Câu hỏi dạng Đúng - Sai Câu hỏi dạng Đúng – Sai là loại câu hỏi đòi hỏi học sinh phải lựa chọn 1 trong 2 phương án trả lời là đúng hoặc không đúng; có hoặc không có, đồng ý hay không đồn
Trang 1KĨ THUẬT VIẾT CÂU HỎI
TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN
TRONG MÔN TOÁN
Đà Nẵng, 12/2016
Trang 2Các dạng câu hỏi TNKQ
1 Câu hỏi đúng - sai
2 Câu hỏi nhiều lựa chọn
3 Ghép đôi
4 Điền khuyết
5 Trả lời ngắn
Trang 31 Câu hỏi dạng Đúng - Sai
Câu hỏi dạng Đúng – Sai là loại câu hỏi đòi hỏi
học sinh phải lựa chọn 1 trong 2 phương án trả
lời là đúng hoặc không đúng; có hoặc không có, đồng ý hay không đồng ý
Trang 4Ví dụ: Điền dấu “x” vào ô thích hợp
Trang 52 Câu hỏi có nhiều phương án lựa chọn
• Câu hỏi có nhiều phương án lựa chọn là câu hỏi gồm
Trang 6Ví dụ về câu hỏi có nhiều lựa chọn
Trang 7Kĩ thuật viết câu hỏi nhiều lựa chọn
• Mỗi câu hỏi chỉ nên có một lựa chọn đúng, các lựa chọn còn lại là không đúng hoặc gần đúng
Trang 8Tránh dùng các cụm từ “tất cả những câu trên đều đúng” hoặc
“không có câu nào ở trên đúng” “một kết quả khác”…là
phương án trả lời.
Trang 9- Tránh các câu hỏi có cấu trúc ngữ pháp phức tạp, dài, đa
nghĩa
Trang 10Yêu cầu đối với câu hỏi dạng đúng-sai
• Ngắn gọn, tránh mơ hồ, câu hỏi phải được xếp một
cách chính xác là đúng, hay sai.
• Tránh việc trích dẫn nguyên mẫu trong sách giáo
khoa.
• Tránh viết những câu mà trả lời sai chỉ phụ thuộc vào
một từ hay một câu không quan trọng.
• Nên dùng phối hợp có câu đòi hỏi trả lời đúng và câu
đòi hỏi trả lời sai.
• Tránh sử dụng các cụm từ hạn định như “luôn luôn”,
“chưa bao giờ”, “đôi khi” vì chúng có thể tạo ra những gợi ý cho câu trả lời.
Trang 11- Mỗi câu hỏi chỉ nên tập trung vào một vấn đề cụ thể và chỉ bao quát một phạm vi rất hẹp nằm trong một chỉ số cụ thể.
Trang 12- Cần đánh giá độ khó của câu hỏi để loại bỏ những câu hỏi quá khó hoặc quá dễ
Trang 13Các nguyên tắc viết câu dẫn
1 Sắp xếp câu dẫn hợp lý để tránh các ngôn ngữ, cách diễn đạt mới lạ, không hợp lý nhưng cũng cố gắng để đưa được nhiều hơn ý của chủ
đề vào câu dẫn và đưa ra những phương án lựa chọn ngắn gọn hơn
2 Cho dù câu dẫn được viết dưới dạng một câu hỏi hay ý kiến hoặc câu nói được hoàn thành với một chọn lựa, nên đặt phần trống ở cuối câu dẫn hơn là ở giữa câu.
3 Đưa “ý chính” của câu hỏi vào câu dẫn, không nên đưa vào các phương án lựa chọn
Trang 14
Các nguyên tắc viết câu dẫn cho câu hỏi có
nhiều phương án lựa chọn
- Đưa “ý chính” của câu hỏi vào câu dẫn, không nên đưa vào các phương án lựa chọn
Trang 15Các nguyên tắc viết câu dẫn
- Tránh các từ ngữ mang tính chất phủ định như “ngoại trừ”,
“chỉ có” , “không” Nếu sử dụng những từ ngữ này, phải làm
nổi bật chúng bằng cách in nghiêng, in đậm hoặc gạch chân.
Trang 16Cách viết phương án lựa chọn
- Không có con số cố định cụ thể về các phương án lựa chọn mà nên sử dụng một số lượng hợp lý
Trang 17Cách viết phương án lựa chọn
- Các phương án lựa chọn phải có độ dài tương xứng Một phương án dài hơn hoặc ngắn hơn có thể thu hút sự chú ý của học sinh vì chúng nổi bật và có thể dễ dàng nhận thấy
Trang 18Cách viết phương án lựa chọn
- Các phương án lựa chọn phải phù hợp với câu dẫn về mặt ngữ pháp
Trang 19Cách viết phương án lựa chọn
- Tránh đưa ra phương án “tất cả các phương án trên đều
đúng”
Trang 20Cách viết phương án lựa chọn
- Nên đưa các từ lặp lại vào câu dẫn hơn là vào các phương
án lựa chọn.
Trang 21Cách viết các phương án đúng/đáp án
- Đảm bảo rằng các đáp án đúng được viết dựa vào chủ đề/đoạn văn hoặc sự phù hợp, nhất trí về nội dung kiểm tra
Trang 22- Tránh các câu hỏi “kết nối” nghĩa là đáp án của câu này
được tìm thấy hoặc phụ thuộc vào câu khác Vấn đề này
thường được phát hiện khi đọc và chỉnh sửa bản in vào giai đoạn tập hợp các câu hỏi để tạo thành một bài kiểm tra hoàn chỉnh Kiểu câu hỏi này cũng dễ nhận ra khi bạn viết các câu hỏi cho một vài lớp học.
Trang 25• Chức năng chính thể hiện sự hiểu biết của hs và
sự lựa chọn chính xác hoặc tốt nhất cho câu hỏi hay vấn đề mà câu hỏi yêu cầu
Trang 26Khi lựa chọn phương án nhiễu cần phải giải thích tại sao đó là các phương án nhiễu
Trang 28Chú ý 1: Tất cả các phương án nhiễu phải hợp lý Sử dụng kiến
thức về các lỗi thông thường mà học sinh hay mắc phải để viết phương án nhiễu
+ Sai lầm trong tính toán
Trang 29+ Nhận thức sai một số khái niệm khoa học
Trang 30Các tiêu chí đánh giá câu hỏi có nhiều lựa chọn
1 Câu hỏi có đánh giá những nội dung quan trọng của mục tiêu chương trình giảng dạy hay không?
2 Câu hỏi có phù hợp với các tiêu chí ra đề kiểm tra về mặt trình bày, trọng tâm cần nhấn mạnh và số điểm hay không?
3 Câu dẫn có đặt ra câu hỏi trực tiếp hay một vấn đề
cụ thể hay không?
4 Cán bộ ra đề sử dụng ngôn ngữ và hình thức trình bày riêng để biên soạn câu hỏi hay chỉ đơn thuần trích dẫn những lời trong sách giáo khoa?
Trang 31Các tiêu chí xem xét chất lượng của câu hỏi có nhiều lựa chọn
5 Từ ngữ và cấu trúc của câu hỏi có rõ ràng và dễ hiểu đối với mọi học sinh hay không?
6 Mỗi phương án nhiễu có hợp lý đối với những học sinh không có kiến thức hay không?
7 Mỗi phương án sai có được xây dựng dựa trên các lỗi thông thường hay nhận thức sai lệch của học sinh hay không?
Trang 32Các tiêu chí xem xét chất lượng của câu hỏi có nhiều lựa
chọn
8 Đáp án đúng của câu hỏi này có độc lập với đáp án đúng của các câu hỏi khác trong bài kiểm tra hay không?
9 Tất cả các phương án đưa ra có đồng nhất và phù hợp với nội dung của câu dẫn hay không?
10 Có hạn chế đưa ra phương án “Tất cả các đáp án trên đều đúng” hoặc “Không có phương án nào đúng” hay không?
11 Mỗi câu hỏi chỉ có một đáp án đúng, chính xác nhất hay không?
Trang 334 Câu hỏi dạng ghép đôi
Câu hỏi dạng ghép đôi là câu hỏi thường gồm 2 cột, một cột xếp theo chữ cái, một cột xếp theo chữ số, yêu cầu HS chọn chữ cái và số để ghép lại.
Trang 34VD về câu hỏi dạng ghép đôi
Ghép mỗi ý ở cột trái với một ý ở cột phải để được câu khẳng định đúng:
A Điểm cách đều ba đỉnh
của một tam giác là:
B Điểm cách đều ba
cạnh của một tam giác là:
C Trong một tam giác
điểm cách mỗi đỉnh 2/3
độ dài mỗi đường là:
1) giao điểm ba đường cao của tam giác đó
2) giao điểm ba đường trung tuyến của tam
giác đó
3) giao điểm ba đường trung trực tam giác đó.4) giao điểm ba đường phân giác tam giác đó
Trang 35Kĩ thuật viết câu ghép đôi
• Cần có hướng dẫn rõ ràng về cách thức trả lời để học
sinh biết mỗi câu trả lời có thể được dùng một lần hay nhiều lần.
• Khi viết cần sắp xếp các danh mục rõ ràng, đảm bảo
2 danh mục phải đồng nhất, nhưng nên có số lượng ở
2 cột không bằng nhau và nên tạo sự ghép đôi đúng một cách ngẫu nhiên.
• Danh mục ở 2 cột không nên quá nhiều, nhiều nhất là
8 mục, các câu nên diễn đạt ngắn gọn và sắp xếp lôgic
Trang 364 Câu hỏi dạng điền khuyết
Câu hỏi dạng điền khuyết là câu hỏi phải điền giá trị,
kí hiệu hoặc cụm từ để được câu khẳng định hoặc
mệnh đề đúng.
Ví dụ: Điền vào chỗ để được khẳng định đúng.
- Hình thang có …… là hình thang cân.
- Hình ……có 1 góc vuông là hình chữ nhật.
- Hình …… có 2 đường chéo bằng nhau là hình vuông.
Trang 37Kĩ thuật viết câu hỏi dạng điền khuyết
• Khi viết không nên để quá nhiều khoảng trống trong
1 câu, vì sẽ làm HS khó hiểu.
• Hạn chế việc dùng nguyên mẫu những câu lấy từ
trong sách giáo khoa, vì những câu này thường có ý nghĩa khi nằm trong ngữ cảnh cụ thể.
Trang 385 Câu hỏi có câu trả lời ngắn
Là câu trắc nghiệm đòi hỏi chỉ trả lời bằng một câu rất ngắn
Ví dụ: Số chia hết cho 2 là số có đặc điểm gì?
-Câu trả lời: Là số chẵn.
Trang 39Ưu điểm của trắc nghiệm khách quan
• Chấm điểm nhanh, chính xác, khách quan;
• Cung cấp phản hồi nhanh về kết quả học tập của học
Trang 40Nhược điểm của trắc nghiệm khách quan
• Khó đánh giá những mức độ nhận thức cao như:
• Dễ xảy ra lựa chọn cảm tính, đoán mò;
• Soạn đề kiểm tra mất nhiều thời gian và chi phí lớn;
• Nếu nhiều học sinh làm chung một đề thì khó hạn chế
được học sinh quay cóp, trao đổi bài.
Trang 41Ưu điểm của câu hỏi tự luận
• Biên soạn câu hỏi dễ, tốn ít thời gian và có thể dựa
nhiều vào kinh nghiệm.
• Có thể cung cấp thông tin cho việc đánh giá kĩ năng
diễn đạt, khả năng suy luận lôgic và tạo điều kiện để học viên trả lời chính kiến của mình khi giải thích.
• Có thể đánh giá được khả năng sáng tạo của học viên
ở mức độ cao.
Trang 42Nhược điểm của câu hỏi tự luận
• Chỉ có thể kiểm tra được một số lĩnh vực cơ bản trong
một khoảng thời gian nhất định nên dễ tạo cho họ có thói quen học tủ
• Kết quả chấm điểm dễ bị ảnh hưởng bởi quan niệm
và thái độ, sức khoẻ người chấm.
• Không kiểm tra được phạm vi kiến thức rộng.