Trong bài nghiên cứu này tác giả sẽ kế thừa một số đặc điểm từ những nghiên cứu trước đây như tìm hiểu khung lý thuyết, phân tích mức độ tác động của các nhân tố đến mức độ công bố thông
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
-NGUYỄN HÀ MY
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN TRÊN BÁO CÁO
THƯỜNG NIÊN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT TRÊN SỞ GIAO DỊCH CHỨNG
KHOÁN TP HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP HỒ CHÍ MINH – 2017
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
-NGUYỄN HÀ MY
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN TRÊN BÁO CÁO THƯỜNG NIÊN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT TRÊN SỞ GIAO DỊCH CHỨNG
KHOÁN TP HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Kế Toán
Mã số: 60340301
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS BÙI VĂN DƯƠNG
TP HỒ CHÍ MINH – 2017
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong Luận văn là trung thực và chưa từng công bố trong bất kỳ công trình nào, và các thông tin trích dẫn trong Luận văn đã được ghi rõ nguồn gốc
TP Hồ Chí Minh, ngày 26 tháng 12 năm 2017
Học viên thực hiện
Nguyễn Hà My
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU
PHẦN MỞ ĐẦU:……….1
1 Tính cần thiết của đề tài: 1
2 Mục tiêu nghiên cứu: 2
3 Câu hỏi nghiên cứu: 3
4 Phạm vi thu thập dữ liệu và phương pháp nghiên cứu 3
4.1 Phạm vi thu thập dữ liệu: 3
4.2 Phương pháp nghiên cứu: 3
5 Đóng góp của nghiên cứu 3
6 Tính mới của đề tài: 3
7 Kết cấu của luận văn: 4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 5
1.1 Các nghiên cứu trên thế giới: 5
1.2 Các nghiên cứu trong nước: 11
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 14
2.1 Tổng quan về công bố thông tin: 14
2.1.1 Khái niệm, vai trò công bố thông tin: 14
2.1.2 Công bố thông tin bắt buộc, và công bố thông tin tự nguyện: 15
2.1.3 Các yêu cầu về công bố thông tin: 20
2.2 Các lý thuyết nền về công bố thông tin: 25
2.2.1 Lý thuyết đại diện: 25
2.2.2 Lý thuyết tín hiệu 26
Trang 52.2.5 Lý thuyết chi phí sở hữu 28
2.2.6 Lý thuyết kinh tế thông tin: 28
2.2.7 Khung lý thuyết về công bố thông tin tại Việt Nam: 29
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
3.1 Quy trình nghiên cứu………30
3.2 Giả thuyết nghiên cứu: 30
3.2.1 Các đặc điểm của doanh nghiệp: 31
3.2.2 Thuộc tính quản trị doanh nghiệp: 36
3.3 Mô hình nghiên cứu: 40
3.4 Phương pháp nghiên cứu: 40
3.5 Chọn mẫu nghiên cứu: 41
3.6 Cách thức đo lường các biến: 42
3.6.1 Đo lường biến phục thuộc: 42
3.6.2 Đo lường biến độc lập: 46
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 47
4.1 Thống kê mô tả các biến của mô hình: 49
4.2 Phân tích mối tương quan giữa các biến trong mô hình: 49
4.3 Phân tích mô hình hồi quy tuyến tính đa biến 50
4.4 Kiểm tra giả định các phần dư có phân phối chuẩn: 52
4.5 Kiểm định lại mô hình sau khi loại các biến không có ý nghĩa ở lần đầu: 54
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN, GIẢI PHÁP, HẠN CHẾ VÀ HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA ĐỀ TÀI 59
5.1 Kết luận: 59
5.2 Kiến nghị: 59
Trang 65.2.3 Đối với doanh nghiệp: 63 5.2 Hạn chế và hướng phát triển của đề tài: 66 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7Bảng 2.1: So sánh điểm khác nhau giữa công bố thông tin bắt buộc và công bố thông tin tự nguyện
Bảng 3.1: Danh sách bộ chỉ mục thông tin công bố
Bảng 3.2: Đo lường các biến độc lập của mô hình
Bảng 4.1: Bảng kết quả thống kê mô tả các biến trong mô hình
Bảng 4.2: Ma trận tương quan giữa các biến trong mô hình
Bảng 4.3: Bảng phân tích kết quả hồi quy đa biến về mức độ công bố thông tin
Bảng 4.4: Các thông số thống kê trong kết quả phân tích hồi quy đa biến
Bảng 4.5: Bảng phân tích kết quả hồi quy đa biến về mức độ công bố thông tin lần 2 Bảng 4.6: Các thông số thống kê trong kết quả phân tích hồi quy đa biến lần 2
Hình 4.1: Đồ thị Histogram của phần dư – đã chuẩn hóa
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cần thiết của đề tài:
Thông tin đóng vai trò rất quan trọng trong xã hội hiện nay nói chung và trong thị trường chứng khoán nói riêng Thị trường chứng khoán với mục tiêu chính
là huy động vốn cho nền kinh tế, là nơi mua bán giao dịch các loại sản phẩm tài chính Thông tin là một yếu tố không thể thiếu và rất nhạy cảm trên thị trường chứng khoán, nó ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định của nhà đầu tư, bất kì một sự bất cân xứng thông tin nào cũng sẽ dẫn đến những quyết định sai lầm, trong đó thông tin về tình hình tài chính (thông tin kế toán) chiếm vị trí trọng yếu Cụ thể hơn, các nhà đầu tư thông qua các thông tin về tình hình tài chính, hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sẽ có những nhận định, phân tích, từ đó đưa ra các quyết định đầu tư Thông tin đúng sự thật, kịp thời sẽ làm gia tăng niềm tin của nhà đầu tư đối với các doanh nghiệp, thị trường Chính vì vậy công khai thông tin được xem là nghĩa vụ quan trọng nhất của các tổ chức khi tham gia vào thị trường, góp phần vào
sự phát triển của thị trường chứng khoán của một quốc gia Hệ thống công bố thông tin của các nước trên thế giới đều được xây dựng nhằm đảm bảo cung cấp thông tin nhanh chóng, kịp thời, chính xác và công bằng cho các nhà đầu tư
Nhận thức được sự phát triển ngày càng lớn mạnh của thị trường chứng khoán Việt Nam, tầm quan trọng của chất lượng thông tin công bố của công ty niêm yết đối với sự phát triển của thị trường, nhằm tăng cường chất lượng thông tin công
bố, bảo vệ lợi ích nhà đầu tư, tạo sự minh bạch và ổn định cho thị trường, Bộ Tài chính và Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đã có những quy định thích hợp đối với hoạt động công bố thông tin Thông tư số 38/2007/BTC hướng dẫn về công bố thông tin trên thị trường chứng khoán ban hành ngày 18/4/2007 và Thông tư số 09/2010/BTC hướng dẫn về công bố thông tin trên thị trường chứng khoán ban hành ngày 15/01/2010 thay thế 38/2007/BTC; thông tư 52/2012/TT-BTC ngày 05/4/2012 bỏ quy định phải giải trình khi giá cổ phiếu tăng trần hoặc giảm sàn 5 phiên liên tiếp, cổ đông nội bộ được tính thêm giám đốc tài chính, đưa công ty đại
Trang 9chúng quy mô lớn vào diện bắt buộc công bố thông tin giống công ty niêm yết, đây
là một trong những thay đổi theo hướng tích cực của các quy định công bố thông tin; 155/2015/TT-BTC ngày 06/10/2015 của Bộ Tài Chính hướng dẫn về việc công
bố thông tin trên thị trường chứng khoán Tuy nhiên, mức độ của thông tin công bố không chỉ được đảm bảo duy nhất bởi các quy định pháp lý của Nhà nước Các công ty niêm yết có thể chi phối thông tin thông qua lựa chọn về nội dung, phương thức, thời gian và đối tượng công bố thông tin Rõ ràng công bố thông tin là trách nhiệm pháp lý song đồng thời phản ánh tính “tự nguyện” của công ty niêm yết Thị trường chứng khoán Việt Nam mặc dù đã đạt được những bước tiến nhất định nhưng so với các nước trong khu vực và trên thế giới thì thị trường chứng khoán nước ta còn khá non trẻ, ẩn chứa trong nó nhiều nguy cơ và chịu sự tác động của tình trạng thông tin bất cân xứng Trong thực tế, việc công bố thông tin vẫn đang bị xem nhẹ, chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường và nhà đầu tư, nhà đầu tư chưa nhận được những thông tin một cách đầy đủ, minh bạch từ các doanh nghiệp, tình trạng này có thể gây nhiều thiệt hại cho nhà đầu tư cũng như người sử dụng thông tin Để duy trì một thị trường vốn hiệu quả, đòi hỏi thông tin phải được công bố một cách đầy đủ và minh bạch để tất cả những người tham gia trên thị trường có thể phân bổ vốn một cách hiệu quả nhất
Xuất phát từ thực tiễn nêu trên, tác giả đã chọn đề tài: “Các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin trên báo cáo thường niên của các doanh nghiệp niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh”
2 Mục tiêu nghiên cứu:
- Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin của các doanh nghiệp niêm yết tại sở giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tin được công bố, thúc đẩy sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam, tạo nhiều cơ hội cho các nhà đầu tư
Trang 103 Câu hỏi nghiên cứu:
- Những nhân tố nào ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin của các doanh nghiệp niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh?
- Giải pháp nào để tăng cường mức độ công bố thông tin của các doanh nghiệp niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh?
4 Phạm vi thu thập dữ liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1 Phạm vi thu thập dữ liệu: bài nghiên cứu sử dụng báo cáo thường niên
năm 2016 của 135 công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh, trong đó loại trừ các công ty thuộc nhóm ngành tài chính (theo phân loại của Hose) do chúng có nhiều đặc trưng khác biệt đối với các công ty ở những nhóm ngành còn lại
4.2 Phương pháp nghiên cứu:
Bài nghiên cứu sẽ hệ thống hóa, tổng hợp, phân tích lý thuyết và sử dụng phương pháp định lượng để xây dựng mô hình nghiên cứu, cụ thể bài nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính, công cụ hỗ trợ kiểm định là phần mềm SPSS phiên bản 20.0 và Microsoft Excel
5 Đóng góp của nghiên cứu
Bài nghiên cứu góp phần củng cố thêm bằng chứng khoa học thực nghiệm và
bổ sung thêm vào kho tài liệu về chủ đề nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến mức
độ công bố thông tin của các công ty niêm yết
Bài nghiên cứu tập trung kiểm định các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công
bố thông tin của doanh nghiệp niêm yết tại sở giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh với kỳ vọng bài nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn cao, phù hợp với tình hình thực tế tại TP Hồ Chí Minh Từ đó có thể tạo cơ sở để các nghiên cứu sau tập trung vào các nhóm ngành cụ thể, có tính tương đồng cao để đưa ra những giải pháp thực
tế trong việc nâng cao mức độ công bố thông tin nhằm làm giảm bất cân xứng thông tin
6 Tính mới của đề tài:
Trang 11Trong bài nghiên cứu này tác giả sẽ kế thừa một số đặc điểm từ những nghiên cứu trước đây như tìm hiểu khung lý thuyết, phân tích mức độ tác động của các nhân tố đến mức độ công bố thông tin nhưng bài nghiên cứu tập trung vào cả công bố thông tin bắt buộc và tự nguyện Bài nghiên cứu sẽ xây dựng mô hình nghiên cứu bao gồm chín nhân tố thuộc cả hai nhóm quản trị doanh nghiệp và đặc điểm của doanh nghiệp
7 Kết cấu của luận văn:
Bài nghiên cứu gồm có 05 chương:
Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu trước đây về công bố thông tin
Chương 2: Cơ sở lý thuyết
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu – bằng cách xây dựng mô hình nghiên cứu, các giả thuyết nghiên cứu và phương pháp định lượng để xem xét các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin
Chương 4: Nội dung và phân tích các kết quả nghiên cứu thực nghiệm
Chương 5: Kết luận, giải pháp, hạn chế và hướng phát triển của đề tài
Trang 12CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 1.1 Các nghiên cứu trên thế giới:
Vào những năm 60 của thế kỷ XX đã bắt đầu xuất hiện những nghiên cứu đầu tiên trên thế giới về công bố thông tin Đầu tiên phải kể đến nghiên cứu của tác
giả Cerf (1961) sử dụng báo cáo thường niên của 258 của các doanh nghiệp niêm
yết trên sàn giao dịch chứng khoán New York, 113 công ty niêm yết tại sở giao dịch khác, 156 công ty OTC trong giai đoạn từ tháng 7/1956 đến tháng 6/1957 Kết quả cho thấy mối quan hệ tích cực giữa công bố thông tin với quy mô tài sản, số lượng
cổ đông và lợi nhuận Gần một thập kỉ sau đó, Singhvi & Desai (1971) dựa trên
nghiên cứu của Cerf (1961) cũng đưa ra kết quả tương tự
Nghiên cứu của Firth (1979) tại Anh đã tiến hành nghiên cứu đối với 180
công ty nhằm kiểm tra mối liên hệ giữa mức độ công bố thông tin tự nguyện với quy mô, tình trạng niêm yết và loại công ty kiểm toán Kết quả cho thấy mối liên hệ tích cực giữa quy mô, tình trạng công ty và công bố thông tin Và không có mối liên
hệ giữa loại công ty kiểm toán và mức độ công bố thông tin
Nghiên cứu McNally et al (1982) tại New Zealand đã tiến hành nghiên cứu
trên 103 công ty để nghiên cứu mối liên hệ giữa công bố thông tin tự nguyện với quy mô công ty, tỷ lệ lợi nhuận, tăng trưởng, quy mô công ty kiểm toán, nhóm ngành công nghiệp Kết quả cho thấy quy mô công ty có mối quan hệ tích cực với mức độ công bố thông tin tự nguyện
Nghiên cứu của Cooke (1992) tại Nhật Bản để nghiên cứu mối liên hệ giữa
công bố thông tin tự nguyện và bắt buộc với quy mô công ty, tình trạng niêm yết, nhóm ngành công nghiệp Nghiên cứu được tiến hành đối với 35 công ty, kết quả cho thấy quy mô công ty, tình trạng niêm yết, nhóm ngành công nghiệp có mối quan hệ tích cực với mức độ công bố thông tin bắt buộc và tự nguyện Năm 1993, Cooke tiếp tục thực hiện nghiên cứu báo cáo thường niên của 48 công ty tại Nhật Bản về mức độ công bố thông tin tự nguyện với chỉ số công bố không trọng số, tình trạng niêm yết Kết quả tìm ra được mức độ công bố thông tin tự nguyện có mối liên hệ với tình trạng niêm yết của công ty
Trang 13Nghiên cứu của Ahmed and Nicholls (1994) về công bố thông tin bắt buộc được thực hiện tại Bangladesh được tiến hành đối với 63 công ty, 94 mục công bố nhằm kiểm tra mối liên hệ giữa công bố thông tin bắt buộc với chỉ số công bố, quy
mô công ty, đòn bẩy, công ty kiểm toán, công ty đa quốc gia, trình độ của kế toán trưởng thông qua sử dụng mô hình hồi quy Nghiên cứu cho thấy công ty đa quốc gia, trình độ của kế toán trưởng và quy mô công ty ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin bắt buộc
Nghiên cứu của Hossain và các cộng sự (1994) tại Malaysia được tiến hành đối với 67 công ty, 78 mục công bố, sử dụng phương pháp hồi quy đơn biến và đa biến nhằm nghiên cứu mối liên hệ giữa công bố thông tin tự nguyện với chỉ số công
bố, quy mô công ty, cấu trúc sở hữu, đòn bẩy, tài sản, công ty kiểm toán và tình trạng niêm yết Kết quả cho thấy quy mô công ty, cấu trúc sở hữu và tình trạng niêm yết có ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện
Nghiên cứu của Wallace và các cộng sự (1994) tại Tây Ban Nha được tiến hành đối với 50 công ty, 79 mục công bố, sử dụng phương pháp hồi quy đa biến nhằm nghiên cứu mối liên hệ giữa công bố thông tin với chỉ số công bố, quy mô công ty, đòn bẩy, lợi nhuận, công ty kiểm toán và khả năng thanh khoản Kết quả cho thấy quy mô công ty và tình trạng niêm yết có ảnh hưởng tích cực, ngược lại thì tính thanh khoản có ảnh hưởng tiêu cực
Nghiên cứu của Owusu- Ansah (1998) nhằm nghiên cứu ảnh hưởng của đặc
điểm công ty đến mức độ công bố thông tin bắt buộc tại Zimbabwe Kết quả cho thấy tuổi của công ty, quy mô của công ty, khả năng sinh lời, cấu trúc chủ sở hữu có tác động tích cực đến mức độ công bố thông tin bắt buộc của công ty
Nghiên cứu của Ho và Wong (2001) nhằm kiểm tra mối quan hệ giữa bốn cơ chế quản trị doanh nghiệp chính (tỷ lệ giám đốc độc lập so với tổng số giám đốc trong hội đồng quản trị, sự tồn tại của một ủy ban kiểm toán tự nguyện, sự tồn tại của cá nhân vừa là giám đốc điều hành vừa là chủ tịch hội đồng quản trị, và tỷ lệ thành viên gia đình trong hội đồng) và mức độ công bố thông tin tự nguyện ở Hồng Kông Kết quả cho thấy sự tồn tại của một ủy ban kiểm toán, có liên quan đáng kể
Trang 14và tích cực đến mức độ công bố thông tin tự nguyện, trong khi tỷ lệ thành viên gia đình trong hội đồng quản trị, có mối liên quan tiêu cực đến mức độ công bố thông tin tự nguyện Hạn chế của bài nghiên cứu là chỉ tập trung nghiên cứu các nhân tố
về cơ chế quản trị doanh nghiệp, mà không xét đến các nhân tố liên quan đến hoạt động của công ty như lợi nhuận, tính thanh khoản,…
Châu và Gray (2002) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu và công bố thông tin tự nguyện ở Hồng Kông và Singapore Kết quả cho thấy rằng mức độ sở hữu bên ngoài có liên quan tích cực đến công bố thông tin tự nguyện và nội bộ hoặc quyền sở hữu gia đình có liên quan tiêu cực
Nghiên cứu của Haniffa và Cooke (2002) tại Malaysia được tiến hành đối với
167 công ty, 65 mục công bố, kiểm tra mối liên hệ giữa công bố thông tin tự nguyện với chỉ số công bố, quản trị doanh nghiệp, văn hóa và đặc điểm cụ thể của công ty thông qua việc sử dụng mô hình hồi quy đa biến Kết quả cho thấy các thành viên gia đình thuộc hội đồng quản trị, chủ tịch không điều hành có tác động đến việc công bố thông tin tự nguyện Một trong những hạn chế trong nghiên cứu này là nó chỉ xem xét mối quan hệ của ba nhóm biến với mức độ công bố tự nguyện Như vậy, một phần mở rộng của nghiên cứu này sẽ là kết hợp các nhóm biến này trong các nghiên cứu nhằm xem xét mức độ công bố bắt buộc đặc biệt ở các nước đang phát triển bởi vì người ta thường lập luận rằng các nước như vậy thông tin thường không được công bố rộng rãi và có thể không tuân thủ tất cả các yêu cầu
Nghiên cứu của Ali và các cộng sự (2004) được thực hiện tại Pakistan, Ấn
Độ và Bangladesh nhằm kiểm tra tác động của quy mô công ty, đòn bẩy, ảnh hưởng của các công ty đa quốc gia, quy mô của các công ty kiểm toán và lợi nhuận đến công bố thông tin bắt buộc với Kết quả chỉ ra quy mô công ty, ảnh hưởng của các công ty đa quốc gia, lợi nhuận có mối liên hệ tích cực đối với công bố thông tin bắt buộc
Nghiên cứu của Waresul Karim và Jamal Uddin Ahmed (2005) nhằm kiểm
tra mức độ công bố thông tin tài chính khi áp dụng các chuẩn mực Kế toán Quốc tế (IAS) ở Bangladesh và mối liên hệ giữa một số thuộc tính của công ty và mức độ
Trang 15công khai trong công ty báo cáo hàng năm ở Bangladesh Bài nghiên cứu sử dụng chỉ số công bố không trọng số bao gồm 411 mục và áp dụng cho báo cáo hàng năm của 188 công ty thông qua việc sử dụng nhiều mô hình hồi quy tuyến tính Kết quả chỉ ra rằng quy mô doanh nghiệp, lợi nhuận, mức độ bảo mật của các loại giao dịch chứng khoán và liên kết quốc tế của kiểm toán viên của công ty, và chi nhánh đa quốc gia đều liên quan đáng kể đến mức độ công bố thông tin
Nghiên cứu của Oliveria và công sự (2006) tại Bồ Đào Nha đưa ra kết quả:
quy mô công ty, loại kiểm toán viên, sự tập trung quyền sở hữu, tình trạng niêm yết, ngành có tác động tích cực đến việc công bố thông tin, trong khi đó đòn bẩy tài chính và lợi nhuận không có tác động
Nghiên cứu Agea và Onder (2007) tại Thổ Nhĩ Kỳ về công bố thông tin tự
nguyện Kết quả của nghiên cứu chỉ ra rằng: lợi nhuận, kiểm toán viên có mối liên
hệ tích cực đối với công bố thông tin tự nguyện, ngược lại thì quy mô công ty có tác động tiêu cực; các yếu tố như cấu trúc sở hữu, đòn bẩy, tính đa quốc gia không có mối liên hệ với việc công bố thông tin tự nguyện
Nghiên cứu của Nazli và Ghazali (2007) đã kiểm tra ảnh hưởng của cấu trúc
sở hữu đối với trách nhiệm công bố thông tin, nghiên cứu được thực hiện ở Malaysia Kết quả cho thấy, các công ty mà các giám đốc nắm giữ một tỷ lệ cổ phần cao hơn thường ít công bố thông tin, trong khi các công ty mà chính phủ là một cổ đông lớn, thường công bố thông tin nhiều hơn
Nghiên cứu của Archambault về công bố thông tin được thực hiện tại 37 quốc gia, kết quả cho thấy các yếu tố về tài chính như: niêm yết sàn giao dịch, cổ tức, quy mô công ty kiểm toán và các yếu tố hoạt động như số lượng ngành, doanh thu nước ngoài có ảnh hưởng tích cực đến mức độ công bố thông tin; quyền sở hữu, đòn bẩy, quy mô công ty lại không có tác động đến việc công bố thông tin
Nghiên cứu thực nghiệm của Mohamed và các cộng sự (2009) về mức độ quản trị doanh nghiệp và công bố thông tin của các công ty niêm yết tại Malaysia Các yếu tố quản trị được kiểm tra là quy mô của Hội đồng quản trị, tỷ lệ các giám đốc độc lập không điều hành trong hội đồng quản trị, cổ phần sở hữu bên ngoài,
Trang 16kiểm soát gia đình và tỷ lệ phần trăm thành viên ban kiểm toán trên tổng số thành viên hội đồng quản trị Kết quả của cho thấy mối liên hệ tích cực giữa quy mô công
ty, tỷ lệ các giám đốc độc lập và công bố tự nguyện Tuy nhiên, mức độ công bố này có mối liên hệ tiêu cực đến kiểm soát gia đình, trong khi đó tỷ lệ phần trăm thành viên ban kiểm toán trên tổng số thành viên hội đồng quản trị không có tác động đến mức độ công bố thông tin tự nguyện
Nghiên cứu của Ros Haniffa và Terry Cooke (2010) về văn hóa, quản trị doanh nghiệp và công bố thông tin của các doanh nghiệp Malaysia Kết quả cho thấy đặc điểm của từng công ty cụ thể và đặc điểm quản trị doanh nghiệp có mối quan hệ với mức độ công bố thông tin Cụ thể, chủ tịch hội đồng quản trị như giám đốc không điều hành có mối quan hệ tiêu cực với mức độ công bố thông tin và có
hệ số hồi quy cao nhất, điều này có thấy một chủ tịch không điều hành là điều cần thiết như một cơ chế kiểm tra và cân bằng
Nghiên cứu của Despina Galani và các cộng sự (2011) sử dụng báo cáo thường niên năm 2009 của 43 công ty niêm yết tại thị trường chứng khoán Athens, bao gồm 100 khoản mục công bố bắt buộc, nhằm nghiên cứu tác động của đặc điểm công ty đến mức độ công bố thông tin bắt buộc Kết quả cho thấy có mối tương quan dương đáng kể giữa quy mô công ty và mức độ công bố thông tin, trong khi đó tuổi của công ty và khả năng sinh lời lại không có tác động đến mức độ công bố thông tin bắt buộc Hạn chế mà bài nghiên cứu đưa ra là chỉ thực hiện trong một năm và tại một quốc gia, bài nghiên cứu cũng đề xuất thực hiện nghiên cứu trong khoảng thời gian dài hơn, từ năm tới mười năm
Nghiên cứu của Abdur Rouf (2011) về đặc điểm doanh nghiệp, các thuộc
tính quản trị và mức độ công bố tự nguyện ở Bangladesh Mục tiêu là nghiên cứu đặc điểm của công ty, các thuộc tính quản trị và ảnh hưởng của chúng đối với việc công bố thông tin tự nguyện Cụ thể, tác giả nghiên cứu những nhân tố có tác động đáng kể đến việc tăng mức độ công bố tự nguyện Kết quả nghiên cứu này cho thấy
số lượng thành viên hội đồng quản trị và ủy ban kiểm toán của công ty có ảnh
hưởng tích cực đến mức độ công bố thông tin tự nguyện
Trang 17Nghiên cứu của Nandi và Ghosh (2012) được thực hiện tại Ấn Độ, nhằm nghiên cứu quản trị doanh nghiệp, đặc tính của doanh nghiệp và mức độ công bố thông tin Mẫu được lựa chọn là báo cáo thường niên của 60 công ty niêm yết tại thị trường chứng khoán Bombay Để kiểm tra sự liên quan giữa các biến và mức độ công bố của công ty, nhiều mô hình hồi quy đã được sử dụng Các kết quả cho thấy
có sự tác động tích cực giữa quy mô hội đồng quản trị, tỷ lệ thành viên ban kiểm toán trên thành viên hội đồng quản trị, quyền kiểm soát gia đình, lợi nhuận, tính thanh khoản đến mức độ công bố thông tin của công ty Tuy nhiên, mức độ này lại
có sự liên quan tiêu cực đến thành phần hội đồng quản trị, đòn bẩy và tuổi của công
ty
Nghiên cứu của nhóm tác giả Ali Uyar, Merve Kilic và Nizamettin Bayyurt (2013) về đặc điểm của công ty và việc công bố thông tin tự nguyện của các doanh nghiệp niêm yết tại Thổ Nhĩ Kỳ Kết quả cho thấy có mối liên hệ tích cực giữa mức
độ công bố thông tin tự nguyện và các biến như quy mô công ty, quy mô của công
ty kiểm toán, mức độ độc lập của các giám đốc trong hội đồng Tuy nhiên, đòn bẩy tài chính lại có mối liên hệ tiêu cực Nghiên cứu này có một số ý nghĩa đối với các doanh nghiệp, kiểm toán viên, nhà đầu tư, và các nhà quản lý Tất cả các chủ thể này đóng một vai trò quan trọng trong việc cải thiện tính minh bạch và công khai thông tin của các công ty Các doanh nghiệp có thể tăng việc công bố thông tin tự nguyện bằng cách nhận thức được lợi ích của việc công bố thông tin Các nhà đầu
tư có thể yêu cầu công bố cao hơn từ sự quản lý Các nhà chức năng có thể hướng dẫn các doanh nghiệp bằng việc ban hành các nguyên tắc hướng dẫn cho việc công
bố tự nguyện được phù hợp trong báo cáo hàng năm Các công ty kiểm toán cũng
có thể đóng góp vào việc cải thiện văn hoá doanh nghiệp về công bố thông tin
Nghiên cứu Khaled Aljifri và các cộng sự (2014) nhằm xem xét tác động của đặc điểm công ty đến vấn đề công bố thông tin tài chính thông qua nghiên cứu báo cáo thường niên của 143 công ty ở các nước tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất Bài nghiên cứu đưa ra tám giả thuyết nghiên cứu Kết quả của nghiên cứu này cho thấy tình trạng niêm yết, ngành nghề, và quy mô của doanh nghiệp có tác động đến mức
Trang 18độ công bố Kết luận rút ra từ nghiên cứu này có thể được quan tâm bởi các nhà hoạch định chính sách và các nhà quản lý muốn cải thiện việc công bố thông tin tài chính của các doanh nghiệp ở nước họ
1.2 Các nghiên cứu trong nước:
Nghiên cứu “Các yếu tố ảnh hưởng đến minh bạch thông tin của doanh
nghiệp niêm yết theo cảm nhận của nhà đầu tư” của hai tác giả Lê Trường Vinh và
Hoàng Trọng (2008) đã nghiên cứu về tính minh bạch của thông tin được công bố
từ các doanh nghiệp niêm yết Thông qua việc phát bảng câu hỏi, tác giả đã dùng đánh giá của nhà đầu tư để thành lập nên chỉ số đại diện cho mức độ minh bạch của thông tin Tuy nhiên, theo tác giả thì đối tượng sử dụng thông tin từ báo cáo của các doanh nghiệp niêm yết không chỉ giới hạn ở bộ phận nhà đầu tư mà đòi hỏi cần phải
có một thang đo khách quan cho mọi đối tượng sử dụng thông tin
Nghiên cứu “Voluntary Disclosure Information in the Annual Reports of
Non Financial Listed Companies: The Case of Vietnam” của tác giả Tạ Quang Bình
(2012) đã nghiên cứu báo cáo thường niên năm 2009 của 199 công ty niêm yết (không thuộc lĩnh vực tài chính) tại Việt Nam Kết quả nhiên cứu cho thấy cả những nhà phân tích tài chính và các nhà quản trị đều có sự đồng thuận về mức độ quan trọng của các khoản mục công bố thông tin tự nguyện nhưng mức độ kỳ vọng của các nhà phân tích tài chính và các nhà quản trị là khác nhau Tuy nhiên nghiên cứu này chưa xác định rõ các nhân tố có thể tác động đến mức độ công bố thông tin tự
nguyện trên báo cáo thường niên của các doanh nghiệp
Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Công Phương và cộng sự (2012): “Nghiên
cứu thực trạng công bố thông tin trong báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh” đã giới thiệu phương pháp
khoa học khi xây dựng hệ thống chỉ mục đo lường mức độ công bố khá hoàn chỉnh
và lập luận một cách chặt chẽ về các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin Tác giả đã hệ thống hoá và đóng góp nhiều giải pháp nhằm cải thiện mức độ mức độ công bố thông tin trong BCTC Tuy nhiên, nghiên cứu này chưa phân tích
Trang 19ảnh hưởng của các yếu tố thuộc về đặc điểm quản trị và sở hữu đến mức độ công bố
thông tin của doanh nghiệp
Nghiên cứu của Phạm Thị Thu Đông (2013): “Nghiên cứu các nhân tố ảnh
hưởng đến mức độ công bố thông tin trong báo cáo tài chính của các doanh nghiệp niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán Hà Nội”, tác giả đã nghiên cứu ảnh hưởng
của các yếu tố: quy mô doanh nghiệp; khả năng sinh lời; đòn bẩy nợ; tính thanh khoản; chủ thể kiểm toán; thời gian hoạt động và tài sản cố định Kết quả đã chỉ ra rằng yếu tố khả năng sinh lời và yếu tố tài sản cố định là các yếu tố tác động đến
mức độ CBTT trong BCTC
Bài nghiên cứu “Các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự
nguyện của các doanh nghiệp niêm yết trên Hose” của tác giả Nguyễn Thị Thu Hảo
(2015) sử dụng phương pháp định lượng khảo sát trên báo cáo thường niên của 106 công ty niêm yết trên Hose nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công
bố thông tin tự nguyện của các doanh nghiệp niên yết trên Hose Kết quả cho thấy quy mô, loại hình sở hữu có yếu tố nước ngoài, lợi nhuận có tác động đến công bố thông tin tự nguyện của các doanh nghiệp niên yết trên Hose Tuy nhiên hạn chế của nghiên cứu là chỉ giải thích được 25% mức độ công bố thông tin tự nguyện trên thị trường Hose, còn 75% sẽ được giải thích bằng các nhân tố khác không có trong
mô hình
Nghiên cứu “Các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin trong
báo cáo tài chính của các doanh nghiệp chế biến lương thực thực phẩm niêm yết tại
Sở Giao dịch Chứng khoán TP Hồ Chí Minh" của tác giả Nguyễn Thị Thủy Hưởng
(2013) đã nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố như: quy mô doanh nghiệp, khả năng sinh lời, đòn bẩy nợ, tính thanh khoản, chủ thể kiểm toán, tài sản cố định đến mức độ công bố thông tin trong báo cáo tài chính của các doanh nghiệp chế biến lương thực thực phẩm niêm yết tại Sở Giao dịch Chứng khoán TP Hồ Chí Minh Kết quả cho thấy nhân tố khả năng thanh toán có ảnh hưởng thuận chiều với mức độ công bố thông tin của các doanh nghiệp niêm yết
Trang 20Nhìn chung, trên thế giới và tại Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu về các nhân tố tác động đến mức độ công bố thông tin của các doanh nghiệp, tuy nhiên một số nghiên cứu chỉ nghiên cứu đơn thuần về công bố thông tin bắt buộc hoặc công bố thông tin tự nguyện, cũng có những nghiên cứu kết hợp cả hai nhưng lại không nghiên cứu, phân tích và chia các nhân tố thành hai nhóm là đặc điểm của doanh nghiệp và quản trị doanh nghiệp, đặc biệt là các nghiên cứu ở Việt Nam Việc phân tích xuất phát từ hai nhóm đặc điểm của doanh nghiệp và quản trị doanh nghiệp sẽ giúp người sử dụng thông tin, doanh nghiệp sẽ nhận định được là hai nhóm nhân tố và từng nhân tố trong đó sẽ ảnh hưởng như thế nào đến mức độ công
bố thông tin; từ đó có thể đưa ra các giải pháp cụ thể cho từng nhân tố
Trang 21CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Tổng quan về công bố thông tin:
2.1.1 Khái niệm, vai trò công bố thông tin:
Công bố thông tin:
Vấn đề công bố thông tin trong báo cáo thường niên của công ty đã nhận được rất nhiều sự chú ý trong những thập kỷ gần đây, đặc biệt ở các nước phát triển
Để giảm bớt những khủng hoảng, bất cân xứng thông tin và sự thất bại trong việc sử dụng thông tin của nhà đầu tư thì tầm quan trọng của công bố thông tin của doanh nghiệp đang tăng lên hàng ngày (Nandi và Gohosh, 2012) Báo cáo thường niên là công cụ quan trọng của báo cáo sự minh bạch và thực tiễn công bố thông tin của doanh nghiệp Mức độ công bố của công ty trong báo cáo tài chính càng cao sẽ làm giảm sự bất cân xứng về thông tin giữa các công ty và các nhà đầu tư, làm tăng giá trị cổ phiếu trên thị trường vốn và tăng thanh khoản (Karim, 1996)
Lý thuyết công bố thông tin cho thấy việc công bố của công ty là công việc phức tạp, là tập hợp đa dạng các diễn giải Gibbins và các cộng sự (1992) đã lập luận, các tổ chức có thể công bố thông tin để hỗ trợ hiệu quả cho trao đổi và sản xuất, nhưng họ cũng công bố thông tin để thiết lập sự tuân thủ của họ với các giá trị
xã hội được phản ánh trong các quy định và các quy tắc không chính thức
Những thay đổi trong môi trường kinh doanh quốc tế đã đưa ra những đánh giá về bản chất và nội dung báo cáo của công ty Rất nhiều cuộc tranh luận đã được tạo ra giữa những người sử dụng báo cáo và những quy định khác nhau của các tổ chức tham gia vào quá trình thiết lập các tiêu chuẩn kế toán và báo cáo Nguyên nhân chủ yếu là do người sử dụng báo cáo có nhu cầu được hiểu biết rõ hơn về tình hình hoạt động của công ty, về sự khác biệt giữa thị trường và giá trị sổ sách của công ty nhưng những thông tin trên báo cáo lại không đủ để giải quyết nhu cầu thông tin của người sử dụng thực tế Vì vậy công bố thông tin công ty là rất quan trọng cho hoạt động của một thị trường vốn hiệu quả (Adina và Ion, 2008), đặc biệt
là trong bối cảnh toàn cầu hóa như hiện nay (Smith và Adhikari, 2005)
Trang 22Trong thực tế, việc công bố thông tin là một khái niệm lý thuyết rất khó đo lường trực tiếp (Marston và Shrives, 1991) Theo Owusu-Ansah (1998), công bố thông tin là sự truyền đạt các thông tin kinh tế, tài chính và phi tài chính liên quan đến vị thế tài chính và tình hình hoạt động của công ty Theo quy định trong sổ tay công bố thông tin dành cho các công ty niêm yết thì " Công bố thông tin được hiểu
là phương thức để thực hiện quy trình minh bạch của doanh nghiệp nhằm đảm bảo các cổ đông và công chúng đầu tư có thể tiếp cận thông tin một cách công bằng"
Vai trò của công bố thông tin:
Công bố thông tin là một yếu tố quyết định trong việc đảm bảo phân bổ có hiệu quả các nguồn lực trong xã hội và làm giảm sự việc bất cân xứng thông tin giữa công ty và các bên liên quan (Adina và Ion, 2008) Chính vì vậy việc công bố thông tin của các doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán có ảnh hưởng rất lớn trong nền kinh tế, ảnh hưởng này không chỉ trong tình hình tài chính của từng
doanh nghiệp mà còn lan rộng ra toàn bộ nền kinh tế
2.1.2 Công bố thông tin bắt buộc, và công bố thông tin tự nguyện:
Công bố thông tin bắt buộc:
Công bố thông tin bắt buộc đề cập đến những khía cạnh và thông tin phải được công bố như là kết quả của sự tồn tại của một số quy định pháp luật, thị trường vốn, thị trường chứng khoán hoặc quy định của cơ quan quản lý Mục đích của việc công bố này là nhằm đáp ứng nhu cầu của người sử dụng thông tin, đảm bảo kiểm soát chất lượng sản xuất thông qua việc tuân thủ các quy định của pháp luật và tiêu chuẩn (Adina và Ion, 2008), đồng thời giúp bảo vệ an toàn và lợi ích của các nhà đầu tư
Động cơ công bố thông tin bắt buộc:
Beyer và các cộng sự (2010) chỉ ra hiện nay không có lý thuyết thống nhất
về công bố bắt buộc, và câu hỏi tại sao quy định về việc công bố phần lớn vẫn chưa được trả lời Tuy nhiên, tác giả đã đưa ra bốn lý do chính cho quy định công bố thông tin như sau:
Trang 23Thứ nhất, khi một công ty công bố vị thế tài chính của mình và về một công
ty khác thì sẽ làm xuất hiện các yếu tố tài chính ngoại tác Các công ty thường bỏ qua thông tin mà họ công bố về công ty khác, điều này có thể làm cho các công ty giảm cung cấp thông tin Kết quả là, các quy định về công bố thông tin sẽ giúp cải thiện phúc lợi xã hội;
Thứ hai, các yếu tố ngoại tác thực sự tồn tại khi việc công bố thông tin của một công ty ảnh hưởng đến quyết định của các công ty khác Ví dụ như việc công
bố của một công ty về thu nhập mong đợi tương lai có thể ảnh hưởng đến quyết định của các đối thủ cạnh tranh để gia nhập hoặc rời khỏi ngành hoặc quyết định về
số lượng sản xuất Nếu thông tin được công bố cho phép các công ty khác ra quyết định thăm dò, quy định bắt buộc công bố thông tin bổ sung có thể cải thiện phúc lợi
Công bố thông tin tự nguyện:
Trong thực tế việc công bố thông tin bắt buộc có thể sẽ không thỏa mãn nhu cầu về thông tin của các nhà đầu tư Do đó việc công bố thông tin tự nguyện sẽ giúp nhà quản lý chuyển các thông tin cần thiết về kết quả hoạt động tới nhà đầu tư (Healy và cộng sự, 2001), từ đó giúp nhà đầu tư có nhiều thông tin hơn trong việc ra quyết định Theo Adina và Ion (2008) không có khái niệm chung hoặc nền tảng lý thuyết cho việc công bố thông tin tự nguyện Công bố thông tin tự nguyện được hiểu là việc công bố vượt quá yêu cầu, đại diện cho sự lựa chọn tự do của các nhà quản lý công ty nhằm cung cấp các thông tin về kế toán và các thông tin khác có liên quan đến quyết định của người sử dụng các báo cáo của công ty, các công ty luôn được khuyến khích để công bố thông tin tự nguyện (Meek và cộng sự, 1995)
Trang 24Việc công bố thông tin tự nguyện như là một thông tin bổ sung liên quan đến các quy định quốc gia khác nhau hoặc tham chiếu quốc tế về báo cáo kinh doanh, là một điều không bắt buộc theo luật pháp, nhưng trở nên tự nguyện thông qua các hành vi liên quan đến công bố Công bố thông tin tự nguyện phụ thuộc vào cả sự lựa chọn
tự do của các nhà quản lý doanh nghiệp và về các quy định có hiệu lực, các áp lực bên ngoài của thị trường vốn, các nhà phân tích tài chính, các nhà tư vấn và các yếu
tố văn hoá (Adina và Ion, 2008)
Công bố thông tin tự nguyện nhằm mục đích giới thiệu và giải thích tiềm năng của các công ty với các nhà đầu tư, thúc đẩy sự lưu thông của thị trường vốn, phân bổ vốn có hiệu quả và giảm chi phí vốn, đạt được mối liên hệ tích cực hơn với các nhà đầu tư (Ti và Chen 2009)
Động cơ công bố thông tin tự nguyện:
Bertomeu và cộng sự (2008) nghiên cứu liệu việc công bố thông tin tự nguyện của các công ty có thể giảm bất cân xứng thông tin trên thị trường tài chính
và dẫn đến nguồn tài trợ rẻ hơn Tác giả tìm ra rằng công bố nhiều hơn xảy ra trong các môi trường với ít bất cân xứng thông tin hơn, phù hợp với mối quan hệ giữa công bố thông tin và chi phí vốn Arya và Mittendorf (2007) cho thấy việc các công
ty công bố thông tin nhiều hơn có thể dẫn đến sự ít công bố bởi các nhà cung cấp thông tin bên ngoài; dẫn đến thông tin độc quyền thấp hơn và giá trị cao hơn cho cổ đông
Healy và cộng sự (2001) đã đưa ra năm giả thuyết tác động đến quyết định công bố thông tin của nhà quản lý cho thị trường vốn:
Giả thuyết giao dịch thị trường vốn: các công ty khi tham gia vào các giao dịch trên thị trường vốn được khuyến khích cung cấp thông tin tự nguyện để giảm vấn đề bất cân xứng thông tin, từ đó giảm chi phí tài chính không thiết yếu
Giả thuyết kiểm soát doanh nghiệp: khi công ty hoạt động không tốt, nhà quản lý thường công bố thông tin tự nguyện để cải thiện việc định giá công ty và giải thích cho hoạt động kém của công ty
Trang 25Giả thuyết lợi ích chứng khoán: công bố thông tin tự nguyện giúp nhà quản
lý nhận được các lợi tức chứng khoán để giảm khả năng giao dịch nội bộ, tăng tính thanh khoản cho cổ phiếu của công ty và giảm chi phí hợp đồng liên quan đến lợi tức chứng khoán cho nhân viên mới
Giả thuyết chi phí kiện tụng: nhà quản lý tự nguyện công bố thông tin xấu để ngăn chặn các hoạt động pháp luật chống lại chính họ (giảm rủi ro kiện tụng)
Giả thuyết chi phí sở hữu: các công ty thường có xu hướng ít công bố thông tin nếu họ nhận thấy rằng nó làm giảm vị thế cạnh tranh của họ
Mối quan hệ giữa công bố thông tin bắt buộc và công bố thông tin
Việc công bố bắt buộc có thể làm giảm hoặc ảnh hưởng đến việc công bố tự nguyện Ronen và Raari (2002, trang 21-23) chỉ ra rằng việc công bố bắt buộc không thể ngăn việc công bố thông tin sai lệch nhưng phải kiềm chế công bố tự nguyện Do đó, một số công ty có thể chọn áp dụng chiến lược công bố một phần theo đó họ chỉ công bố những tin tức tích cực hay những tin tức tiêu cực Một nghiên cứu hoàn thành bởi Gigler và Hemmer (1998, trang 117-147) cho thấy sự hoàn hảo của việc công bố bắt buộc và quy định thị trường liên quan có hai tác động đến việc công bố tự nguyện:
Giảm việc công bố thông tin tự nguyện của các công ty niêm yết Nếu các công ty niêm yết đã được yêu cầu công bố thêm thông tin, công bố thông tin tự nguyện sẽ làm tăng chi phí của công ty, bao gồm chi phí của cả quá trình thông tin
và phát hành, rủi ro tố cáo và mất lợi thế cạnh tranh Trong khi đó, công bố thông
Trang 26tin bắt buộc là có thể thay thế, khiến các nhà quản lý thiếu động cơ công bố tự nguyện
Trong điều kiện chất lượng kém của việc công bố thông tin bắt buộc và quy định thị trường không có quyền lực, các nhà quản lý thông qua công bố thông tin tự nguyện để gửi tín hiệu cho thị trường vốn, với hy vọng có được một phản hồi tích cực Chính lúc này, nhiều thông tin hơn sẽ được công bố tự nguyện
Stocken (2000, trang 359-374) nghiên cứu độ tin cậy của việc công bố thông tin tự nguyện Kết luận cho thấy cùng với việc nâng cao chất lượng thông tin trong công bố bắt buộc, chất lượng thông tin công bố tự nguyện cũng sẽ được cải thiện Nếu thời gian dài, hình phạt có hiệu quả và chất lượng thông tin bắt buộc tốt thì nó
có thể được sử dụng làm tiêu chuẩn đánh giá cho việc công bố tự nguyện, các nhà quản lý công ty sẽ tự nguyện tiết lộ thông tin thực sự
Trong khi đó, Luez và cộng sự (2008) lại cho rằng không có sự kết hợp rõ ràng nào giữa hai khái niệm này Các công ty xác định mức độ công bố thông tin thích hợp cho họ, kể cả khi họ chấp hành nghiêm chỉnh các yêu cầu công bố thông tin và giới hạn về công bố thông tin tự nguyện, hay là họ đáp ứng yêu cầu bắt buộc tối thiểu và mở rộng báo cáo bởi sự cung cấp các thông tin tự nguyện
Sự khác nhau giữa công bố thông tin bắt buộc và công bố thông tin tự nguyện: (nguồn Tian và Chan, 2009)
Bảng 2.1: So sánh điểm khác nhau giữa công bố thông tin bắt buộc và công bố thông tin tự nguyện
Công bố thông tin bắt buộc
Công bố thông tin tự nguyện
Định nghĩa Các thông tin cần phải được
công bố theo luật chứng khoán, các nguyên tắc kế toán, và các quy định của cơ quan quản lý
Ngoại trừ các công bố bắt buộc, các thông tin được công bố bởi công ty niêm yết vì hình ảnh công
ty, mối quan hệ với các nhà đầu tư
và tránh rủi ro cáo buộc Động cơ Sử dụng các luật và quy định để Sự kết nối thông tin có lợi ích cho
Trang 27điều chỉnh sự kết nối thông tin giữa các công ty niêm yết và lợi ích các bên liên quan khác
bản thân doanh nghiệp và các bên liên quan
Nội dung Giới thiệu công ty, thông tin tài
chính cơ bản, thông tin về ban giám đốc và các nhà quản lý hàng đầu, các giao dịch quan trọng, giải thích cho các hạng mục quan trọng
Các chiến lược trong tương lai của công ty, các kế hoạch R & D, dự đoán thông tin, mua bán và sáp nhập thông tin, đầu tư phân tích
dự án, và phân tích thông tin tài chính,…
năm hoặc chu kỳ
Tại thời điểm xác định
Cơ cấu cân
bằng
Pháp luật và các quy định Thiết kế cơ cấu và hiệu quả của
quản trị doanh nghiệp Nguồn gốc
để truyền thông tin cho nhà đầu tư Công bố thông tin bắt buộc là trách nhiệm của các tổ chức quản lý (các cơ quan trao đổi an ninh, IASB, FASB, v.v.), trong khi công bố tự nguyện là trách nhiệm của người quản lý
2.1.3 Các yêu cầu về công bố thông tin:
Yêu cầu về công bố thông tin theo quy định quốc tế:
Chương 1 của IFRS Framework có quy định, mục tiêu chung của báo cáo tài chính là cung cấp thông tin tài chính về tổ chức, nó sẽ hữu ích cho các nhà đầu tư tiềm năng, các nhà cho vay và các chủ nợ khác trong việc ra quyết định về cung cấp
Trang 28các nguồn lực cho công ty/ tổ chức đó Những quyết định của họ liên quan đến việc mua, bán, hoặc nắm giữ cổ phiếu và các công cụ nợ và cung cấp hoặc giải quyết các khoản vay và các hình thức tín dụng khác Những người sử dụng cần thông tin về các nguồn lực của doanh nghiệp không chỉ để đánh giá triển vọng của các doanh nghiệp đối với dòng tiền ròng trong tương lai mà còn là cách quản lý, sử dụng hiệu quả các nguồn lực hiện có của công ty Mặc dù có thể sẽ không thể cung cấp được tất cả những thông tin mà các bên liên quan cần nhưng nó sẽ cung cấp thông tin giúp cho các bên liên quan có thể đánh giá được giá trị của doanh nghiệp đó
Chương 3 của IFRS Framework có nêu các đặc tính chất lượng của báo cáo tài chính hữu ích là các loại thông tin có thể sẽ hữu ích nhất cho người sử dụng trong việc đưa ra quyết định về doanh nghiệp đó Thông tin tài chính rất hữu ích khi
nó được trình bày trung thực, hợp lý Sự hữu ích của thông tin tài chính được tăng cường nếu nó có thể so sánh, kiểm chứng, kịp thời và dễ hiểu Cụ thể như sau:
- Tính thích hợp (Relevance) thông tin thích hợp là thông tin có thể
hữu ích cho việc ra quyết định của nhà đầu tư, hay nó giúp người sử dụng có đưa ra các đánh giá mới hoặc điều chỉnh các đánh giá trước đây Thông tin thích hợp phụ thuộc vào bản chất và tính trọng yếu của nó Thông tin không trọng yếu sẽ không ảnh hưởng đến quyết định của người sử dụng Thông tin được xem là trọng yếu nếu thiếu hay sai lệch thông tin có thể ảnh hưởng đến sử dụng báo cáo tài chính khi họ
sử dụng nó để đưa ra quyết định
- Trình bày trung thực (Faithful representation): để hữu ích, thông tin
tài chính không chỉ có tính thích hợp, nó còn phải được trình bày trung thực về hiện tượng đó Thông tin cũng phải được trình bày một cách khách quan, không bị xuyên tạc Ngoài ra thông tin phải được trình bày đầy đủ bởi vì việc thiếu thông tin có thể dẫn đến thông tin sai lệch và có thể trở nên không đáng tin cậy, không thích hợp
- Có thể so sánh được (Comparability): thông tin về một doanh nghiệp
sẽ hữu ích hơn nếu nó có thể được so sánh với một thông tin tương tự về các doanh nghiệp khác và có thông tin tương tự về cùng một doanh nghiệp cho những khoảng
Trang 29thời gian khác nhau Khả năng so sánh cho phép người dùng xác định được sự
tương đồng và sự khác biệt giữa các khoản mục
- Có thể hiểu được (Understandability): phân loại, mô tả và trình bày
thông tin rõ ràng và xúc tích để thông tin dễ hiểu Một số sự kiện kinh tế phức tạp
và không dễ hiểu, việc loại trừ các thông tin như vậy có thể làm cho các báo cáo tài chính không đầy đủ và có thể gây hiểu nhầm Vì vậy báo cáo tài chính phải rõ ràng,
dễ hiểu đối với người sử dụng Người sử dụng báo cáo tài chính là những người có kiến thức hợp lý về kinh doanh và hoạt động kinh tế và những người xem xét và
phân tích thông tin với sự cẩn trọng
- Kịp thời (Timeliness): các thông tin phải được ghi chép và trình bày kịp thời, sẵn sàng để đưa ra các quyết định
Yêu cầu về công bố thông tin trong Báo cáo tài chính theo quy định tại Việt Nam:
Chuẩn mực kế toán VAS số 01 cũng quy định báo cáo tài chính sẽ tổng hợp các nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh để phản ánh tình hình tài chính, tình hình kinh doanh của doanh nghiệp Bảng cân đối kế toán sẽ đưa ra bức tranh tổng thể về tình hình tài chính của doanh nghiệp Trong khi đó, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh sẽ đánh giá tình hình và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp
Theo điều 101 thông tư 200/2014/TT-BTC về hướng dẫn chế độ kế toán doanh nghiệp cũng nêu rõ:
- “Thông tin trình bày trên Báo cáo tài chính phải phản ánh trung thực, hợp lý tình hình tài chính, tình hình và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Để đảm bảo sự trung thực, thông tin phải có 3 tính chất là đầy đủ, khách quan, không
Trang 30 Trình bày khách quan là không thiên vị khi lựa chọn hoặc mô tả các thông tin tài chính Trình bày khách quan phải đảm bảo tính trung lập, không chú trọng, nhấn mạnh hoặc giảm nhẹ cũng như có các thao tác khác làm thay đổi mức
độ ảnh hưởng của thông tin tài chính là có lợi hoặc không có lợi cho người sử dụng Báo cáo tài chính
Không sai sót có nghĩa là không có sự bỏ sót trong việc mô tả hiện tượng và không có sai sót trong quá trình cung cấp các thông tin báo cáo được lựa chọn và áp dụng Không sai sót không có nghĩa là hoàn toàn chính xác trong tất cả các khía cạnh, ví dụ, việc ước tính các loại giá cả và giá trị không quan sát được khó xác định là chính xác hay không chính xác Việc trình bày một ước tính được coi là trung thực nếu giá trị ước tính được mô tả rõ ràng, bản chất và các hạn chế của quá trình ước tính được giải thích và không có sai sót trong việc lựa chọn số liệu phù hợp trong quá trình ước tính
- Thông tin tài chính phải thích hợp để giúp người sử dụng Báo cáo tài chính dự đoán, phân tích và đưa ra các quyết định kinh tế
- Thông tin tài chính phải được trình bày đầy đủ trên mọi khía cạnh trọng yếu Thông tin được coi là trọng yếu trong trường hợp nếu thiếu thông tin hoặc thông tin thiếu chính xác có thể làm ảnh hưởng tới quyết định của người
sử dụng thông tin tài chính của đơn vị báo cáo Tính trọng yếu dựa vào bản chất và
độ lớn, hoặc cả hai, của các khoản mục có liên quan được trình bày trên báo cáo tài chính của một đơn vị cụ thể
- Thông tin phải đảm bảo có thể kiểm chứng, kịp thời và dễ hiểu
- Thông tin tài chính phải được trình bày nhất quán và có thể so sánh giữa các kỳ kế toán; so sánh được giữa các doanh nghiệp với nhau”
Yêu cầu về công bố thông tin đối với các doanh nghiệp niêm yết:
Công bố thông tin của công ty được coi là một trong những yếu tố cơ bản quan trọng nhất giúp quản trị tốt công ty (Healy và Palepu, 2001) Thông tin đầy đủ giúp giảm thiểu thông tin bất cân xứng, cho phép các nhà đầu tư đánh giá được năng lực công ty Để thị trường chứng khoán hoạt động hiệu quả, các nhà đầu tư
Trang 31cần được cung cấp thông tin đầy đủ để ra các quyết định phù hợp.Với thông tin được cung cấp, các nhà đầu tư có cơ sở để đánh giá hoạt động kinh doanh và quản
lý của công ty; xác định được triển vọng, cơ hội, thách thức, điểm mạnh và điểm yếu của công ty Nếu thông tin bất cân xứng (các bên tham gia vào giao dịch có thông tin không đầy đủ) có tác động tiêu cực tới hoạt động bình thường của thị trường tài chính (Mishkin, 2004) Chính vì vậy yêu cầu về công bố thông tin đối với các công ty niêm yết thường sẽ chặt chẽ, nghiêm ngặt, đòi hỏi cao hơn so với các công ty khác
Cùng với sự phát triển ngày một lớn mạnh của nề kinh tế cũng như thị trường chứng khoán Việt Nam, nhằm góp phần giảm bất cân xứng thông tin, bảo vệ nhà đầu tư, Bộ Tài chính cũng đã đưa ra một số quy định về công bố thông tin trên thị trường chứng khoán như: thông tư quy định đầu tiên là thông tư số 57/2004/TT-BTC ngày 17/6/2004; thông tư số 38/2007/TT-BTC ngày 18/4/2007 đã quy định cụ thể hơn các yêu cầu về công bố thông tin trên thị trường chứng khoán Ngày 05/04/2012 Bộ Tài chính ban hành thông tư số 52/2012/TT-BTC nhấn mạnh việc công bố thông tin phải kịp thời, chính xác, theo quy định của pháp luật Ngày 06/10/2015 Bộ Tài chính ban hành thông tư số 155/2015/TT-BTC về hướng dẫn công bố thông tin trên thị trường chứng khoán Thông tư 155/2015/TT-BTC yêu cầu việc công bố thông tin phải đầy đủ, chính xác, kịp thời theo quy định pháp luật, đối tượng công bố thông tin phải chịu trách nhiệm về nội dung thông tin công bố, khi có bất cứ một sự thay đổi nào trong nội dung đã công bố thì người công bố phải kịp thời công bố nội dung thay đổi, lý do thay đổi
Các tổ chức, công ty phải công bố đầy đủ cả về thể loại, nội dung, hình thức; công bố đầy đủ các thông tin thường niên theo quy định và cả những thông tin bất thường có thể gây ảnh hưởng đến quyết dịnh của nhà đầu tư
Việc công bố thông tin phải do người đại diện pháp luật hoặc người được ủy quyền công bố, điều này góp phần làm gia tăng tính chính xác cuả thông tin được công bố Thông tin được công bố phải trung thực, đúng với tình hình hoạt động của công ty, khách quan và đáng tin cậy
Trang 32Đối với thị trường chứng khoán thì thông tin kịp thời giữ vai trò rất quan trọng, bất kì một sự chậm trễ nào thông tin có thể làm mất ý nghĩa của thông tin đó, làm cho nó không còn hữu ích trong việc ra quyết định Chính vì vậy thông tin phải được công bố kịp thời
2.2 Các lý thuyết nền về công bố thông tin:
2.2.1 Lý thuyết đại diện:
Quan hệ đại diện được định nghĩa như là hợp đồng theo đó một hoặc nhiều người (người chủ) cam kết với một người khác (đại diện) để thực hiện một số dịch
vụ nhân danh họ bao gồm việc ủy thác một số quyền ra quyết định cho người đại diện Không phải người đại diện sẽ luôn luôn thực hiện các hoạt động tốt nhất cho lợi ích của người chủ Sự giám sát của người chủ đối với hành vi người đại diện và mối liên hệ giữa lợi ích của người chủ và người đại diện sẽ tạo ra chi phí đại diện Cũng theo lý thuyết này thì chi phí đại diện và bất cân xứng thông tin thông tin phát sinh do sự tách rời giữa quyền sở hữu (nhà đầu tư, người chủ) và quyền kiểm soát (nhà quản lý), cụ thể là nhà quản lý có thể tiếp cận nhiều thông tin hơn cổ đông (Jensen và Meckling, 1976) Ngoài hình thức biểu hiện dưới dạng sự lựa chọn bất lợi, bất cân xứng thông tin còn tồn tại dưới dạng rủi ro đạo đức (Eisenhardt, 1989; Scott, 1997) Sự lựa chọn bất lợi dùng để chỉ trạng thái bất đối xứng thông tin mà ở
đó các nhà quản lý khai thác lợi thế thông tin của họ bởi chính chi phí của các nhà đầu tư bằng cách điều chỉnh mức độ công bố thông tin dẫn đến các quyết định của nhà đầu tư có thể bị ảnh hưởng bởi hành vi này Rủi ro đạo đức là khi nhà quản lý thực hiện việc điều chỉnh thu nhập công bố nhằm che giấu hoặc bóp méo thực tế báo cáo vì họ thiếu nỗ lực để có thể đạt được mục tiêu của doanh nghiệp Công bố thông tin tự nguyện là một phương tiện để giảm bất cân xứng thông tin, chi phí đại diện, giữ hình ảnh và danh tiếng công ty đối với công chúng (Akhtaruddin và cộng
sự, 2009) Sự thiếu vắng của công bố thông tin đầy đủ được giải thích bởi mâu thuẫn tồn tại giữa các nhà quản lý và các cổ đông Các quy định công bố thông tin cung cấp số lượng thông tin tối thiểu để giúp cho quá trình ra quyết định của nhà đầu tư (Al-Razeen và cộng sư, 2004) Chi phí đại diện phụ thuộc vào kích cỡ của
Trang 33doanh nghiệp (Pere, 2004) vì vậy các công ty lớn thường có xu hướng cung cấp nhiều thông tin hơn để làm giảm chi phí này Sự xung đột thông tin có thể xảy ra khi thông tin không đầy đủ, khi lợi nhuận cao, khả năng sinh lời cao phải công bố thông tin nhiều hơn để hạn chế vấn đề này Mặt khác, kiểm toán độc lập bên ngoài đóng vai trò trong việc giảm thiểu các mâu thuẫn lợi ích giữa nhà quản lý và nhà đầu tư (Forker, 1992) Ngoài ra, khi số thành viên hội đồng quản trị không tham gia điều hành càng nhiều thì chi phí đại diện càng cao Để hạn chế chi phí này, các nhà đầu tư thường yêu cầu các nhà quản lý phải công bố thông tin nhiều hơn
2.2.2 Lý thuyết tín hiệu
Morris (1987) đề xuất tín hiệu là một hiện tượng có thể áp dụng trong thị trường có thông tin bất cân xứng Thuyết này chỉ ra thông tin bất cân xứng có thể bị làm giảm bởi các bên có nhiều tín hiệu thông tin hơn bên khác Lý thuyết tín hiệu chỉ ra rằng thông tin không cân xứng giữa công ty và nhà đầu tư gây ra sự lựa chọn bất lợi cho nhà đầu tư Để tránh điều này các công ty công bố thông tin một cách tự nguyện và đưa ra tín hiệu đến thị trường (Watts và Zimmerman, 1986) Trong thị trường chứng khoán thuyết tín hiệu dự đoán rằng các công ty có quy mô lớn, thời gian hoạt động lâu dài, giá trị tài sản cố định lớn, khả năng sinh lời cao và khả năng thanh toán cao thường sẽ lựa chọn chính sách công bố thông tin cho phép những điểm mạnh của họ được tiết lộ, hay họ sẽ có xu hướng công bố thông tin nhiều hơn
để tạo niềm tin và thu hút nhà đầu tư Các doanh nghiệp này sẽ sử dụng các thông tin tài chính như là một công cụ truyền tín hiệu đến thị trường Ngược lại, những công ty chất lượng thấp hơn sẽ lựa chọn cách thức để che giấu chất lượng kém của
họ Bên cạnh đó thuyết này cũng cho thấy rằng các nhà quản lý cần công bố thêm thông tin để giảm thông tin bất đối xứng giữa các nhà đầu tư và chính họ Những người sử dụng báo cáo tài chính cần sự tin cậy của thị trường tài chính; việc công
bố thông tin sẽ làm tăng sự tin cậy này (Hossain và Hammami, 2009) Như vậy, các nhà đầu tư sẽ cảm thấy an toàn hơn với việc tăng mức độ công bố thông tin tự nguyện
2.2.3 Lý thuyết tính hợp pháp
Trang 34Lý thuyết tính hợp pháp cho rằng các công ty không thể nghiên cứu các vấn
đề kinh tế mà không quan tâm đến các yếu tố pháp luật, xã hội Nói cách khác thuyết này khẳng định các tổ chức liên tục nỗ lực để đảm bảo rằng hoạt động của họ nằm trong phạm vi và những quy tắc mong đợi của xã hội Khái niệm về tính hợp pháp phụ thuộc vào khái niệm khế ước xã hội, nơi mà một tổ chức có nguồn gốc hợp pháp từ các khế ước của nó và xã hội Lý thuyết hợp pháp giả định rằng tổ chức hoạt động trong định mức, tiêu chuẩn đã được xác định giữa các tổ chức và xã hội
Do đó tổ chức này luôn luôn cố gắng để tìm kiếm sự hợp pháp Khi tổ chức cảm thấy rằng tính hợp pháp đang bị đe dọa, nó sẽ theo đuổi một số chiến lược để giữ lại tính hợp pháp này bởi việc không tuân theo kỳ vọng xã hội có thể dẫn đến các hình phạt xử lý được đặt ra bởi xã hội Vào những năm 60 của thế kỷ trước, tối đa hóa lợi nhuận cho nhà đầu tư là trách nhiệm duy nhất của tổ chức, nó cũng được xem xét như là tính hợp pháp Tổ chức không thay đổi để đáp ứng kỳ vọng xã hội thay đổi
sẽ dẫn đến phá vỡ khế ước xã hội (Deegan, 2006) Báo cáo của công ty là sản phẩm của quá trình trao đổi giữa công ty và xã hội Vì vậy công cụ để đáp ứng nhu cầu của xã hội là việc công bố thông tin Các công ty, đặt biệt là các công ty lớn luôn cố gắng đưa ra các thông điệp đến các bên liên quan rằng công ty đang phù hợp với mong đợi của họ và thuyết phục họ về hoạt động của công ty để duy trì tính hợp pháp đang có Tóm lại, theo lý thuyết hợp pháp, công ty cố gắng biện minh cho sự tồn tại của nó trong xã hội bằng cách hợp pháp hoá các hoạt động của nó (Naser và cộng sự, 2006) Các công ty nên hành xử phù hợp với các mục tiêu xã hội để giảm bớt áp lực công cộng và hợp pháp hóa các hoạt động của họ (Lindblom, 1994; Freedman và Jaggi, 2005; Sobhani và cộng sự, 2009; Belal và Cooper, 2011) Một cách thức quan trọng để các doanh nghiệp hợp pháp hoá hoạt động của họ là công
bố thông tin cho công chúng Do đó, họ cần công bố thông tin nhiều hơn
2.2.4 Lý thuyết các bên liên quan
Lý thuyết các bên liên quan có thể được sử dụng để giải thích tại sao các công ty có xu hướng công bố thông tin tự nguyện Các bên liên quan là các bên có quan tâm đến công ty và do đó quan tâm đến hoạt động của các doanh nghiệp Các
Trang 35bên liên quan bao gồm các nhà quản lý, cổ đông, chủ nợ, khách hàng, nhà cung cấp, chính phủ, công đoàn và công chúng (Uyar và Kılıç, 2012) Để đạt được sự ủng hộ của các bên liên quan, các công ty nên liên lạc với các bên liên quan (Smith, Adhikari và Tondkar, 2005) Như vậy nhu cầu của các bên liên quan thúc đẩy các công ty tự công bố thông tin
2.2.5 Lý thuyết chi phí sở hữu
Các chi phí sở hữu được xem xét như một hạn chế quan trọng của việc công
bố thông tin Nhiều nhà nghiên cứu giả thiết rằng việc công bố thông tin nhiều hơn đến nhà đầu tư có thể làm ảnh hưởng tiêu cực đến vị thế cạnh tranh của công ty trên thị trường (Newman và Sansing, 1993) Nghiên cứu này cho rằng các doanh nghiệp khuyến khích không công bố thông tin để khỏi làm giảm vị thế cạnh tranh của họ mặc dù chi phí huy động vốn có thể cao hơn Lý thuyết này giả định rằng không có mâu thuẫn giữa nhà quản trị và chủ sở hữu và các công bố tự nguyện có thể tin cậy được (Dye, 2001) Lý thuyết này được xem như là một hạn chế quan trọng nhất trong công bố thông tin Trước khi quyết định công bố thì công ty sẽ cân nhắc kỹ lưỡng các chi phí và lợi ích của việc công bố thông tin đó Thông tin sẽ được công
bố nhiều nếu như các công ty tìm thấy được các lợi ích từ việc công bố này như giảm chi phí vốn chủ sở hữu và lợi ích của việc công bố lớn hơn chi phí của nó hay việc công bố thông tin không gây hại cho giá cổ phiếu của công ty Quy mô công ty đóng một vai trò quan trọng để hạn chế tối thiểu những chi phí liên quan đến công
bố thông tin, với những công ty càng lớn thì mức độ công bố thông tin càng ít đi (Land và Lundholm, 1993)
2.2.6 Lý thuyết kinh tế thông tin:
Lý thuyết này giải thích được hiện tượng các doanh nghiệp công bố thông tin
tự nguyện nhằm làm giảm đi bất đối xứng thông tin giữa nhà quản lý và chủ sở hữu, giảm đi chi phí của các giao dịch mua bán cổ phiếu, giảm thiểu rủi ro ước tính của các nhà đầu tư, từ đó làm giảm chi phí vốn (Diamond và Verecchia, 1991; Botosan, 1997; Healy và Palepu, 2001) Thực tế việc công bố thông tin luôn gặp rào cản về chi phí (Meek và cộng sự, 1995) Sẽ là hợp lý nếu cho rằng các doanh nghiệp chỉ
Trang 36công bố các thông tin không bắt buộc nếu lợi ích mang lại hơn hẳn các chi phí có liên quan đến việc công bố thông tin đó (Hayes và Lundholm, 1996) Tóm lại doanh nghiệp công bố thông tin ở mức độ nào là tùy thuộc vào sự tính toán cúa các nhà quản trị doanh nghiệp về những chi phí bỏ ra và những lợi ích mang lại từ việc truyền tải những thông tin này đến các chủ thể sử dụng thông tin
2.2.7 Khung lý thuyết về công bố thông tin tại Việt Nam:
Việt Nam đã đưa ra nhiều quy định về công bố thông tin đối với các doanh nghiệp để phù hợp với từng giai đoạn phát triển của nền kinh tế, thị trường chứng khoán và hoàn thiệt hơn các yêu cầu về công bố thông tin, cụ thể như sau:
- Thông tư quy số 57/2004/TT-BTC ngày 17/6/2004 yêu cầu về công
bố thông tin trên thị trường chứng khoán;
- Thông tư số 38/2007/TT-BTC ngày 18/4/2007 thay thế thông tư 57/2004/TT-BTC đã quy định cụ thể hơn các yêu cầu về công bố thông tin trên thị trường chứng khoán
- Ngày 05/04/2012 Bộ Tài chính ban hành thông tư số BTC thay thế thông tư 38/2007/TT-BTC nhấn mạnh việc công bố thông tin phải kịp
52/2012/TT-thời, chính xác, theo quy định của pháp luật
- Hiện nay việc công bố thông tin của các công ty Việt Nam được thực hiện theo thông tư số: 155/2015/TT-BTC ngày 06/10/2015 của Bộ Tài Chính hướng
dẫn về việc công bố thông tin trên thị trường chứng khoán
Thị trường chứng khoán Việt Nam ngày càng lớn mạnh và phát triển, đồng nghĩa với đó là vai trò của công bố thông tin ngày càng quan trọng Nó giúp giảm bất cân xứng thông tin, bảo vệ nhà đầu tư, góp phần vào sự phát triển của nền kinh
tế Việt Nam nói chung và thị trường chứng khoán Việt Nam nói riêng
Trang 37CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Quy trình nghiên cứu:
Luận văn được được thực hiện nhằm phân tích và nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin trong báo cáo thường niên của các doanh nghiệp niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán TP.Hồ Chí Minh thông qua phương pháp định lượng theo các bước sau:
Bước 1: Xác định vấn đề nghiên cứu, mục tiêu, phương pháp, phạm vi nghiên cứu;
Bước 2: Tổng quan các nghiên cứu trước có liên quan, tổng quan về công
bố thông tin và các lý thuyết nền về công bố thông tin;
Bước 3: Phân tích đánh giá các yếu tố ảnh hưởng sau đó đưa ra giả thuyết nghiên cứu và xây dựng mô hình nghiên cứu sơ bộ
Bước 4: Chọn mẫu, xây dựng bộ chỉ mục công bố thông tin, mô hình nghiên cứu chính thức, cách đo lường các biến;
Bước 5: Kết quả nghiên cứu: thống kê mô tả mẫu quan sát, phân tích tương quan, phân tích hồi quy, kiểm định tính phù hợp của mô hình nghiên cứu Kiểm định các giả thuyết nghiên cứu;
Bước 6: Đề xuất các giải pháp và hướng nghiên cứu tiếp theo.
3.2 Giả thuyết nghiên cứu:
Nhu cầu về công bố thông tin và báo cáo tài chính của doanh nghiệp ngày càng tăng lên để giảm mâu thuẫn đại diện và bất cân xứng thông tin giữa nhà quản
lý và những nhà đầu tư bên ngoài (Healy và Palepu, 2001) Trong những thị trường mới nổi, mức độ bất cân xứng thông tin cao là do sự minh bạch thấp (Jensen và Meckling, 1976) Bằng việc công bố thông tin nhiều hơn thì chi phí đại diện sẽ giảm Các nghiên cứu trước đây cũng tìm ra nhiều nhân tố khác nhau đóng vai trò quan trọng trong việc giảm bất cân xứng thông tin giữa nhà quản lý và các bên liên quan Đặc điểm của công ty cũng như quan điểm, thái độ quản trị doanh nghiệp được coi là những khía cạnh quan trọng ảnh hưởng đến việc công bố thông tin của doanh nghiệp (Ahmed và Courtis, 1999; Ho và Wong, 2001; Chau và Gray, 2002;
Trang 38Haniffa và Cooke, 2002; Eng và Mak (2003); Aktaruddin, 2005; Narasimhan và Vijayalakshmi, 2006; Barako và cộng sự, 2006; Aljifri, 2008; Hossain, 2008; Hossain và Hammami, 2009;…) Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng việc công
bố hay không công bố đầy đủ thông tin rất có thể bị tác động bởi nhiều nhân tố khác nhau như quy mô công ty, tuổi của công ty, tính thanh khoản (khả năng thanh toán),
đòn bẩy tài chính, khả năng sinh lời Akhtaruddin và cộng sự (2009) đã nghiên cứu
mối quan hệ giữa quản trị doanh nghiệp và mức độ công bố thông tin Kết quả cho thấy quy mô hội đồng quản trị và tỷ lệ thành viên độc lập không điều hành có mối liên hệ với mức độ công bố thông tin Tương tự như vậy, quy mô công ty có mối liên hệ với mức độ công bố thông tin của doanh nghiệp, và các công ty lớn thường
sẽ công bố thông tin nhiều hơn (Singhvi và Desai, 1971; Firth, 1979; Cooke, 1989;
Ho và Wong, 2001; Akhtaruddin, 2005; Narasimhan và Vijayalakshmi, 2006) Cooke (1989) lập luận rằng những công ty có tỷ lệ lợi nhuận cao thường có xu hướng gửi đến thị trường những dấu hiệu về hoạt động của họ bằng việc cung cấp nhiều thông tin trong báo cáo thường niên của họ Cooke (1989) đã lập luận rằng một công ty có lợi nhuận cao thường sẽ báo hiệu hiệu quả hoạt động của mình cho thị trường bằng cách công bố nhiều thông tin trong báo cáo thường niên
Bài nghiên cứu phân tích các nhân tố tác động đến mức độ công bố thông tin thuộc hai nhóm là đặc điểm của doanh nghiệp và quản trị doanh nghiệp
3.2.1 Các đặc điểm của doanh nghiệp:
Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu thực nghiệm liên quan đến đặc điểm cụ thể của công ty đối với mức độ công bố thông tin dựa trên một số lý thuyết bao gồm
lý thuyết đại diện, lý thuyết tín hiệu, lý thuyết về thị trường vốn và lý thuyết về chi phí và lợi ích như nghiên cứu của Haniffa và Cooke (2002), Narasimhan và cộng sự (2006), Wallace và cộng sự (1994), Bhayani (2012), Uyar (2013), Aljifri và cộng sự (2014),… Nhìn chung tất cả các nghiên cứu đều tìm ra được sự tác động của những đặc điểm công ty đến mức độ công bố thông tin, điều này chứng tỏ đây là một nhóm nhân tố rất quan trọng trong việc quyết định mức độ công bố thông tin của một doanh nghiệp Những đặc điểm về công ty có thể được phân thành ba nhóm: cấu
Trang 39trúc (quy mô, đòn bẩy, tài sản cố định,….); hiệu suất (lợi nhuận); và liên quan đến thị trường (công ty kiểm toán, số năm niêm yết,….) (Haniffa và Cooke, 2002)
Quy mô công ty:
Quy mô doanh nghiệp được đánh giá qua các chỉ tiêu như tổng tài sản, tổng nguồn vốn, doanh thu thuần hay tổng số lao động của doanh nghiệp Theo lý thuyết đại diện thì có sự tách bạch giữa quyền sở hữu và kiểm soát công ty và các vấn đề bất đối xứng thông tin từ các nhà quản lý và các cổ đông đã xảy ra vấn đề chi phí đại diện Do đó, ở các công ty lớn với số lượng cổ đông nhiều, chi phí đại diện sẽ gia tăng vì các công ty có khuynh hướng nỗ lực hơn trong việc giám sát người quản
lý Các công ty lớn có chi phí đại diện cao hơn các công ty nhỏ hơn (Jensen và Meckling, 1976; Leftwich và cộng sự, 1981) Hơn nữa, các doanh nghiệp lớn thông tin rõ hơn các doanh nghiệp nhỏ hơn (Watts và Zimmerman, 1986) Để làm giảm chi phí này, các công ty có xu hướng công bố thông tin ngày càng nhiều hơn Theo
lý thuyết tín hiệu, các doanh nghiệp lớn nhận thức rằng việc phát tín hiệu, công bố nhiều thông tin cho người sử dụng sẽ thu hút nhiều nhà đầu tư hơn do đó sẽ làm tăng giá trị cổ phiếu hơn Còn theo lý thuyết tính hợp pháp, các công ty lớn có xu hướng công bố nhiều thông tin hơn và sử dụng nó như là công cụ để làm giảm áp lực từ những quy định của chính phủ Do lo ngại cạnh tranh, các công ty nhỏ sẽ công bố thông tin ít hơn các công ty lớn (Singhvi và Desai, 1971) Hầu hết các nghiên cứu trước đây đều tìm thấy mối liên hệ đáng kể giữa quy mô doanh nghiệp
và mức độ công khai của công ty (Singhvi và Desai, 1971, Cooke, 1989; Hossain và cộng sự, 1994; Haniffa và Cooke, 2002; Narasimhan và Vijayalakshmi, 2006; Das
và cộng sự, 2008) Giải thích hợp lý về mối liên hệ tích cực này có thể là các công
ty lớn hơn công bố thông tin nhiều hơn các công ty nhỏ để thu hút các nhà đầu tư tiềm năng trong thị trường vốn Nhiều thông tin hơn được cung cấp trong báo cáo tài chính sẽ làm tăng sự tự tin của các nhà đầu tư (Nagina, 2005) và do đó, giả thuyết rằng:
H1: Mức độ công bố thông tin của công ty có quan hệ tích cực với quy mô của công ty
Trang 40 Số năm niêm yết:
Mức độ công bố thông tin của công ty có thể bị ảnh hưởng bởi số năm công
ty niêm yết trên sàn chứng khoán Owusu-Ansah (1998) đã chỉ ra ba yếu tố có thể giải thích cho hiện tượng này Thứ nhất, các công ty mới niêm yết có thể phải chịu
sự cạnh tranh Thứ hai, chi phí cũng như sự phức tạp, nguy cơ thu thập và xử lý yêu cầu thông tin có thể là một yếu tố góp phần, và cuối cùng, các công ty mới niêm yết
có thể thiếu một thông tin hấp dẫn để báo cáo Các doanh nghiệp mới hơn có thể có một số vấn đề như thiếu vốn, thương hiệu và danh tiếng so với các công ty niêm yết lâu hơn Do đó, các công ty niêm yết lâu dài được mong đợi có thể công bố nhiều thông tin hoặc tuân thủ nhiều hơn các công ty mới niêm yết Dựa trên lập luận này, bài nghiên cứu đưa ra giả thuyết:
H2: số niêm yết của công ty có tác động tích cực đến mức độ công bố thông tin
Công ty kiểm toán:
Báo cáo tài chính được kiểm toán là một yêu cầu bắt buộc đối với các doanh nghiệp niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Sau sự kiện Enron nhà đầu tư, người sử dụng báo cáo tài chính,…càng đặt ra nhiều yêu cầu cao hơn về vấn đề kiểm toán báo cáo tài chính Kiểm toán là một nhân tố quan trọng giúp đảm bảo tính trung thực, khách quan của thông tin tài chính, là cơ sở quan trọng cho việc quản lý cũng như ra quyết định đầu tư Công ty kiểm toán lớn hoạt động như một cơ chế để làm giảm chi phí đại diện, giảm bớt sự xung đột giữa nhà quản lý và nhà đầu tư và phát huy nhiều hơn vai trò giám sát bằng cách hạn chế hành vi cơ hội của nhà quản
lý (Jensen và Meckling, 1976)
Công ty kiểm toán được chia thành hai nhóm, nhóm thứ nhất là các công ty kiểm toán lớn, bao gồm bốn công ty: Deloitte, Ernst and Young, KPMG và Price Waterhouse Coopers Các công ty còn lại được xếp vào nhóm các công ty kiểm toán nhỏ Các công ty kiểm toán lớn thường chú trọng bảo vệ danh tiếng, uy tín của họ
do đó họ sẽ dành nhiều thời gian, sự cẩn trọng trong việc kiểm toán báo cáo tài chính của khách hàng (Bhayani, 2012) Ngược lại, các công ty kiểm toán có quy mô