Bên cạnh những doanh nghiệp quan tâm đến môi trường trong hoạt động sản xuất, đầu tư hệ thống xử lý nước thải cũng còn một số doanh nghiệp đặt lợi nhuận lên trên, còn xả thải ra môi trườ
Trang 1TRƯƠNG THANH TOÀN
PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ HÀNH VI GÂY Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG TRONG HOẠT ĐỘNG CHẾ BIẾN THỦY SẢN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH CÀ MAU
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2017
Trang 2TRƯƠNG THANH TOÀN
PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ HÀNH VI GÂY Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG TRONG HOẠT ĐỘNG CHẾ BIẾN THỦY SẢN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH CÀ MAU
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số: 60380107 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS Lê Văn Hưng
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên Trương Thanh Toàn mã số học viên: 7701250887A là học viên lớp
LOP_K25_MBL_CaMau; Khóa K25-2 chuyên ngành Luật kinh tế, Khoa Luật,
Trường Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh, là tác giả của Luận văn thạc sĩ luật học
với đề tài “Pháp luật về xử lý hành vi gây ô nhiễm môi trường trong hoạt động
chế biến thủy sản trên địa bàn tỉnh Cà Mau” (Sau đây gọi tắt là “Luận văn”)
Tôi xin cam đoan tất cả các nội dung được trình bày trong Luận văn này là
kết quả nghiên cứu độc lập của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn của người hướng dẫn
khoa học Trong Luận văn có sử dụng, trích dẫn một số ý kiến, quan điểm khoa học
của một số tác giả Các thông tin này đều được trích dẫn nguồn cụ thể, chính xác và
có thể kiểm chứng Các số liệu, thông tin được sử dụng trong Luận văn là hoàn toàn
khách quan và trung thực
Học viên thực hiện
Trương Thanh Toàn
Trang 4MỤC LỤC TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG LUẬN VĂN
PHẦN MỞ ĐẦU 1 Chương 1: Những quy định pháp luật hiện hành về xử lý hành vi gây ô nhiễm môi trường 8
1.1 Những khái niệm liên quan 81.1.1 Môi trường là gì? 81.1.2 Khái niệm ô nhiễm môi trường, hoạt động bảo vệ môi trường và một số khái niệm liên quan 81.2 Những chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và nguyên tắc về bảo vệ môi trường 91.2.1 Chủ trương, chính sách của Đảng về bảo vệ môi trường 91.2.2 Pháp luật của Nhà nước về bảo vệ môi trường, xử lý hành vi ô nhiễm môi trường trong hoạt động chế biến thủy sản 121.2.3 Những nguyên tắc bảo vệ môi trường 191.3 Lý thuyết về phát triển bền vững trong mối quan hệ với việc xử lý hành vi gây ô nhiễm môi trường, bảo vệ môi trường đối với hoạt động chế biến thủy sản 211.3.1 Quan niệm về phát triển bền vững 211.3.2 Nội dung của phát triển bền vững ở nước ta 221.3.3 Sự cần thiết phát triển bền vững đối với hoạt động CBTS đi đôi với BVMT 24
Chương 2: Thực trạng và xử lý hành vi gây ô nhiễm môi trường trong hoạt động chế biến thủy sản trên địa bàn tỉnh Cà Mau 28
2.1 Tổng quan về tình hình môi trường trên địa bàn tỉnh Cà Mau 282.1.1 Thực trạng chung về công tác bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh Cà Mau 282.1.2 Công tác bảo vệ môi trường tại các cơ sở chế biến thủy sản 302.2 Tình hình triển khai các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường, xử lý hành vi gây
ô nhiễm môi trường tại Cà Mau 352.2.1 Văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường, xử lý hành vi gây ô nhiễm môi trường
do tỉnh Cà Mau ban hành 352.2.2 Tình hình triển khai thực hiện các văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường, xử
lý hành vi gây ô nhiễm môi trường 372.3 Thực trạng xử lý hành vi gây ô nhiễm môi trường trên địa bàn Cà Mau 40
Trang 52.3.1 Khái quát tình hình hoạt động nuôi trồng, chế biến thủy sản trên địa bàn tỉnh Cà
Mau thời gian qua 40
2.3.2 Thực trạng về xử lý hành vi gây ô nhiễm môi trường trong hoạt động CBTS trên địa bàn tỉnh Cà Mau 42
2.3.2.1 Thực trạng về các công trình bảo vệ môi trường trong hoạt động CBTS trên địa bàn tỉnh Cà Mau 42
2.3.2.2 Thực trạng về ý thức chấp hành các quy định về môi trường của cơ sở CBTS 44
2.3.2.3 Thực trạng về chi phí môi trường trong tỷ lệ giá thành sản phẩm 44
2.3.2.4 Thực trạng về xử lý chất thải nguy hại tồn đọng trong các cơ sở CBTS 45
2.3.2.5 Thực trạng về công tác thanh tra, kiểm tra xử lý hành vi gây ô nhiễm môi trường trong hoạt động chế biến thủy sản 45
2.3.2.6 Nhận định chung về thực hiện nhiệm vụ bảo vệ môi trường và công tác xử lý hành vi gây ô nhiễm môi trường hiện nay tại các cơ sở CBTS 49
2.4 Đánh giá tác động của công tác thực thi các văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường, xử lý hành vi gây ô nhiễm môi trường hiện nay 50
2.4.1 Những mặt tích cực 50
2.4.2 Những vấn đề tồn tại, hạn chế và nguyên nhân 52
Chương 3: Giải pháp phát triển bền vững trong hoạt động chế biến thủy sản đi đôi với việc xử lý hành vi gây ô nhiễm môi trường trên địa bàn tỉnh Cà Mau, giai đoạn 2017 – 2020 56
3.1 Nhóm giải pháp về hoàn chỉnh, sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật về BVMT, xử lý hành vi gây ô nhiễm môi trường trong hoạt động chế biến thủy sản 56
3.1.1 Hoàn thiện hệ thống pháp luật về BVMT, xử lý hành vi gây ô nhiễm môi trường trong hoạt động CBTS 56
3.1.2 Giải pháp về cơ chế, nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong việc thực hiện chính sách, pháp luật về thu gom, xử lý rác thải, nước thải và BVMT tại các khu công nghiệp, cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh 57
3.2 Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước 59
3.2.1 Giải pháp về giáo dục nâng cao nhận thức BVMT 59
3.2.2 Giải pháp về quy hoạch, đầu tư 60
3.2.3 Giải pháp về khoa học công nghệ và đào tạo 60
3.2.4 Kết hợp hài hòa phát triển kinh tế đi đôi với BVMT, trách nhiệm đối với cộng đồng xã hội 62
3.2.5 Giải pháp quản lý môi trường từ hoạt động CBTS trên địa bàn tỉnh đến năm 2020 62
Trang 63.2.6 Giải pháp về các biện pháp xử lý tình trạng ô nhiễm môi trường trong chế biến
thủy sản 64
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 66
1 Kết luận 66
2 Kiến nghị 67
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7DANH MỤC TỪ NGỮ VIẾT TẮT
4 NN&PTNT Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG LUẬN VĂN
Bảng 2 Sơ đồ phân bố các doanh nghiệp chế biến thủy sản trên
Bảng 3 Các cơ sở CBTS gây ÔNMT nghiêm trọng đưa vào kế hoạch xử lý triệt để theo Quyết định số 1788/QĐ-TTg
ngày 01/10/2013 của Thủ tướng Chính phủ
44
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Cà Mau là tỉnh cực Nam của Tổ quốc và là tỉnh duy nhất của Việt Nam có ba mặt giáp biển, với 254 km bờ biển, có ngư trường rộng trên 100.000 km2, có vị trí lãnh thổ: Điểm cực Nam 80
30’ vĩ độ Bắc, điểm cực Bắc 9033’ vĩ Bắc, điểm cực Đông 105024’ kinh Đông và điểm cực Tây 104043’ kinh Đông
Địa hình tỉnh Cà Mau giống chữ V với các hướng tiếp giáp như sau: Phía Đông: Giáp tỉnh Bạc Liêu và biển Đông; phía Tây: Giáp vịnh Thái Lan (biển Tây); phía Nam: Giáp biển Đông; phía Bắc: Giáp tỉnh Kiên Giang
Tổng diện tích tự nhiên của tỉnh là 5.210 km2, bằng 13,1% diện tích vùng đồng bằng sông Cửu Long và bằng 1,58% diện tích cả nước
Tính đến tháng 12 năm 2016, tỉnh Cà Mau có 09 đơn vị hành chính cấp
huyện, bao gồm: thành phố Cà Mau và 08 huyện (Thới Bình, U Minh, Trần Văn
Thời, Đầm Dơi, Cái Nước, Phú Tân, Năm Căn và Ngọc Hiển), được chia thành 09
thị trấn, 10 phường và 82 xã, trong đó có 06 huyện tiếp giáp với biển, đây là điều kiện rất thuận lợi để phát triển thủy sản
Với vị trí địa lý nằm ở tâm điểm vùng biển các nước Đông Nam Á nên Cà Mau có nhiều thuận lợi trong việc giao lưu, hợp tác kinh tế với các nước trong khu vực Đông Nam Á và châu Á – Thái Bình Dương
Trang 10Bảng 1 Bản đồ hành chính tỉnh Cà Mau
Trang 11Thủy sản là ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh và trong những năm gần đây trở thành tỉnh dẫn đầu cả nước về nuôi trồng, chế biến và xuất khẩu thủy sản Tổng sản lượng khai thác và NTTS năm 2016 ước đạt 480.000 tấn (kế hoạch 530.000 tấn), bằng 90,6% kế hoạch, giảm 4% so với năm 2015; trong đó sản lượng tôm ước đạt 156.000 tấn, bằng 83,6% kế hoạch, giảm 3,3% so với năm 2015 Năm 2016, kim ngạch xuất khẩu của tỉnh đạt 1.100 triệu USD, đạt 76,9% so với kế hoạch, giảm 12,7% so với cùng kỳ năm 2015, thị trường xuất khẩu chính của mặt hàng này: Mỹ, Nhật Bản, EU, Trung Quốc, Úc1
Sản xuất, chế biến thủy sản đã, đang và sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cao cho tỉnh nhà, góp phần thay đổi diện mạo của địa phương, chuyển dịch cơ cấu kinh tế đúng hướng, góp phần xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, nhất là ở các vùng ven biển và nông thôn, cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy CBTS xuất khẩu, góp phần đưa tỉnh Cà Mau trở thành tỉnh có kim ngạch xuất khẩu thủy sản cao nhất nước, đem lại nguồn thu ngoại tệ đáng kể cho nước nhà
Quá trình phát triển công nghiệp tỉnh Cà Mau đã tạo ra những thách thức về
ô nhiễm môi trường không khí, nước mặt do nước thải và khí thải công nghiệp, chất thải rắn và chất thải nguy hại Bên cạnh những doanh nghiệp quan tâm đến môi trường trong hoạt động sản xuất, đầu tư hệ thống xử lý nước thải cũng còn một số doanh nghiệp đặt lợi nhuận lên trên, còn xả thải ra môi trường chưa qua xử lý hoặc
xử lý chất thải mang tính đối phó với cơ quan chức năng gây ô nhiễm nước mặt ảnh hưởng đến nuôi trồng thủy sản; khí thải công nghiệp còn gây ô nhiễm môi trường không khí ảnh hưởng đến sức khỏe người dân, chất thải công nghiệp và chất thải nguy hại chưa được thu gom xử lý triệt để, tình trạng khiếu kiện của người dân đối với nhà máy gây ô nhiễm kéo dài; những hệ lụy về ÔNMT đang diễn ra phức tạp và ngày càng trầm trọng trên địa bàn tỉnh Cà Mau do các hoạt động chế biến, NTTS gây ra như việc sử dụng các loại hóa chất, kháng sinh, thuốc bảo vệ thực vật trong nuôi trồng, chế biến còn hạn chế, gây tác động, ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường sinh thái; việc xả nước thải do hoạt động CBTS chưa qua xử lý hoặc xử lý chưa đạt yêu cầu ra sông rạch, phơi đầu vỏ tôm trên các tuyến đường phố với thực trạng trên, ô nhiễm môi trường đã và đang là vấn đề ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu
1 Báo cáo tình hình thực hiện Nghị quyết HĐND tỉnh về nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Cà Mau năm 2016 và phương hướng nhiệm vụ năm 2017
Trang 12quả phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, nếu không được giải quyết tốt có thể gây tác động đến đời sống, sức khỏe người dân hiện tại và tương lai, đồng thời ảnh hưởng đến chính ngành chế biến thủy sản nói riêng và nền kinh tế của tỉnh Cà Mau nói chung2
Hiện tại toàn tỉnh Cà Mau có 56 cơ sở sản xuất, kinh doanh mặt hàng thủy sản hoạt động, trong đó có 07 cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng được Thủ tướng Chính phủ đưa vào kế hoạch xử lý triệt để theo Quyết định số 1788/QĐ-TTg ngày 01/10/2013 Riêng trong năm 2016, Sở Tài nguyên và Môi trường đã tiến
hành thanh, kiểm tra 13 cuộc (04 cuộc theo kế hoạch, 09 cuộc đột xuất) đối với các
cơ sở sản xuất kinh doanh CBTS trên địa bàn tỉnh Cà Mau Qua đó, phát hiện và xử phạt, kiến nghị Chủ tịch UBND tỉnh xử phạt vi phạm hành chính đối với 47 lượt cơ
sở với tổng số tiền gần 1,5 tỷ đồng Mặt khác số tiền thu phí BVMT của 56 công ty, doanh nghiệp thuộc đối tượng nộp phí BVMT đối với nước thải công nghiệp tỉnh
Cà Mau trong năm 2016 là 2.515.783.875 đồng, tăng gần 300 triệu so với năm
20153
Ngành chế biến thủy sản đông lạnh Cơ sở chế biến đầu vỏ tôm
Để nâng cao hiệu lực, hiệu quả của công tác quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh Cà Mau đối với hoạt động của các cơ sở kinh doanh chế biến thủy sản, tăng cường kiểm soát công tác bảo vệ môi trường và xử lý ô nhiễm môi trường ở các doanh nghiệp, cơ sở, nhà máy chế biến thủy sản là hết sức cần thiết và cấp bách
Từ những lý do trên, với những kiến thức lý luận gắn với thực tiễn có được sau khi học tập các khối kiến thức của chương trình cao học Luật Kinh tế và các
kiến thức có liên quan, tôi lựa chọn thực hiện Luận văn “Pháp luật về xử lý hành vi
Trang 13gây ô nhiễm môi trường trong hoạt động chế biến thủy sản trên địa bàn tỉnh Cà Mau” nhằm nghiên cứu, phân tích, đánh giá rõ thực trạng tình hình hiện nay để từ
đó đề xuất một số giải pháp, kiến nghị thiết thực, khả thi đảm bảo phát triển kinh tế
- xã hội của tỉnh Cà Mau, góp phần nâng cao tỷ trọng xuất khẩu cũng như tạo sự hài hòa giữa lợi ích trong việc phát triển kinh tế và BVMT, thích ứng với biến đổi khí hậu của địa phương
2 Câu hỏi nghiên cứu
- Những quy định pháp luật hiện hành về xử lý hành vi gây ô nhiễm môi trường trong hoạt động chế biến thủy sản được quy định như thế nào?
- Thực trạng về hoạt động chế biến thủy sản trên địa bàn tỉnh Cà Mau bị ô nhiễm môi trường diễn ra trong thời gian qua được xử lý đối với các cơ sở này ra sao?
- Để góp phần phát triển bền vững trong mối quan hệ phát triển hài hòa hoạt động CBTS đi đôi với BVMT ở tỉnh Cà Mau trong thời gian tới thì cần có kế hoạch, giải pháp và kiến nghị gì để thực hiện tốt việc xử lý các hành vi gây ô nhiễm môi trường trong hoạt động chế biến thủy sản?
3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nhận diện thực trạng phát triển CBTS theo hướng bền vững, chỉ
ra những hạn chế, khó khăn và nguyên nhân, trên cơ sở đó đề xuất các phương hướng và giải pháp khả thi, phù hợp để phát triển bền vững, đồng thời góp phần cải thiện tình hình môi trường ở các doanh nghiệp ngành CBTS, nâng cao năng lực quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường đối với hoạt động sản xuất công nghiệp ngành thủy sản trên địa bàn tỉnh Cà Mau trong thời gian tới
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài sẽ nghiên cứu về việc xử lý những hành vi gây ô nhiễm môi trường
trong hoạt động của các cơ sở CBTS trên địa bàn tỉnh
3.3 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Địa bàn tỉnh Cà Mau
- Về thời gian: Nghiên cứu thực trạng thực hiện pháp luật và tình hình hoạt
động CBTS ở Cà Mau trong thời gian qua, giải pháp đề xuất trong thời gian tới
4 Các phương pháp tiến hành nghiên cứu, khung lý thuyết
4.1 Phương pháp thu thập tài liệu
Trang 14Thu thập các thông tin liên quan về hiện trạng môi trường ở các cơ sở CBTS:
Số lượng, ngành nghề, các quy định bảo vệ môi trường trong CBTS được ban hành trong các văn bản quy phạm pháp luật, tình hình thực hiện các quy định về bảo vệ môi trường ở các doanh nghiệp hiện đang hoạt động (thủ tục môi trường, đăng ký chủ nguồn thải chất thải nguy hại, báo cáo giám sát môi trường, ), tổng hợp các kết quả phân tích mẫu nước thải sản xuất của các nhà máy công nghiệp tình hình vi phạm pháp luật và xử lý hành chính về bảo vệ môi trường ở các doanh nghiệp thông qua các kết luận thanh, kiểm tra môi trường định kỳ hàng năm
Tiếp thu các kết quả nghiên cứu của các chương trình, đề tài khoa học liên quan đến ngành công nghiệp Cà Mau về môi trường các tài liệu, dữ liệu sẵn có sẽ được xem xét, chọn lọc để sử dụng thích hợp cho từng nội dung nghiên cứu
Kế thừa tài liệu, dữ liệu tỉnh Cà Mau về điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, kinh tế xã hội, bản đồ hành chính, hiện trạng phát triển ngành công nghiệp của tỉnh
4.2 Phương pháp điều tra, khảo sát
Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa: học viên tiến hành điều tra, khảo sát thực địa tại công ty, xí nghiệp chế biến thủy sản Lĩnh vực chế biến thủy sản là ngành công nghiệp chiếm ưu thế trong sản xuất công nghiệp của tỉnh và đây là các công ty có quy mô lớn thuộc đối tượng lập báo cáo đánh giá tác động môi trường do
Sở Tài nguyên và Môi trường quản lý mang tính đại diện cho các cơ sở ngành chế biến thủy sản trong tỉnh
Nội dung bao gồm: hiện trạng sản xuất, các nguồn phát sinh chất thải (nước thải, khí thải, chất thải rắn, chất thải nguy hại ), vị trí xả thải, tình trạng thu gom
và xử lý chất thải rắn, đánh giá mức độ ảnh hưởng từ hoạt động sản xuất công nghiệp tới đời sống và sức khỏe của người dân trong khu vực thông qua các phương pháp thực hiện như đo đạc, phỏng vấn, thu thập số liệu, lấy mẫu phân tích … thông qua các đợt thanh, kiểm tra công tác bảo vệ môi trường tại các cơ sở (học viên trực tiếp tham gia Đoàn thanh tra, kiểm tra bảo vệ môi trường tại các cơ sở) , cụ thể như sau:
- Thu thập số liệu về tình hình thực hiện báo cáo đánh giá tác động môi trường của chủ cơ sở (xây dựng hệ thống xử lý nước thải, báo cáo giám sát môi trường, báo cáo quản lý chất thải nguy hại …)
- Lấy mẫu nước thải sản xuất sau xử lý đem phân tích các thông số ô nhiễm
để so sánh với QCVN 11-MT:2015/BTNMT để đánh giá hiệu quả xử lý nước thải
Trang 15của cơ sở (lấy mẫu tại đầu ra hệ thống xử lý nước thải hoặc tại vị trí cửa xả thải, buổi sang, trời nắng để nước thải không pha loãng với nước mưa đánh giá không đúng chất lượng nước thải, dụng cụ lấy mẫu bằng cal nhựa 2L và lọ thủy tinh để phân tích chỉ tiêu dầu mỡ …)
- Kiểm tra việc thu gom, quản lý và xử lý chất thải rắn sinh hoạt, chất thải công nghiệp (đầu vỏ tôm, ruột cá …), chất thải nguy hại và việc chuyển giao chất thải nguy hại của chủ cơ sở với đơn vị có chức năng xử lý chất thải nguy hại
- Các biện pháp bảo vệ môi trường khác tại cơ sở như xử lý khí thải, cải thiện chất lượng môi trường (trồng cây xanh, áp dụng công cụ sản xuất sạch hơn…)
- Thực hiện quy định về nộp phí bảo vệ môi trường đối với nước thải
- Các khiếu kiện của người dân về xả thải gây ô nhiễm của cơ sở, việc xử phạt hành chính của cơ quan chức năng đối với chủ cơ sở
4.3 Phương pháp phân tích thống kê và so sánh, đối chiếu
Căn cứ vào các kết quả phân tích mẫu nước thải tại các cơ sở CBTS và so sánh với Quy chuẩn Việt Nam hiện hành để đánh giá tình hình xử lý chất thải của các doanh nghiệp, mức độ vi phạm và dựa trên quy định của các văn bản pháp luật
để phân loại và thống kê cơ sở gây ô nhiễm môi trường, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng theo các tiêu chí ban hành tại Thông tư số 04/2012/TT-BTNMT ngày 08/5/2012 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường để làm tiền đề cho việc đánh giá mức độ ô nhiễm môi trường trong hoạt động CBTS
5 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của luận văn
5.1 Ý nghĩa khoa học
Thông qua việc đánh giá hiệu quả của pháp luật về xử lý hành vi gây ô nhiễm môi trường trong hoạt động CBTS, đề ra những giải pháp phát triển bền vững hoạt động CBTS đi đôi với BVMT, luận văn góp phần tổng kết những vấn đề
lý luận về hoạt động CBTS và BVMT, chỉ ra sự cần thiết của việc phát triển bền vững mô hình này trong thời gian tới
5.2 Giá trị ứng dụng của luận văn
Luận văn mang ý nghĩa tham khảo đối với lãnh đạo, quản lý các cấp, các doanh nghiệp, trong việc chỉ đạo, quản lý, thực hiện phát triển hoạt động CBTS gắn với bảo vệ môi trường, phát triển bền vững ở tỉnh Cà Mau nói riêng và cả nước nói chung
Trang 16CHƯƠNG 1: NHỮNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH
VỀ XỬ LÝ Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG 1.1 Những khái niệm liên quan
1.1.1 Môi trường là gì?
Môi trường là một khái niệm rất rộng, được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau, đặc biệt sau hội nghị Stockholm về môi trường 1972 Trong Luật Bảo vệ môi
trường năm 2014, khái niệm môi trường được định nghĩa như sau: “Môi trường là
hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật…
Thành phần môi trường là yếu tố vật chất tạo thành môi trường gồm đất, nước,
không khí, âm thanh, ánh sáng, sinh vật và các hình thái vật chất khác”
Bách khoa toàn thư về môi trường (1994) đưa ra một định nghĩa đầy đủ hơn
về môi trường: “Môi trường là tổng thể các thành tố sinh thái tự nhiên, xã hội – nhân văn và các điều kiện tác động trực tiếp hay gián tiếp lên phát triển, đời sống và hoạt động của con người trong thời gian bất kỳ”
1.1.2 Khái niệm ô nhiễm môi trường, hành vi gây ô nhiễm môi trường và một
số khái niệm liên quan
Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014, các khái niệm sau đây được hiểu như sau:
“Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường và tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật
Hoạt động bảo vệ môi trường là hoạt động giữ gìn, phòng ngừa, hạn chế các tác động xấu đến môi trường; ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, cải thiện, phục hồi môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên nhằm giữ môi trường trong lành
Chất gây ô nhiễm là các chất hóa học, các yếu tố vật lý và sinh học khi xuất hiện trong môi trường cao hơn ngưỡng cho phép làm cho môi trường bị ô nhiễm
Chất thải nguy hại là chất thải chứa yếu tố độc hại, phóng xạ, lây nhiễm, dễ cháy, dễ nổ, gây ăn mòn, gây ngộ độc hoặc có đặc tính nguy hại khác”
Các thuật ngữ khác được nêu trong luận văn được hiểu như sau: Ứng phó với biến đổi khí hậu là các hoạt động của con người nhằm thích ứng và giảm thiểu biến đổi khí hậu Chất thải là vật chất được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh
Trang 17hoạt hoặc hoạt động khác Suy thoái môi trường là sự suy giảm về chất lượng và số lượng của thành phần môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật; và
sự cố môi trường được hiểu là sự cố xảy ra trong quá trình hoạt động của con người hoặc biến đổi của tự nhiên, gây ô nhiễm, suy thoái hoặc biến đổi môi trường nghiêm trọng4
1.2 Những chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và nguyên tắc về bảo vệ môi trường
1.2.1 Chủ trương, chính sách của Đảng về bảo vệ môi trường
Việc phát triển các hoạt động nuôi trồng, CBTS đi đôi với BVMT nằm trong đường lối, chủ trương lớn của Đảng đối với phát triển nông nghiệp, tài nguyên và môi trường, gắn với công cuộc đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Do vậy, đường lối, chủ trương của Đảng đối với phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh chế biến thủy sản đi đôi với BVMT, thích ứng với biển đổi khí hậu là cơ sở cho việc xây dựng và phát triển hoạt động nuôi trồng, CBTS hiện nay
Trong những năm qua, từ thực trạng phát triển của nông nghiệp, nông dân, nông thôn nước ta và trên cơ sở tiếp nối những chủ trương đối với nông nghiệp, bảo
vệ tài nguyên và môi trường trong quá trình đổi mới đất nước, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 41-NQ/TW về BVMT trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước với những quan điểm, mục tiêu và các giải pháp quan trọng làm cơ sở cho việc phát triển các hoạt động CBTS hiện nay Nghị quyết đề ra mục tiêu ngăn ngừa, hạn chế mức độ gia tăng ô nhiễm, suy thoái và sự cố môi trường do
hoạt động của con người và tác động của tự nhiên gây ra Sử dụng bền vững tài
nguyên thiên nhiên, bảo vệ đa dạng sinh học, khắc phục ÔNMT, trước hết ở những nơi đã bị ô nhiễm nghiêm trọng, phục hồi các hệ sinh thái đã bị suy thoái, từng bước nâng cao chất lượng môi trường; xây dựng nước ta trở thành một nước có môi trường tốt, có sự hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và BVMT; mọi người đều có ý thức BVMT, sống thân thiện với thiên nhiên Nghị quyết đã đề ra nhiều nhiệm vụ giải pháp để giải quyết các vấn đề về BVMT, trong đó có những nhiệm vụ, giải pháp là cơ sở quan trọng để khắc phục và hạn chế tình trạng ÔNMT hiện nay, đó là:
Một là, phòng ngừa và hạn chế các tác động xấu đối với môi trường
4
Luật Bảo vệ Môi trường năm 2014
Trang 18Bảo đảm yêu cầu về môi trường ngay từ khâu xây dựng và phê duyệt các quy hoạch, dự án đầu tư; không cho đưa vào xây dựng, vận hành, khai thác các cơ sở chưa đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về BVMT
Kiểm soát chặt chẽ việc gia tăng dân số cơ học, hình thành hệ thống các đô thị vệ tinh nhằm giảm áp lực về dân số, giao thông, môi trường lên các thành phố lớn Tập trung BVMT các khu vực trọng điểm; chủ động phòng tránh thiên tai; hạn chế và khắc phục xói lở ven biển và dọc các sông phù hợp với quy luật của tự nhiên; quan tâm BVMT biển
Tăng cường kiểm soát ô nhiễm tại nguồn; chú trọng quản lý chất thải, nhất là chất thải nguy hại trong sản xuất công nghiệp, dịch vụ y tế, nghiên cứu khoa học Kiểm soát chặt chẽ việc sử dụng phân hóa học, thuốc bảo vệ thực vật, hoá chất bảo
quản nông sản, thức ăn và thuốc bảo vệ thực vật (phòng trừ dịch bệnh) trong nuôi trồng, chế biến thủy sản
Chú trọng BVMT không khí, đặc biệt là ở các khu đô thị, khu dân cư tập trung Tích cực góp phần hạn chế tác động của sự biến đổi khí hậu toàn cầu
Hai là, khắc phục các khu vực môi trường đã bị ô nhiễm, suy thoái
Ưu tiên phục hồi môi trường các khu vực đã bị ô nhiễm nghiêm trọng, các hệ sinh thái đã bị suy thoái nặng
Giải quyết cơ bản tình trạng ô nhiễm nguồn nước và ÔNMT nghiêm trọng trong các khu dân cư do chất thải trong sản xuất công nghiệp
Ba là, điều tra nắm chắc các nguồn tài nguyên thiên nhiên và có kế hoạch
bảo vệ, khai thác hợp lý, bảo vệ đa dạng sinh học
Chủ động tổ chức điều tra cơ bản để sớm có đánh giá toàn diện và cụ thể về các nguồn tài nguyên thiên nhiên và về tính đa dạng sinh học ở nước ta
Việc khai thác và sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên phải bảo đảm tính hiệu quả, bền vững và phải gắn với BVMT (trước mắt và lâu dài)
Bốn là, giữ gìn vệ sinh, bảo vệ và tôn tạo cảnh quan môi trường
Hình thành trong cộng đồng ý thức giữ gìn vệ sinh chung, xoá bỏ các phong tục, tập quán lạc hậu, các thói quen, nếp sống không văn minh, không hợp vệ sinh, các hủ tục trong mai táng
Xây dựng công sở, xí nghiệp, gia đình, làng bản, khu phố sạch, đẹp đáp ứng các yêu cầu về vệ sinh môi trường
Đa dạng hoá các dịch vụ cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường cho nhân dân
Trang 19Quan tâm bảo vệ, giữ gìn và tôn tạo cảnh quan môi trường Thực hiện các biện pháp nghiêm ngặt để BVMT các khu di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh, nghỉ dưỡng và du lịch sinh thái
Năm là, đáp ứng yêu cầu về môi trường trong hội nhập kinh tế quốc tế
Xây dựng, hoàn thiện chính sách và tiêu chuẩn môi trường phù hợp với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Ngăn chặn việc lợi dụng rào cản môi trường trong xuất khẩu hàng hoá làm ảnh hưởng xấu đến sản xuất, kinh doanh Hình thành các cơ chế công nhận, chứng nhận phù hợp với điều kiện trong nước và tiêu chuẩn quốc tế
(1) Nghị quyết số 07-NQ/TU ngày 17/8/2007 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy
về BVMT tỉnh Cà Mau đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, trong văn bản này Ban Thường vụ Tỉnh ủy Cà Mau đã chỉ rõ sự cần thiết phải xây dựng mối quan
hệ hài hòa giữa các yếu tố kinh tế - xã hội với môi trường, lấy tiêu chuẩn môi trường làm nội dung bắt buộc trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương
(2) Nghị quyết số 08-NQ/TU ngày 17/5/2012 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh “về BVMT thích ứng với biến đổi khí hậu và nước biển dâng tỉnh Cà Mau đến năm 2015, định hướng đến năm 2020” Mục tiêu của Nghị quyết nêu rõ cần có giải pháp cơ bản suy thoái môi trường ở các khu sản xuất tập trung, khu công nghiệp, khu dân cư…
(3) Chương trình Hành động số 27-CTr/TU ngày 19/8/2013 của Ban Chấp
hành Đảng bộ tỉnh Cà Mau về thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 03/6/2013
của Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên nước và BVMT Chương trình Hành động này đã chú trọng vấn đề xử lý ô nhiễm môi trường, đề ra các giải pháp để góp phần bảo vệ môi trường, bảo vệ nguồn tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh Cà Mau
Trang 201.2.2 Pháp luật của Nhà nước về bảo vệ môi trường, xử lý hành vi gây ô nhiễm môi trường trong hoạt động chế biến thủy sản
Pháp luật của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về xử lý ô nhiễm môi trường trong hoạt động chế biến thủy sản nằm trong tổng thể chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về bảo vệ môi trường đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ Chất thải phát sinh trong hoạt động chế biến thủy sản phát sinh chủ yếu là nước thải sản xuất, khí thải và chất thải rắn
Nước thải trong ngành chế biến thủy sản là nguồn nước thải từ nước rửa nguyên liệu, sơ chế nguyên liệu, chế biến sản phẩm, các nguồn nước vệ sinh nhà xưởng sản xuất, nước rửa máy móc thiết bị, dụng cụ sản xuất trong các phân xưởng nhà máy chế biến thủy sản với thành phần như sau: BOD5, COD, chất rắn lơ lửng (SS), nitơ tổng số, photpho tổng số, đặc biệt vi sinh Coliforms, với lưu lượng khoảng 20 - 35 m3/tấn sản phẩm, đây là nguồn gây ô nhiễm môi trường rất nghiêm trọng cần phải được xử lý đáp ứng quy chuẩn môi trường quy định
Nguồn khí thải từ các hệ thống lò hơi, máy phát điện, lò sấy… chứa các thành phần độc hại CO, CO2, NO2, SO2, với lưu lượng, thành phần thải khác nhau, cần được quản lý chặt chẽ và được xử lý tại nguồn đáp ứng quy chuẩn môi trường quy định trước khi thải ra môi trường Bên cạnh đó, trong sản xuất chế biến thủy sản còn tạo ra mùi hôi do phân hủy chất hữu cơ như H2S, NH3, CH3SH (Methyl mercaptan), dung môi hữu cơ bay hơi, chất khử trùng phát sinh trong các công đoạn sản xuất chế biến thủy sản
Chất thải rắn công nghiệp không nguy hại là phụ phẩm đầu xương nội tạng
cá, đầu vỏ tôm… thải ra trong quá trình chế biến, bùn thải của hệ thống xử lý nước thải phân hủy gây mùi hôi Các loại giấy vụn, bao bì cát tông, bao ni lông và các loại ủng cao su, bao tay bảo hộ lao động…
Chất thải nguy hại bao gồm: Thùng đựng hóa chất các loại (thuốc khử trùng Chlorine, hóa chất cơ bản, chế phẩm hóa học), các loại dầu nhớt cặn (nhớt thải, dầu cặn máy biến thế thải, POPS…), bóng đèn huỳnh quang thải, gi lau máy dính dầu thải, cặn dầu nhiễm hoá chất…
Chất thải phát sinh trong hoạt động chế biến thủy sản nếu không được thu gom, quản lý, xử lý đúng quy định, khi phát tán vào môi trường xung quan sẽ gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Chính vì thế, hệ thống văn bản pháp luật về môi trường đã được xây dựng, ban hành, triển khai thực hiện nhằm tuyên truyền nâng cao trách nhiệm bảo vệ môi trường của chủ doanh nghiệp trong hoạt động chế biến
Trang 21thủy sản; quy định điều kiện bảo vệ môi trường trong hoạt động chế biến thủy sản, đảm bảo các chất thải phát sinh được quản lý, xử lý đúng quy định, theo các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường trong sản xuất công nghiệp nói chung và trong chế hoạt động chế biến thủy sản nói riêng Các văn bản pháp luật khuyến khích ý thức tự giác chấp hành của các cơ sở chế biến thủy sản Bên cạnh đó, hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát cũng được tăng cường nhằm phát hiện kịp thời những hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, để có biện pháp xử lý, chế tài phù hợp, đủ mạnh, mang tính răn đe (xử phạt vi phạm hành chính, phục hồi hiện trạng môi trường khu vực bị ô nhiễm, ngưng hoạt động sản xuất, kinh doanh, xử lý hình sự đối với tội phạm môi trường gây hậu quả nghiêm trọng,…)
Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, xử lý ô nhiễm môi trường đã có tầm hiệu lực pháp lý cao, đủ mạnh để điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong lĩnh vực bảo vệ môi trường Trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật
về chế biển thủy sản, bảo vệ môi trường, ngoài 02 Đạo luật mang tính chất trung tâm đó là: Luật Thủy sản năm 2003 và Luật Bảo vệ môi trường năm 2014, còn có nhiều văn bản ở tầm Luật, Pháp lệnh và các văn bản quy phạm pháp luật khác quy định các biện pháp xử lý ô nhiễm môi trường, bảo vệ từng thành tố môi trường trong hoạt động chế biến thủy sản Có thể nói, đây là những cơ sở pháp lý quan trọng để huy động sự tham gia của các ngành, các cấp và toàn xã hội tham gia kiểm tra, giám sát trong công tác bảo vệ môi trường đối với hoạt động chế biến thủy sản
Luật Bảo vệ môi trường đã được Quốc hội Khóa XIII thông qua tại phiên họp ngày 23 tháng 6 năm 2014 của Kỳ họp thứ 7, gồm có 20 chương, 170 điều Luật Bảo vệ môi trường là công cụ pháp lý quan trọng nhằm giữ gìn, bảo vệ môi trường phục vụ cho phát triển bền vững, bảo đảm quyền được sống trong môi trường trong lành của toàn thể nhân dân theo tinh thần Hiến pháp năm 2013 Hoạt động bảo vệ môi trường được diễn ra trong tất cả các lĩnh vực ngành nghề, tuy nhiên, tập trung hơn cả vào những ngành nghề gây ảnh hưởng lớn tới môi trường, trong đó có hoạt động sản xuất, kinh doanh chế biến thủy sản
Mặt khác với tình hình ô nhiễm môi trường ngày càng diễn ra trầm trọng và gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đến cuộc sống của con người, thì vấn đề xử lý ô nhiễm môi trường và bảo vệ môi trường đã trở thành vấn đề cấp bách không chỉ của riêng một cá nhân nào, mà là vấn đề của cả cộng đồng xã hội, của Nhà nước, của toàn cầu Các hoạt động xử lý ô nhiễm môi trường, bảo vệ môi trường rất đa dạng
và được ghi nhận tại Khoản 3, Điều 3, Luật Bảo vệ môi trường 2014, bao gồm "hoạt
Trang 22động giữ gìn, phòng ngừa, hạn chế các tác động xấu đến môi trường; ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, cải thiện, phục hồi môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên nhằm giữ môi trường trong lành"
Đồng thời Luật Thủy sản năm 2003 cũng quy định các vấn đề liên quan đến
xử lý ô nhiễm môi trường và bảo vệ môi trường trong hoạt động chế biến thủy sản Theo quy định tại khoản 2, Điều 43 Luật Thủy sản năm 2003 quy định điều kiện cơ
sở chế biến thủy sản, trong đó nhấn mạnh các hoạt động chế biến thủy sản phải đáp ứng điều kiện về hệ thống xử lý nước thải, chất thải rắn và khí thải theo quy định; đồng thời tại Điều 6 Luật Thủy sản năm 2003 quy định những hành vi bị cấm trong hoạt động thủy sản, trong đó có hành vi xả thải nước, chất thải từ cơ sở sản xuất giống thuỷ sản, cơ sở nuôi trồng thuỷ sản, cơ sở bảo quản, chế biến thuỷ sản mà chưa qua xử lý hoặc xử lý chưa đạt tiêu chuẩn quy định vào môi trường xung quanh; xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá thuỷ sản thuộc danh mục cấm xuất khẩu, nhập khẩu…
Mặt khác, theo quy định tại khoản 1, Điều 68 Luật Bảo vệ môi trường năm
2014 quy định cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ phải đáp ứng các yêu cầu về bảo
vệ môi trường sau: Thu gom, xử lý nước thải bảo đảm quy chuẩn kỹ thuật môi trường; thu gom, phân loại, lưu giữ, xử lý, thải bỏ chất thải rắn theo quy định của pháp luật; giảm thiểu, thu gom, xử lý bụi, khí thải theo quy định của pháp luật; bảo đảm không để rò rỉ, phát tán khí độc hại ra môi trường; hạn chế tiếng ồn, độ rung, phát sáng, phát nhiệt gây ảnh hưởng xấu đối với môi trường xung quanh và người lao động; bảo đảm nguồn lực, trang thiết bị đáp ứng khả năng phòng ngừa và ứng phó sự cố môi trường; xây dựng và thực hiện phương án bảo vệ môi trường Qua
đó, cơ sở chế biến thủy sản thuộc loại hình nêu trên nên phải thực hiện đầy đủ các quy định về yêu cầu bảo vệ môi trường, đặc biệt trong xử lý chất thải phát sinh tại
cơ sở trong hoạt động sản xuất
Bên cạnh đó, tại Chương 17, Bộ luật Hình sự, quy định các tội phạm về môi trường bao gồm các hành vi gây ô nhiễm nguồn nước; nhập khẩu công nghệ, máy móc, thiết bị, phế thải hoặc các chất không bảo đảm tiêu chuẩn bảo vệ môi trường; làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho người; huỷ hoại nguồn lợi thuỷ sản… Những hành vi gây hậu quả nghiêm trọng sẽ bị phạt tiền lên đến 100 triệu đồng; phạt tù từ
01 năm đến 05 năm
Để cụ thể hóa các quy định của Luật Bảo vệ môi trường, Luật Thủy sản đi vào thực tiễn đời sống, Chính phủ đã ban hành các Nghị định, Thủ tướng Chính phủ
Trang 23cũng đã ban hành các Quyết định, Chỉ thị, các Bộ, ngành cũng đã ban hành Thông
tư, Chỉ thị, Quyết định, tạo cơ sở pháp lý đồng bộ cho các hoạt động bảo vệ môi trường, xử lý ô nhiễm môi trường
Những Nghị định của Chính phủ cũng quy định cụ thể những hành vi vi phạm hành chính trong hoạt động thủy sản bị xử phạt và các vấn đề liên quan đến
xử lý ô nhiễm môi trường trong hoạt động thủy sản như: Nghị định
103/2013/NĐ-CP, ngày 12/9/2013 của Chính phủ quy định về xử phạt hành chính trong hoạt động
thủy sản, trong đó tại Điều 29 quy định việc vi phạm quy định về cơ sở chế biến thủy sản như sau:
“1 Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:
a) Cán bộ, nhân viên kỹ thuật trong các cơ sở chế biến thủy sản không đảm bảo các tiêu chuẩn về trình độ chuyên môn theo quy định của pháp luật;
b) Chế biến thủy sản không có xác nhận hoặc chứng nhận nguồn gốc theo quy định của pháp luật
2 Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với hành vi chế biến các loài thủy sản trong danh mục cấm khai thác theo quy định
3 Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng đối với hành vi xây dựng cơ sở chế biến thủy sản không theo quy hoạch hoặc không được cơ quan có thẩm quyền cho phép
4 Hình thức xử phạt bổ sung:
Tịch thu tang vật vi phạm hành chính đối với hành vi quy định tại Điểm b Khoản 1 và Khoản 2 Điều này
5 Biện pháp khắc phục hậu quả:
Buộc tháo dỡ cơ sở chế biến thủy sản đối với hành vi quy định tại Khoản 3 Điều này”
Mặt khác tại Nghị định số 155/2016/NĐ-CP, ngày 18/11/2016 của Chính phủ về xử phạt hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường quy định cụ thể về các hành vi vi phạm hành chính, hình thức xử phạt, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường Theo Nghị định này, cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo
vệ môi trường sẽ bị áp dụng một trong các hình thức xử phạt chính sau: Cảnh cáo; phạt tiền tối đa đối với một hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường là 1 tỷ đồng đối với cá nhân và 2 tỷ đồng đối với tổ chức
Trang 24Nghị định này quy định rõ mức phạt đối với từng hành vi vi phạm Trong đó, Nghị định quy định cá nhân vi phạm các quy định về bảo vệ môi trường tại cơ sở, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, cụm công nghiệp, khu kinh doanh và dịch vụ tập trung, làng nghề và khu nuôi trồng thủy sản bị phạt từ 5 - 500 triệu đồng Cá nhân vi phạm các quy định về xả nước thải có chứa các thông số môi trường thông thường và nguy hại vào môi trường bị phạt từ 300 nghìn đồng đến 1 tỷ đồng tùy theo mức độ vi phạm Mức phạt từ 10 triệu đồng đến 1 tỷ đồng áp dụng đối với cá nhân vi phạm các quy định về thải bụi, khí thải có chứa các thông số môi trường nguy hại vào môi trường Hành vi gây ô nhiễm đất, nước, không khí; gây ô nhiễm môi trường kéo dài, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng; vi phạm các quy định về bảo vệ môi trường đối với chủ nguồn thải chất thải nguy hại áp dụng mức phạt 5 triệu đến 1 tỷ đồng (mức phạt tiền đối với hành vi vi phạm hành chính quy định ở trên là mức phạt tiền quy định đối với hành vi vi phạm hành chính của cá nhân, mức phạt tiền đối với hành vi vi phạm hành chính của tổ chức bằng 2 lần mức phạt tiền với cùng hành vi vi phạm hành chính của cá nhân)
Và theo Nghị định số 41/2017/NĐ-CP, ngày 05/4/2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thủy sản; lĩnh vực thú y, giống vật nuôi, thức ăn chăn nuôi; quản lý rừng, phát triển rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản, các Nghị định số 80/2014/NĐ-CP ngày 06/8/2014 về thoát nước và xử lý nước thải; Nghị định số 03/2015/NĐ-CP ngày 06/01/2015 quy định về xác định thiệt hại đối với môi trường; Nghị định số 18/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015 quy định về quy hoạch bảo vệ môi trường, đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường; Nghị định số 19/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 quy định chi tiết một số điều của Luật bảo vệ môi trường; Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24/4/2015 về quản lý chất thải và phế liệu; Nghị định 154/2016/NĐ-CP ngày 16/11/2016 về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải cũng đã quy định chi tiết các chế tài đối với việc xử lý ô nhiễm môi trường đối với hoạt động chế biến thủy sản
Bên cạnh đó, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành các Quyết định, Chỉ thị liên quan đến bảo vệ môi trường, xử lý ô nhiễm, trong đó có các quy định liên quan đến hoạt động chế biến thủy sản như: Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg, ngày 22/4/2003 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch xử lý triệt để các cơ sở gây ÔNMT nghiêm trọng, đây là một cách tiếp cận để làm cơ sở BVMT được áp dụng đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh, trong đó các công ty, doanh nghiệp CBTS Tuy
Trang 25nhiên, qua 10 năm thực hiện Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, tình hình ÔNMT vẫn chưa chuyển biến rõ nét Vì thế, ngày 18 tháng 3 năm
2013, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 35/NQ-CP về một số vấn đề cấp bách trong lĩnh vực BVMT và ngày 31/8/2016 của Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 25/CT-TTg về một số nhiệm vụ, giải pháp cấp bách về bảo vệ môi trường.; Quyết định số 73/2014/QĐ-TTg ngày 19/12 quy định danh mục phế liệu được phép nhập khẩu từ nước ngoài làm nguyên liệu sản xuất; Quyết định số 16/2015/QĐ-TTg ngày 22 tháng 5 năm 2015 quy định về thu hồi, xử lý sản phẩm thải bỏ; Chỉ thị số 26/CT-TTg ngày 26 tháng 8 năm 2014 về việc triển khai thi hành Luật Bảo vệ môi trường; Chỉ thị số 25/CT-TTg ngày 31/8/2016 của Thủ tướng Chính phủ về một số nhiệm vụ, giải pháp cấp bách về bảo vệ môi trường; theo đó
đề ra những giải pháp cần thiết, cấp bách để xử lý vấn đề ô nhiễm môi trường đang diễn biến phức tạp do hoạt động phát triển kinh tế mà trong đó có hoạt động chế biến thủy sản
Để cụ thể hóa các quy định được đề cập trong các Luật và các văn bản nêu trên, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành nhiều Thông tư liên quan đến xử lý ô nhiễm trong hoạt động chế biến thủy sản, trong đó có một số Thông tư quan trọng như: Thông tư số 25/2009/TT-BTNMT ngày 16/11/2009 ban hành quy chuẩn quốc gia về môi trường: QCVN 19: 2009/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải công nghiệp đối với bụi và các chất vô cơ và QCVN 20: 2009/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải công nghiệp đối với một
số chất hữu cơ; Thông tư số 26/2015/TT-BTNMT ngày 28/5/2015 quy định đề án
bảo vệ môi trường chi tiết, đề án bảo vệ môi trường đơn giản; Thông tư số
27/2015/TT-BTNMT ngày 29/5/2015 quy định về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường; Thông tư số 35/2015/TT-BTNMT ngày 30/6/2015 về bảo vệ môi trường khu kinh tế, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao; Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT ngày 30/6/2015 quy định về quản lý chất thải nguy hại; Thông tư số 41/2015/TT-BTNMT ngày 09/9/2015 về bảo vệ môi trường trong nhập khẩu phế liệu làm nguyên liệu sản xuất; Thông tư số 77/2015/TT-BTNMT ngày 31/12/2015 ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường: QCVN 11-MT:2015/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải chế biến thủy sản; Thông tư số 31/2016/TT-BTNMT ngày 14/10/2016 về bảo vệ môi trường cụm công nghiệp, khu kinh doanh, dịch vụ tập trung, làng nghề và cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ; các văn bản
Trang 26nêu trên đã góp phần hoàn thiện chính sách pháp luật phục vụ cho công tác quản lý
và bảo vệ môi trường
Song song đó, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định
cụ thể về quản lý môi trường trong chế biến thủy sản tại Thông tư số BNN Cụ thể:
14/2009/TT-Điều 7 quy định về quản lý chất thải rắn như sau:
- Chủ cơ sở phải thu gom, phân loại chất thải rắn tại nguồn thành các nhóm: phụ phẩm có thể tận dụng, chất thải rắn sản xuất, chất thải rắn sinh hoạt và các chất thải rắn phải được chứa đựng trong các dụng cụ chứa kín đảm bảo vệ sinh, định kỳ chuyển đến cơ sở chế biến tiếp theo; hoặc đem xử lý tiêu hủy, chôn lấp ở địa điểm quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
- Chất thải rắn phải được vận chuyển theo nhóm đã được phân loại tại nguồn, trong thiết bị phù hợp, không để rơi vãi, phát tán mùi trong quá trình vận chuyển
Và tại Điều 8 về quản lý nước thải:
- Thu gom, xử lý nước thải: chủ cơ sở phải có biện pháp thu gom nước thải
và xử lý tại hệ thống xử lý nước thải của cơ sở hoặc của các khu công nghiệp, khu chế biến thủy sản tập trung, bảo đảm nước thải trước khi thải ra môi trường tối thiểu phải đạt các chỉ tiêu quy định theo tiêu chuẩn môi trường bắt buộc áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải chế biến thủy sản Hệ thống thu gom và xử lý nước thải của cơ sở phải bảo đảm không làm ô nhiễm đất, nước ngầm, nước ao hồ
và sông ngòi xung quanh
- Hệ thống xử lý nước thải phải bảo đảm các yêu cầu sau đây:
+ Sử dụng quy trình công nghệ phù hợp với loại nước thải cần xử lý;
+ Đủ công suất xử lý toàn bộ lượng nước thải ra từ cơ sở;
+ Nước thải sau khi xử lý phải đạt tiêu chuẩn môi trường cho phép;
+ Cửa xả nước thải vào hệ thống tiêu thoát phải đặt ở vị trí dễ kiểm tra, giám sát và theo đúng quy định về xả nước thải;
+ Vận hành được ngay khi cơ sở hoạt động
- Bùn thải từ hệ thống xử lý nước thải được quản lý theo quy định về quản lý chất thải rắn
- Chủ quản hệ thống xử lý nước thải phải thực hiện quan trắc định kỳ nước thải trước và sau khi xử lý Số liệu quan trắc được lưu giữ làm căn cứ để kiểm tra, giám sát hoạt động của hệ thống xử lý nước thải
- Phải có giấy phép xả thải ra môi trường
Trang 27Điều 9 quy định về quản lý và kiểm soát bụi, khí thải, tiếng ồn, độ rung, ánh sáng:
- Quản lý và kiểm soát bụi, khí thải:
a) Tổ chức, cá nhân hoạt động chế biến thủy sản có phát tán bụi, khí thải phải
có trách nhiệm kiểm soát và xử lý bụi, khí thải đạt các chỉ tiêu quy định theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về bụi, khí thải;
b) Công trình xây dựng hoặc các phương tiện giao thông, máy, và thiết bị sử dụng các nhiên liệu, nguyên liệu có phát tán bụi, khí thải phải có thiết bị che chắn, hoặc có bộ phận lọc giảm khí thải độc hại hoặc sử dụng các biện pháp khác bảo đảm đạt tiêu chuẩn môi trường bắt buộc áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về bụi, khí thải
- Quản lý khí thải gây hiệu ứng nhà kính, phá hủy tầng ôzôn:
Các tổ chức, cá nhân hoạt động chế biến thủy sản có sử dụng các tác nhân lạnh thuộc nhóm Clorofluorocacbon (CFCs) phải có kế hoạch thay thế, tiến đến loại trừ việc sử dụng chúng theo lịch trình nêu tại Phụ lục số 1 của Quy chế này; không được nhập khẩu các thiết bị lạnh có sử dụng tác nhân lạnh nhóm CFCs
- Hạn chế tiếng ồn, độ rung, ánh sáng:
Tổ chức, cá nhân hoạt động chế biến thủy sản gây tiếng ồn, độ rung, ánh sáng, vượt quá mức quy định tại tiêu chuẩn bắt buộc áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về tiếng ồn, độ rung, ánh sáng và phải có trách nhiệm kiểm soát, xử lý đạt yêu cầu theo quy định
Như vậy, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật nêu trên về xử lý ô nhiễm
môi trường của Nhà nước đã từng bước hoàn thiện, tạo cơ sở làm hành lang pháp lý vững chắc cho công tác bảo vệ môi trường nói chung, cũng như công tác xử lý ô nhiễm môi trường trong hoạt động chế biến thủy sản nói riêng
1.2.3 Những nguyên tắc bảo vệ môi trường
Các nguyên tắc bảo vệ môi trường được quy định tại Điều 4 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014, trong đó nguyên tắc bảo vệ môi trường là trách nhiệm và nghĩa
vụ của mọi cơ quan, tổ chức, hộ gia đình và cá nhân được đặt lên hàng đầu, qua đó nhằm nhấn mạnh hoạt động bảo vệ môi trường cần sự chung tay, góp sức của toàn
xã hội và mỗi cá nhân phải có ý thức và trách nhiệm bảo vệ môi trường sống của mình Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng thành phần môi trường, được hưởng lợi từ môi trường có nghĩa vụ đóng góp tài chính cho bảo vệ môi trường Tổ chức,
Trang 28hộ gia đình, cá nhân gây ô nhiễm, sự cố và suy thoái môi trường phải khắc phục, bồi thường thiệt hại và trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật
Bên cạnh đó, Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 cũng quy định các nguyên tắc cần được đảm bảo thực hiện và duy trì khi xây dựng, triển khai các kế hoạch, chính sách bảo vệ môi trường, gồm:
- Bảo vệ môi trường gắn kết hài hòa với phát triển kinh tế, an sinh xã hội, bảo đảm quyền tr em, thúc đẩy giới và phát triển, bảo tồn đa dạng sinh học, ứng phó với biến đổi khí hậu để bảo đảm quyền mọi người được sống trong môi trường trong lành
- Bảo vệ môi trường phải dựa trên cơ sở sử dụng hợp lý tài nguyên, giảm thiểu chất thải
- Bảo vệ môi trường quốc gia gắn liền với bảo vệ môi trường khu vực và toàn cầu; bảo vệ môi trường bảo đảm không phương hại chủ quyền, an ninh quốc gia
- Bảo vệ môi trường phải phù hợp với quy luật, đặc điểm tự nhiên, văn hóa, lịch sử, trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
- Hoạt động bảo vệ môi trường phải được tiến hành thường xuyên và ưu tiên phòng ngừa ô nhiễm, sự cố, suy thoái môi trường
- Đảng và Nhà nước ta luôn ý thức được tầm quan trọng của việc phát triển kinh tế đi đôi với bảo vệ môi trường, đảm bảo phát triển bền vững Điều này thể hiện qua một loạt các chính sách của Nhà nước về bảo vệ môi trường như: Tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân tham gia hoạt động bảo vệ môi trường; kiểm tra, giám sát việc thực hiện hoạt động bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật; tuyên truyền, giáo dục kết hợp với biện pháp hành chính, kinh tế
và biện pháp khác để xây dựng kỷ cương và văn hóa bảo vệ môi trường; bảo tồn đa dạng sinh học; khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên; phát triển năng lượng sạch và năng lượng tái tạo; đẩy mạnh tái chế, tái sử dụng và giảm thiểu chất thải Đồng thời, ưu tiên xử lý vấn đề môi trường bức xúc, ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, ô nhiễm môi trường nguồn nước; chú trọng bảo vệ môi trường khu dân cư; phát triển hạ tầng kỹ thuật bảo vệ môi trường…
Trang 291.3 Lý thuyết về phát triển bền vững trong mối quan hệ với việc xử lý hành vi gây ô nhiễm môi trường, bảo vệ môi trường đối với hoạt động chế biến thủy sản
1.3.1 Quan niệm về phát triển bền vững
Thuật ngữ “phát triển bền vững” được giới thiệu lần đầu tiên bởi Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) vào năm 1980 cho rằng “sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học"
Phát triển bền vững là sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế
hệ tương lai5 Đây là khái niệm về phát triển bền vững được sử dụng rất phổ biến hiện nay
Năm 1992, Hội nghị thượng đỉnh về Trái đất, tên chính thức là Hội nghị về Môi trường và Phát triển của Liên hiệp quốc (UNCED) được tổ chức tại Riode Janeiro, Brazil Tại đây, các đại biểu tham gia đã thống nhất khẳng định lại khái niệm PTBV và phát động một chương trình hành động vì sự PTBV có tên Chương trình Nghị sự 21 (Agenda 21) với sự tham gia của đại diện hơn 200 quốc gia trên thế giới cùng một số lượng lớn các tổ chức phi chính phủ Từ đó, Chương trình Nghị sự 21 về phát triển bền vững đã trở thành chiến lược phát triển của toàn cầu trong thế kỷ XXI, và “Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ”, với 8 nội dung, trong đó
có công tác xử lý ô nhiễm môi trường để góp phần bảo vệ môi trường đã được tập trung thực hiện
Năm 2002, sau 10 năm thực hiện Chương trình Nghị sự 21 toàn cầu, khái niệm phát triển bền vững được bổ sung thêm: “Là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý, hài hòa giữa ba mặt của sự phát triển, gồm: Phát triển kinh tế, phát triển xã hội và BVMT nhằm đáp ứng nhu cầu con người trong hiện tại, nhưng không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai”6
Như vậy có thể thấy, nhận thức về phát triển bền vững là cả một quá trình Đây cũng là quá trình biến đổi của những vấn đề kinh tế, xã hội tác động vào đời sống con người và làm thay đổi nhận thức của họ Có một điểm đặc biệt là quá trình
Trang 30nhận thức này luôn được thống nhất cao ở mọi quốc gia và với mọi chế độ chính trị Cho đến thời điểm này, phát triển bền vững được thống nhất xem xét trên cả ba khía cạnh: Kinh tế, xã hội và môi trường Vấn đề là, từng quốc gia sẽ thực hiện chiến lược phát triển bền vững của mình và tham gia vào sự phát triển bền vững của toàn nhân loại như thế nào
Đối với Việt Nam, từ năm 2005, Luật BVMT khái niệm phát triển bền vững:
“Là phát triển đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và BVMT” Khái niệm này
tiếp tục được khẳng định trong Luật BVMT năm 2014 có hiệu lực vào ngày 01/01/2015
1.3.2 Nội dung của phát triển bền vững ở nước ta
Quan điểm phát triển bền vững đã được Đảng ta khẳng định qua các kỳ Đại hội và được khẳng định sâu sắc trong các văn kiện của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam và trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011- 2020 là: "Phát triển nhanh gắn liền với phát triển bền vững, phát triển bền vững là yêu cầu xuyên suốt trong Chiến lược" và "Phải phát triển bền vững về kinh
tế, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an ninh kinh tế Đẩy mạnh chuyển dịch
cơ cấu kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, coi chất lượng, năng suất, hiệu quả, sức cạnh tranh là ưu tiên hàng đầu, chú trọng phát triển theo chiều sâu, phát triển kinh tế tri thức Tăng trưởng kinh tế phải kết hợp hài hoà với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân Phát triển kinh tế - xã hội phải luôn coi trọng bảo vệ và cải thiện môi trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu" và đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng tiếp tục khẳng định “Phát triển nhanh, bền vững, phấn đấu sớm đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại”7
Có thể nói phát triển bền vững đã trở thành đường lối, quan điểm của Đảng
và chính sách của Nhà nước xuyên suốt qua các thời kỳ Để thực hiện mục tiêu phát triển bền vững, nhiều chỉ thị, nghị quyết khác của Đảng, nhiều văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước đã được ban hành và triển khai thực hiện; nhiều chương trình, đề tài nghiên cứu về lĩnh vực này đã được tiến hành và thu được những kết
7
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng Cộng sản Việt Nam, trang 76,
Trang 31quả bước đầu; nhiều nội dung cơ bản về phát triển bền vững đã đi vào cuộc sống và dần dần trở thành xu thế tất yếu trong sự phát triển của đất nước
Từ năm 2004, trong đó Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam (được gọi là Chương trình Nghị sự 21 của Việt Nam đã xác định: “Mục tiêu tổng quát của phát triển bền vững là đạt được sự đầy đủ về vật chất, sự giàu có về tinh thần và văn hóa, sự bình đẳng của các công dân và sự đồng thuận của xã hội, sự hài hòa giữa con người và tự nhiên; phát triển phải kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hoà được ba mặt là phát triển kinh tế, phát triển xã hội và BVMT”8
Đến năm 2012, Thủ tướng Chính phủ tiếp tục ban hành Quyết định số TTg ngày 12/04/2012 phê duyệt Chiến lược phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn
432/QĐ-2011 - 2020 Trong đó, xác định rõ quan điểm xem phát triển bền vững là yêu cầu xuyên suốt trong quá trình phát triển đất nước; kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa phát triển kinh tế với phát triển xã hội và bảo vệ tài nguyên môi trường bảo đảm quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội
Như vậy, từ những quan điểm, đường lối của Đảng và chủ trương, chính sách của Nhà nước, có thể thấy phát triển bền vững phải bao gồm sự phát triển hài hòa trên cả 3 mặt Một là, phát triển có hiệu quả về kinh tế; Hai là, phát triển hài hòa các mặt xã hội, nâng cao mức sống của các tầng lớp dân cư và Ba là, cải thiện môi trường sinh thái, đảm bảo phát triển lâu dài vững chắc cho thế hệ hôm nay và mai sau Cụ thể:
Thứ nhất, về phát triển kinh tế Mục tiêu phát triển kinh tế luôn là nhóm mục tiêu cơ bản đảm bảo cho phát triển bền vững Mục tiêu phát triển kinh tế bao gồm các nội dung chủ yếu: Tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững; bảo đảm ổn định kinh tế
vĩ mô, đặc biệt là các cân đối lớn; giữ vững an ninh lương thực, an ninh năng lượng,
an ninh tài chính; chuyển đổi mô hình tăng trưởng sang phát triển hài hòa giữa chiều rộng và chiều sâu; chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; từng bước thực hiện tăng trưởng xanh, phát triển kinh tế Cacbon thấp; sử dụng tiết kiệm, hiệu quả mọi nguồn lực; nâng cao rõ rệt hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế, mở rộng kinh tế đối ngoại, tăng cường kết cấu hạ tầng
Thứ hai, về phát triển các mặt văn hóa xã hội Việc gắn kết các mục tiêu kinh
tế và các mục tiêu phát triển xã hội luôn là yếu tố đảm bảo phát triển bền vững Các
8 Quyết định số 153/2004/QĐ-TTg ngày 17/8/2004 của Thủ tướng Chính phủ ban hành về Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam (được gọi là Chương trình Nghị sự 21 của Việt Nam)
Trang 32mục tiêu xã hội tập trung vào các nhóm như: Xây dựng xã hội dân chủ, kỷ cương, đồng thuận, công bằng, văn minh; nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc; con người phát triển toàn diện về trí tuệ, đạo đức, thể chất, tinh thần, năng lực sáng tạo, ý thức công dân, tuân thủ pháp luật
Thứ ba, về cải thiện môi trường, môi sinh, đảm bảo phát triển lâu dài, vững chắc cho thế hệ hôm nay và mai sau Vấn đề cải thiện môi trường, môi sinh, đảm bảo phát triển lâu dài, vững chắc cho thế hệ hôm nay và mai sau là yêu cầu cơ bản của phát triển bền vững, trong đó chú trọng các nội dung: Giảm thiểu các tác động tiêu cực của hoạt động kinh tế đến môi trường Khai thác hợp lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên, thiên nhiên, đặc biệt là tài nguyên không tái tạo Phòng ngừa, kiểm soát và khắc phục ô nhiễm, suy thoái môi trường, cải thiện chất lượng môi trường bảo vệ và phát triển rừng, bảo tồn đa dạng sinh học
Người ta có thể chết ngạt cùng với một đống của cải khổng lồ nếu như không
có không khí trong lành để thở và nước sạch để uống Sự giàu có của thế hệ hôm nay có thể sẽ là nguyên nhân của những thảm họa môi trường mà thế hệ sau phải gánh chịu Một sự thật hiển nhiên là nếu như con người tàn phá, hủy hoại môi trường thì chính môi trường bị tàn phá, hủy hoại đó tác động trở lại tới cuộc sống con người, ảnh hưởng tới sức khỏe, thậm chí có nguy cơ tàn phá làm cho người ta
có thể trắng tay, rơi vào đói nghèo và đe dọa cả mạng sống Chính vì vậy, giữ gìn, BVMT để đảm bảo cho người dân được sống trong môi trường trong sạch hòa nhập với thiên nhiên luôn là mục tiêu của phát triển bền vững
1.3.3 Sự cần thiết phát triển bền vững đối với hoạt động CBTS đi đôi với BVMT
Ngành thủy sản Việt Nam có một vai trò rất lớn trong nền kinh tế quốc dân, đóng góp cho GDP cả nước khoảng 4% Trong cơ cấu nông - lâm - ngư nghiệp, thủy sản chiếm khoảng 20 - 22% tỷ trọng Việt Nam đã đứng vào Top 10 nước xuất khẩu thuỷ sản lớn nhất thế giới
Năm 2014 đã đạt giá trị kim gạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam đạt 7,84
tỷ USD, tăng 17,1%, tương ứng tăng 1,14 tỷ USD so với năm trước về mặt số tuyệt đối9 Xuất khẩu hàng thuỷ sản trong năm 2014 có mức tăng kim ngạch kỷ lục và cũng có tốc độ tăng cao nhất so với năm trước trong vòng 3 năm trở lại đây
9
Niên giám thống kê năm 2014
Trang 33Để đạt được kết quả trên, ngoài việc phát triển nuôi trồng và khai thác tự nhiên thuỷ sản, trong lĩnh vực chế biến cũng đã phát triển về cả số lượng và quy mô sản xuất
Tính đến năm 2014 trên toàn quốc đã có khoảng 600 cơ sở CBTS với quy
mô công nghiệp và hàng nghìn cơ sở chế biến gia công nhỏ l , thủ công hộ gia đình với công suất chế biến khoảng 3 triệu tấn sản phẩm/năm10
Sự phát triển mạnh mẽ về số lượng và quy mô sản xuất đã ảnh hưởng, tác động xấu đến môi trường và đời sống người dân xung quanh các cơ sở CBTS là điều không thể tránh khỏi
Sản xuất càng phát triển tự phát, thiếu chiều sâu thì áp lực về vấn đề ÔNMT ngày càng cao, đòi hỏi trách nhiệm đối với vấn đề xử lý ô nhiễm môi trường và BVMT của nhà sản xuất, nhà quản lý ngày càng lớn Trong quá trình sản xuất, hàng năm, các công ty, xí nghiệp, nhà máy CBTS sử dụng hàng triệu tấn nguyên liệu, hàng chục triệu m3 nước và hàng nghìn tấn hoá chất tẩy rửa, khử trùng, với khối lượng chất thải rất lớn, đặc biệt là nước thải hữu cơ
Nhiều năm qua, nuôi trồng, chế biến, xuất khẩu thủy sản đã trở thành thế mạnh kinh tế đặc biệt ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long nói chung biến nơi đây thành một vùng trọng điểm về nuôi trồng, CBTS cho tiêu dùng và xuất khẩu của cả nước Tuy nhiên sự phát triển nuôi trồng, CBTS mạnh mẽ lại kéo theo môi trường ô nhiễm diễn ra ở quy mô ngày càng lớn và hết sức đa dạng và phức tạp, qua đó đòi hỏi cần phải có chế tài xử lý nghiêm đối với các hành vi gây ô nhiễm môi trường để bảo vệ môi trường
BVMT mà nhiệm vụ trọng tâm là xử lý các hành vi gây ô nhiễm môi trường trong hoạt động CBTS ở Đồng bằng sông Cửu Long nói chung và tỉnh Cà Mau nói riêng đang trở thành vấn đề bức xúc, cấp bách cần được quan tâm chỉ đạo tập trung giải quyết căn bản, đồng bộ các giải pháp hiệu quả nhằm để bảo đảm sự phát triển bền vững cho nền kinh tế và ổn định xã hội
Mặt khác, trong quá trình hội nhập quốc tế của đất nước do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, ngày nay môi trường nước ta đang bị xuống cấp nhanh, có nơi,
có lúc đã đến mức báo động; đất đai bị xói mòn, thoái hoá; chất lượng các nguồn nước bị suy giảm mạnh; không khí ở nhiều đô thị, khu dân cư bị ô nhiễm nặng nề; khối lượng phát sinh và mức độ độc hại của chất thải ngày càng tăng; tài nguyên
10
Niêm giám thống kê năm 2014
Trang 34thiên nhiên trong nhiều trường hợp bị khai thác quá mức, không có qui hoạch; đa dạng sinh học bị đe doạ nghiêm trọng, điều kiện vệ sinh môi trường, cung cấp nước sạch ở nhiều nơi không đảm bảo, nhất là việc đẩy mạnh phát triển các hoạt động chế biến thủy sản, gây áp lực lớn lên công tác xử lý ô nhiễm môi trường nói riêng và công tác bảo vệ môi trường nói chung
Do vậy, việc xử lý ô nhiễm môi trường, tổ chức các giải pháp để góp phần bảo vệ môi trường vừa là mục tiêu, vừa là một trong những nội dung cơ bản của sự phát triển bền vững, phải được thể hiện trong các chiến lược, qui hoạch, kế hoạch,
dự án phát triển kinh tế - xã hội của từng ngành và từng địa phương Bảo vệ môi trường là quyền lợi và nghĩa vụ của mọi tổ chức, mọi gia đình và của mỗi người dân, là biểu hiện của nếp sống văn hoá, đạo đức, là tiêu chí quan trọng của xã hội văn minh và là sự nối tiếp truyền thống yêu thiên nhiên, sống hài hoà với tự nhiên của cha ông chúng ta Bảo vệ môi trường phải theo phương châm lấy phòng ngừa
và hạn chế tác động xấu với môi trường là chính, kết hợp với xử lý ô nhiễm, khắc phục suy thoái, cải thiện môi trường và bảo tồn thiên nhiên; kết hợp giữa sự đầu tư của Nhà nước với đẩy mạnh huy động nguồn lực trong xã hội, kết hợp giữa công nghệ hiện đại với các phương pháp phòng chống
Bảo vệ môi trường là nhiệm vụ vừa phức tạp, vừa cấp bách; việc xử lý ô nhiễm môi trường để góp phần chung tay trong công tác bảo vệ môi trường không chỉ
có quan hệ tác động hỗ trợ đối với sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững mà trong quá trình đó, luôn luôn phát sinh những xung đột về lợi ích giữa các lĩnh vực kinh tế -
xã hội và giữa các chủ thể trong việc hưởng thụ, trong việc sử dụng các thành phần môi trường với việc thực hiện nghĩa vụ bảo vệ môi trường, không chỉ nhằm tạo ra sự đồng thuận xã hội, làm hậu thuẫn cho các hoạt động quản lý Nhà nước về tài nguyên
và môi trường, cho các hoạt động bảo vệ môi trường và phát triển bền vững, mà còn góp phần giải quyết những mâu thuẫn trên, đồng thời tăng cường mở rộng khối Đại đoàn kết toàn dân tộc của chúng ta hiện nay Vì vậy, cần có sự lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ của các cấp uỷ Đảng, sự thống nhất quản lý của Nhà nước, sự tham gia tích cực của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể; để từ đó làm cho môi trường ngày càng “Xanh, sạch, đẹp” và làm cho mọi người dân có ý thức, kiến thức, sống thân thiện với môi trường, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên; đấu tranh , xử lý nghiêm các hành vi gây ô nhiễm môi trường trong sản xuất
Bảo vệ môi trường là một công việc lâu dài, bền vững và phải được sự quan tâm thường xuyên, ưu tiên của Đảng, Nhà nước, các cấp, các ngành chức năng và
Trang 35Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cũng như các đoàn thể quần chúng Nhà nước cần phải tạo điều kiện thuận lợi về mọi mặt, nhất là tăng cường phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam để thực hiện nhiệm vụ to lớn và hết sức quan trọng này
Trang 36CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ XỬ LÝ HÀNH VI GÂY Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG TRONG HOẠT ĐỘNG CHẾ BIẾN
THỦY SẢN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH CÀ MAU
2.1 Tổng quan về tình hình môi trường trên địa bàn tỉnh Cà Mau
2.1.1 Thực trạng chung về công tác bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh Cà Mau
Sự phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp đã thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Cà Mau, tạo điều kiện tiến sát đến cơ cấu kinh tế công nghiệp, xây dựng - nông nghiệp - dịch vụ theo quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp phát triển đã giải quyết việc làm cho nhiều lao động, trình độ tay nghề của lao động công nghiệp được nâng lên rõ rệt Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp phát triển đã phát huy được vai trò đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, tỷ trọng đóng góp ngân sách địa phương tăng đều qua các năm Toàn tỉnh Cà Mau trên 5.000 cơ sở sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, số lượng các cơ sở phân theo ngành công nghiệp, ngành chế biến nông, lâm, thủy hải sản - thực phẩm hiện là ngành công nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế của tỉnh Cà Mau, trong đó mũi nhọn là ngành chế biến thủy sản Ngành công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy hải sản - thực phẩm
đã có đóng góp đáng kể vào sự phát triển chung của toàn ngành công nghiệp; hàng năm đã giải quyết việc làm cho trên 30.000 lao động; góp phần tích cực vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa công nghiệp tỉnh Cà Mau
Mặc dù hạ tầng bảo vệ môi trường các khu công nghiệp chưa được đầu tư nhưng tỉnh đã tăng cường công tác đôn đốc xử lý ô nhiễm, bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh, trong đó yêu cầu các cơ sở thực hiện nghiêm việc xây dựng hệ thống
xử lý nước thải, khí thải: đối với các cơ sở chế biến, sản xuất, kinh doanh hàng thủy sản, sản xuất Chytin từ vỏ đầu tôm hầu hết đã xây dựng hệ thống xử lý nước thải
Hiện nay trên địa bàn tỉnh có 56 cơ sở sản xuất, kinh doanh mặt hàng thủy sản, gồm các loại hình chế biến thủy sản11
(tôm đông lạnh, chả cá, bột cá, Chytin từ đầu vỏ tôm)
Chất lượng nước thải thủy sản trên địa bàn tỉnh Cà Mau đang có những dấu hiệu ô nhiễm, đặc biệt nước thải của các hoạt động sản xuất chế biến thủy sản,
11
Báo cáo tổng kết công tác năm 2016 của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Cà Mau
Trang 37chytin chứa nhiều hợp chất protein và acid béo, các chất rắn lơ lửng, chất rắn hòa tan, muối, hợp chất tẩy rửa, clorine và vi sinh vật Đây là loại hình tác động khá nghiêm trọng đến môi trường nước mặt
Khí thải từ hoạt động chế biến thủy sản: Ô nhiễm khí thải từ hoạt động chế
biến thủy sản bao gồm: khí thải từ các phương tiện vận chuyển trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp, từ hoạt động sản xuất của các nhà máy trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp, hệ thống thoát nước, hệ thống XLNT, trạm tập trung chất thải rắn Trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp, hoạt động giao thông sẽ gia tăng đáng kể do các hoạt động như: vận chuyển nguyên vật liệu, sản phẩm, hoạt động đưa đón công nhân, nhân viên trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp…Mức độ ô nhiễm do các phương tiện giao thông gây ra phụ thuộc nhiều vào chất lượng đường, chất lượng xe, mật độ xe và nhiên liệu tiêu thụ
Nguồn phát sinh khí thải do hoạt động sản xuất thủy sản chủ yếu: từ các lò hơi trong các nhà máy sản xuất bột cá, Chytin; quá trình đốt nhiên liệu hóa thạch (khí thiên nhiên) của nhà máy Điện và nhà máy Đạm, khí thải từ máy phát điện dự phòng,… Thành phần khí thải chủ yếu là: khí NH3, H2S, Mercaptan, axit hữu cơ, hơi Clorin và lượng lớn CO2, CO, hơi nước, NOx, SO2,… Tuy nhiên, phần lớn các nhà máy này đều chưa xây dựng hệ thống xử lý khí thải, gây tác động lớn đến môi trường không khí nói chung và môi trường sống của người dân nói riêng Tại hệ thống thoát nước của các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, do quá trình phân hủy các chất hữu cơ trong nước thải làm phát sinh các khí như NH3, H2S…, các khí này
có khả năng gây ô nhiễm mùi nên sẽ gây ảnh hưởng đến môi trường không khí xung quanh Tại hệ thống XLNT, mùi không phát sinh trên toàn công trình xử lý mà chỉ từ một số công trình đơn vị như hố thu, song chắn rác, bề chứa bùn Thành phần các khí phát sinh tương tự như mạng lưới thoát nước Ngoài ra, hoạt động của hệ thống XLNT còn phát sinh tiếng ồn từ các máy như máy bơm, máy thổi khí,… Quá trình lưu trữ chất thải chờ thu gom sẽ phát sinh mùi hôi khó chịu từ quá trình lên men phân hủy kỵ khí các chất hữu cơ Thành phần các khí mùi hôi phát sinh từ quá trình phân hủy chất thải rắn bao gồm CO2, NH3, H2S
Chất thải rắn, chất thải nguy hại: Nguồn phát sinh chất thải rắn tại các cơ sở
chế biến thủy sản bao gồm: Chất thải sinh hoạt của công nhân viên làm việc trong nhà máy, chất thải công nghiệp phát sinh từ quá trình sản xuất, trong đó có chất thải nguy hại Chất thải rắn sinh hoạt: Các chất hữu cơ dễ phân hủy như thực phẩm dư thừa, rác lá cây; các hợp chất hữu cơ không có khả năng phân hủy sinh học như
Trang 38nhựa, nilon,… và các chất vô cơ như thủy tinh, kim loại,… Chất thải rắn sản xuất: Phát sinh chủ yếu từ các cơ sở CBTS, sản xuất chytin từ đầu vỏ tôm, bao bì hỏng, thùng PE,… Chất thải rắn nguy hại: Phát sinh từ máy móc, thiết bị phục vụ sản xuất
và quá trình bảo trì, sửa chữa như gi lau dầu nhớt và dầu nhớt cặn, bóng đèn huỳnh quang thải, pin - acquy chì thải, bao bì chứa hóa chất dung môi, hộp nhựa máy in - máy photo, bùn cặn từ hệ thống xử lý nước thải,… Hầu hết công tác phân loại chất thải rắn tại nguồn của các nhà máy trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp chưa được chú trọng, vẫn còn tình trạng thu gom chất thải rắn tái chế lẫn với chất thải sinh hoạt hoặc chất thải nguy hại (gi lau dính dầu) lẫn trong chất thải loại bỏ Mặt khác, hệ thống thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn chưa đạt yêu cầu, một số nhà máy trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp vẫn thải bỏ chất thải rắn ra môi trường, tự đốt trong nhà máy không theo quy định, trong quá trình vận chuyển phát sinh mùi hôi ảnh hưởng tới môi trường
2.1.2 Công tác bảo vệ môi trường tại các cơ sở chế biến thủy sản
Hiện nay tỉnh Cà Mau đứng đầu cả nước về xuất khẩu thủy sản với mặt hàng xuất khẩu chủ lực là chế biến tôm đông lạnh, nhiều doanh nghiệp có sản phẩm chất lượng cao, thương hiệu mạnh và có giá trị xuất khẩu lớn Kim ngạch xuất khẩu tăng nhanh trong những năm qua cho thấy thủy sản Cà Mau đã có chỗ đứng trên thị trường, phát huy lợi thế cạnh tranh Đây là thành tựu lớn, khẳng định vai trò ngành kinh tế mũi nhọn, có tính chất thúc đẩy các ngành nghề và kinh tế xã hội tỉnh phát triển Phần lớn các cơ sở chủ yếu nằm xen lẫn trong khu dân cư, số lượng cơ sở thuộc khu, cụm công nghiệp cũng là những cơ sở hoạt động có trước khi quy hoạch khu, cụm công nghiệp Nguồn tiếp nhận nước thải các cơ sở sản xuất là các tuyến sông, kênh chính trên địa bàn tỉnh như sông Đốc, sông Gành Hào, kênh xáng Lương Thế Trân, sông Tắc Thủ, kênh xáng Cà Mau - Bạc Liêu Phần lớn các cơ sở sản xuất, chế biến thủy sản khi đi vào hoạt động đã đầu tư các công trình xử lý chất thải theo quy định do thời gian qua các ngành, các cấp đẩy mạnh công tác hướng dẫn, phổ biến quy định về bảo vệ môi trường đến các doanh nghiệp trong khu công nghiệp, áp dụng các biện pháp quản lý, tổ chức kiểm tra, thanh tra thực hiện quy định bảo vệ môi trường, xử lý các trường hợp vi phạm tạo sự răn đe
Đa số các cơ sở sản xuất thuộc đối tượng nộp phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp chấp hành tốt việc kê khai và nộp phí, qua đó đã tạo nguồn thu vào ngân sách nhằm bổ sung cho các hoạt động bảo vệ môi trường, đồng thời tăng cường ý thức trách nhiệm về bảo vệ môi trường của các đối tượng xả thải, tạo
Trang 39động lực để các doanh nghiệp cải tiến công nghệ, đầu tư xử lý chất thải, giảm thiểu phát thải ra môi trường
Bên cạnh một số kết quả đạt được, công tác bảo vệ môi trường tại các cơ sở chế biến thủy sản gặp rất nhiều khó khăn, thiếu hiệu quả do: Về nước thải, các khu công nghiệp, cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh Cà Mau chưa xây dựng hệ thống xử
lý nước thải tập trung, các cơ sở chế biến thủy sản tự đầu tư xây dựng hệ thống xử
lý nước thải và các khu công nghiệp, cụm công nghiệp có vị trí nằm ven sông, kênh
vì vậy doanh nghiệp dễ dàng trong việc xả thải không qua xử lý ra môi trường, cơ quan quản lý nhà nước khó kiểm soát; về chất thải rắn công nghiệp, trên địa bàn tỉnh Cà Mau chưa có khu xử lý chất thải công nghiệp tập trung nên các doanh nghiệp tự hợp đồng xử lý với các đơn vị ngoài tỉnh, khó kiểm soát; các doanh nghiệp phát sinh nhiều khí thải, mùi hôi ô nhiễm môi trường nằm xen kẽ với doanh nghiệp sản xuất sạch, gây ra ô nhiễm chéo giữa các doanh nghiệp
Về thu gom và xử lý nước thải, nước thải chế biến thuỷ sản bị ô nhiễm vi sinh, hữu cơ và chất dinh dưỡng (N, P) Hiện tại các khu công nghiệp, cụm công nghiệp trên địa bản tỉnh Cà Mau (Cụm công nghiệp Sông Đốc, Khu công nghiệp Hòa Trung, Khu công nghiệp Khánh An) chưa xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung Để xử lý nước thải sản xuất, hầu hết các cơ sở chế biến thủy sản đã tự đầu
tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải từ 20 m3 (cơ sở chế biến bột cá) – 5.000 m3(cơ sở chế biến thuỷ sản đông lạnh xuất khẩu) tuỳ theo loại hình sản xuất và quy mô của cơ sở Trên địa bàn toàn tỉnh có 56 cơ sở của sản xuất, chế biến đang hoạt động, thuộc quy mô đánh giá tác động môi trường có phát sinh nước thải công nghiệp, trong đó 54/56 cơ sở đã xây dựng hệ thống xử lý nước thải, chiếm 96,42 %, 02/56
cơ sở chưa xây dựng hệ thống xử lý nước thải, chiếm 3,57% Trong tổng số 22 cơ
sở sản xuất, chế biến đang hoạt động trong các khu công nghiệp thuộc quy mô đánh giá tác động môi trường có phát sinh nước thải đã có 20/22 cơ sở đầu tư xây dựng
hệ thống xử lý nước thải (đạt 90%)12
Về thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt, hầu hết chất thải sinh hoạt phát sinh từ các cơ sở chế biến thủy sản được thu gom và chuyển giao cho Công ty TNHH MTV môi trường đô thị Cà Mau để vận chuyển về Nhà máy xử lý rác thải sinh hoạt thành phố Cà Mau để xử lý Bên cạnh đó, một số cơ sở nằm ở những khu vực khó khăn trong việc vận chuyển rác thải, chưa có đơn vị có chức năng thu gom
12
Báo cáo kết quả công tác năm 2016 của Chi cục Bảo vệ Môi trường tỉnh Cà Mau