Theo số liệu do Tổng cục thống kê cung cấp, dân số Việt Nam hiện nay là 95.616.068 người,đứng thứ 14 trong bảng xếp hạng dân số các nước và khu vực (2018). Lượng dân số ngày một gia tăng một cách nhanh chóng, đòi hỏi chính phủ phải có các quyết định đúng đắn và sáng suốt nhất để phục vụ cho số lượng dân số trong nước, đảm bảo kinh tế chính trị duy trì phát triển một cách ổn định. Dân số đông cũng là nguyên nhân của các vấn đề như việc làm, nhà ở, cơ sở hạ tầng, kiến trúc thượng tầng… Một trong số đó phải kể đến tình trạng giao thông ở Việt Nam. Không khó để bắt gặp một con đường tắc đông nghịt người vào mỗi giờ cao điểm tại các thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng… thâm chí nạn tắc đường còn xuất hiện ở các tỉnh lẻ nhỏ bé ít dân. Nguyên nhân chính đều do chúng ta vẫn chưa nhìn xa trông rộng, khi xây dựng giao thông chưa tính đến chuyện dân số sẽ gia tăng mạnh mẽ với tốc độ chóng mặt như hiện nay. Cơ sở hạ tầng giao thông ở Việt Nam đang trong tình trạng thiếu và yếu, cản trở quá trình phát triển kinh tế, xã hội của đất nước. Mạng lưới giao thông của chúng ta sau 10 năm thành lập đang ngày một đi vào hoàng chỉnh, chất lượng phục vụ cũng được tăng cường. Tuy nhiên để thoải mãn yêu cầu vận tải không ngừng gia tăng cùng sự phát triển của nhiều loại hình kinh tế, đặc biệt là nền kinh tế thị trường nhiều thành phần đã đặt ra cho chúng ta một nhiệm vụ cấp bách là phải nhanh chóng đầu tư xây dựng một hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông hoàn thiện nhất, hiện đại nhất, mang tầm thế kỉ và có chất lượng cao nhất, có thể phục vụ một khối lượng vận tải lớn thông suốt từ Bắc vào Nam. Để giải quyết vấn nạn về hạ tầng giao thông có nhiều bất cập hiện nay, Chính phủ đã và đang đề ra rất nhiều giải pháp đồng thời thực hiện rất nhiều các kế hoạch chiến lược nhằm cải thiện một cách tốt nhất những mặt hạn chế và tạo ra một mạng lưới giao thông tiên tiến nhất phục vụ cho nền kinh tế trong thời kì quá độ. Tuy nhiên, yêu cầu về hạ tầng giao thông rất lớn, trong khi kinh tế đất nước mới trong giai đoạn đang phát triển, ngân sách nhà nước vẫn còn hạn hẹp. Vấn đề đặt ra là không thể xây dựng cơ sở hạ tầng hiện đại mà chỉ dựa vào nguồn vốn ngân sách hàng nhà nước chưa thể đạt yêu cầu. Bên cạnh đó, GDP đầu người của nước ta đang ngày một tăng lên với dấu hiệu khả quan, các tập đoàn công ti xí nghiệp tư nhân trong và ngoài nước nhờ có các chính sách đãi ngộ của Chính phủ mà ngày một phát triển mạnh mẽ, cung cấp phần lớn giá trị cho nền kinh tế thị trường của đất nước. Dựa vào lợi thế đó rất cần thiết cho chúng ta phát triển nhiều loại hình đầu tư, tạo dựng nguồn vốn thay vì dựa hoàn toàn vào ngân sách nhà nước. Từ đó đầu tư theo hình thức BOT đã ra đời và trở thành một giải pháp quan trọng để phát triển cơ sở hạ tầng giao thông ở Việt Nam. Tuy nhiên việc thu hút kêu gọi vốn trong thời gian qua còn rất nhiều bất cập. Một dự án phải sử dụng vốn đầu tư của rất nhiều các doanh nghiệp lớn nhỏ tham gia đấu thầu mới có thể triển khai. Bên cạnh đó còn có rất nhiều các mặt hạn chế bất cập cần có sự giải quyết nhanh chóng và sáng suốt nhất. Thực tế cho thấy nhiều dự án do Nhà nước đầu tư khi đánh giá hiệu quả bước đầu thì vô cùng hiệu quả nhưng sau khi triển khai thì thua lỗ, làm chậm tiến độ tiến hành thậm chí có nhiều dự án bị bỏ không hoặc không làm nữa vì không có vốn đầu tư vào nữa. Nhiều dự án nhà nước kêu gọi vốn đầu tư bên ngoài nhưng không đạt được mục tiêu đề ra do chưa có cơ chế rõ ràng, không hoạch định rõ chiến lược phát triển tạo dựng lợi ích chung sau này nên trong quá trình phê duyệt, thành lập và đàm phán thường thất bại. Các tồn tại trên làm lãng phí thời gian và cơ hội phát triển quý báu của đất nước, làm chậm quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Từ một vài vấn đề dẫn tới ảnh hưởng tới cả một nền kinh tế đang trên đà phát triển mạnh mẽ. Cho đến thời điểm hiện nay, BOT vẫn luôn là một vấn đề nóng và cần được khai thác nghiên cứu một cách chính xác và kĩ lưỡng. Vì vậy, em đã chọn đề tài nghiên cứu của bài tiểu luận lần này là “Đầu tư theo hình thức BOT trong lĩnh vực xây dựng hạ tầng giao thông ở Việt Nam”.Đây là một vấn đề quan trọng, mang ý nghĩa quyết định cho việc đầu tư cơ sở hạ tầng và xã hội hoá nguồn vốn đầu tư trong nền kinh tế thị trường tại Việt Nam, đảm bảo sự thành công của dự án trong suốt thời gian xây dựng và khai thác. 2. Tình hình nghiên cứu Đối với Việt Nam, đầu tư theo hình thức BOT vẫn là một vấn đề nóng và mới. Do đó có rất nhiều các nhà nghiên cứu, các khoá luận nghiên cứu, các bài báo đã từng đề cập đến một vài khía cạnh của BOT như luật dành cho đầu tư BOT, bản chất thực sự của BOT là gì, các tiêu chí đặt trạm thu BOT hoặc hình thức hình thành hợp đồng BOT… Tuy nhiên chưa có bài báo, một bài nghiên cứu nào tổng hợp thực trạng của vấn đề đầu tư BOT hiện nay ở nước ta như thế nào? Phương hướng giải quyết nó ra sao? Các tác giả chủ yếu chỉ tập trung vào một vấn đề như lợi ích của BOT, những rủi ro của đầu tư BOT, … Chính vì lý do đó nên em đã lựa chọn cách chỉ ra thực trạng và biện pháp giải quyết cho vấn đề đầu tư BOT vào Việt Nam hiện nay, hợp nhất những thứ cần thiết về đầu tư BOT trong bài tiểu luận lần này. 3. Mục đích nghiên cứu Phân tích thực trạng và đánh giá hiệu quả các dự án đầu tư theo hình thức BOT vào Việt Nam hiện nay, tìm ra các ưu nhược điểm của hình thức đầu tư này. Nghiên cứu, tìm hiểu kinh nghiệm đầu tư ở một số quốc gia trên thế giới nhằm nhìn nhận một cách khách quan nhất về đầu tư BOT. Từ đó đề xuất ra giải pháp góp phần thu hút và sử dụng hiệu quả vốn đầu tư từ các công trình giao thông vận tải theo hình thức BOT của đất nước. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu là mô hình đầu tư theo hình BOT vào lĩnh vực xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông ở Việt Nam và một số nước trên thế giới. Phạm vi nghiên cứu là tập trung nghiên cứu hình thức đầu tư BOT tại Việt Nam, ngoài ra mở rộng thêm sang một số các nước khác trong quá trình nghiên cứu về lĩnh vực này. 5. Phương pháp nghiên cứu Bài tiểu luận nghiên cứu có sử dụng một số phương pháp nghiên cứu: phương pháp so sánh, phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp thống kê, phương pháp diễn dịch. 6. Kết cấu bài Bài tiểu luận nghiên cứu gồm 3 chương: CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU VỀ HÌNH THỨC ĐẦU TƯ BOT TRONG LĨNH VỰC GIAO THÔNG CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ ĐẦU TƯ DỰ ÁN BOT TRONG XÂY DỰNG HẠ TẦNG GIAO THÔNG CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP CHO THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ BOT TRONG XÂY DỰNG CƠ SỞ HẠ TẦNG GIAO THÔNG Ở VIỆT NAM
Trang 1HỌC VIỆN CHÍNH SÁCH VÀ PHÁT TRIỂN KHOA TRIẾT HỌC VÀ CHÍNH TRỊ HỌC
- -TIỂU LUẬNNHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN
(Nguyên lý 2)
ĐẦU TƯ THEO HÌNH THỨC BOT TRONG LĨNH VỰC XÂY
DỰNG HẠ TẦNG GIAO THÔNG Ở VIỆT NAM
GVHD: ThS.NGUYỄN THANH NGA
Mã số SV: 5083106203
HÀ NỘI 2018
Trang 31. Tính cấp thiết của đề tài
Theo số liệu do Tổng cục thống kê cung cấp, dân số Việt Nam hiện nay là 95.616.068 người, đứng thứ 14 trong bảng xếp hạng dân số các nước và khu vực (2018) Lượng dân số ngày một gia tăng một cách nhanh chóng, đòi hỏi chính phủ phải có các quyết định đúng đắn và sáng suốt nhất để phục vụ cho số lượng dân số trong nước, đảm bảo kinh tế chính trị duy trì phát triển một cách ổn định Dân số đông cũng là nguyên nhân của các vấn đề như việc làm, nhà ở, cơ sở hạ tầng, kiến trúc thượng tầng… Một trong số đó phải kể đến tình trạng giao thông ở Việt Nam Không khó để bắt gặp một con đường tắc đông nghịt
người vào mỗi giờ cao điểm tại các thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng… thâm chí nạn tắc đường còn xuất hiện ở các tỉnh lẻ nhỏ bé ít dân Nguyên nhân chính đều do chúng ta vẫn chưa nhìn xa trông rộng, khi xây dựng giao thông chưa tính đến chuyện dân số sẽ gia tăng mạnh mẽ với tốc độ chóng mặt như hiện nay
Trang 4Cơ sở hạ tầng giao thông ở Việt Nam đang trong tình trạng thiếu và yếu, cản trở quá trình phát triển kinh tế, xã hội của đất nước Mạng lưới giao thông của chúng ta sau 10 năm thành lập đang ngày một đi vào hoàng chỉnh, chất lượng phục vụ cũng được tăng cường Tuy nhiên để thoải mãn yêu cầu vận tải khôngngừng gia tăng cùng sự phát triển của nhiều loại hình kinh tế, đặc biệt là nền kinh tế thị trường nhiều thành phần đã đặt ra cho chúng ta một nhiệm vụ cấp bách là phải nhanh chóng đầu
tư xây dựng một hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông hoàn thiện nhất, hiện đại nhất, mang tầm thế kỉ và có chất lượng cao nhất,
có thể phục vụ một khối lượng vận tải lớn thông suốt từ Bắc vàoNam
Để giải quyết vấn nạn về hạ tầng giao thông có nhiều bất cập hiện nay, Chính phủ đã và đang đề ra rất nhiều giải pháp đồng thời thực hiện rất nhiều các kế hoạch chiến lược nhằm cải thiện một cách tốt nhất những mặt hạn chế và tạo ra một mạng lưới giao thông tiên tiến nhất phục vụ cho nền kinh tế trong thời
kì quá độ Tuy nhiên, yêu cầu về hạ tầng giao thông rất lớn, trong khi kinh tế đất nước mới trong giai đoạn đang phát triển, ngân sách nhà nước vẫn còn hạn hẹp Vấn đề đặt ra là không thể xây dựng cơ sở hạ tầng hiện đại mà chỉ dựa vào nguồn vốn ngân sách hàng nhà nước chưa thể đạt yêu cầu Bên cạnh đó, GDP đầu người của nước ta đang ngày một tăng lên với dấu hiệukhả quan, các tập đoàn công ti xí nghiệp tư nhân trong và ngoàinước nhờ có các chính sách đãi ngộ của Chính phủ mà ngày mộtphát triển mạnh mẽ, cung cấp phần lớn giá trị cho nền kinh tế thị trường của đất nước Dựa vào lợi thế đó rất cần thiết cho chúng ta phát triển nhiều loại hình đầu tư, tạo dựng nguồn vốn thay vì dựa hoàn toàn vào ngân sách nhà nước Từ đó đầu tư
Trang 5theo hình thức BOT đã ra đời và trở thành một giải pháp quan trọng để phát triển cơ sở hạ tầng giao thông ở Việt Nam.
Tuy nhiên việc thu hút kêu gọi vốn trong thời gian qua còn rất nhiều bất cập Một dự án phải sử dụng vốn đầu tư của rất nhiều các doanh nghiệp lớn nhỏ tham gia đấu thầu mới có thể triển khai Bên cạnh đó còn có rất nhiều các mặt hạn chế bất cập cần có sự giải quyết nhanh chóng và sáng suốt nhất Thực
tế cho thấy nhiều dự án do Nhà nước đầu tư khi đánh giá hiệu quả bước đầu thì vô cùng hiệu quả nhưng sau khi triển khai thì thua lỗ, làm chậm tiến độ tiến hành thậm chí có nhiều dự án bị
bỏ không hoặc không làm nữa vì không có vốn đầu tư vào nữa Nhiều dự án nhà nước kêu gọi vốn đầu tư bên ngoài nhưng
không đạt được mục tiêu đề ra do chưa có cơ chế rõ ràng, khônghoạch định rõ chiến lược phát triển tạo dựng lợi ích chung sau này nên trong quá trình phê duyệt, thành lập và đàm phán
thường thất bại Các tồn tại trên làm lãng phí thời gian và cơ hộiphát triển quý báu của đất nước, làm chậm quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế Từ một vài vấn đề dẫn tới ảnh hưởng tới cả một nền kinh tế đang trên đà phát triển mạnh mẽ
Cho đến thời điểm hiện nay, BOT vẫn luôn là một vấn đề nóng và cần được khai thác nghiên cứu một cách chính xác và kĩlưỡng Vì vậy, em đã chọn đề tài nghiên cứu của bài tiểu luận
lần này là “Đầu tư theo hình thức BOT trong lĩnh vực xây
dựng hạ tầng giao thông ở Việt Nam” Đây là một vấn đề
quan trọng, mang ý nghĩa quyết định cho việc đầu tư cơ sở hạ tầng và xã hội hoá nguồn vốn đầu tư trong nền kinh tế thị
trường tại Việt Nam, đảm bảo sự thành công của dự án trong suốt thời gian xây dựng và khai thác
2. Tình hình nghiên cứu
Đối với Việt Nam, đầu tư theo hình thức BOT vẫn là một vấn
đề nóng và mới Do đó có rất nhiều các nhà nghiên cứu, các khoá
Trang 6luận nghiên cứu, các bài báo đã từng đề cập đến một vài khía cạnh của BOT như luật dành cho đầu tư BOT, bản chất thực sự củaBOT là gì, các tiêu chí đặt trạm thu BOT hoặc hình thức hình thànhhợp đồng BOT… Tuy nhiên chưa có bài báo, một bài nghiên cứu nào tổng hợp thực trạng của vấn đề đầu tư BOT hiện nay ở nước
ta như thế nào? Phương hướng giải quyết nó ra sao? Các tác giả chủ yếu chỉ tập trung vào một vấn đề như lợi ích của BOT, những rủi ro của đầu tư BOT, … Chính vì lý do đó nên em đã lựa chọn cách chỉ ra thực trạng và biện pháp giải quyết cho vấn đề đầu tư BOT vào Việt Nam hiện nay, hợp nhất những thứ cần thiết về đầu
tư BOT trong bài tiểu luận lần này
3. Mục đích nghiên cứu
Phân tích thực trạng và đánh giá hiệu quả các dự án đầu tư theo hình thức BOT vào Việt Nam hiện nay, tìm ra các ưu nhược điểm của hình thức đầu tư này Nghiên cứu, tìm hiểu kinh nghiệm đầu tư ở một số quốc gia trên thế giới nhằm nhìn nhận một cách khách quan nhất về đầu tư BOT Từ đó đề xuất ra giải pháp góp phần thu hút và sử dụng hiệu quả vốn đầu tư từ các công trình giao thông vận tải theo hình thức BOT của đất nước
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là mô hình đầu tư theo hình BOT vào lĩnh vực xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông ở Việt Nam và một số nước trên thế giới
Phạm vi nghiên cứu là tập trung nghiên cứu hình thức đầu tưBOT tại Việt Nam, ngoài ra mở rộng thêm sang một số các nước khác trong quá trình nghiên cứu về lĩnh vực này
5. Phương pháp nghiên cứu
Bài tiểu luận nghiên cứu có sử dụng một số phương pháp nghiên cứu: phương pháp so sánh, phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp thống kê, phương pháp diễn dịch
6. Kết cấu bài
Bài tiểu luận nghiên cứu gồm 3 chương:
Trang 7CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU VỀ HÌNH THỨC ĐẦU TƯ BOT TRONG LĨNH VỰC GIAO THÔNG
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ ĐẦU TƯ DỰ ÁN BOT
TRONG XÂY DỰNG HẠ TẦNG GIAO THÔNG
CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP CHO THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ BOT TRONG XÂY DỰNG CƠ SỞ HẠ TẦNG GIAO THÔNG Ở VIỆT NAM
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
GTVT: Giao thông vận tải
BOT: Hợp đồng Xây dựng – Kinh doanh - Chuyển giao
USD: đồng đô la Mỹ
FDI: Vốn đầu tư nước ngoài
GDP: Tổng sản phẩm quốc nội
ODA: Vốn hỗ trọ phát triển chính thức
Trang 9sự hoặc mở đường - tạo điều kiện thuận lợi cho đầu tư của tư bản
tư nhân Tư bản tư nhân xuất khẩu tư bản nhằm mục tiêu thu lợinhuận tối đa nên thường hướng vào những ngành kinh tế có khảnăng quay vòng vốn nhanh và thu được lợi nhuận độc quyền cao.Theo Luật đầu tư ban hành ngày 26/11/2014, trong điều 3mục 5 ghi rõ: “Đầu tư kinh doanh là việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư
để thực hiện hoạt động kinh doanh thông qua việc thành lập tổchức kinh tế; đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổchức kinh tế; đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự
án đầu tư.”
“ Dự án đầu tư” là tập hợp đề xuất bỏ vốn trung hạn hoặc dàihạn để tiến hàng các hoạt động đầu tư kinh doanh trên địa bàn cụthể, trong khoảng thời gian xác định (Mục 2 điều 3 luật Đầu tư)
“Dự án đầu tư mở rộng” là dự án đầu tư phát triển dự ánđang hoạt động đầu tư kinh doanh bằng cách mở rộng quy mô,
Trang 10nâng cao công suất, đổi mới công nghệ, giảm ô nhiễm hoặc cảithiện môi trường ( Mục 3 điều 3 luật Đầu tư)
“Nhà đầu tư” là tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động đàu tưkinh doanh, gồm nhà đầu tư trong nước, nhà đầu tư nước ngoài và
tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ( Mục 13 điều 3 luậtĐầu tư)
“Nhà đầu tư nước ngoài” là cá nhân có quốc tịch nước ngoài,
tổ chức thành lập theo pháp luật nước ngoài thực hiện hoạt độngđầu tư kinh doanh tại Việt Nam (Mục 14 điều 3 luật Đầu tư)
“ Nhà đầu tư trong nước” là cá nhân có quốc tịch Việt Nam, tổchức kinh tế không có nhà đầu tư nước ngoài là thành viên hoặc
cổ đông ( Mục 15 điều 3 Luật Đầu tư)
Thuật ngữ BOT là viết tắt của cụm từ Build – Operate –Transfer hay còn là Hợp đồng xây dựng – kinh doanh - chuyểngiao trong kinh tế Theo khoản 3, điều 3 Nghị định về Đầu tư theohình thức Đối tác Công tư Hợp đồng thì Xây dựng – Kinh doanh -Chuyển giao là hợp đồng được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩmquyền và nhà đầu tư để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; saukhi hoàn thành công trình, nhà đầu tư được quyền kinh doanhcông trình trong một thời gian nhất định; hết thời hạn, nhà đầu tưchuyển giao công trình đó cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền
“Dự án BOT” là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc bỏvốn để đầu tư xây dựng, vận hành công trình kết cấu hạ tầng mớihoặc cải tạo, mở rộng, hiện đại hoá, vận hành, quản lý các côngtrình hiện có theo hình thức Hợp đồng BOT
“Hợp đồng Xâu dựng – Kinh doanh - Chuyển giao” (gọi tắt làHợp đồng BOT) là hợp đồng được ký giữa cơ quan nhà nước vàNhà đầu tư để xây dựng, kinh doanh công trình kết cấu hạ tầngtrong một thời gian nhất định; hết thời hạn, nhà đầu tư chuyểngiao không bồi hoàn công trình đó cho Nhà nước Việt Nam
“Doanh nghiệp BOT” là doanh nghiệp do Nhà đầu tư thành lậptheo quy định của pháp luật Việt Nam để tổ chức quản lý kinh
Trang 11doanh Dự án Doanh nghiệp BOT có thể trực tiếp quản lý, kinhdoanh công trình Dự án hoặc thuê tổ chức quản lý, với điều kiệnDoanh nghiệp chịu toàn bộ trách nhiệm tổ chức quản lý
“Chủ đầu tư dự án BOT” là chủ sở hữu vốn hoặc là người đạidiện theo quy định của pháp luật hoặc do các thành viên góp vốn(các nhà đầu tư) thoả thuận cử ra hoặc là người có tỷ lệ góp vốncao nhất
1.1.2 Tính cấp thiết khi đầu tư BOT vào hạ tầng giao
thông vào Việt Nam
Theo nghiên cứu của Viện chiến lược - Bộ Kế hoạch Đầu tư,kết hợp với thống kê tăng trưởng kinh tế trong những năm qua đãđưa ra Dự báo tăng trưởng kinh tế cả nước theo 3 phương án:
Bảng 1.1: Dự báo tăng trưởng kinh tế đến 2020
Tính đến thời điểm hiện tại, nước ta đã và đang gia nhập rấtnhiều các hiệp hội thương mại kinh tế lớn trên thế giới, đem lạicho nền kinh tế nước nhà rất nhiều cơ hội lớn rộng mở Việc gia
Trang 12nhập vào tổ chức thương mại thế giới (WTO), cả nước đang chuẩn
bị mọi điều kiện để đón làn sóng đầu tư mới Những năm tới đâynhu cầu đầu tư vào các khu công nghiệp trong khu vực sẽ rất lớn
do có rất nhiều lĩnh vực kinh doanh, khai thác các nhà đầu tư.Muốn như vậy, nội hàm trong nước phải thực sự hoàn chỉnh về cơ
sở hạ tầng thì mới có thể tạo niềm tin cho các nhà đầu tư rót vốncho các dự án tiền tỉ Trong thời gian qua, việc đầu tư vào hệthống cơ sở hạ tầng bước đầu đã có tác động tích cực đến sự pháttriển kinh tế xã hội Hàng loạt các tuyến quốc lộ đã được cải tạpnâng cấp; hệ thống đường cao tốc đang ngày được hoàn thiện và
đi vào hoạt động với các công trình lớn như cao tốc Pháp Vân Cầu Giẽ, cao tốc Hà Nội - Hải Phòng, tạo ra rất nhiều lợi thế chovấn đề đi lại giao thương giữa các trung tâm kinh tế lớn tại cáckhu vực… Mặc dù vậy, cơ sở hạ tầng giao thông vận tải vẫn cònchưa tương xứng với vai trò là trọng điểm trong phát triển kinh tế
-xã hội, đã và đang ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng của đấtnước
So với các nước tiên tiến trong khu vực, hệ thống giao thông ởViệt Nam còn ở mức dưới trung bình Kết cấu hạ tầng nhìn vàothực tế còn thấp kém, quy mô nhỏ bé, hầu hết chưa đạt yêu cầu
kĩ thuật, chỉ có thể phục vụ cho nhu cầu hiện tại và không thể đápứng cho tương lai Cơ sở hạn tầng của Việt nam hiện tại chưa tạođược sự kết nối liên hoàn, chưa đáp ứng được yêu cầu của sự tăngtrưởng kinh tế và được ví như “nút cổ chai” của nền kinh tế trongtương lại
Trên cơ sở tận dụng tối đa năng lực cơ sở hạ tầng giao thônghiện có, coi trọng việc duy tu, củng cố, nâng cấp mạng lưới giaothông hiện tại Đa dạng hoá các nguồn vốn, các hình thức đầu tư,ứng dụng các tiến bộ kĩ thuật, vật liệu công nghệ mới để pháttriển giao thông vận tải đường bộ một cách thống nhất, cân đối,
Trang 13đồng bộ Phát triển giao thông nông thôn, vùng núi cao, vùng sâuvùng xa, vùng biên giới Phát triển giao thông vận tải đường bộtrong hệ thống giao thông đối ngoại, phục vụ việc hội nhập khuvực và quốc tế.
Tuy nhiên, các dự án trong những năm vừa qua đều mới chỉtập trung vào khôi phục và nâng cấp là chính, có ít công trình xâydựng mới, chủ yếu chỉ tập trung vào các đường cao tốc đường bộđường sắt trên cao Kết cấu hạ tầng giao thông vẫn lạc hậu vàchưa đồng bộ Tình trạng tắc đường tại các thành phố lớn vẫnthường xuyên xảy ra và chưa có cách giải quyết một cách triệt để,các con đường còn nhỏ, đường hai làn không phục vụ được lượng
xe cộ đi lại ngày một gia tăng gây trở ngại rất lớn
Sở dĩ nền giao thông nước ta còn yếu kém là do hơn 30 chiếntranh đất nước bị tàn phá nặng nề, gần như phải đứng dậy từ con
số 0 Do vậy, tư duy lúc bấy giờ là làm nhanh làm tiết kiệm phục
vụ trước mắt để vực dậy nền kinh tế, chưa lường trước được cácvấn đề chắc chắn xảy ra trong tương lại như gia tăng dân số, giaothương ngoại giao… Bên cạnh đó điều kiện khí hậu và thiên nhiênkhắc nghiệt luôn tác động gây ra những hậu quả tiêu cực, ảnhhưởng đến nhịp độ phát triển GTVT
Có thể nói hạ tầng giao thông có ý nghĩa đặc biệt quan trọng
về mặt chiến lược, chính trị, kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng…của một quốc gia Do đó, việc tăng cường đầu tư phát triển cơ sở
hạ tầng giao thông Việt nam tỏng giai đoạn hiện nay là hết sứccần thiết và cấp bách, có như vậy mới tạo được những môi trườnggiao thông hữu hiệu, thu hút được vốn đầu tư, thúc đẩy tăngtrưởng kinh tế, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho ngườidân và toàn xã hội
Trang 141.1.3 Chu trình đầu tư dự án xây dựng hạ tầng giao thông theo hình thức BOT
Chu trình dự án là các thời kì, các giai đoạn mà một dự án cầntrải qua, bắt đầu từ khi có ý định đầu tư đến khi kết thúc dự án vàđược chia là 3 giai đoạn thực hiện gồm: chuẩn bị đầu tư, thực hiện
dự án và kết thúc dự án Đối với dự án BOT, các bước cụ thể trongtừng giai đoạn quy định như sau:
Giai đoạn chuẩn bị đầu tư:
(1) Nghiên cứu về sự cần thiết phải đầu tư
(2) Tiến hành điều tra, khảo sát và chọn địa điểm xây dựng
(3) Tiến hành tiếp xúc, thăm dò thị trường trong nước hoặcngoài nước để tìm nguồn cung ứng vật tư, thiết bị hoặc tiêuthụ sản phẩm Xem xét khả năng huy động tư và lựa chọnhình thức đầu tư
(4) Công bố danh mục dự án đầu tư theo hình thức BOT
(5) Xúc tiến kêu gọi đầu tư BOT
(6) Lập, thông qua Đề xuất Dự án (báo cáo Nghiên cứu Tiềnkhả thi)
(7) Lựa chọn Nhà đầu tư (đấu thầu hoặc chỉ định thầu)
(8) Lập thẩm định, phên duyệt Dự án đầu tư (báo cáo Nghiêncứu Khả thi)
(9) Đàm phán thương thảo, ký kết hợp đồng Dự án (Hợp đồngBOT)
Giai đoạn thực hiện đầu tư:
(10) Xin giao đất theo quy định của Nhà nước
(11) Tổ chức đền bù, giải phóng mặt bằng, chuẩn bị mặt bằngxây dựng
(12) Tổ chức tuyển chọn tư vấn khảo sát thiết kế, giám sát kĩthuật
(13) Thẩm định thiết kế, tổng dự toán công trình
(14) Tổ chức lựa chọn nhà thầu cung ứng thiết bị, thi công
(15) Xin giấy phép xây dựng
(16) Ký kết hợp đồng với các nhà thầy để thực hiện dự án
(17) Thi công xây lắp công trình
(18) Kết thúc xây dựng
(19) Nghiệm thu đưa dự án vào khai thác sử dụng
Trang 15Thời kì kết thúc dự án gồm các giai đoạn:
(20) Bảo hành công trình
(21) Vận hành, quản lý khai thác dự án
(22) Kết thúc dự án, bản giao không hoàn lại cho Nhà nước
1.1.4 Tính vượt trội của mô hình dự án đầu tư BOT
1.2.1 Lợi ích
Giảm gáng nặng cho ngân sách, Nhà nước không cần bỏ tiền ra mà vẫn có được một công trình giao thông phục
vụ phát triển kinh tế xã hội của đất nước
Xã hội hoá đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông, thông qua huy động vốn của Nhà đầu tư kích thích lưu thông nguồn vốn nhàn rỗi rất “tiềm năng” từ xã hội
Hiệu quả sử dụng vốn cao, không bị tình trạng tham nhũng rút ruột nguồn vốn do vốn đầu tư là của chính nhàđầu tư nên họ sẽ ý thức rất rõ phải làm sao để thu hồi được đồng vốn của chính mình nhanh nhất, muốn vậy,
họ phải đầu tư công trình chất lượng cao, đúng tiến độ
để có thể thu được phí, tiết kiệm được những chi phí không cần thiết…
Những lợi ích xung quanh dự án sẽ được các nhà đầu tư khai thác triệt để, nguồn thu tăng lên, thời gian hoàn vốn
và thời gian bàn giao sẽ thu nhỏ lại
1.2.2 Nhược điểm
Nhà nước sẽ không hướng được Nhà đầu tư vào những mục tiêu xã hội, phát triển vùng sâu, vùng xa… do mục tiêu của các nhà đầu tư BOT là kinh doanh kiêm lợi
nhuận Do vậy dự án BOT chỉ có thể huy động được vốn đối với những dự án hấp dẫn đầu tư, các dự án kém hấp dẫn (các dự án phát triển kinh tế, các dự án vùng sâu, vùng xa…) rất ít khả năng huy động được vốn