Cuốn “Đổi mới phương pháp dạy học ở Tiểu học” - Bộ Giáo dục và Đào tạo, Dự án phát triển giáo viên tiểu học, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội2005 giúp bạn đọc nắm được những đổi mới trong n
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
LỖI CHÍNH TẢ CỦA HỌC SINH LỚP 5 TRƯỜNG TIỂU HỌC QUYẾT TÂM – SƠN LA Thuộc nhóm ngành khoa học: Khoa học cơ bản
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên cho em xin phép được gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến Tiến sĩ
Vũ Tiến Dũng, Trưởng khoa Tiểu học Mầm non, Trường Đại học Tây Bắc, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong quá trình thực hiện khóa luận
Nhân dịp khóa luận được hoàn thành và công bố, em xin chân thành cảm ơn quý thầy cô Khoa Tiểu học Mầm non, những người đã trực tiếp giảng dạy, trang bị cho chúng em những kiến thức quý báu trong thời gian học tập Và em xin cảm ơn quý thầy
cô và các em học sinh lớp 5 Trường Tiểu học Quyết Tâm, thành phố Sơn La, đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong quá trình khảo sát lỗi chính tả tại trường
Cuối cùng, xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến tập thể K55 ĐHGD Tiểu học B, cũng như gia đình, bạn bè những người luôn quan tâm, động viên nhiệt tình, giúp đỡ chúng
em hoàn thành bài khóa luận này
Xin chân thành cảm ơn!
Sơn La, ngày……tháng 5 năm 2018
Tác giả Trần Thị Thanh Tâm
Trang 4DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG KHÓA LUẬN
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn khóa luận 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4
3.1 Mục đích nghiên cứu 4
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
4.1 Đối tượng nghiên cứu 4
4.2 Phạm vi nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Đóng góp của khóa luận 5
7 Cấu trúc khóa luận 5
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 7
1.1 Cơ sở lí luận 7
1.1.1 Một số khái niệm liên quan đến nội dung nghiên cứu 7
1.1.1.1 Chính tả và những vấn đề chính tả tiếng Việt 7
1.1.1.2 Đặc điểm chính tả tiếng Việt 8
1.1.1.3 Nguyên tắc kết hợp chính tả tiếng Việt 11
1.1.1.4 Quan hệ giữa âm và chữ 12
1.1.1.5 Nguyên tắc xây dựng chữ quốc ngữ 13
1.1.1.6 Quy tắc chính tả tiếng Việt 14
1.1.1.7 Bất hợp lí trong chữ quốc ngữ 18
1.1.2 Tầm quan trọng của phân môn Chính tả ở Tiểu học 19
1.1.2.1 Mục tiêu, nhiệm vụ của phân môn Chính tả ở Tiểu học 19
1.1.2.2 Vị trí, tính chất của dạy học chính tả ở trường Tiểu học 19
1.1.3 Cơ sở khoa học của việc dạy học tiếng Việt 20
1.1.3.1 Con đường “có ý thức” và “không có ý thức” trong dạy học chính tả 20
1.2 Cơ sở thực tiễn 22
1.2.1 Thực trạng dạy và học chính tả 22
1.2.1.1 Thực trạng dạy chính tả trong nhà trường 22
Trang 61.2.1.2 Thực trạng học chính tả trong nhà trường 25
1.2.2 Chương trình và sách giáo khoa Tiếng Việt ở Tiểu học 27
1.2.2.1 Mục tiêu phân môn Chính tả ở Tiểu học 27
1.2.2.2 Nội dung chương trình sách giáo khoa 27
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 29
CHƯƠNG 2 LỖI CHÍNH TẢ VÀ NGUYÊN NHÂN MẮC LỖI CHÍNH TẢ CỦA HỌC SINH LỚP 5 30
2.1 Khảo sát thu thập tư liệu 30
2.1.1 Mục đích khảo sát 30
2.1.2 Đối tượng khảo sát 30
2.1.3 Nội dung và cách thức khảo sát 30
2.1.4 Kết quả khảo sát 30
2.1.4.1 Ngữ liệu và phương pháp 30
2.1.4.2 Một số loại lỗi thường gặp về chính tả của học sinh 30
2.1.5 Nguyên nhân mắc lỗi chính tả của học sinh 36
2.1.5.1 Về phía học sinh 36
2.1.5.2 Về phía giáo viên 37
2.1.5.3 Về phía gia đình 38
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 39
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ BIỆN PHÁP ĐỂ CHỮA LỖI CHÍNH TẢ CHO HỌC SINH LỚP 5 40
3.1 Luyện phát âm và giải mã nghĩa của từ 40
3.2 Khả năng kết hợp của các nguyên âm và phụ âm với nhau 42
3.3 Mẹo luật chính tả 43
3.3.1 Phân biệt l/n 43
3.3.2 Phân biệt tr/ch 45
3.3.3 Phân biệt x/s 47
3.3.4 Phân biệt d/gi và r 49
3.3.5 Một số biện pháp khắc phục 51
3.3.5.1 Lỗi nhầm lẫn l/đ 51
3.3.5.2 Lỗi nhầm lẫn b/v 52
3.4 Làm các bài tập chính tả 53
3.4.1 Bài tập điền khuyết 53
Trang 73.4.2 Bài tập chọn lựa 54
3.4.3 Bài tập tìm từ 55
3.4.4 Bài tập phát hiện 55
3.4.5 Bài tập phân biệt 56
3.4.6 Bài tập giải câu đố 56
3.4.7 Bài tập hình thành các quy tắc 56
3.5 Thực hành thường xuyên và ghi nhớ 57
3.6 Sửa lỗi chính tả qua chấm, chữa bài cho học sinh 59
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 60
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 62
1.Kết luận 62
2.Khuyến nghị 63
2.1.Đối với phụ huynh học sinh 63
2.2 Đối với nhà trường 63
2.3 Đối với giáo viên 64
2.4 Đối với Phòng giáo dục 64
TÀI LIỆU THAM KHẢO 65
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn khóa luận
Ngôn ngữ không chỉ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất mà còn là công cụ tư duy của con người Cùng với sự phát triển của xã hội và ngôn ngữ, chữ viết ra đời Chữ viết là các kí hiệu bằng các con chữ và các dấu, ghi lại ngôn ngữ âm thanh, thành tiếng của con người, giúp con người vượt qua những trở ngại về không gian và thời gian, ghi lại những kinh nghiệm ngàn đời về tự nhiên xã hội, lịch sử của dân tộc, sáng tác ra các tác phẩm văn chương cho muôn đời Đối với nhà trường phổ thông ở Việt Nam, việc phát âm chuẩn và viết đúng chính tả có tầm quan trọng đặc biệt trong việc xây dựng và rèn luyện tiếng Việt, góp phần vào việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt Chữ viết ra đời là một bước phát triển của ngôn ngữ, đánh dấu một bước tiến trong sự phát triển của nhân loại Đó là sản phẩm là một trong những tiêu chí đánh dấu con người bước vào thời đại văn minh
Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã phát biểu trên báo Tiền Phong số 1760 như sau:
“Chữ viết cũng là một loại biểu hiện của nết người” Chữ viết là một công cụ vô cùng quan trọng trong việc hình thành, phát triển văn hóa, văn minh của từng dân tộc và chữ viết chính là một trong những hình thức biểu hiện kết quả của quá trình nhận thức, tư duy của con người Với học sinh tiểu học, chữ viết phản ánh chất lượng học tập, rèn luyện kĩ năng viết chữ của các em và cũng là hành trang để các em bước lên các bậc học cao hơn Mùa thu độc lập đầu tiên Bác gửi thư cho các em thiếu nhi, Bác đã căn dặn:
“Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có sánh vai với các cường quốc năm châu hay không, đó chính là nhờ một phần lớn ở công học học tập của các em”
Trong trường Tiểu học, Tiếng Việt là một trong các môn học chính rất quan trọng Bên cạnh bồi dưỡng tình yêu và hình thành cho học sinh thói quen giữ gìn sự trong sáng giàu đẹp của tiếng Việt Tiếng Việt còn cung cấp những kiến thức sơ giản trực tiếp với việc học tiếng Việt tạo ra ở học sinh năng lực dùng tiếng Việt để học tập, hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng tiếng Việt
Chính tả là một phân môn của môn Tiếng Việt có nhiệm vụ giúp học sinh hình thành năng lực và thói quen viết đúng chính tả, nói rộng hơn là năng lực và thói quen viết đúng tiếng Việt chuẩn mực Phân môn Chính tả rèn cho học sinh kĩ năng viết đúng chính tả và
kĩ năng nghe cho học sinh, kết hợp rèn luyện một số kĩ năng sử dụng tiếng Việt, góp
Trang 9phần hình thành nhân cách con người mới Chính vì thế Chính tả có vị trí quan trọng trong cơ cấu chương trình môn Tiếng Việt nói riêng, các môn học ở nhà trường phổ thông nói chung
Đối với bậc Tiểu học, phân môn Chính tả có vị trí quan trọng Bởi vì, giai đoạn này
là giai đoạn then chốt trong quá trình hình thành kĩ năng chính tả cho học sinh Đó là lí
do vì sao Chính tả được bố trí thành một phân môn độc lập (thuộc môn Tiếng Việt) có tiết dạy riêng
Thực tế hiện nay, trong các trường Tiểu học, việc viết sai chính tả của các em học sinh ở miền núi Tây Bắc trong đó có trường Tiểu học Quyết Tâm - Sơn La là một hiện tượng phổ biến Các em mắc lỗi chính tả nhiều, kĩ năng sử dụng tiếng Việt còn hạn chế Tiếng Việt là phương tiện để phục vụ cho các em học tập các môn học khác Việc các em nắm bắt kĩ năng sử dụng tiếng Việt kém cũng như viết sai chính tả sẽ khiến các em gặp nhiều khó khăn trong việc nắm bắt các kiến thức và kĩ năng trong học tập và giao tiếp Điều này cũng gây khó khăn cho việc bồi dưỡng tình yêu tiếng Việt, hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt
Như chúng ta đã biết, lớp 5 là một giai đoạn hết sức quan trọng, đây là bậc học cuối cùng của Tiểu học, là bước đệm để các em đến với các bậc học cao hơn Giai đoạn này
có những bước phát triển về trí não, tư duy, tâm tư, tình cảm Vì vậy, việc rèn luyện kĩ năng chính tả cho các em là vô cùng quan trọng đáp ứng được sự phát triển của xã hội Như chúng ta đã nói ở trên hiện tượng viết sai chính tả của học sinh Trường Tiểu học Quyết Tâm - Sơn La nói chung và của học sinh lớp 5 nói riêng, từng bước khắc phục được các lỗi về chính tả, giúp học sinh diễn đạt chính xác ý định mà mình muốn giao tiếp
Trên đây là lí do cơ bản, chính yếu để chúng tôi lựa chọn đề tài: “Lỗi chính tả của học sinh lớp 5 Trường Tiểu học Quyết Tâm- Sơn La”
2 Lịch sử vấn đề
Thực hiện khóa luận này, chúng tôi quan tâm nghiên cứu các công trình sau:
“Phương pháp dạy học Tiếng Việt Tiểu học” - Lê Phương Nga (2002), Nhà xuất bản Đại học Sư phạm Công trình này đã cung cấp thông tin về những vấn đề chung của phương pháp dạy học tiếng Việt và các phân môn dạy học tiếng Việt ở Tiểu học Bên cạnh đó, các tác giả còn đưa ra nhiều phương pháp dạy học và các hình thức tổ chức dạy học phát huy tích cực của học sinh trong từng phân môn cụ thể
Trang 10Cuốn “Dạy học chính tả ở Tiểu học” (Nhà xuất bản Giáo dục - 2002) - Hoàng Văn Thung, Đỗ Xuân Thảo đã cung cấp những thông tin cụ thể chi tiết về đặc điểm ngữ âm
và chữ viết tiếng Việt liên quan đến tả cũng như những quy tắc chính tả Đây là tài liệu thực sự cần thiết cho các giáo viên Tiểu học đang giảng dạy chính tả ở những vùng phương ngữ
Cuốn “Đổi mới phương pháp dạy học ở Tiểu học” - Bộ Giáo dục và Đào tạo, Dự án phát triển giáo viên tiểu học, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội(2005) giúp bạn đọc nắm được những đổi mới trong nội dung và phương pháp bài dạy phân môn Chính tả theo chương trình SGK mới, nắm được bản chất và phương pháp Chính tả theo hướng tích cực hóa hoạt động của học sinh, vận dụng sáng tạo, linh hoạt những hiểu biết đã có vào xây dựng kế hoạch bài dạy của phân môn Chính tả theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh, thực hành kế hoạch bài dạy đạt hiệu quả, thể hiện sự nắm vững kiến thức đã thu nhận được, nhằm chủ động sáng tạo, có ý thức vận dụng phương pháp dạy học tích cực vào thực tế giảng dạy
Cuốn “Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học” - Tài liệu đào tạo giáo viên -
2007 của bộ Giáo dục và Đào tạo, dự án phát triển giáo viên Tiểu học đã biên soạn các modun đào tạo, bồi dưỡng giáo viên nhằm nâng cao năng lực chuyên môn nghiệp vụ, cập nhật những đổi mới về nội dung, phương pháp dạy học và khả năng đánh giá kết quả giáo dục Tiểu học theo chương trình sách giáo khoa Tiểu học mới Điểm mới của tài liệu này là đưa ra nhiều phương pháp dạy học mới như sử dụng băng hình, phương pháp giao tiếp,… nhằm tích cực hóa hoạt động học tập của học học sinh
Cuốn “Vui học Tiếng Việt” - Trần Mạnh Hưởng, tập 1 (2002), Nhà xuất bản Giáo dục, đã nhấn mạnh những kiến thức tiếng Việt cơ bản giúp học sinh luyện tập thành thạo các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết, các em sẽ suy nghĩ mạch lạc, diễn đạt trong sáng, có khả năng làm chủ được tiếng nói và chữ viết của dân tộc
Trong cuốn “Chữ viết và dạy chữ viết ở Tiểu học” - Lê A (1982), Nhà xuất bản Đại học
Sư phạm, tác giả đã đề cập tới vị trí, tính chất, nhiệm vụ của phân môn chính tả ở Tiểu học,
cơ sở khoa học của việc dạy học chính tả, chương trình sách giáo khoa dạy chính tả Các công trình nghiên cứu trên là những tiền đề lí luận quý báu để giúp chúng tôi thực hiện đề tài: “Lỗi chính tả của học sinh lớp 5 Trường Tiểu học Quyết Tâm - Sơn La”
Trang 113 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Phân môn Chính tả là một phân môn đặc biệt quan trọng trong chương trình Tiểu học nói chung và phân môn Tiếng Việt nói riêng Song chất lượng dạy học Chính tả hiện nay ở Tiểu học còn ở mức thấp, biểu hiện tập trung nhất của tình hình chất lượng đó là: tình trạng lỗi chính tả của học sinh còn phổ biến, nhất là các trường Tiểu học ở vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, miền núi Chính vì thế khóa luận hướng tới việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn việc dạy và học phân môn chính tả cho học sinh lớp 5 Trường Tiểu học Quyết Tâm - TP Sơn La Trên cơ sở đó đề xuất một số biện pháp khắc phục lỗi chính tả cho học sinh lớp 5 Trường Tiểu học Quyết Tâm - TP Sơn La Hi vọng những đề xuất biện pháp khắc phục trong khóa luận sẽ được áp dụng hiệu quả, nâng cao chất lượng dạy học Chính tả cho học sinh Tiểu học
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Từ mục đích của khóa luận đã được xác định như trên, khóa luận được triển khai hướng tới các nhiệm vụ như sau:
+ Tìm hiểu cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của việc học chính tả ở trường tiểu học nói chung
+ Khảo sát, thống kê, phân loại lỗi, chỉ ra thực trạng mắc lỗi, nguyên nhân mắc lỗi của học sinh lớp 5 Trường Tiểu học Quyết Tâm - TP Sơn La
+ Đề xuất một số biện pháp để khắc phục lỗi chính tả cho học sinh lớp 5 Trường Tiểu học Quyết Tâm - TP Sơn La
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Khóa luận nghiên cứu tìm hiểu về lỗi chính tả của học sinh lớp 5 Trường Tiểu học
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Học sinh lớp 5 Trường Tiểu học Quyết Tâm - TP Sơn La
5 Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện khóa luận này, chúng tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu cơ bản sau :
- Nhóm phương pháp lí luận:
Trang 12+ Phương pháp đọc: Nhằm hình thành lý thuyết để làm cơ sở căn cứ cho việc nghiên cứu, làm sáng tỏ các thuật ngữ liên quan đến đề tài, xây dựng các cơ sở khoa học
về mặt lí luận cho khóa luận
+ Phương pháp phân tích được sử dụng để làm rõ các vấn đề khi nghiên cứu, về tình hình mắc lỗi chính tả của học sinh tiểu học
+ Phương pháp tổng hợp hóa và khái quát hóa các tài liệu có liên quan làm cơ sở lý luận cho đề tài
- Nhóm phương pháp thực tiễn
+ Phương pháp quan sát được dùng để thu thập tư liệu cho đề tài một cách khách quan Phương pháp này được sử dụng trong các tiết dự giờ, quan sát học sinh trong các hoạt động khác… để đánh giá mức độ và khả năng viết chính tả của học sinh
+ Phương pháp trắc nghiệm: Phương pháp này để thống kê, phân loại các lỗi chính
tả cơ bản học sinh thường mắc phải, nắm được thực trạng, nguyên nhân mắc lỗi để từ đó
đề xuất biện pháp khắc phục
+ Phương pháp thực nghiệm: Phương pháp này được sử dụng trong khâu hoàn tất quá trình nghiên cứu nhằm xem xét, xác nhận tính khả thi của các biện pháp lỗi khắc phục lỗi chính tả cho học sinh lớp 5 mà đề tài nghiên cứu
+ Phương pháp xử lí kết quả nghiên cứu bằng thống kê toán học Thực hiện tính tần suất mắc lỗi…
6 Đóng góp của khóa luận
- Nếu khóa luận có tính khả chấp sẽ là nguồn tài liệu tham khảo cho các bạn sinh viên chuyên ngành giáo dục Tiểu học, giáo viên Tiểu học, nhất là các giáo viên dạy tại các trường có nhiều học sinh mắc lỗi chính tả trong quá trình rèn luyện thực hành kĩ năng cho các em ở phân môn chính tả
- Các biện pháp đề xuất trong khóa luận sẽ một phần nào góp phần nâng cao hiệu quả trong dạy học chính tả cho học sinh lớp 5 Trường Tiểu học Quyết Tâm - TP Sơn La
7 Cấu trúc khóa luận
- Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo, cấu trúc của khóa luận gồm ba chương:
+ Chương 1 : Cơ sở lí luận và thực tiễn
Chương 1 giới thiệu một cách khái quát nhất hệ thống khái niệm cơ bản, vị trí, tính chất, nhiệm vụ của phân môn Chính tả trong nhà trường Tiểu học, quy tắc chính tả
Trang 13và cơ sở tâm lí, cơ sở ngôn ngữ học của việc dạy học chính tả trong nhà trường Tiểu học
và dấu ấn của phương ngôn trong chính tả Đồng thời khóa luận sẽ trình bày thực tiễn việc dạy và học ở trường Tiểu học
+ Chương 2 : Lỗi chính tả và nguyên nhân mắc lỗi chính tả của học sinh lớp 5 Chương 2 tìm hiểu nội dung chương trình chính tả lớp 5 Tìm hiểu thực trạng dạy
và học trong nhà trường Tiểu học, chỉ ra thực trạng mắc lỗi của học sinh tiểu học Nội dung của chương 2 còn đề cập đến các lỗi thường gặp, phân loại các lỗi, chỉ ra những lỗi phổ biến nhất mà học sinh hay mắc phải, dựa trên quá trình điều tra, khảo sát ngoài trường phổ thông Đồng thời chúng tôi cũng phân tích những nguyên nhân dẫn đến việc mắc lỗi chính tả của học sinh, từ đó làm cơ sở để xây dựng biện pháp sửa lỗi chính tả cho học sinh tiểu học
+ Chương 3 : Một số biện pháp để chữa lỗi chính tả cho học sinh lớp 5 Trường Tiểu học Quyết Tâm - TP Sơn La
Dựa trên sự nghiên cứu cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn ở các chương trước đó, chương 3 đi sâu vào nghiên cứu và đề xuất một số biện pháp chữa lỗi chính tả giúp các
em học sinh có cách học hiệu quả nhất và hạn chế được các lỗi chính tả
Trang 14Chính tả là một trong những phân môn thuộc môn Tiếng Việt ở tiểu học Chính tả
là cách thức viết đúng, hợp với chuẩn và những quy tắc về cách viết chuyển từ lời nói sang dạng viết Hay nói cách khác, chính tả là những quy định về cách viết đúng đối với
từ ngữ như tên người, tên địa lý, tên các tổ chức cơ quan đoàn thể, các từ ngữ phiên âm tiếng nước ngoài các dấu câu… Chính tả chủ yếu là cách viết, nó giúp cho người viết biết lựa chọn cách viết đúng chuẩn theo những quy tắc đã được thừa nhận chung
Chữ viết tiếng Việt (chữ quốc ngữ) được xây dựng theo hệ thống chữ cái La-tinh Chữ viết tiếng Việt gồm các chữ cái sau:
a) Dùng ghi 11 nguyên âm đơn: a, ă, â, e, ê, i(y), o, ô, ơ, u, ư và 3 nguyên âm đôi iê/yê, ia/ya, ươ/ưa, uô/ua
b) Dùng để ghi 23 phụ âm : b, c(k,q), ch, d, đ, g(gh), gi, h, kh, l, m, n, nh, ng(ngh),
p, ph, r, s, t, th, tr, v, x
Ngoài các chữ cái, do tiếng Việt là ngôn ngữ có thanh điệu (ngôn ngữ đa thanh), Chữ viết tiếng Việt còn sử dụng 5 dấu để ghi 6 thanh điệu: dấu (ghi thanh huyền), dấu ͂ (ghi thanh ngã), dấu ͘ (ghi thanh nặng), dấu ˀ (ghi thanh hỏi), dấu ˊ (ghi thanh sắc), không dung dấu để ghi thanh không (thanh ngang)
Thuật ngữ chính tả hiểu theo nghĩa gốc là “phép viết đúng” hoặc “lối viết hợp với chuẩn” Nói cách khác, chính tả là việc chuẩn chữ viết của một ngôn ngữ, yêu cầu cơ bản chính tả là việc thống nhất cách viết cho từng từ cụ thể trên phạm vi toàn quốc và trên tất
cả các loại hình văn bản viết
Một “ngôn ngữ văn hóa” không thể không có chính tả thống nhất, chính tả có thống nhất thì việc giao tiếp bằng ngôn ngữ viết mới không gặp trở ngại giữa các địa phương trong cả nước cũng như giữa các thế hệ với nhau
Dạy chính tả là rèn luyện cho HS kĩ năng viết thành thạo chữ tiếng Việt theo chính
tả Tiếng Việt và làm bài tập Qua đó dạy chính tả còn rèn các kĩ năng sử dụng ngôn ngữ, cung cấp cho học sinh vốn từ, vốn hiểu biết về các mảng khác nhau của đời sống Chữ
Trang 15viết tiếng Việt là chữ ghi âm, đọc như thế nào thì viết như thế ấy Muốn HS viết đúng chính tả thì cần giúp HS hiểu đúng nghĩa của từ Có thể dạy chính tả theo 2 cách: có ý thức và không có ý thức
+ Cách có ý thức: (phương pháp dạy học có tính tự giác) Bắt đầu từ việc nhận thức quy tắc mẹo luật chính tả Trên cơ sở đó luyện tập và từng bước đạt tới các kĩ xảo chính
tả bằng con đường có ý thức sẽ tiết kiệm được thời gian, công sức Đó là con đường ngắn nhất và hiệu quả cao
+ Cách không có ý thức: (phương pháp máy móc) Dạy chính tả không cần biết đến
sự tồn tại của các quy tắc chính tả, dựa trên sự lặp lại không cần biết lí do, quy luật của hành động Phương pháp này củng cố trí nhớ một cách máy móc, không thúc đẩy sự phát triển của tư duy
Như vậy, phân môn chính tả là phân môn khoa học, một lĩnh vực có ảnh hưởng trực tiếp đến các môn học, các lĩnh vực khác trong đời sống Chính tả mang tính logic chặt chẽ từ thấp đến cao, từ tư duy đơn giản đến phức tạp, chính tả có tính liên tục nên khi học cần chú ý không để hổng kiến thức Chính tả chủ yếu là cách viết, nó giúp con người biết lụa chọn cách viết đúng chuẩn theo những quy tắc đã được thừa nhận chung
1.1.1.2 Đặc điểm chính tả tiếng Việt
Tiếng Việt là ngôn ngữ phân tích tính, tức là các âm tiết được tách bạch rõ ràng trong dòng lời nói Vì thế, khi viết các chữ biểu thị âm tiết được viết rời Ví dụ, trong bốn
câu thơ sau trong bài thơ “Hạt gạo làng ta” của nhà thơ Trần Đăng Khoa, chúng ta dễ
dàng nhận diện số lượng các âm tiết trong mỗi câu thơ:
“Hạt gạo làng ta (4 âm tiết)
Có vị phù sa (4 âm tiết)
Của sông Kinh Thầy (4 âm tiết)
Có hương sen thơm (4 âm tiết)
Trong hồ nước đầy (4 âm tiết)
Có lời mẹ hát (4 âm tiết)
Ngọt bùi đắng cay” (4 âm tiết)
Mỗi âm tiết tiếng Việt đều mang một thanh điệu nhất định (tiếng Việt có 6 thanh) Khi viết chữ, phải đánh dấu ghi thanh điệu lên âm chính (hoặc bộ phận chính, đối với âm chính có nguyên âm đôi) của âm tiết Cấu tạo âm tiết của tiếng Việt rất chặt chẽ và ổn định Hiện nay, vẫn có khuynh hướng khác nhau khi nhìn nhận cấu tạo âm tiết tiếng Việt
Trang 16Chúng ta có thể tán thành khuynh hướng cho rằng ở dạng đầy đủ, âm tiết tiếng Việt có cấu tạo như sau:
Thanh điệu
Phụ âm đầu
Vần
Trong đó, âm chính và thanh điệu là 2 yếu tố không thể thiếu được trong cấu tạo của bất kì âm tiết nào của tiếng Việt
Muốn xác định kí hiệu ghi âm chính trong chữ chúng ta đặt chữ vào khuôn âm tiết Chẳng hạn:
Trang 17thuế TH U Ê Sắc
Khi xác định được kí hiệu ghi âm chính trong chữ, ta ghi dấu thanh lên trên (hoặc
dưới) kí hiệu đó: thượng, ngõ, hải, thái, chỗ… Trong trường hợp có hai kí hiệu biểu thị
âm chính (âm chính là nguyên âm đôi)
- Ghi dấu thanh điệu trên kí hiệu có dấu phụ: chuyển, huyền, ngửa, suốt, chửa,
nằm,…
- Ghi dấu thanh điệu trên kí hiệu đầu tiên (từ trái sang phải) khi cả hai kí hiệu
không có dấu phụ: phía, chìa,…
- Ghi dấu thanh điệu trên kí hiệu thứ hai (từ trái sang phải) khi cả hai kí hiệu đều
có dấu phụ: nước, bưởi,…
Để tiện ghi nhớ, có một mẹo nhỏ giúp chúng ta ghi dấu thanh điệu đúng
- Khi có một nguyên âm, dấu ghi thanh điệu bao giờ cũng đánh lên nguyên âm đó :
Trang 18+ Vần đang xét, về nguyên tắc không thể kết hợp được với một trong các phụ âm
kể trên làm âm cuối, đã đặt dấu ghi thanh điệu lên trên (dưới) kí hiệu nguyên âm ngay bên trái kí hiệu nguyên âm cuối cùng : này, mùi, hẹn, hứa,
1.1.1.3 Nguyên tắc kết hợp chính tả tiếng Việt
a) Các chữ cái biểu thị các phần của âm tiết
- Tất cả các chữ cái ghi phụ âm đều có thể làm kí hiệu ghi phần đầu của âm tiết
- Tất cả các chữ cái ghi nguyên âm đều có thể làm kí hiệu ghi âm chính của âm tiết
- Có hai chữ cái để ghi âm đệm là o và u (giữa chúng có sự phân bố vị trí rõ ràng)
- Các kí hiệu : p, t, c(ch), m, n, ng(nh), i(y),u(o) biểu thị các âm cuối
b) Sự phân bổ vị trí giữa các kí hiệu cùng biểu thị một âm
Mặc dù có những điểm chưa hợp lí, song chữ quốc ngữ đã thiết lập được một bộ quy tắc kết hợp hiệu chỉnh cần thiết và đủ mạnh để loại bỏ khả năng tùy tiện, nước đôi khi viết Các quy tắc bổ sung này được xã hội hóa và trở thành thói quen chính tả của người Việt Nhờ chúng mà chính tả chữ quốc ngữ khắc phục tính phức tạp, rắc rối phát nguyên từ những trường hợp vi phạm nguyên tắc ngữ âm học Sau đây là các quy tắc bổ sung đó
+ IÊ, YÊ, IA, YA
IÊ viết sau âm đầu, trước âm cuối: chiếu, tiền,
Trang 19YÊ viết sau âm đệm, trước âm cuối: tuyền, quyển,…hoặc khi mở đầu âm tiết : yến, yết,…
IA viết sau âm đầu, không có âm cuối: kia, bia,…
YA viết sau âm đệm, không có âm cuối: khuya,…
+ UA, UÔ
UA viết khi không có âm cuối: quả, của, sủa,…
UÔ viết trước âm cuối: muối, chuối, cuối,…
+ ƯA, ƯƠ
ƯA viết khi không có âm cuối: dưa, xưa, trưa, mưa,
ƯƠ viết trước âm cuối: nước, trước, mương,…
+ O, U làm âm đệm
Sau chữ cái ghi phụ âm Q chỉ viết U: quá, quả, quí, quần,
Sau các phụ âm khác hoặc mở đầu âm tiết:
Viết O trước các nguyên âm: a, ă, e (khóa, khoăn, xoe,…)
Viết U trước các nguyên âm: â, ê, y, ya, yê (huấn, khủy, khuya , huệ…)
+ I, Y làm âm chính
I viết sau âm đầu: kĩ, bí, bính, minh…
Y viết sau âm đệm: quý, quỳnh, quýt…
Khi đứng một mình viết I ngắn đối với các từ thuần Việt: ỉ eo, ầm ĩ, í ới… Viết Y đối với các từ gốc Hán: y tá, ý kiến…
1.1.1.4 Quan hệ giữa âm và chữ
Đặc trưng loại hình của tiếng Việt thể hiện ở chỗ tiếng Việt là thứ ngôn ngữ đơn lập Đặc trưng này thể hiện ở tất cả các mặt ngữ âm, ngữ nghĩa, ngữ pháp nhưng thể hiện
rõ nhất ở mặt ngữ âm Xét từ góc độ ngữ âm, tiếng Việt là thứ ngôn ngữ có nhiều thanh điệu độc lập mang nghĩa Vì thế, trong chuỗi lời nói ranh giới các âm tiết được thể hiện
rõ ràng, các âm tiết không bị nối dính với nhau như trong các ngôn ngữ biến hình Về cấu tạo, âm tiết tiếng Việt là một tổ hợp âm thanh có tổ chức chặt chẽ Các yếu tố cấu tạo
âm tiết kết hợp với nhau ở mức độ lỏng, chặt khác nhau Phụ âm đầu, vần và thanh kết hợp với nhau khá chặt chẽ Vần có vài trò quan trọng trong tiếng Việt Âm tiết có thể không có phụ âm đầu nhưng không thể thiếu phần vần, âm tiết tiếng Việt tồn tại phải có
đủ hai điều kiện: âm chính và thanh điệu
Ví dụ: Làm cho đau đớn ê chề mà coi ( Nguyễn Du)
Trang 20Trong ví dụ trên thì âm tiết “ê” gồm nguyên âm (âm chính) Ê và thanh ngang
Chữ viết tiếng Việt thường được gọi là chữ Quốc ngữ, được xây dựng trên cơ sở
bộ chữ cái La - tinh Gọi là chữ Quốc ngữ có tác dụng phân biệt với chữ Hán và chữ viết tiếng Hán (Trung Quốc) và với chữ Nôm, thứ chữ tiếng Việt được tạo ra trên cơ sở chữ Hán Chữ Quốc ngữ ghi lại âm thanh tiếng Việt bằng đường nét và hình dáng Các âm trong tiếng Việt được ghi lại bằng chữ cái hoặc tập hợp các chữ cái Như vậy, chữ viết cần phải ghi lại và phân biệt giữa các âm thanh của tiếng Việt Chữ viết của tiếng Việt của chữ ghi âm nên nguyên tắc chính tả cơ bản của kiểu chữ này là nguyên tắc ngữ âm học, nghĩa là mỗi âm vị được thể hiện bằng một tổ hợp chữ cái, mỗi âm tiết, mỗi từ có một cách viết nhất định Nói cách khác, giữa cách đọc và cách viết thống nhất với nhau Đọc như thế nào thì viết như thế ấy Do đó, việc viết đúng phải dựa trên đọc đúng, đọc đúng là cơ sở của viết đúng Giữa đọc và viết, giữa tập đọc và viết chính tả có mối quan
hệ mật thiết với nhau nhưng lại có quy trình hoạt động trái ngược nhau Nếu tập đọc là
sự chuyển hóa văn bản viết thành âm thanh thì chính tả lại là sự chuyển hóa văn bản dưới dạng âm thanh thành văn bản viết
Trong thực tế, sự biểu hiện các mỗi quan hệ giữa đọc và viết khá phong phú và đa dạng Cụ thể, chính tả tiếng Việt không hoàn toàn dựa vào cách phát âm thực tế của mỗi phương ngữ nhất định nào Ở mỗi địa phương, người dân có thói quen phát âm riêng đều
có những sai lệch so với chính âm, cho nên không thể thực hiện phương châm “Nói như thế nào thì viết như thế ấy” được Chẳng hạn, ngữ văn => ngữ văn, chủ nghĩa => chủ nghỉa như cách phát âm của phương ngữ Thanh Hóa…Vì thế, để phát huy một cách có ý thức, đặc biệt là những vùng phương ngữ, việc dạy Chính tả phải theo sát nguyên tắc ngữ âm học Nghĩa là tôn trọng việc phát âm, lấy âm để điều chỉnh chữ viết Chính tả tiếng Việt là chính tả ngữ âm học nhưng trong thực tế muốn viết đúng chính tả việc nắm đúng nghĩa của từ là rất quan trọng Hiểu nghĩa của từ là một trong những cơ sở giúp người học viết đúng chính tả
1.1.1.5 Nguyên tắc xây dựng chữ quốc ngữ
Chữ quốc ngữ so với chữ viết của nhiều ngôn ngữ trên thế giới có phần hợp lí hơn
và chính tả của nó cũng giản tiện hơn rất nhiều Nguyên nhân sâu xa nhất của điều này là
ở chỗ chữ quốc ngữ được xây dựng theo nguyên tắc âm vị học (hay như vẫn quen gọi là nguyên tắc ngữ âm học) Nguyên tắc âm vị học trong chữ viết yêu cầu giữa âm và chữ
Trang 21phải có quan hệ tương ứng “1-1” Để đảm bảo nguyên tắc này, chữ quốc ngữ phải thỏa mãn ít nhất hai điều kiện:
- Mỗi âm chỉ do một kí hiệu biểu thị
Ví dụ như: Âm a chỉ có một kí hiệu biểu thị là /a/ Hoặc âm bờ chỉ có một kí hiệu biểu thị là /b/ Tương tự âm mờ chỉ có một kí hiệu biểu thị là /m/…
Mỗi kí hiệu luôn luôn chỉ có một giá trị, tức biểu thị chỉ một âm duy nhất ở mọi
vị trí trong từ
Ví dụ: Kí hiệu là /m/ trong từ “mũm mĩn”, /m/ đứng đầu từ hoặc cuối luôn luôn chỉ có một giá trị, tức biểu thị chỉ một âm duy nhất là mờ
Về căn bản, chữ quốc ngữ được tạo ra thỏa mãn khá đầy đủ các điều kiện đó
1.1.1.6 Quy tắc chính tả tiếng Việt
a) Quy tắc viết hoa cơ bản
- Đầu câu, danh từ riêng
Ví dụ: Bác Hồ, Tổ quốc, Mặt Trời,…
- Viết hoa khi dẫn lời nói trực tiếp
Ví dụ: Thanh gọi mẹ ríu rít: - Mẹ ơi!
- Sau dấu hai chấm mà kiểu câu liệt kê thì không viết hoa
Ví dụ: Xoài có nhiều loại: xoài tượng, xoài cát, xoài thanh ca,…
- Viết hoa tên người, tên địa danh nước ngoài: phiên âm, dịch ra tiếng Việt + Trường hợp phiên âm qua âm Hán Việt: Viết theo quy tắc viết tên người, tên địa
Ví dụ: Phơ-ri-đơ-rích Ăng-ghen, Vơ-la-đi-mia I-lích Lê-nin, Mát-xcơ-va, I-ta-li-a, An-giê-ri, …
b) Quy tắc chính tả do một âm có nhiều cách viết (Trường hợp i/y)
- Có 3 trường hợp viết y:
+ Bắt buộc viết y đứng sau âm đệm như: huy, tuy, thúy,…
+ Đứng sau nguyên âm ngắn a như ây
Trang 22+ Đứng trước ê khi chữ đó không có âm đầu như: yêu, yết, yếm
- Trường hợp bắt buộc viết i:
+ Sau các nguyên âm dài, trong đó các vần kết thúc bằng phụ âm mà không có âm đệm
Ví dụ : kim tim, tin, …
+ Trước a khi chữ đó không có âm đệm như: lía, kia, chia,…
- Trường hợp viết i/y đều đúng trong trường hợp có âm tiết mở (Khuyến khích học sinh viết i: Châu Mĩ/Châu Mỹ, Địa lí/Địa lý, Bác sĩ/Bác sỹ,…)
- Phải viết i hoặc y bắt buộc do phân biệt nghĩa
Ví dụ: bàn tay - lỗ tai; ngày mai - may mắn; khoái chí - cái khoáy âm dương
c) Quy tắc sử dụng âm đầu l/n; ch/tr; s/x; r/d/gi; c/k/q:
* Trường hợp l/n
- Chữ n không đứng đầu các tiếng có vần có âm đệm (oa, oe, uâ, uy) trừ hai âm tiết Hán Việt: noãn, noa Do đó nếu gặp các tiếng dạng này thì ta chọn l để viết, không chọn n
Ví dụ: chói loà, loá mắt, loảng xoảng, loà xoà, loạng choạng, loan báo, loăng quăng, loằng ngoằng, loắt choắt, quần loe, lập loè, loá sáng, luân lí, kỉ luật, luẩn quẩn, lưu luyến, luyên thuyên, tuý luý,
- Trong cấu tạo từ láy:
+ Láy âm: Cả l và n đều có từ láy âm Do đó nếu gặp từ láy âm thì ta có thể chọn
cả hai tiếng cùng có âm l hoặc n
Ví dụ: no nê, nợ nần, nao núng, nôn nao, nảy nở, nung nấu, lo lắng, lầm lì, lanh lảnh, lung linh, long lanh, len lỏi, lâm li,
+ Láy vần: trong các từ láy vần có tiếng có n hoặc l thì tiếng thứ nhất bao giờ cũng có âm đầu l, tiếng thứ hai có âm đầu n khi tiếng thứ nhất có âm đầu gi hoặc khuyết
âm đầu và tiếng thứ hai có âm đầu l khi tiếng thứ nhất có âm đầu khác gi Do đó nếu gặp
từ láy vần thì tiếng thứ nhất ta phải chọn âm đầu l còn nếu tiếng thứ nhầt có âm đầu gi hoặc khuyết âm đầu thì tiếng thứ hai ta chọn n, tiếng thứ nhất có âm đầu khác gi thì tiếng thứ hai ta chọn l (Trừ hai trường hợp đặc biệt: khúm núm, khệ nệ)
Ví dụ: la cà, lờ đờ, lò dò, lù đù, lơ mơ, lan man, lõm bõm, lạch bạch, gian nan, gieo neo, giãy nảy, áy náy, ảo não, ăn năn, cheo leo, chói lọi, lông bông, khét nẹt, khoác lác,
Trang 23- Một số từ có thể thay thế âm đầu nh bằng âm đầu l
Ví dụ: nhời - lời, nhẽ - lẽ, nhỡ - lỡ, nhát - lát, nhăm nhe - lăm le, nhấp nhánh - lấp lánh, nhố nhăng - lố lăng,
- Một số từ có thể thay âm đầu đ, c bằng âm đầu n
Ví dụ: đấy - nấy, cạo - nạo, kích - ních, cạy - nạy,
Ví dụ: trọng, trường, trạng, trình tự, trừ phi, giá trị, trào lưu, trù bị,
- Những từ chỉ đồ vật trong nhà, chỉ tên các loại quả, chỉ tên các món ăn, chỉ tên các hoạt động, chỉ quan hệ giữa những người trong gia đình và những từ mang
ý nghĩa phủ định thường có âm đầu ch
Ví dụ: chăn, chiếu, chai, chén, chổi, chum, chạn, chõng, chảo, chuối, chanh, chôm chôm, cháo, chè, chả, chạy, chặt, chắn, chẻ, cha, chú, chị, chồng, cháu, chắt, chẳng, chưa, chớ, chả,
- Một số từ có thể thay âm đầu tr bằng âm đầu gi
Ví dụ: trồng - giồng, trầu - giầu, trời - giời, trăng - giăng,
- Trong cầu tạo từ láy:
+ Láy âm: Cả tr và ch đều có từ láy âm Do đó nếu gặp láy âm đầu thì ta có thể chọn cả hai tiếng cùng có âm đầu ch hoặc tr
Ví dụ: chông chênh, chen chúc, chăm chỉ, chân chất, chập chững, tròn trĩnh, trùng trục, trăn trở, tròng trành, trơ tráo, trập trùng,
+ Láy vần: Trong các từ láy vần chỉ có tiếng có âm đầu ch (trừ một số trường hợp
đặc biệt: trét lẹt, trót lọt, trụi lủi)
Ví dụ: chơi vơi, lừng chừng, chàng màng, chênh vênh, chán ngán, chót vót
* Trường hợp s/x
Trang 24- Chữ s không đứng đầu các tiềng có âm đệm (oa, oă, oe, uê, uâ) ngoại trừ các
trường hợp: soát, soạt, soạng, soạn, suất Do đó nếu gặp các tiềng dạng này thì ta
chọn x để viết không chọn s
Ví dụ: xuề xoà, xoay xở, xoành xoạch, xuềnh xoàng, xoăn, xoe, xuân,
- Trong cấu tạo từ láy:
+ Láy âm: Cả s và x đều có từ láy âm Do đó nếu gặp từ láy âm đầu thì có thể chọn cả hai tiếng cùng có âm đầu s hoặc x
Ví dụ: sắc sảo, suy suyển, sờ soạng, sục sạo, sung sướng, sỗ sành, xao xuyến, xôn xao, xàm xỡ, xì xào, xí xoá, xấp xỉ, xoèn xoẹt,
+ Láy vần: Tiếng có x thường láy với tiềng có l, trừ một số trường hợp: lụp sụp, đồ
sộ, sáng láng Do đó nếu gặp láy vần thì ta chọn tiếng chứa âm đầu x
Ví dụ: liểng xiểng, loăn xoăn, loà xoà, lộn xộn, lao xao, xoi mói, xích mích, xa
lạ,
- Một số từ ghép có một tiếng có âm đầu s và có một số tiếng có âm đầu x:
Ví dụ: xứ sở, sản xuất, xuất sắc, xác suất, xổ số, soi xét,
+ Các tiếng có thanh ngã hoặc thanh nặng thường viết với âm đầu d
Ví dụ: diễn viên, hấp dẫn, bình dị, mậu dịch, kì diệu,
+ Các tiếng có thanh sắc hoặc thanh hỏi thường viết gi
Ví dụ: giải thích, giảng giải, giá cả, giám sát, giới thiệu, tam giác,
+ Các tiếng có thanh huyền hoặc thanh ngang thường viết với âm đầu gi khi vần
có âm đầu a và viết với âm đầu d khi vần có âm đầu khác a
Ví dụ: gian xảo, giao chiến, giai nhân, tăng gia, gia nhân, du dương, do thám, dương liễu, dư dật, ung dung,
- Trong cấu tạo từ láy:
+ Láy âm: Cả gi, r, d đều có từ láy âm Nếu gặp từ láy âm thì có thể chọn cả hai tiếng cùng có âm đầu gi, r hoặc d
Ví dụ: giành giật, giãy giụa, giục giã, già giặn, giấm giúi, dai dẳng, dào dạt,
Trang 25dằng dặc, dập dìu, dãi dầu, ríu rít, ra rả, rì rào, réo rắt, run rẩy, rung ring, rưng rức, rùng rợn, rón rén, rừng rực, rạng rỡ, rực rỡ,
+ Láy vần: Tiếng có d thường láy với tiếng có l, tiếng có r thường láy với tiếng
có b hoặc c, tiếng có gi thường láy với tiếng có n
Ví dụ: lim dim, lò dò, lai dai, bứt rứt, cập rập, bịn rịn, co ro, cò rò, bủn rủn, gian nan, gieo neo, giãy nảy
- Một số từ láy có các biến thể khác nhau: rào rạt - dào dạt, rập rờn - giập giờn, dân dấn - rân rấn, dun dủi - giun giủi, dấm dứt - rấm rứt, dở dói - giở giói, gióng giả - dóng dả, réo rắt - giéo giắt rậm rật - giậm giật,
- Trong cấu tạo từ ghép giữa r, d, và gi Chỉ có từ ghép có tiếng âm đầu gi và tiếng có âm đầu d, không có từ ghép có tiếng âm đầu r và âm đầu d hay âm đầu r và âm đầu gi
Ví dụ: già dặn, giáo dục, giao dịch, giả dối, giản dị, giao du, giảng dạy, giận dữ, gian dối, giận dỗi, giao duyên,
* Trường hợp c/k/q
- Giúp cho học sinh nắm được các qui luật:
+ q luôn bao giờ cũng đi với âm đệm u để thành qu
+ c luôn đứng trước các nguyên âm: a, ă, â, o, ô, ơ, u, ư
+ k luôn đứng trước các nguyên âm: i, e, ê
1.1.1.7 Bất hợp lí trong chữ quốc ngữ
Nguyên tắc chính tả cơ bản của tiếng Việt là nguyên tắc ngữ âm học Ngoài ra, chính tả tiếng Việt còn được xấy dựng trên những nguyên tắc như: Nguyên tắc truyền thống lịch sử, nguyên tắc khu biệt và liên kết… Những nguyên tắc này không đồng nhất với ngữ âm học, do vậy chính tả tiếng Việt còn tồn tại những bất hợp lí Chính tả tiếng Việt vừa thừa, vừa thiếu, vừa đơn giản lại phức tạp Đơn giản vì chữ quốc ngữ là chữ viết ghi âm ở dạng ổn định, phát âm thế nào thì viết như thế ấy, ít lệ thuộc vào ngữ pháp như chính tả ở các ngôn ngữ biến hình từ (tiếng Anh) Phức tạp ở chỗ tiếng Việt tuy là ngôn ngữ thống nhất chung trong cả nước nhưng có nhiều phương ngữ khác nhau (phương ngữ Bắc Bộ, phương ngữ Trung Bộ và phương ngữ Nam Bộ) Tuy nhiên, nó chỉ được chấp nhận ở dạng lời nói trong khi đó hệ thống ghi âm tiêu chuẩn của tiếng Việt chưa
Trang 26được xác định một cách chính thức nên khó có thể phổ biến hệ thống đó một cách rộng rãi được Bên cạnh việc phát âm không phù hợp với tiêu chuẩn có trường hợp một từ đồng thời mang hai biến thể phát âm, khó có thể xác định biến âm nào là chuẩn như trai- giai, trầu - giầu… Hay cũng có khi cùng một cách phát âm lại có hai cách viết như :
1.1.2 Tầm quan trọng của phân môn Chính tả ở Tiểu học
1.1.2.1 Mục tiêu, nhiệm vụ của phân môn Chính tả ở Tiểu học
Mục tiêu của phân môn Chính tả là sự cụ thể hóa mục tiêu của bộ môn Tiếng Việt
ở Tiểu học (đặc biệt là kĩ năng viết) góp phần rèn luyện cho học sinh những thao tác cơ bản, cung cấp cho học sinh những hiểu biết sơ giản về tự nhiên, xã hội để góp phần giáo dục và hình thành phát triển nhân cách cho học sinh
Cùng với phân môn Tập viết, phân môn Chính tả có nhiệm vụ là giúp học sinh nắm vững quy tắc chính tả, hình thành kĩ năng chính tả Nói cách khác phân môn Chính
tả giúp học sinh hình thành năng lực và thói quen viết đúng chính tả, củng cố và hoàn thiện các tri thức cơ bản về hệ thống ngữ âm và chữ viết tiếng Việt, trang bị cho học sinh công cụ để học tập những môn học và giao tiếp ngoài xã hội Ngoài ra phân môn Chính
tả còn rèn cho học sinh một số kĩ năng, phẩm chất tốt như: tính cẩn thận, chính xác, bồi dưỡng tình yêu của học sinh đối với tiếng Việt cũng như chữ viết của tiếng Việt
1.1.2.2 Vị trí, tính chất của dạy học chính tả ở trường Tiểu học
Trong hoạt động ngôn ngữ của con người có bốn hoạt động vô cùng quan trọng là nghe, nói, đọc, viết Bốn hoạt động này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, thực hiện hoạt
Trang 27động này là tiền đề để thực hiện ba hoạt động kia và ngược lại Tuy nhiên, ở mỗi hoạt động lại có một đặc điểm riêng, giữ vị trí riêng trong hoạt động chung của mỗi con người, trong
đó viết là một kĩ năng vô cùng quan trọng phải rèn luyện cho học sinh
Trong thực tiễn, dạy học chính tả giúp hình thành và phát triển ở học sinh năng lực sử dụng tiếng Việt (đặc biệt là kĩ năng viết) góp phần rèn luyện cho học sinh thao tác
tư duy cơ bản, cung cấp cho học sinh những hiểu biết sơ giản về tự nhiên xã hội để góp phần giáo dục và hình thành nhân cách cho học sinh, thông qua việc học chính tả học sinh chiếm lĩnh được tiếng Việt, công cụ để giao tiếp tư duy trong học tập
Tính thực hành là đặc trưng nổi bật của dạy học chính tả, qua việc luyện viết người ta giáo dục cho các em tính cẩn thận, tỉ mỉ, giúp cho các em biết trình bản một văn bản có khoa học Bởi vì khi viết một bài chính tả, thể hiện xong và hoàn chỉnh một bài chính tả các em phải vận dụng năng lực của mình: tai nghe, tay viết, đầu óc suy nghĩ Nghĩ làm sao để viết chính tả cho đúng quy tắc, nghe làm sao cho chuẩn từng câu, từng chữ, viết làm sao cho nắn nót
Ngoài ra, ta có thể thấy một bài chính tả hoàn chỉnh trước tiên phải hoàn thành và đúng quy tắc chính tả Thứ hai, là phải đẹp vì viết chính tả là phải viết ngay ngắn, thẳng hàng, đẹp đẽ Chính vì vậy, Chính tả còn giúp các em nâng cao óc thẩm mĩ của mình
Qua đó rèn luyện khả năng tư duy và bồi dưỡng tình yêu với cái đẹp của học sinh, các em dễ dàng tiếp thu các kiến thức khoa học, đặc biệt là các em tự trình bày bài viết của mình đúng chính tả, viết sạch đẹp hơn Bên cạnh đó, chính tả còn bồi dưỡng cho các
em lòng yêu quý tiếng Việt và ý thức giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam
1.1.3 Cơ sở khoa học của việc dạy học tiếng Việt
1.1.3.1 Con đường “có ý thức” và “không có ý thức” trong dạy học chính tả
Mọi hoạt động học tập đều là hoạt động phải có ý thức Khái niệm “có ý thức” và
“không có ý thức” ở đây được hiểu là học các “quy tắc, quy luật” chính tả đối lập với học thuộc các trường hợp chính tả “bất quy tắc”
Loại hình chính tả có ý thức là loại chính tả nhằm phát hiện ra các quy tắc chính tả trên cơ sở của phép viết đúng chính tả Về cơ bản đây là một con đường được triển khai
từ việc nhận thức các quy tắc và các mẹo luật chính tả để làm cơ sở cho việc thực hành luyện tập tiến tới hình thành kĩ xảo chính tả
Trang 28Loại chính tả không có ý thức là loại chính tả “bất quy tắc”, cần học thuộc và nhớ các trường hợp cụ thể Con đường này được hiểu là việc hình thành kĩ xảo một cách tự nhiên Đặc trưng của nó có thể là lĩnh hội một hành động nào đó thì việc dạy chính tả không cần chú ý đến sự tồn tại của các quy tắc chính tả, không cần hiểu mối quan hệ giữa ngữ âm và chữ viết, những cơ sở ngữ pháp của chính tả mà đơn thuần chỉ là viết được từng từ cụ thể, từng trường hợp riêng lẻ
Dạy chính tả tiếng Việt bên cạnh việc coi trọng chính tả có ý thức, cần phải chú ý đúng mức đến chính tả không có ý thức Theo con đường có ý thức, chúng ta gặp nhiều thuận lợi trong dạy học chính tả
Nắm được các quy tắc chính tả, học sinh nắm được cách viết đúng các từ mà không đòi hỏi phải ghi nhớ máy móc theo trường hợp cụ thể để rút ngắn được thời gian rèn luyện để viết đúng chính tả
Trong quá trình tổ chức dạy học chính tả cho học sinh, giáo viên cần giúp cho học sinh vận dụng tốt các thao tác tư duy như: phân tích, so sánh, đối chiếu, khái quát hóa, trừu tượng hóa để rút ngắn quy tắc chính tả
Bên cạnh con đường có ý thức, chúng ta cần phải chú ý đến con đường chính tả không có ý thức Việc hình thành kĩ xảo theo con đường này không cần đến sự hỗ trợ của
tư duy mà chỉ cần ở một chừng mực nhất định giúp học sinh ghi nhớ máy móc Viết chính tả như vậy cũng đòi hỏi người viết có phản ứng nhanh, linh động, tức thời để chọn một hình thức phù hợp Bởi vậy học sinh cần phải phát huy đến cao độ khả năng ghi nhớ của bản thân để học thuộc Yêu cầu này không khó lắm đối với học sinh tiểu học, ngay
cả học sinh dân tộc thiểu số
1.1.3.2 Cơ sở ngôn ngữ học
Chính tả ngữ âm là chính tả mà các âm vị ở vị trí cơ bản của chúng, nghĩa là mỗi
âm vị được ghi bằng một con chữ Đối với việc hình thành kĩ xảo chính tả, đặc tính của văn bản, đoạn trích mà học sinh dựa vào đó để lĩnh hội chính tả là rất quan trọng Theo đó khi viết chính tả theo nguyên tắc ngữ âm là các biểu tượng âm thanh, điều này thể hiện là giữa người đọc và viết thống nhất với nhau “Đọc như thế nào thì viết như thế ấy” Cơ chế của cách viết đúng trong trường hợp này thể hiện ở việc học sinh thực hiện thao tác luyện tập dạy liên hệ giữa âm vị và chữ cái
Như vậy, cách viết theo nguyên tắc ngữ âm là vấn đề chữ viết, nếu học sinh nắm được sự phân tích âm thanh và bảng chữ cái thì không cần có sự ghi nhớ học sinh chỉ cần
Trang 29phát thành tiếng và nhẩm thầm từ cần viết Cơ chế ấy được xác lập trong mối quan hệ giữa âm thanh và chữ viết để học sinh có được cách viết đúng và xác lập được cách viết đúng và xác lập được mối quan hệ liên chính tả
Điều đáng quan trọng ở đây là hình thức âm thanh phát ra (khi đọc) và hình thức chữ viết (khi viết chính tả) chúng luôn có mối quan hệ ràng buộc mật thiết nhưng lại trái ngược nhau về quy trình hoạt động hiện hành Nếu như đọc là phát ra âm thanh để thể hiện văn bản thì viết lại là sự trừu tượng hóa văn bản trên cơ sở âm thanh thành chữ viết Đọc lấy nguyên tắc chính âm làm chuẩn thì viết lấy chính tự làm cơ sở (chính tự là toàn
bộ khung quy tắc của chính tả được thể hiện ở những đơn vị âm thanh: tiếng, từ, câu )
Trên một bình diện khác, khi vận dụng phương pháp chính tả phương thức tiếp nhận thông tin về mẫu đúng tư cách viết có sự thay đổi căn bản Đó là hiểu được nghĩa của từ, nắm được quy tắc, học sinh có thể nắm được thông tin cần thiết mà không phụ thuộc vào việc có hay không những từ cụ thể nào đó làm mẫu Điều đó đồng nghĩa với việc hoạt động ghi nhớ của các em sẽ được thỏa mái hơn, các phương thức lĩnh hội thông tin phức tạp hơn và đòi hỏi hoạt động tích cực của tư duy, dựa trên ý nghĩa của các phương pháp
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Thực trạng dạy và học chính tả
1.2.1.1 Thực trạng dạy chính tả trong nhà trường
a) Trình độ đào tạo của giáo viên chưa đồng đều
Chất lượng dạy chính tả của GV Tiểu học trước hết phải nói đến trình độ đã được đào tạo của đội ngũ GV Trình độ được đào tạo của GV ảnh hưởng không nhỏ và là yếu
tố trực tiếp tác động đến chất lượng học của HS Đều là những người GV Tiểu học và với cùng một chương trình đào tạo như nhau nhưng thời gian được đào tạo của mỗi GV
ở mỗi trình độ khác nhau là khác nhau, cụ thể: thời gian đào tạo đối với GV trình độ Đại học là 4 năm, còn thời gian đào tạo đối với GV trình độ Cao đẳng chỉ là 3 năm, Trung cấp là 2 năm 3 năm để hoàn thành một chương trình đào tạo khổng lồ như thế và cũng khoảng thời gian ấy mỗi người GV trang bị được cho mình một hành trang vững vàng cả
về mặt kiến thức và năng lực sư phạm để đảm bảo yêu cầu của một người GV chuẩn khi
ra trường thì quả là một khó khăn lớn Do đó, với đội ngũ GV được đào tạo như trên khi
ra trường sẽ dẫn tới một thực trạng đó là trình độ, năng lực sư phạm còn hạn chế, cụ thể
Trang 30nó được thể hiện ở phương pháp giảng dạy, việc tổ chức dạy và học trong một giờ học còn những hạn chế nhất định
Ở các trường Tiểu học hiện nay nói chung, trình độ của đội ngũ GV không đồng đều, nhất là trong các trường Tiểu học của một số tỉnh miền núi như Sơn La, Điện Biên, Lai Châu Qua thực tế khảo sát trình độ của GV dạy khối lớp 5 ở ba trường tiểu học của thành phố Sơn La: Trường tiểu học Quyết Tâm, Trường tiểu học Chiềng Sinh, Trường tiểu học Quyết Thắng cho thấy: có 7 GV dạy khối lớp 5 thì có tới 4 GV ở trình độ Cao đẳng (chiếm 57,14%) và 2 GV ở trình độ đào tạo Trung cấp (chiếm 28,57%), có 1 GV ở trình độ Đại học (chiếm 14,29%) Đây là một thực tế làm ảnh hưởng trực tiếp đến việc dạy - học trong nhà trường nói chung và chất lượng học Chính tả của HS nói riêng b) Còn coi nhẹ phương pháp dạy chính tả
Hoà cùng sự phát triển, đổi mới của đất nước về mọi mặt ngành giáo dục và đào tạo cũng có những đổi mới nhất định Phương pháp dạy học là một trong những nội dung quan trọng nằm trong chương trình đổi mới của ngành giáo dục và đào tạo
Thế nhưng, trong khi cả nước đang tiến hành đổi mới phương pháp và cách thức dạy học phù hợp với trình độ, khả năng nhận thức và đặc điểm tâm sinh lý của HS Đó là
sử dụng hình thức dạy học “lấy HS làm trung tâm”, GV là người hướng dẫn, điều khiển mọi hoạt động học tập của HS, còn học sinh là người chủ động tiếp nhận tri thức bằng cách tự tìm tòi, khám phá, phát hiện ra cái mới, tri thức mới Đó là sử dụng hình thức dạy học lấy GV làm trung tâm, GV là người tổ chức các hoạt động trên lớp của HS, toàn bộ mạch kiến thức hầu như được GV giới thiệu, xem xét, đánh giá và kết luận Với hình thức dạy học này GV giữ vai trò chủ đạo và trung tâm còn HS thì thụ động tiếp thu kiến thức của bài học, không tự mình tìm tòi, khám phá ra cái mới Do đó, việc truyền thụ kiến thức còn chưa thực sự được quan tâm đến đối tượng HS, và việc lĩnh hội tri thức của HS bị phụ thuộc nặng nề vào bài giảng của GV, HS không chịu khó suy nghĩ, ỷ lại, thụ động Với cách dạy này HS nhất nhất phải tuân theo khuôn mẫu đã vạch ra trong bài giảng của GV, mà ít có cơ hội bộc lộ năng lực của bản thân Do vậy, hiệu quả mà giờ học mang lại của các môn học nói chung và phân môn Chính tả nói riêng là rất thấp
Phải nói thêm rằng, bên cạnh những GV vẫn duy trì cách dạy truyền thống như trên thì cũng có một số bộ phận GV tiếp thu được và đã có những đổi mới phương pháp truyền đạt kiến thức của mình đến HS Tuy nhiên, những đổi mới trong phương pháp dạy học lại được những GV áp dụng chủ yếu trong các giờ học của các phân môn hay
Trang 31môn học khác Còn đối với phân môn Chính tả thì phần lớn vẫn duy trì cách dạy truyền thống cũ Điều đó cũng là nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng dạy học phân môn Chính tả trong nhà trường
c) Việc quản lí của nhà trường đối với việc giảng dạy của GV
Công tác quản lí của nhà trường có hiệu quả sẽ góp phần đảm bảo chất lượng giảng dạy, nhà trường quản lí tốt đối với việc giảng dạy của đội ngũ GV thì chất lượng dạy - học được nâng cao Bởi vậy công tác quản lí trong nhà trường rất quan trọng Thông thường trong các nhà trường phổ thông nói chung và các trường Tiểu học nói riêng, việc quản lí của nhà trường đối với việc giảng dạy của đội ngũ GV thông qua các phương thức sau:
Thứ nhất, quản lí trực tiếp qua dự giờ giảng của GV trên lớp để căn cứ vào đó đánh giá chất lượng giảng dạy của từng GV
Thứ hai, có thể quản lí bằng cách quan sát các lớp học hàng ngày Tức là nhà trường tiến hành quản lí, kiểm tra giờ giấc ra vào lớp của từng GV đối với từng lớp học
GV thì việc quản lí không có hiệu quả cao, bởi nó chỉ mang tính hình thức, đối phó là chủ yếu còn chất lượng giảng dạy thực tế thì khó mà nắm bắt được Do vậy, để công tác quản lí của nhà trường đạt hiệu quả thì phải đồng thời kết hợp các phương thức quản lí trên và phải diễn ra thường xuyên
Trên thực tế cho thấy, hiện nay trong nhà trường Tiểu học ở miền núi nói chung và một số trường Tiểu học ở Sơn La nói riêng, công tác quản lí của nhà trường đối với việc giảng dạy của đội ngũ GV trong trường chưa thực sự có hiệu quả, và vẫn còn lỏng lẻo, chưa sát sao Bởi công tác quản lí của nhà trường chỉ thực sự diễn ra trong những đợt có
Trang 32thanh tra, kiểm tra của các ban ngành cấp trên mà thôi Điều này làm ảnh hưởng đến chất lượng dạy - học trong nhà trường nói chung và chất lượng dạy - học chính tả nói riêng
Do đó để chất lượng giảng dạy trong nhà trường được đảm bảo thì công tác quản lí của nhà trường là một trong những yếu tố có tác động không nhỏ Công tác quản lí trong nhà trường phải được chú trọng hơn, phải diễn ra thường xuyên hơn bằng cách kết hợp đồng thời các phương thức quản lí trên Công tác quản lí của nhà trường diễn ra tốt, việc giảng dạy của GV đảm bảo và từ đó chất lượng dạy-học trong nhà trường cũng được nâng cao d) Điều kiện cơ sở vật chất trong nhà trường còn nhiều hạn chế
Điều kiện cơ sở vật chất trong nhà trường cũng là yếu tố làm ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình dạy - học nói chung và dạy chính tả nói riêng Do là các nhà trường thuộc địa bàn miền núi nên nhìn chung điều kiện còn khó khăn Cơ sở vật chất trong nhà trường còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được nhu cầu dạy và học: bàn ghế thô sơ chưa phù hợp với lứa tuổi, lớp học không đủ ánh sáng, đồ dùng phục vụ cho việc dạy và học còn thiếu thốn…
1.2.1.2 Thực trạng học chính tả trong nhà trường
a) Học sinh coi chính tả như một môn học bắt buộc phải học
Như chúng ta đã biết, môn Tiếng Việt hình thành cho HS bốn kĩ năng: nghe, nói, đọc, viết Bốn kĩ năng này lại có quan hệ mật thiết với nhau Nói có chuẩn thì người nghe mới hiểu đúng và mới viết đúng được, viết đúng thì mới đọc chuẩn, đọc được hay Cho nên hình thành kĩ năng viết đúng có vai trò rất quan trọng
Viết sai chính tả ngay từ khi học cấp một sẽ hình thành thói quen và ảnh hưởng không nhỏ đến sau này Chính tả không chỉ là công cụ giúp HS chiếm lĩnh văn hoá, trau dồi kiến thức, tư duy để học tập mà nó còn tạo điều kiện ban đầu trong hành trang ngôn ngữ cả một đời người trong các em Với ý nghĩa quan trọng như vậy, phân môn Chính tả phải là môn học được coi trọng trong nhà trường Thế nhưng trên thực tế lại không như vậy Không riêng gì với các em HS một số trường Tiểu học ở Sơn La mà hầu hết các em
HS vẫn chưa nhận thức được tầm quan trọng của môn Chính tả và chỉ nhìn nhận môn học này là một môn học “phụ”, hỗ trợ cho kĩ năng sử dụng chữ viết tiếng Việt
b) Học quy tắc chính tả tiếng Việt là một khó khăn đối với các em
Đối với các em HS lớp 5, việc học quy tắc chính tả là một khó khăn Trong lớp, số lượng HS dân tộc thiểu số theo học tương đối đông Do vậy việc hiểu và nhận biết các quy tắc chính tả chữ Việt càng trở nên khó khăn hơn đối với các em
Trang 33Các em thường mắc các lỗi: l-đ, r- d-gi, x-s,…Ví dụ: “lung linh” các em viết thành
“đung đinh” hoặc “rì rào” các em viết thành “gì dào” Với những trường hợp khó khăn hơn, những trường hợp có quy tắc hay không có quy tắc các em càng dễ bị nhầm hơn Chẳng hạn, phân biệt: x-s, r-d-gi, ch-tr
Các kết hợp có quy tắc giữa “g”, “gh”,”ngh” với các nguyên âm ở sau nó Cụ thể là:
“g” - gọi là gờ đơn, “ng” - gọi là ngờ đơn cho phép kết hợp với các âm o, ô, ơ, u, ư, a, ă,
â ở sau nó “gh” - gọi là gờ kép, “ngh” - gọi là ngờ kép cho phép nó kết hợp với các âm
i , e, ê ở sau nó Hay một số trường hợp mang tính quy ước như: “qu” kết hợp với uôc được phép bỏ đi một chữ u; “gi” kết hợp với iêng, iêc, thì được phép bỏ đi một chữ i
Quy tắc phải viết hoa chữ cái đầu dòng, đằng sau dấu chấm hay các danh từ riêng (tên người, tên địa danh)
Quy tắc chính tả Tiếng Việt trong từng trường hợp thì ở những mức độ khó, dễ khác nhau Cũng có nhiều trường hợp chính tả chúng ta không thể sử dụng đúng quy tắc hay quy ước nào để có thể phân biệt chúng với những từ khác Do đó gây ra nhiều khó khăn trong việc sử dụng chính tả, nhất là đối với HS tiểu học, trong đó HS dân tộc thiểu
số chiếm số lượng khá đông - trình độ nhận thức của các em còn hạn chế, lại thêm sự phức tạp của các quy tắc chính tả tiếng Việt, nên việc tiếp nhận và lĩnh hội các quy tắc chính tả tiếng Việt đối với các em là rất khó khăn Do không hiểu, không nắm được bản chất của những kết hợp có quy tắc thì những trường hợp chính tả mang tính quy ước hay không mang tính quy ước thì các em cũng không thể nắm được Bởi vậy, việc viết sai từ,
sử dụng từ không đúng với chính tả tiếng Việt xảy ra ở các em là một sự thật không thể tránh khỏi
c) Chữ viết của học sinh chưa đẹp, chữ cẩu thả và tốc độ viết còn chậm
Do ngay từ Mẫu giáo và lớp 1, các em đều được học và viết chữ ở cỡ lớn, chữ
ở cỡ nhỏ nếu được tiếp xúc thì rất ít và chỉ ở mức độ làm quen nên việc chuyển sang viết chữ cỡ nhỏ ở lớp 2 là một khó khăn trong quá trình viết của các em
Do các em ý thức chưa cao trong việc viết chữ và trong cách trình bày bài viết của mình sao cho đúng và đẹp Bởi vậy, dẫn đến tình trạng chữ viết của đa số các em còn chưa đẹp, nguệch ngoạc, chữ thường thừa nét hoặc thiếu nét, nét chữ viết vẫn còn run, không dứt khoát, hay tô lại nét chữ dây bẩn chữ Đặc biệt là các em HS dân tộc thiểu số
So với trước kia, vở viết của HS đã được cải thiện khá nhiều, các em viết trên vở
có dòng kẻ ô li đều nhau Vở như vậy vẫn sẽ giúp các em viết chữ được thẳng hàng,
Trang 34không bị trèo dòng, xuống dòng Nhưng trên thực tế các em viết chữ vẫn chưa thẳng hàng, chữ vẫn còn trèo dòng trên, xuống dòng dưới Nguyên nhân chủ yếu là do ý thức của các em trong giờ học các em chưa thật chú ý vào bài học và còn tình trạng ngủ gật trong giờ
1.2.2 Chương trình và sách giáo khoa Tiếng Việt ở Tiểu học
1.2.2.1 Mục tiêu phân môn Chính tả ở Tiểu học
Để cụ thể hoá mục tiêu của môn Tiếng Việt, phân môn Chính tả nhằm hình thành ở học sinh kĩ năng sử dụng tiếng Việt, trong đó đặc biệt chú ý đến kĩ năng viết cụ thể là:
Phân môn chính tả giúp học sinh:
Cung cấp cho các em cách viết đúng các chữ mở đầu: c/k/q; g/gh; ng/ngh Viết được một số chỗ ghi tiếng có vần khó ( uynh, uơ, uyu, oay, oăm,…) vần (an/ang; at/ăc; iu/iêu; ưu/ươu,…) thanh (?/~/./…) do ảnh hưởng của cách phát âm địa phương Biết viết hoa chữ cái ở đầu câu, viết hoa tên người, tên địa lý Việt Nam
Phân môn chính tả hình thành kĩ năng nhìn viết, nghe viết, bài chính tả có quy định sau: Lớp 5 học sinh cần đạt những yêu cầu tối thiểu sau: Viết đúng chính tả, không mắc quá 5 lỗi trong bài tập chép hoặc nghe - viết Tốc độ viết giữa học kì I 95 chữ/15 phút, cuối học kì I 95 chữ/15 phút, giữa học kì II 100 chữ/15 phút, cuối học kì II 100 chữ/15 phút Đối với bài tập chép, nghe - viết có số chữ hơn số chữ quy định trong tốc độ chuẩn, giáo viên có thể cho học sinh viết trên 15 phút và giảm bớt bài tập về chính tả âm, vần như sau: cho học sinh làm tại lớp một phần trong số bài tập đồng dạng
Ngoài ra, phân môn chính tả cung cấp cho HS những hiểu biết sơ giản về bản thân, bạn bè, nhà trường… góp phần hình thành lòng yêu mến tiếng Việt và
thói quen giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt
1.2.2.2 Nội dung chương trình sách giáo khoa
SGK Tiếng Việt 5 có 2 tập, gồm 10 đơn vị học, mỗi đơn vị ứng với một chủ điểm; học trong 3 tuần; giữa và cuối mỗi học kì có một tuần ôn tập và kiểm tra
Các chủ điểm học tập xoay quanh những lĩnh vực gần gũi với HS như: gia đình, nhà trường, bạn bè, những vật xung quanh,… cụ thể như sau:
Tập 1: Gồm 5 đơn vị, học trong 18 tuần và các chủ điểm có tên gọi như sau:
- Việt Nam – Tổ quốc em - tuần 1;2;3
- Cánh chim hòa bình - tuần 4;5;6
Trang 35- Con người với thiên nhiên - tuần 7;8;9
- Giữ lấy màu xanh - tuần 11;12;13
- Vì hạnh phúc con người - tuần 14;15;16;17
Tuần 10 ôn tập giữa học kì I và tuần 18 ôn tập cuối học kì I
Tập 2 : gồm 5 đơn vị, học trong 17 tuần với các chủ điểm:
- Người công dân - tuần 19;20;21
- Vì cuộc sống thanh bình - tuần 22;23;24
- Nhớ nguồn - tuần 25;26;27
- Nam và nữ - tuần 29;30;31
- Những chủ nhân tương lai - tuần 32;33;34
Tuần 28 ôn tập giữa học kì II và tuần 35 ôn tập cuối học kì II
Môn Tiếng Việt 5 bao gồm các phân môn: Tập đọc, Chính tả, Luyện từ và câu, Kể chuyện, Tập làm văn Các phân môn có nội dung chương trình riêng và được bố trí xen kẽ theo từng bài học Phân môn Chính tả được phân bố 1 tiết/tuần, 3 tiết/đơn vị học
Về cấu trúc, bài chính tả trong SGK Tiếng Việt 5 bao giờ cũng gồm chính tả đoạn bài và chính tả âm - vần Trong quá trình dạy học, từng bài học cụ thể, tuỳ vào đối tượng
HS, GV có thể sử dụng SGK một cách linh hoạt sao cho giờ dạy đạt hiệu quả tối ưu
SGV và các tài liệu tham khảo:
SGV là công cụ hữu ích trong việc định hướng cho mỗi GV trong quá trình dạy học SGV cũng được cấu tạo 2 tập tương ứng với SGK Nội dung chương trình SGV được cấu trúc gồm 2 phần:
Trang 36Nội dung dạy học:
- Chính tả bài - đoạn
Học sinh nhìn - viết (tập chép) hoặc nghe - viết một đoạn hay một bài có độ dài trên dưới 50 chữ (tiếng) phần lớn các bài chính tả này được trích từ các bài tập đọc vừa học trước đó hoặc là nội dung tóm tắt của bài tập đọc
và thói quen viết đúng chính tả cũng như các biện pháp đổi mới trong dạy - học Chính tả, nói chung nhằm nâng cao hiệu quả dạy học Chính tả đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của gia đình và nhà trường
Ngoài ra, trong chương 1 này, chúng tôi còn quan tâm đến nhiều vấn đề liên quan đến chính tả và chính tả tiếng Việt Dựa trên bình diện lý luận: Đặc điểm chính tả tiếng Việt, nguyên tắc chính tả tiếng Việt… là những tiền đề lí luận để giúp chúng tôi xác định được lỗi chính tả của học sinh lớp 5 Trường Tiểu học Quyết Tâm - Sơn La Đồng thời, việc xây dựng cơ sở thực tiễn phần nào đã giúp chúng tôi nắm được thực trạng dạy và học chính tả ở các nhà trường tiểu học nói chung và Trường Tiểu học Quyết Tâm - Sơn
La nói riêng