Ngoài những rủi ro nêu trên, trong thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật về thế chấp, cầm cố tài sản nói chung, phương tiện giao thông cơ giới đường bộ nói riêng vẫn còn nhiều v
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
PHẠM THÚY VÂN
THẾ CHẤP, CẦM CỐ PHƯƠNG TIỆN GIAO THÔNG CƠ GIỚI ĐƯỜNG BỘ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH CÀ MAU: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên: Phạm Thúy Vân – mã số học viên: 7701251118A, là học viên lớp Cao học luật Khóa 25, chuyên ngành Luật Kinh tế, Khoa Luật, Trường Đại học Kinh tế
TP Hồ Chí Minh, là tác giả của Luận văn thạc sĩ luật học với đề tài “Thế chấp, cầm
cố phương tiện giao thông cơ giới đường bộ trên địa bàn tỉnh Cà Mau: Thực trạng
và giải pháp” (Sau đây gọi tắt là “Luận văn”)
Tôi xin cam đoan tất cả các nội dung được trình bày trong Luận văn này là kết quả nghiên cứu độc lập của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn của người hướng dẫn khoa học Trong Luận văn có sử dụng, trích dẫn một số ý kiến, quan điểm khoa học của một số tác giả Các thông tin này đều được trích dẫn nguồn cụ thể, chính xác và
có thể kiểm chứng Các số liệu, thông tin được sử dụng trong Luận văn là hoàn toàn khách quan và trung thực
Học viên thực hiện
Phạm Thúy Vân
Trang 3MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ NGỮ VIẾT TẮT
PHẦN MỞ ĐẦU 1
Chương 1: Những vấn đề lý luận về phương tiện giao thông cơ giới đường bộ5 1.1 Khái niệm, đặc điểm, phân loại, tính chất của thế chấp tài sản 5
1.1.1 Khái niệm thế chấp tài sản 5
1.1.2 Đặc điểm của thế chấp tài sản 5
1.1.2.1 Là tài sản thuộc quyền sở hữu của bên thế chấp 5
1.1.2.2 Bên thế chấp không phải chuyển giao tài sản thế chấp cho bên nhận thế chấp 5
1.1.2.3 Tài sản thế chấp có thể giao cho người thứ ba giữ nếu như có thỏa thuận 8
1.1.2.4 Tài sản thế chấp có thể dùng để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ 8
1.1.3 Phân loại tài sản thế chấp 9
1.1.3.1 Tài sản thế chấp là bất động sản 10
1.1.3.2 Tài sản thế chấp là động sản 10
1.1.3.3 Tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất 10
1.1.4 Phân loại thế chấp 11
1.1.5 Tính chất của thế chấp tài sản 12
1.2 Khái niệm, đặc điểm, phân loại, tính chất của cầm cố tài sản 13
1.2.1 Khái niệm cầm cố tài sản 13
1.2.2 Đặc điểm cầm cố tài sản 14
1.2.3 Phân loại tài sản cầm cố 16
1.2.4 Phân loại cầm cố 16
1.2.5 Tính chất cầm cố tài sản 16
1.3 Đặc điểm của thế chấp, cầm cố phương tiện giao thông cơ giới đường bộ 17 1.3.1 Đặc điểm của thế chấp phương tiện giao thông cơ giới đường bộ 17
1.3.2 Đặc điểm của cầm cố phương tiện giao thông cơ giới đường bộ 20
1.4 Vai trò và rủi ro của thế chấp phương tiện giao thông cơ giới đường bộ 22
1.4.1 Vai trò của thế chấp 22
Trang 4phương tiện giao thông cơ giới đường bộ 22
1.4.2 Rủi ro của thế chấp phương tiện giao thông cơ giới đường bộ 23
1.4.2.1 Rủi ro cho chủ thể nhận thế chấp là các NHTM 23
1.4.2.2 Rủi ro đối với các tổ chức phi tín dụng như các cơ sở kinh doanh dịch vụ cầm đồ, các cơ sở cầm đồ làm ăn phi pháp và các cá nhân hành nghề tự do 36
1.4.2.3 Rủi ro cho bên thế chấp 36
1.5 Vai trò và rủi ro của cầm cố phương tiện giao thông cơ giới đường bộ 37 1.5.1 Vai trò của cầm cố PTGTCG ĐB 37
1.5.2 Rủi ro của cầm cố PTGTCG ĐB 38
1.5.2.1 Rủi ro cho chủ thể nhận cầm cố 38
1.5.2.2 Rủi ro cho bên cầm cố 40
1.5.2.3 Rủi ro cho người mua phương tiện là tài sản cầm cố tại cơ sở kinh doanh cầm đồ 40
Chương 2: Thực trạng thế chấp, cầm cố phương tiện giao thông cơ giới đường bộ trên địa bàn tỉnh Cà Mau và giải pháp 42
2.1 Thế chấp 42
2.1.1 Thế chấp tại ngân hàng 42
2.1.1.1 Mục đích 42
a Quy định pháp luật 42
b Thực tiễn 43
c Bất cập 44
d Giải pháp 44
2.1.1.2 Điều kiện 45
a Quy định pháp luật 45
b Thực tiễn 46
c Bất cập 48
d Giải pháp 48
2.1.1.3 Quy trình 49
a Quy định pháp luật 49
b Thực tiễn 49
c Bất cập 52
d Giải pháp 53
2.1.1.4 Hồ sơ 53
Trang 5a Quy định pháp luật 53
b Thực tiễn 55
c Bất cập 56
d Giải pháp 57
2.1.1.5 Lãi suất 57
a Quy định pháp luật 57
b Thực tiễn 58
c Bất cập 59
d Giải pháp 60
2.1.2 Thế chấp ngoài ngân hàng 60
2.2 Cầm cố 61
2.2.1 Mục đích 61
a Quy định pháp luật 61
b Thực tiễn 62
c Bất cập 63
d Giải pháp 64
2.2.2 Điều kiện cầm cố 66
a Quy định pháp luật 66
b Thực tiễn 68
c Bất cập 68
d Giải pháp 68
2.2.3 Quy trình 69
a Quy định pháp luật 69
b Thực tiễn 70
c Bất cập 72
d Giải pháp 74
2.2.4 Hồ sơ 74
a Quy định pháp luật 74
b Thực tiễn 75
c Bất cập 75
d Giải pháp 75
2.2.5 Lãi suất 76
a Quy định pháp luật 76
b Thực tiễn 77
Trang 6Phụ lục 1: Số liệu đăng ký phương tiện xe mô tô không chính chủ năm 2016 tại các
điểm đăng ký trên địa bàn tỉnh Cà Mau
Phụ lục 2: Nguồn tin báo mất PTGTCG ĐB từ chủ phương tiện
Phụ lục 3: Số liệu phát hiện, xử lý tội phạm trộm cắp tài sản; lạm dụng tín nhiệm
chiếm đoạt tài sản; trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà
có liên quan đến PTGTCG ĐB trên địa bàn tỉnh Cà Mau
Phụ lục 4: Số liệu kiểm tra hành chính phát hiện, xử lý cầm cố PTGTCG ĐB theo
Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt VPHC trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống TNXH; PC&CC; phòng, chống bạo lực gia đình trên địa bàn tỉnh Cà Mau, giai đoạn 2011-
2016
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Việc xác lập và thực hiện các giao dịch dân sự là dựa vào sự tự giác của các bên, nhưng thực tế không phải bất cứ chủ thể nào khi tham gia giao dịch đều có ý thức trong việc thực hiện nghiêm nghĩa vụ của mình
Nhằm khắc phục tình trạng trên và tạo cho người có quyền trong các quan hệ nghĩa
vụ được thế chủ động, pháp luật cho phép các bên có thể thỏa thuận đưa ra các biện pháp bảo đảm trong giao kết hợp đồng Thông qua các biện pháp này, bên có quyền có thể chủ động trong việc tác động trực tiếp đến tài sản của bên có nghĩa vụ, nhằm thỏa mãn quyền lợi của mình
Điều 318, BLDS 2005 quy định có 7 biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ Theo quy định tại Điều 292, BLDS 2015, có 9 biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ (Bổ sung thêm hai biện pháp); Trong đó thế chấp tài sản và cầm cố tài sản là hai trong 9 biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ được áp dụng nhiều nhất trong đời sống xã hội, đặc biệt trong bối cảnh hiện nay cả hai biện pháp này ngày càng phát huy ưu điểm của mình trong việc xác lập giao dịch dân sự và thương mại
Đối tượng của thế chấp đa dạng gồm cả động sản và bất động sản, thường bên thế chấp sử dụng những tài sản như: Quyền sử dụng đất, rừng sản suất là rừng trồng, tàu biển, phương tiện giao thông cơ giới đường bộ Đối với cầm cố, bên cầm cố có thể mang tài sản
đi cầm cố với nhiều loại tài sản khác nhau, miễn sau đó là tài sản có giá trị trong trao đổi, lưu thông Phương tiện giao thông cơ giới đường bộ hiện nay được xem là đối tượng phổ biến của thế chấp, cầm cố vì cơ bản đáp ứng được lợi ích mà các bên tham gia hướng đến Theo số liệu thống kê của Phòng CSGT đường bộ - Công an tỉnh Cà Mau, từ năm 2011 đến năm 2016, trên địa bàn tỉnh Cà Mau, cứ 100 phương tiện giao thông cơ giới đường bộ làm thủ tục đăng ký thì có khoản 50 đến 60 trường hợp thuộc dạng thế chấp tại các NHTM hoặc mua lại từ các cơ sở cầm đồ Sở dĩ có hiện tượng trên là
do các bên tham gia vào quan hệ này đều có những lợi ích nhất định mà họ mong muốn
Tuy nhiên, trong thực tế việc thế chấp phương tiện giao thông cơ giới đường bộ lại phát sinh nhiều rủi ro, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của các bên liên quan; bên nhận thế chấp do không nắm giữ PT, do PT phải thường xuyên di chuyển, dễ giảm sút giá trị, nên thường phải đối mặt với những rủi ro như: Rủi ro về tài sản; rủi
Trang 9ro gánh chịu thay bên thế chấp; rủi ro trong thi hành án; phí công chứng, phí đấu giá, phí luật sư; rủi ro về tín dụng Bên thế chấp cũng đối mặt với rủi ro về lãi suất được điều chỉnh theo định kỳ, nếu không trả được nợ, tài sản sẽ bị thu hồi để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ
Đối với cầm cố phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, bên nhận cầm cố tuy nắm giữ được tài sản nhưng vẫn phải chịu rủi ro khi cầm cố phải những PT bị đục lại số khung, số máy hoặc bị cắt hàn; PT gắn biển số giả, PT có giấy chứng nhận đăng ký bị làm giả, PTlà vật chứng trong các vụ án trộm, cướp, lừa đảo; PT là đồng
sở hữu Bên cầm cố phải chịu rủi ro có thể bị mất PT vì trả lãi quá cao
Ngoài những rủi ro nêu trên, trong thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật về thế chấp, cầm cố tài sản nói chung, phương tiện giao thông cơ giới đường bộ nói riêng vẫn còn nhiều vướng mắc, bất cập ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia, đến công tác quản lý nhà nước trên lĩnh vực giao thông đường bộ
Với hai lý do trên, học viên chọn đề tài “Thế chấp, cầm cố phương tiện giao
thông cơ giới đường bộ trên địa bàn tỉnh Cà Mau: Thực trạng và giải pháp” làm
luận văn tốt nghiệp
2 Giả thuyết, câu hỏi nghiên cứu
2.1 Giả thuyết nghiên cứu
Những bất hợp lý trong pháp luật về thủ tục chuyển nhượng, thời điểm chuyển giao
quyền sở hữu phương tiện giao thông đường bộ đang làm cho hoạt động thế chấp, cầm cố phương tiện giao thông cơ giới đường bộ trở nên rủi ro
2.2 Câu hỏi nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, tác giả xác định luận văn cần trả lời 02 câu hỏi sau:
(1) Thế chấp, cầm cố PTGTCG ĐB được pháp luật quy định như thế nào? Thực tiễn tại Cà Mau cho thấy có những rủi ro gì ?
(2) Giải pháp nào để quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ được đảm bảo thực hiện, góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước trên lĩnh vực giao thông đường bộ
Trang 10thông cơ giới đường bộ trên địa bàn tỉnh Cà Mau: Thực trạng và giải pháp” Đây là
vấn đề mới được tác giả chọn nghiên cứu
3.1 Tình hình nghiên cứu xung quanh câu hỏi nghiên cứu thứ nhất
Nghiên cứu thế chấp, cầm cố tài sản nói chung, PTGTCG ĐB nói riêng thông qua các văn bản quy phạm pháp luật và các rủi ro đã và sẽ xảy ra trong thực tế
3.2 Tình hình nghiên cứu xung quanh câu hỏi nghiên cứu thứ hai
Nghiên cứu thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật có liên quan đến thế chấp, cầm cố phương tiện giao thông cơ giới đường bộ; đối chiếu với thực tế, phát hiện những vướng mắc, bất cập, trên cơ sở đó đề ra các giải pháp góp phần từng bước hoàn thiện các quy định của pháp luật, hạn chế rủi ro cho các bên thế chấp, cầm cố
4 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn đi sâu tìm hiểu các quy định của pháp luật Việt Nam về thế chấp, cầm cố tài sản nói chung, thế chấp, cầm cố phương tiện giao thông cơ giới đường bộ nói riêng Hai biện pháp này có vai trò như thế nào trong đời sống xã hội Khi các chủ thể tham gia vào mối quan hệ này, ngoài những lợi ích mà hai biện pháp này mang đến, chủ thể tham gia còn chịu những rủi ro gì Đồng thời, làm rõ những quy định của pháp luật hiện hành về thế chấp, cầm cố tài sản còn có những bất cập gì khi áp dụng trong thực tế Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp phù hợp
Để đạt được mục đích trên, luận văn có các nhiệm vụ cơ bản sau:
(1) Làm rõ những vấn đề lý luận về thế chấp, cầm cố tài sản nói chung và thế chấp, cầm cố phương tiện giao thông cơ giới đường bộ nói riêng; rủi ro nào phát sinh ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia
(2) Phân tích cụ thể những quy định của pháp luật, đối chiếu thực tiễn, phát hiện bất cập, đề ra giải pháp
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Thế chấp, cầm cố phương tiện giao thông cơ giới đường bộ trên địa bàn tỉnh Cà Mau
4.3 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về thời gian: Từ năm 2011 đến năm 2016
- Phạm vi về địa bàn nghiên cứu: Tỉnh Cà Mau
5 Các phương pháp tiến hành nghiên cứu; khung lý thuyết
5.1 Các phương pháp nghiên cứu
Trang 11Để phù hợp với đối tượng, mục đích nghiên cứu, tác giả đề tài sử dụng một cách linh hoạt và hợp lý các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:
- Phương pháp phân tích số liệu
- Phương pháp tổng hợp, đối chiếu, so sánh, thống kê
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
- ROCCIPI để lý giải hành vi bất tuân
5.2 Khung lý thuyết
Trong luận văn này tác giả dựa vào khung lý thuyết chi phí giao dịch: Khi chi phí thế chấp, cầm cố thấp thì các chủ thể sẽ tích cực áp dụng biện pháp bảo đảm; tương tự khi rủi ro cao thì trái chủ thường yêu cầu thụ trái thực hiện biện pháp bảo đảm
6 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài
Những kết quả đạt được của đề tài này sẽ dự báo được những rủi ro trong thế chấp, cầm cố phương tiện giao thông cơ giới đường bộ; phát hiện những quy định pháp luật về thế chấp, cầm cố phương tiện giao thông cơ giới đường bộ chưa phù hợp với thực tiễn; đưa ra những khuyến nghị về: Chính sách pháp luật, về thực tiễn bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, về hoạt động quản lý phương tiện giao thông cơ giới đường bộ của
cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Trang 12Chương 1: Những vấn đề lý luận về phương tiện giao thông cơ giới đường bộ
1.1 Khái niệm, đặc điểm, phân loại, tính chất của thế chấp tài sản
1.1.1 Khái niệm thế chấp tài sản
Điều 317, BLDS 2015 quy định như sau: „„1 Thế chấp tài sản là việc một bên
(sau đây gọi là bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ mà không giao tài sản cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận thế chấp) 2 Tài sản thế chấp do bên thế chấp giữ, các bên có thể thỏa thuận giao cho người thứ ba giữ tài sản thế chấp‟‟
Như vậy, thế chấp tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên hoặc theo quy định của pháp luật, theo đó bên có nghĩa vụ phải dùng tài sản của mình để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ cho bên có quyền nhưng không chuyển giao tài sản Các bên có thể thỏa thuận giao tài sản cho người thứ ba giữ
1.1.2 Đặc điểm của thế chấp tài sản
Thế chấp tài sản được xem là giải pháp linh hoạt cho việc vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ; đồng thời tạo điều kiện cho bên thế chấp tiếp tục sử dụng tài sản thế chấp, để phục vụ các hoạt động sản xuất, kinh doanh, giúp bên thế chấp có nguồn vốn để trả nợ cho bên nhận thế chấp Theo quy định của pháp luật, thế chấp tài sản
có đặc điểm như sau:
1.1.2.1 Là tài sản thuộc quyền sở hữu của bên thế chấp
Tài sản thế chấp phải thuộc quyền sở hữu của bên thế chấp (có thể thế chấp một hoặc nhiều tài sản để đảm bảo cho việc thực hiện nghĩa vụ) Đặc điểm này có ý nghĩa quan trọng đối với bên nhận thế chấp, vì khi bên thế chấp không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì bên nhận thế chấp có quyền yêu cầu bên thế chấp giao tài sản đó cho mình để xử lý nhằm bù đắp quyền lợi và chỉ có thể xử
lý tài sản thế chấp khi tài sản đó thuộc quyền sở hữu của bên thế chấp Do đó bên thế chấp không thể dùng tài sản thuộc sở hữu của người khác để thế chấp bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ của mình
1.1.2.2 Bên thế chấp không phải chuyển giao tài sản thế chấp cho bên nhận thế chấp
Tài sản thế chấp thường là động sản hay bất động sản Trong quan hệ thế chấp tài sản, bên thế chấp không phải chuyển giao tài sản cho bên nhận thế chấp hoặc việc chuyển giao cho bên nhận thế chấp giữ sẽ gặp khó khăn trong việc giao nhận
Trang 13và bảo quản Bên thế chấp sẽ chuyển giao cho bên nhận thế chấp giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu, tùy trường hợp pháp luật có những quy định khác nhau
- Với đặc điểm không chuyển giao tài sản, bên thế chấp được quyền tiếp tục sử dụng khai thác công dụng của tài sản theo quy định của pháp luật dân sự và quyền này được cụ thể tại Điều 321, BLDS 20152
Theo đó, bên thế chấp là chủ sở hữu tài sản và giữ tài sản thế chấp, nếu các bên có thỏa thuận trong hợp đồng thế chấp thì bên thế chấp có quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản thế chấp
Để khai thác công dụng của tài sản có hiệu quả hơn, trong thời hạn thế chấp, bên thế chấp có quyền đầu tư làm tăng giá trị của tài sản Việc tăng giá trị này cũng
sẽ đảm bảo thanh toán nghĩa vụ tốt hơn
Giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu thông thường bên nhận thế chấp giữ Trường hợp tài sản do người thứ ba giữ thì bên thế chấp có quyền nhận lại tài sản từ người thứ ba và giấy tờ từ người nhận thế chấp khi thực hiện xong nghĩa vụ hoặc đã dùng biện pháp bảo đảm khác để thay thế cho biện pháp thế chấp
Trong quá trình sản suất, kinh doanh, hàng hóa cần được lưu thông mang lại lợi nhuận cho người sản suất, kinh doanh, nếu hàng hóa luân chuyển là tài sản thế chấp thì bên thế chấp có quyền bán, trao đổi, thay thế, quyền yêu cầu thanh toán, tài sản có được từ việc định đoạt đó trở thành tài sản thế chấp
Nếu tài sản thế chấp là kho hàng, trong quá trình sản suất, kinh doanh bên thế chấp có quyền thay thế hàng hóa đó bằng hàng hóa khác có giá trị tương đương hàng hóa thế chấp
Tài sản thế chấp không phải là hàng hóa luân chuyển bên thế chấp chỉ được bán, trao đổi, tặng cho nếu được bên nhận thế chấp đồng ý Tài sản thế chấp do bên thế chấp giữ và khai thác công dụng, pháp luật cho phép bên thế chấp có quyền cho thuê, cho mượn tài sản thế chấp nhưng phải thông báo cho bên nhận thế chấp biết
2Điều 321, BLDS 2015 quy định: Quyền của bên thế chấp “1 Khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản thế chấp, trừ trường hợp hoa lợi, lợi tức cũng là tài sản thế chấp theo thỏa thuận 2 Được đầu tư làm tăng giá trị của tài sản thế chấp 3 Nhận lại tài sản thế chấp do người thứ ba giữ và giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp do bên nhận thế chấp giữ khi nghĩa vụ được bảo đảm bằng thế chấp chấm dứt hoặc được thay thế bằng biện pháp bảo đảm khác 4 Được bán, thay thế, trao đổi tài sản thế chấp, nếu tài sản
đó là hàng hóa luân chuyển trong quá trình sản xuất, kinh doanh Trong trường hợp này, quyền yêu cầu bên mua thanh toán tiền, số tiền thu được, tài sản hình thành từ số tiền thu được, tài sản được thay thế hoặc được trao đổi trở thành tài sản thế chấp Trường hợp tài sản thế chấp là kho hàng thì bên thế chấp được quyền thay thế hàng hóa trong kho, nhưng phải đảm bảo giá trị của hàng hóa trong kho đúng như thỏa thuận 5 Được bán, trao đổi, tặng cho tài sản thế chấp không phải là hàng hóa luân chuyển trong quá trình sản suất, kinh doanh, nếu được bên nhận thế chấp đồng ý hoặc theo quy định của luật 6 Được cho thuê, cho mượn tài sản thế chấp nhưng phải thông báo bên thuê, bên mượn biết về việc tài sản cho thuê, cho mượn đang được dùng để thế chấp và phải thông báo cho bên nhận thế chấp biết"
Trang 14- Cùng với quyền đối với tài sản đã thế chấp, trong quá trình nắm giữ tài sản, bên thế chấp phải có nghĩa vụ nhất định và được ghi nhận tại Điều 348, BLDS
2005, nay là Điều 320, BLDS 20153
Theo đó, đối với tài sản thế chấp là động sản hoặc bất động sản phải đăng ký quyền sở hữu, các bên có thể thỏa thuận bên thế chấp phải giao giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu tài sản, tuy nhiên có những loại tài sản khi thế chấp vẫn phải sử dụng giấy chứng nhận quyền sở hữu mới có thể lưu hành đúng theo quy định của pháp luật như: Tàu biển, phương tiện giao thông cơ giới đường bộ Như vậy, luật không bắt buộc phải chuyển giao giấy tờ trừ trường hợp các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật
có quy định khác
Do bên thế chấp nắm giữ tài sản và được quyền khai thác sử dụng, nên phải có nghĩa vụ bảo quản tài sản không để hư hỏng, mất mát, hao hụt, bảo tồn giá trị tài sản thế chấp Khi tài sản có nguy cơ bị hư hỏng, giảm sút giá trị, bên thế chấp phải
áp dụng mọi biện pháp cần thiết để khắc phục
Trong thời hạn thế chấp, nếu tài sản bị hư hỏng, giảm sút giá trị bên thế chấp phải thông báo cho bên nhận thế chấp biết để các bên hợp tác khắc phục, hoặc đưa
ra biện pháp khắc phục khác
Trường hợp, bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng hoặc trường hợp khác do luật quy định, theo yêu cầu của bên nhận thế chấp, bên thế chấp phải giao tài sản cho bên nhận thế chấp xử lý
Bên thế chấp phải thông báo cho bên nhận thế chấp về quyền của người thứ ba đối với tài sản thế chấp Trường hợp không thông báo thì bên nhận thế chấp có quyền hủy bỏ thế chấp và yêu cầu bồi thường thiệt hại (nếu có)
Trong thời hạn thế chấp, quyền định đoạt đối với tài sản của bên thế chấp bị hạn chế, vì việc bán tài sản thế chấp ảnh hưởng đến quyền của bên nhận thế chấp,
nó làm cho nghĩa vụ vốn được bảo đảm trở thành nghĩa vụ không có bảo đảm Bên thế chấp được bán tài sản thế chấp (Khoản 4, khoản 5, Điều 321, BLDS 2015), nếu tài sản thế chấp là hàng hóa luân chuyển trong quá trình sản xuất kinh doanh
3Điều 320, BLDS 2015 quy định về nghĩa vụ của bên thế chấp “1 Giao giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp trong trường hợp các bên có thỏa thuận, trừ trương hợp luật có quy định khác 2 Bảo quản, giữ gìn tài sản thế chấp 3 Áp dụng các biện pháp cần thiết để khắc phục, kể cả phải ngừng khai thác công dụng tài sản thế chấp nếu do việc khai thác đó mà tài sản thế chấp có nguy cơ mất giá trị hoặc giảm sút giá trị 4 Khi tài sản thế chấp bị hư hỏng thì trong một thời gian hợp lý bên thế chấp phải sữa chửa hoặc thay thế bằng tài sản khác có giá trị tương đương, trừ trường hợp có thỏa thuận khác 5 Cung cấp thông tin về thực trạng tài sản thế chấp cho bên thế chấp 6 Giao tài sản thế chấp cho bên nhận thế chấp xử lý khi thuộc một trong các trường hợp xử lý tài sản bảo đảm theo quy định tại Điều 299, của Bộ Luật này 7 Thông báo cho bên nhận thế chấp về các quyền của người thứ ba đối với tài sản thế chấp, nếu có; trường hợp không thông báo thì bên nhận thế chấp có quyền hủy hợp đồng thế chấp tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại hoặc duy trì hợp đồng và chấp nhận quyền của người thứ ba đối với tài sản thế chấp 8 Không được bán, thay thế, trao đổi, tặng cho tài sản thế chấp trừ trường hợp được quy định tại Khoản 4 và Khoản 5, Điều 321 của Bộ luật này"
Trang 151.1.2.3 Tài sản thế chấp có thể giao cho người thứ ba giữ nếu như có thỏa thuận
Do tài sản thế chấp khó chuyển giao và việc bảo quản đôi lúc gặp khó khăn, thậm chí bên nhận thế chấp không đủ điều kiện để bảo quản, ví dụ: Thực phẩm đông lạnh cho nên bên thế chấp giữ tài sản thế chấp Tuy nhiên, có một số loại tài sản nếu như bên thế chấp giữ mà bên nhận thế chấp không kiểm soát được, các bên
có thể thỏa thuận gửi người thứ ba giữ và người thứ ba là bên có nghĩa vụ trong hợp đồng gửi giữ tài sản Đồng thời, người thứ ba trong quá trình giữ tài sản thế chấp họ cũng có những quyền và nghĩa vụ nhất định4
Tài sản thế chấp do người thứ ba giữ, thì người thứ ba không được sử dụng tài sản, trừ trường hợp có thỏa thuận, nhưng không được làm hư hỏng, giảm sút giá trị tài sản Hợp đồng gửi giữ với người thứ ba thường là hợp đồng gửi giữ có đền bù Thông thường, hợp đồng gửi giữ có đền bù, nếu người thứ ba không làm dịch vụ gửi giữ tài sản thì tùy thuộc vào sự thỏa thuận giữa các bên
Người thứ ba phải có nghĩa vụ của người giữ theo quy định của hợp đồng gửi giữ, nếu vi phạm nghĩa vụ gây ra thiệt hại thì phải bồi thường
Trường hợp có thỏa thuận với bên thế chấp, người thứ ba được phép khai thác công dụng của tài sản thế chấp, đồng thời phải dừng ngay việc khai thác, sử dụng nếu có nguy cơ làm mất giá trị hoặc giảm sút giá trị tài sản thế chấp
Trường hợp bên thế chấp đã thực hiện xong nghĩa vụ, hoặc tài sản thế chấp bị
xử lý theo quy định của pháp luật, thì người thứ ba phải giao lại tài sản thế chấp để bên thế chấp và bên nhận thế chấp xử lý tài sản
1.1.2.4 Tài sản thế chấp có thể dùng để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ
Một đặc điểm không kém phần quan trọng đó là tài sản thế chấp có thể được dùng để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ, được quy định tại Điều 296, BLDS
20155, nhìn chung Điều 296, BLDS 2015 kế thừa BLDS 2005
4Điều 324, BLDS 2015 quy định quyền và nghĩa vụ của người thứ ba giữ tài sản thế chấp: “1 Người thứ ba giữ tài sản thế chấp có các quyền sau đây: a) Được khai thác công dụng tài sản thế chấp; nếu có thỏa thuận; b) Được trả thù lao và chi phí bảo quản, giữ gìn tài sản thế chấp, trừ trường hợp có thỏa thuận khác 2 Người thứ ba giữ tài sản thế chấp có các nghĩa vụ sau đây: a) Bảo quản, giữ gìn tài sản thế chấp; nếu làm mất tài sản thế chấp, làm mất giá trị hoặc giảm sút giá trị của tài sản thế chấp thì phải bồi thường; b) Không được phép khai thác công dụng của tài sản thế chấp nếu việc tiếp tục khai thác có nguy cơ làm mất giá trị hoặc giảm sút giá trị của tài sản thế chấp; c) Giao lại tài sản thế chấp cho bên nhận thế chấp hoặc bên thế chấp theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật".
5Điều 296, BLDS 2015 quy định một tài sản dùng để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ: „„ 1 Một tài sản có thể được dùng để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ, nếu có giá trị tại thời điểm xác lập giao dịch bảo đảm lớn hơn tổng giá trị các nghĩa vụ được bảo đảm, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác 2 Trường hợp một tài sản được bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ thì bên bảo đảm phải thông báo cho bên nhận bảo đảm sau biết về tài sản bảo đảm đang được dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ khác Mỗi lần bảo đảm phải được lập thành văn bản 3 Trường hợp phải xử lý tài sản để thực hiện một nghĩa vụ đến hạn thì các nghĩa vụ khác tuy chưa đến hạn điều được coi là đến hạn và tất cả các bên cùng nhận bảo đảm đều được tham gia xử lý tài sản Bên nhận bảo đảm đã thông báo về việc xử lý tài sản có trách nhiệm xử lý tài sản, nếu các bên cùng nhận bảo đảm không có thỏa thuận khác
Trang 16Khi xác lập biện pháp bảo đảm, các bên lựa chọn một tài sản có giá trị tương đương với nghĩa vụ được bảo đảm Tuy nhiên, trường hợp giá trị tài sản lớn hơn nhiều nghĩa vụ được bảo đảm thì các bên thỏa thuận bảo đảm nhiều nghĩa vụ Trường hợp các bên thỏa thuận tổng giá trị nghĩa vụ được bảo đảm lớn hơn tổng giá trị tài sản bảo đảm thì phần nghĩa vụ vượt bảo đảm sẽ không được bảo đảm, vì vậy bên nhận bảo đảm có thể bị rủi ro về phần giá trị nghĩa vụ vượt đó Khoản 4, Điều
295, BLDS 2015 và Điều 5, Nghị định 163/2006/NĐ-CP của Chính phủ quy định
về giao dịch bảo đảm, cho phép các bên có thể thỏa thuận dùng tài sản có giá trị nhỏ hơn, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác
Một tài sản bảo đảm nhiều nghĩa vụ của một hoặc nhiều người nhận bảo đảm, nếu nhiều người thì bên bảo đảm phải thông báo cho những người nhận bảo đảm khác biết tài sản đó đang bảo đảm cho một nghĩa vụ Quy định này phù hợp với quy định tại Điều 387, BLDS 2015 quy định về thông tin trong giao kết hợp đồng, Điều
308, BLDS 2015 về thứ tự ưu tiên thanh toán giữa các bên cùng nhận tài sản bảo đảm Trường hợp một tài sản bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ mà các nghĩa vụ đó
có thời hạn thực hiện khác nhau, thì nếu một nghĩa vụ đến hạn và phải xử lý tài sảnbảo đảm thì những nghĩa vụ khác được coi là đến hạn Người nhận bảo đảm đã thông báo về việc xử lý tài sản bảo đảm có nghĩa vụ thông báo cho tất cả những người nhận bảo đảm khác về xử lý tài sản bảo đảm
1.1.3 Phân loại tài sản thế chấp
BLDS 2005 tuy có quy định tài sản thế chấp gồm những trường hợp nào, nhưng còn nằm rải rác ở nhiều điều luật BLDS 2015 đã dành một điều luật riêng để phân loại tài sản thế chấp và được quy định cụ thể tại Điều 3186 Theo quy định này tài sản thế chấp chia thành các loại như sau:
Trang 171.1.3.1 Tài sản thế chấp là bất động sản
Khoản 1, Điều 174, BLDS 2005 quy định „„1 Bất động sản là các tài sản bao
gồm: a) Đất đai; b) Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai, kể cả các tài sản gắn liền với công trình xây dựng đó; c) Các tài sản khác gắn liền với đất đai; d) Các tài sản khác do pháp luật quy định”
Quy định trên nay được điều chỉnh tại Khoản 1, Điều 107, BLDS 2015 như
sau: „„1 Bất động sản bao gồm: a) Đất đai; b) Nhà, công trình xây dựng gắn liền
với đất đai; c) Tài sản khác gắn liền với đất đai, nhà, công trình xây dựng; d) Tài sản khác theo quy định của pháp luật”
Theo quy định tại Khoản 1, Khoản 2, Điều 318, BLDS 2015 khi thế chấp tài sản là bất động sản có hai trường hợp:
Trường hợp thế chấp toàn bộ bất động sản có vật phụ thì vật phụ của bất động sản cũng thuộc tài sản thế chấp, trừ trường hợp có thỏa thuận khác (Điều 342, BLDS 2005 quy định: Trường hợp thế chấp toàn bộ bất động sản có vật phụ thì toàn
bộ vật phụ của động sản đó thuộc tài sản thế chấp)
Trường hợp thế chấp một phần bất động sản có vật phụ, thì vật phụ gắn với tài sản đó thuộc tài sản thế chấp, trừ trường hợp có thỏa thuận khác, không có sự thay đổi so với BLDS 2005
Trường hợp thế chấp một phần bất động sản có vật phụ thì vật phụ gắn với tài sản đó thuộc tài sản thế chấp, trừ trường hợp có thỏa thuận khác, không có sự thay đổi so với BLDS 2005
1.1.3.3 Tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất
Nếu như BLDS 2005 chỉ quy định khi có sự thỏa thuận tài sản gắn liền với đất mới được xem là tài sản thế chấp, đến BLDS 2015 đã mặc định nếu thế chấp quyền
Trang 18sử dụng đất mà tài sản gắn liền với đất thuộc quyền sở hữu của bên thế chấp thì đó cũng thuộc tài sản thế chấp, trừ trường hợp có thỏa thuận khác
Điều 3257
, 3268 BLDS 2015 quy định rất rõ việc thế chấp quyền sử dụng đất
mà không thế chấp tài sản gắn liền với đất và thế chấp tài sản gắn liền với đất mà không thế chấp quyền sử dụng đất
Thế chấp quyền sử dụng đất cũng là một trong những biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự; tài sản để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ là quyền sử dụng đất Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất vừa phải tuân thủ các quy định về thế chấp tài sản vừa phải tuân thủ theo quy định về hợp đồng quyền sử dụng đất được quy định tại Mục 7, Chương XVI, BLDS 2015, Luật đất đai năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành có liên quan đến đất đai
BLDS 2015 không quy định tài sản hình thành trong tương lai là đối tượng thế chấp, vì đây được xem là bất cập của BLDS 2005 Việc trước đây xem tài sản hình hành trong tương lai là đối tượng thế chấp nó đã tạo rủi ro cao cho bên nhận thế chấp, vì tài sản hình thành trong tương lai có thể không hình thành và bên nhận thế chấp chỉ giữ giấy tờ chứng minh rằng tài sản đó sẽ hình thành trong tương lai, khi rủi ro xảy ra bên thế chấp không có tài sản để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ
1.1.4 Phân loại thế chấp
Dựa theo lý do, mục đích thế chấp, chủ thể nhận thế chấp, chủ thể thường gánh chịu rủi ro trong biên pháp bảo đảm này, tác giả phân loại thế chấp như sau:
* Phân loại theo chủ thể nhận thế chấp:
Chủ thể nhận thế chấp phải có đầy đủ các điều kiện theo pháp luật quy định đối với người tham gia giao dịch nói chung Trên thực tế, đối với nhận thế chấp PTGTCG ĐB, chủ thể nhận thế chấp thường bao gồm: Chủ thể nhận thế chấp là các
tổ chức tín dụng; Chủ thể nhận thế chấp là các tổ chức phi tín dụng (như: Cơ sở kinh doanh dịch vụ cầm đồ; các chủ thể nhận thế chấp núp bóng dưới các hình thức kinh doanh khác; các chủ thể hành nghề tự do)
7 Điều 325, BLDS 2015 quy định: Trường hợp thế chấp quyền sử dụng đất mà không thế chấp tài sản gắn liền với đất và người sử dụng đất đồng thời là chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất thì tài sản được xử lý bao gồm cả tài sản gắn liền với đất, trừ trường hợp có thỏa thuận khác
Trường hợp thế chấp quyền sử dụng đất mà người sử dụng đất không đồng thời là chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất thì khi xử lý quyền
sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất được tiếp tục sử dụng đất trong phạm vi quyền, nghĩa vụ của mình; quyền nghĩa vụ của bên thế chấp trong mối quan hệ với chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất được chuyển giao cho người nhận chuyển quyền sử dụng đất, trừ trường hợp có thỏa thuận khác
8 Điều 326 BLDS 2015 quy định rường hợp chỉ thế chấp tài sản gắn liền với đất mà không thế chấp quyền sử dụng đất và chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất không đồng thời là người sử dụng đất thì khi xử lý tài sản gắn liền với đất, người nhận chuyển quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất được tiếp tục sử dụng đất trong phạm vi quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất được chuyển giao, trừ trường hợp có thỏa thuận khác
Trang 19* Phân loại theo mục đích của bên thế chấp
Điều 118, BLDS 2015 quy định: "Mục đích của giao dịch dân sự là lợi ích mà
chủ thể mong muốn đạt được khi xác lập giao dịch đó" Thông thường những lợi
ích mà bên thế chấp mong muốn đạt được khi xác lập giao dịch là những lợi ích chính đáng hợp pháp
Đối với thế chấp nói chung và thế chấp phương tiện giao thông cơ giới đường bộ nói riêng, mục đích của bên thế chấp không phải lúc nào cũng nhằm thỏa mãn lợi ích chính đáng, hợp pháp của mình; mà đôi khi thông qua đó để xâm phạm lợi ích của bên nhận thế chấp Chúng ta có thể chia mục đích của bên thế chấp thành 2 loại:
Loại thứ nhất: Mục đích chính đáng, hợp pháp không xâm phạm đến lợi ích
của bên nhận thế chấp
Loại thứ hai: Mục đích không chính đáng, tức là thông qua giao dịch để xâm
phạm lợi ích của bên nhận thế chấp
1.1.5 Tính chất của thế chấp tài sản
Thế chấp tài sản là biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ được sử dụng phổ biến nhất hiện nay, vì để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ nhưng không chuyển giao tài sản cho bên có quyền, mà bên thế chấp chỉ cần chuyển giao giấy tờ chứng minh tình trạng pháp lý của tài sản, điều đó sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho bên thế chấp có cơ hội tiếp tục khai thác công dụng của tài sản Đối tượng của thế chấp rất phong phú gồm: Bất động sản, động sản, quyền tài sản
BLDS 2015 vẫn tiếp tục kế thừa quan điểm thế chấp là biện pháp bảo đảm có tính chất đối vật của BLDS 2005, nghĩa là, bảo đảm bằng tài sản cụ thể thuộc quyền
sở hữu của bên bảo đảm Tuy nhiên, BLDS 2015 lại không khẳng định một cách rõ ràng về việc bên thế chấp có quyền dùng tài sản của mình để bảo đảm thực hiện
nghĩa vụ của người khác hay không Mặc dù vậy, trên nguyên tắc, “quyền dân sự chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của
và “mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng” 10, theo học viên, các bên có quyền tự do lựa chọn hình thức thế chấp (bao gồm cả hình thức thế chấp tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của người
9 Khoản 2, Điều 2, Bộ luật Dân sự năm 2015
10 Khoản 2, Điều 3, Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trang 20khác) vì quyền dân sự này không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, đồng thời, cũng không thuộc các trường hợp bị hạn chế quyền theo quy định của luật Như vây, chủ sở hữu tài sản được quyền tự do định đoạt việc dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện các nghĩa vụ, không phụ thuộc và bị giới hạn bởi chủ thể của nghĩa vụ được bảo đảm là ai
1.2 Khái niệm, đặc điểm, phân loại, tính chất của cầm cố tài sản
1.2.1 Khái niệm cầm cố tài sản
Trước BLDS, khái niệm cầm cố được quy định tại Khoản 2, Điều 2, Nghị định số 17 ngày 16/01/1990 hướng dẫn thi hành Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm
1989 và được hiểu là „„ trao động sản thuộc quyền sở hữu của mình cho người cùng quan hệ hợp đồng để giữ làm tin và bảo đảm tài sản trong trường hợp vi phạm hợp đồng kinh tế đã ký kết ‟‟
Theo giáo trình Luật Dân sự Trường Đại học Luật Hà Nội: “Để đảm bảo chắc
chắn quyền dân sự của người có quyền được thỏa mãn, các bên trong quan hệ nghĩa vụ có thể thỏa thuận, theo đó bên có nghĩa vụ phải giao cho người có quyền một tài sản nhất định Trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì bên có quyền đã có sẵn một tài sản mà người có nghĩa vụ đã giao cho mình để từ tài sản đó khấu trừ nghĩa vụ chưa được thực hiện
Vì vậy, về phương diện ngữ nghĩa thì cầm cố tài sản là việc một người cầm trước (giữ sẵn) một tài sản của người khác để đảm bảo quyền, lợi ích của mình‟‟ 11
Điều 326, BLDS 2005 nay được thay thế bởi Điều 309, BLDS 2015 quy định
"Cầm cố tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên cầm cố) giao tài sản thuộc
quyền sở hữu của mình cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận cầm cố) để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ"
Như vậy, bên cầm cố tài sản là bên dùng tài sản thuộc sở hữu của mình giao cho bên nhận cầm cố nắm giữ để bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ của mình hoặc của người khác Bên cầm cố tài sản có thể là bên có nghĩa vụ trong quan hệ nghĩa vụ được bảo đảm bằng cầm cố tài sản, có thể là người thứ ba Bên nhận cầm
cố bao giờ cũng là bên có quyền trong quan hệ nghĩa vụ được bảo đảm bằng cầm cố
Cầm cố là biện pháp bảo đảm có tính hiệu quả nhất trong các biện pháp bảo đảm, vì bên nhận cầm cố nắm giữ tài sản, khi bên cầm cố không thực hiện nghĩa vụ đúng theo thỏa thuận họ có quyền xử lý tài sản để bù trừ nghĩa vụ
11 Trang 63, Tập 2, Giáo trình Luật Dân sự, Trường Đại học Luật Hà Nội
Trang 21Tuy nhiên, đây là biện pháp bảo đảm dễ xảy ra tranh chấp, vì đối tượng của cầm cố rất đa dạng, mà đa phần những tài sản đó không buộc phải đăng ký quyền, nhưng bù lại bên nhận cầm cố ít chịu rủi ro hơn về tài sản vì họ đang nắm giữ tài sản và có quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức nếu như có thỏa thuận, nhưng phải chịu trách nhiệm trong việc bảo quản giữ gìn tài sản
1.2.2 Đặc điểm cầm cố tài sản
Thứ nhất, phải là tài sản thuộc quyền sở hữu của bên cầm cố
Tài sản cầm cố phải thuộc quyền sở hữu của bên cầm cố Đặc điểm này có ý nghĩa quan trọng đối với bên nhận cầm cố, vì khi bên cầm cố không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì bên nhận cầm cố có quyền xử lý tài sản cầm cố theo phương thức đã thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật để bù đắp quyền lợi của mình và chỉ có thể xử lý tài sản cầm cố khi tài sản đó thuộc quyền sở hữu của bên cầm cố Chính vì vậy, bên cầm cố không thể dùng tài sản thuộc sở hữu của người khác cầm cố để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ của mình
Tuy nhiên, trong thực tế để xác định được tài sản cầm cố có thuộc quyền sở hữu của bên cầm cố hay không nếu xác định tài sản đó có giấy tờ chứng nhận quyền
sở hữu; đối với những loại tài sản không có đăng ký quyền sở hữu thì bên nhận cầm
cố không có căn cứ để xác định tài sản đó có thuộc quyền sở hữu của bên cầm cố
Vì vậy, nếu nhận cầm cố những tài sản không giấy chứng nhận quyền sở hữu, bên nhận cầm cố sẽ dễ gặp rủi ro trong hoạt động kinh doanh của mình
Thứ hai, tài sản cầm cố do bên nhận cầm cố giữ
Cầm cố là biện pháp bảo đảm có tính hiệu quả nhất trong các biện pháp bảo đảm, vì bên nhận cầm cố đã nắm giữ tài sản của bên cầm cố, cho nên khi xử lý tài sản cầm cố sẽ thuận lợi
Khi nắm giữ tài sản, bên nhận cầm cố được một số quyền nhất định đối với tài sản cầm cố và được quy định tại Điều 314, BLDS 201512 So với quy định tại Điều
333, BLDS 2005 thì Điều 314, BLDS 2015 bổ sung thêm bên nhận cầm cố có quyền cho thuê, cho mượn tài sản cầm cố nếu có thỏa thuận
- Khi được quyền nắm giữ tài sản, bên nhận cầm cố có một số quyền nhất định như: Tài sản cầm cố do bên nhận cầm cố giữ, tuy nhiên tài sản cầm cố có thể bị người khác chiếm hữu sử dụng trái phép (trong trường hợp bị trộm cắp, lạm dụng
12Điều 314, BLDS 2015 quy định quyền của bên nhận cầm cố: “1 yêu cầu người đang chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật tài sản cầm
cố trả lại tài sản đó 2 Xử lý tài sản cầm cố theo phương thức đã thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật 3 Được cho thuê, cho mượn, khai thác công dụng tài sản cầm cố và hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản cầm cố, nếu có thỏa thuận Được thanh toán chi phí hợp
lý bảo quản tài sản cầm cố khi trả lại tài sản cho bên cầm cố"
Trang 22tín nhiệm chiếm đoạt ), trong những trường hợp này bên nhận cầm cố có quyền yêu cầu người chiếm hữu bất hợp pháp giao lại tài sản cho mình
Khi bên cầm cố vi phạm nghĩa vụ, thì bên nhận cầm cố được quyền xử lý tài sản cầm cố để thanh toán nghĩa vụ Nếu giá trị tài sản nhỏ hơn nghĩa vụ bên nhận cầm cố có quyền yêu cầu bên cầm cố dùng tài sản khác để thanh toán nghĩa vụ, ngược lại bên nhận cầm cố trả lại phần giá trị vượt cho bên cầm cố
Các bên có thể thỏa thuận bên cầm cố được cho thuê, cho mượn tài sản cầm
cố, bên nhận cầm cố được cho thuê, cho mượn và phải chịu trách nhiệm về tài sản khi mất mác, hư hỏng Nếu bên nhận cầm cố cho thuê, thì tiền thu được từ cho thuê phải trả lại cho bên cầm cố hoặc khấu trừ vào nghĩa vụ
Đối với những tài sản cầm cố khi bảo quản cần có chi phí, thì bên nhận cầm cố
có quyền yêu cầu bên cầm cố thanh toán chi phí đó
- Bên cạnh quyền, bên nhận cầm cố phải có nghĩa vụ nhất định và được quy định tại Điều 313, BLDS 201513 BLDS 2015 cơ bản kế thừa Điều 333, BLDS
2005, tuy nhiên có bổ sung thêm một số quy định cho phù hợp với thực tế
Theo đó bên nhận cầm cố phải có nghĩa vụ như: Giữ gìn, bảo quản tài sản cầm
cố như của chính mình Bên nhận cầm cố không được định đoạt tài sản cầm cố như bán, cho tặng, đổi hoặc cầm cố cho người thứ ba Trường hợp người nhận cầm cố bán, đổi, cầm cố cho người thứ ba mà tài sản bị bán để thanh toán nghĩa vụ thì người nhận cầm cố phải bồi thường Người cầm cố có quyền đòi lại tài sản do người thứ ba chiếm hữu theo Điều 166, BLDS 201514
Mặc dù tài sản cầm cố được chuyển giao cho bên nhận cầm cố giữ, nhưng bên nhận cầm cố không được cho thuê, cho mượn, khai thác công dụng, hưởng hoa lợi lợi tức từ tài sản cầm cố, trừ trường hợp có thỏa thuận khác
Khi nghĩa vụ bảo đảm chấm dứt, bên nhận cầm cố phải trả lại tài sản và các giấy tờ có liên quan
13Điều 313, BLDS 2015 quy định:“1 Bảo quản, giữ gìn tài sản cầm cố, nếu làm mất, thất lạc hoặc hư hỏng tài sản cầm cố thì phải bồi thường thiệt hại cho bên cầm cố 2 Không được bán, trao đổi, tặng cho, sử dụng tài sản cầm cố để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ khác 3 Không được cho thuê, cho mượn, khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản cầm cố, trừ trường hợp có thỏa thuận khác 4 Trả lại tài sản cầm cố và giấy tờ liên quan, nếu có khi nghĩa vụ được bảo đảm bằng cầm cố chấm dứt hoặc được thay thế bằng biện pháp bảo đảm khác.‟‟
14 Điều 166, BLDS 2015 quyền đòi lại tài sản quy định:“1 Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền đòi lại tài sản từ người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật 2 Chủ sở hữu không có quyền đòi lại tài sản từ sự chiếm hữu của chủ thể đang có quyền khác đối với tài sản đó"
Trang 231.2.3 Phân loại tài sản cầm cố
Bản chất pháp lí của biện pháp cầm cố là sự dịch chuyển tài sản từ bên cầm cố sang bên nhận cầm cố, vì vậy tài sản cầm cố phải là những tài sản có thể dịch chuyển được Mà tài sản di chuyển được chỉ có thể là động sản
Khoản 2, Điều 107, BLDS 2015 quy định “Động sản là những tài sản không
phải là bất động sản" Như vậy, BLDS 2015 đã dựa vào tính chất dịch chuyển của
tài sản để phân biệt tài sản thành bất động sản và động sản Tất cả những tài sản không phải là bất động sản đều là động sản và có thể trở thành đối tượng của cầm cố Ngoài ra, tài sản cầm cố có thể là bất động sản, trường hợp này người nhận cầm cố sẽ trực tiếp giữ bất động sản đó Ví dụ, nhà ở xây dựng xong nhưng chưa ở, bên nhận cầm cố trực tiếp quản lý ngôi nhà đó
Như vậy, tài sản cầm cố có thể là động sản nhưng cũng có thể là bất động sản
1.2.4 Phân loại cầm cố
Dựa theo mục đích cầm cố, chủ thể nhận cầm cố, chủ thể thường gánh chịu rủi
ro trong biên pháp bảo đảm này, tác giả phân loại cầm cố như sau:
* Phân loại theo chủ thể nhận cầm cố
Chủ thể nhận cầm cố phải có đầy đủ các điều kiện theo pháp luật quy định đối với người tham gia giao dịch nói chung Tuy nhiên, trên thực tế, đối với nhận cầm cố phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, chủ thể nhận cầm cố thường bao gồm: Chủ thể nhận cầm cố là các tổ chức tín dụng; chủ thể nhận cầm cố là các cơ sở kinh doanh dịch vụ cầm đồ; chủ thể nhận cầm cố núp bóng dưới các hình thức kinh doanh khác và các chủ thể hành nghề tự do
* Phân loại theo mục đích cầm cố
Đối với cầm cố nói chung và cầm cố phương tiện giao thông cơ giới đường bộ nói riêng, mục đích của bên cầm cố không phải lúc nào cũng nhằm thỏa mãn lợi ích chính đáng, hợp pháp của mình mà đôi khi thông qua đó để xâm phạm lợi ích của những chủ thể khác Chúng ta có thể chia mục đích cầm cố thành 2 loại:
Loại thứ nhất: Mục đích chính đáng, hợp pháp không xâm phạm đến lợi ích
của các chủ thể có liên quan
Loại thứ hai: Mục đích không chính đáng, tức là thông qua giao dịch để tiêu
thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
1.2.5 Tính chất cầm cố tài sản
Thứ nhất, quan hệ cầm cố đòi hỏi phải có sự chuyển giao tài sản bảo đảm
Trang 24Cầm cố tài sản là một trong những biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ hiện nay được sử dụng phổ biến vì tính đa dạng của đối tượng; hình thức cầm cố đơn giản nhanh chóng Nếu như biện pháp thế chấp, bên thế chấp không phải chuyển giao tài sản thì đối với cầm cố bên cầm cố buộc phải chuyển giao tài sản cho bên nhận cầm cố Đây là biện pháp bảo đảm dễ xảy ra tranh chấp vì đối tượng của cầm
cố rất đa dạng, mà đa phần những tài sản đó không buộc phải đăng ký quyền sở hữu, nhưng bù lại bên nhận cầm cố ít chịu rủi ro hơn về tài sản vì họ đang nắm giữ
và có quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi lợi tức nếu như có thỏa thuận, nhưng phải chịu trách nhiệm trong việc bảo quản giữ gìn tài sản
Thứ hai, hợp đồng cầm cố là hợp đồng thực tế
Như vậy, theo quy định của BLDS 2015 thì hiệu lực của hợp đồng cầm cố tài sản không phụ thuộc vào việc bên nhận cầm cố có nắm giữ tài sản hay không mà phụ thuộc sự thỏa thuận của hai bên Vào thời điểm hợp đồng cầm cố có hiệu lực, việc nắm giữ PT cầm cố không nhất thiết phải là bên nhận cầm cố mà có thể là bên nhận cầm cố đang nắm giữ hoặc người thứ ba đang nắm giữ
Thứ ba, quan hệ cầm cố là một dịch vụ kinh doanh tiền tệ có biện pháp bảo
đảm là cầm cố (được gọi là cầm đồ) Bên nhận cầm đồ phải là chủ thể có đăng kí kinh doanh dịch vụ cầm đồ, phải tuân thủ các quy định của pháp luật về lãi suất cho vay, bảo quản và xử lý tài sản cầm cố
1.3 Đặc điểm của thế chấp, cầm cố phương tiện giao thông cơ giới đường bộ
1.3.1 Đặc điểm của thế chấp phương tiện giao thông cơ giới đường bộ
Căn cứ Điều 105, BLDS 2015, thì phương tiện giao thông cơ giới đường bộ được xác định là động sản trong thế chấp và khi trở thành tài sản thế chấp, phương tiện
giao thông cơ giới đường bộ có những đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, là PT thuộc sở hữu của bên thế chấp
Thế chấp phương tiện giao thông cơ giới đường bộ là việc một bên (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng PT thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ mà không giao PT cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận thế chấp)
Đặc điểm này có ý nghĩa quan trọng đối với bên nhận thế chấp, vì khi bên thế chấp không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì bên nhận thế chấp có quyền yêu cầu bên thế chấp giao PT đó cho mình để xử lý nhằm bù đắp quyền lợi
và chỉ có thể xử lý PT thế chấp khi PT đó thuộc quyền sở hữu của bên thế chấp Do
Trang 25đó, bên thế chấp không thể dùng PT thuộc sở hữu của người khác để thế chấp bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ của mình
Thứ hai, bên thế chấp không phải chuyển giao PT thế chấp cho bên nhận thế chấp
Trong quan hệ thế chấp phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, bên thế chấp không phải chuyển giao PT cho bên nhận thế chấp Với đặc điểm không chuyển giao PT, bên thế chấp được quyền tiếp tục sử dụng khai thác công dụng của PT theo quy định tại Điều 321, BLDS 2015 và theo một số quy định riêng của bên nhận thế chấp
So với những loại tài sản được thế chấp khác, phương tiện giao thông cơ giới đường bộ là loại tài sản mà bên thế chấp phải sử dụng thường xuyên, liên tục, dễ hao mòn, dễ xảy rủi ro nên trong quá trình khai thác công dụng, nếu có thỏa thuận thì chủ PT được phép đầu tư làm tăng giá trị của PT (như cải tạo thay đổi kích thước thùng xe đối với xe chở hàng hoặc được thay đổi màu sơn để phù hợp với ngành nghề kinh doanh) Trường hợp việc đầu tư vào tài sản có sự tham gia góp vốn của bên thứ ba, thì phải được bên nhận thế chấp đồng ý bằng văn bản
Phương tiện giao thông cơ giới đường bộ cũng giống như những đối tượng dùng
để thế chấp khác, PT thế chấp do bên thế chấp quản lý, sử dụng và không được có bất kỳ hành vi nào làm hư hỏng, ảnh hưởng đến giá trị của tài sản thế chấp
Trường hợp bên thế chấp có nhu cầu cho thuê, cho mượn thì phải thông báo
và được sự đồng ý trước bằng văn bản của bên nhận thế chấp trước khi thực hiện Đồng thời, bên thế chấp phải thông báo cho bên mượn, bên thuê, bên liên quan biết việc tài sản đang được thế chấp
Bên thế chấp không được cầm cố, thế chấp PT cho bên thứ ba, trừ trường được bên nhận thế chấp đồng ý bằng văn bản Nếu PT bị mất, hư hỏng do bên thứ ba thì toàn bộ số tiền đền bù cũng thuộc tài sản thế chấp
Trong quá trình lưu thông, nếu PT bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền tạm giữ, bên thế chấp có nghĩa vụ thực hiện mọi biện pháp để nhận lại tài sản và chịu mọi rủi ro về PT đang thế chấp
Thứ ba, bên thế chấp không phải chuyển giao giấy chứng nhận đăng ký
phương tiện giao thông
Để giảm bớt rủi ro cho bên nhận thế chấp khi không nắm giữ tài sản, Khoản 6,
Điều 323, BLDS 2015 quy định bên nhận thế chấp có quyền “giữ giấy tờ liên quan
Trang 26đến tài sản thế chấp trong trường hợp các bên có thỏa thuận, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác‟‟, trước đây, BLDS 2005 không quy định nội dung này
Tuy nhiên, đối với phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, Điều 20a, Nghị định
số 11/2012/NĐ-CP của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm,
quy định: “Trong trường hợp tài sản thế chấp là tàu bay, tàu biển hoặc phương tiện
giao thông quy định tại Điều 7a, Nghị định này thì bên thế chấp giữ bản chính Giấy đăng ký phương tiện giao thông trong thời hạn hợp đồng thế chấp có hiệu lực" Thứ tư, trong một số trường hợp bên nhận thế chấp được quyền nắm giữ khai
thác PT đang thế chấp
Trong thời hạn thế chấp, nếu bên thế chấp quản lý, sử dụng PT làm giảm sút nghiêm trọng giá trị PT, có khả năng làm ảnh hưởng đến việc đảm bảo thực hiện nghĩa vụ thì bên nhận thế chấp có quyền yêu cầu bên thế chấp bàn giao lại PT cho bên nhận thế chấp quản lý và bên thế chấp không có bất kỳ hành vi nào gây khó khăn, cản trở Nếu bên thế chấp không bàn giao, bên nhận thế chấp có quyền thu hồi nợ trước hạn và thu hồi tài sản để xử lý Trong thời gian chưa xử lý được PT thế chấp, bên nhận thế chấp được cho thuê, khai thác PT; toàn bộ số tiền thu được từ việc khai thác đó được dùng để trả nợ cho bên thế chấp
Thứ năm, mua bảo hiểm cho PT là nghĩa vụ bắt buộc của bên thế chấp
Bên thế chấp phải có nghĩa vụ mua và chịu chi phí mua bảo hiểm vật chất cho toàn bộ tài sản thế chấp trong suốt thời hạn thế chấp, đồng thời chuyển quyền hưởng thụ bảo hiểm cho bên nhận thế chấp Trong suốt thời hạn thế chấp, bên thế chấp phải bàn giao cho bên nhận thế chấp giữ tất cả các giấy tờ bảo hiểm ngay khi nhận được từ tổ chức bảo hiểm; khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, bên nhận thế chấp có quyền (nhưng không có nghĩa vụ) làm việc trực tiếp với tổ chức bảo hiểm để nhận
số tiền bảo hiểm mà không cần có sự đồng ý của bên thế chấp
Bên thế chấp có nghĩa vụ phối hợp với bên nhận thế chấp để hoàn thành thủ tục nhận bảo hiểm Nếu khoản tiền bảo hiểm nhận được chưa đủ để trả nợ thì bên thế chấp phải bổ sung tài sản bảo đảm, thay thế bằng biện pháp bảo đảm khác
Thứ sáu, bên thế chấp chịu chi phí về đăng ký giao dịch bảo đảm theo yêu cầu của bên nhận thế chấp
Điều 3, NĐ 83/2010/NĐ-CP về đăng ký giao dịch bảo đảm quy định đối tượng
đăng ký giao dịch bảo đảm bắt buộc bao gồm: “Thế chấp quyền sử dụng đất; thế
Trang 27chấp rừng sản xuất là rừng trồng; cầm cố tàu bay, thế chấp tàu bay; thế chấp tàu biển‟‟ Các giao dịch bảo đảm bằng tài sản không thuộc các trường hợp quy định
trên được đăng ký khi cá nhân, tổ chức có yêu cầu
Đối với phương tiện giao thông cơ giới đường bộ mặc dù không phải là đối tượng bắt buộc, nhưng giá trị tài sản lớn, một số PT có giá trị lớn hơn số đối tượng bắt buộc phải đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định của pháp luật Nhận thức được điều đó, hiện nay hầu hết các PT thế chấp tại các NHTM đều được bên nhận thế chấp yêu cầu bên thế chấp phải đăng ký giao dịch bảo đảm
1.3.2 Đặc điểm của cầm cố phương tiện giao thông cơ giới đường bộ
Cầm cố phương tiện giao thông cơ giới đường bộ là việc một bên (sau đây gọi là bên cầm cố) giao phương tiện thuộc quyền sở hữu của mình cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận cầm cố) để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ Cầm cố phương tiện giao thông cơ giới đường bộ có những đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, là PT thuộc sở hữu của bên cầm cố
Phương tiện cầm cố phải thuộc quyền sở hữu của bên cầm cố, vì khi bên cầm
cố không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì bên nhận cầm cố có quyền xử lý PT cầm cố theo phương thức đã thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật để bù đắp quyền lợi của mình và chỉ có thể xử lý PT cầm cố khi PT đó thuộc quyền sở hữu của bên cầm cố Chính vì vậy, bên nhận cầm cố không thể dùng
PT thuộc sở hữu của người khác đển cầm cố nhằm bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ của mình
Đối với phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, để xác định được PT cầm cố có thuộc quyền sở hữu của bên cầm cố hay không chỉ cần chủ PT xuất trình GCNĐK
PT, qua đó bên nhận cầm cố đối chiếu các thông tin trên GCNĐK PT với thực tế xe (như đối chiếu số khung, số máy, nhãn hiệu, màu sơn, biển số, họ tên chủ phương tiện) Tuy nhiên, không ít trường hợp bên cầm cố sử dụng giấy CNĐK giả để lừa đảo bên nhận cầm cố
Trong trường hợp có người thứ ba có quyền đối với PT, theo quy định tại
Khoản 2, Điều 311, BLDS 2015 thì bên cầm cố phải có nghĩa vụ như sau: “Báo cho
bên nhận cầm cố về quyền của người thứ ba đối với tài sản cầm cố, nếu có; trường hợp không thông báo thì bên nhận cầm cố có quyền hủy hợp đồng cầm cố tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại hoặc duy trì hợp đồng và chấp nhận quyền của người thứ ba đối với tài sản cầm cố‟‟, so với BLDS 2005, quy định này không có sự thay đổi
Trang 28Thứ hai, phương tiện cầm cố do bên nhận cầm cố giữ
Khoản 1, Điều 311, BLDS 2015 quy định:„„Giao tài sản cầm cố cho bên nhận
cầm cố theo đúng thỏa thuận"
Như vậy, theo quy định của BLDS 2015 thì hiệu lực của hợp đồng cầm cố tài sản không phụ thuộc vào việc bên nhận cầm cố có nắm giữ tài sản hay không mà phụ thuộc sự thỏa thuận của hai bên Vào thời điểm hợp đồng cầm cố có hiệu lực, việc nắm giữ PT cầm cố không nhất thiết phải là bên nhận cầm cố mà có thể là bên nhận cầm cố đang nắm giữ hoặc người thứ ba đang nắm giữ
Khi bên nhận cầm cố nắm giữ PT thì họ có một số quyền nhất định như được quyền yêu cầu người đang chiếm hữu, người đang sử dụng trái pháp luật PT cầm cố trả lại PT đó hoặc xử lý PT theo thỏa thuận Bên nhận cầm cố có quyền cho thuê, cho mượn (BLDS 2005 không cho phép), khai thác công dụng PT, nếu có thỏa thuận
Do đặc điểm phương tiện giao thông cơ giới đường bộ là loại tài sản khi cầm cố bên nhận cầm cố phải có kho, bãi để bảo quản tài sản, nếu như trong quá trình bảo quản phát sinh chi phí thì bên nhận cầm cố được thanh toán chi phí với bên cầm cố
Thứ ba, hiệu lực của cầm cố phương tiện giao thông cơ giới đường bộ
Theo quy định tại Điều 310, BLDS 201515 Việc xác định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng cầm cố được thực hiện theo các nguyên tắc và quy định chung về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng dân sự theo Điều 40016 và Điều 40117 BLDS 2015
Còn thời điểm có hiệu lực đối kháng với người thứ ba tùy thuộc vào loại hình tài sản cầm cố, và phương tiện giao thông cơ giới đường bộ không phải là bất động sản nên hiệu lực đối kháng với người thứ ba kể từ thời điểm bên nhận cầm cố nắm giữ tài sản cầm cố
17 Điều 401, BLDS 2015 Hiệu lực của hợp đồng quy định:“1 Hợp đồng được giao kết hợp pháp có hiệu lực từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật liên quan có quy định khác 2 Từ thời điểm hợp đồng có hiệu lực, các bên phải thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với nhau theo cam kết Hợp đồng chỉ có thể bị sửa đổi hoặc hủy bỏ theo thỏa thuận của các bên hoặc theo quy định của pháp luật.‟‟
Trang 291.4 Vai trò và rủi ro của thế chấp phương tiện giao thông cơ giới đường bộ
1.4.1 Vai trò của thế chấp phương tiện giao thông cơ giới đường bộ
Bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bằng biện pháp thế chấp có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, vì thực tế đã được BLDS 2005, 2015 ghi nhận thành những điều luật cụ thể
Trong 09 biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ18, thì biện pháp thế chấp tài sản, được sử dụng tương đối phổ biến trong các giao dịch dân sự, thương mại, đặc biệt trong các quan hệ tín dụng, vì đối tượng của thế chấp tài sản đa dạng, bao gồm
cả động sản và bất động sản và thường đây là những tài sản có giá trị lớn, có khả năng bảo đảm cho các nghĩa vụ và phương tiện giao thông cơ giới đường bộ hiện nay cũng được xem là một trong những đối tượng phổ biến của thế chấp
Chủ thể nhận thế chấp phương tiện giao thông cơ giới đường bộ rất đa dạng và mỗi chủ thể đều có vai trò khác nhau Đối với chủ thể là các NHTM có phát triển sản phẩm vay thế chấp phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, họ có vai trò quan trọng trong việc góp phần phát triển kinh tế - xã hội của địa phương thông qua việc cho doanh nghiệp, cá nhân, có nhu cầu vay vốn để trang bị phương tiện giao thông cơ giới đường bộ phục vụ mục đích kinh doanh hay mục đích đi lại của cá nhân Nhiều ngân hàng hỗ trợ 100% vốn vay không cần tài sản thế chấp khác mà chỉ thế chấp lại
PT đã mua bằng chính vốn vay, từ đó, tạo điều kiện thuận lợi về vốn cho bên thế chấp khi có nhu cầu chính đáng
Ngoài ra, hiện nay, có một số ít NHTM sẵn sàng phát triển sản phẩm thế chấp
PT đã qua sử dụng Tuy nhiên, hình thức này tiềm ẩn rủi ro cao nên nhiều NHTM không thực hiện
Đối với các tổ chức phi tín dụng, như các cơ sở kinh doanh dịch dịch vụ cầm
đồ, các cá nhân hành nghề tự do Tuy họ không đáp ứng nhu cầu cao về vốn như các NHTM, nhưng có nhiều thuận lợi hơn so với các NHTM, vì bên thế chấp có điều kiện tiếp cận rất nhanh nguồn vốn, họ không phải trải qua nhiều thủ tục như ở các NHTM; mặc dù lãi suất cao nhưng bên thế chấp vẫn tìm đến chủ thể này Tuy nhiên, việc thế chấp PT thông qua chủ thể này gây khó khăn trong công tác quản lý của cơ quan có thẩm quyền, vì cơ bản họ ít chịu sự kiểm tra của lực lượng chức năng nào
18
Điều 292, BLDS 2015 các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bao gồm: “Cầm cố tài sản, thế chấp tài sản, đặt cọc, ký cược, ký quỹ, bảo lưu quyền sở hữu, bảo lãnh, tín chấp, cầm giữ tài sản"
Trang 301.4.2 Rủi ro của thế chấp phương tiện giao thông cơ giới đường bộ
Trong hoạt động kinh doanh luôn có những khó khăn làm cho những dự định kinh doanh ban đầu có thể không đạt như ý muốn, tất cả những khó khăn đó được gọi là rủi ro Hoạt động kinh doanh của các NHTM rất đa dạng và phong phú; gắn với từng hoạt động kinh doanh có những rủi ro khác nhau Đối với hoạt động phát triển sản phẩm thế chấp phương tiện giao thông cơ giới đường bộ thông qua hình thức vay thế chấp như hiện nay, bên nhận thế chấp cũng như bên thế chấp thường gặp phải những rủi ro như sau:
1.4.2.1 Rủi ro cho chủ thể nhận thế chấp là các NHTM
a Rủi ro về tài sản
Nếu như trong biện pháp bảo đảm cầm cố tài sản bên có nghĩa vụ phải giao tài sản cho bên có quyền, thì trong quan hệ thế chấp, bên bảo đảm chỉ dùng tài sản để bảo đảm mà không chuyển giao tài sản đó cho bên có quyền
Tài sản bảo đảm được coi là phao cứu sinh của hoạt động ngân hàng, họ có thể thu hồi ít nhất là vốn gốc hoặc một phần khi rủi ro khách hàng không trả được
nợ Phần lớn tài sản bảo đảm của các ngân hàng là quyền sở hữu nhà ở, quyền sử dụng đất Nhưng trong thực tế, để đáp ứng nhu cầu hiện nay của khách hàng, các NHTM phải nhận thế chấp thêm nhiều sản phẩm khác và phương tiện giao thông cơ giới đường bộ là một trong những sản phẩm mà hầu hết các NHTM điều hướng tới
Có muôn ngàn lý do làm cho phương tiện giao thông cơ giới đường bộ vốn là tài sản bảo đảm trở thành không bảo đảm, khiến khoản nợ xấu của ngân hàng tăng vọt Rủi ro về tài sản bảo đảm đối với phương tiện giao thông cơ giới đường bộ diễn
ra với nhiều hình thức khác nhau, với mức độ tổn thất khác nhau
Thứ nhất: Rủi ro trong việc bên nhận thế chấp bị hạn chế trong việc kiểm tra,
giám sát phương tiện
Phương tiện giao thông cơ giới đường bộ với đặc điểm là thường xuyên di chuyển, (đối với những PT là xe ô tô tải, ô tô khách ngoài di chuyển thường xuyên còn di chuyển trên những tuyến đường dài liên tỉnh), vì vậy bên nhận thế chấp rất khó kiểm tra, giám sát PT trong lúc lưu hành; mà chỉ kiểm tra giám sát PT khi chúng đậu đỗ tại nơi đặt trụ sở doanh nghiệp, hoặc nơi cư trú của chủ PT, việc kiểm tra giám sát của các NHTM chỉ quan sát hình thức bên ngoài của PT
Ngoài ra do nhu cầu kinh doanh, bên thế chấp buộc phải điều chuyển PT đến địa phương khác để hoạt động, thì việc các NHTM kiểm tra, giám sát tình trạng PT
Trang 31đôi khi bị bỏ trống Chính vì thế trong một số trường hợp bên thế chấp thay thế linh kiện ảnh hưởng đến giá trị của PT bảo đảm mà bên nhận bảo đảm không hề hay biết Trong trường hợp có thỏa thuận PT bảo đảm được giao cho người thứ ba giữ
và khai thác công dụng thì việc quản lý theo dõi PT còn gặp nhiều khó khăn hơn, vì
đa số họ điều chuyển PT đi nơi khác để hoạt động, bên nhận thế chấp trong một thời gian nhất định không xác định được tình trạng của PT mà tiến hành thu hồi kịp thời khi giá trị PT bị giảm sút nghiêm trọng do quá trình sử dụng
Thứ hai: Rủi ro trong đăng ký giao dịch bảo đảm
* Rủi ro đối với PT có đăng ký giao dịch bảo đảm nhưng sai sót thông tin về PT
Đăng ký biện pháp bảo đảm có ý nghĩa trong việc công khai, minh bạch hóa thông tin về tình trạng pháp lý của tài sản, và đã được Điều 323, BLDS 2005 được SĐBS bởi Điều 29819 BLDS 2015 ghi nhận
Theo đó, về nguyên tắc đăng ký biện pháp bảo đảm gồm có: Đăng ký tự nguyện, và đăng ký bắt buộc, việc đăng ký biện pháp bảo đảm chỉ mang tính bắt buộc khi luật có quy định
Căn cứ Điều 3, Nghị định số 83/2010/NĐ-CP ngày 23/7/2010 của Chính phủ
về đăng ký giao dịch bảo đảm thì khi thế chấp PTGTCG ĐB không bắt buộc phải
đăng ký giao dịch bảo đảm Nhưng nhận thức được tầm quan trọng trong việc đăng
ký giao dịch bảo đảm nên hầu hết các NHTM đều bắt buộc bên thế chấp phải đăng
ký giao dịch bảo đảm
Khoản 3, Điều 1, Nghị định số 11/2012/NĐ-CP về sửa đổi bổ sung Nghị định
số 163/2006/NĐ-CP về giao dịch bảo đảm quy định: “Sau khi đăng ký thế chấp
phương tiện giao thông cơ giới đường bộ Và người đăng ký đã nộp phí yêu cầu cấp bản sau văn bản chứng nhận đăng ký giao dịch bảo đảm thì cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm gửi 01 bản sao văn bản chứng nhận đăng ký đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký lưu hành phương tiện giao thông Cơ quan nhà nước
có thẩm quyền đăng ký phương tiện giao thông phải cập nhật thông tin về phương tiện giao thông đang được thế chấp ngay trong ngày nhận được bản sao văn bản chứng nhận đăng ký giao dịch bảo đảm"
19Điều 298, BLDS 2015 quy định:“1 Biện pháp bảo đảm được đăng ký theo thỏa thuận hoặc theo quy định của luật Việc đăng ký là điều kiện để giao dịch có hiệu lực chỉ trong trường hợp luật có quy định 2 Trường hợp được đăng ký thì biện pháp bảo đảm phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba kể từ thời điểm đăng ký 3 Việc đăng ký biện pháp bảo đảm được thực hiện theo quy định của pháp luật về đăng ký biện pháp bảo đảm"
Trang 32Khoản 2, Điều 33, Nghị định số 83/2010/NĐ-CP của Chính phủ về mô tả tài
sản bảo đảm quy định: “Trường hợp tài sản bảo đảm là phương tiện giao thông cơ
giới đường bộ và tài sản này không phải là hàng hóa luân chuyển trong quá trình sản xuất, kinh doanh hoặc tài sản hình thành trong tương lai thì người yêu cầu đăng ký mô tả chính xác số khung của phương tiện giao thông cơ giới đó"
Điểm 1.2, Khoản 1, Điều 6 Thông tư liên tịch số BGTVT-BTN&MT-BCA về hướng dẫn việc trao đổi cung cấp thông tin về tài sản bảo đảm giữa cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm với tổ chức hành nghề công chứng, cơ quan thi hành án dân sự và cơ quan đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng và quyền lưu hành tài sản quy định thông tin về phương tiện giao thông cơ giới
15/2013/TTLT-BTP-đường bộ gồm “Số khung; số máy, biển số xe (nếu có) "
Nhìn chung, các quy định của pháp luật nêu trên quy định cụ thể chi tiết về đăng ký giao dịch bảo đảm đối với phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, nhưng trong thực tế, một số trường hợp do sơ suất của trung tâm đăng ký giao dịch bảo đảm họ đã không thể hiện đúng các thông tin do đánh nhầm một vài ký tự về số khung, số máy trong trường hợp chưa có biển số xe hoặc đánh nhầm ký tự trên biển
số hoặc gửi nhầm địa chỉ nên cơ quan đăng ký, quản lý PT không thể cập nhật thông tin để ngăn chặn việc sang tên di chuyển
Mặc khác, quyền của bên nhận thế chấp sẽ không được pháp luật bảo vệ
(không được thu hồi tài sản thế chấp), nếu bên mua, bên nhận trao đổi phương tiện
giao thông cơ giới đã được đăng ký thế chấp, nhưng nội dung đăng ký thế chấp không mô tả chính xác số khung và số máy của phương tiện giao thông cơ giới đường
bộ và bên mua, bên nhận tài sản thế chấp ngay tình20 Như vậy, trong trường hợp này nếu như bên thế chấp cố tình bán tài sản thế chấp và khi có tranh chấp xảy ra bên nhận thế chấp mất quyền ưu tiên thu hồi tài sản để xử lý
* Rủi ro trong trao đổi thông tin về phương tiện giao thông cơ giới đường bộ trong đăng ký giao dịch bảo đảm
Điều 6, Nghị định số 83/2010/NĐ-CP của Chính phủ quy định về thời hạn có
hiệu lực của đăng ký giao dịch bảo đảm: “Việc đăng ký giao dịch bảo đảm có hiệu
lực kể từ thời điểm đăng ký theo quy định tại Điều 7 của Nghị định này đến thời điểm xóa đăng ký theo đơn của người yêu cầu xóa đăng ký"
20 Điểm b, Khoản 1, Điều 20, Nghị Định 163/2006/NĐ-CP của Chính phủ về giao dịch bảo đảm
Trang 33Thời điểm đăng ký giao dịch bảo đảm đối với phương tiện giao thông cơ giới đường bộ là thời điểm nội dung của đơn yêu cầu đăng ký được nhập vào Cơ sở dữ liệu về giao dịch bảo đảm21
Cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm cơ quan đăng ký quyền sở hữu, quyền
sử dụng, quyền lưu hành tài sản có trách nhiệm trao đổi, cung cấp thông tin về tình trạng pháp lý của tài sản bảo đảm và khi thực hiện việc đăng ký giao dịch bảo đảm, nếu người đăng ký có yêu cầu thông báo về việc thế chấp phương tiện giao thông và
đã nộp phí yêu cầu cấp bản sao văn bản chứng nhận đăng ký giao dịch bảo đảm thì Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản có trách nhiệm gửi văn bản thông báo về việc thế chấp phương tiện giao thông đến Cơ quan đăng ký quyền sở hữu, quyền lưu hành tài sản qua thư điện tử và gửi qua đường bưu điện ngay trong ngày làm việc,
để kịp thời cập nhật, theo dõi22
"Đối với trường hợp tài sản thế chấp là phương tiện giao thông cơ giới đường bộ thì ngay trong ngày nhận được thông báo về việc thế chấp phương tiện giao thông
do Trung tâm đăng ký giao dịch tài sản gửi qua thư điện tử hoặc qua đường bưu điện (chỉ áp dụng với những nơi chưa có điều kiện về hạ tầng tin học); nếu không thuộc một trong các trường hợp từ chối tiếp nhận thì Cơ quan đăng ký quyền sở hữu, quyền lưu hành tài sản phải thực hiện hiện các công việc sau đây: Ghi chép vào Sổ tiếp nhận việc trao đổi, cung cấp thông tin về tài sản bảo đảm (ngày, tháng, năm tiếp nhận văn bản; số ký hiệu văn bản đến; cơ quan cung cấp thông tin; ký và ghi rỏ họ tên cán bộ tiếp nhận thông tin); cập nhật thông tin theo nội dung Văn bản thông báo về thế chấp phương tiện giao thông vào dữ liệu quản lý tài sản; lưu trữ, quản lý văn bản trao đổi thông tin theo quy định của pháp luật; gửi văn bản thông báo kết quả tiếp nhận, giải quyết thông tin về tài sản bảo đảm qua thư điện tử (định dạng PDF) và qua đường bưu điện đến Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản để Trung tâm Đăng ký gửi cho người yêu cầu đăng ký 23 "
Mặc dù quy định là vậy nhưng trong thực tế, các Trung tâm đăng ký giao dịch bảo đảm chưa thực hiện tốt việc trao đổi thông tin, vẫn còn nhiều trường hợp cơ quan đăng ký, quản lý phương tiện nhận được thông báo rất trễ (trên một tháng kể
từ khi bên thế chấp đăng ký giao dịch bảo đảm)
21 Điểm c, Khoản 1, Điều 7, Nghị định 83/2010/NĐ-CP:“Trong trường hợp tài sản bảo đảm là các tài sản khác không thuộc các trường hợp quy định tại Điểm a và Điểm b Khoản 1 Điều này thì thời điểm đăng ký giao dịch bảo đảm là thời điểm nội dung của đơn yêu cầu đăng ký được nhập vào Cơ sở dữ liệu về giao dịch bảo đảm‟‟
22 Khoản 1, Điều 51, NĐ 83/2010/NĐ–CP và Điều 10 Thông tư liên tịch số 15/2013/TTLT-BTP-BGTVT-BTNMT-BCA
23 Điều 13, Thông tư liên tịch số 15/2013/TTLT-BTP-BGTVT-BTNMT-BCA
Trang 34Bên cạnh đó, cơ quan đăng ký, quản lý phương tiện giao thông cơ giới đường
bộ cả nước nói chung và tỉnh Cà Mau nói riêng vẫn chưa thực hiện đúng quy định
về tiếp nhận, xử lý thông tin Nguyên nhân của tình trạng này là do cán bộ làm
công tác đăng ký, quản lý phương tiện giao thông cơ giới đường bộ không nắm được quy định pháp luật về giao dịch bảo đảm, vì họ chưa được phổ biến, tập huấn, bồi dưỡng các quy định về giao dịch bảo đảm từ một cơ quan, tổ chức nào; do đó, việc cập nhật thông tin chỉ được thực hiện khi công việc chính của họ đã hoàn thành
Đặc biệt, việc phản hồi của cơ quan đăng ký, quản lý phương tiện cho Trung tâm giao dịch bảo đảm về việc đã cập nhật thông tin là không có trường hợp nào
Tuy trên địa bàn tỉnh Cà Mau chưa xảy ra trường hợp nào, do việc cập nhật thông tin không kịp thời dẫn đến PT bị sang tên di chuyển; nhưng thời gian tới nếu bên thế chấp nắm bắt được lô hổng này và ý đồ không tiếp tục đảm bảo thực hiện nghĩa vụ với bên nhận thế chấp thì mặc dù bên nhận thế chấp có cầm giữ Giấy chứng nhận đăng ký xe, họ vẫn có thể báo mất để được cấp lại và tiến hành thủ tục sang tên trước khi thông tin tài sản bảo đảm được gửi đến cơ quan đăng ký và cán
bộ phụ trách cập nhật thông tin Như vậy, khi xảy ra tranh chấp, trách nhiệm thuộc
về ai rất khó xác định
* Rủi ro khi phương tiện không đăng ký giao dịch bảo đảm
Qua tìm hiểu thực tế, những NHTM được thành lập lâu năm, họ quan tâm phát triển sản phẩm thế chấp phương tiện giao thông cơ giới đường bộ là những xe ô tô
có giá trị lớn Còn đối với những NHTM mới hình thành gần đây, họ phát triển cả sản phẩm thế chấp xe ô tô và mô tô Đối với phương tiện xe ô tô tài sản có giá trị lớn, các NHTM đăng ký giao dịch bảo đảm để tránh rủi ro chủ phương tiện sang tên
di chuyển trong thời gian thế chấp, còn những xe mô tô giá trị tài sản không đáng
kể, các NHTM thường chủ quan không đăng ký giao dịch bảo đảm Chính vì thế, thời gian qua các NHTM liên tục gặp phải trường hợp PT xe mô tô thế chấp được mang đi cầm cố hoặc sang tên di chuyển
Lợi dụng thủ tục vay nhanh gọn, chỉ cần chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu những người có nhu cầu mua xe mô tô có thể đến một trong các cửa hàng bán xe trên địa bàn tỉnh Cà Mau để làm thủ tục mua xe Nhân viên ngân hàng sẽ túc trực tại cửa hàng để hoàn thành thủ tục cấp tín dụng hỗ trợ mua xe và nhận chính chiếc xe được mua làm tài sản thế chấp Do ngân hàng chỉ nắm giữ giấy CNĐK và xem đây
là tài sản có giá trị nhỏ nên không đăng ký giao dịch bảo đảm mà chỉ thống kê danh
Trang 35sách gửi đến cơ quan đăng ký, quản lý phương tiện nhờ quản lý theo dõi (ở Cà Mau thường 6 tháng gửi 1 lần)
Hơn nữa, việc cấp lại Giấy chứng nhận đăng ký xe bị mất rất dễ thực hiện Theo Khoản 2, Điều 4, Thông tư số 15/2014/TT-BCA ngày 04/4/2014 của Bộ Công
an quy định về đăng ký xe:“Trường hợp cấp lại giấy chứng nhận đăng ký xe bị mất
thì thời gian xác minh và hoàn thành thủ tục không quá 30 ngày, kể từ ngày nhận
đủ hồ sơ hợp lệ" Cách xác minh của cơ quan đăng ký, quản lý phương tiện hiện
nay là gửi thông báo cho phòng CSGT đường bộ trên toàn quốc, xác định xem giấy CNĐK có đang bị tạm giữ do vi phạm giao thông hay không Số lần cấp lại không hạn chế, nhiều trường hợp một PT có thể được cấp lại 4 đến 5, phí cấp lại quá thấp, chỉ 30.000đ cho tất cả các loại xe được quy định Điều 1, Thông tư 53 sửa đổi bổ sung Điều 4, Thông tư số 127/2013/TT-BTC)
Từ những quy định chưa chặt chẽ nêu trên, sẽ tạo cơ hội cho bên thế chấp đến
cơ quan đăng ký xe khai man để được cấp lại Giấy CNĐK xe khác để lưu hành hoặc sang, bán mà không cần phải thực hiện nghĩa vụ như đã cam kết với bên nhận thế chấp Vì vậy, các NHTM chỉ cầm giữ giấy CNĐK xe như hiện nay cũng rất rủi
ro do chủ quan không đăng ký giao dịch bảo đảm
Ví dụ 1.1:
Ông Trần Văn Nhớ, thường trú ấp Thanh Điền, xã Lý Văn Lâm, thành phố Cà Mau; vào ngày 06 tháng 7 năm 2014, ông có ký kết với ngân hàng Việt Nam thịnh vượng chi nhánh tại thành phố Cà Mau Hợp đồng số: 579/2014/HĐTD, 579/2014/HĐTC để vay thế chấp mua xe mô tô, thời hạn vay 01 năm, sau khi hoàn thành thủ tục đăng ký bên ngân hàng giữ giấy CNĐK xe theo như thỏa thuận Đến ngày 12/10/2014, ông Nhớ đến cơ quan đăng ký, quản lý phương tiện Phòng Cảnh sát giao thông đường bộ thuộc Công an tỉnh Cà Mau trình báo mất giấy CNĐK, với lý do đánh rơi trên đường
Ngày 12/11/2014, Ông Nhớ được cấp lại giấy CNĐK lần 2 Từ thời điểm đó, ông Nhớ không thực hiện nghĩa vụ trả nợ như đã thỏa thuận trong hợp đồng với bên ngân hàng Sau đó, ông Nhớ mang xe cùng giấy CNĐK xe được cấp lại lần 2 cầm cố cho 01 cơ sở cầm đồ trên địa bàn thành phố Cà Mau và đi khỏi nới cư trú
Do quá thời hạn mà không đến đóng lãi và gia hạn, ngày 30/12/2014 chủ cửa hàng cầm đồ đến phòng công chứng để thanh lý tài sản bằng cách làm hợp đồng mua bán, bên bán là ông Hồ Minh Nhớ, bên mua là ông Phạm Trùng Dương,
Trang 36thường trú huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau Căn cứ theo quy định của pháp luật, Phòng CSGTĐB tiến hành sang tên di chuyển theo quy định Sau đó, nhân viên ngân hàng phát hiện và đến trình báo đây là tài sản thế chấp nhưng do không đăng
ký giao dịch bảo đảm nên bên nhận thế chấp không thể truy đòi tài sản từ người thứ
ba, vì phương tiện giao thông cơ giới đường bộ là tài sản có đăng ký Như vậy, ông phạm Trùng Dương được quyền sử dụng PT đã mua
Vấn đề rủi ro cho ngân hàng từ vụ thế chấp trên cho thấy, một số NHTM còn chủ quan trong việc đăng ký giao dịch bảo đảm đối với tài sản vay thế chấp là xe
mô tô, vì sợ phát sinh thêm nhiều chi phí cho bên thế chấp, khó phát triển sản phẩm vay này; đồng thời, đa phần các đối tượng đến với loại hình vay thế chấp này chủ yếu là những người có thu nhập thấp, công việc không ổn định Mặt khác, các NHTM hiện nay quy định thủ tục vay đơn giản, việc thẩm định khả năng tài chính còn sơ xài, theo dõi, giám sát các khoản vay đối với tài sản nhỏ hầu như không có;
từ đó, tạo rủi ro cao cho bên ngân hàng
* Khuyến nghị:
Phương tiện giao thông cơ giới đường bộ là loại tài sản có giá trị cao, nhiều loại PT có giá trị hơn cả quyền sử dụng đất, vì vậy phải bổ sung phương tiện giao thông cơ giới đường bộ vào danh sách tài sản bắt buộc phải đăng ký giao dịch bảo đảm tại Nghị định số 83/2010/NĐ-CP của Chính phủ và bổ sung cách xử lý tài sản bảo đảm là phương tiện giao thông cơ giới đường bộ vào Thông tư liên tịch số 16/2014/TTLT-BTP-BTNMT-NHNN Có như vậy mới hạn chế được phần nào rủi
Thứ ba: Rủi ro trong việc thu hồi và xử lý tài sản thế chấp
Điều 299, BLDS 2015 quy định các trường hợp xử lý tài sản bảo đảm gồm
(BLDS 2005 không quy định): “1 Đến hạn thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm mà
bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ 2 Bên có
Trang 37nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm trước thời hạn do vi phạm nghĩa vụ theo thỏa thuận hoặc theo quy định của luật 3 Trường hợp khác do các bên thỏa thuận hoặc luật có quy định"
Như vậy, theo quy định của pháp luật, khi khách hàng không trả được nợ vay đến hạn mà không được cơ cấu nợ (điều chỉnh kỳ hạn trả nợ hoặc gia hạn nợ) mà không có nguồn trả nợ, thì bên nhận thế chấp có quyền xử lý PT để bảo đảm thu hồi
nợ theo thỏa thuận trong hợp đồng và quy định của pháp luật
Tuy nhiên, trên thực tế, do không trả được nợ, bên thế chấp thường trốn tránh, không hợp tác, nên bên nhận thế chấp phải tự mình xử lý PT để thu hồi nợ Việc bên nhận thế chấp tự xử lý tài sản để thu hồi nợ có thể gặp một số vướng mắc trong thu hồi, bán tài sản như sau:
* Gặp khó trong việc thu hồi tài sản
Khoản 5, Điều 63 Nghị Định số 163/2006/NĐ-CP quy định: “Trong quá trình
tiến hành thu giữ tài sản bảo đảm, nếu bên giữ tài sản bảo đảm có dấu hiệu chống đối, cản trở, gây mất an ninh, trật tự nơi công cộng hoặc có hành vi vi phạm pháp luật khác thì người xử lý tài sản bảo đảm có quyền yêu cầu Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn và cơ quan Công an nơi tiến hành thu giữ tài sản bảo đảm, trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình áp dụng các biện pháp theo quy định của pháp luật để giữ gìn an ninh, trật tự, bảo đảm cho người xử lý tài sản thực hiện quyền thu giữ tài sản bảo đảm"
Theo quy định trên, khi bên thế chấp không thực hiện đúng nghĩa vụ đã cam kết, bên nhận thế chấp có quyền truy đòi, thu giữ tài sản thế chấp để xử lý Tuy nhiên, do việc chuyển giao tài sản thế chấp cho bên nhận thế chấp để xử lý đồng nghĩa với việc bên thế chấp bị mất đi toàn bộ, hoặc một phần tài sản đó, nên bên thế chấp thường có thái độ chây ỳ và tìm cách trì hoãn việc chuyển giao tài sản thế chấp Trong trường hợp bên thế chấp có dấu hiệu chống đối bên nhận thế chấp được quyền yêu cầu trợ giúp từ các cơ quan chức năng, nhưng do quy định trên chưa gắn với nhiệm vụ cụ thể của từng cơ quan, lực lượng (quy định lực lượng Công an chỉ giữ gìn an ninh, trật tự) nên việc hỗ trợ thu hồi còn gặp nhiều khó khăn, bên nhận thế chấp còn lúng túng trong việc lựa chọn các cơ quan chức năng hỗ trợ
Ví dụ 1.2:
Trong vụ thu hồi phương tiện ô tô tải đông lạnh biển số 69L-6990 là đối tượng của hợp đồng thế chấp số 0601100348 ngày 17/6/2011 tại Ngân hàng TMCP
Trang 38Phương Đông- Chi nhánh Cà Mau (OCB) với Công ty TNHH TM vận tải Ngọc Hà
Do đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ trả nợ, Công ty TNHH TM vận tải Ngọc Hà không thực hiện đúng cam kết trả nợ; OCB đã nhiều lần trao đổi, tạo điều kiện để công ty thực hiện kế hoạch trả nợ nhưng công ty đã liên tiếp vi phạm cam kết và không thực hiện nghĩa vụ
Đến tháng 12/12/2015, dư nợ quá hạn của Công ty TNHH TM vận tải Ngọc
Hà tại OCB Cà Mau là 2.896.374.215 đồng, số ngày quá hạn 905 ngày Nợ gốc 1.000.000.000 đồng, nợ lãi 1.896.374.215 đồng Tuy nhiên, công ty TNHH TM vận tải Ngọc Hà không hợp tác giao tài sản cho ngân hàng để xử lý, mặc dù đã có thông báo nhiều lần và nhờ sự hỗ trợ của chính quyền địa phương, nhưng họ không quan tâm phối hợp
Ngày 22/12/2015, OCB đã có công văn gửi Phòng CSGT đường bộ thuộc Công an tỉnh Cà Mau hỗ trợ thu giữ tài sản để xử lý thu hồi nợ theo quy định của pháp luật Nhưng do tính chất di chuyển liên tỉnh, liên tục nên việc thu hồi chỉ được thực hiện khoảng 1 tháng sau đó
* Thiệt hại trong việc bán tài sản
Trong nền kinh tế thị trường, phương tiện giao thông cơ giới đường bộ hiện nay rất đa dạng về chủng loại, mẫu mã, với nhiều mức giá khác nhau, nên người tiêu dùng thường chọn mua xe mới hơn là mua xe đã qua sử dụng Vì vậy, những
PT được thu hồi thường rất khó chuyển nhượng và nếu có chuyển nhượng được thì giá trị thấp hơn nhiều so với giá trị tài sản bảo đảm lúc định giá để cho vay
Thứ tư: Rủi ro khi tài sản thế chấp bị tịch thu do vi phạm TTATGT không thể
xử lý để thu hồi nợ
Điều 244, BLDS 2015 quy định: “Khi tài sản của chủ sở hữu do phạm tội, vi
phạm hành chính mà bị tịch thu, sung quỹ nhà nước thì quyền sở hữu đối với tài sản
đó chấm dứt kể từ thời điểm bản án, quyết định của Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác có hiệu lực pháp luật"
Điều 26 Luật xử lý vi phạm hành chính có hiệu lực thi hành ngày 01/7/2013
quy định: “Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính là việc sung vào ngân
sách nhà nước vật, tiền, hàng hóa, phương tiện có liên quan trực tiếp đến vi phạm hành chính, được áp dụng đối với hành vi phạm hành chính nghiêm trọng do lỗi cố
ý của cá nhân, tổ chức"
Trang 39Điều 3, Nghị định số 29/2014/NĐ-CP ngày 10/4/2014 của Chính phủ quy định
về thẩm quyền, thủ tục xác lập quyền sở hữu của Nhà nước về tài sản và quản lý, xử
lý tài sản được xác lập, quyền sở hữu của Nhà nước thì tang vật phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu là một trong những tài sản thuộc đối tượng được xác lập quyền sở hữu Nhà nước
Từ những quy trên cho thấy, việc nhận thế chấp phương tiện giao thông cơ giới đường bộ hiện nay, nhất là xe mô tô thì bên nhận thế chấp phải đối mặt thường xuyên với rủi ro khi phương tiện giao thông vi phạm TTATGT, có thể có nguy cơ
bị tịch thu sung quỹ nhà nước do quy định hành vi đó có hình thức phạt bổ sung là tịch thu phương tiện vi phạm24 hoặc quá thời hạn tạm giữ phương tiện mà người vi phạm không đến nhận cũng sẽ bị tịch thu theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính và các quy định của pháp luật có liên quan25
Về quy trình thực hiện bán đấu giá phương tiện xe mô tô bị tạm giữ do vi phạm TTATGT được thực hiện theo Luật xử lý vi phạm hành chính, Nghị định số 29/2014/NĐ-CP ngày 10/4/2014 của Chính phủ quy định về thẩm quyền, thủ tục xác lập quyền sở hữu của Nhà nước về tài sản và quản lý, xử lý tài sản được xác lập, quyền sở hữu của Nhà nước thì tang vật phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu là một trong những tài sản thuộc đối tượng được xác lập quyền sở hữu Nhà nước, Nghị định số 115/2013/NĐ-CP ngày 03/10/2013 quy định về quản lý, bảo quản tang vật, phương tiện VPHC bị tạm giữ, tịch thu theo thủ tục hành chính, Nghị định số 17/2010/NĐ-CP về bán đấu giá tài sản và các thông tư có liên quan
Tuy nhiên, việc bán đấu giá theo hình thức thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng và niêm yết công khai tại trụ sở cơ quan, có khi các tổ chức tín dụng không theo dõi nắm được có tài sản là xe mô tô trong lô bán đấu giá này đang thế chấp tại ngân hàng hay không, nguyên nhân là không có sự phối hợp giữa ngân hàng và cơ quan Công an hoặc phương tiện vi phạm ở địa phương khác Như vậy, rủi ro không thu hồi được tài sản để xử lý nợ là rất cao
24 Điều 6, Nghị định 46/2016/NĐ-CP về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ, đường sắt quy định các hành vi sau khi tái phạm sẽ bị tịch thu PT: Buông cả hai tay khi đang điều khiển xe, dùng chân điều khiển xe, ngồi về một bên điều khiển xe, nằm trên yên xe khi điều khiển xe, thay người điều khiển xe khi xe đang chạy, quay người về phía sau để điều khiển xe, lạng lách đánh võng
25 Điều 126, Luật XLVPHC quy định: Qúa thời hạn tạm giữ (Khoản 8, Điều 125, Luật XLVPHC quy định thời hạn tạm giữ tang vật, phương tiện là 07 ngày kể từ ngày tạm giữ Thời hạn tạm giữ có thể được kéo dài đối với những vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp, cần tiến hành xác minh nhưng tối đa không quá 30 ngày, kể từ ngày tạm giữ tang vật) mà người vi phạm không đến nhận mà không có lý do chính đáng hoặc trường hợp không xác định được người vi phạm thì người ra quyết định tạm giữ phải thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng và niêm yết công khai tại trụ sở cơ quan của người người có thẩm quyền tạm giữ Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày thông báo, niêm yết công khai, nếu người vi phạm không đến nhận thì người có thẩm quyền phải ra quyết định tịch thu tang vật phương tiện vi phạm hành chính để xử lý theo quy định
Trang 40Thứ năm: Khi PTGTCG ĐB được dùng để đảm bảo thi hành án
Khoản 3, Điều 47, Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014
quy định: “Trường hợp xử lý tài sản cầm cố, thế chấp mà bên nhận cầm cố, thế
chấp là bên được thi hành án thì số tiền thu được từ việc bán tài sản cầm cố, thế chấp được ưu tiên thanh toán cho bên nhận cầm cố, thế chấp hoặc bên có nghĩa
vụ được bảo đảm sau khi trừ án phí của bản án, quyết định đó, chi phí cưỡng chế
và khoản tiền quy định tại Khoản 5, Điều 115, của Luật Thi hành án dân sự Trường hợp xử lý tài sản cầm cố, thế chấp mà bên nhận cầm cố, thế chấp không phải là người được thi hành án thì người nhận cầm cố, thế chấp được ưu tiên thanh toán trước khi thanh toán các khoản theo quy định tại Điều này"
Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 đã kịp thời giải quyết những vướng mắc phát sinh trong thực tiễn, bảo vệ quyền ưu tiên thanh toán cho bên nhận thế chấp Nhưng theo tác giả, rủi ro vẫn xảy ra trong trường hợp PT là
xe mô tô, giá trị thấp, nếu chủ PT cố tình nói đây không phải là tài sản thế chấp thì
cơ quan điều tra không xác định được, vì hiện nay đối với xe mô tô việc thế chấp không được đăng ký giao dịch bảo đảm Vì vậy, khi PT được xử lý để đảm bảo thi hành án, bên nhận thế chấp không hề hay biết để được ưu tiên quyền thanh toán
b Rủi ro bên nhận thế chấp phải gánh chịu thay bên thế chấp án phí, phí đấu giá, phí công chứng
Về nguyên tắc, khi phát mãi tài sản, nếu bên thế chấp không hoàn thành đúng nghĩa vụ thì họ là người có lỗi và phải chịu các khoản chi phí khi chuyển nhượng phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, như phí luật sư, phí đấu giá, phí công chứng Nhưng trong thực tế, bên thế chấp thường rơi vào khó khăn về tài chính hoặc chây ỳ, thậm chí phá sản để cho bên nhận thế chấp tự xoay sở Nếu không đóng đúng các phí này thì sẽ không được chuyển quyền sở hữu tài sản
Thực tế đã có nhiều trường hợp bên nhận thế chấp phải tự bỏ tiền để trang trải các khoản phí Đối với quyền sử dụng đất đôi khi bên nhận thế chấp trừ đi hết các khoản chi phí, do biến động của giá đất còn có thể bù đắp số tiền họ đã bỏ ra, nhưng đối với phương tiện giao thông cơ giới đường bộ với đặc điểm di chuyển liên tục,
dễ hao mòn trong quá trình sử dụng nên sau khi trừ đi các chi phí việc thu hồi vốn thường nhỏ hơn nhiều so với số tiền mà bên nhận thế chấp đã bỏ ra
Ví dụ 1.3: