1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Pháp luật bảo vệ nguồn lợi thủy sản qua thực tiễn tại cà mau

73 209 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 1,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Định nghĩa về hoạt động thủy sản: Hoạt động thủy sản là việc tiến hành khai thác, nuôi trồng, vận chuyển thủy sản khai thác; bảo quản, chế biến, mua bán, xuất khẩu, nhập khẩu thủy sản

Trang 1

HUỲNH THANH MI

PHÁP LUẬT BẢO VỆ NGUỒN LỢI THỦY SẢN

QUA THỰC TIỄN TẠI CÀ MAU

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2017

Trang 2

HUỲNH THANH MI

PHÁP LUẬT BẢO VỆ NGUỒN LỢI THỦY SẢN

QUA THỰC TIỄN TẠI CÀ MAU

Chuyên ngành: Luật kinh tế

Mã số: 60380107

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS Lê Văn Hưng

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2017

Trang 3

Tôi tên là Huỳnh Thanh Mi – mã số học viên: 7701250685A là học viên

lớp Cao học Luật Cà Mau, Khóa chuyên ngành Luật kinh tế, Khoa Luật, Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, là tác giả của Luận văn thạc sĩ luật học

với đề tài “PHÁP LUẬT BẢO VỆ NGUỒN LỢI THỦY SẢN QUA THỰC TIỄN TẠI CÀ MAU” (sau đây gọi tắt là “Luận văn”)

Tôi xin cam đoan tất cả các nội dung được trình bày trong Luận văn này là kết quả nghiên cứu độc lập của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn của người hướng dẫn khoa học Trong Luận văn có sử dụng, trích dẫn một số ý kiến, quan điểm khoa học của một số tác giả Các thông tin này đều được trích dẫn nguồn cụ thể, chính xác và

có thể kiểm chứng Các số liệu, thông tin được sử dụng trong Luận văn là hoàn toàn khách quan và trung thực./

Học viên thực hiện

Trang 4

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

PHẦN MỞ ĐẦU 1

Chương 1:Lý luận chung về pháp luật bảo vệ nguồn lợi thủy sản 5

1.1 Cơ sở lý luận về bảo vệ nguồn lợi thủy sản 5

1.1.1 Khái niệm về thủy sản 5

1.1.2 Khái niệm nguồn lợi thủy sản và hoạt động thủy sản 6

1.1.3 Khái niệm pháp luật bảo vệ nguồn lợi thủy sản 7

1.1.3.1 Khái niệm 7

1.1.3.2 Vai trò của pháp luật bảo vệ nguồn lợi thủy sản 9

1.2 Pháp luật bảo vệ nguồn lợi thủy sản 11

1.2.1 Nguyên tắc bảo vệ nguồn lợi thủy sản 11

1.2.2 Quy định pháp luật về bảo vệ nguồn lợi thủy sản 13

1.2.3 Quản lý nhà nước về thủy sản 17

1.2.4 Các biện pháp bảo vệ nguồn lợi thủy sản 17

Chương 2: Thực trạng về Bảo vệ nguồn lợi thủy sản tại Cà Mau 21

2.1 Thực trạng về Bảo vệ nguồn lợi thủy sản ở nước ta 21

2.1.1 Thực trạng về khai thác và phát triển nguồn lợi thủy sản 21

2.1.1.1 Bảo tồn và phát triển nguồn lợi thủy sản 21

2.1.1.2 Khai thác nguồn lợi thủy sản 24

2.1.1.3 Nhận xét, đánh giá 27

2.1.2 Thực trạng bảo vệ nguồn lợi thủy sản 29

2.1.2.1 Thực trạng về môi trường nước của nguồn lợi thủy sản 29

2.2 Thực trạng về bảo vệ nguồn lợi thủy sản ở Cà Mau 36

2.2.1 Tổng quan về tỉnh Cà Mau 36

2.2.2 Thực trạng về khai thác thủy sản tại tỉnh Cà Mau 39

2.2.3 Thực trạng bảo vệ nguồn lợi thủy sản tại tỉnh Cà Mau 43

2.3 Thực thi pháp luật về bảo vệ nguồn lợi thủy sản 50

2.3.1 Các quy định pháp luật về thực thi bảo vệ nguồn lợi thủy sản 50

2.3.2 Thực thi pháp luật về bảo vệ nguồn lợi thủy sản trên địa bàn tỉnh Cà Mau .52

Trang 5

54

3.1 Kiến nghị sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật về bảo vệ nguồn lợi thủy sản 543.1.1 Hoàn thiện pháp luật bảo vệ nguồn lợi thủy sản theo hướng phát triển bền vững 543.1.2 Hoàn thiện pháp luật về quản lý nhà nước bảo vệ nguồn lợi thủy sản 553.2 Các giải pháp khác 573.2.1 Cần tăng cường công tác giáo dục pháp luật cho cộng đồng ngư dân về BVNLTS, BVMT 573.2.2 Cần xây dựng hệ thống tổ chức quản lý cộng đồng trong bảo vệ, phát triển, khai thác hợp lý nguồn lợi thủy sản 593.2.3 Cần hỗ trợ cho ngư dân trong tổ chức chuyển đổi ngành nghề khai thác thủy sản ven bờ 603.2.4 Thực hiện tốt công tác phối hợp giữa các ngành, đoàn thể và chính quyền các cấp trong lĩnh vực quản lý khai thác thủy sản 613.2.5 Một số kiến nghị 62

KẾT LUẬN 64 DANH MỤC VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

BVNLTS: Bảo vệ nguồn lợi thủy sản

KTNLTS: Khai thác nguồn lợi thủy sản

NLTS: Nguồn lợi thủy sản

NTTS: Nuôi trồng thủy sản

NN&PTNT: Nông nghiệp và Phát triển nông thôn BVMT: Bảo vệ môi trường

ĐTM: Đánh giá tác động môi trường

Trang 7

Bảng 2.1: Thực trạng sản phẩm khai thác nghề lưới kéo ven bờ 28

Bảng 2.2: Số lượng tàu cá dưới 20 CV theo nghề tại các xã, thị trấn trong tỉnh .40

Bảng 2.3: Nhu cầu chuyển đổi nghề theo nguyện vọng của ngư dân 46

Bảng 2.4: Nhu cầu nâng cấp phương tiện, máy, ngư cụ 48

Bảng 2.5: Bảng thống kê kết quả kiểm tra BVNLTS từ năm 2014 đến nay 52

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Khai thác thủy sản biển đã trở thành vấn đề quan trọng mang tính chiến lược của hầu hết các quốc gia trên thế giới Việt Nam là quốc gia có bờ biển dài hơn 3.260 km, có một vùng biển rộng, hội tụ nhiều đảo, đa dạng về kiểu loại đất ngập nước với nhiều hệ sinh thái đa dạng sinh học cao, đã tạo ra cho đất nước ta tính đa dạng về tiềm năng phát triển và nguồn lợi thủy sản Từ bao đời nay, biển luôn gắn

bó chặt chẽ với mọi hoạt động sản xuất, đời sống của dân tộc Việt Nam Đảng và Nhà nước ta nhận định: “Biển có ý nghĩa to lớn để nước ta phát triển, mở cửa giao lưu với quốc tế và ngày càng có vai trò lớn trong định hướng phát triển tương lai” Với điều kiện tự nhiên thuận lợi, nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú và đa dạng, vùng biển Việt Nam mang trong mình những tiềm năng nổi bật như: khai thác dầu khí, khoáng sản; nuôi trồng và đánh bắt thủy sản; du lịch;… Vì vậy, vấn đề tiến

ra biển để phát triển kinh tế đang là một xu thế tất yếu trong đó khai thác thủy sản là lĩnh vực quan trọng trong việc phát triển kinh tế biển của Việt Nam Khai thác thủy sản trong những năm qua phát triển đã tạo cho ngành thủy sản Việt Nam thực sự có một chỗ đứng ngày một vững chắc trên thị trường thế giới, góp phần vào tăng trưởng kinh tế trong nước, giải quyết việc làm và góp phần đổi mới đời sống nhân dân cho các tỉnh ven biển nói riêng và cả nước nói chung Tuy nhiên, để khai thác thủy sản được phát triển bền vững, thì đòi hỏi phải thực hiện tốt việc BVNLTS, đặc biệt là việc bảo về nguồn thủy sản con, vùng sinh sản tại các vùng biển ven bờ

Khai thác thủy sản là một nghề truyền thống của tỉnh Cà Mau Thời gian qua, khai thác thuỷ sản Cà Mau đã không ngừng phát triển và có những đóng góp quan trọng vào sự nghiệp xây dựng kinh tế tỉnh nhà Phát triển mạnh lực lượng tàu cá có công suất lớn, đánh bắt xa bờ, góp phần chuyển dịch cơ cấu nghề nghiệp khác, giảm

áp lực khai thác đối với vùng biển ven bờ; góp phần xoá đói, giảm nghèo, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống lao động nghề khai thác thủy sản, phát triển nông thôn mới vùng ven biển tỉnh Cà Mau

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, khai thác thủy sản tỉnh Cà Mau vẫn còn một số hạn chế và thách thức, đó là: nguồn lợi thủy sản Cà Mau chịu nhiều sức ép từ việc khai thác quá mức với cường độ cao trong khoảng thời gian dài Bên cạnh đó, môi trường ngày càng suy thoái làm ảnh hưởng đến thủy vực ven bờ, là nơi bãi đẻ, sinh trưởng và phát triển của các loài thủy sản tự nhiên, làm cho nguồn

Trang 9

lợi thủy sản ngày càng suy giảm nghiêm trọng, một số loài thuỷ sản quý hiếm, có giá trị kinh tế cao ít thấy xuất hiện trong thời gian qua

Xuất phát từ tình hình đó, việc nghiên cứu đề tài: “Pháp luật bảo vệ nguồn lợi thủy sản qua thực tiễn tại Cà Mau” sẽ góp phần lý giải nhiều vấn đề cả về lý

luận và thực tiễn trong việc áp dụng pháp luật về BVNLTS Đồng thời, đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển đối với việc BVNLTS trên địa bàn Cà Mau

2 Giả thuyết và câu hỏi nghiên cứu

2.1 Giả thuyết nghiên cứu

Qua phân tích trên, việc nghiên cứu tìm hiểu, phân tích việc áp dụng pháp luậtnhững quy định cơ bản của pháp luật Việt Nam về BVNLTS, có sự đánh giá hệ thống pháp luật Việt Nam về lĩnh vực này, đưa ra đề xuất, kiến nghị cho phù hợp tình hình thực tế Bên cạnh đó, việc đánh giá thực trạng để đưa ra các giải pháp BVNLTS tại Cà Mau, qua đó các địa phương có thể nghiên cứu, rút kinh nghiệm cho việc quản lý tại địa phương mình

Vì vậy, việc đánh giá thực trạng và đề xuất một số giải pháp BVNLTS là rất cần thiết, vừa có ý nghĩa lý luận, vừa có ý nghĩa thực tiễn trong việc góp phần mang lại hiệu lực pháp luật trong việc thực thi pháp luật ở nước ta, đồng thời đề xuất các giải pháp BVNLTS trong thời gian tới

2.2 Câu hỏi nghiên cứu

Để đạt được mục đích nêu trên, nhiệm vụ đặt ra là cần trả lời các câu hỏi dưới đây, cụ thể như sau:

2.2.1 Tại sao tình hình vi phạm pháp luật bảo vệ nguồn lợi thủy sản trong thời gian qua vẫn tồn tại kéo dài, với mức độ khá nghiêm trọng?

2.2.2 Đã qua tổ chức thực thi như thế nào? Gặp những trở ngại gì?

2.2.3 Cần có những giải pháp gì để giải quyết căn cơ tình trạng trên, giúp cho nghề khai thác thủy sản của Cà Mau phát triển ổn định, hiệu quả, bền vững?

3 Tình hình nghiên cứu

Khai thác thủy sản là một trong những thế mạnh của kinh tế Việt Nam Nhận thức được vai trò, vị trí của ngành thủy sản nói chung và khai thác, bảo vệ nguồn lợi thủy sản nói riêng là thế mạnh của nền kinh tế Chính vì thế, thời gian qua đã có nhiều chính sách, nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề này, có thể sơ lược một số chính sách, công trình nghiên cứu như: Ngày 16 tháng 9 năm 2010 Thủ

Trang 10

tướng Chính phủ đã quyết định phê duyệt chiến lược phát triển thủy sản Việt Nam

đến năm 2020; Nghiên cứu “Việt nam: Nghiên cứu ngành thủy sản” của các tác giả

Ronald D.Zweig, chủ nhiệm vụ phát triển Nông thôn và Tài nguyên thiên nhiên

Khu vực Đông Á - Thái Bình Dương, Ngân Hàng Thế giới; Hà Xuân Thông, Viện kinh tế và Quy hoạch Thủy sản Bộ thủy sản, Hà Nội, Việt Nam;… Một nghiên cứu

về “xây dự ng khung phân tích đa chiều và hệ thống chỉ số đánh giá phát triển bền vững ngành thủy sản – Trường hợp ngành thủy sản Khánh Hòa” của nhóm tác giả:

Lê thế Giới, Nguyễn Trường Sơn ở Đạ học Đà Nẵng và Nguyễn Thị Trâm Anh của

Đại học Nha Trang; Phan Thị Dung, Trường Đại học Nha Trang (2010) “Phân tích các nhân tố ảnh hưởng phát triển bền vững khai thác thủy sản vùng duyên hải nam trung bộ“; Võ Phúc Đồng, luận văn thạc sỹ kinh tế Trường Đại học Đà Nẵng (2012) về “Phát triển đánh bắt thủy sản quận Sơn Trà, Thành phố Đà Nẵng”; và

nhiều luâ ̣n văn tha ̣c sĩ đã đề câ ̣p đến khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản; cũng như các bài viết mang tính nghiên cứu trao đổi của các chuyên gia thủy sản đăng trên các tạp chí, website chuyên ngành: Bộ NN&PTNT, Tồng cục Thủy sản, Viện kinh tế và quy hoạch thủy sản, Tuy nhiên, giáo trình, sách tham khảo, các đề tài, những bài viết đều nghiên cứu khái quát chung về khai thác và BVNLTS cũng như đưa ra những giải pháp, phương hướng hoàn thiê ̣n pháp luâ ̣t chung mang tính bao trù m về BVNLTS Thực tế chưa có nghiên cứu nào thực sự chuyên sâu về vấn đề BVNLTS, đặc biệt là giải pháp về BVNLTS tại Cà Mau Chính vì vậy luận văn

“Pháp luật bảo vệ nguồn lợi thủy sản qua thực tiễn tại Cà Mau” là một đề tài

nghiên cứu mang tính cấp thiết nhằm góp phần vào viê ̣c nghiên cứu, hoàn thiện pháp luật về vấn đề BVNLTS phù hợp với thực tiễn phát triển địa phương nói riêng

và của đất nước nói chung

4 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Mục đích

Nghiên cứu các vấn đề về pháp lý, về các quy định của pháp luật có liên quan đến BVNLTS; đánh giá thực trạng về vấn đề BVNLTS ở Cà Mau thời gian qua, có các kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật và đề xuất giải pháp trong công tác BVNLTS

4.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến BVNLTS ở Việt Nam

Trang 11

Phạm vi nghiên cứu của đề tài là các vấn đề liên quan đến BVNLTS; thực trạng pháp luật về bảo vệ nguồn lợi thủy sản và các kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về BVNLTS ở Việt Nam.

5 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu như: phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, phương pháp nghiên cứu tài liệu, phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, phân tích số liệu; kết hợp giữa lý luận và thực tiễn

để phân tích chứng minh các nội dung trong luận văn

6 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài

Rất nhiều các đề tài nghiên cứu về BVNLTS, nhưng luận văn là tài liệu nghiên cứu chuyên sâu về bảo vệ nguồn lợi thủy sản ở Cà Mau Luận văn có những đóng góp mới như sau:

- Làm sáng tỏ về mặt lý luận đối với các quy định pháp luật về BVNLTS và đặc biệt là đưa ra các khái niệm khoa học liên quan đến BVNLTS;

- Đánh giá thực trạng BVNLTS tại Cà Mau;

- Chỉ ra những mặt tồn tại, hạn chế, đề ra những kiến nghị đối với hệ thống pháp luật về BVNLTS của nước ta và đề xuất giải pháp trong công tác BVNLTS tại địa phương

Trang 12

Chương 1:Lý luận chung về pháp luật bảo vệ nguồn lợi thủy sản

1.1 Cơ sở lý luận về bảo vệ nguồn lợi thủy sản

1.1.1 Khái niệm về thủy sản

Thủy sản theo Từ điển bách khoa toàn thư là thuật ngữ chỉ chung cho những sản vật đem lại cho con người từ môi trường nước và được con người khai thác, nuôi trồng, thu hoạch và sử dụng làm thực phẩm, nguyên liệu hoặc kinh doanh trên thị trường Như vậy, nguồn lợi thủy sản theo khái niệm Luật thủy sản 2003 đưa ra là tài nguyên sinh vật trong vùng nước tự nhiên nhưu ao, hồ, song, ngòi, biển… đem lại giá trị kinh tế, giá trị nghiên cứu khoa học để phát triển KTTS, bảo tồn và phát triển NLTS

Dựa trên đặc điểm cấu tạo loài, tính ăn có thể phân loại thủy sản thành các nhóm như sau:

- Nhóm cá: Là những động vật nuôi có đặc điểm cá rõ rệt, chúng có thể là cá nước ngọt hoặc cá nước lợ

- Nhóm giáp xác: Phổ biến nhất là nhóm giáp xác mười chân, trong đó tôm

và cua là các đối tượng nuôi phổ biến và khá quan trọng

- Nhóm động vật thân mềm: gồm các loài có vỏ vôi, nhiều nhất là nhóm hai mảnh vỏ và đa số sống ở biển

- Nhóm rong: Là các loài thực vật bậc thấp, đơn bào, đa bào, có loại có kích thước nhỏ, nhưng cũng có loại có kích thước lớn như Chlorella, Spirulina, Chaetoceros,Sargassium (Alginate), Gracillaria…

- Nhóm bò sát và lưỡng cư: Bò sát là động vật bốn chân có màng ối Còn lưỡng cư là những loài có thể sống cả trên cạn lẫn dưới nước được nuôi để lấy thịt, lấy da dung làm thực phẩm hoặc dùng trong mỹ nghệ như đồi mồi, cá sấu…

Thủy sản là một trong những ngành hàng sản xuất kinh doanh, hoạt động kinh tế nằm trong tổng thể kinh tế - xã hội của loài người nhất là quốc gia có địa hình thủy văn phong phú vì nó cung cấp thực phẩm chon hu cầu của người dân NLTS là nguồn thực phẩm quan trọng và không thể thiếu đối với con người trên toàn thế giới Ngày này nuôi trông thủy sản cung cấp khoảng 27% tổng sản lượng thủy sản thế giới, chiếm gần 30% sản lượng dung làm thực phẩm Đối tượng nuôi trồng rất phong phú mọi chủng loại Theo dự báo của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hiệp quốc - FAO, nhu cầu thủy sản trên đầu người luôn tăng cao Nhu cầu tăng

Trang 13

sẽ được bù đắp chủ yếu bằng tăng trưởng nguồn cung thủy sản nuôi trồng, dự kiến đạt 102 triệu tấn vào năm 2025, tăng 39% so với giai đoạn trước

1.1.2 Khái niệm nguồn lợi thủy sản và hoạt động thủy sản

- Theo nghĩa rộng, nguồn lợi thủy sản là những sinh vật có ích sống trong môi trường nước

- Định nghĩa về nguồn lợi thủy sản: Nguồn lợi thủy sản là tài nguyên sinh vật

trong vùng nước tự nhiên, có giá trị kinh tế, khoa học để phát triển nghề khai thác thủy sản, bảo tồn và phát triển nguồn lợi thủy sản (khoản 1 Điều 2 Luật thủy sản)

Tài nguyên thủy sản là tài nguyên sinh vật (động vật, thực vật hay vi sinh vật) sống ở các vùng nước tự nhiên (vùng nước nội địa và vùng biển thuộc chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam), có giá trị kinh tế (chế biến, sử dụng), giá trị khoa học (nghiên cứu đa dạng sinh học)

Tài nguyên thủy sản là một loại tài nguyên có thể phục hồi, có khả năng tái tạo, tuy nhiên phải khai thác trong giới hạn trữ lượng cho phép, tránh sự tuyệt chủng và gây mất cân bằng sinh thái

- Định nghĩa về hoạt động thủy sản: Hoạt động thủy sản là việc tiến hành

khai thác, nuôi trồng, vận chuyển thủy sản khai thác; bảo quản, chế biến, mua bán, xuất khẩu, nhập khẩu thủy sản; dịch vụ trong hoạt động thủy sản; điều tra, bảo vệ

và phát triển nguồn lợi thủy sản (khoản 2, Điều 2, Luật thủy sản)

Hoạt động thủy sản là một hoạt động rất rộng, bao gồm nhiều khâu khác nhau và được thực hiện thông qua vai trò của Bộ quản lý chuyên ngành là Bộ NN&PTNT

NTTS có quy mô khác nhau tùy thuộc vào điều kiện phát triển của từng quốc gia: từ quy mô gia đình gắn liền với hệ thống canh tác tổng hợp đến những trang trại nuôi chuyên công nghiệp hóa quy mô lớn Cùng với việc gia tăng sản xuất, thương mại thủy sản toàn cầu cũng phát triển một cách nhanh chóng đặc biệt là các hàng hóa thủy sản sống và tươi đang ngày một tang nhanh Sự bùng nổ dân số thế giới cùng hậu quả của quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa ngày càng làm thu hẹp đất canh tác trong nông nghiệp lẫn ngư nghiệp cộng thêm những diễn biến bất lợi

do thiên nhiên gây ra đã khiến lương thực, thực phẩm trở thành mặt hàng chiến lược trên thị trường thế giới Trong điều kiện đó sản phẩm thủy sản ngày càng chiếm vị trí quan trọng Vì vậy, phát triển nguồn lợi thủy sản ở những nơi có điều kiện không đơn thuần là đòi hỏi cấp bách và lâu dài cho việc giải quyết thực phẩm tại chỗ, giải quyết lao động việc làm mà ngành sản xuất này đang và đầy hứa hẹn có thể trở

Trang 14

thành ngành kinh doanh có lãi suất cao với xu hướng ổn định lâu dài trên thị trường quốc tế Đây là tiền đề quan trọng bậc nhất của sản xuất kinh doanh thủy sản và tiếp tục là một trong những xuất phát điểm quan trọng cho việc xây dựng chiến lược và quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội quốc gia

Tầm quan trọng của nguồn lợi thủy sản đặt ra yêu cầu cần có một cơ chế đảm bảo cho nguồn tài nguyên này được sử dụng và phát huy tác dụng đúng cách nhằm góp phần phát triển bền vững nền kinh tế nội địa Bảo vệ nguồn lợi thủy sản

là mọi hoạt động nhằm ngăn chặn, xử lý, khắc phục những nguy cơ, tác động xấu

do thiên nhiên và con người có thể gây ra cho khả năng sinh lợi của nguồn tài nguyên thủy sản Nhà nước bảo vệ lợi ích quốc gia về tài nguyên và môi trường nói chung trong đó có tài nguyên thủy sản, thống nhất quản lý bảo vệ môi trường trên

cả nước, có chính sách đầu tư, bảo vệ môi trường Để bảo vệ nguồn lợi thủy sản cũng như bảo vệ môi trường nói chung có rất nhiều biện pháp khác nhau nhưng phổ biến là các nhóm biện pháp như: Nhóm biện pháp chính trị; Nhóm biện pháp tuyên truyền giáo dục; Nhóm biện pháp kinh tế, tài chính; Nhóm biện pháp mang tính khoa học, kỹ thuật và công nghệ; Nhóm biện pháp pháp lý

1.1.3 Khái niệm pháp luật bảo vệ nguồn lợi thủy sản

1.1.3.1 Khái niệm

Trong số các biện pháp BVNLTS nêu trên thì biện pháp pháp lý giữ vai trò cũng như tầm quan trọng đặc trưng Bởi môi trường nước là khởi nguồn đem lại nguồn lợi thủy sản và môi trường nước bị hủy hoại chủ yếu dưới sự tác động của con người Chính con người trong quá trình khai thác nguồn lợi thủy sản đã làm mất

đi sự cân bằng sinh thái, gây ô nhiễm môi trường và gây thiệt hại cho nguồn lợi thủy sản Vì vậy, muốn BVNLTS thì trước hết phải tác động đến con người Pháp luật với tư cách là hệ thống quy phạm điều chỉnh hành vi xử sự con người sẽ có tác dụng cũng như ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động BVNLTS Hiện nay, pháp luật BVNLTS chưa được quy định thành một chế định riêng biệt mà nằm trong hệ thống pháp luật bảo vệ môi trường Cho nên muốn hiểu pháp luật BVNLTS trước hết ta cần hiểu rõ về pháp luật bảo vệ môi trường

Ở Việt Nam cũng như hầu hết các nước trên thế giới, luật môi trường ra đời muộn so với các ngành luật khác Sự can thiệp trực tiếp của các cơ quan nhà nước vào các hoạt động bảo vệ môi trường để ngăn chặn sự hủy hoại hoặc suy thoái của môi trường khiến lĩnh vực pháp luật này mang nhiều dấu ấn quyền lực Chính vì vậy, cũng có quan điểm cho rằng luật môi trường là một mảng hay một chế định

Trang 15

của luật hành chính Bên cạnh đó, cũng có quan điểm cho rằng luật môi trường là ngành luật độc lập, không thuộc phạm vi của luật hành chính mặc dù các quy định

về quản lý nhà nước đối với môi trường khá phổ biến trong các quan hệ được coi là đối tượng của nó

Vấn đề đặt ra là pháp luật môi trường có hoàn toàn thuộc luật hành chính hay

là một lĩnh vực pháp luật độc lập Quan điểm coi luật môi trường là bộ phận của luật hành chính có hạt nhân hợp lý của nó Đó là tính chất quản lý nhà nước đối với hoạt động liên quan đến môi trường Phần lớn các quy định của luật môi trường đều

có mục tiêu là giúp nhà nước quản lý hoạt động nào có khả năng tác động đến môi trường Trên thực tế, không có bất cứ hoạt động nào nằm ngoài môi trường cụ thể

kể cả hoạt động khai thác, sử dụng nguồn lợi thủy sản Vì vậy, có thể nói rằng xét ở góc độ môi trường thì phạm vi hoạt động quản lý nhà nước là hết sức rộng lớn Tuy nhiên, luật môi trường không nên coi là bộ phận của luật hành chính bởi tất cả các ngành luật khác cũng đều có yếu tố quản lý hành chính như luật môi trường Luật môi trường cần được coi là lĩnh vực luật riêng biệt xuất phát từ những cơ sở khoa học và thực tiễn của nó

Sự phát triển của luật môi trường ở một số nước cũng cho thấy tính riêng biệt (độc lập tương đối) của lĩnh vực pháp lý này Ở Mỹ, nơi pháp luật môi trường xuất hiện sớm nhất, nơi có các án lệ liên quan đến bồi thường do gây ô nhiễm môi trường Các văn bản pháp luật về môi trường cũng xuất hiện khá sớm so với nhiều nước như Đạo luật về sông và bến cảng năm 1899 được ban hành việc cấm xả chất thải vào vùng nước của Mỹ; Năm 1967, Quốc hội Mỹ ban hành Luật về chất lượng không khí; Luật bảo vệ môi trường liên bang năm 1969; Luật về sản phẩm an toàn năm 1972; Luật nước sạch1… Nhiều đạo luật khác về môi trường cũng được tiếp tục ban hành và tạo nên một hệ thống pháp luật môi trường đầy đủ và toàn diện Luật môi trường ở Mỹ được coi là lĩnh vực pháp luật riêng biệt, không nằm trong phạm vi pháp luật hành chính Australia cũng là quốc gia có sự phát triển đáng lưu

ý về lĩnh vực luật môi trường Trong số những đạo luật quan trọng của chính quyền liên bang về môi trường có thể kể đến Luật bảo vệ môi trường năm 19812; Luật bảo

vệ tầng ozon năm 1989… Sự phát triển của hoạt động lập pháp cũng như khoa học luật môi trường đã khiến cho luật môi trường ở Australia phát triển mạnh như một lĩnh vực luật riêng biệt Ở một số nước khác như Singapore, Philippine cũng đều

1 The Clean Water Atc

2 Evironmental Protection Act of 1982

Trang 16

chú trọng phát triển luật môi trường không chỉ ở phương diện lập pháp mà cả ở phương diện khoa học và đào tạo Cả Philippine và Singapore đều coi luật môi trường là lĩnh vực lập pháp riêng Ở các nước châu Âu khác như Thụy Điển, Pháp, Đức… luật môi trường cũng được tiếp cận và phát triển theo xu hướng tương tự

Mặc dù vấn đề luật môi trường có phải là ngành luật độc lập hay không chẳng có nhiều giá trị thực tiễn song việc định nghĩa luật môi trường cũng có ý nghĩa nhất định về mặt học thuật Để định nghĩa được luật môi trường cần xác định những vấn đề mà luật điều chỉnh Một số nhà luật học cho rằng luật môi trường bao gồm quy định cũng như thực tiễn pháp luật có đối tượng hay có sự tác động đến việc bảo vệ môi trường.3 Theo các nhà luật học Australia, luật môi trường cần ưu tiên điều chỉnh những vấn đề bao gồm: Thiết lập các cơ chế hành chính để bảo vệ các lợi ích chung về một môi trường an toàn, lành mạnh và thoải mái; Bảo tồn các giống loài; Đảm bảo cho các viên chức chính quyền quyền hạn kiểm soát tính thân thiện môi trường trong các hoạt động quan trọng; thúc đẩy việc chuẩn bị và thực hiện kế hoạch và thực hiện các cơ chế bảo vệ và thực thi; thiết lập các thủ tục xem xét khiếu nại.4 Luật môi trường Việt Nam cũng cần giải quyết những vấn đề tương

tự dù có thể sử dụng cách tiếp cận khác

Thông qua những phân tích về phạm vi của Luật môi trường như đã nêu, có thể đưa ra định nghĩa về luật môi trường như sau: Luật môi trường là lĩnh vực pháp luật chuyên ngành bao gồm các quy phạm pháp luật, các nguyên tắc pháp lý điều chỉnh các quan hệ phát sinh giữa các chủ thể trong quá trình khai thác, sử dụng hoặc tác động đến một hoặc một vài yếu tố của môi trường trên cơ sở kết hợp các phương pháp điều chỉnh khác nhau nhằm bảo vệ một cách có hiệu quả môi trường sống của con người

Qua đó ta có thể rút ra khái niệm của pháp luật BVNLTS là bộ phận của pháp luật bảo vệ môi trường trong đó bao gồm các quy phạm pháp luật, các nguyên tắc pháp lý điều chỉnh các quan hệ phát sinh giữa các chủ thể trong quá trình khai thác, sử dụng hoặc tác động đến nguồn lợi thủy sản trên cơ sở kết hợp các phương pháp khác nhau nhằm bảo vệ một cách có hiệu quả tài nguyên thủy sản

1.1.3.2 Vai trò của pháp luật bảo vệ nguồn lợi thủy sản

Ý nghĩa của pháp luật trong BVNLTS thể hiện qua những khía cạnh sau:

3 Ball & Bell on environment law Blackstone Press Limited Fourth Edition Page 4

4 Enviromental law in Australia Butterworths, 1995, page 2

Trang 17

- Pháp luật quy định các quy tác xử sự của con người phải thực hiện khi khai thác và sử dụng nguồn lợi thủy sản Môi trường nước vừa là điều kiện sống của con người lẫn các cá thể thủy sinh vừa là đối tượng chịu sự tác động hàng ngày của con người Sự tác động của con người làm biến đổi rất nhiều hiện trạng của môi trường nước theo chiều hướng làm suy thoái các yếu tố của nó Chính vì lý do đó, việc khai thác có định hướng, có tính đến sự cân bằng của môi sinh có tác dụng rất lớn trong việc bảo vệ nguồn lợi thủy sản Pháp luật với tư các là công cụ điều tiết hành vi của các thành viên trong xã hội có tác dụng rất lớn trong việc định hướng quá trình khai thác và sử dụng nguồn lợi thủy sản Con người sử dụng và KTNLTS theo những quy định nhất định sẽ hạn chế được những tác hại và ngăn chặn được những suy thoái Thực tiễn ở nhiều quốc gia đã chứng minh vị trí lo lớn của việc tuân thủ các quy định về BVNLTS trong khai thác và chế biến nguồn tài nguyên này

- Pháp luật quy định các chế tài hình sự, kinh tế, hành chính để buộc các cá nhân, tổ chức thực hiện đầy đủ các đòi hỏi của pháp luật trong khai thác và sử dụng nguồn lợi thủy sản Việc đưa ra các tiêu chuẩn để định hướng hành vi khai thác và

sử dụng tài nguyên thủy sản có ý nghĩa rất quan trọng Tuy nhiên, không phải trong mọi tình huống các tiêu chuẩn này đều được tuân thủ và chấp hành một cách tự giác Sự vi phạm xảy ra thường xuyên hơn đối với những nguồn lợi đem lại lợi ích kinh tế cao cũng như có sự hiện diện mâu thuẫn giữa nhu cầu cấp bách của cuộc sống và yêu cầu bảo vệ môi trường Điều này dễ dẫn đến những vi phạm liều lĩnh của nhiều cá nhân và tổ chức Bằng các chế tài hình sự, hành chính, dân sự, pháp luật tác động tới những hành vi vi phạm Các chế tài này hoặc cách ly những kẻ vi phạm nguy hiểm khỏi xã hội hoặc áp dụng hậu quả vật chất, tinh thần đối với họ

Từ đó có tác dụng ngăn chặn hành vi vi phạm và còn có tác dụng giáo dục công dân tôn trọng pháp luật bảo vệ môi trường cũng như pháp luật BVNLTS

- Pháp luật quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các tổ chức BVNLTS BVNLTS nói riêng và bảo vệ môi trường nói chung là công việc rất khó khăn và phức tạp Với môi trường nước có phạm vi rộng lớn, có kết cấu phức tạp, quy luật hoạt động luôn thay đổi nên việc bảo vệ chúng đòi hỏi phải có hệ thống các

tổ chức thích hợp Pháp luật có tác dụng rất lớn trong việc tạo ra cơ chế hoạt động hiệu quả cho các tổ chức BVNLTS Cụ thể, thông qua pháp luật, Nhà nước quy định chức năng, quyền hạn, nhiệm vụ của các tổ chức này

- Vai trò to lớn của pháp luật BVNLTS thể hiện ở việc ban hành các tiêu chuẩn môi trường như tiêu chuẩn về nước sạch Các tiêu chuẩn này thực chất là

Trang 18

những tiêu chuẩn kỹ thuật Tuy nhiên, do được ban hành dưới dạng các văn bản pháp lý nên chúng trở thành những tiêu chuẩn pháp lý, tức là những tiêu chuẩn mà các cá nhân, tổ chức trong xã hội phải tuân thủ nghiêm ngặt khi khai thác, sử dụng các yếu tố khác nhau của nguồn lợi thủy sản Các tiêu chuẩn môi trường là cơ sở pháp lí cho việc xác định vi phạm pháp luật BVNLTS Chúng là cơ sở để cơ quan

có thẩm quyền truy cứu trách nhiệm đối với những hành vi vi phạm

- Một trong những biểu hiện rõ nét về vai trò BVNLTS của pháp luật là việc giải quyết các tranh chấp liên quan Trong quá trình khai thác nguồn lợi thủy sản, giữa các tổ chức, cá nhân có thể xảy ra những tranh chấp Tranh chấp có thể diễn ra giữa cá nhân với nhau hoặc giữa cá nhân với các doanh nghiệp hoặc các cơ quan nhà nước Tranh chấp về nguồn lợi thủy sản là tranh chấp liên quan đến việc khai thác, sử dụng nguồn lợi thủy sản

1.2 Pháp luật bảo vệ nguồn lợi thủy sản

1.2.1 Nguyên tắc bảo vệ nguồn lợi thủy sản

Nguyên tắc phải phù hợp với Hiến pháp

Trước hết, phải khẳng định rằng: Hiến pháp là một bộ phận quan trọng nhất của hệ thống pháp luật Trong hệ thống các văn bản pháp luật của nhà nước ta thì Hiến pháp không thể quy định được tất cả những gì liên quan tới nhà nước và xã hội nên đòi hỏi phải có sự chi tiết, cụ thể hóa các quy định của hiến pháp bằng các văn bản pháp luật khác Việc chi tiết, cụ thể hoá hiến pháp bằng các văn bản pháp luật khác phải được thực hiện trên cơ sở hiến pháp và phải bảo đảm điều kiện là tất cả các văn bản pháp luật đó luôn phù hợp, không được trái với hiến pháp Và pháp luật bảo vệ nguồn lợi thủy sản với tư cách bộ phận của hệ thống pháp luật nước ta không nằm ngoài sự điều chỉnh của nguyên tắc hiến định này

Nguyên tắc phải đảm bảo tính thống nhất trong quản lý và bảo vệ môi trường

Như đã phân tích, môi trường là thể thống nhất các yếu tố vật chất khác trong đó có môi trường nước là môi sinh của các loài thủy sản Vì vậy, trong việc quản lý và bảo vệ môi trường cần sự thống nhất tạo điều kiện cho cơ quan có thẩm quyền hoạt động hiệu quả Nguyên tắc đảm bảo tính thống nhất trong quản lý môi trường được xác định trong Điều 8 Hiến pháp 2013 cũng như Luật bảo vệ môi trường năm 2014 nguyên tắc này đòi hỏi những nội dung sau:

Trang 19

- Các chính sách cũng như quy định pháp luật về bảo vệ nguồn lợi thủy sản được ban hành với sự cân nhắc toàn diện đến các yếu tố có ảnh hưởng tới môi trường để việc điều chỉnh các quan hệ xã hội trong lĩnh vực này không bi phân tán

và thiếu đồng bộ Trong thực tế, không ít các chính sách và quy định của pháp luật được ban hành chỉ nhằm giải quyết một hiện tượng cụ thể trước mắt không tính đến ảnh hưởng dây chuyền của văn bản đó đối với các hiện tượng xã hội khác

- Việc quản lý nguồn lợi thủy sản được thực hiện dưới sự điều hành của một

hệ thống cơ quan thống nhất Đòi hỏi này trên thực tế đã được đáp ứng khá đầy đủ ở Việt Nam Vai trò, chức năng và quyền hạn của hệ thống cơ quan này đã được xác định và phân công tương đối hợp lý

- Các tiếu chuẩn môi trường liên quan đến nguồn lợi thủy sản, các quy trình đánh giá tác động môi trường cũng như thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường với tư cách là những công cụ kỹ thuật quan trọng của quản lý môi trường cần được xây dựng, áp dụng một cách thống nhất trong phạm vi cả nước

- Việc bảo vệ môi trường của nguồn lợi thủy sản cần được cọi là sự nghiệp của toàn dân Mọi công dân, mọi tổ chức đều phải tham gia bảo vệ môi trường thông qua việc tuân thủ các quy định pháp luật BVNLTS, thực hiện các hành động chung của cộng đồng nhằm bảo vệ nguồn tài nguyên này

Nguyên tắc bảo đảm sự phát triển bền vững

Phát triển bền vững thực chất là sự liên kết giữa tăng trưởng kinh tế do nguồn lợi thủy sản đem lại với bảo vệ môi trường và các giá trị khác Phát triển bền vững là một trong những nguyên tắc quan trọng trong hệ thống pháp luật quốc tế về môi trường mà được hầu hết các quốc gia đưa vào hệ thống pháp luật của mình Pháp luật môi trường cũng như pháp luật thủy sản Việt Nam cũng đặc biệt coi trọng

nguyên tắc phát triển bền vững Khoản 1 Điều 4 Luật thủy sản 2003 quy định: Bảo đảm hiệu quả kinh tế gắn với bảo vệ, tái tạo và phát triển nguồn lợi thuỷ sản, tính

đa dạng sinh học; bảo vệ môi trường và cảnh quan thiên nhiên Việc phát triển các lĩnh vực trong hoạt động thuỷ sản phải theo quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành Thuỷ sản trong phạm vi cả nước và của từng địa phương Nguyên tắc bảo đảm phát

triển bền vững có những yêu cầu đặt ra như sau:

- Các biện pháp bảo vệ nguồn lợi thủy sản phải được coi là yếu tố cấu thành trong chiến lược hoặc các chính sách phát triển kinh tế của đất nước, của địa phương, vùng và của từng tổ chức;

Trang 20

- Phải tạo ra một bộ máy và cơ chế quản lý có hiệu quả để tránh tham nhũng

và lãng phí nguồn lực, nhất là nguồn tài nguyên thủy sản;

- Phải hoàn thiện quá trình quyết định chính sách và tăng cường tính công khai của các quá trình đó đảm bảo để cho các quyết định, chính sách ban hành nhằm vào sự phát triển bền vững

- Coi đánh giá tác động môi trường như một bộ phận cấu thành của các dự án đầu tư phát triển nguồn lợi thủy sản

Nguyên tắc coi trọng tính phòng ngừa

Môi trường nói chung cũng như môi trường nước nói riêng khác các hiện tượng xã hội ở khả năng khôi phục hiện trạng hoặc là không thể hoặc rất khó khan, tốn kém và mất nhiều thời gian Chính vì vậy, ngăn ngừa những hành vi gây hại đến môi trường cần được chú trọng hơn việc áp dụng các hình phạt hoặc chế tài Luật môi trường coi phòng ngừa là nguyên tắc chủ yếu Nguyên tắc này hướng việc ban hành và áp dụng các quy định pháp luật vào công tác ngăn chặn các chủ thể thực hiện hành vi có khả năng gây hại cho nguồn lợi thủy sản

Các biện pháp ngăn chặn trong BVNLTS rất đa dạng Tuy nhiên, bản chất chính của các biện pháp phòng ngừa là bằng việc kích thích lợi ích hoặc triệt tiêu các lợi ích vốn là động lực của việc vi phạm pháp luật, nâng cao ý thức tự giác của con người trong việc thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường

1.2.2 Quy định pháp luật về bảo vệ nguồn lợi thủy sản

Trong hoạt động thực hiện quy phạm pháp luật về BVNLTS cũng như nghiên cứu khoa học pháp lý về bảo vệ nguồn lợi thủy sản, vấn đề quan trọng đặt ra

là cần xác định được những văn bản pháp luật chứa đựng các quy phạm pháp luật

đó Nguồn của pháp luật BVNLTS bao gồm hệ thống những văn bản pháp luật do nhiều cơ quan có thẩm quyền ban hành Nhiều quy phạm pháp luật đã được ban hành trong văn bản pháp luật chung về bảo vệ môi trường cà cũng có văn bản pháp luật riêng về thủy sản Chính vi vậy việc xác định các văn bản hiện hành về BVNLTS có ý nghĩa trong việc xác định hiệu lực của các quy phạm Hiện nay, hệ thống văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động BVNLTS bao gồm:

- Hiến pháp năm 2013 quy định rõ quyền và nghĩa vụ của người dân với môi

trường: “Mọi người có quyền được sống trong môi trường trong lành và có nghĩa

vụ bảo vệ môi trường”

- Luật bảo vệ môi trường năm 2014 Bên cạnh Hiến pháp với tư cách là đạo

luật gốc có ý nghĩa nền tảng, các luật chuyên ngành cũng chứa đựng những quy

Trang 21

định điều chỉnh chung trong lĩnh vực môi trường có liên quan đến BVNLTS Trong

số các đạo luật được coi là nguồn của pháp luật BVNLTS trước hết phải kể đến luật đơn được ban hành để điều chỉnh các vấn đề cụ thể về môi trường Luật bảo vệ môi trường đã được Quốc hội Khóa XIII thông qua tại phiên họp ngày 23 tháng 6 năm

2014 của Kỳ họp thứ 7, gồm có 20 chương, 170 điều (tăng 05 Chương và 34 điều so với Luật bảo vệ môi trường năm 2005) Luật bảo vệ môi trường là công cụ pháp lý quan trọng nhằm giữ gìn, bảo vệ môi trường phục vụ cho phát triển bền vững, bảo đảm quyền được sống trong môi trường trong lành của toàn thể nhân dân theo tinh thần Hiến pháp năm 2013 Liên quan đến bảo vệ nguồn lợi thủy sản được quy định trong Luật bảo vệ môi trường bao gồm những quy định về: Quy hoạch bảo vệ môi trường, chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường có liên quan đến nguồn lợi thủy sản; bảo vệ môi trường trong khai thác, sử dụng nguồn lợi thủy sản; Quy định bảo vệ môi trường biển, môi trường các nguồn nước khác; Bảo vệ môi trường trong sản xuất, kinh doanh, dịch vụ thủy sản; Quy định về quản

lý chất thải; Xử lý ô nhiễm, phục hồi và cải thiển môi trường; Phòng ngừa, ứng phó

và khắc phục các sự cố môi trường có liên quan đến nguồn lợi thủy sản; Quy chuẩn

kỹ thuật, tiêu chuẩn môi trường…

- Luật Thủy sản năm 2003 là Luật đơn điều chỉnh trực tiếp hoạt động bảo vệ

nguồn lợi thủy sản Được xây dựng phù hợp với Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; thể chế hoá đường lối chính sách của Đảng và Nhà

nước: "Phát huy lợi thế về thuỷ sản, tạo thành một ngành kinh tế mũi nhọn, vươn lên hàng đầu trong khu vực Phát triển mạnh nuôi trồng thuỷ sản nước ngọt, nước

lợ và nước mặn, nhất là nuôi tôm, theo phương thức tiến bộ, hiệu quả và bền vững môi trường Tăng cường năng lực và nâng cao hiệu quả khai thác hải sản xa bờ; chuyển đổi cơ cấu nghề nghiệp, ổn định khai thác gần bờ; nâng cao năng lực bảo quản, chế biến sản phẩm đáp ứng yêu cầu thị trường quốc tế và trong nước Mở rộng và nâng cấp cơ sở hạ tầng, dịch vụ nghề cá, giữ gìn môi trường biển và sông, nước, bảo đảm cho sự tái tạo và phát triển nguồn lợi thuỷ sản" Hoạt động thuỷ sản

phải đảm bảo hiệu quả kinh tế và phải kết hợp với đảm bảo an ninh quốc phòng, bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia trên biển

Việc nghiên cứu và xây dựng Luật Thuỷ sản đã tạo ra một khung pháp lý cao nhất và toàn diện nhất cho việc quản lý hoạt động thuỷ sản bằng pháp luật, kích thích phát triển sản xuất kinh doanh, đầu tư và chuyển dịch cơ cấu kinh tế; đảm bảo

sự thống nhất, đồng bộ của Luật Thuỷ sản với các Luật tài nguyên khác, với hệ

Trang 22

thống pháp luật kinh tế trong điều kiện đổi mới và hội nhập, không chồng chéo nhưng có đầy đủ các khía cạnh của lĩnh vực chuyên ngành Đổi mới căn bản nội dung pháp luật về hoạt động thuỷ sản phù hợp với thông lệ quốc tế và luật pháp quốc tế mà nước ta đã ký kết hoặc gia nhập, nhất là những vấn đề có liên quan tới biển và nghề cá, tạo cơ sở pháp lý cho hợp tác quốc tế về thuỷ sản, đảm bảo yêu cầu

và xu thế hội nhập trong khu vực và trên thế giới Hình thành rõ nét luật pháp của ta liên quan đến khai thác các lợi ích kinh tế trong vùng tài phán quốc gia, giải quyết các vấn đề tranh chấp, hợp tác trong khu vực và quốc tế

Luật thủy sản gắn việc bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản với việc khai thác hợp lý và tái tạo, phát triển bền vững nguồn lợi thuỷ sản, tạo cơ cấu mới bền vững, hiệu quả

và có tính cạnh tranh cao cho ngành Thuỷ sản; đảm bảo việc bảo vệ môi trường, tính đa dạng sinh học và cảnh quan thiên nhiên

- Ngoài ra còn có các văn bản hướng dẫn, quy định chi tiết có liên quan về hoạt động bảo vệ nguồn lợi thủy sản như: Nghị định 103/2013/NĐ-CP ngày 12/09/2013 của Chính phủ Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thủy sản; Nghị định 53/2012/NĐ-CP ngày 20/06/2012 của Chính phủ Sửa đổi,

bổ sung một số điều của các Nghị định về lĩnh vực thủy sản; Nghị định 33/2010/NĐ-CP ngày 31/03/2010 của Chính phủ Về quản lý hoạt động khai thác thủy sản của tổ chức, cá nhân việt nam trên các vùng biển; Nghị định 32/2010/NĐ-

CP ngày 30/03/2010 của Chính phủ Về quản lý hoạt động thuỷ sản của tàu cá nước ngoài trong vùng biển Việt Nam…

- Về khai thác thuỷ sản, Luật quy định nguyên tắc khai thác thủy sản (Điều 11); đối với tổ chức, cá nhân khai thác thuỷ sản xa bờ, chủ tàu có trách nhiệm mua bảo hiểm bắt buộc đối với thuyền viên làm việc trên tàu cá khai thác thuỷ sản xa bờ (Điều 12) Bên cạnh đó, Nhà nước có chính sách khuyến khích đối với chủ tàu tự nguyện mua bảo hiểm thân tàu Còn đối với tổ chức, cá nhân khai thác thuỷ sản ven

bờ sẽ thực hiện theo pháp luật về kinh doanh bảo hiểm

Ngoài ra, Luật cũng quy định cụ thể đối với tổ chức, cá nhân khai thác thuỷ sản xa bờ, ven bờ phải có trang thiết bị, phương tiện cần thiết bảo đảm an toàn trên biển (Điều 12, Điều 13); quy định trách nhiệm của Nhà nước, của Bộ Thủy sản, của

Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trong việc điều tra, nghiên cứu, đánh giá nguồn lợi thủy sản (Điều 14) Về quản lý vùng khai thác thuỷ sản, Luật quy định Chính phủ có trách nhiệm phân vùng biển, phân tuyến khai thác thuỷ sản; phân công, phân cấp quản lý cho các bộ, ngành hữu quan và địa phương để bảo đảm sự phối hợp chặt

Trang 23

chẽ, đồng bộ giữa các lực lượng kiểm tra, kiểm soát hoạt động thuỷ sản trên các vùng biển, tuyến khai thác thuỷ sản (Điều 15)

Luật quy định tổ chức, cá nhân khai thác thủy sản phải có Giấy phép khai thác thủy sản, trừ trường hợp cá nhân khai thác thủy sản bằng tàu cá có trọng tải dưới 0,5 tấn hoặc không sử dụng tàu cá (Điều 16); điều kiện cấp Giấy phép khai thác thủy sản (Điều 17); trường hợp thu hồi Giấy phép khai thác thủy sản (Điều 18); việc báo cáo khai thác thủy sản và ghi nhật ký khai thác thủy sản (Điều 19); quyền

và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân khai thác thủy sản (Điều 20, Điều 21); trách nhiệm của tổ chức, cá nhân khai thác thủy sản và các cơ quan Nhà nước có liên quan trong việc phòng, tránh và giảm nhẹ tác hại của thiên tai trong khai thác thủy sản (Điều 22)

Nhìn chung, những quy định về khai thác thủy sản nhằm hướng tới phát triển bền vững được thể hiện ở những khía cạnh sau:

+ Khai thác thủy sản nhằm duy trì chất lượng môi trường và bảo toàn chức năng của các hệ thống sinh thái có tầm quan trọng quyết định đối với sự phát triển ngành thuỷ sản hiện nay và trong tương lai

+ Khai thác thủy sản hướng tới phát triển một ngành kinh tế thuỷ sản hiệu quả, bảo đảm lợi ích lâu dài và một nghề cá có trách nhiệm mà nước ta đã cam kết với cộng đồng quốc tế

+ Khai thác thủy sản phải bảo đảm lợi ích của các cộng đồng dân cư – những người có quyền hưởng dụng nguồn lợi thuỷ sản, góp phần xoá đói giảm nghèo cho ngư dân, cân bằng hưởng dụng nguồn lợi giữa các thế hệ

+ Khai thác thủy sản hướng tới tối ưu hoá việc sử dụng đa mục tiêu các hệ thống tài nguyên biển và đất ngập nước liên quan tới thuỷ sản, giảm thiểu mâu thuẫn lợi ích và các tác động của các ngành khác đến tính bền vững của nguồn lợi thuỷ sản

+ Khai thác thủy sản tăng cường tính cạnh tranh của các sản phẩm thủy sản, góp phần bảo đảm an ninh thực phẩm cho đất nước, đáp ứng nhu cầu của thị trường tiêu thụ sản phẩm thuỷ sản

- Kế thừa Pháp lệnh, Luật Thủy sản đã tiếp tục quy định bảo vệ môi trường sống, bảo tồn và bảo vệ các loài thuỷ sản, quy định những biện pháp nhằm bảo vệ

và phát triển bền vững nguồn lợi thuỷ sản (Điều 7, Điều 8) Việc bảo tồn, bảo vệ, tái tạo và phát triển nguồn lợi thuỷ sản được quy định tại Điều 8 Luật thủy sản 2003, theo đó nhà nước có chính sách bảo tồn, bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản, đặc biệt là các loài thuỷ sản đang có nguy cơ tuyệt chủng, các loài quý hiếm, các loài có giá trị

Trang 24

kinh tế cao và các loài có ý nghĩa khoa học; khuyến khích nghiên cứu khoa học để

có các biện pháp phù hợp nhằm phát triển nguồn lợi thuỷ sản; đầu tư sản xuất giống thuỷ sản để thả vào môi trường sống tự nhiên và tạo ra các vùng cư trú nhân tạo nhằm tái tạo và phát triển nguồn lợi thuỷ sản

Việc quy định việc quản lý đối với khu bảo tồn vùng nước nội địa, khu bảo tồn biển và hoạt động nhằm tái tạo, phát triển nguồn lợi thuỷ sản (Điều 9) Đặc biệt, Luật quy định về nguồn tài chính để tái tạo nguồn lợi thủy sản Nguồn tài chính này bao gồm ngân sách Nhà nước cấp và Quỹ tái tạo nguồn lợi thủy sản được hình thành từ

sự đóng góp của tổ chức, cá nhân khai thác, nuôi trồng, chế biến, mua bán, xuất khẩu, nhập khẩu thủy sản hoặc hoạt động trong các ngành, nghề có ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn lợi thủy sản, từ sự tài trợ của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước

1.2.3 Quản lý nhà nước về thủy sản

Quy định chung về trách nhiệm của các cơ quan đối với hoạt động bảo vệ và phát triển nguồn lợi thuỷ sản, Luật Thủy sản đã quy định rõ những nội dung quản lý nhà nước về thuỷ sản (Điều 51); trách nhiệm của Chính phủ, Bộ Thuỷ sản, các Bộ,

cơ quan ngang bộ, Uỷ ban nhân dân các cấp trong quản lý nhà nước về hoạt động thuỷ sản (Điều 52); chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và tổ chức của Thanh tra thuỷ sản để thanh tra, kiểm tra việc thi hành pháp luật về thuỷ sản nhằm phát hiện, ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật về thuỷ sản, đảm bảo hiệu quả và hiệu lực quản

lý nhà nước về thuỷ sản (Điều 53, Điều 54, Điều 55, Điều 56)

Hiện ngành thủy sản đã được đặt dưới sự quản lý của Bộ NN&PTNT Ở cấp tỉnh, Sở Thủy sản trước đây và nay là Sở NN&PTNT, cơ quan trực thuộc UBND tỉnh, được giao quản lý nhà nước về thủy sản tại địa phương Cơ quan chuyên ngành ở Bộ NN& PTNT là Cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản, cơ quan quản lý thuộc Sở NN&PTNT là Chi cục thủy sản, Phòng Thủy sản Ở cấp huyện là Phòng NN&PTNT thuộc UBND huyện

1.2.4 Các biện pháp bảo vệ nguồn lợi thủy sản

Việc BVNLTS, đã được quy định tại Điều 7, điều 8 và điều 9 thuộc Chương

2 của Luật Thủy sản 2003 như sau:

“1 Về công tác bảo vệ môi trường sống của các loài thủy sản:

Tổ chức, cá nhân có trách nhiệm bảo vệ môi trường sống của các loài thủy sản

Tổ chức, cá nhân tiến hành hoạt động thủy sản hoặc có các hoạt động khác ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường sống, di cư, sinh sản của các loài thủy sản phải

Trang 25

tuân theo quy định của Luật này, pháp luật về bảo vệ môi trường, pháp luật về tài nguyên nước và các quy định khác của pháp luật có liên quan

Tổ chức, cá nhân khi xây dựng mới, thay đổi hoặc phá bỏ các công trình có liên quan đến môi trường sống, di cư, sinh sản của các loài thủy sản phải thực hiện việc đánh giá tác động môi trường theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường

Tổ chức, cá nhân khai thác thủy sản bằng đặt đăng, đáy hoặc bằng phương pháp ngăn, chắn khác ở các sông, hồ, đầm, phá phải dành hành lang cho các loài thủy sản di chuyển theo quy định của Ủy ban nhân dân địa phương

2 Về bảo tồn, bảo vệ, tái tạo và phát triển nguồn lợi thủy sản

Nhà nước có chính sách bảo tồn, bảo vệ nguồn lợi thủy sản, đặc biệt là các loài thuỷ sản đang có nguy cơ tuyệt chủng, các loài quý hiếm, các loài có giá trị kinh tế cao và các loài có ý nghĩa khoa học; khuyến khích nghiên cứu khoa học để

có các biện pháp phù hợp nhằm phát triển nguồn lợi thủy sản; đầu tư sản xuất giống thủy sản để thả vào môi trường sống tự nhiên và tạo ra các vùng cư trú nhân tạo nhằm tái tạo và phát triển nguồn lợi thủy sản

Tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ thực hiện việc bảo tồn, bảo vệ, tái tạo và phát triển nguồn lợi thủy sản theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn định kỳ công bố:

+ Danh mục các loài thủy sản đã được ghi trong sách đỏ Việt Nam và các loài thủy sản khác bị cấm khai thác; danh mục các loài thủy sản bị cấm khai thác

có thời hạn và thời gian cấm khai thác;

+ Các phương pháp khai thác, loại nghề khai thác, ngư cụ bị cấm sử dụng hoặc bị hạn chế sử dụng;

+ Chủng loại, kích cỡ tối thiểu của các loài thủy sản được phép khai thác và mùa vụ khai thác;

+ Khu vực cấm khai thác và khu vực cấm khai thác có thời hạn Trong trường hợp cần thiết và được sự đồng ý của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương công bố bổ sung những nội dung cho phù hợp với thực tế hoạt động khai thác nguồn lợi thủy sản tại địa phương”

Có rất nhiều biện pháp BVNLTS, nhưng có thể tựu chung chủ yếu vào những biện pháp như sau:

Trang 26

- Về cơ chế chính sách, mức thu nhập hiện nay chỉ đủ để lo việc nuôi sống gia đình Do đó, ngư dân không có điều kiện về tài chính để mua bảo hiểm xã hội, bảo hiểm tại nạn trên biển Vì vậy, cần có cơ chế, chính sách phát triển đồng đều trong quản lý nghề cá; có chính sách hỗ trợ bảo hiểm xã hội cho ngư dân tham gia hoạt động khai thác hải sản; chính sách hỗ trợ rủi ro cho ngư dân khai thác hải sản trên biển; hỗ trợ chuyển đổi sinh kế cho ngư dân; xây dựng cơ chế và sử dụng hiệu quả quỹ tái tạo nguồn lợi thủy sản

Xác định ranh giới, phân vùng và phân cấp quản lý nguồn lợi thủy sản trên biển Quy định rõ trách nhiệm, vai trò của chính quyền địa phương trong quản lý, BVNLTS

- Thực hiện kế hoạch quốc gia về truyền thông, tuyên truyền giáo dục, nâng cao nhận thức về BVNLTS Tập huấn cho ngư dân, cán bộ địa phương về pháp luật, tuyên truyền trên báo chí, phát thanh, truyền hình, phát tờ rơi, áp phích, cổ động và giáo dục trong các bậc học phổ thông Đào tạo nguồn nhân lực với các đối tượng là ngư dân, con em ngư dân với nhiều hình thức phù hợp với điều kiện và tập quán của người dân Đào tạo nâng cao năng lực cho hệ thống thanh tra, kiểm tra, giám sát trong công tác BVNLTS

Bồi dưỡng, tập huấn kiến thức cho cán bộ công an, lãnh đạo UBND cấp xã,

ấp các địa bàn ven biển, kiểm tra giám sát thường xuyên và xử phạt nghiêm minh

các vụ việc vi phạm pháp luật về BVNLTS

- Về khoa học, công nghệ và khuyến ngư, tập trung vào việc nghiên cứu hoàn thiện quy trình sản xuất giống nhân tạo một số loài có giá trị kinh tế, loài bản địa; ứng dụng công nghệ vệ tinh trong giám sát hoạt động tàu cá; nghiên cứu ứng dụng các nghề khai thác có chọn lọc

Bảo tồn, thiết lập các khu vực quan trọng như bãi đẻ, nơi tập trung các loài thủy sản còn non, các khu thủy sản thuộc loại quý hiếm có giá trị kinh tế, khoa học cao

Cải thiện môi trường sống của các loài thủy sản để tự tái tạo, phục hồi quần thể giống, loài đang có nguy cơ khai thác quá giới hạn, hướng ưu tiên là sản xuất giống nhân tạo thả bổ sung; nghiên cứu làm rạn san hô nhân tạo cho các loại thủy sản trú ngụ

Xây dựng các chương trình, dự án bảo tồn thủy sản, các bãi đẻ, bãi giống; tái tạo nguồn lợi tùy theo đặc điểm, hình hình cụ thể ở các địa phương,

Trang 27

- Về hợp tác quốc tế: tăng cường hợp tác về điều tra nguồn lợi; học tập, trao đổi kinh nghiệm cũng như tranh thủ sự hỗ trợ về tài chính từ các tổ chức quốc tế

- Về cơ chế tài chính: bao gồm các nguồn vốn từ ngân sách Trung ương,

ngân sách địa phương và các nguồn vốn huy động khác,

Với những biện pháp nêu trên, và với sự hưởng ứng tích cực và tham gia của cộng đồng dân cư vùng biển, chắc chắn trong thời gian tới công tác bảo vệ về phát triển nguồn lợi thủy sản sẽ đạt được những kết quả khả quan

Trang 28

Chương 2: Thực trạng về Bảo vệ nguồn lợi thủy sản tại Cà Mau

2.1 Thực trạng về Bảo vệ nguồn lợi thủy sản ở nước ta

2.1.1 Thực trạng về khai thác và phát triển nguồn lợi thủy sản

2.1.1.1 Bảo tồn và phát triển nguồn lợi thủy sản

Việc bảo tồn, bảo vệ, tái tạo và phát triển nguồn lợi thuỷ sản được quy định tại Điều 8 Luật thủy sản 2003, theo đó nhà nước có chính sách bảo tồn, bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản, đặc biệt là các loài thuỷ sản đang có nguy cơ tuyệt chủng, các loài quý hiếm, các loài có giá trị kinh tế cao và các loài có ý nghĩa khoa học; khuyến khích nghiên cứu khoa học để có các biện pháp phù hợp nhằm phát triển nguồn lợi thuỷ sản; đầu tư sản xuất giống thuỷ sản để thả vào môi trường sống tự nhiên và tạo ra các vùng cư trú nhân tạo nhằm tái tạo và phát triển nguồn lợi thuỷ sản

Chính sách bảo tồn, BVNLTS là tập hợp các chủ trương và hành động trong công tác bảo vệ nguồn lợi thủy sản của chính phủ Nó bao gồm các mục tiêu mà chính phủ muốn đạt được trong lĩnh vực này và cách làm để thực hiện các mục tiêu

đó Để giải quyết các vấn đề phát sinh liên quan đến nguồn lợi thủy sản tại mỗi nước nhằm hướng tới việc khai thác hợp lý tài nguyên, bảo vệ môi trường để phát triển bền vững biển, xu hướng chung cho thấy các quốc gia trên thế giới cũng có nhiều nỗ lực, không ngừng xây dựng, triển khai nhiều chính sách, biện pháp, chương trình và kế họach nhằm để khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên nguồn lợi thủy sản, phát triển bền vững đất nước và đến nay, nhiều quốc gia đã đạt được những tiến bộ và thành công đáng ghi nhận

Trong một chính sách bảo tồn, BVNLTS bao gồm những mục tiêu chủ yếu sau:

- Hoàn thiện hệ thống pháp lý để khai thác hợp lý tài nguyên nguồn lợi thủy sản và bảo vệ môi trường thúc đẩy phát triển bền vững Việc xây dựng và ban hành các bộ Luật, văn bản quy phạm pháp luật về BVNLTS đã tạo ra cơ sở pháp lý vững chắc đảm bảo cho việc thực hiện thành công công tác quản lý tổng hợp, khai thác hợp lý tài nguyên nguồn lợi thủy sản và bảo vệ môi trường nước ở nhiều quốc gia

- Khắc phục được tình trạng ô nhiễm và suy thoái nghiêm trọng môi trường nước – môi sinh của các loài thủy sản quyết định sự sinh tồn, phát triển bền vững của nguồn lợi thủy sản có thể mang lại cho nền kinh tế quốc gia

Trang 29

- Xây dựng được hệ thống các khu bảo tồn vùng nước là vùng đặc biệt được dành để bảo vệ và duy trì tính đa dạng sinh học, các nguồn tài nguyên thủy sản, kết hợp với việc bảo vệ các tài nguyên văn hóa và được quản lý bằng pháp luật hoặc các phương thức hữu hiệu khác Mục đích của các khu bảo tồn này bao gồm: Nghiên cứu khoa học; bảo vệ các vùng hoang dã; bảo vệ sự đa dạng loài và gen; duy trì các lợi ích về môi trường từ thiên nhiên; bảo vệ cảnh quan đặc biệt về thiên nhiên và văn hóa sử dụng cho du lịch; giáo dục; sử dụng hợp lý các tài nguyên từ hệ sinh thái tự nhiên; duy trì các biểu trưng văn hóa và truyền thống

- Xây dựng được giải pháp đảm bảo sinh kế bền vững cho cộng đồng ngư dân Thực tế cho thấy lâu nay đa số dân cư đánh bắt hải sản thường nghèo và sống phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn lợi thủy sản Để giảm thiểu áp lực đối với nguồn tài nguyên và bảo vệ môi trường nước, việc chú trọng tăng cường áp dụng các giải pháp dựa vào thị trường trong quản lý tài nguyên đồng thời chú trọng các giải pháp chuyển đổi nghề nghiệp, đảm bảo sinh kế bền vững cho cộng đồng dân cư khái thác, đánh bắt thủy sản cũng được các quốc gia hết sức quan tâm

- Nâng cao nhận thức cộng đồng dân cư về nguồn lợi thủy sản để khai thác,

sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường: Để cộng đồng hiểu rõ và quan tâm hơn đến nguồn lợi thủy sản, việc tuyên truyền, nâng cao nhận thức cộng đồng về chính sách, pháp luật liên quan đến khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên thủy sản

và bảo vệ môi trường cần được quan tâm, chú ý đẩy mạnh

Những tổ chức, cá nhân tiến hành hoạt động thủy sản hoặc các hoạt động khác có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến môi trường sống, di cư, sinh sản của các loài thủy sản không những phải tuân theo quy định của Luật Thủy sản, mà còn phải tuân thủ quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường, pháp luật về tài nguyên nước và các quy định khác của pháp luật bảo đảm để các loài thủy sản có môi trường sinh sôi, phát triển, giữ được cân bằng sinh thái

Để bảo tồn, bảo vệ, tái tạo và phát triển nguồn lợi thủy sản, Nhà nước gia cho Bộ Thủy sản định kỳ công bố:

- Danh mục các loài thuỷ sản đã được ghi trong sách đỏ Việt Nam và các loài thuỷ sản khác bị cấm khai thác; danh mục các loài thuỷ sản bị cấm khai thác có thời hạn và thời gian cấm khai thác Sách đỏ Việt Nam là văn bản liệt kê các loài động vật dưới các mức độ bị đe dọa khác nhau Trong số đó là các loài động vật chỉ tìm thấy duy nhất trên lãnh thổ Việt Nam, không tìm thấy ở nơi khác trên thế giới Sách

đỏ trở thành căn cứ quan trọng để nhà nước ban hành những Nghị định và chỉ thị về

Trang 30

việc quản lý bảo vệ và những biện pháp cấp bách để bảo vệ và phát triển những loài động vật hoang dã ở Việt Nam trong đó có loài thủy sản

- Các phương pháp khai thác, loại nghề khai thác, ngư cụ bị cấm sử dụng hoặc bị hạn chế sử dụng Phương pháp khai thác thủy sản là cách thức, con đường, biện pháp để thực hiện hoạt động khai thác thủy sản Nghề khai thác thủy sản là lĩnh vực hoạt động lao động về khai thác thủy sản mà trong đó người lao động được đào tạo những kỹ năng khai thác thủy sản, Còn ngư cụ là phương tiện được người lao động, người hành nghề khai thác thủy sản sử dụng để khai thác thủy sản Có rất nhiều phương pháp cũng như ngư cụ khác nhau được sử dụng vào để khai thác thủy sản trong đó bao gồm cả những phương pháp, phương tiện tích cực và phương pháp gây hại tới nguồn lợi thủy sản cũng như môi trường Bộ Thủy sản đặt giới hạn những phương pháp cũng như loại ngư cụ không mục đích nào khác nhằm phát triển bền vững ngành thủy sản cũng như bảo vệ môi trường sống của các loài thủy sản nói chung cũng như của con người nói chung

- Chủng loại, kích cỡ tối thiểu các loài thuỷ sản được phép khai thác, mùa vụ khai thác Trong các hoạt động khai thác nguồn lợi thủy sản, vấn đề nắm vững đặc điểm của các ngư trường và sự xuất hiện của các loài hải sản theo mùa vụ đã trở thành một trong những yếu tố quan trọng có tính quyết định đến việc nâng cao năng suất khai thác của nghề cá hiện nay Việc quy định chủng loại, kích cỡ tối thiểu của loài thủy sản nhằm giới hạn việc khai thác loài quý hiếm cũng như có nguy cơ tuyệt chủng

- Khu vực cấm khai thác và khu vực cấm khai thác có thời hạn Khu vực cấm khai thác hoặc khai thác có giới hạn là vùng không gian vạch ra dựa trên những đặc điểm chung nhất định hoặc được sử dụng vào những mục đích nhất định Thông thường những vùng cấm khai thác thường là khu vực nghiên cứu hoặc nơi cư trú của những loài thủy sản cấm hoặc hạn chế khai thác

Trong giới hạn thẩm quyền của mình, trong trường hợp cần thiết và được sự đồng ý của Bộ Thủy sản (nay là Bộ NN&PTNT), UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương công bố bổ sung vào những danh mục nói trên Để ban hành được các danh mục nói trên, cơ quan có thẩm quyền cần thực hiện điều tra, nghiên cứu để

đánh giá được nguồn lợi thủy sản Theo đó, “Bộ Thuỷ sản chủ trì phối hợp với các

bộ, ngành có liên quan và Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức việc điều tra, đánh giá nguồn lợi thuỷ sản ở từng vùng biển, ngư trường, vùng sông, hồ lớn; công bố ngư trường, vùng khai thác thuỷ sản, xác định sản lượng khai thác cho phép hàng năm ở

Trang 31

từng vùng biển, ngư trường” 5 Thông qua kết quả điều tra, cơ quan nhà nước xác định được vùng sinh sống của những loài thủy sản quý hiếm, sản lượng khai thác thủy sản của từng loài cũng như của từng vùng từ đó có thể đưa ra chính sách, quy hoạch và khoanh vùng bảo tồn phù hợp

Còn đối với tổ chức, cá nhân khi xây dựng mới hay dỡ bỏ các công trình có liên quan đến môi trường sống, di cư, sinh sản của các loài thủy sản phải thực hiện việc đánh giá tác động môi trường theo quy định của pháp luật bảo vệ môi trường (phân tích, đánh giá, dự báo ảnh hưởng đến môi trường của các dự án, quy hoạch, phát triển kinh tế xã hội, của các cơ sở sản xuất, kinh doanh, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và các công trình khác, đề xuất phương án thích hợp về bảo vệ môi trường)

2.1.1.2 Khai thác nguồn lợi thủy sản

Khai thác thủy sản là một trong những hoạt động thủy sản được quy định tại khoản 2 Điều 2 Luật thủy sản 2003 Theo đó pháp luật đưa ra khái niệm tại Khoản 4

Điều 2 Luật thủy sản 2003 như sau: “Khai thác thuỷ sản là việc khai thác nguồn lợi thuỷ sản trên biển, sông, hồ, đầm, phá và các vùng nước tự nhiên khác” Như vậy,

khai thác thủy sản là một nhánh quan trọng trong chu trình tìm kiếm lợi nhuận kinh

tế từ tài nguyên thủy sản Đây là hoạt động tác động trực tiếp đến môi sinh cũng như ảnh hưởng đến sự tồn tại, phát triển cũng của các loài thủy sản bị khai thác cho nên pháp luật quy định rất chặt chẽ về hoạt động này bao gồm:

- Nguyên tắc khai thác thủy sản

Trong quá trình thực hiện khai thác nguồn lợi thủy sản, các chủ thể khai thác phải tuân thủ nguyên tắc bảo đảm không làm cạn kiệt nguồn lợi thuỷ sản; phải tuân theo quy định về mùa vụ khai thác, thời hạn khai thác, vùng khai thác, chủng loại và kích cỡ thuỷ sản được khai thác, sản lượng cho phép khai thác hàng năm và phải tuân theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.6

Nguyên tắc này căn cứ vào quy định tại Điều 8 Luật thủy sản nhằm bảo đảm tính thống nhất cũng như tuân thủ pháp luật trong hoạt động khai thác thủy sản Theo đó Nhà nước với vai trò là cơ quan đại diện quyền lực thực hiện quản lý mọi lĩnh vực trong xã hội bằng việc sử dụng pháp luật làm công cụ quản lý phổ biến và hiệu quả của mình với cơ chế đảm bảo thi hành riêng biệt Nhà nước đặt ra hệ thống các danh mục các loài thủy sản hạn chế hoặc bị cấm khai thác; các phương pháp khai thác,

5 Khoản 2 Điều 14 Luật thủy sản 2003

6 Khoản 1 Điều 11 Luật Thủy sản 2003

Trang 32

ngành nghề, ngư cụ khai thác bị cấm hoặc hạn chế; chủng loại, kích cỡ tổi thiểu của loài, mùa vụ khai thác và khu vực cấm hoặc hạn chế khai thác Và hệ thống danh mục này chính là cơ sở, định hướng yêu cầu các chủ thể khai thác phải tuân theo

- Hình thức khai thác thủy sản

Có rất nhiều hình thức khai thác thủy sản khác nhau nhưng dưới góc độ nghiên cứu pháp luật, nhà làm luật căn cứ vào địa điểm khai thác mà phân chia khai thác thủy sản thành: khai thác xa bờ và khai thác ven bờ Biển Việt Nam được chia thành 3 vùng khai thác thủy sản theo thứ tự: Vùng biển ven bờ được giới hạn bởi mực nước thủy triều thấp nhất và tuyến bờ Đối với các địa phương có đảo, UBND cấp tỉnh căn cứ vào sự cần thiết và đặc điểm cụ thể của từng đảo quy định vùng biển ven bờ của các đảo đó, nhưng giới hạn không quá sáu (06) hải lý, tính từ mực nước thủy triều thấp nhất của đảo7; Vùng lộng là vùng biển được giới hạn bởi tuyến bờ và tuyến lộng; Vùng khơi là vùng biển được giới hạn bởi tuyến lộng và ranh giới phía ngoài của vùng đặc quyền kinh tế của vùng biển Việt Nam Trong đó, Tuyến bờ là các đoạn thẳng gấp khúc nối liền các điểm: từ điểm 01 đến điểm 18 Tọa độ các điểm từ điểm 01 đến điểm 18 được xác định bởi kinh độ và vĩ độ Tuyến lộng là các đoạn thẳng gấp khúc nối liền các điểm: từ điểm 01’ đến điểm 18’ Tọa độ các điểm

từ điểm 01’ đến điểm 18’ được xác định bởi kinh độ và vĩ độ.8

Như vậy, khai thác xa bờ là khai thác từ vùng lộng trở đi Việc khai thác thuỷ sản xa bờ được quy định tại Điều 12 Luật thủy sản 2003, theo đó nhà nước có chính sách đồng bộ về đầu tư, đào tạo nghề, xây dựng hệ thống thông tin liên lạc, điều tra nguồn lợi, dự báo ngư trường, dịch vụ hậu cần, tổ chức các hình thức sản xuất phù hợp để khuyến khích tổ chức, cá nhân phát triển khai thác thuỷ sản xa bờ Tính chất đặc thù của hoạt động khai thác thủy sản xa bờ là thời gian khai thác dài ngày (trung bình một chuyến ra khơi của ngư dân kéo dài từ 1 – 2 tháng, nếu thời tiết thuận lợi, trúng vụ tối thiểu cũng mất 7 - 10 ngày); thời tiết quyết định rất lớn đến thời gian hoạt động trên biển của ngư dân Do bám biển dài ngày như vậy nên hoạt động khai thác thủy sản xa bờ tiềm ẩn nhiều rủi ro thời tiết; rủi ro an toàn vệ sinh lao động; điều kiện sống, sinh hoạt của ngư dân cho nên Nhà nước luôn cố gắng tạo những chính sách đầu tư phù hợp cho ngành nghề này Đối với Tổ chức, cá nhân đầu tư

Trang 33

vào hoạt động khai thác thuỷ sản xa bờ được áp dụng theo Luật khuyến khích đầu

tư trong nước và được hưởng các chính sách ưu đãi khác của Nhà nước

Ngoài ra, để tham gia vào hoạt động khai thác tiềm ẩn nhiều rủi ro này thì ngư dân cũng phải đáp ứng những điều kiện nhất định sau: Tổ chức, cá nhân khai thác thuỷ sản xa bờ phải có trang thiết bị bảo đảm thông tin liên lạc, phương tiện cứu sinh trên tàu cá; tuân theo các quy định của pháp luật về hàng hải; Chủ tàu có trách nhiệm mua bảo hiểm bắt buộc đối với thuyền viên làm việc trên tàu cá khai thác thuỷ sản xa bờ.9

Còn khai thác thủy sản ven bờ là khai thác ở vùng biển ven bờ Với hình thức khai thác này, Nhà nước có chính sách tổ chức lại sản xuất, chuyển đổi cơ cấu nghề nghiệp trong hoạt động khai thác thuỷ sản ở vùng biển ven bờ và cơ cấu nghề nghiệp giữa các nghề khai thác, nuôi trồng, chế biến thuỷ sản, nghề nông, nghề rừng, nghề dịch vụ Đặc điểm của khai thác thủy sản ven bờ là hoạt động khai thác nhỏ lẻ, với ngư cụ không quá phức tạp, thuyền tàu thường là cỡ nhỏ cho nên không cần thiết phải thiết lập chính sách đầu tư Thay vào đó, với quy mô khai thác nhỏ lẻ khiến cho hoạt động quản lý của nhà nước thường gặp khó khăn trong việc kiểm soát tình hình hoạt động của các chủ thể khai thác ven bờ Điều đó đặt ra yêu cầu Nhà nước cần có những điều chỉnh, sắp xếp về cơ cấu tổ chức cho loại hình khai thác này nhằm đạt hiệu quả và đảm bảo nguyên tắc khai thác thủy sản đã quy định tại Điều 11 Luật thủy sản 2003

Với mỗi vùng khai thác nằm dưới thẩm quyền quản lý của hệ thống cơ quan hữu quan và địa phương nhất định do Chính phủ phân công, phân cấp quản lý nhằm đem lại sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa các lực lượng kiểm tra, kiểm soát hoạt động thủy sản trong những vùng, tuyến khai thác thủy sản nhất định cũng do Chính phủ thiết lập nên UBND tỉnh tại địa phương nơi có vùng khai thác thủy sản sẽ có trách nhiệm ban hành quy chế khai thác tương ứng với điều kiện khai thác của địa phương

Một trong những hoạt động thể hiện vai trò quản lý của nhà nước đối với hoạt động khai thác thủy sản đó chính là hoạt động cấp Giấy phép khai thác thủy sản Giấy phép khai thác thủy sản chính là văn bằng thể hiện sự cho phép của nhà nước đối với chủ thể đáp ứng điều kiện luật định được phép thực hiện hoạt động khai thác thủy sản Theo đó, Luật thủy sản 2003 quy định điều kiện cấp giấy phép,

9 Khoản 3, 4 Điều 12 Luật thủy sản 2003

Trang 34

nội dung giấy phép, thủ tục thu hồi giấy phép khai thác thủy sản Điều kiện để tổ chức, cá nhân khai thác thủy sản được cấp Giấy phép bao gồm: Có đăng ký kinh doanh khai thác thủy sản; có tàu cá đăng ký, đăng kiểm; có ngư cụ, phương tiện khai thác phù hợp; Thuyền trưởng, máy trưởng trên tàu cá phải có văn bằng, chứng chỉ phù hợp theo quy định của pháp luật Quy định này cho thấy khai thác thủy sản thực chất là hoạt động kinh doanh có điều kiện và nhằm mục đích lợi nhuận

Sau khi đã được cấp giấy phép khai thác thủy sản, các chủ thể khai thác sẽ được ghi nhận những quyền hạn nhất định quy định tại Điều 20 Luật thủy sản 2003 cũng như được yêu cầu tuân thủ những nghĩa vụ quy định tại Điều 21 của Luật Ngoài quyền được quy định chung đối với mọi chủ thể kinh doanh hợp pháp khác thì xuất phát từ đặc điểm của hoạt động khai thác thủy sản mà tổ chức, cá nhân khai thác thủy sản được cơ quan chuyên môn thông báo kịp thời về tình hình diễn biến thời tiết; được thông báo về nguồn lợi thuỷ sản, thông tin về hoạt động thuỷ sản, thị trường thuỷ sản và hướng dẫn về kỹ thuật khai thác thuỷ sản Bởi như đã phân tích, thời tiết chi phối phần lớn hiệu quả khai thác của ngư dân đánh bắt xa bờ cho nên việc nắm được diễn biến thời tiết cũng như được cảnh báo thiên tai kịp thời, hướng dẫn kĩ thuật

sẽ giúp cho người đánh bắt ngăn ngừa được những hậu quả, thiệt hại, rủi ro không đáng có Còn việc cập nhật các thông tin thị trường thủy sản giúp cho các cá nhân, tổ chức khai thác có thể nắm bắt được những cơ hội kinh doanh xuất hiện trên thị trường

để từ đó điều hướng, tổ chức hoạt động khai thác thủy sản của mình cho phù hợp Về nghĩa vụ, ngoài những nghĩa vụ cơ bản đổi với một chủ thể kinh doanh thì nghĩa vụ cứu nạn và đánh dấu ngư cụ là hai nghĩa vụ đặc trưng của những cá nhân, tổ chức khai thác thủy sản

Về đặc điểm sinh sống của các loài hải sản, muốn tồn tại và phát triển thì chúng phải làm nhiệm vụ sinh sản phục hồi số lượng cá thể bị mất đi do bệnh tật

Trang 35

hoặc do khai thác Mỗi loài thủy sản có độ tuổi có khả năng sinh sản tương ứng với kích thước nhất định Vì vậy cần khai thác hợp lý tại từng ngư trường, hạn chế khai thác ngư trường ven bờ - nơi được xem là nơi sinh sản chủ yếu của nhiều loài hải sản, có tỷ lệ cá con, cá non khá cao Kết quả khảo sát sản phẩm khai thác của nghề lưới kéo tại vùng biển ven bờ được trình bày ở Bảng 2.1

Bảng 2.1: Thực trạng sản phẩm khai thác nghề lưới kéo ven bờ 10

Từ Bảng 2.1 cho thấy tỷ lệ cá non, cá con, cá chưa trưởng thành chiếm tỷ lệ khá cao trong tổng sản lượng mẻ lưới Thực trạng này đã vi phạm nghiêm trọng Thông tư số 62/2008/TT-BNN ngày 20 tháng 5 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ NN và PTNT

Về số lượng tàu khai thác, cả nước hiện có trên 110.000 tàu cá, trong đó có khoảng 31.000 tàu đánh bắt hải sản xa bờ Như vậy, số lượng tàu khai thác hải sản ven bờ khá lớn Nếu như năm 1997, số lượng tàu khai thác dưới 90 CV (tàu khai thác ven bờ) có 58.396 chiếc, thì đến nay tăng lên là khoảng 70.000 chiếc Một điểm đáng chú ý, khai thác ven bờ mang nhiều nét truyền thống với quy mô tàu nhỏ, công nghệ và phương pháp khai thác lạc hậu, chủ yếu dựa vào kinh nghiệm với nhiều loại nghề và phương tiện khai thác như lưới rùng, lưới mành, lưới rê, lưới kéo, lưới vây… Thậm chí, không ít ngư dân sử dụng cả những phương pháp đánh bắt mang tính hủy diệt nguồn lợi như xung điện, chất nổ, chất độc,… đã làm suy giảm rất lớn số lượng sinh vật biển và nguy hại tới môi trường sống của chúng, số lượng loài có nguy cơ tuyệt chủng và cạn kiệt ngày càng gia tăng, đã làm cho nguồn lợi, môi trường sinh thái bị đe dọa, gây ảnh hưởng lớn đến tính đa dạng sinh học ở

10 Tạp chí Khoa học – Công nghệ Thủy sản, số 2/2016, tr.28

Trang 36

vùng bờ và ven bờ Nhiều loài sinh vật biển đang có dấu hiệu suy giảm và nguy cơ

bị đe dọa tuyệt chủng Nhiều loài có giá trị kinh tế cao đang bị giảm dần

Để phát triển thủy sản trở thành một ngành sản xuất hàng hóa, có khả năng cạnh tranh cao trong hội nhập kinh tế quốc tế, trên cơ sở phát huy lợi thế của nghề

cá nhiệt đới theo Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa X về Chiến lược Biển Việt Nam đến năm 2020, đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển và giàu lên từ biển Để đạt được điều đó thì cần phải có giải pháp bảo vệ nguồn lợi thủy sản một cách bền vững Chính phủ cũng đã ban hành các văn bản: Nghị định số 67/2014/NĐ-CP; Nghị định số 89/2015/NĐ-CP; Quyết định 48/2010/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về khuyến khích, hỗ trợ khai thác, nuôi trồng, dịch vụ khai thác hải sản tại các vùng biển xa Quá trình thực hiện các chính sách nêu trên trong thời gian qua đã khuyến khích ngư dân quan tâm đầu tư đóng mới, cải hoán tàu cá nâng cao năng lực sản xuất, từ đó đội tàu cá đánh bắt xa bờ tiếp tục phát triển, đóng góp tích cực vào việc khai thác nguồn lợi hải sản ở vùng biển

xa, hạn chế việc đánh bắt gần bờ, Tuy nhiên trong quá trình thực hiện vẫn còn nhiều khó khăn, bất cập, như thủ tục các ngân hàng thương mại thỏa thuận ký kết hợp đồng tín dụng còn ít; phương án sản xuất, vốn đầu tư, còn phức tạp, từ đó việc triển khai đóng tàu bị chậm trễ; mẫu tàu vỏ thép của Bộ NN&PTNT áp dụng cho toàn quốc, nhưng khi áp dụng cho từng địa phương, vẫn có nhiều điểm chưa phù hợp, Vì vậy cần phải có sự điều chỉnh, bổ sung trong thời gian tới

2.1.2 Thực trạng bảo vệ nguồn lợi thủy sản

2.1.2.1 Thực trạng về môi trường nước của nguồn lợi thủy sản

Bảo vệ môi trường nước chính là bảo vệ sự sống của loài người nói chung cũng như sự sống của trái đất trong đó có các loài thủy sản Cho nên, bảo vệ môi trường nước là nội dung không thể thiếu trong pháp luật bảo vệ nguồn lợi thủy sản nói riêng cũng như pháp luật bảo vệ môi trường nói chung Bảo vệ môi trường nước

là biện pháp phòng chống suy thoái, cạn kiệt nguồn lợi thủy sản, bảo đảm an toàn nguồn nước và bảo vệ khả năng phát triển của các loài thủy sản Như vậy, bảo vệ môi trường nước luôn gắn liền với phát triển tài nguyên thủy sản, tức khả năng khai thác, sử dụng bền vững và nâng cao giá trị của tài nguyên thủy sản

Thực chất bảo vệ môi trường nước là một lĩnh vực của hoạt động bảo vệ môi trường, bao gồm các biện pháp về giữ gìn trữ lượng, chất lượng môi trường nước, phòng chống khắc phục hậu quả, tác hại do nước gây ra Bảo vệ môi trường nước phải căn cứ vào sự vận động của nước, các ảnh hưởng của từng lĩnh vực công

Ngày đăng: 06/06/2018, 23:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w