Tổng quan tình hình nghiên cứu ngoài nước Trong những năm gần đây có rất nhiều công trình nghiên cứu về những thách thức, hạn chế của khu vực kế toán công ở các nước trên thế giới và ph
Trang 1NGÔ PHI MỸ ANH
CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HOÀN THIỆN TỔ CHỨC CÔNG TÁC
KẾ TOÁN TẠI CÁC CƠ QUAN THUẾ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ
CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Thành phố Hồ Chí Minh - Năm 2017
Trang 2NGÔ PHI MỸ ANH
CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HOÀN THIỆN TỔ CHỨC CÔNG TÁC
KẾ TOÁN TẠI CÁC CƠ QUAN THUẾ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ
CHÍ MINH
Chuyên ngành: Kế toán
Mã số: 60340301
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS PHẠM QUANG HUY
Thành phố Hồ Chí Minh - Năm 2017
Trang 3trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác Tất cả những phần kế thừa, tham khảo cũng như tham chiếu đều được trích dẫn đầy đủ và ghi nguồn cụ thể trong danh mục các tài liệu tham khảo
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 2017
Tác giả
Ngô Phi Mỹ Anh
Trang 4Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục bảng biểu
Lời mở đầu
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU 1
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu ngoài nước 1
1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước 7
1.3 Nhận xét tổng quan các nghiên cứu và hướng nghiên cứu của luận văn 11
1.3.1 Nhận xét tổng quan các nghiên cứu 11
1.3.2 Hướng nghiên cứu của tác giả 12
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẠI CÁC CƠ QUAN THUẾ 14
2.1 Tổng quan về cơ quan thuế 14
2.1.1 Khái niệm và bộ máy của cơ quan thuế 14
2.1.2 Đặc điểm hoạt động của cơ quan thuế 15
2.1.3 Cơ chế quản lý tài chính trong cơ quan thuế 16
2.2 Một số vấn đề chung về tổ chức công tác kế toán tại các cơ quan thuế 18
2.2.1 Khái niệm 18
2.2.2 Đối tượng sử dụng thông tin kế toán cơ quan thuế 18
Trang 52.2.4 Nguyên tắc của tổ chức công tác kế toán của các cơ quan thuế 21
2.3 Nội dung tổ chức công tác kế toán trong các cơ quan thuế 22
2.3.1 Tổ chức chứng từ kế toán 22
2.3.2 Tổ chức hệ thống tài khoản kế toán 23
2.3.3 Tổ chức chế độ sổ kế toán 24
2.3.4 Tổ chức lập và cung cấp thông tin qua hệ thống báo cáo tài chính, báo cáo quyết toán 25
2.3.5 Tổ chức bộ máy kế toán 26
2.3.6 Tổ chức trang bị các điều kiện vật chất kỹ thuật 27
2.3.7 Tổ chức phân tích, kiểm tra kế toán 27
2.4 Các nhân tố tác động đến tổ chức công tác kế toán tại cơ quan thuế 28
2.5 Các lý thuyết nền phục vụ cho nghiên cứu luận văn 29
2.5.1 Lý thuyết đại diện 29
2.5.2 Lý thuyết bất cân xứng thông tin 30
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32
3.1 Quy trình nghiên cứu 32
3.2 Phương pháp nghiên cứu định tính 33
3.3 Phương pháp nghiên cứu định lượng 34
3.4 Thiết kế nghiên cứu 35
3.4.1 Xác định các nhân tố tác động nhằm hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tại các cơ quan thuế trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh 35
3.4.2 Xây dựng mô hình nghiên cứu đề xuất và thang đo nghiên cứu 40
Trang 63.4.5 Các bước phân tích dữ liệu 45
3.4.6 Công cụ sử dụng phân tích 47
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 48
4.1 Kết quả nghiên cứu các nhân tố tác động đến việc hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tại các cơ quan thuế trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh. 48
4.1.1 Thống kê mô tả mẫu quan sát 48
4.1.2 Kiểm định thang đo 48
4.1.3 Phân tích nhân tố khám phá EFA 50
4.1.4 Mô hình hiệu chỉnh sau khi phân tích nhân tố 55
4.1.5 Phân tích hồi quy đa biến 56
4.1.6 Kết quả và bàn luận 61
4.2 Thực trạng về tổ chức công tác kế toán tại cơ quan thuế trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh 65
4.2.1 Thực trạng về tổ chức công tác kế toán tại các cơ quan thuế trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh 65
4.2.2 Thực trạng về hệ thống các văn bản pháp lý kế toán 67
4.2.3 Nhận xét về ưu điểm 67
4.2.4 Nhận xét về nhược điểm 68
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH 75
5.1 Kết luận 75
5.2 Hàm ý chính sách 75
5.2.1 Hàm ý chính sách đối với Quốc hội 76
Trang 75.2.4 Hàm ý chính sách đối với các cơ quan thuế trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh 785.3 Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo 79Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 8- BCTC: Báo cáo tài chính
2 Chữ viết tắt tiếng Anh:
- EFA: Phân tích nhân tố khám phá (Exploratory Factor Analysis)
- IPSAS: Chuẩn mực kế toán công quốc tế (International Public Sector Accouting Standard)
- SPSS: Phần mềm thống kê khoa học xã hội (Statistial Package for the Social Sciences)
- VIF: Hệ số phóng đại phương sai (Variance Inflation Factor)
Trang 9Bảng 4.1 Thống kê về giới tính đối tượng khảo sát 48
Bảng 4.2 Bảng kiểm định các thang đo 49
Bảng 4.3 Kiểm định KMO và Bartlett’s Test cho biến độc lập 51
Bảng 4.4 Tổng phương sai trích – Total Variance Explained 52
Bảng 4.5 Ma trận nhân tố xoay- Rotated Component Matrixa 53
Bảng 4.6 Kiểm định KMO và Bartlett’s Test cho biến phụ thuộc 54
Bảng 4.7 Tổng hợp phương sai trích của biến phụ thuộc 55
Bảng 4.8 Ma trận hệ số nhân tố của biến phụ thuộc 55
Bảng 4.9 Hệ số hồi quy Coefficientsa 57
Bảng 4.10.Kết quả hồi quy của mô hình 58
Bảng 4.11 Phân tích phương sai ANOVA 58
Bảng 4.12 Hệ số tương quan Pearson Correlations 61
Bảng 4.13 Hệ số hồi quy chuẩn hóa 64
DANH MỤC BIỂU ĐỒ VÀ SƠ ĐỒ Sơ đồ 3.1 Quy trình nghiên cứu 32
Sơ đồ 3.2 Mô hình nghiên cứu đề nghị 40
Biểu đồ 4.1 Biểu đồ tần suất của phần dư 59
Trang 10ngân sách gồm các loại thuế và phí, lệ phí; thực hiện chức năng quản lý thuế thì còn
là một đơn vị có tổ chức bộ máy kế toán để đảm bảo duy trì hoạt động hàng ngày Công tác kế toán tại cơ quan thuế ở Việt Nam hiện nay tuân thủ theo chế độ kế toán của đơn vị hành chính sự nghiệp do Bộ Tài chính ban hành Tuy nhiên ngành Thuế vẫn còn những đặc thù về hoạt động và đặc điểm tổ chức, chưa có một chế độ kế toán riêng cho ngành hay những thông tư hướng dẫn cụ thể cho ngành nên công tác
kế toán vẫn còn nhiều hạn chế, trở ngại trong việc ghi nhận thông tin, soạn thảo và trình bày báo cáo tài chính đơn vị và đặc biệt báo cáo tài chính của các cơ quan thuế chưa thật sự phản ánh được tổng quan bức tranh tình hình hoạt động của toàn đơn
vị Điều này làm cho cơ quan thuế không thể đạt được mục tiêu tổ chức công tác kế toán hiệu quả, cung cấp thông tin tài chính có chất lượng; báo cáo tài chính chưa được trình bày trung thực, hữu hiệu và hợp lý; gây khó khăn cho các cấp quản lý kiểm soát hiệu quả hoạt động
Cục Thuế thành phố Hồ Chí Minh luôn là cơ quan thuế địa phương đi đầu cả nước về lĩnh vực thu ngân sách, bên cạnh đó cũng đơn vị hoạt động chi ngân sách lớn về chi thường xuyên, chi đầu tư hiện đại hóa trang thiết bị cơ sở vật chất, nhà cửa để phục vụ nhiệm vụ chuyên môn được Bộ Tài chính giao nhằm đảm bảo công tác quản lý thu, góp phần tiết kiệm đáng kể thời gian, chi phí cho người nộp thuế, tích cực cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh của thành phố và đất nước Trên cơ
sở nghiên cứu đặc điểm hoạt động, môi trường pháp lý và công tác kế toán tại cơ quan thuế, cần phải có giải pháp để giúp cho công tác kế toán tại cơ quan thuế hoàn thiện tốt hơn để đạt được mục tiêu hoạt động và công tác quản lý tài chính, tạo thông tin hữu hiệu, trung thực và hợp lý trên báo cáo tài chính Bên cạnh đó, hòa chung với bối cảnh đổi mới hệ thống kế toán toàn khu vực công tại Việt Nam, cần thiết có nghiên cứu về các nhân tố tác động đến hoàn thiện công tác kế toán để cơ quan thuế chủ động đổi mới, cải cách mà ít gặp những trở ngại nhất Chính vì vậy
Trang 11cung cấp cho các cơ quan quản lý nhà nước được chính xác và kịp thời Qua đó, cơ quan thuế có cơ chế quản lý tài chính thích hợp để nâng cao hiệu quả quản lý tài chính công Hoàn thiện công tác kế toán tại cơ quan thuế giúp hệ thống kế toán tại đơn vị trở hoạt động tốt hơn Hệ thống kế toán tốt sẽ dễ dàng dẫn đến sự cải thiện
cơ chế quản lý tài chính tại đơn vị cũng như cho chính phủ (Chan, 2005)
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu 1: Từ việc nghiên cứu những công trình nghiên cứu trong và ngoài nước, cùng với cơ sở lý luận để kế thừa và xác định được các nhân tố và đánh giá tác động của từng nhân tố đến việc hoàn thiện tổ chức công tác tại các cơ quan thuế trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
Mục tiêu 2: Nêu lên thực trạng tổ chức công tác kế toán tại các cơ quan thuế trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh và đánh giá được ưu và nhược điểm
Mục tiêu 3: Đề xuất các giải pháp và kiến nghị giúp hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tại các cơ quan thuế ở thành phố Hồ Chí Minh và toàn ngành Thuế Việt Nam
3 Câu hỏi nghiên cứu
Với mục tiêu nghiên cứu đã trình bày, bài viết sẽ trả lời ba câu hỏi nghiên cứu như sau:
Câu hỏi nghiên cứu 1: Các nhân tố nào tác động nhằm giúp hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tại các cơ quan thuế trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh và mức
độ tác động của các nhân tố như thế nào? Câu hỏi giải quyết cho mục tiêu số 1 Câu hỏi nghiên cứu 2: Tổ chức công tác kế toán tại các cơ quan thuế trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh hiện nay có những ưu, nhược điểm nào? Câu hỏi giải quyết cho mục tiêu số 2
Trang 124 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu tổ chức công tác kế toán hiện nay tại các cơ quan thuế và nhân tố nào tác động đến hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tại các cơ quan thuế trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu những vấn đề liên quan đến tổ chức công tác kế toán trong quá trình sử dụng nguồn kinh phí ngân sách nhà nước đảm bảo hoạt động của cơ quan thuế; phí và lệ phí được phép để lại theo quy định của pháp luật phí, lệ phí và các nguồn kinh phí có nội dung khác được sử dụng theo quy định của pháp luật Nghiên cứu được thực hiện trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh gồm: Văn phòng Cục và 24 Chi cục Thuế quận, huyện
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng Phương pháp nghiên cứu định tính để tổng hợp cơ sở lý thuyết về tổ chức công tác kế toán tại các cơ quan thuế, đánh giá thực trạng, phân tích và đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện tổ chức công tác kế toán nhằm cung cấp thông tin kế toán hiệu quả, trung thực, hợp lý và xây dựng các nhân tố tác động Phương pháp định lượng dùng để đo lường tác động của các nhân tố đến hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tại các cơ quan thuế trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh Các phương pháp cụ thể như sau:
- Phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh đối chiếu, thống kê
- Khảo sát ý kiến chuyên gia
- Khảo sát rộng rãi bảng câu hỏi
6 Đóng góp của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn đã đóng góp về mặt lý luận và thực tiễn cho
kế toán tại các cơ quan thuế trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh gồm:
- Về mặt lý luận: Tổng hợp cơ sở lý thuyết về tổ chức công tác kế toán tại cơ quan thuế
Trang 13tại các cơ quan thuế
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và phần phụ lục, Luận văn gồm có 5 chương:
Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý thuyết về tổ chức công tác kế toán tại các cơ quan thuế
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận
Chương 5: Kết luận và kiến nghị
Trang 14CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU
Kế toán tại cơ quan thuế là một bộ phận, mang đặc điểm của kế toán khu vực công, do đó việc nghiên cứu về những đổi mới, cải cách kế toán công là cơ sở để nghiên cứu việc hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tại các cơ quan thuế trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh Để xây dựng được các nhân tố tác động đến hoàn thiện
tổ chức công tác kế toán tại cơ quan thuế, tác giả dựa vào những nhân tố góp phần tác động đến cải cách, đổi mới và phát triển kế toán khu vực công Từ đó cơ quan thuế mới xây dựng tổ chức được một hệ thống kế toán cung cấp thông tin hữu ích, trung thực; đáp ứng nhu cầu thông tin của đại chúng và kiểm soát được nguồn lực tài chính công tốt hơn
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu ngoài nước
Trong những năm gần đây có rất nhiều công trình nghiên cứu về những thách thức, hạn chế của khu vực kế toán công ở các nước trên thế giới và phân tích những nhân tố tác động đến việc cải cách, đổi mới nhằm đề ra những giải pháp, gợi ý chính sách để tiến đến sự hoàn thiện hệ thống kế toán công, tạo hài hòa, thống nhất trên toàn thế giới Bắt nguồn từ những hạn chế của hệ thống kế toán công, lần lượt
có nhiều nghiên cứu ra đời để cải cách hệ thống kế toán nhằm minh bạch thông tin tài chính, gia tăng trách nhiệm giải trình và hạn chế sự khác biệt so với thông lệ quốc tế
+ Nhóm nghiên cứu về những hạn chế trong hệ thống kế toán khu vực công
Trong nghiên cứu công bố năm 2005 của Chan về IPSAS và cải cách kế toán công ở các nước đang phát triển đã đưa ra những nhận định về hạn chế của hệ thống quản lý tài chính và đưa ra những nội dung cải cách Tác giả thực hiện cuộc khảo sát và cho rằng việc chấp nhận và áp dụng IPSAS là cải cách hệ thống kế toán chính phủ ở các quốc gia đang phát triển, mang lại các giá trị về phương diện xã hội và kinh tế, gia tăng trách nhiệm giải trình của chính phủ, sự dân chủ và nhận được nhiều sự tài trợ của các quốc gia phát triển trên thế giới Hệ thống kế toán chính phủ
là phần quan trọng của cơ sở hạ tầng của quốc gia Hệ thống kế toán hoạt động hiệu
Trang 15quả sẽ dẫn đến cải thiện việc quản lý tài chính của chính phủ; giúp kiểm toán có thể ngăn ngừa và phát hiện những hành vi sai trái về tài chính Tác giả nêu ra việc cải cách kế toán công thành công phụ thuộc vào sự hỗ trợ của các nhà lãnh đạo chính trị, những người có khả năng thiết lập những yêu cầu đòi hỏi về trách nhiệm giải trình và minh bạch tài chính cao hơn Họ có thể là bộ trưởng, những nhà quản lý cấp cao làm thay đổi cách thức hoạt động của chính phủ Tuy nhiên việc đổi mới hệ thống chính trị là vấn đề thách thức đối với những nước nền dân chủ không cao, tham nhũng, và ý chí ngại thay đổi của những nhà lãnh đạo.Yếu tố về nguồn tài chính hỗ trợ cho thay đổi cải cách kế toán cũng rất quan trọng Hỗ trợ ngân sách sách đầy đủ để có được phần mềm, phần cứng và nhân viên có chuyên môn cao Ở các nước đang phát triển thì tình trạng thiếu hụt những nhân viên có kỹ cao là một trở ngại cần phải vượt qua Nghiên cứu này khá phù hợp với đặc điểm và tình hình
kế toán khu vực công hiện tại ở Việt Nam, tuy nhiên tác giả chỉ nêu ra vấn đề chứ chưa đưa ra giải pháp để có thể vận dụng
Trong một nghiên cứu của Rossi, Jorge, Jesus & Caperchione (2015), tác giả
đã tập hợp những thảo luận trong hội thảo chuyên đề về những thách thức mới ở khu vực kế toán công gồm những nội dung trọng tâm đang được quan tâm tranh luận trên toàn thế giới như: IPSASs, báo cáo ngân sách và hệ thống tài khoản quốc gia Những tranh luận về xu thế áp dụng IPSASs để tạo sự hài hòa, thông tin có thể
so sánh, nâng cao chất lượng báo cáo tài chính chính phủ, những rào cản khó khăn khi áp dụng IPSASs ở các nước Bên cạnh đó còn có những tranh luận về áp dụng
kế toán dồn tích, quan điểm của các bên liên quan, thay đổi chính sách, kiểm soát chi tiêu công và thâm hụt ngân sách
+ Nhóm nghiên cứu về các nhân tố tác động đến cải cách, đổi mới kế toán công
Năm 1992, Klaus G Lüder đã giới thiệu một mô hình cải cách kế toán khu vực công được nghiên cứu so sánh ở Mỹ, Canada và một vài nước Châu Âu gồm có bốn nhóm nhân tố: sự kích thích đổi mới; các biến đổi cấu trúc xã hội của người sử dụng thông tin; các biến cấu trúc mô tả hệ thống chính trị - hành chính và các rào
Trang 16cản thực hiện Tác giả giải thích mối quan hệ và ảnh hưởng của các nhân tố đến quá trình đổi mới kế toán công nhằm cung cấp thông tin trung thực, hữu ích, đáng tin cậy Trong đó:
- Nhóm nhân tố sự kích thích đổi mới gồm có: Áp lực tài chính; bê bối tài chính, thị trường vốn và cơ quan ban hành chuẩn mực Tác giả cho rằng gánh nặng
về nợ công, lãi suất, toàn cầu hóa, bê bối tài chính sẽ dẫn đến áp lực tài chính, nhu cầu thông tin kế toán ngày càng cao từ đó thúc đẩy cải cách kế toán để cung cấp thông tin hữu ích, trung thực hơn
- Nhóm nhân tố cấu trúc xã hội gồm: tình trạng kinh tế xã hội và văn hóa chính trị Tình trạng kinh tế xã hội được thể hiện qua nhiều biến như thu nhập, trình
độ học vấn nó ảnh hưởng đến nghĩa vụ thuế và dịch vụ công mà người dân nhận được và nó liên quan đến những quan điểm của người sử dụng thông tin về tính hữu ích của báo cáo tài chính khu vực công Văn hóa chính trị ảnh hưởng đến thái độ của người sử dụng thông tin liên quan đến công bố thông tin quản lý tài chính khu vực công Văn hóa chính trị càng cởi mở và có sự tham gia của công chúng càng cao thì càng yêu cầu tính minh bạch càng cao đẩy mạnh đổi mới kế toán
- Nhóm nhân tố cấu trúc mô tả hệ thống chính trị - hành chính gồm có đào tạo nhân viên và tuyển dụng, văn hóa quản trị và cạnh tranh chính trị Những nhân viên
kế toán chuyên nghiệp và có chất lượng cao không những sẵn sàng thực hiện cải cách mà còn tạo ra những ý tưởng thúc đẩy sự đổi mới trong kế toán công Theo nghiên cứu của tác giả thì văn hóa quản trị là một phần của văn hóa chính trị Một nền văn hóa quản trị cởi mở, có sự tham gia mọi người vào quá trình của chính sách công sẽ thúc đẩy thái độ tích cực của người cung cấp thông tin có tính hữu hiệu trong hệ thống kế toán và báo cáo tài chính khu vực công và tạo những ý tưởng đổi mới
- Nhóm nhân tố rào cản bao gồm: đặc điểm của tổ chức, hệ thống pháp lý, trình độ của nhân viên kế toán và quy mô của đơn vị công
Trang 17Tác giả cũng đã khẳng định chuyển đổi cơ sở kế toán dồn tích trong khu vực công giúp thông tin trên báo cáo tài chính được trình bày trung thực, hợp lý và đáng tin cậy và đáp ứng được yêu cầu kiểm soát nguồn lực tài chính công
Trên cơ sở kế thừa những nghiên cứu của Luder (1992), trong một nghiên cứu
về mô hình cơ bản cho việc áp dụng thành công cơ sở kế toán dồn tích ở khu vực công, tác giả Ouda Hassan (2004) đã mở rộng nghiên cứu ở các nước đang phát triển, tác giả cho rằng việc thực hiện chuyển đổi từ cơ sở kế toán tiền mặt sang cơ
sở kế toán dồn tích sẽ giúp nâng cao trách nhiệm giải trình thông tin, cung cấp báo cáo tài chính hữu hiệu, trung thực và hợp lý Tác giả thực hiện xây dựng mô hình các nhân tố tác động đến sự thành công của việc thực hiện cơ sở dồn tích ở khu vực công Các nhân tố này bao gồm:
- Quản lý sự thay đổi: Tư tưởng chấp nhận thay đổi và kiểm soát sự thay đổi của nhà quản lý như: thay đổi phần mềm, chính sách kế toán, Tác giả cho rằng quản lý sự thay đổi càng tốt sẽ giúp sự chuyển đổi dễ thành công
- Sự hỗ trợ chính trị: bao gồm sự hỗ trợ của cơ quan lập pháp và hành pháp
Cơ quan lập pháp thực hiện giám sát và ban hành những văn bản pháp luật khi có sự thay đổi Cơ quan hành pháp chấp hành và báo cáo kết quả cho cơ quan lập pháp
Sự hỗ trợ chính trị càng cao càng giúp sự chuyển đổi thành công
- Sự hỗ trợ về học thuật trong lĩnh vực kế toán: trình độ chuyên môn của chuyên gia kế toán hỗ trợ trong và ngoài nước
- Chiến lược truyền thông: nhằm để tuyên truyền, giải thích và kêu gọi sự ủng
hộ của mọi người khi xuất hiện thay đổi
- Sẵn sàng để thay đổi: ý chí và trình độ chuyên môn của nhân viên sẵn sàng cho việc thực hiện chuyển đổi
- Tư vấn và phối hợp với cơ quan chính quyền và thực hiện các vấn đề kế toán
cụ thể
- Ngân sách và các chi phí thực hiện, cần thiết phải tính toán hoạch định nguồn ngân sách cho toàn bộ quá trình chuyển đổi
Trang 18- Khả năng công nghệ thông tin: Cần thiết phải có hệ thống máy tính, phần mềm, tốc độ kết nối dữ liệu tốt
- Sự tài trợ tài chính của quốc tế
Cristina et al (2013) thực hiện nghiên cứu về sự ảnh hưởng của các nhân tố môi trường đến cải cách kế toán công ở Rumani Tác giả sử dụng phương pháp tiếp cận lịch sử về kế toán và những cơ sở lý thuyết trên thế giới về kế toán công đưa ra sáu nhóm nhân tố môi trường tác động đến sự phát triển của kế toán, hệ thống báo cáo và công bố thông tin tại khu vực công ở trong bối cảnh của Rumani gồm: nhóm nhân tố hệ thống chính trị, nhóm nhân tố hệ thống pháp luật, nhóm nhân tố kinh tế, nhóm nhân tố văn hóa xã hội; nhóm nhân tố giáo dục; nhóm nhân tố nghề nghiệp Tác giả tập hợp những nghiên cứu thực nghiệm dựa trên cơ sở những phân tích xác nhận sự tồn tại của sáu nhóm nhân tố và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nhóm và đưa ra sự giải thích cơ bản sự ảnh hưởng của việc kết hợp các nhân tố Hệ thống chính trị tác động đến hệ thống kinh tế, có sự ảnh hưởng trực tiếp đến mức độ tin tưởng của các nhà đầu tư vào thông tin kế toán Sự kết hợp giữa nhân tố chính trị và nhân tố kinh tế quyết định loại hình hệ thống pháp lý về kế toán Nhân tố văn hóa
xã hội ảnh hưởng đến chính sách kế toán và quá trình quyết định của kế toán, gắn liền với nhân tố giáo dục tác động mạnh đến lý thuyết kế toán và thực tiễn Tất cả những kết quả nghiên cứu này làm cơ sở để các quốc gia mới nổi khác để đánh giá những nhân tố tác động đến sự phát triển của kế toán công Dữ liệu được tác giả phân tích bằng phần mềm SPSS 19.0 gồm có 44 biến giải thích cho các nhân tố chính ảnh hưởng hưởng dến sự thay đổi hệ thống kế toán công tại Rumani Các mục tiêu trong bài nghiên cứu được thể hiện dưới dạng một cấu trúc của một kim tự tháp Cấp sơ cấp là các giai đoạn của hệ thống kế toán công Rumani từ năm 1831 đến nay Cấp trung cấp là dùng phương pháp tiếp cận lịch sử để nhận dạng các nhân
tố cho mỗi giai đoạn kế toán Cấp cao cấp là những tác động của các nhân tố và sự ảnh hưởng của những nhân tố môi trường đối với sự phát triển của hệ thống kế toán công Rumani Nghiên cứu này là một tài liệu tham khảo hữu ích cho các nước trên thế giới, đặc biệt các nước mới nổi cần có sự hòa hợp, hội nhập về kế toán công trên
Trang 19toàn thế giới Tác giả vận dụng nghiên cứu này trong luận văn bằng cách tham khảo các nhóm nhân tố đã đưa ra để hình thành nên nhân tố phù hợp với bối cảnh nghiên cứu là hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tại cơ quan thuế trên địa bàn thành phố
Hồ Chí Minh Bởi vì hệ thống kế toán khu vực công của một quốc gia phát triển thì
tổ chức công tác kế toán của từng đơn vị thành phần trong khu vực công sẽ phát triển theo và Rumani là quốc gia đang phát triển có sự tương đồng với Việt Nam Gần đây nhất, tác giả Wan et al (2017) đã có một cuộc khảo sát về tác động
hệ thống thông tin kế toán lên tính hiệu quả công việc trong cơ quan thuộc khu vực công của Malaysia Nghiên cứu thực hiện khảo sát bằng bảng câu hỏi gởi tới người dùng hệ thống thống tin kế toán tại các đơn vị công ở Malaysia nhằm đánh giá tác động của hệ thống kế toán hiện hành về các lĩnh vực kế toán chủ yếu như: báo cáo tài chính, quản trị tài chính, kiểm toán và kiểm soát báo cáo tài chính Đối tượng khảo sát được yêu cầu trả lời với mức độ đồng ý hoặc không đồng ý với các tiêu chí được đưa ra để xác định xem hệ thống có tác động đến hiệu quả công việc hay không Dựa vào kết quả nghiên cứu, tác giả đã chứng minh được rằng hệ thống thông tin kế toán hiệu quả sẽ tác động đến hiệu quả công việc như: nhiệm vụ quản
lý ngân sách, kế toán và báo cáo tài chính, nhiệm vụ kiểm toán và kiểm soát
- Hệ thống thông tin kế toán có những ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả công tác hoạch định ngân sách bằng việc thực hiện dễ dàng hơn việc thu thập thông tin về các mục tiêu và các kết quả hoạt động trong tất cả các lĩnh vực lập ngân sách và ước tính các dự án, hoạt động, chương trình cho tương lai
- Hệ thống giúp cung cấp thông tin toàn diện và minh bạch hơn và nâng cao
sự tín nhiệm và độ tin cậy của toàn bộ quá trình ngân sách; cải thiện hiệu quả cho việc chuẩn bị ngân sách hằng năm và lập ngân sách trong tương lai; cung cấp kịp thời và dữ liệu chính xác cho quản trị ngân sách và thực hiện các quyết định cải thiện và thực hiện các kế hoạch ngân sách
- Hệ thống thông tin kế toán tác động đến nhiệm vụ kế toán và báo cáo bằng cách cải thiện cách họ ghi chép kế toán và xử lý các giao dịch kế toán, tăng cường khả năng kiểm soát tài chính của các tổ chức; cung cấp thông tin về nguồn, phân bổ
Trang 20và sử dụng nguồn lực tài chính; cung cấp thông tin để đánh giá mức độ hiệu quả hoạt động
Tóm lại thông qua những nhận định của những nhà nghiên cứu trước về những nhân tố cản trở và những nhân tố tác động cải cách hệ thống kế toán khu vực công, tác giả tiến hành lựa chọn những nhân tố cần thiết đưa vào xem xét phân tích trong một môi trường cụ thể là các cơ quan thuế trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh để hoàn thiện được tổ chức công tác kế toán, nâng cao chất lượng thông tin cung cấp
và hiệu quả công việc Để phù hợp với môi trường đang nghiên cứu, tác giả xem xét những nhóm nhân tố của các tác giả trên để trích và tổng hợp những biến đo lường
cụ thể và vi mô áp dụng phù hợp với cơ quan thuế gồm:
- Nhóm nhân tố cấu trúc mô tả hệ thống chính trị - hành chính của Luder (1992): Trình độ chuyên môn của nhân viên kế toán, văn hóa nơi làm việc và hệ thống pháp lý
- Nhân tố quản lý sự thay đổi, sự hỗ trợ chính trị, sự hỗ trợ về học thuật trong lĩnh vực kế toán, sự sẵn sàng để thay đổi, khả năng công nghệ thông tin của Ouda (2004)
- Hệ thống công nghệ thông tin phục vụ công tác kế toán dựa trên nghiên cứu của Wan và các cộng sự (2017)
1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước
Với sự ra đời của chuẩn mực kế toán công quốc tế đã thúc đẩy nhiều quốc gia trên thế giới cải cách đổi mới hệ thống kế toán công, chuyển đổi cơ sở kế toán sử dụng để cung cấp thông tin có thể so sánh được và hội nhập quốc tế, minh bạch thông tin tài chính Những năm gần đây, tại Việt Nam cũng lần lượt ra đời rất nhiều nghiên cứu, hội thảo liên quan đến nhận diện những điểm yếu và giải pháp cần để đổi mới hệ thống kế toán công
+ Nhóm nghiên cứu về những hạn chế trong hệ thống kế toán khu vực công tại Việt Nam
Trang 21Năm 2008, Nguyễn Đăng Huy trong một nghiên cứu về thực trạng nền kế toán công tại Việt Nam đã đưa những khó khăn, yếu điểm của hệ thống kế toán công gồm:
- Công tác kế toán ngân sách chưa tập trung, thống nhất về tổ chức, phạm vi nội dung và phương pháp kế toán Điều này khiến việc tổng hợp và thống nhất số liệu thu chi ngân sách giữa kho bạc nhà nước, các đơn vị tài chính, cơ quan thuế, cơ quan hải quan… chưa đáp ứng được yêu cầu phân tích dữ liệu phục vụ cho mục đích quản lý ngân sách
- Các quy định hiện tại của kế toán công khá phức tạp và tập trung quá nhiều vào chi tiết các nguyên tắc kế toán cơ bản và khái niệm chưa được định nghĩa và tổ chức tốt trong nhiều tài liệu Bên cạnh đó, có sự chồng chéo về nội dung giữa các quy định, cùng một vấn đề nhưng lại có nhiều hướng dẫn thực hiện khác nhau cho các đơn vị khác nhau
- Sự thiếu hụt về cơ sở hạ tầng và các nguồn lực, các chuyên gia kế toán, sự phức tạp về yêu cầu của các báo cáo, cách truyền dữ liệu chậm chập khiến dữ liệu cung cấp chậm trễ và thiếu chính xác Bên cạnh đó các chức năng kế toán của các đơn vị không được tách biệt rõ ràng và không được kiểm soát đầy đủ gây ra thiếu minh bạch trong lĩnh vực công
- Hiện nay Việt Nam chưa có chuẩn mực kế toán công chính thức và các văn bản hướng dẫn kế toán đối với lĩnh vực kế toán công
- Báo cáo tài chính hiện nay đang lập trên cơ sở tiền mặt có điều chỉnh hoặc dồn tích có điều chỉnh và yêu cầu khi áp dụng IPSAS là phải thay đổi sang cơ sở kế toán dồn tích toàn bộ
Từ những hạn chế trên tác giả đưa ra những giải pháp cần thiết như: tổ chức lại hệ thống báo cáo tài chính và hình thức của báo cáo; đưa ra các nguyên tắc kế toán cơ bản và khái niệm áp dụng cho kế toán công một cách có hệ thống để tạo cơ
sở thống nhất cho việc xây dựng các chuẩn mực kế toán công; thành lập ủy ban đặc biệt để nghiên cứu IPSAS và quá trình thay đổi từng bước cần có sự hỗ trợ của hệ thống máy tính và chuyên gia
Trang 22Trong một nghiên cứu khác về thực trạng hệ thống kế toán công tại Việt Nam, Ngô Thanh Hoàng (2014) đã đưa ra những nghiên cứu lý luận cơ bản về hệ thống
kế toán công và đánh giá những tồn tại của hệ thống kế toán như: so sánh với các chuẩn mực công quốc tế, thực trạng kế toán công, tính hiệu quả của thông tin hệ thống kế toán công Tác giả cũng đưa ra rằng hệ thống pháp luật và các quy định chi phối hoạt động kế toán công Việt Nam Từ đó tác giả đưa ra các giải pháp như cần chỉnh sửa các văn bản luật kế toán hiện hành để hoàn thiện hệ thống pháp lý về kế toán trong khu vực công, ban hành chuẩn mực kế toán công Việt Nam, phương pháp tính giá và cần nghiên cứu phân loại hệ thống kế toán công
Từ những bài báo nghiên cứu về thực trạng, nhiều luận văn thạc sỹ, luận án tiến sỹ đã đi vào nghiên cứu các nhân tố để cải cách đổi mới hệ thống kế toán công, báo cáo tài chính khu vực công và đưa ra các giải pháp hoàn thiện Tác giả Đậu Thị Kim Thoa (2012) trong luận văn thạc sỹ nghiên cứu về hoàn thiện hệ thống tài khoản kế toán áp dụng cho đơn vị hành chính sự nghiệp ở Việt Nam theo định hướng tiếp cận chuẩn mực kế toán công quốc tế, cho rằng để xây dựng hệ thống tài khoản kế toán áp dụng tại các đơn vị hành chính sự nghiệp Việt Nam phù hợp với thông lệ quốc tế thì Việt Nam cần phải hoàn thiện luật ngân sách, luật kế toán, luật thuế và ban hành chuẩn mực kế toán công, chuyển đổi cơ sở kế toán sang cơ sở dồn tích hoàn toàn và tự chủ tài chính
+ Nhóm nghiên cứu về các nhân tố tác động đến cải cách hệ thống kế toán khu vực công tại Việt Nam
Tác giả Phạm Quang Huy (2014) trong luận án nghiên cứu tiến sỹ về hoàn thiện hệ thống kế toán thu, chi ngân sách tại Việt Nam đã nêu ra và kiểm định giả thuyết “Việt Nam có thể và cần phải hoàn thiện hệ thống kế toán thu, chi ngân sách hiện hành” Tác giả đã thực hiện phân tích và khảo sát thực trạng hệ thống kế toán ngân sách nhà nước và đưa ra những nội dung mà chế độ kế toán thu chi ngân sách cần thay đổi như dùng tài khoản thống nhất, cải cách văn bản pháp lý, áp dụng công nghệ hiện đại, tăng cường thêm kiểm soát, tính minh bạch và công khai số liệu kế toán, áp dụng chuẩn mực kế toán công quốc tế, chuyển đổi cơ sở kế toán Qua việc
Trang 23tìm hiểu hệ thống kế toán thu, chi ngân sách và vận dụng IPSAS của một số quốc gia trên thế giới, tác giả đã rút ra rằng mỗi quốc gia khi tiến hành hoàn thiện hệ thống kế toán thu, chi ngân sách có thể chịu sự tác động của một số nhân tố sau: hệ thống kế toán hiện tại và cơ sở kế toán sử dụng; cơ chế quản lý tài chính khu vực cộng, hệ thống chính trị, hệ thống pháp luật, hệ thống kinh tế, sự phát triển của xã hội Từ đó tác giả tổng hợp và gom lại thành 5 nhân tố chính tác động đến sự thay đổi kế toán thu, chi ngân sách là: xã hội, chính trị, văn hóa, kinh tế và pháp lý Tác giả Nguyễn Thị Thu Hiền (2015) cho rằng để hoàn thiện báo cáo tài chính khu vực công Việt Nam, tác giả xác định và đo lường các nhân tố tác động đến cải cách kế toán để đề ra giải pháp cải cách, đổi mới kế toán khu vực công Bài viết cũng thực hiện nghiên cứu sâu về BCTC tại các đơn vị công Việt Nam trên cơ sở dồn tích sao cho BCTC cung cấp thông tin đầy đủ và hữu ích phù hợp với thông lệ thế giới và bối cảnh Việt Nam và đưa ra những báo cáo cần thiết nên thêm vào báo cáo tài chính của đơn vị công Sau khi phân tích dữ liệu nghiên cứu và kiểm định tác giả đưa ra 6 nhân tố tác động đến cải cách kế toán khu vực công sang cơ sở kế toán dồn tích đó là:
- Môi trường chính trị: sự hỗ trợ chính trị của cơ quan lập pháp và hành pháp,
sự dân chủ và cạnh tranh chính trị, sự tăng cường giám sát của quốc hội về tài chính khu vực công
- Môi trường pháp lý: quy định công bố công khai thông tin BCTC khu vực công, hệ thống kiểm soát nội bộ, chuẩn mực kế toán khu vực công, các quy định về quản lý NSNN và quản lý tài chính khu vực công, tổ chức nghề nghiệp và cơ quan ban hành chuẩn mực kế toán
- Môi trường kinh tế: các áp lực về tài chính khu vực công, các vụ bê bối về tài chính trong khu vực công như gian lận, sai sót, tham nhũng, kinh phí việc tổ chức cải cách kế toán khu vực công
- Môi trường giáo dục: trình độ văn hóa, giáo dục của người dân; trình độ chuyên môn của chuyên gia, chuyên viên kế toán và chính sách tuyển dụng đào tạo
Trang 24nhân viên kế toán khu vực công; chính sách tuyên truyền, phổ biến tranh thủ sự ủng hộ; khả năng công nghệ thông tin
- Môi trường quốc tế: sự hỗ trợ chuyên môn của các chuyên gia quốc tế, áp lực thực hiện các cam kết khi tham gia các tổ chức quốc tế, sự can thiệp và tài trợ mạnh của các tổ chức quốc tế
- Môi trường văn hóa: Văn hóa quản lý quan liêu và tâm lý ngại đổi mới, sự nghiêm túc chấp hành các quy định kế toán và các chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp
kế toán; chủ nghĩa các nhân và sự tham nhũng
Từ những nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến cải cách kế toán khu vực công, hoàn thiện hệ thống kế toán thu chi ngân sách, tác giả rút ra những nhân tố cần xem xét sẽ đưa vào mô hình nghiên cứu các nhân tố tác động đến hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tại các cơ quan thuế như sau: Trình độ chuyên môn của nhân viên kế toán; Hệ thống công nghệ thông tin phục vụ cho kế toán; Hệ thống các văn bản pháp lý về kế toán, sự chi phối bởi hệ thống pháp luật; Sự giám sát của Quốc hội về tài chính; Cở kế toán đang sử dụng; Các quy định về quản lý ngân sách, quản
lý tài chính; Văn hóa của nhà lãnh đạo, tâm lý quản lý quan liêu và tâm lý ngại đổi mới, sự nghiêm túc chấp hành các quy định kế toán và các chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp kế toán, chủ nghĩa các nhân và sự tham nhũng
1.3 Nhận xét tổng quan các nghiên cứu và hướng nghiên cứu của luận văn
1.3.1 Nhận xét tổng quan các nghiên cứu
Sau khi tìm hiểu các nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan tương đối đến luận văn tác giả đang thực hiện, tác giả đưa ra những nhận xét về những tồn tại
và lỗ hổng cần được khai thác như sau:
- Đối với các nghiên cứu nước ngoài
Nhìn chung các nghiên cứu ở nước ngoài đưa ra thực trạng, những hạn chế, rào cản khi các nước trên thế giới thực hiện cải cách đổi mới kế toán công, các tác giả đều nhấn mạnh vai trò của cơ sở kế toán dồn tích, chuẩn mực kế toán công quốc
tế IPSAS Bên cạnh đó, tác giả đã xây dựng nên những mô hình các nhân tố ảnh
Trang 25hưởng đến cải cách hệ thống của kế toán công Tuy nhiên các nghiên cứu lại được thực hiện ở mỗi quốc gia khác nhau về hệ thống chính trị, hệ thống pháp lý, đặc điểm nền văn hóa và trình độ phát triển Kế toán khu vực công là lĩnh vực rộng bao gồm nhiều đơn vị loại hình hoạt động với những đặc điểm khác nhau, các công trình nghiên cứu chưa đi sâu vào tìm hiểu chi tiết kế toán của từng đơn vị cụ thể thuộc chính phủ
- Đối với các nghiên cứu trong nước
Nhìn chung, xuất hiện nhiều nghiên cứu tìm hiểu về thực trạng, những yếu điểm của hệ thống kế toán công Việt Nam và tập trung vào phân tích, cải cách hệ thống
kế toán công Tác giả nhận thấy có rất nhiều nghiên cứu, luận văn đã thực hiện đưa
ra những giải pháp nhằm giúp hoàn thiện kế toán khu vực công Tuy nhiên trong khu vực công có các đơn vị hành chính sự nghiệp đa dạng thực hiện nhiều nhiệm vụ khác nhau, có những đặc điểm hoạt động riêng biệt cần nghiên cứu chi tiết hơn
1.3.2 Hướng nghiên cứu của tác giả
Qua việc tổng hợp, xem xét, đánh giá các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đối với các vấn đề có liên quan đến đề tài đang thực hiện, tác giả nhận thấy xu hướng cải cách đổi mới kế toán công là xu hướng chung trên toàn thế giới
mà cơ quan thuế cần phải học hỏi để hoàn thiện công tác kế toán, cung cấp được báo cáo tài chính chứa thông tin hữu hiệu, trung thực hợp lý và hòa hợp với thế giới Hiện nay khu vực kế toán công Việt Nam đang trên con đường cải cách đổi mới, ban hành chuẩn mực kế toán công phù hợp với tình hình các nước trên thế giới và chuyển đổi cơ sở kế toán sang cơ sở dồn tích là điều tất yếu Dựa vào tình hình này, cần thiết có một nghiên cứu về những nhân tố sẽ tác động đến việc hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tại cơ quan thuế như là một bước chuẩn bị cho sự thay đổi của toàn bộ hệ thống sắp tới
Cơ quan thuế là thuộc đơn vị hành chính, hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực quản lý nhà nước, trực thuộc Bộ Tài chính Đơn vị có mạng lưới hoạt động rộng, phủ khắp các quận, huyện, tỉnh, thành phố tại Việt Nam Kế toán tại cơ quan thuế là một trong những bộ phận của kế toán khu vực công Từ việc khái quát hóa, phân
Trang 26tích, đánh giá các công trình nghiên cứu trong nước và trên thế giới, tác giả chưa thấy có một công trình nghiên cứu nào đi sâu vào phân tích các nhân tố tác động góp phần hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tại cơ quan thuế, hầu hết các nghiên cứu trước đây đều thiên về các khoản thu ngân sách quốc gia về quản lý thuế chứ chưa quan tâm về báo cáo tài chính, cách tổ chức hạch toán các khoản chi ngân sách hoạt động và các khoản thu hoạt động sự nghiệp khác của cơ quan thuế Hơn nữa,
bộ máy hoạt động ngành thuế với những mục tiêu hiện đại hóa, nhân sự đông tiêu tốn rất lớn ngân sách quốc gia cần được công khai, quản lý chặt chẽ, hiệu quả để tránh thất thoát tài sản quốc gia
Dựa trên những kế thừa của nghiên cứu trước, hướng nghiên cứu của tác giả như sau:
- Xây dựng được mô hình các nhân tố tác động đến hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tại các cơ quan thuế trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
- Đánh giá thực trạng tổ chức công tác kế toán tại các cơ quan thuế, ưu điểm
và nhược điểm để từ đó đề xuất những giải pháp phù hợp
và cung cấp thông tin chính xác, nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm giải trình khi sử dụng ngân sách nhà nước và là bước chuẩn bị cho quá trình chuyển đổi, cải cách sắp tới của hệ thống kế toán khu vực công tại Việt Nam
Trang 27CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẠI CÁC CƠ QUAN THUẾ
2.1 Tổng quan về cơ quan thuế
2.1.1 Khái niệm và bộ máy của cơ quan thuế
Cơ quan thuế là đơn vị ngành dọc, trực thuộc Bộ Tài chính sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước để hoạt động trong lĩnh vực quản lý thuế Cơ quan thuế được tổ
chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung, thống nhất trong toàn ngành
Theo điều 2, Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11, cơ quan thuế thuộc các cơ quan quản lý thuế Cơ quan thuế gồm có Tổng cục Thuế, Cục Thuế và Chi cục Thuế Cơ quan thuế thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với các khoản thu nội địa bao gồm: thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác thuộc ngân sách nhà nước Theo điều 1, Quyết định số 115/2009/QĐ-TTg ngày 28/9/2009 của Thủ tướng Chính phủ, Tổng cục Thuế là cơ quan trực thuộc Bộ Tài chính, thực hiện chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Tài chính quản lý nhà nước về các khoản thu nội địa trong phạm vi cả nước, bao gồm: thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác của ngân sách nhà nước; tổ chức quản lý thuế theo quy định của pháp luật Tổng cục Thuế được tổ chức thành hệ thống dọc từ Trung ương đến Địa phương theo đơn vị hành chính, bảo đảm nguyên tắc tập trung thống nhất
Cơ quan Tổng cục Thuế ở Trung ương gồm: Vụ Chính sách; Vụ Pháp chế; Vụ
Dự toán thu thuế; Vụ Kê khai và Kế toán thuế; Vụ Quản lý nợ và Cưỡng chế nợ thuế; Vụ Quản lý thuế thu nhập cá nhân; Vụ Quản lý thuế doanh nghiệp lớn; Vụ Tuyên truyền - Hỗ trợ người nộp thuế; Vụ Hợp tác quốc tế; Vụ Kiểm tra nội bộ; Vụ
Tổ chức cán bộ; Vụ Tài vụ - Quản trị; Văn phòng (có đại diện tại thành phố Hồ Chí Minh); Thanh tra; Cục Công nghệ thông tin; Trường Nghiệp vụ thuế; Tạp chí Thuế Theo điều 1, Quyết định số 108/QĐ-BTC ngày 14/01/2010, Cục Thuế là tổ chức trực thuộc Tổng cục Thuế, có chức năng tổ chức thực hiện công tác quản lý thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác của ngân sách nhà nước thuộc phạm vi nhiệm vụ của ngành thuế trên địa bàn tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương theo quy định của pháp luật
Trang 28Đối với Cục Thuế các tỉnh, thành phố khác, cơ cấu tổ chức bộ máy gồm các phòng: Phòng Tuyên truyền - Hỗ trợ người nộp thuế; Phòng Kê khai và Kế toán thuế; Phòng Quản lý nợ và Cưỡng chế nợ thuế; Một số Phòng Kiểm tra thuế; Một
số Phòng Thanh tra thuế; Phòng Quản lý thuế thu nhập cá nhân; Phòng Tổng hợp - Nghiệp vụ - Dự toán; Phòng Kiểm tra nội bộ; Phòng Tổ chức cán bộ; Phòng Hành chính - Quản trị - Tài vụ - Ấn chỉ; Phòng Tin học Riêng Cục Thuế Hồ Chí Minh và
Hà Nội sẽ tách thêm ra các phòng: Phòng Quản trị - Tài vụ, Phòng Quản lý ấn chỉ; Phòng Hành chính- lưu trữ; Phòng Pháp chế
Theo điều 1, quyết định số 503/QĐ-TCT ngày 29/3/2010 của Tổng cục Trưởng Tổng cục Thuế, Các Chi cục Thuế là tổ chức trực thuộc Cục Thuế ở các quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; có chức năng tổ chức thực hiện công tác quản lý thuế, phí, lệ phí, các khoản thu khác của ngân sách nhà nước thuộc phạm vi nhiệm vụ của ngành thuế trên địa bàn theo quy định của pháp luật
Ở Chi cục Thuế cơ cấu bộ máy gồm các Đội: Đội Tuyên truyền - Hỗ trợ người nộp thuế; Đội Kê khai - Kế toán thuế và Tin học; Đội Thanh tra thuế; Đội Kiểm tra thuế; Đội Quản lý nợ và Cưỡng chế nợ thuế; Đội Tổng hợp - Nghiệp vụ - Dự toán; Đội Quản lý thuế thu nhập cá nhân; Đội Kiểm tra nội bộ; Đội Hành chính - Nhân sự
- Tài vụ - Ấn chỉ; Đội Trước bạ và thu khác; Đội thuế liên xã phường
Tổng cục Thuế, Cục Thuế cấp tỉnh, Chi cục Thuế quận huyện có tư cách pháp nhân, con dấu riêng, được mở tài khoản tại Kho bạc nhà nước theo quy định của pháp luật
2.1.2 Đặc điểm hoạt động của cơ quan thuế
Cơ quan thuế thực hiện chức năng chủ yếu là quản lý thuế, cung cấp dịch vụ công hỗ trợ người nộp thuế Chính phủ giao nhiệm vụ thu ngân sách từ các loại thuế, phí lệ phí, tiền phạt, tiền chậm nộp được nộp vào tài khoản ngân sách quốc gia thông qua Kho bạc nhà nước (không bao gồm: thu tại xã, thu xổ số kiến thiết, thu từ việc bán cổ phần vốn nhà nước tại các doanh nghiệp nhà nước, thu khác của ngân sách) và được tổng hợp trong dự toán thu – chi ngân sách nhà nước hàng năm của
Trang 29Bộ Tài chính trình Chính phủ, Quốc hội phê duyệt Các nguồn kinh phí cơ quan thuế được sử dụng hàng năm bao gồm:
- Kinh phí đảm bảo hoạt động của cơ quan thuế (trong đó có chi thường xuyên
và chi đầu tư xây dựng, mua sắm hiện đại hóa trang thiết bị) theo tỷ lệ phần trăm dựa trên dự toán thu ngân sách nhà nước hàng năm do Quốc hội ấn định
- Nguồn kinh phí ngân sách nhà nước giao để thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước, cấp Bộ; đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức theo chương trình của Nhà nước; thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia, các chương trình, dự án khác của Chính phủ ngoài nhiệm vụ thường xuyên; thực hiện tinh giản biên chế theo chế độ do Nhà nước quy định
- Phí và lệ phí được phép để lại theo quy định của pháp luật phí, lệ phí như phí bán hồ sơ thầu; phí phát hành ấn chỉ được để lại do tự in để bán hoặc được nhận từ cấp trên)
- Các nguồn kinh phí hợp pháp khác được sử dụng theo quy định của pháp luật
Cơ quan thuế tự trang trải các khoản chi tăng thêm theo chính sách, chế độ mới do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo chủ trương và yêu cầu thay đổi chính sách hiện hành Trong trường hợp do các yếu tố khách quan mà cơ quan thuế có mức kinh phí được giao không đủ để đảm bảo mức chi tối thiểu duy trì hoạt động của bộ máy thì thực hiện báo cho cấp trên, sau đó Tổng cục trưởng trình Bộ trưởng Bộ Tài chính, Bộ trưởng Bộ Tài chính trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, điều chỉnh cho phù hợp
2.1.3 Cơ chế quản lý tài chính trong cơ quan thuế
Quy trình quản lý tài chính gồm có ba bước: bắt đầu là việc quản lý lập dự toán thu chi tài chính, sau đó quản lý việc chấp hành dự toán và cuối cùng là quyết toán thu chi tài chính Việc quản lý tài chính tại cơ quan thuế theo phương pháp quản lý theo định mức: Các đơn vị phải lập dự toán cho các khoản mục chi và phải thực hiện cho theo đúng dự toán Cơ chế quản lý tài chính trong cơ quan hành chính nhà nước là cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản
Trang 30lý hành chính Ngày nay, chính phủ ngày càng mở rộng phạm vi tự chủ, mở rộng cơ chế khoán chi giao tự chủ đối với cơ quan thuế Kết thúc năm ngân sách, sau khi hoàn thành các nhiệm vụ được giao, cơ quan thuế thực hiện chế độ tự chủ có số chi thực tế thấp hơn số dự toán được giao thì phần chênh lệch này được xác định là số tiết kiệm chi Đối với các hoạt động nghiệp vụ đặc thù, kinh phí mua sắm, sửa chữa thường xuyên giao thực hiện chế độ tự chủ đã hoàn thành đầy đủ số lượng, khối lượng công việc, đảm bảo chất lượng thì kinh phí chưa sử dụng hết là khoản kinh phí tiết kiệm của đơn vị
Theo điều 2 của Quy chế quản lý tài chính đối với các đơn vị thuộc và trực thuộc Tổng cục Thuế giai đoạn 2016-2020, cơ chế quản lý tài chính của các cơ quan thuế nhằm đảm bảo thực hiện những mục tiêu sau:
- Thực hiện tốt chức năng quản lý nhà nước đối với các khoản thu ngân sách nhà nước và các chức năng, nhiệm vụ được giao của cơ quan thuế
- Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực thuế theo hướng hiện đại, hiệu quả, nâng cao chất lượng hoạt động nghiệp vụ, bảo đảm tính công khai, minh bạch, đơn giản, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp và nhân dân thực hiện nghĩa
vụ nộp thuế và tham gia vào quá trình giám sát công chức thuế
- Đổi mới cơ chế quản lý biên chế và kinh phí hoạt động đối với hoạt động cuat cơ quan thuế, thúc đẩy việc sắp xếp, tổ chức bộ máy, xây dựng lực lượng trong sạch, vững mạnh, có trình độ chuyên môn cao; trao quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm cho thủ trưởng đơn vị trong tổ chức thực hiện công việc, sử dụng lao động và
sử dụng các nguồn lực tài chính
- Chủ động sử dụng nguồn kính phí được giao, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, góp phần bổ sung thu nhập cho cán bộ, công chức, viên chức, tập trung đầu tư cơ sở vật chất, hiện đại hóa công nghệ thông tin và trang thiết bị, bảo đảm điều kiện hội nhập quốc tế; tăng cường đào tạo kiến thức nghiệp vụ và kỹ năng quản lý hiện đại cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức
- Thực hiện công khai, dân chủ theo quy định của pháp luật, bảo đảm quyền lợi hợp pháp cán bộ, công chức, viên chức thuế
Trang 31Các cơ quan thuế căn cứ vào cơ chế quản lý tài chính và biên chế do Bộ Tài Chính quy định, cứ 5 năm cơ quan thuế thực hiện ban hành quy chế quản lý tài chính và định mức chi tiêu nội bộ từ cấp Tổng cục Thuế, Cục Thuế và Chi cục Thuế Điều này sẽ quyết định mức chi và thực hiện quản lý, giám sát chi tiêu theo Quy chế đã ban hành Căn cứ vào quy chế chi tiêu nội bộ, nhân viên trong cơ quan thuế thực hiện và Kho bạc nhà nước kiểm soát chi
2.2 Một số vấn đề chung về tổ chức công tác kế toán tại các cơ quan thuế 2.2.1 Khái niệm
Kế toán là sự ghi nhận, xử lý và cung cấp thông tin bằng số liệu thông qua các báo cáo cho các đối tượng sử dụng Công tác kế toán tại cơ quan thuế được tổ chức theo Luật kế toán và các văn bản hướng dẫn theo các điều quy định trong lĩnh vực
kế toán nhà nước
Tổ chức công tác kế toán là một hệ thống gồm tổ chức bộ máy kế toán, tổ chức vận dụng các phương pháp kế toán, kỹ thuật hạch toán để ghi nhận, xử lý và cung cấp thông tin, tổ chức vận dụng chính sách, chế độ kế toán nhằm đảm bảo công tác kế toán đạt được hiệu quả, cung cấp thông tin hữu ích cho các đối tượng có liên quan
Cơ quan thuế có những đặc thù riêng nên tổ chức hạch toán kế toán cũng có những nét khác biệt so với các đơn vị hành chính sự nghiệp khác Tổ chức công tác
kế toán được tổ chức thành 3 cấp: Tổng cục Thuế, Cục Thuế và Chi cục Thuế; được xác định rõ quyền hạn trách nhiệm và sự phân công cụ thể hợp lý giữa cơ quan thuế ngành dọc cấp trên và chính quyền từng cấp trong tổ chức chỉ đạo thực hiện nhiệm
vụ quản lý thuế được giao
2.2.2 Đối tượng sử dụng thông tin kế toán cơ quan thuế
Thông tin kế toán trong cơ quan thuế thực cung cấp cho chính nó và các đối tượng bên ngoài có liên quan sử dụng để thực hiện giám sát chặt chẽ; phục vụ công tác thanh tra, kiểm tra và là cơ sở để nhà quản lý đưa ra các quyết định về tài chính
- Cơ quan chủ quản:
Trang 32Tổng cục Thuế là cơ quan chủ quản, quản lý trực tiếp các Cục Thuế; Cục Thuế
là cơ quan chủ quản của các Chi cục Thuế Cơ quan chủ quản là đơn vị trực tiếp cấp ngân sách thông qua dự toán Thông tin kế toán mà đơn vị cung cấp là cơ sở để đánh giá hiệu quả hoạt động, kiểm soát ngân sách đã cấp cho các đơn vị cấp dưới và chấp nhận phê duyệt quyết toán báo cáo tài chính hằng năm cho cấp dưới
- Ủy ban nhân dân: Đối với những nguồn kinh phí địa phương như: Kinh phí
Ủy nhiệm thu, Kinh phí thuê lao động…mà Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện cấp cho cơ quan thuế để thực hiện những nhiệm vụ được giao Định kỳ cơ quan thuế phải quyết toán báo cáo với tình hình sử dụng nguồn kinh phí địa phương được cấp này với Ủy ban nhân dân
- Bản thân đơn vị: Công tác kế toán tại đơn vị thực hiện cung cấp thông tin về tình hình hoạt động của đơn vị trong năm để phục vụ cho việc theo dõi, báo cáo, và
hỗ trợ nhà quản lý trong việc điều hành ngân sách; dự toán kinh phí hoạt động cho đơn vị và cấp dưới bám sát thực tế, tiết kiệm, hiệu quả và hoàn thành tốt nhiệm vụ cấp trên giao
- Ngoài ra đơn vị còn cung cấp thông tin cho các đối tượng bên ngoài khác như kho bạc nhà nước, kiểm toán nhà nước, thanh tra chính phủ… để phục vụ công tác kiểm soát chi, giám sát tài chính của đơn vị và kiểm tra tính tuân thủ pháp luật của đơn vị
2.2.3 Hệ thống các văn bản pháp luật về kế toán hiện hành đang áp dụng tại cơ quan thuế
Hệ thống các văn bản pháp luật về kế toán là những cơ sở pháp lý hướng dẫn nhằm đảm bảo cho việc tổ chức công tác kế toán được đúng theo yêu cầu của pháp luật và góp phần nâng cao hiệu quả và chất lượng kế toán Tại Việt Nam, hệ thống pháp luật về kế toán có thể phân ra 3 cấp pháp lý: Luật Kế toán và các nghị định hướng dẫn, hệ thống chuẩn mực kế toán và chế độ, thông tư hướng dẫn kế toán Tổ chức công tác kế toán tại các cơ quan thuế được thực hiện trên cơ sở pháp
lý là Luật kế toán và Luật ngân sách nhà nước Riêng đối với hệ thống pháp luật kế toán công hiện nay chưa có chuẩn mực kế toán công Đối với các cơ quan thuế,
Trang 33chưa có văn bản hướng dẫn về chế độ kế toán dành riêng cho Ngành Chính vì vậy, công tác kế toán ở cơ quan thuế bám sát theo cơ chế quản lý tài chính dành cho đơn
vị và chế độ kế toán dành cho đơn vị hành chính sự nghiệp hiện hành Tác giả xin trình bày các văn bản pháp luật về kế toán công hiện hành mà các cơ quan thuế đang áp dụng:
* Nhóm luật và nghị định quy định về kế toán gồm có:
- Luật Kế toán số 88/2015/QH13 ngày 20 tháng 11 năm 2015 có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2017, Luật này quy định về nội dung công tác kế toán, tổ chức bộ máy kế toán, người làm kế toán, hoạt động kinh doanh dịch vụ kế toán, quản lý nhà nước về kế toán và tổ chức nghề nghiệp về kế toán
- Luật Ngân sách nhà nước số 83/2015/QH13 ngày 25/6/2015 có hiệu lực từ ngày 1/1/2017 quy định về lập, chấp hành, kiểm toán, quyết toán, giám sát ngân sách nhà nước; nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có liên quan trong lĩnh vực ngân sách nhà nước
- Nghị định 174/2016/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Kế toán 2015 áp dụng trong lĩnh vực kế toán nhà nước
* Quyết định nhằm ban hành một chế độ kế toán gồm:
- Quyết định số 19/2006/QĐ-BTC ngày 30/03/2006 của Bộ Tài chính về việc ban hành Chế độ kế toán hành chính sự nghiệp
- Quyết định 2345/2007/QĐ-BTC ngày 11/07/2007 về chế độ kế toán đối với các đơn vị hành chính sự nghiệp thuộc Bộ Tài chính
- Quyết định số 1588/QĐ-TCT ngày 01/10/2014 về việc phân cấp ủy quyền
và tổ chức thực hiện đối với lĩnh vực tài chính, tài sản, đầu tư xây dựng, kiểm tra, kiểm toán nội bộ, ứng dụng công nghệ thông tin, mua sắm tập trung trong các đơn
vị thuộc hệ thống Thuế
Nhóm thông tư hướng dẫn nhằm chi tiết hóa một số nội dung kế toán ở một số lĩnh vực cụ thể, áp dụng cho từng chủ thể ghi chép trong lĩnh vực kế toán công: Thông tư số 185/2010/TT-BTC ngày 15/11/2010 về hướng dẫn sửa đổi chế độ kế toán hành chính sự nghiệp ban hành kèm theo quyết định số 19/2006/QĐ-BTC ngày
Trang 3430/03/2006 của Bộ trưởng Bộ Tài chính; Thông tư 161/2012/TT-BTC ngày 2/10/2012 về quy định chế độ kiểm soát thanh toán các khoản chi ngân sách nhà nước qua Kho bạc nhà nước; Thông tư 39/2016/TT-BTC ngày 01/03/2016 về sửa đổi bổ sung thông tư 161/2012/TT-BTC
Ngoài ra còn có những văn bản pháp quy có liên quan khác đến hoạt động kế toán của cơ quan thuế: cơ chế quản lý tài chính và quy chế chi tiêu nội bộ cho từng đơn vị các cấp cục thuế và chi cục thuế, đầu tư công, xây dựng, mua sắm đấu thầu, quản lý ấn chỉ, kiểm soát chi tại KBNN, mục lục ngân sách nhà nước…
2.2.4 Nguyên tắc của tổ chức công tác kế toán của các cơ quan thuế
Kế toán của cơ quan thuế tuân thủ theo các nguyên tắc kế toán của đơn vị hành chính sự nghiệp Theo giáo trình Kế toán hành chính sự nghiệp của Trường Đại học kinh tế thành phố Hồ Chí Minh, nội dung nguyên tắc kế toán trong đơn vị hành chính sự nghiệp như sau:
- Hoạt động liên tục: Báo cáo tài chính phải được lập trên cơ sở giả định và đơn vị đang hoạt động liên tục và sẽ tiếp tục hoạt động trong một tương lai gần Nếu giả thiết hoạt động liên tục bị vi phạm (đơn vị sắp giải thể, sáp nhập, thanh lý…) thì BCTC phải được lập theo một cơ sở khác và phải giải thích cơ sở đã sử dụng để lập BCTC
- Giá gốc: Tài sản phải được ghi nhận theo giá gốc Giá gốc là khoản chi thực
tế bằng tiền hoặc một khoản tương đương tiền mà đơn vị bỏ ra để có được đối tượng kế toán là các loại tài sản khác nhau Giá gốc của tài sản không được thay đổi trừ khi có các quy định cụ thể theo các văn bản pháp luật của nhà nước
- Phù hợp: Việc ghi nhận các khoản ghi nhận thu và các khoản chi phải phù hợp với nhau Xác định và ghi nhận các khoản chi phải phù hợp với các khoản thu của kỳ kế toán, để có căn cứ quyết toán tình hình thu chi của đơn vị
- Nhất quán: các chính sách và phương pháp kế toán mà đơn vị sử dụng phải nhất quán ít nhất trong một kỳ kế toán năm Trường hợp chính sách và phương pháp
kế toán thay đổi thì đơn vị phải giải trình lý do thay đổi và được cấp có thẩm quyền xác nhận là hợp lý
Trang 35- Thận trọng: Thận trọng là việc xem xét, cân nhắn, phán đoán để lập các ước tính kế toán trong các điều kiện không chắc chắn Nguyên tắc này yêu cầu đơn vị không đánh giá giá trị của các tài sản và các khoản thu nhập cao hơn giá trị thực và không đánh giá giá trị của các khoản nợ phải trả và các khoản chi thấp hơn giá trị thực
-Trọng yếu: Thông tin được coi là trọng yếu trong trường hợp: Thiếu thông tin
đó hoặc thông tin đó không chính xác sẽ làm sai lệch đáng kể BCTC, làm ảnh hưởng đến quyết định của người sử dụng BCTC Tính trọng yếu phụ thuộc vào độ lớn và tính chất của thông tin hoặc các sai sót được đánh giá trong hoàn cảnh cụ thể
- Cơ sở kế toán gồm có cơ sở kế toán tiền mặt và cơ sở kế toán dồn tích Cơ sở dồn tích là các nghiệp vụ kinh tế của đơn vị được ghi nhận vào thời điểm phát sinh, không phải vào thời điểm thực thu, thực chi tiền Cơ sở kế tiền mặt là các nghiệp vụ kinh tế của đơn vụ được ghi nhận vào thời điểm thực thu, thực chi bằng tiền Cơ sở
kế toán dồn tích kết hợp với cơ sở tiền mặt là đặc điểm đặc thù rất quan trọng của
kế toán hành chính sự nghiệp
- Tổ chức kế toán phù hợp với mục lục ngân sách nhà nước: các hoạt động thu, chi của đơn vị đều gắn liền và nằm trong tổng thể thu, chi của ngân sách nhà nước Do vậy, để phục vụ cho yêu cầu tổng hợp và kiểm soát việc thu, chi ngân sách, kế toán đơn vị phải tổ chức theo dõi thu chi phù hợp với quy định của mục lục ngân sách nhà nước
2.3 Nội dung tổ chức công tác kế toán trong các cơ quan thuế
Tổ chức công tác kế toán trong các cơ quan thuế tuân thủ theo Quyết định số 19/2006/QĐ-BTC gồm các nội dung sau:
2.3.1 Tổ chức chứng từ kế toán
Chứng từ kế toán là những giấy tờ, vật mang tin phản ánh nghiệp vụ kinh tế, tài chính và đã phát sinh, làm căn cứ để ghi sổ kế toán.(Theo điều 3, Luật kế toán số 88/2015/QH13) Chứng từ kế toán là căn cứ pháp lý để chứng minh nghiệp vụ kế toán đã phát sinh, là căn cứ để ghi sổ kế toán nên phải được lập, ký, luân chuyển, kiểm tra đúng theo quy định của nhà nước
Trang 36Chứng từ kế toán phải có các nội dung chủ yếu sau đây: tên và số hiệu của chứng từ kế toán; ngày, tháng, năm lập chứng từ kế toán; tên, địa chỉ của cơ quan,
tổ chức, đơn vị hoặc cá nhân lập chứng từ kế toán; tên, địa chỉ của cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc cá nhân nhận chứng từ kế toán; nội dung nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh; số lượng, đơn giá và số tiền của nghiệp vụ kinh tế, tài chính ghi bằng số; tổng số tiền của chứng từ kế toán dùng để thu, chi tiền ghi bằng số và bằng chữ; chữ
ký, họ và tên của người lập, người duyệt và những người có liên quan đến chứng từ
kế toán Ngoài những nội dung chủ yếu của chứng từ kế toán quy định ở trên, chứng
từ kế toán có thể có thêm những nội dung khác theo từng loại chứng từ
Nội dung tổ chức hệ thống chứng từ: Xác định loại chứng từ cần sử dụng; Tổ chức luân chuyển chứng từ; Tổ chức bảo quản và lưu trữ chứng từ
Chứng từ chi ngân sách nhà nước tại các cơ quan thuế sẽ được kiểm soát bởi kho bạc nhà nước Kho bạc nhà nước quy định chứng từ cho tạm ứng và thanh toán trực tiếp Chứng từ đi kho bạc sẽ gồm: giấy rút dự toán (tạm ứng); ủy nhiệm chi; đối với mua sắm tùy theo hình thức lựa chọn nhà thầu sẽ có quyết định lựa chọn nhà thầu; bảng kê chứng từ thanh toán (đối với khoản chi nhỏ); hợp đồng mua bán; hóa đơn; tờ trình; giấy đề nghị thanh toán; đối với khoản chi thanh toán cá nhân có danh sách tên cá nhân và các quyết định chi kèm theo; phiếu chi tiền mặt…
Chứng từ thu ở cơ quan thuế gồm: phiếu thu tiền mặt, giấy báo có từ bảo hiểm
xã hội, giấy báo có các khoản tiền nộp ấn chỉ của cấp dưới hàng tháng,…
Tổ chức luân chuyển chứng từ: Chứng từ được lập và luân chuyển qua các chốt kiểm tra với đầy đủ chữ ký, con dấu pháp nhân và cuối cùng đến kho bạc
Tổ chức lưu trữ chứng từ: Kế toán có trách nhiệm bảo quản chứng từ, nếu có thay đổi về nhân sự thì phải bàn giao có biên bản
2.3.2 Tổ chức hệ thống tài khoản kế toán
"Tài khoản kế toán là phương pháp kế toán dùng để phân loại và hệ thống hóa các nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh theo nội dung kinh tế và theo trình tự thời gian Tài khoản kế toán phản ánh và kiểm soát thường xuyên, liên tục, có hệ thống
về tình hình tài sản, tiếp nhận và sử dụng kinh phí do ngân sách nhà nước cấp và
Trang 37các nguồn kinh phí khác cấp; thu chi hoạt động, kết quả hoạt động và các khoản khác ở các đơn vị hành chính sự nghiệp" (Điều 1, Quyết đinh 19/2006/QĐ-BTC)
Hệ thống tài khoản áp dụng tại cơ quan thuế do Bộ Tài chính ban hành thống nhất về tên gọi tài khoản, số hiệu tài khoản, số lượng tài khoản, nội dung và công dụng tài khoản, trong đó có 7 loại tài khoản Các tài khoản từ loại 1 đến loại 6 là thực hiện phương pháp ghi kép, tài khoản loại 0 theo phương pháp ghi đơn
Cơ quan thuế căn cứ vào hệ thống tài khoản kế toán đã được Bộ Tài chính ban hành để áp dụng cho phù hợp với tình hình, đặc điểm của đơn vị Cơ quan thuế có thể bổ sung tài khoản từ cấp 2 trở đi để phục vụ cho những nghiệp vụ đặc thù của mình, riêng tài khoản cấp 1 phải có văn bản trình và được Bộ Tài chính phê duyệt chấp thuận
2.3.3 Tổ chức chế độ sổ kế toán
Theo Quyết định số 19/2006/QĐ-BTC quy định rằng sổ kế toán dùng để ghi chép, hệ thống và lưu trữ toàn bộ các nghiệp vụ kinh tế, tài chính đã phát sinh theo nội dung kinh tế và theo trình tự thời gian có liên quan đến đơn vị Việc ghi sổ
kế toán nhất thiết phải căn cứ và chứng từ kế toán hợp pháp và mọi số liệu được ghi trên sổ kế toán bắt buộc phải có chứng từ kế toán hợp pháp, hợp lý chứng minh
Sổ kế toán gồm có sổ tổng hợp và sổ chi tiết, là nơi tập hợp chi tiết và hệ thống các cơ sở số liệu từ chứng từ kế toán theo từng nội dung kinh tế và thứ tự thời gian nhằm phục vụ cho công tác lập báo cáo tài chính và kiểm tra, kiểm soát từng loại tài sản, nguồn vốn, nghiệp vụ thu, chi thanh toán tại đơn vị
Đơn vị được phép lựa chọn áp dụng một trong những hình thức kế toán sau đây:
- Hình thức kế toán nhật ký chung
- Hình thức kế toán nhật ký - sổ cái
- Hình thức kế toán chứng từ ghi sổ
- Hình thức kế toán trên máy vi tính:
Đối với các cơ quan thuế đều sử dụng hình thức sổ bằng máy vi tính dựa trên nguyên tắc của hình thức chứng từ ghi sổ Hình thức ghi sổ kế toán của cơ quan
Trang 38thuế được thiết kế trong phần mềm kế toán hành chính sự nghiệp IMAS, cài đặt theo Quyết định số 2345/2007/QĐ-BTC và thống nhất cho toàn ngành
2.3.4 Tổ chức lập và cung cấp thông tin qua hệ thống báo cáo tài chính, báo cáo quyết toán
Báo cáo tài chính và báo cáo quyết toán ngân sách dùng để tổng hợp tình hình về tài sản; tiếp nhận và sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước; tình hình thu, chi
và kết quả hoạt động của đơn vị trong kỳ kế toán nhằm cung cấp thông tin kinh tế, tài chính để đánh giá tình hình thực trạng của đơn vị; giúp kiểm tra giám sát và điều hành hoạt động của đơn vị Báo cáo tài chính và báo cáo quyết toán tại cơ quan thuế
áp dụng theo quy định và hướng dẫn của Quyết định 19/2006/QĐ-BTC bao gồm các mẫu sau:
- Bảng cân đối tài khoản;
- Tổng hợp tình hình kinh phí và quyết toán kinh phí đã sử dụng;
- Báo cáo chi tiết kinh phí hoạt động,;
- Báo cáo chi tiết kinh phí dự án (nếu trong năm có phát sinh);
- Bảng đối chiếu dự toán kinh phí ngân sách tại KBNN; Bảng đối chiếu tình hình tạm ứng và thanh toán tạm ứng kinh phí ngân sách tại KBNN; Báo cáo tình hình tăng giảm tài sản cố định; Báo cáo số kinh phí chưa sử dụng đã quyết toán chuyển sang; Thuyết minh báo cáo tài chính
Báo cáo tài chính của các cơ quan thuế được lập vào cuối kỳ kế toán quý, năm Thời hạn nộp báo cáo tài chính quý: Tổng cục Thuế nộp báo cáo cho cơ quan Tài chính, Kho bạc nhà nước đồng cấp chậm nhất 25 ngày, sau ngày kết thúc kỳ kế toán quý; Cục Thuế nộp báo cáo tài chính cho Tổng cục Thuế và cơ quan tài chính, kho bạc đồng cấp chậm nhất 20 ngày, sau ngày kết thúc kỳ kế toán quý; Chi cục Thuế nộp báo cáo cho Cục Thuế, cơ quan Tài chính và kho bạc đồng cấp chậm nhất
10 ngày, sau ngày kết thúc kỳ kế toán quý
Thời hạn nộp báo cáo quyết toán ngân sách năm của Tổng cục Thuế nộp cho cơ quan cấp trên, cơ quan tài chính và cơ quan thống kê đồng cấp chậm nhất vào cuối ngày 01/10 năm sau; thời hạn nộp báo cáo quyết toán ngân sách năm của
Trang 39Cục Thuế, Chi cục Thuế do Tổng cục Thuế quy định cụ thể theo tình hình hằng năm
Công khai quyết toán ngân sách nhà nước, cơ quan thuế thực hiện theo quy định của thông tư 21/2005/TT-BTC ngày 22/03/2005 về việc hướng dẫn thực hiện quy chế công khai tài chính đối với các đơn vị dự toán ngân sách và các tổ chức được ngân sách nhà nước hỗ trợ quy định như sau: Thủ trưởng các đơn vị dự toán trực tiếp sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước, kinh phí khác công bố công khai quyết toán khi đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt (Thông báo xét duyệt quyết toán) các nội dung chủ yếu: chi mua sắm thiết bị, phương tiện làm việc, sửa chữa lớn tài sản cố định, chi hội nghị; hình thức công khai là niêm yết tại trụ sở làm việc của đơn vị và công bố trong hội nghị cán bộ, công chức; thời điểm công khai là chậm nhất 30 ngày, kể từ ngày có thông báo phê duyệt quyết toán
2.3.5 Tổ chức bộ máy kế toán
Tổ chức bộ máy kế toán ở cơ quan thuế được tổ chức theo ngành dọc phù hợp với các cấp dự toán theo Luật ngân sách nhà nước Nội dung của tổ chức bộ máy kế toán gồm: xác định số lượng nhân viên; yêu cầu trình độ nghề nghiệp, bố trí và phân công công việc cho nhân viên cụ thể; kế hoạch công tác và kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch cụ thể Tổ chức bộ máy kế toán còn phụ thuộc vào quy mô của đơn
vị, yêu cầu quản lý, đặc điểm hoạt động và điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật phục
vụ cho việc xử lý và thu thập thông tin, cung cấp thông tin
Mô hình tổ chức bộ máy kế toán của cơ quan thuế được định hướng theo dạng
tổ chức kế toán phân tán Bộ máy kế toán được phân thành cấp: kế toán trung tâm
và kế toán trực thuộc và đều có sổ sách kế toán riêng cùng bộ máy nhân sự tương ứng để thực hiện chức năng nhiệm vụ của kế toán phân cấp Các đơn vị tổ chức kế toán phân tán tồn tại các mối quan hệ nội bộ dọc (chính với phụ thuộc) và hệ thống ngang (các đơn vị trực thuộc với nhau)
Bên cạnh đó, căn cứ vào các quy định về cơ cấu bộ máy của các cơ quan thuế,
bộ máy kế toán của các cơ quan thuế nằm ở Vụ quản trị - Tài vụ đối với Tổng cục Thuế ; Phòng Quản trị - Tài vụ đối với Cục Thuế Hồ Chí Minh và Hà Nội, Phòng
Trang 40Quản trị Tài vụ Ấn chỉ đối với các Cục Thuế khác ; Đội Hành chính Nhân sự Tài vụ- Ấn chỉ đối với các Chi cục Thuế Tất cả các bộ phận kế toán các cấp của cơ quan thuế đều có sổ sách báo cáo riêng và thực hiện quản lý dọc trừ trên xuống dưới Vụ Quản trị - Tài vụ sẽ chỉ đạo và tổng hợp báo cáo quyết toán của tất cả các Cục Thuế cả nước, Phòng Quản trị - Tài vụ hoặc Quản trị - Tài vụ -Ấn chỉ sẽ chỉ đạo và tổng hợp báo cáo quyết toán của tất cả các Chi cục Thuế trực thuộc và nộp cho cấp trên
-2.3.6 Tổ chức trang bị các điều kiện vật chất kỹ thuật
Để tổ chức công tác kế toán được vận hành tốt và đạt hiệu quả cao thì trang thiết bị vật chất cung cấp một hệ thống công nghệ thông tin chất lượng cao đóng vai trò vô cùng quan trọng Tổ chức trang bị những phương tiện kỹ thuật ứng dụng công nghệ thông tin sẽ đảm bảo tính nhanh nhạy và hữu ích của thông tin kế toán cho nhiều đối tượng khác nhau
- Đầu tư mua sắm hệ thống máy tính, máy đọc mã vạch, máy scan, máy hủy tài liệu, máy in, máy fax, thiết bị kết nối mạng…
- Hệ thống thống phần mềm, tốc độ đường truyền và kết nối dữ liệu
- Tổ chức lưu trữ dữ liệu điện tử qua các ổ cứng
2.3.7 Tổ chức phân tích, kiểm tra kế toán
Theo mục 4, Luật kế toán số 88 quy định về nội dung công tác kiểm tra kế toán như sau:
- Đơn vị chịu sự kiểm tra kế toán của các cơ quan có thẩm quyền và việc kiểm tra chỉ được thực hiện khi có quyết định của cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật Các cơ quan này có thể là cơ quan thanh tra nhà nước, kiểm toán nhà nước, thanh tra Bộ Tài chính, Ủy ban nhân dân, đơn vị cấp trên
- Nội dung kiểm tra bao gồm: thực hiện tổ chức công tác kế toán tại đơn vị về chứng từ, tài khoản kế toán, sổ sách kế toán, báo cáo tài chính, công tác quyết toán cuối năm, hạch toán kế toán; tổ chức bộ máy kế toán và nhân viên kế toán; chấp hành đúng theo luật, chính sách, quy chế hiện hành