
4.5 PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN THU NHẬP CỦA GIA ĐÌNH CÁC THÀNH VIÊN VAY VỐN 39
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ GỢI Ý CHÍNH SÁCH 46
5.1 GIẢI PHÁP CẢI THIỆN THU NHẬP ĐỐI VỚI CÁC THÀNH VIÊN VAY VỐN CỦA QUỸ HỖ TRỢ PHỤ NỮ PHÁT TRIỂN KINH TẾ HUYỆN BA TRI 46
5.2 KẾ HOẠCH TRIỂN KHAI THỰC HIỆN GIẢI PHÁP 49
5.2 KHUYẾN NGHỊ 52
5.2.1 Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh Bến Tre 52
5.2.2 Đối với Sở, Ban, Ngành của Tỉnh 54
5.2.3 Đối với các doanh nghiệp, công ty bảo hiểm 55
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
(International Fund for Agricultural Development)
(Microfinance Institution)
(Tau Yeu May)
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1: Đặc điểm của các thành viên vay vốn 22
Bảng 4.2: Đặc điểm của các hộ gia đình vay vốn 23
Bảng 4.3: Đặc điểm của các hộ vay vốn chính sách 24
Bảng 4.4: Diện tích đất ở và đất canh tác của các hộ vay vốn 25
Bảng 4.5: Mục đích sử dụng vốn vay từ Quỹ 26
Bảng 4.6: Đánh giá mức lãi suất 30
Bảng 4.7: Đánh giá về chi tiêu và tiết kiệm 31
Bảng 4.8: Đánh giá về thu nhập 32
Bảng 4.9: Lợi ích khi tham gia vào Quỹ 35
Bảng 4.10: Tình hình tham gia hụi 36
Bảng 4.11: Lý do các hộ không tiếp tục vay vốn của Quỹ năm 2017 40
Bảng 4.12: Ma trận tương quan giữa các biến trong mô hình 41
Bảng 4.13: Kết quả hồi quy mô hình Probit về các nhân tố tác động đến thu nhập của các thành viên vay vốn 42
Trang 8DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình: Đánh giá mức vay 24
Trang 9TÓM TẮT
Xóa đói giảm nghèo là hoạt động mà Chính phủ Việt Nam luôn quan tâm, coi trọng và trở thành mục tiêu xuyên suốt của quốc gia trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội Để đạt được mục tiêu xóa đói giảm nghèo trong thời gian qua Nhà nước ta đã triển khai nhiều chương trình, dự án và tạo mọi điều kiện thuận lợi để người dân vươn lên thoát nghèo bền vững Với những bài học kinh nghiệm được đúc kết thông qua các mô hình xóa đói giảm nghèo hiệu quả ở nhiều nước trên thế giới và thực tiễn của đất nước, thời gian qua Việt Nam cũng đã đạt được một số thành tựu đáng kể trong công cuộc giảm nghèo Đặc biệt với mô hình hỗ trợ vốn cho phụ nữ nghèo được thực hiện bởi các tổ chức tài chính vi mô đang phát triển ngày càng mạnh mẽ đã giúp phụ nữ nghèo chủ động sử dụng vốn tham gia vào sản xuất, tự tạo thu nhập và tự khẳng định bản thân thay vì trông chờ vào người khác Tỉnh Bến Tre cũng là một trong những nơi mà mô hình hỗ trợ vốn cho phụ nữ phát triển kinh tế được chú trọng và triển khai rộng rãi ở nhiều địa phương trong đó có huyện Ba Tri
Đề tài với mục tiêu đánh giá lại quá trình hoạt động của Quỹ hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế huyện Ba Tri đồng thời chỉ ra những nguyên nhân và yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của các thành viên vay vốn Trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp và triển khai phương hướng thực hiện để giải pháp đạt hiệu quả
Kết quả nghiên cứu cho thấy chương trình tín dụng vi mô cũng có những tác động tích cực đến thu nhập và đời sống các gia đình phụ nữ Đồng thời, đề tài còn chỉ ra tác động mạnh mẽ của số tiền vay và mục đích vay đến thu nhập bình quân của hộ vay vốn tuy nhiên số người phụ thuộc và số năm vay vốn lại có tác động tiêu cực
Trang 10CHƯƠNG 1 PHẦN MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Nghèo đói là trong những vấn nạn và thách thức chính của mỗi quốc gia vì
nó gây ra cho con người những khó khăn, chật vật và thiếu thốn trong cuộc sống về mọi mặt như chăm sóc về y tế, giáo dục,v.v từ đó có thể thúc đẩy con người phạm tội ác và thậm chí tự sát Nghèo đói thường xảy ra đối với những người có thu nhập thấp trong xã hội đặc biệt là vùng nông thôn tỷ lệ hộ nghèo vẫn còn khá cao do phần lớn người dân gặp khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng chính thức do
đó chủ yếu họ vay từ các nguồn không chính thức để phục vụ cho sản xuất cũng như tiêu dùng điều đó dẫn đến thực tế là họ có thể rơi vào nợ sâu và vỡ nợ
Trong thời gian qua, nhận thức sâu sắc được vấn đề này Việt Nam đã không ngừng nổ lực, đẩy mạnh thực hiện các biện pháp xóa đói giảm nghèo như hỗ trợ vốn, cây giống, vật nuôi để người nghèo có điều kiện tham gia sản xuất, vươn lên thoát nghèo Tỉnh Bến Tre hòa trong xu hướng chung nhằm cải thiện đời sống của những người nghèo trong Tỉnh, những năm gần đây nhiều chương trình, dự án xóa đói giảm nghèo đã được các cấp lãnh đạo quan tâm, tiến hành triển khai và thực hiện rộng rãi ở nhiều địa phương cụ thể là dự án phát triển kinh doanh với người nghèo nông thôn tỉnh Bến Tre (gọi tắt là DBRP Bến Tre) được chính phủ Việt Nam
và Quỹ Quốc tế về Phát triển Nông nghiệp (IFAD) ký vào tháng 1/2008 mục tiêu cuối cùng của dự án là nhằm giảm nghèo bền vững và công bằng cho người nghèo nông thôn góp phần phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao đời sống cho người dân của Tỉnh Dự án cũng đã được khảo sát đánh giá trên đối tượng là các hộ nông nghiệp – nông thôn và các doanh nghiệp vừa và nhỏ tham gia hoạt động sản xuất nông nghiệp (Báo cáo dữ liệu khảo sát của hệ thống theo dõi đánh giá M&E, 2011) Đặc biệt trong số các dự án xóa đói giảm nghèo đó là sự ra đời của “Quỹ hỗ trợ phụ
nữ phát triển kinh tế tỉnh Bến Tre” nói chung và huyện Ba Tri nói riêng vào ngày
Trang 1128/6/2013 Là cột mốc quan trọng góp phần mang đến niềm vui cho những phụ nữ nghèo, thu nhập thấp, thiếu vốn sản xuất tại huyện Ba Tri
Trải qua nhiều năm hoạt động, “Quỹ hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế huyện
Ba Tri” đã không ngừng mở rộng phạm vi ra các xã của huyện, tìm kiếm và hỗ trợ kịp thời các đối tượng để cho vay là những hộ nghèo, cận nghèo, những người có thu nhập thấp, hoàn cảnh khó khăn và thiệt thòi trong xã hội, đặc biệt là phụ nữ nhằm mục đích tạo việc làm, tăng thu nhập, hạn chế vay nặng lãi cũng như chơi hụi cho người nghèo nói chung và phụ nữ của huyện Ba Tri nói riêng Với những thành công đã đạt được thì hoạt động của Quỹ cũng còn gặp nhiều khó khăn như số lượng thành viên trong quý I/2017 không đạt được mục tiêu so với kế hoạch, nhiều thành viên rời khỏi quỹ, một số gặp khó khăn trong nghĩa vụ trả nợ (Báo cáo tổng kết của Hội LHPN huyện Ba Tri Quý I, 2017) Đặc biệt là còn một số lượng lớn các thành viên có thu nhập không thay đổi được đánh giá qua khảo sát 160 thành viên vay vốn của Quỹ cho thấy mục tiêu cải thiện thu nhập của các hộ gia đình chưa thật sự có hiệu quả vì có hơn 50% chị em vay vốn có thu nhập không thay đổi so với trước đây Như vậy đâu là những nguyên nhân tác động đến thu nhập của các thành viên
vay vốn và ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của Quỹ thì đề tài “Đánh giá tác
động của Quỹ hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế huyện Ba Tri đến thu nhập của các thành viên vay vốn” sẽ góp phần giải quyết vấn đề này
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá tình hình hoạt động của Quỹ trong thời gian qua;
- Đánh giá tác động của quỹ hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế đến chi tiêu, tiết kiệm và thu nhập bình quân của các hộ nhận vốn;
- Chỉ ra những nguyên nhân và yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập bình quân của các thành viên vay vốn từ Quỹ;
- Đề xuất giải pháp và kế hoạch triển khai thực hiện để góp phần cải thiện thu nhập cho các gia đình vay vốn
Trang 121.3 Câu hỏi nghiên cứu
- Trong thời gian qua “Quỹ hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế của huyện Ba Tri” hoạt động như thế nào?
- Đâu là nguyên nhân và là những yếu tố tác động mạnh đến thu nhập bình quân của các gia đình nhận vốn từ Quỹ?
- Những biện pháp nào nên được đề xuất và triển khai thực hiện nhằm góp phần cải thiện thu nhập của những thành viên vay vốn?
1.4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp chọn mẫu và thu thập số liệu
Quy mô mẫu: Tiếp cận theo phương pháp định lượng dựa vào mô hình hồi quy Theo Green (1999) và Tabachnick & Fidell (2007) nếu dữ liệu là dạng chéo thì quy mô mẫu được xác định là: n 50 + 8k; với k là số biến độc lập trong mô hình Như vậy kích thước mẫu được chọn là n 50 + 8 x 6 = 98 tuy nhiên để đảm bảo mức độ tin cậy và đại diện đề tài sẽ tiến hành khảo sát 160 thành viên vay vốn của Quỹ được sử dụng cho mục đích sản xuất dựa vào giấy đề nghị cấp tín dụng
Việc thu thập số liệu trong đề tài được tiến hành từ quá trình điều tra phỏng vấn trực tiếp các cán bộ tín dụng và 160 thành viên vay vốn của Quỹ Đề tài sử dụng phương pháp chọn mẫu xác suất và phân tầng theo danh sách các thành viên vay vốn của Quỹ trong các năm 2012, 2013, 2014, 2015 và 2016 và đến đầu năm
2017 vẫn còn sử dụng vốn Nghiên cứu chọn 6 xã của huyện có số lượng thành viên vay vốn tương đối nhiều bao gồm các xã Tân Hưng, An Ngãi Tây, An Đức, An Hòa Tây, Tân Thủy và Bảo Thuận để tiến hành phỏng vấn trực tiếp qua phiếu điều tra
- Phương pháp xử lý số liệu
+ Sau quá trình khảo sát, thu thập thông tin tác giả đã tiến hành xử lý thống
kê bằng phương pháp thống kê kết hợp với thống kê mô tả để đánh giá hoạt động cũng như tác động của Quỹ đến các hộ gia đình vay vốn
+ Song song đó đề tài còn sử dụng phần mềm Stata nhằm hỗ trợ việc phân tích số liệu và mô hình hồi quy probit để lượng hóa các yếu tố tác động đến thu nhập của các hộ gia đình vay vốn từ Quỹ Mô hình chọn biến phụ thuộc là xác suất
Trang 13tăng thu nhập của các thành viên vay vốn, đây là biến không liên tục và nhận hai giá trị 0 và 1 nên đề tài sử dụng mô hình probit
P thể hiện thu nhập bình quân của hộ vay vốn: P = 0 thu nhập không thay đổi
và P = 1 thu nhập tăng Xi là các biến độc lập ảnh hưởng đến thu nhập của gia đình các thành viên vay vốn từ Quỹ bao gồm tuổi của thành viên vay vốn, số người phụ thuộc trong gia đình, số năm vay, mức vay, việc tham gia các chương trình tập huấn
và tài sản được hình thành từ thu nhập của nguồn vốn dự án
Trang 14CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍN DỤNG VI MÔ VÀ MỘT SỐ MÔ HÌNH HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH VI MÔ
2.1 KHÁI QUÁT VỀ TÍN DỤNG VI MÔ
“Quỹ hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế” là một trong những chương trình do Hội LHPN trực tiếp điều hành với hoạt động chủ yếu là cung cấp các khoản tín dụng vi mô hướng vào người nghèo, thu nhập thấp nhằm mục tiêu cải thiện mức sống bằng việc tạo thu nhập và việc làm Theo Ngân hàng Grameen (Bangladesh):
“Tín dụng vi mô là những khoản cho vay nhỏ được cấp cho người nghèo để họ thực hiện phương án kinh doanh của chính mình nhằm tạo ra thu nhập cho bản thân và nuôi sống gia đình Khách hàng mục tiêu bao gồm những phụ nữ kinh doanh tại gia
có thu nhập thấp và các khoản cho vay không có tài sản đảm bảo”
Cùng với quan điểm trên Microcredit Summit Campaign cho rằng: “Tín dụng vi mô là chương trình cung cấp tín dụng cho cá nhân và các dịch vụ tài chính, kinh doanh khác (bao gồm tiết kiệm và hỗ trợ kĩ thuật) đối với các cá nhân rất nghèo”
Theo The Microcredit Sumit (1997) thì “Tín dụng vi mô còn được xem là chương trình mở rộng các khoản cho vay nhỏ đối với người nghèo giúp họ tự thực hiện dự án để tạo ra thu nhập, tự chăm sóc bản thân và gia đình”
Hay với Otero (1999) đã phát biểu: “Tín dụng vi mô là việc cung cấp các dịch vụ tài chính cho người có thu nhập thấp và rất nghèo Các dịch vụ tài chính nói chung bao gồm tiết kiệm và tín dụng, nhưng cũng có thể bao gồm các dịch vụ khác như bảo hiểm và các dịch vụ thanh toán”
Mặt khác, Scheriner and Colombet (2001) đã định nghĩa: “Tín dụng vi mô là một nổ lực để cải thiện việc tiếp cận các khoản tiền gởi nhỏ và các khoản vay nhỏ cho các hộ gia đình nghèo bị các ngân hàng bỏ qua” Hay “Tín dụng vi mô được xem như là sự gia tăng về tiết kiệm, khoản cho vay và các sản phẩm dịch vụ tài chính với số lượng nhỏ cho các hộ gia đình nghèo, cận nghèo ở khu vực thành thị và
Trang 15bán thành thị để tăng mức thu nhập và cải thiện đời sống” (Reserve Bank of India – Master Circular, 2011)
Mặc dù có nhiều quan điểm về Tín dụng vi mô nhưng tụ chung lại thì Tín dụng vi mô là các khoản cho vay nhỏ đối với các hộ gia đình nghèo, cận nghèo, có thu nhập thấp nhằm tăng thu nhập, tiết kiệm và cải thiện đời sống của bản thân và gia đình Nhìn chung tín dụng vi mô quan tâm đến những gia đình thiếu điều kiện vay từ nguồn vốn chính thức do không có tài sản thế chấp Xuất phát từ đặc điểm này đã tạo ra một số hệ lụy tồn tại trong quan hệ tín dụng vi mô như bất cân xứng thông tin dẫn đến việc lựa chọn ngược hay rủi ro đạo đức dễ gây ra vỡ nợ đối với người cho vay
Lựa chọn ngược là tình huống bất cân xứng thông tin xảy ra trước khi tiến hành giao dịch, bên vay vốn có thể che dấu, bóp méo thông tin theo hướng có lợi cho mình kết quả người có rủi ro cao lại vay được nợ (Stiglitz, 1975) Còn rủi ro đạo đức là vấn đề bất cân xứng thông tin sau giao dịch, là nguy cơ người đi vay sẽ tham gia vào những hoạt động có không mong muốn có thể giảm khả năng thanh toán nợ (Stiglitz, 1975) Do đó để hạn chế khả năng không chi trả được nợ đối với người vay các tổ chức tài chính vi mô thường sử dụng các biện pháp như:
+ Phát tín hiệu (Signaling): Có nghĩa là để nhận được nguồn vốn từ các tổ chức tài chính vi mô đòi hỏi người vay phải tích lũy thành tích tín dụng tốt, chứng minh được tính khả thi của phương án sản xuất và tiềm năng trả nợ của mình (Stiglitz, 1975)
+ Cơ chế sàng lọc (Screening): Các tổ chức tài chính vi mô có thể sàng lọc khách hàng bằng cách đặt ra các điều khoản trong hợp đồng để ngăn ngừa bên đi vay tham gia vào các hoạt động rủi ro cao Hoặc có thể dùng biện pháp động viên bằng hình thức cưỡng chế cắt tín dụng nếu người vay không thực hiện đầy đủ nghĩa
vụ chi trả lãi và gốc (Stiglitz, 1975) Như vậy trong thực tế các tổ chức tài chính vi
mô trên thế giới đã vận dụng các biện pháp này trong hoạt động của mình như thế nào?
Trang 162.2 MỘT SỐ MÔ HÌNH TÀI CHÍNH VI MÔ TRÊN THẾ GIỚI
Từ lâu nhiều nước trên thế giới đã sử dụng tài chính vi mô như một công cụ hiệu quả thực hiện giảm nghèo Ở nhiều Châu lục tài chính vi mô bắt đầu phát triển vào cuối thập niên 90, đánh dấu bằng sự ra đời của Grameen đã tạo bước chuyển mới trong các chính sách hỗ trợ người nghèo từ tín dụng trợ cấp sang mô hình thị trường và phát triển bền vững Bangladesh là nước tiên phong trong việc đưa ra chương trình tín dụng vi mô để giảm nghèo và tạo ra những bước chuyển mới trong đời sống, kinh tế của người dân nông thôn Ngân hàng Grameen do Giáo sư Muhammad Yunus khởi xướng vào năm 1974 như một dự án cung cấp dịch vụ ngân hàng cho những hộ gia đình nghèo nhất, giúp họ tự tạo việc làm, nâng cao thu nhập, góp phần giải quyết nạn thất nghiệp ở nông thôn Bangladesh (Chowdhury et
al 2002)
Trong một nghiên cứu của Chowdhury et al (2002) đã cho thấy cơ chế hoạt động của ngân hàng Grameen theo mô hình “nhóm tự quản” gồm 5 người, khoản vay đầu tiên dành cho hai người, rồi tiếp theo đến người thứ ba, thứ tư và người cuối cùng Thêm vào đó hàng tuần nhân viên tín dụng sẽ gặp các nhóm để chia sẻ những kinh nghiệm làm ăn hoặc quản lý chi tiêu Đặc biệt khi một thành viên trong nhóm không trả được nợ thì ngân hàng sẽ từ chối tất cả các khoản vay của các thành viên còn lại trong nhóm Do đó, người vay bị hối thúc bắt buộc phải làm ăn để trả
nợ, thành viên sẽ cảm thấy ngại ngùng nếu không trả được nợ góp phần gia tăng khả năng trả nợ Với mô hình hoạt động này đã tạo ra những hiệu quả hỗ trợ vốn tốt để những người nghèo, có thu nhập thấp vươn lên thoát nghèo thay vì trong chờ Chính phủ trợ cấp như trước
Tiếp nối thành công của ngân hàng Grameen, Swayam Krishi Sangam thực hiện cho vay ở cấp xã đối với những phụ nữ nghèo ở Ấn Độ không vì lợi nhuận Hình thức tín dụng thực hiện theo nhóm gồm “5 thành viên”, cung cấp các sản phẩm và dịch vụ tài chính như: Cho vay tạo thu nhập, các khoản cho vay trung hạn,
hỗ trợ tang, cho vay nhà ở, bảo hiểm nhân thọ.v.v với đối tượng chủ yếu là phụ nữ
Trang 17nghèo đã giúp nhiều chị em vươn lên thoát nghèo (Vinay Jawahar and Anasuya Sengypta, 2012)
Một mô hình hoạt động tín dụng vi mô khác không theo nhóm tự quản nhưng cũng khá thành công đã giúp hàng ngàn người dân Ấn Độ có được tiết kiệm và nguồn vốn để sản xuất và sinh hoạt Điển hình là ngân hàng Sewa với hoạt động nhận tiền gởi và cho vay, chỉ tập trung cho vay cá nhân và hoạt động chủ yếu dựa trên sự tín nhiệm của “Ngân hàng Saathi” – là khách hàng đồng hành giới thiệu các khách hàng tiềm năng tiếp cận nguồn vốn của Sewa Để vay vốn tại Sewa khách hàng phải mở tài khoản tiết kiệm ít nhất 6 tháng và suốt thời gian đó phải đảm bảo thường xuyên gởi tiết kiệm vào tài khoản, hoặc khách hàng vẫn có thể vay vốn khi
có tài sản thế chấp hay được bảo lãnh bởi bên thứ ba Với mô hình hoạt động này các cá nhân muốn vay vốn tại Sewa phụ thuộc rất nhiều vào ngân hàng Saathi nên dẫn đến sự lạm dụng lợi thế thông tin của họ đến người vay Các ngân hàng Saathi yêu cầu 10% đến 15% số tiền vay được cấp như là một khoản hoa hồng bổ sung thông tin giúp khách hàng vay vốn làm ảnh hưởng rất nhiều đến hoạt động của ngân hàng Sewa Với những thành công đáng khích lệ của các tổ chức TCVM thế giới trong việc giúp người nghèo, có thu nhập thấp nâng cao mức sống sẽ là bài học và
sự lựa chọn cho các Tổ chức TCVM Việt Nam trên con đường kéo giảm tỷ lệ đói nghèo
2.3 MỘT SỐ MÔ HÌNH TÀI CHÍNH VI MÔ Ở VIỆT NAM
Các hoạt động tín dụng vi mô của các tổ chức phi chính phủ và phi tổ chức tín dụng ở Việt Nam ngày được triển khai rộng rãi thông qua các đoàn thể xã hội, hội phụ nữ để tiếp cận được với người nghèo Đến nay các dịch vụ tài chính vi mô được cung cấp bởi ba nhóm: chính thức, bán chính thức và phi chính thức Trong một nghiên cứu của Vũ Mạnh Hùng và Trần Thị Kim Anh (2015) đã đề cập: “Tổ chức tài chính vi mô khu vực chính thức gồm: Hợp tác xã tín dụng, hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân, Quỹ tín dụng Trung ương Tổ chức tài chính vi mô bán chính thức gồm Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội Nông dân, Hội Cụ chiến binh và Đoàn thanh niên Tổ chức tài chính vi mô khu vực không chính thức là tổ chức do
Trang 18một nhóm người đứng ra tổ chức góp vốn cho vay luân phiên để giải quyết khó khăn trong đời sống với mục tiêu tương trợ
Trong đề án xây dựng và phát triển hệ thống tài chính vi mô tại Việt Nam (2011) “Chính phủ Việt Nam đã đặt mục tiêu xây dựng và phát triển hệ thống tài chính vi mô an toàn, bền vững hướng đến phục vụ người nghèo, người có thu nhập thấp đảm bảo an sinh xã hội và giảm nghèo bền vững đến năm 2020” Để đạt mục tiêu này Việt Nam đã không ngừng nổ lực vận động các cấp, ngành và đoàn thể tham gia và kết quả bước đầu vào ngày 16/6/2013, tại Italia, Tổ chức Nông Lương Liên hợp quốc (FAO) đã công nhận Việt Nam là một trong 38 quốc gia trên thế giới
có thànhtích nổi bật trong đấu tranh xóa đói giảm nghèo (Giảm nghèo - thành tích nổi bật của Việt Nam, 2014) Theo số liệu của NHNN Việt Nam tính đến hết năm
2015 có ba tổ chức tài chính vi mô được NHNN cấp phép hoạt động đó là Tổ chức tài chính vi mô TNHH một thành viên Tình Thương (TYM), Tổ chức tài chính vi
mô M7 và Thanh Hóa MFI
Hội LHPN Việt Nam đã thành lập tổ chức TCVM đầu tiên ở Việt Nam với tên gọi là tổ chức TCVM TNHH MTV Tình Thương, chủ yếu cung cấp các dịch vụ tài chính và phi tài chính để giúp các cá nhân và hộ gia đình đặc biệt là những phụ
nữ ở vùng nông thôn cải thiện chất lượng cuộc sống và vươn lên thoát nghèo Với
sứ mệnh này, TYM MFI không ngừng đổi mới, tạo ra những sản phẩm tín dụng và dịch vụ phù hợp giúp các chị em phụ nữ có được nguồn vốn dễ dàng để chủ động tham gia sản xuất, vươn lên thoát nghèo Phạm vi hoạt động của TYM gồm Hà Nội, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Bắc Ninh, Thái Nguyên, Hải Dương, Hưng Yên, Nam Định, thanh Hóa và Nghệ Tĩnh (Hội thảo định hướng phát triển ngành TCVM Việt Nam, 2016)
Phương thức hoạt động của TYM cho vay tín dụng nhỏ tối đa 30.000.000đ trả gốc lãi hàng tuần, được gửi tiết kiệm tối thiểu 10.000đ và tham gia quỹ tương trợ
để được hỗ trợ khi nằm viện/phẫu thuật hoặc có người thân trong gia đình qua đời, đặc biệt có chương trình xóa nợ hoàn toàn với mức góp 200.000đ Bên cạnh đó để tập hợp hội viên và giúp họ tham gia các hoạt động thuận lợi nhất, TYM đã thành
Trang 19lập các cụm ở các thôn – có từ 30 đến 80 thành viên, hàng tháng ngoài thu lãi, tiết kiệm, triển khai cấp phát vốn Hội còn tổ chức lồng ghép sinh hoạt chuyên đề tùy theo nhu cầu về nâng cao năng lực sản xuất hoặc các thành viên trong cụm sẽ chia
sẻ với nhau về kinh nghiệm làm kinh tế, chăm lo gia đình, thảo luận các vấn đề chung của địa phương và xã hội Cán bộ TYM cũng hướng dẫn các chị em ghi chép
sổ sách, quản lý chi tiêu của gia đình và thực hiện sản xuất sao cho hiệu quả Các chị em phụ nữ có cùng ngành nghề được TYM tổ chức các buổi tọa đàm chuyên đề với các giảng viên là cán bộ của Hội hoặc chuyên gia thuộc lĩnh vực chuyên môn phù hợp Mặt khác TYM còn tổ chức nhiều đợt để các thành viên của Hội tham quan và tiếp cận các mô hình sản xuất có hiệu quả ở các tỉnh lân cận và nhân rộng một số mô hình hiệu quả như trồng thanh long, nuôi giun quế, nuôi vịt đàn,v.v Với vai trò đồng hành cùng các thành viên trên bước đường phát triển, TYM đã hình thành thêm bộ phận tư vấn và hỗ trợ phát triển kinh doanh Nhận thấy được tầm quan trọng của việc nâng cao chất lượng và mở rộng thị trường đầu ra là khâu then chốt để cải thiện thu nhập, đời sống của các thành viên vay vốn TYM đã hỗ trợ thành viên với một số hoạt động như thành lập nhóm sở thích, tập huấn và chuyển giao công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, xây dựng thương hiệu, giới thiệu sản phẩm kết nối thị trường thông qua các chuỗi cửa hàng, hội chợ (Sức sống từ những mô hình mới, cách làm hay – Nxb Phụ nữ, Hội LHPN Việt Nam)
Tổ chức tài chính vi mô M7 được thành lập với mục đích hỗ trợ vốn để các chị em phụ nữ nghèo ở Sơn La và Quảng Ninh phát triển kinh tế Để thực hiện chủ trương xóa đói giảm nghèo, M7 MFI sử dụng vốn tự có và vốn huy động nhằm hỗ trợ vốn cho các hộ nghèo, thu nhập thấp đặc biệt là phụ nữ vùng dân tộc thiểu số và
ở miền núi Dựa trên mô hình của ngân hàng Grameen, M7 MFI thực hiện hoạt động cho vay theo nhóm đoàn kết cùng với Hội phụ nữ các cấp trong việc triển khai, giám sát các khoản tín dụng đến các hội viên Các hội viên vay vốn đều phải gởi khoản tiết kiệm bắt buộc tối thiểu là 10.000đ vào các buổi họp cụm (2 tuần/lần) như một khoản thế chấp và chỉ được rút khi rời khỏi nhóm Ngoài ra, M7 – MFI còn khuyến khích các hội viên gởi tiết kiệm tự nguyện với mức lãi suất thường cao hơn
Trang 20NHTM là 0,5%/năm cũng như phối hợp với công ty bảo hiểm Bảo Việt cung cấp các sản phẩm bảo hiểm vi mô đến các hội viên
Một tổ chức tài chính vi mô khác cũng đã hoạt động khá hiệu quả trong suốt quá trình hình thành và phát triển là Thanh Hóa MFI – là một trong những tổ chức TCVM được cấp phép hoạt động Tương tự như các tổ chức TCVM khác, Thanh Hóa MFI cũng cung cấp sản phẩm tín dụng cho các nhóm đoàn kết không cần tài sản thế chấp nhưng phải gởi tiết kiệm bắt buộc định kỳ vào mỗi tháng Tuy nhiên khác với M7 MFI các thành viên vay vốn được rút khoản tiết kiệm bắt buộc trong trường hợp khẩn cấp với điều kiện số dư tiết kiệm phải lớn hơn hoặc bằng 300.000đ Ngoài ra, các chương trình truyền thông với những chủ đề về sức khỏe, bình đẳng giới và bảo vệ môi trường cũng được Thanh Hoa MFI thực hiện thông qua việc kết hợp với các tổ chức trong và ngoài nước Bên cạnh đó Thanh Hóa MFI còn cung cấp các sản phẩm bảo hiểm vốn vay với vai trò đại lý của công ty bảo hiểm Bưu Điện Với mỗi khoản vay từ Thanh Hóa MFI các thành viên được bảo hiểm vốn vay trong các trường hợp tử vong, liệt toàn thân sẽ được công ty bảo hiểm Bưu Điện bồi thường toàn bộ dư nợ còn lại
Song song đó chương trình tín dụng vi mô cũng được quan tâm đặc biệt của Chính Phủ Việt Nam thông qua hoạt động cấp tín dụng của Ngân hàng chính sách
xã hội (NHCSXH), với đối tượng vay vốn hầu hết là hộ gia đình nghèo, gia đình chính sách, có hoàn cảnh khó khăn.v.v Về phương thức cho vay vốn tín dụng chủ yếu thông qua các Tổ tiết kiệm và vay vốn của các Hội đoàn thể ở địa phương gồm: Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Hội cựu chiến binh và Đoàn thanh niên (Nguyễn Quốc Nghi và cộng sự, 2013) Nhờ sự phối hợp tham gia của các đoàn thể vốn tín dụng được chuyển tải đến đúng đối tượng, được giám sát ngay tại cơ sở, gắn liền với các hoạt động khuyến nông – lâm – ngư, hướng dẫn hội viên cách làm ăn, sử dụng vốn đúng mục đích và tiết kiệm chi phí hoạt động cho vay
Qua trên cho thấy Chính phủ ngày càng quan tâm và triển khai rộng rãi chương trình tín dụng vi mô trong việc xóa đói giảm nghèo cho người dân đặc biệt
là phụ nữ nghèo đã mang lại những kết quả rất khả quan, giúp họ có thêm điều kiện
Trang 21tham gia sản xuất tự tạo việc làm và nâng cao thu nhập nhằm cải thiện đời sống Tuy nhiên trong môi trường cạnh tranh, các tổ chức tài chính vi mô cần tăng cường đổi mới, tính chuyên nghiệp để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao và nhận được sự tin tưởng từ khách hàng vào hoạt động của mình cũng như cam kết hoạt động lâu dài bền vững của các tổ chức
Từ việc phân tích các mô hình hoạt động TCVM trên thế giới và Việt Nam cho thấy các tổ chức TCVM hoạt động khá hiệu quả, chủ yếu dựa vào mô hình cho vay nhóm bảo lãnh tín chấp nghĩa là các thành viên vay vốn phải được các thành viên trong nhóm bảo lãnh đồng thời để giảm rủi ro tín dụng các thành viên còn phải tham gia bảo hiểm bắt buộc Trên mô hình hoạt động của các tổ chức tài chính vi
mô lớn và nằm trong dự án phát triển kinh doanh với người nghèo của Tỉnh Bến Tre, Quỹ hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế Tỉnh Bến Tre nói chung và huyện Ba Tri nói riêng được thành lập cũng hoạt động theo phương thức cho vay nhóm bão lãnh đồng thời buộc các thành viên vay vốn phải tham gia tín dụng bắt buộc Tuy nhiên trong quá trình hoạt động do hạn chế về tài lực và nhân lực nên Quỹ chưa tạo ra những sản phẩm phong phú, đa dạng, chưa có bảo hiểm vay vốn đối với các thành viên của Quỹ cũng như chưa thường xuyên mở các lớp tập huấn về kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi nhằm giúp chị em phụ nữ có kiến thức, tham gia sản xuất tốt nâng cao thu nhập và đời sống Đây cũng chính là những nhân tố có tác động mạnh mẽ đến thu nhập của các thành viên vay vốn của Quỹ được thể hiện rõ trong đề tài
Trang 22CHƯƠNG 3 TỔNG QUAN VỀ QUỸ HỖ TRỢ PHỤ NỮ
Sở Nội vụ Tỉnh Quỹ có tư cách pháp nhân riêng, tự cân đối thu và chi (Hội thảo triển khai hoạt động Quỹ Hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế tỉnh Bến Tre, 2017)
3.1.1 Mục đích hoạt động của Quỹ
Là Quỹ xã hội hoạt động nhằm mục đích hướng tới bình đẳng về cơ hội tiếp cận dịch vụ hỗ trợ vốn và hoạt động chuyển giao khoa học kỹ thuật giúp cho những
hộ nghèo, cận nghèo, thu nhập thấp, hộ có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn tỉnh Bến Tre có điều kiện phát triển các hoạt động sản xuất kinh doanh, tăng thu nhập ổn định cuộc sống, vươn lên thoát nghèo bền vững, góp phần thực hiện chủ trương kéo giảm tỉ lệ hộ nghèo góp phần xây dựng nông thôn mới và nâng cao vị thế người phụ
nữ trong gia đình và xã hội (Hội thảo triển khai hoạt động Quỹ Hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế tỉnh Bến Tre, 2017)
3.1.2 Nhiệm vụ hoạt động của Quỹ
Với hai nhiệm vụ chính:
- Hoạt động kinh tế: Hỗ trợ vốn lâu dài đảm bảo 100% đối tượng của Quỹ được tiếp cận nguồn vốn, tham gia sản xuất, tăng thu nhập và vươn lên thoát nghèo bền vững
- Hoạt động xã hội:
+ Tuyên truyền, vận động phong trào tiết kiệm trong sản xuất và sinh hoạt, tiết kiệm để tích lũy vốn và mua sắm tài sản gia đình đến với người dân nông thôn,v.v
Trang 23+ Đẩy mạnh các hoạt động xã hội như xây nhà tình thương, trao học bổng và quà tết cho người nghèo góp phần thực hiện chủ trương an sinh xã hội tại địa phương,v.v
+ Giảm tình trạng vay nặng lãi và hạn chế người dân tham gia hụi, họ trong
xã hội
3.1.3 Nguồn vốn hoạt động của Quỹ
Tính đến cuối quý I/2017, tổng nguồn vốn hoạt động của Quỹ hơn 66 tỷ đồng trong đó nguồn vốn tài trợ gồm: TDH Thụy Sĩ là 3,2 tỷ đồng, Quỹ Uniliver-
VN là 2.930 tỷ đồng, dự án DBRP tỉnh Bến Tre là 20 tỷ đồng Lợi nhuận từ các năm trước chuyển sang là 3 tỷ đồng Nguồn vốn vay của Bộ Tài chính (DA AMD)
là 34 tỷ đồng, Quỹ HTTDTW Hội LHPN VN là 3 tỷ đồng (Hội thảo triển khai hoạt động Quỹ Hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế tỉnh Bến Tre, 2017)
3.1.4 Kết quả hoạt động của Quỹ
Hoạt động tín dụng tính đến cuối tháng 3/2017 đã triển khai 98 xã/ 9 huyện của Tỉnh Số thành viên vay vốn của Quỹ là 16.215 thành viên, trong đó thành viên vay vốn 16.138, thành lập 3.963 nhóm, 809 cụm Dư nợ là 60,538 tỷ đồng, huy động tiết kiệm của thành viên là 14,6 tỷ đồng, huy động Quỹ tương trợ thành viên là
467 triệu đồng (Hội thảo triển khai hoạt động Quỹ Hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế tỉnh Bến Tre, 2017)
3.1.5 Quy chế hoạt động của Quỹ
3.1.5.1 Phương thức cho vay
- Vay tín chấp
- Vay theo nhóm bảo lãnh
- Vay theo các tổ hợp tác sản xuất, tổ nghề nghiệp
- Vay cá nhân để mở các tổ sản xuất nhỏ nhằm tạo việc làm cho các hộ khác trong cùng xóm ấp
Trang 24có con dấu riêng, tự cân đối thu chi, nguồn vốn hoạt động của Quỹ là từ TDH Thụy
Sĩ, Quỹ Unilever-VN, DA DBRP và DA AMD BT Cơ quan quản lý là Hội Liên Hiệp phụ nữ tỉnh Bến Tre, hoạt động chịu sự chi phối của Quỹ hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế tỉnh Bến Tre (Báo cáo sơ kết hoạt động chi nhánh Quỹ hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế huyện Ba Tri Quý I, 2017)
- Tính đến cuối quý 1/2017 chi nhánh huyện Ba Tri đã triển khai 15/24 xã/thị trấn, tất cả các xã đều có thành viên tiếp cận với vốn của Quỹ, trong đó có 83/87 ấp
có thành viên tham gia vay vốn (Báo cáo sơ kết hoạt động chi nhánh huyện Ba Tri Quý 1, 2017)
a Đối tượng của quỹ:
- Là các hộ nghèo và cận nghèo nhưng không bao gồm hộ nghèo chay lười lao động, hộ nghèo bao gồm theo tiêu chí của Nhà nước quy định và hộ nghèo được
xác định theo tiêu chí của Quỹ
- Các hộ tại địa phương có hoàn cảnh khó khăn và thiệt thòi như: khuyết tật, đơn thân, ảnh hưởng chất độc da cam.v.v
- Hộ trung bình, thu nhập thấp (hộ nghèo đa chiều)
b Điều kiện được vay vốn:
- Tự nguyện tham gia vào nhóm và được sự chấp nhận và bảo lãnh của các thành viên, đồng thời sẵn sàng bảo lãnh vốn với nhau;
- Có độ tuổi từ 18 – 65 tuổi;
- Có hộ khẩu thường trú tại xã;
Trang 25- Không được nợ nần dây dưa các nguồn vốn khác trên 30.000.000đ
- Được chính quyền địa phương xác nhận, thực hiện tốt các chủ trương và phong trào tại địa phương
c Hình thức cho vay và mô hình hoạt động của Quỹ
* Hình thức cho vay: Thực hiện cho vay nhóm thông qua nhóm bảo lãnh được xem phù hợp nhất đối với các tổ chức tài chính vi mô xuất phát từ lý thuyết thông tin bất cân xứng của Stiglitz (1975) Thông qua hình thức này sẽ giúp Quỹ sàng lọc khách hàng, tiếp cận các khách hàng có uy tín (vì không có uy tín sẽ không được các nhóm chọn là thành viên) từ đó giảm thiểu được rủi ro và nợ quá hạn đối với Quỹ do thực hiện cho vay tín chấp
- Vay vốn bảo lãnh tín chấp: Nhằm tăng khả năng tiếp cận cho các hộ thu nhập thấp không cần tài sản thế chấp
- Vay theo khả năng hoàn trả và tăng dần theo từng kỳ: Nhằm giúp các chị
em quen dần với việc tiết kiệm hằng ngày để trả vốn, lãi hàng tháng phù hợp với khả năng thu nhập của gia đình, giảm nợ chồng nợ khi kết thúc chu kỳ vay vốn
- Tín dụng kết hợp với tiết kiệm hàng tháng: Nhằm giúp thành viên có thể tích lũy được một khoản vốn để phòng khi có việc đột xuất mà không phải đi vay với lãi suất cao
- Mức vay tối thiểu là 1.000.000đ và tối đa là 30.000.000đ
- Thời gian vay: 6 tháng, 12 tháng, 18 tháng và 24 tháng Tuy nhiên hết chu
kỳ vay này sẽ tiếp cận ngay chu kỳ vay tiếp theo và không có thời gian kết thúc nếu
hộ vay tiếp tục được nhóm bảo lãnh
- Mặt khác khi vay vốn của Quỹ, các thành viên vay vốn phải tham gia quỹ tương trợ với mức là 2.000đ/tháng nhằm tương trợ các chị em phụ nữ khi bệnh tật,
ốm đau,v.v hoặc xóa nợ một phần cho thành viên vay vốn trong trường hợp tử tuất
* Mô hình hoạt động của Quỹ:
Quỹ hoạt động theo nhóm nhỏ bảo lãnh, các thành viên trong nhóm từ 3 đến
5 người theo hình thức tự chọn các thành viên – chủ yếu trong cùng một ấp, xã quen biết với nhau Mỗi nhóm đều có một nhóm trưởng, có trách nhiệm nhắc nhỡ, đôn
Trang 26đốc các thành viên về việc trả gốc và lãi đúng kỳ hạn Đến kỳ hạn trả lãi các thành viên có trách nhiệm góp vốn để trả gốc lãi trường hợp một thành viên trong nhóm không đủ khả năng, nếu không sẽ bị hạn chế việc tiếp cận vốn cho chu kỳ vốn tiếp theo Ở mỗi xã đều có một trưởng nhóm thực hiện giám sát chung các nhóm ở các
ấp – thường là cán bộ xã Cán bộ xã cũng là người giới thiệu với Hội các cá nhân vay vốn có nhu cầu, sau đó Hội sẽ cử cán bộ xuống thẩm định và đề xuất cấp hạn mức tín dụng cho thành viên
Ở những xã có thành viên của Quỹ đều cử các cán bộ của Hội Phụ nữ phụ trách giám sát tất cả hoạt động từ khâu thẩm định, giải ngân đến thu hồi vốn gốc và lãi Cán bộ của Hội phụ trách các xã hàng năm đều luân chuyển quản lý ở những xã khác nhau với mục đích nhằm giúp cán bộ Hội có cơ hội tiếp xúc với nhiều thành viên ở các điều kiện khác nhau để nắm rõ tình hình và dễ dàng quản lý khi có những biến động trong cơ cấu tổ chức của Hội Mặt khác cũng nhằm hạn chế một số vấn
đề phát sinh không mong đợi giữa cán bộ Hội và các thành viên của Quỹ
d Các sản phẩm của Quỹ:
Hai gói sản phẩm Quỹ tập trung thực hiện đó là tiết kiệm và tín dụng
* Tiết kiệm gồm có tiết kiệm bắt buộc và tiết kiệm tự nguyện
- Tiết kiệm bắt buộc:
+ Là khoản tiền mà thành viên phải đóng hàng tháng theo quy định đề ra khi tham gia Quỹ và được gởi vào ngày họp nhóm/cụm hàng tháng theo quy định
+ Giúp thay đổi hành vi tiết kiệm và tích lũy tài sản cho người nghèo, tăng nguồn vốn cho vay của Quỹ
+ Mức gởi tăng dần theo chu kỳ vay vốn, mức gởi tối thiểu 20.000đ và tăng dần theo tỷ lệ vốn vay được tăng
+ Tiết kiệm bắt buộc không được rút ra khi còn tham gia vay vốn của Quỹ và được tính lãi suất 0,5%/tháng/số dư tiết kiệm
+ Vào cuối mỗi năm Quỹ sẽ tính toán và nhập số tiền lãi có được vào tiền gốc đồng thời chuyển vào chu kỳ vay tiếp theo vì thành viên Quỹ không được rút số tiền này cho đến khi rời khỏi quỹ
Trang 27- Tiết kiệm tự nguyện:
+ Là khoản tiền mà thành viên gởi vào Quỹ khi có tiền nhàn rỗi vào những ngày họp nhóm/cụm theo quy định Giúp thành viên tiết kiệm được những khoản tiền nhỏ khi chưa có kế hoạch sử dụng với phương châm “Tích tiểu thành đại” hay
“Một ngàn đồng hôm nay cho một triệu đồng ngày mai”
+ Mức tiết kiệm tối thiểu là 10.000đ/tháng, được rút bất kỳ với lãi suất 0,6%/tháng/số dư tiết kiệm và tính lãi sau khi gởi một tháng
+ Thời hạn có thể có kỳ hạn hoặc không kỳ hạn tùy theo nhu cầu của thành viên, thành viên có thể rút bất kỳ khi nào nhưng phải báo trước cho cán bộ tín dụng
ít nhất là 15 ngày và rút vào ngày họp nhóm định kỳ
* Tín dụng:
- Là vốn vay được quy định trong Quỹ dành cho các mục đích như: Phát triển kinh tế gia đình, cho vay xây dựng và cải tạo nhà tiêu hợp vệ sinh, mua máy lọc nước, thùng chứa nước và cho vay tiêu dùng
- Nguyên tắc cho vay: Mức vay được xác định theo khả năng hoàn trả của người dân (được cán bộ tín dụng thẩm định và nhóm xét) Vay lẻ và trả chẵn hàng tháng,
- Phương pháp trả: Vốn vay và lãi được chia đều cho chu kỳ vay và hoàn trả hàng tháng, cho vay theo thúng trả theo đấu
- Chu kỳ vay 12 tháng: Đối tượng là những thành viên nhóm bảo lãnh, vay chu kỳ đầu tiên, dành cho tất cả các mục đích
- Chu kỳ vay 18 tháng:
+ Đối tượng vay hộ nghèo, cận nghèo (có cấp sổ), hộ thu nhập 130, 150 được UBND xã xác nhận được vay ở ngay chu kỳ vay đầu tiên Các đối tượng khác của nhóm bảo lãnh thì từ chu kỳ hai trở lên;
+ Những thành viên vay vốn để cải tạo nguồn nước và xây nhà tiêu hợp vệ sinh;
+ Tổ trưởng tổ sản xuất, cán bộ công nhân viên có thu nhập thấp
- Chu kỳ vay 24 tháng:
Trang 28+ Đối tượng vay là thành viên các nhóm bảo lãnh vay chu kỳ 3 – 4;
+ Những thành viên trong các tổ hợp tác theo nghị định 151/CP mục đích sử dụng vốn để chăn nuôi dê
+ Tổ trưởng tổ sản xuất, cán bộ công nhân viên có thu nhập thấp
- Chu kỳ vay 36 tháng:
+ Đối tượng vay thành viên nhóm bảo lãnh vay chu kỳ 6 trở lên;
+ Những thành viên trong các tổ hợp tác theo nghị định 151/CP mục đích sử dụng vốn để nuôi bò
e Quy trình thực hiện tín dụng – tiết kiệm
- Tuyên truyền quy chế Quỹ và hướng dẫn thành lập nhóm/cụm;
- Từng đoàn thể thu nhận danh sách đăng ký, thông qua trưởng ấp sàng lọc đối tương;
- Thông báo về xã (người được phân cộng phụ trách) để tổng hợp và báo cáo cho Hội LHPN thành phố;
- Thẩm định: Cán bộ tín dụng đến từng nhà thẩm định đủ điều kiện và hướng dẫn làm đơn vay vốn;
- Thời gian giải ngân chậm nhất là sau 15 ngày khi nhận đầy đủ đơn đã đăng
ký tại địa phương;
- Chi hội ấp thu đơn chuyển Trưởng ấp ký và thu hồi gởi cho Hội LHPN xã
ký chuyển cho cán bộ tín dụng;
- Cán bộ tín dụng tổng hợp danh sách, lập đề nghị phát vốn chuyển Giám đốc phê duyệt và kế toán chuẩn bị vốn;
- Thông báo giải ngân tại xã, ấp
- Thời gian giải ngân chậm nhất sau 15 ngày khi nhận đầy đủ đơn đã ký tại địa phương;
- Thu hồi gốc lãi hàng tháng kết hợp với giải ngân tiếp theo
Trang 293.3 MỘT SỐ THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN CỦA QUỸ
3.3.1 Thuận lợi và mặt đạt được
- Được sự quan tâm của chính quyền địa phương và Hội phụ nữ các cấp, tạo điều kiện thuận lợi trong hoạt động tuyên truyền, thẩm định, thu và phát vốn
- Đa số các chị em vay vốn đều có trách nhiệm rất cao trong việc đôn đốc, nhắc nhỡ và thậm chí cho mượn tiền để các thành viên làm tròn nghĩa vụ chi trả gốc lãi hàng tháng
- Hoạt động thu, phát vốn trực tiếp tại trụ sở ấp/nhà thành viên, góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho thành viên trong quá trình tham gia Quỹ và thông qua các buổi thu vốn các chị hội phụ nữ đã lồng ghép các chuyên đề sinh hoạt, tuyên truyền sâu rộng mục tiêu hoạt động của Quỹ đến các thành viên
- Tạo được quỹ tương trợ riêng của Hội để thực hiện chủ trương an sinh xã hội như tặng quà tết, trao học bổng và nhà tình thương cho thành viên nghèo tiêu biểu vay vốn tại Quỹ
3.3.2 Hạn chế và khó khăn
- Thành viên phát triển thêm vẫn chưa đạt so với mục tiêu đề ra đồng thời thành viên thôi tham gia chương trình ngày càng tăng vẫn chưa có giải pháp khắc phục
- Phát sinh một số trường hợp nợ chậm ngày, vay vốn sử dụng không đúng mục đích trong giấy đề nghị vay vốn hay thành viên vay vốn chia sẻ vốn vay với người khác trái quy định của Quỹ
- Hàng tháng theo quy định các thành viên phải đến địa điểm thu lãi chi trả
và để sinh hoạt tuy nhiên phần đông chị em phụ nữ đều gởi tổ trưởng đại diện nộp
do đó hạn chế công tác triển khai các hoạt động của Quỹ đến các thành viên
- Chính sách cho vay vốn của Quỹ chưa linh hoạt, đa dạng, phù hợp với mục đích và điều kiện kinh tế của các thành viên, còn áp dụng chung các sản phẩm cho tất cả các địa phương
- Chưa có các chính sách hỗ trợ hay bảo hiểm vốn vay cho các thành viên vay vốn trong trường hợp gặp khó khăn trong sản xuất
Trang 30CHƯƠNG 4 TÁC ĐỘNG CỦA QUỸ HỖ TRỢ PHỤ NỮ PHÁT TRIỂN KINH TẾ HUYỆN BA TRI
Trải qua nhiều năm hoạt động và trên cơ sở học hỏi mô hình của các tổ chức tài chính vi mô trong và ngoài nước, những kết quả mà Quỹ hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế tỉnh Bến Tre nói chung và huyện Ba Tri nói riêng như thế nào? Vấn đề này
đã được tác giả khảo sát trực tiếp và tổng hợp từ kết quả thông tin của 160 thành viên vay vốn của Quỹ
4.1 MÔ TẢ MẪU NGHIÊN CỨU
Quỹ hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế với mục tiêu giúp phụ nữ nông thôn được tham gia sản xuất do họ thiếu điều kiện về vốn, kiến thức từ đó hạn chế khả năng lao động và tự chủ tài chính Xuất phát điểm của hạn chế này có thể là do phần lớn phụ nữ nông thôn nói chung và huyện Ba Tri nói riêng có độ tuổi khá cao, trình
độ học vấn còn thấp, nghề nghiệp chủ yếu là lao động chân tay sẽ được thể hiện trong bảng 4.1
Qua khảo sát 160 thành viên vay vốn cho thấy mặc dù phần lớn các chị em phụ nữ vẫn còn nằm trong độ tuổi lao động chiếm tỷ lệ 75,6% nhưng ở độ tuổi khá cao trên 35 tuổi chiếm 96/121 thành viên Đồng thời số người ngoài tuổi lao động cũng khá nhiều 39/160 người chiếm tỷ lệ 24,6% đây cũng là nguyên nhân dẫn đến trình độ học vấn của các thành viên rất thấp, cao nhất là cấp 3 chỉ chiếm 6,25% còn lại chủ yếu là cấp 1 với cấp 2 tương ứng 71/160 thành viên chiếm tỷ lệ 44,38% và 60/160 người chiếm tỷ lệ 37,5%, đặc biệt có 19/160 thành viên mù chữ chiếm tỷ lệ 11,88% Do độ tuổi của các thành viên vay vốn tương đối cao và trình độ học vấn thấp dẫn đến công việc chủ yếu của các chị em thường là lao động chân tay như trồng trọt, chăn nuôi, làm thuê, buôn bán nhỏ lẻ hay nội trợ,v.v là những công việc thu nhập thường xuyên không ổn định, phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên nên
đa số các gia đình đều gặp khó khăn trong xoay sở vòng vốn để sinh hoạt chưa kể đến việc tiết kiệm dành cho tương lai
Trang 31Bảng 4.1: Đặc điểm của các thành viên vay vốn
Nguồn: Kết quả điều tra năm 2017
Bên cạnh đó các đặc điểm về quy mô hộ, số người phụ thuộc, chủ thể lao động chính trong gia đình, tình trạng hộ nghèo, cận nghèo hay không cũng là những yếu tố không thể bỏ qua khi đề cập đến mức thu nhập bình quân của các thành viên vay vốn đã được nghiên cứu thu thập và thể hiện qua bảng 4.2
Qua khảo sát ta thấy quy mô hộ gia đình khá lớn từ 3 đến 5 người do có từ hai đến ba thế hệ cùng chung sống đây cũng là đặc điểm thường gặp ở các gia đình nông thôn Tuy nhiên đa số các thành viên trong gia đình đều tạo ra thu nhập thể hiện qua số người phụ thuộc tương đối ít dưới hai người chiếm tỷ lệ gần phân nửa
số mẫu khảo sát, nhưng số người phụ thuộc từ 3 đến 5 người cũng khá nhiều khoảng 75/160 hộ chiếm tỷ lệ 46,88% sẽ tạo ra áp lực đối với các hộ gia đình trong thu nhập và chi tiêu Đồng thời qua bảng 4.2 ta thấy chủ thể lao động chính trong các hộ gia đình vay vốn của Quỹ thì nam giới vẫn chiếm tỷ lệ cao hơn nhưng trình
Trang 32độ học vấn cũng thấp nên lao động chân tay như đánh bắt, trồng trọt, chăn nuôi vẫn
là nguồn thu nhập chính Tuy nhiên, việc tạo ra thu nhập cho các hộ gia đình thì phụ
nữ cũng góp phần không nhỏ cụ thể trong 160 chị em phụ nữ vay vốn được khảo sát
có 69 thành viên chiếm tỷ lệ 43,1% so với nam giới là 91 thành viên chiếm tỷ lệ 56,9% Với tỷ lệ này chứng tỏ rằng phụ nữ nông thôn ngày nay cũng đã có quyền tham gia sản xuất, để khẳng định năng lực bản thân và tự chủ về tài chính
Bảng 4.2: Đặc điểm của các hộ gia đình vay vốn
Nguồn: Kết quả điều tra năm 2017
Song song đó khảo sát còn chỉ ra rằng có 95/160 thành viên vay vốn thuộc diện hộ nghèo và cận nghèo, vì vậy bên cạnh nguồn vốn vay từ quỹ có 76/95 hộ đều
có vay từ NHCS với mức vay tương đối lớn và lãi suất thấp là 0,55%/tháng được đánh giá là nguồn vốn phù hợp cho sản xuất thể hiện qua bảng 4.3
Trang 33Bảng 4.3: Đặc điểm của các hộ vay vốn chính sách
Chỉ tiêu Đơn vị
tính
Giá trị lớn nhất
Giá trị nhỏ nhất
Giá trị trung bình
Nguồn: Kết quả điều tra năm 2017
Trong nhóm khảo sát có những hộ thuộc diện nghèo và cận nghèo có sổ đã qua nhiều năm cao nhất là 17 năm và thấp nhất là 1 năm Hầu hết các hộ đều vay vốn của NHCS mức vay cao nhất là 50.000.000đ và thấp nhất là 10.000.000đ Do
đó đối với những hộ chính sách thì rõ ràng với nguồn vốn cho vay từ Quỹ sẽ được đánh giá là khá phù hợp giúp họ có thể làm vốn để buôn bán nhỏ, chăn nuôi gà vịt, nuôi dê, vừa tạo thêm việc làm, vừa có thu nhập để trang trải cuộc sống cũng như chi trả gốc và lãi hàng tháng Thêm vào đó với số tiền vài chục triệu vay từ NHCS
đa số các hộ đều sử dụng cho mục đích mua bò giống, mặt khác với nguồn thu nhập không ổn định đòi hỏi cần thêm vốn để bổ sung thức ăn chăn nuôi thì rõ ràng nguồn vốn từ Quỹ rất có ích Tuy nhiên đối với các hộ không thuộc diện chính sách hoặc thu nhập chính từ đánh bắt xa bờ hay nuôi tôm – những nghề đòi hỏi nguồn vốn lớn thì mức cho vay của Quỹ quá ít để tu sửa ghe tàu đánh bắt hay canh tác Kết quả khảo sát về mức độ phù hợp của vốn vay như sau:
Nguồn: Kết quả điều tra năm 2017
70%
30%
Đánh giá mức vay
Vừa Ít
Trang 34Như vậy có khoảng 70% đánh giá mức vay vốn của Quỹ là phù hợp đều này cũng dễ hiểu vì đa số các thành viên vay vốn đều là hộ nghèo, cận nghèo nên nguồn tín dụng vi mô của Quỹ sẽ giảm áp lực về nợ, hàng tháng gốc lãi trả đều lại giúp các thành viên có chế độ chi tiêu hợp lý để tiết kiệm tiền chi trả hàng tháng tuy nhiên đa
số vẫn hy vọng Quỹ có thể xem xét và cho vay với số tiền nhiều hơn Còn đối với những hộ không thuộc diện chính sách thì chỉ vài triệu đồng không thể giúp họ đầu
tư sản xuất, nên chủ yếu vốn được dùng cho sinh hoạt hàng ngày Mặt khác ở nông thôn công việc chính vẫn là trồng trọt và chăn nuôi do đó đất đai sản xuất cũng góp phần tạo thêm thu nhập của các thành viên vay vốn và thể hiện ở bảng 4.4
Bảng 4.4: Diện tích đất ở và đất canh tác của các hộ vay vốn
lớn nhất
Giá trị nhỏ nhất
Giá trị trung bình
Tổng diện tích đất:
- Diện tích đất ở (m2)
- Diện tích đất canh tác (m2)
8.500 2.000 8.000
0
0
0
2.014 387,93 1.653,69
Nguồn: Kết quả điều tra năm 2017
Qua bảng 4.4 cho thấy tổng diện tích đất của các hộ vay vốn có giá trị lớn nhất là 8.500m2 và nhỏ nhất là 0m2 trong đó diện tích đất canh tác lớn nhất là 8.000m2 và diện tích đất ở là 2.000m2 Tổng diện tích đất có giá trị lớn thuộc sở hữu của các gia đình không thuộc diện chính sách nhưng lại có nhu cầu vay vốn để hỗ trợ trồng trọt và chăn nuôi Hằng năm, nguồn vốn của Quỹ hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế huyện Ba Tri tập trung khoảng 30% cho vay đối với các hộ thuộc diện chính sách, phần lớn vốn còn lại thực hiện cho vay các hộ thu nhập trung bình, thu nhập thấp,v.v Đối với những hộ có diện tích đất canh tác tương đối lớn thường chủ yếu
sử dụng để trồng cỏ chăn nuôi bò – đây là hoạt động sản xuất mang tính chất tích lũy lâu dài do đó thu nhập để trang trải các chi phí sinh hoạt rất hạn chế Một số khác đất chủ yếu trồng dừa, nguồn vốn vay từ Quỹ được dùng để chăn nuôi gà vịt, heo hoặc dê Trong khi đó các thành viên thuộc diện nghèo chính sách rất nhiều năm, không có đất ở, đất canh tác, sống và sản xuất trên những mảnh đất thuê nên cuộc sống càng khó khăn hơn, nguồn vốn vay từ Quỹ được dùng để buôn bán nhỏ
Trang 35tạo thu nhập xoay sở cuộc sống hàng ngày Đối với những gia đình này vay vốn chủ yếu thực hiện hoạt động mang lại thu nhập thường xuyên như: buôn bán tạp hóa, bánh, rau quả và vé số
Thêm một yếu tố không thể thiếu để đánh giá mức thu nhập của các thành viên vay vốn đó là mục đích của việc sử dụng vốn vay được khảo sát trên 160 hộ thể hiện qua bảng 4.5
Nguồn: Kết quả điều tra năm 2017
Các chị em phụ nữ là đối tượng tập trung cho vay chủ yếu của Quỹ, mức vay
ít nên nguồn vốn được sử dụng chủ yếu cho hoạt động chăn nuôi gà vịt, dê hay bổ sung nguồn thức ăn chăn nuôi bò chiếm tỷ lệ 61,25% Bên cạnh đó với lượng vốn vay ít, phải trả gốc và lãi hàng tháng nên các thành viên vay vốn thường sử dụng vào hoạt động tạo thu nhập thường xuyên đó là buôn bán nhỏ, lẻ của các chị em phụ chiếm tỷ lệ 30,62%, còn lại là các khác như phục vụ đi biển, làm muối, sinh hoạt,… chiếm tỷ lệ thấp chỉ 8,13% Qua khảo sát, thống kê và phân tích cho thấy chương trình cho vay của Quỹ hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế huyện Ba Tri cũng góp phần tăng thu nhập bình quân của một số thành viên tuy nhiên số đông các thành viên vay vốn lại có thu nhập không thay đổi Như vậy trong thời gian qua chất lượng hoạt động của Quỹ thế nào thông qua đánh giá của các thành viên được khảo sát
Trang 364.2 CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG CỦA QUỸ HỖ TRỢ PHỤ NỮ PHÁT TRIỂN THEO ĐÁNH GIÁ CỦA CÁC THÀNH VIÊN
Quỹ hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế được xem là một trong những chương trình cho vay tập trung phát triển đời sống kinh tế cho chị em phụ nữ với mục tiêu tạo vốn, giảm chi phí vay nặng lãi, giảm hình thức hụi hè trong nông thôn Từ đó phụ nữ có cơ hội trực tiếp tham gia sản xuất để tạo thêm thu nhập, tăng tính tự chủ
về tài chính Trải qua nhiều năm hoạt động tính đến nay Quỹ hỗ trợ phát triển kinh
tế huyện Ba Tri đã giúp vốn cho nhiều phụ nữ tham gia sản xuất như trồng trọt, chăn nuôi, buôn bán nhỏ và một số hoạt động khác để tăng thu nhập trang trải cuộc sống Đồng thời, Quỹ còn giúp chị em phụ nữ có kế hoạch, tính toán nguồn tài chính để đảm bảo đủ số tiền gốc và lãi chi trả hàng tháng
Qua khảo sát 160 thành viên vay vốn tất cả đều hài lòng với phương thức gốc lãi chia đều và trả dần hàng tháng giúp giảm áp lực chi trả khi đáo hạn Điều này cũng dễ hiểu do đa số các chị em phụ nữ nhận vốn vay đều là những hộ nghèo và cận nghèo không có điều kiện vay từ các ngân hàng ngoài nguồn vốn chính sách, theo khảo sát có 120/160 thành viên chiếm tỷ lệ 75% cho rằng nguồn vốn vay của Quỹ tương đối thấp được xem là phù hợp, đảm bảo khả năng chi trả và hỗ trợ tốt cho các hoạt động buôn bán nhỏ lẻ do đó thuận lợi cho các gia đình có thu nhập ổn định hàng tháng Với nguồn vốn vay thấp nhất là 2.400.000đ và cao nhất là 9.000.000đ thì rõ ràng nguồn vốn này chưa đủ để các thành viên đầu tư sản xuất nhưng cũng được xem là nguồn vốn có chi phí thấp thay vì vay bên ngoài để thực hiện hoạt động buôn bán nhỏ lẻ như tạp hóa, vé số, rau quả, bánh,… hay nuôi gà, vịt, nuôi dê và nuôi heo Còn lại là 40/160 thành viên chiếm tỷ lệ 25% cho rằng nguồn vốn quá ít không đủ để họ sản xuất vì với vài triệu đồng không thể mua bò chăn nuôi ngay khi giá cả thấp nhất Bởi trong thực tế chi phí mua bò giống thường cao khoảng chục triệu đồng, do đó nguồn vốn vay từ Quỹ không đáp ứng được nhu cầu buộc các thành viên phải vay thêm nguồn vốn bổ sung từ bên ngoài dẫn đến tăng chi phí cũng như hạn chế khả năng sản xuất để trả lãi cho Quỹ