1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về bảo vệ cổ đông thiểu số của công ty cổ phần ở việt nam nghiên cứu so sánh với nhật bản và hoa kỳ

181 280 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 181
Dung lượng 2,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Về đối tượng nghiên cứu: Luận án tập trung nghiên cứu các quy định và đặc điểm pháp luật về bảo vệ các quyền của cổ đông thiểu số của CTCP; cấu trúc quản trị nội bộ; vai trò của CT

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHAN HOÀNG NGỌC

PH¸P LUËT VÒ B¶O VÖ Cæ §¤NG THIÓU Sè CñA C¤NG TY Cæ PHÇN ë VIÖT NAM:

NGHI£N CøU SO S¸NH VíI NHËT B¶N Vµ HOA Kú

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2018

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHAN HOÀNG NGỌC

PH¸P LUËT VÒ B¶O VÖ Cæ §¤NG THIÓU Sè CñA C¤NG TY Cæ PHÇN ë VIÖT NAM:

NGHI£N CøU SO S¸NH VíI NHËT B¶N Vµ HOA Kú

Chuyên ngành: Luật Kinh tế

Mã số: 9 38 01 07

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS HOÀNG THẾ LIÊN

HÀ NỘI - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các kết quả trình bày trong luận án là khách quan, trung thực, tài liệu tham khảo được trích dẫn rõ ràng Những kết luận khoa học của Luận án không trùng lặp với bất kỳ công trình nghiên cứu đã được công bố của bất kỳ tác giả nào khác

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Phan Hoàng Ngọc

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các từ viết tắt

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 4

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến Đề tài luận án 4

1.1.1 Tình hình nghiên cứu quốc tế 4

1.1.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 10

1.2 Ðánh giá tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Luận án 18

1.2.1 Những kết quả nghiên cứu về bảo vệ cổ đông thiểu số 18

1.2.2 Một số kết quả nghiên cứu so sánh pháp luật về bảo vệ cổ đông thiểu số 22

1.3 Các vấn đề chưa được nghiên cứu hoặc chưa làm rõ sẽ được Luận án tiếp tục xem xét 24

1.4 Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu 27

1.4.1 Cơ sở lý thuyết: 27

1.4.2 Phương pháp nghiên cứu 27

Kết luận Chương 1 29

CHƯƠNG 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ CỔ ĐÔNG THIỂU SỐ CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN Ở VIỆT NAM 33

2.1 Khái quát về bảo vệ cổ đông thiểu số 33

2.1.1 Quan niệm về cổ đông thiểu số 33

2.1.2 Sự cần thiết bảo vệ các quyền của cổ đông thiểu số 38

2.2 Điều chỉnh pháp luật về bảo vệ quyền của cổ đông thiểu số 41

2.2.1 Phạm vi điểu chỉnh pháp luật về quyền của cổ đông thiểu số 41

2.2.2 Điều chỉnh pháp luật về quyền của cổ đông thiểu số trong quan hệ với cổ đông lớn và người quản lý trong công ty 43

2.2.3 Phân loại các quyền của cổ đông thiểu số 44

2.3 Trách nhiệm bảo vệ các quyền cổ đông của người quản lý trong cơ chế quản trị công ty 48

2.3.1 Vị trí và vai trò của HĐQT 49

2.3.2 Vai trò, nhiệm vụ của thành viên HĐQT điều hành và thành viên không điều hành 50

Trang 5

2.3.3 Trách nhiệm của người quản lý công ty trong cơ chế quản trị nội bộ

nhằm bảo vệ quyền cổ đông 52

2.4 Các phương thức bảo vệ quyền của cổ đông thiểu số 54

2.4.1 Bảo vệ cổ đông thiểu số theo chức năng của các cơ quan quản lý, giám sát và xử lý vi phạm 56

2.4.2 Bảo vệ cổ đông thiểu số theo cơ chế chủ động - tự bảo vệ các quyền lợi của cổ đông 57

2.4.3 Bảo vệ cổ đông thiểu số bằng cơ chế quản trị và trách nhiệm của những người quản lý công ty 58

Kết luận Chương 2 62

CHƯƠNG 3: PHÁP LUẬT BẢO VỆ CỔ ĐÔNG THIỂU SỐ CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN Ở VIỆT NAM SO SÁNH VỚI NHẬT BẢN VÀ HOA KỲ 68

3.1 Vai trò pháp luật và điều lệ công ty trong việc bảo vệ cổ đông thiểu số 68 3.1.1 Vai trò của pháp luật 68

3.1.2 Vai trò của điều lệ, quy tắc nội bộ công ty 71

3.1.3 Các biện pháp bảo vệ cổ đông thiểu số 73

3.2 Những đặc điểm của pháp luật bảo vệ cổ đông thiểu số tại Nhật Bản 74 3.2.1 Khái quát về khung pháp lý và các cơ quan thực thi pháp luật 75

3.2.2 Về quản trị công ty và những cải cách tại Nhật Bản 76

3.2.3 Mô hình phổ biến và cấu trúc quản trị công ty tại Nhật Bản 77

3.3 Những đặc điểm của pháp luật bảo vệ cổ đông thiểu số tại Hoa Kỳ 78

3.3.1 Khái quát khung pháp lý về công ty cổ phần 78

3.3.2 Về cấu trúc quản trị nội bộ của công ty 80

3.3.3 Về quyền cổ đông và trách nhiệm bảo đảm của người quản lý công ty 81

3.4 Bảo vệ cổ đông thiểu số ở Việt Nam, Nhật Bản và Hoa Kỳ 84

3.4.1 Pháp luật về quyền của cổ đông thiểu số ở Việt Nam 86

3.4.2 Các quyền cổ đông thiểu số Việt Nam so sánh với Nhật Bản và Hoa Kỳ 92

3.4.3 Trách nhiệm của người quản lý công ty Việt Nam so sánh với Nhật Bản và Hoa Kỳ 101

3.4.4 Những điểm tương đồng giữa Việt Nam với Nhật Bản và Hoa Kỳ 107

3.4.5 Những điểm khác biệt của pháp luật Hoa Kỳ và Nhật Bản 114

Kết luận Chương 3 135

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 140

Trang 6

NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ 150 TÀI LIỆU THAM KHẢO 151 PHỤ LỤC 160

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Công ty cổ phần (CTCP) có vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội

ở nước ta hiện nay thông qua việc huy động vốn của toàn xã hội và từ các giao dịch

của thị trường chứng khoán (TTCK)

CTCP được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc đối vốn, cổ đông sở hữu

ít cổ phần với lượng vốn nhỏ thường có vị thế yếu hơn so với các cổ đông lớn Các quyền của cổ đông sở hữu ít cổ phiếu mặc dù được ghi nhận bình đẳng tuy nhiên rất dễ bị chèn ép hoặc bị vi phạm bởi những cổ đông lớn sở hữu đa số cổ phần

trong công ty

Cùng với LDN, Luật Chứng khoán cũng có nhiều quy định góp phần hoàn thiện cơ chế pháp luật đồng bộ về bảo vệ quyền của cổ đông thiểu số trong công ty

cổ phần Mặt khác so với pháp luật của nhiều nước, đặc biệt là những nước kinh tế phát triển thì các quy định về bảo vệ cổ đông thiểu số của CTCP ở nước ta vẫn còn những điểm chưa tương thích với pháp luật và thông lệ LDN 2014 và các văn bản có liên quan khác đã ghi nhận các quyền của cổ đông tuy nhiên tính khả thi vẫn chưa cao Cơ chế bảo vệ cổ đông thiểu số cũng chưa hoạt động có hiệu quả nhằm xử lý các

vi phạm xâm hại các quyền lợi hợp pháp của nhà đầu tư - cổ đông thiểu số

Thực tiễn nêu trên cho thấy, cần tiếp tục hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi của cổ đông thiểu số ở nước ta, đồng thời tham khảo, so sánh thực tiễn pháp luật nước ngoài, thực tiễn pháp luật của những nước phát triển như Nhật Bản, Hoa Kỳ Để có được kinh nghiệm và bài học nhằm tham khảo để hoàn thiện hệ thống pháp luật nước

ta, cần tiếp tục nghiên cứu, tiếp cận mới về mang tính hệ thống về bảo vệ cổ đông

thiểu số trong CTCP

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

Mục đích nghiên cứu

Luận án xem xét, đánh giá tổng quát những kết quả nghiên cứu về lý luận và pháp luật thực định về bảo vệ cổ đông thiểu số của Việt Nam đồng thời có sự đối chiếu, tham khảo một số quy định pháp luật Nhật Bản và Hoa Kỳ về bảo vệ cổ đông thiểu số Thông qua đó đề xuất một số khuyến nghị để tham khảo phục vụ hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Trang 9

Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận án sẽ triển khai các nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản như sau:

Thứ nhất, luận án nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận chung về bảo vệ cổ

đông thiểu số của CTCP, đặc điểm cổ đông thiểu số quan hệ pháp luật bảo vệ cổ đông thiểu số ở Việt Nam

Thứ hai, luận án sẽ phân tích, đánh giá pháp luật bảo vệ cổ đông thiểu số của

Việt Nam, đối chiếu so sánh với một số thực tiễn pháp luật của Nhật Bản, Hoa Kỳ về những điểm tương đồng và khác biệt

Thứ ba, luận án đề xuất một số khuyến nghị để tham khảo phục vụ hoàn thiện

pháp luật ở Việt Nam nhằm bảo vệ cổ đông thiểu số trên cơ sở những nguyên tắc và

thông lệ quốc tế về quản trị công ty

3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

Về phạm vi: Phạm vi nghiên cứu của luận án trong giới hạn LDN 2014 và các

văn bản pháp luật có liên quan đồng thời có sự đối chiếu so sánh với một số quy định pháp luật của Nhật Bản và Hoa Kỳ về công ty cổ phần và thực tiễn pháp luật của các quốc gia này

Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu một số phương thức bảo vệ cổ đông thiểu số công ty cổ phần và xem xét pháp luật của Việt Nam và có so sánh, tham khảo một số thực tiễn pháp luật tại Nhật Bản, Hoa Kỳ; khuyến nghị tham khảo, nghiên cứu những phương hướng hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của cổ đông thiểu số ở Việt Nam

Về đối tượng nghiên cứu: Luận án tập trung nghiên cứu các quy định và đặc

điểm pháp luật về bảo vệ các quyền của cổ đông thiểu số của CTCP; cấu trúc quản trị nội bộ; vai trò của CTCP và trách nhiệm của những người quản lý công ty trong việc bảo đảm quyền của cổ đông ở Việt Nam đối chiếu với quy định tương tự của các nước Nhật Bản, Hoa Kỳ

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận án thực hiện trên cơ sở các phương pháp nghiên cứu gồm: các phương pháp phân tích, tổng hợp; nghiên cứu so sánh; phương pháp dữ liệu thứ cấp Đồng thời, Luận án cũng thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của Học thuyết Mác – Lênin về nhà nước và pháp luật; một số lý thuyết như: Thuyết đại diện (Agency theory), Thuyết lợi ích của cổ đông và một số lý luận khác về bảo vệ CĐTS

Trang 10

5 Đóng góp mới về khoa học của Luận án

Luận án đã góp phần làm rõ các nội dung: quan niệm CĐTS của CTCP ở Việt Nam và các nước Nhật, Mỹ; phương thức bảo vệ CĐTS xét trong mối quan hệ giữa

cổ đông và người quản lý công ty và xét ở khía cạnh quan hệ giữa chủ sở hữu và người quản lý; Trách nhiệm bảo đảm từ phía công ty và người quản lý đối với quyền lợi của CĐTS;

Đánh giá, so sánh làm rõ mối quan hệ giữa HĐQT, giám đốc và những người quản lý về mặt trách nhiệm với CĐTS trong pháp luật, điều lệ, quy chế nội bộ công

ty

6 Ý nghĩa khoa học của Luận án

Luận án thực hiện việc xem xét phân tích tổng quan pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền của cổ đông thiểu số nhằm đưa ra những khuyến nghị để tham khảo trong quá trình hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Kết quả nghiên cứu của luận án là tài liệu nghiên cứu khoa học phục vụ tham khảo, giảng dạy về vấn đề bảo vệ cổ đông thiểu số và quản trị công ty ở Việt Nam

Kết quả nghiên cứu cũng có giá trị tham khảo cho các cơ quan quản lý, các cổ đông và những người có liên quan trong công ty nhằm nâng cao hiệu quả quản trị, điều hành công ty

Luận án là tài liệu nghiên cứu góp phần bổ sung các quan điểm lý luận về bảo

vệ cổ đông thiểu số của CTCP ở Việt Nam trên cơ sở tham khảo pháp luật Nhật Bản

và Hoa Kỳ về bảo vệ quyền của cổ đông thiểu số

7 Bố cục của Luận án

Ngoài Phần Lời mở đầu, Phần Kết luận và khuyến nghị, Danh mục tài liệu tham khảo, Danh mục các công trình nghiên cứu đã công bố và Phụ lục, Luận án bao gồm 03 Chương như sau:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương 2: Những vấn đề lý luận về pháp luật bảo vệ cổ đông thiểu số của

công ty cổ phần ở Việt Nam

Chương 3: Pháp luật bảo vệ cổ đông thiểu số của công ty cổ phần ở Việt Nam

so sánh với Nhật Bản và Hoa Kỳ

Trang 11

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

Phần này trình bày tổng quan tình hình nghiên cứu quốc tế và Việt Nam liên

quan đến Đề tài: “Pháp luật về bảo vệ cổ đông thiểu số của công ty cổ phần ở Việt

Nam: Nghiên cứu so sánh với Nhật Bản và Hoa Kỳ”, trong đó có sự hệ thống các

công trình, bài nghiên cứu liên quan trực tiếp đến đề tài hoặc liên quan đến vấn đề

cần được phân tích lý giải, so sánh trong Luận án

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến Đề tài luận án

1.1.1 Tình hình nghiên cứu quốc tế

Các nghiên cứu về lý luận và thực tiễn về quản trị công ty cũng như việc bảo

vệ quyền lợi của cổ đông thiểu số của công ty bằng pháp luật luôn là chủ đề được các nhà khoa học trên thế giới rất quan tâm, các công trình nghiên cứu đã nhấn mạnh tới vai trò quan trọng của pháp luật trong việc bảo vệ cổ đông công ty

Về bảo vệ cổ đông thiểu số của công ty, các công trình khoa học từ lâu đã tập

trung nghiên cứu các khía cạnh về sở hữu công ty, về cơ chế pháp luật trong việc bảo vệ

cổ đông và vấn đề mối quan hệ giữa ủy thác của cổ đông với những người quản lý công

ty Tác giả Adam Smith trong tác phẩm An inquiry into the Nature and Causes of the

Wealth of Nations (1776) đã trình bày nghiên cứu của Ông về vấn đề phân tách giữa

quyền sở hữu và quản lý điều hành công ty – một vấn đề mang đặc tính khách quan

Theo Nhà kinh tế học Adam Smith, việc phân tách là tất yếu vì cổ đông – chủ

sở hữu công ty ngày càng phát triển trở nên quá đông đảo, họ không đủ điều kiện cần thiết đề trực tiếp quản lý điều hành công ty mà cần có những người quản lý chuyên nghiệp Vấn đề lợi ích của cổ đông và những người quản lý lại có nhiều khác biệt, cụ thể, lợi ích và hiệu quả của công ty đặt ra đối với chủ sở hữu – cổ đông là ưu tiên hàng đầu, tuy nhiên người quản lý khó có thể chu toàn, cẩn trọng cho việc quản lý điều hành công ty giống như chủ sở hữu - cổ đông, mặc dù họ có trách nhiệm được giao là phải hành động vì lợi ích của cổ đông công ty Pháp luật của các nước theo hệ thống án lệ dựa vào thuyết đại diện để xác định quyền và nghĩa vụ của người quản lý đối với công ty và cổ đông [74] Sự tách bạch giữa quyền sở hữu của cổ đông và việc quản lý, điều hành công ty do thành viên HĐQT, giám đốc và những người đại diện khác thực hiện là một vấn đề trọng tâm, vấn đề mang tính nguyên tắc của quản trị công ty

Trang 12

Theo quan điểm của Lý thuyết đại diện (Theory Agency), cho rằng, cả cổ đông và người quản lý đều mong muốn tối đa hóa lợi ích của mình, nhưng người quản lý không phải lúc nào cũng luôn hành động vì lợi ích tốt nhất của cổ đông – chủ sở hữu công ty Vấn đề đặt ra là, cần có sự giám sát bằng quy tắc và chuẩn mực quản trị công ty đối với những người đại diện để họ làm tròn nghĩa vụ được cổ đông

ủy thác

Nghiên cứu của nhóm bốn giáo sư về luật, kinh tế và tài chính nổi tiếng ở Châu Âu, Bắc Mỹ đứng đầu là giáo sư Rafael La Porta cùng với Lopez-de-Silanos, Andrei Shleifer và Robert Vishny [105] với những công bố từ thế kỷ XX Công bố của nhóm bộ tứ về kết quả khảo sát sự vận dụng cơ chế quản trị có sự phân tách sở hữu và quản lý công ty trong các hệ thống pháp luật của nhiều nước Công bố cho rằng, có sự vận hành phổ biến hai hệ thống: sở hữu quản lý tập trung ở các nước thuộc hệ thống civil law; còn sở hữu, quản lý phân tán tồn tại ở các nước theo hệ thống án lệ (Common law) và có sự phân tách rõ ràng quyền sở hữu và quyền quản lý – cũng là nơi các cổ đông thiểu số được bảo vệ tốt hơn tại cá nước thuộc Civil law

Trong những năm 2000, một số cuốn sách, công trình nghiên cứu tại Mỹ, Anh

có nội dung liên quan đến đề tài so sánh pháp luật bảo vệ cổ đông, cổ đông thiểu số,

trước tiên phải kể tới: “Bản chất của Luật công ty: Nghiên cứu so sánh và tiếp cận

theo chức năng” (The Anatomy of Corporate Law: A Comparative and Functional

Approach) do Rainier R Kraakman chủ biên, NXB Oxford, 2004; Nội dung gồm

nghiên cứu, so sánh theo chức năng của luật công ty; giới thiệu, đối chiếu về sự giống nhau và một số khác biệt cơ bản của hệ thống pháp luật công ty tại Hoa Kỳ, Nhật Bản, Vương Quốc Anh; so sánh chế định bảo vệ nhà đầu tư, cổ đông công ty tại các nước đã phát triển

Các nghiên cứu tại Mỹ về trách nhiệm người quản lý công ty (theo pháp luật của Mỹ - Đạo luật Revised Model Business Corporation Act – RMBCA) cho rằng: người quản lý công ty (thành viên HĐQT, GĐ) khi làm việc phải chu toàn hai nghĩa vụ cơ bản: Cẩn trọng và trung thành - “fiduciary duty”, tức là phải có một lòng thành, tin tưởng, giữ bí mật và trung thực của một người có nghĩa vụ (như Luật sư, nhân viên của công ty) đối với với người hưởng lợi (như thân chủ của luật sư, công ty) phải hành động với sự trung thành và liêm khiết cao độ nhất Người quản lý khi vi phạm

Trang 13

hai nghĩa vụ cơ bản: Cẩn trọng và trung thành “fiduciary duty” nói chung phải bồi thường thiệt hại [95; 105] Người được hưởng lợi thường không phải là cổ đông hay nhóm cổ đông đi kiện mà là công ty

Năm 2010, Nhà xuất bản Ðại học Cambridge phát hành công trình nghiên cứu

có tính toàn diện ở phạm vi các công ty ở châu Âu: “Phương thức bảo vệ nhà đầu tư:

Bài học của EC và UK” của Niamh Molony (How to Protect Investors: Lessons from

the EC and the UK - Cambridge University Press, 2010); Nội dung chính gồm: Khái

niệm nhà đầu tư cá nhân, pháp luật và chính sách bảo vệ nhà đầu tư; không gian, phạm vi áp dụng pháp luật trên lý thuyết và thực tế qua ví dụ tại nước Anh; nghiên cứu việc bảo vệ nhà đầu tư nhỏ, lẻ qua lăng kính của EC; đặc điểm chế độ bảo vệ nhà đầu tư nhỏ, lẻ; chế độ minh bạch thông tin giao dịch về thị trường chứng khoán và việc giám sát, thực thi cơ chế bảo vệ nhà đầu tư nhỏ, lẻ

Tại Nhật Bản, năm 2002, Đại học Nagoya xuất bản cuốn sách: “Hướng tới

một thị trường chứng khoán hoạt động tốt ở Việt Nam” của tác giả Nguyen Thi Anh

Van (Toward A well Functioning Securities Market in Vietnam, CALE, Nagoya

University, Japan, 2002) Nội dung có đề xuất một số giải pháp về hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển thị trường chứng khoán, trong đó có giải pháp minh bạch thông tin về giao dịch cổ phiếu của cổ đông, có cơ chế tạo thuận lợi cho nhà đầu

tư tham gia giám sát hoạt động của công ty Tuy nhiên cũng chưa có giải pháp hoặc

cơ chế cụ thể về bảo vệ cổ đông thiểu số ở Việt Nam

Bài nghiên cứu về quyền của cổ đông theo pháp luật Nhật Bản: “Sự tiếp cận

của cổ đông đối với thông tin của công ty: Nhằm hướng tới bảo đảm quyền kiểm soát của cổ đông và bảo vệ các quyền này của cổ đông thiểu số” của Junko Ueda Tạp chí

Sở hữu và kiểm soát công ty tập 6 Số 4/2009 (Shareholders’ access to company’s

information: towards ensuring shareholders’mornitoring right and minority shareholders’ protection, Journal of Corporate ownership and Control - Ucraina/Volume, Issue 4/2009) Nội dung bài báo nghiên cứu đánh giá lại các phương

thức bảo đảm của Luật công ty Nhật Bản đối với quyền của cổ đông thiểu số tiếp cận thông tin công ty và thực hiện những quyền cơ bản này (chẳng hạn triệu tập người đại diện, khởi kiện những người quản lý…” Đặc biệt trong quá trình hợp nhất và sáp nhập công ty

Bài báo có bốn nội dung chính: thứ nhất, đánh giá tổng quát cấu trúc về quyền

Trang 14

kiểm kiểm soát của cổ đông trong pháp luật công ty Nhật Bản so với các quy định có từ trước trong lịch sử Thứ hai, tập trung xem xét quyền tiếp cận đối với thông tin của công ty và ý nghĩa, so sánh với các quyền khác của cổ đông Thứ ba, phân tích đánh giá các vụ án điển hình tại tòa án Nhật Bản liên quan đến quyền giám sát của cổ đông Thứ tư, khảo sát quyền của cổ đông về tiếp cận thông tin của công ty, mối quan hệ với quyền yêu cầu tòa án chỉ định thanh tra viên tiến hành điều tra hoạt động kinh doanh và điều kiện tài chính công ty theo Luật công ty Nhật Bản Thứ năm, đề xuất

mô hình, vai trò kiểm soát của cổ đông thông qua cơ chế pháp luật công ty nhằm hướng tới một hệ thống quản trị công ty hiệu quả

Sách “Kiểm soát quản trị” của Bob Tricker do NXB Thời đại, ấn hành bản

dịch tại Việt Nam 2012 (Corporate Governace: Principles, policies and practices, first edition - Oxford University press 2009) Bố cục của công trình bao gồm các nội dung giới thiệu khái quát về quản trị công ty và 3 vấn đề chủ yếu: Về các nguyên tắc quản trị công ty, các chính sách quản trị và các tình huống thông lệ về quản trị công ty Cuốn sách cũng đi sâu giới thiệu về nguyên tắc quản trị công ty, về nguồn gốc lịch sử trong thời gian hoặc 40 năm (từ năm năm 1980 tác giả đã công bố giới thiệu những nghiên cứu đầu tiên về quản trị công ty) Về nguyên tắc quản trị công ty: Sách mô tả

về sự cần thiết và phân biệt giữa quản trị công ty và điều hành công ty, đồng thời giới thiệu cấu trúc HĐQT, thành viên của HĐQT, chức năng và cấu trúc quản trị của những công ty lớn phức tạp có hình thức quản lý hình thức đa dạng về các chính sách quản trị công ty, tác giả cho rằng các quy tắc quản trị công ty ở các nước dựa trên sự kết hợp giữa luật pháp và các quy định về công ty (lưu giữ hồ sơ, công bố thông tin, chuẩn mực kiểm toán), cùng với các quy định của các Sở giao dịch chứng khoán áp dụng đối với các công ty niêm yết Ví dụ, tại Mỹ công ty phải tuân thủ đạo luật công

ty của tiểu bang và các quy định của ủy ban Chứng khoán liên bang Hoa kỳ (SEC) bên cạnh đó công ty cũng phải tuân theo các chuẩn mực kế toán của Mỹ (GAAP)

Cuốn sách cũng giới thiệu và đánh giá nội dung các quy tắc quản trị công ty được công bố lần đầu tại Anh quốc (lần đầu năm 1992 các đề xuất về thông lệ quản trị công ty đã được công bố) đến nay các quy tắc QTCT đã có vai trò ảnh hưởng đến

sự phát triển các quy tắc QTCT tại nhiều nước trên thế giới

Một nội dung có giá trị khác của công trình là giới thiệu về nguyên tắc bảo

vệ cổ đông tại Hoa Kỳ thông giới thiệu, mô tả quy tắc QTCT và những quy định bắt

Trang 15

buộc về chế độ công khai minh bạch thông tin, chế độ kiểm toán, nghĩa vụ bắt buộc tuân thủ Đạo luật Sabanes Oxley 2002 (Luật SOX) Nước Mỹ đã ban hành Luật SOX sau hàng loạt vụ bê bối về báo cáo tài chính và sự phá sản của nhiều công ty lớn nhằm mục đích tăng cường các biện pháp hiệu quả về QTCT, tăng cường thông tin minh bạch về tài chính công ty niêm yết Luật SOX là một trong những cột mốc đánh dấu sự phát triển và tăng cường quy định nghĩa vụ của công ty và người quản lý trong việc thực hiện báo cáo tài chính, cải tiến mô hình quản lý, điều hành công

ty theo hướng tích cực của cổ đông- nhà đầu tư chứng khoán Mỹ Tác giả Bob Tricker [7], cũng nhấn mạnh sự khác nhau về nội dung của đạo Luật SOX và luật pháp Mỹ so với các quy định của các nước EU và các nước thuộc khối thịnh vượng chung cùng với hầu hết các nước khác trên thế giới thể hiện ở triết lý cơ bản, nền tảng

về QTCT

Cụ thể, tại Mỹ pháp luật yêu cầu công ty niêm yết và thành viên HĐQT phải báo cáo và có nghĩa vụ tuân thủ pháp luật, đạo luật SOX nếu không thực hiện sẽ bị phạt tiền rất nặng, truy cứu hình sự - phạt tù Pháp luật Hoa Kỳ tiếp cận theo phương thức áp dụng quy tắc quản trị công ty nhằm bảo đảm lợi ích của cổ đông - nhà đầu tư trên cơ sở luật liên bang và luật của tiểu bang Trong khi đó, các nước EU và nhiều nước khác trên thế giới áp dụng nguyên tắc quản trị công ty bằng việc cam kết tự nguyện thực hiện bộ quy tắc quản trị, trường hợp không tuân thủ các quy tắc thì có trách nhiệm giải thích lý do tại sao không thực hiện

Như vậy, trọng tâm của triết lý quản trị công ty của các quốc gia thể hiện qua

2 phương pháp tiếp cận - hai trường phái chủ yếu trên thế giới: Thứ nhất, phương pháp dựa theo pháp luật - Hoa Kỳ là điển hình; thứ hai, phương pháp dựa theo các quy tắc tự nguyện áp dụng hoặc phải giải trình lý do - với nhiều quốc gia trên thế giới đang áp dụng

Năm 2004, tổ chức hợp tác phát triển kinh tế OECD đã xây dựng bộ nguyên tắc quản trị công ty (sửa đổi Bộ quy tắc năm 1999) Nội dung cơ bản của bộ nguyên tắc dựa trên các mô hình quản trị công ty của các nước trên thế giới Nội dung cốt lõi bao gồm: Bảo đảm cơ sở cho một khuôn khổ quản trị công ty hiệu quả; quyền của cổ đông và các chức năng sở hữu chính; đối xử công bằng giữa các cổ đông và vai trò của các bên có quyền lợi liên quan trong quản trị công ty; công khai minh bạch và tăng cường tiếp cận thông tin; trách nhiệm của HĐQT về bảo vệ cổ đông,

Trang 16

Bộ quy tắc đã đưa ra hai nguyên tắc chính, nguyên tắc thứ nhất: Quyền của cổ đông

và các chức năng sở hữu chính; Nguyên tắc thứ hai: Đối xử công bằng giữa các cổ đông

Ngoài những công bố trên của OECD, các nghiên cứu quốc tế còn tập trung xem xét vấn đề bảo vệ cổ đông thiểu số với các khía cạnh như: Nguyên tắc căn bản

của Luật Công ty của Stephen Griffin và các tác giả (Company Law Fundamental

Principles, England: Pearson-Longman, 4th ed 2006) “Những vấn đề cơ bản của luật pháp Mỹ” của Alan B.Morison, NXB Chính trị Quốc gia 2009; Giới thiệu về Luật Đầu tư tài chính của Iain MacNeil (An Introduction to the Law on Financial Investment, (Oxford: Hart Publishing, 2005) Bổ sung cơ bản năm 1998 của quy chế

chứng khoán của Louis Loss and Joel Seligman (1998 Supplement Fundamental of

Securities Regulation, New York: Aspen Law & Business, 1998); Quy định về chứng

khoán của Ủy ban Châu Âu của Niamh Molony (EC Securities Regulation, New

Công trình nghiên cứu so sánh tại Nhật Bản của Phan Hoàng Ngọc (2011): “Bảo

vệ nhà đầu tư thông qua cấm giao dịch nội gián và áp đặt một nghĩa vụ công khai hóa giao dịch hoặc không giao dịch đối với người biết thông tin nội bộ” (Protectting

Investors through Prohibiting and Imposing a duty to abstain or disclose on insiders) đăng trên Tạp chí khoa học thường niên của tại Đại học Nagoya, Nhật Bản tháng 3/2011 (Research Papers, Nagoya University, Japan, March 2011)

Bài nghiên cứu được phát triển, kế thừa từ cơ sở kết quả phân tích, so sánh pháp luật doanh nghiệp, chứng khoán giữa Việt Nam với Nhật Bản và Hoa Kỳ của Luận văn ThS Luật so sánh mà tác giả đã bảo vệ thành công tại Đại học Nagoya, Nhật Bản tháng 3/2011 - với đề tài cùng tên

Tóm tắt nội dung nghiên cứu: (i) Nhằm bảo vệ nhà đầu tư trong lĩnh vực

chứng khoán, Luật Chứng khoán (năm 2006) của nước ta quy định: các nguyên tắc

đảm bảo tính công bằng, minh bạch trong giao dịch và hoạt động của thị trường chứng khoán cũng như sự bình đẳng giữa các nhà đầu tư về tiếp cận thông tin giá trị có liên quan đến các loại chứng khoán, giao dịch và hoạt động của cơ quan, tổ

chức phát hành chứng khoán; (ii) Ðể bảo đảm sự công bằng, pháp luật Việt Nam

nghiêm cấm người biết thông tin nội bộ: sử dụng thông tin chưa được công bố để

tham gia giao dịch chứng khoán, đồng thời buộc các doanh nghiệp như công ty đại

Trang 17

chúng và công ty niêm yết phải công bố công khai các thông tin nội bộ liên quan đến chứng khoán

Kết quả nghiên cứu cho thấy, về mặt tổng quát, Luật Chứng khoán mặc dù có

giải thích thuật ngữ “người biết thông tin nội bộ”, “thông tin nội bộ” Tuy nhiên, nội dung chi tiết các khái niệm này của Việt Nam không tương đồng như Nhật Bản về khái niệm “ người biết thông tin nội bộ: corporate insiders” và dữ liệu, sự kiện có thật – material facts” về kinh doanh của công ty niêm yết Sau cùng, qua xem xét và phân tích, tác giả nêu rõ về một số vấn đề về thực trạng pháp luật, hạn chế và nguyên nhân của những bất cập pháp luật bảo vệ nhà đầu tư chứng khoán ở Việt Nam

1.1.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

Công trình và bài nghiên cứu trong nước liên quan đến đề tài bảo vệ cổ đông thiểu số công ty cổ phần:

Cuốn sách: “Luật Doanh nghiệp bảo vệ cổ đông - pháp luật và thực tiễn” của

Bùi Xuân Hải (2011) NXB Chính trị Quốc gia Viết về các phương thức bảo vệ cổ đông theo Luật Doanh nghiệp và các tình huống và tình hình thực tiễn thực hiện các quyền của cổ đông tại Việt Nam Theo tác giả, kết quả nghiên cứu được phát triển

trên cơ sở kết quả của Đề tài khoa học cấp Bộ: “Bảo vệ nhà đầu tư: Những vấn đề lý

luận và thực tiễn của pháp luật doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh hội nhập”

năm 2010 của Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh

Nội dung cuốn sách có những vấn đề chung về bảo vệ cổ đông và đưa ra quan điểm bảo vệ cổ đông thành viên công ty, sự cần thiết, bảo vệ cổ đông Về chủ thể thực hiện việc bảo vệ cổ đông bao gồm các cơ quan Nhà nước (cơ quan quản lý hành chính, người có thẩm quyền), Hiệp hội các nhà đầu tư… Riêng về cách thức bảo vệ

cổ đông tác giả đưa ra 4 nhóm biện pháp chủ yếu gồm: Bảo vệ cổ đông bằng pháp luật, tổ chức thực thi pháp luật nghiêm minh, bảo vệ bằng cơ chế nội bộ - tự điều chỉnh bằng điều lệ công ty, bằng các quy tắc “mềm” như quy tắc đạo đức, quy tắc chuyên môn của các Hiệp hội nghề nghiệp, chuẩn mực quản trị nội bộ công ty… Ngoài ra còn có các biện pháp bảo vệ khác chẳng hạn cổ đông tự thực hiện các quyền của mình, tiến hành khởi kiện người quản lý, đề nghị các hiệp hội cổ đông đại diện

và bảo vệ quyền lợi cho mình Về các quyền cơ bản của cổ đông, tác giả đã phân loại bao gồm 4 nhóm quyền chủ yếu: Bao gồm quyền về tài sản, quyền quản trị công ty, quyền tiếp cận thông tin và quyền khởi kiện - quyền phục hồi quyền lợi của cổ đông

Trang 18

Về các phương thức, cách thức bảo vệ cổ đông được Luật doanh nghiệp quy định tác giả giới thiệu và phân tích các nhóm biện pháp chủ yếu bao gồm: Bảo vệ cổ đông thông qua các quy định về điều kiện họp và thông qua quyết định của ĐHĐCĐ; bảo

vệ thông qua phương thức bầu dồn phiếu trong CTCP; bảo vệ thông qua các quy định

về ban kiểm soát; bảo vệ bằng quy định về nghĩa vụ công bố thông tin của công ty; bằng quy định về nghĩa vụ của người quản lý công ty; bảo vệ thông qua việc kiểm soát các giao dịch có khả năng tư lợi [22]

Cuốn sách “Thể chế pháp luật kinh tế một số quốc gia trên thế giới” của các

tác giả chủ biên Nguyễn Văn Giàu, Nguyễn Văn Phúc và Nguyễn Đình Cung 2015) Nội dung công trình nghiên cứu phân tích, đánh giá và chọn lọc giới thiệu về thể chế kinh tế của một số quốc gia tiêu biểu trên thế giới gồm Hoa Kỳ, Úc, Đức, Hàn Quốc, Malaysia và Nga Nội dung nghiên cứu chính được trình bày, các tác giả chỉ phân tích lựa chọn một số quy định cơ bản về lĩnh vực kinh tế như các quy định điều chỉnh hành vi của chủ thể tham gia hoạt động, rút lui khỏi thị trường; các đạo luật về thiết chế quản lý, điều tiết thị trường và thực hiện chức năng bảo đảm cạnh tranh, bình đẳng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể kinh tế trên thị trường (Ủy ban Chứng khoán, Ngân hàng Trung ương…) Ngoài ra sách cũng đề xuất, kiến nghị vấn đề nghiên cứu hoàn thiện một số đạo luật tại Việt Nam nhằm hướng tới hoàn thiện hệ thống pháp luật kinh tế và các thiết chế quản lý nền kinh tế thị trường ở nước

(2014-ta

Cuốn sách có ưu điểm là giới thiệu nhiều loại hình tổ chức như: cá nhân kinh doanh, hợp doanh, công ty cổ phần; các vấn đề khác về tài chính doanh nghiệp Đồng thời cuốn sách cũng giới thiệu những vấn đề về mô hình HĐQT, quyền lợi của cổ đông, các vấn đề về người điều hành của công ty và nghĩa vụ quản lý cùng với các vấn đề kiểm soát thông tin tài chính công ty theo pháp luật của Hoa Kỳ Tuy nhiên sách ít phân tích, chưa lý giải hoặc đưa ra những đánh giá khái quát về các lý thuyết hay luận điểm làm cơ sở cho việc ban hành các quy định của các đạo luật và thiết chế kinh tế của Hoa Kỳ và các nước khác [24]

Công trình, bài nghiên cứu đã công bố trên các Tạp chí Khoa học:

Bài nghiên cứu: Một số so sánh về công ty cổ phần theo Luật công ty Nhật bản

và Luật Doanh nghiệp Việt Nam, của Nguyễn Thị Lan Hương, Tạp chí Khoa học Đại

học quốc gia Hà Nội – số 5/2009 Tác giả xem xét nghiên cứu pháp luật Nhật Bản

Trang 19

trong giai đoạn 2009 (chưa có bộ quy tắc quản trị công ty) và phân tích, nêu quan điểm: có những quy định giống nhau giữa Việt Nam và Nhật Bản: về quyền của cổ đông nhận cổ tức, quyền biểu quyết, chuyển nhượng cổ phần, tiếp cận thông tin; quy định về tổ chức nội bộ công ty gồm HĐQT, ĐHĐCĐ, BKS Bảo vệ cổ đông và xây dựng mô hình quản trị nội bộ phù hợp là những vấn đề có ý nghĩa quan trọng được pháp luật công ty của hai nước điều chỉnh Để nâng cao hiệu quả hoạt động, tránh vai trò có tính hình thức của HĐQT, BKS, Nhật Bản đã thiết lập mô hình quản trị nội bộ các ủy ban thuộc HĐQT, trong đó có ủy ban giám sát, thường xuyên hoạt động nhằm thay thế BKS của mô hình tổ chức cũ

Qua so sánh, tác giả cho rằng, việc lập ra thiết chế giám sát nội bộ thể hiện sự

du nhập mô hình mới vào Nhật Bản tạo ra sự phân quyền và giám sát lẫn nhau trong HĐQT khi thực hiện vai trò quản trị điều hành là một trong những kinh nghiệm tham khảo tốt cho việc hoàn thiện pháp luật công ty và cơ chế bảo vệ cổ đông ở Việt Nam [30]

Bài nghiên cứu: “Quyền của cổ đông thiểu số theo pháp luật Việt Nam” của

tác giả Quách Thúy Quỳnh – Tạp chí Luật học Đại học Luật Hà Nội, số 4/2010 Tác giả trình bày 02 nội dung chủ yếu: thứ nhất, bảo vệ quyền lợi của cổ đông thiểu số - vấn đề của quản trị công ty trong các nền kinh tế chuyển đổi, thứ hai, quyền cổ đông

là phương tiện bảo vệ cổ đông thiểu số Tác giả giới thiệu, tại các nước Mỹ, Anh mối quan tâm hàng đầu của các quy chế quản trị công ty là giải quyết xung đột giữa một bên là những nhà quản lư chuyên nghiệp và bên kia là các cổ đông của công ty Trong khi đó tại các nước khác trên thế giới, cổ phần công ty tập trung trong tay một số cổ đông lớn, những người đồng thời có vai trò quản lý công ty, nếu kém hiệu quả trong

cơ chế quản trị công ty thì xung đột lớn nhất là giữa cổ đông thiểu số và các cổ đông lớn công ty Tác giả thông tin rằng mối quan tâm hàng đầu của quản trị công ty trong bối cảnh các nền kinh tế mới nổi chính là giải quyết xung đột giữa cổ đông thiểu số

và cổ đông lớn của công ty Thực trạng này cũng tương tự như nền kinh tế đang chuyển đổi ở Việt Nam, nơi có nhiều công ty gia đình và doanh nghiệp cổ phần hóa thì nhà nước giữ cổ phần chi phối (cổ đông lớn nắm giữ trên 5% và trên 50% cổ phần của công ty rất phổ biến)

Luận án tiến sỹ của tác giả Nguyễn Thị Thu Hương - Học viện Khoa học Xã

hội, (2015) với đề tài: Pháp luật về bảo vệ cổ đông thiểu số của công ty cổ phần ở

Trang 20

Việt Nam hiện nay; và bài nghiên cứu “Các yếu tố tác động đến bảo vệ cổ đông thiểu

số trong công ty cổ phần ở Việt Nam hiện nay” của Nguyễn Thị Thu Hương - Tạp chí Nhân lực Khoa học xã hội tháng 8/2014 Tác giả đã nghiên cứu về cơ chế bảo vệ

cổ đông thiểu số và tiến hành phân tích các yếu tố tác động đến bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần ở Việt Nam, cụ thể như: quản trị công ty, hệ thống pháp luật

và các thể chế đồng bộ, về khía cạnh “dân chủ cổ phần”, và các giá trị đạo đức và xã hội khác… Nội dung Luận án và bài viết cũng nghiên cứu, phân tích khái niệm cổ đông thiểu số, nhấn mạnh các vấn đề lý luận về bảo vệ cổ đông thiểu số trong công

ty cổ phần ở Việt Nam hiện nay [31]

Luận án tiến sỹ của Cao Đình Lành - Học viện Khoa học Xã hội, (tháng 8/2014), tác giả nghiên cứu xem xét vấn đề bảo vệ quyền cổ đông trong trường hợp

mua bán, sáp nhập công ty: “Bảo đảm quyền cổ đông thiểu số trong mua bán, sáp

nhập công ty cổ phần theo pháp luật Việt Nam” Nội dung tập trung về: bảo đảm

quyền của đông thiểu số trong mua bán, sáp nhập công ty cổ phần theo pháp luật Việt Nam Cụ thể gồm lý luận về mua bán, sáp nhập công ty cổ phần; sự cần thiết bảo đảm quyền của cổ đông thiểu số; cách thức bảo đảm quyền của cổ đông thiểu số, các yếu tố ảnh hưởng đến bảo đảm quyền của cổ đông thiểu số Luận án đã có sự phân tích đánh giá các quy định pháp luật và đánh giá, bình luận một số vụ việc có nội dung liên quan đến việc bảo đảm quyền của cổ đông thiểu số Trên cơ sở nghiên cứu đề tài trên, tác giả đã kiến nghị định hướng hoàn thiện pháp luật Việt Nam trong việc bảo đảm quyền của cổ đông thiểu số trong hoạt động mua bán sáp nhập công ty cổ phần [34]

Bài viết “Bảo vệ nhà đầu tư: Góc nhìn từ Đạo Luật Sarbanes –Oxley” của

Duy Cường đãng trên Báo điện tử VNeconomy (Thời báo kinh tế Việt Nam) Đạo luật Sarbanes-Oxley (còn gọi là SOX) có thể là sự tham khảo hữu ích cho những nhà quản lý thị trường chứng khoán Việt Nam, nhất là trong bối cảnh hiện nay khi mà liên tục xảy ra những scandal không đáng có Tác giả giới thiệu hoàn cảnh ra đời của đạo Luật SOX, nước Mỹ ban hành Đạo luật nhằm ngăn chặn những gian dối tài chính

và bảo vệ nhà đầu tư tốt hơn Được Quốc hội Mỹ thông qua ngày 30/7/2002, đạo luật

được bảo trợ bởi nguyên Thượng nghị sỹ bang Maryland, Paul Sarbanes và Nghị sỹ Michael Oxley, và là một trong những luật căn bản của nghề kế toán, kiểm toán Với nội dung và mục đích điều chỉnh pháp luật nhằm bảo vệ nhà đầu tư hiệu quả, Đạo

Trang 21

luật trên được cho là một sự bổ sung quan trọng nhất trong Luật Chứng khoán Mỹ, nhằm mang lại tính minh bạch cho thị trường chứng khoán

Theo nội dung bài viết của tác giả Duy Cường, mục tiêu chính của Đạo luật này nhằm bảo vệ lợi ích của các nhà đầu tư bằng cách buộc các công ty đại chúng phải đảm bảo sự minh bạch hơn của các báo cáo, các thông tin tài chính khi công bố Đồng thời, đạo luật cũng bổ sung thêm các quy định ràng buộc trách nhiệm cá nhân của giám đốc điều hành và giám đốc tài chính đối với độ tin cậy của báo cáo tài chính, bênh cạnh đó yêu cầu các công ty đại chúng phải có những thay đổi trong kiểm soát nội bộ, đặc biệt là kiểm soát công tác kế toán Cũng nhờ đạo luật này, vị trí và thị thế của kiểm toán viên được đặt ở vị trí trung tâm, là cầu nối quan trọng tạo nên những bản báo cáo tài chính có tính độc lập cao và mức độ tin tưởng cao hơn Đạo luật Sarbanes-Oxley có 6 điểm quan trọng: Một là, các giám đốc điều hành, giám đốc tài chính phải trực tiếp ký vào các báo cáo tài chính được ban hành chính thức và đảm bảo tính trung thực của bản báo cáo đó Nếu có những sai phạm, thì họ có thể phải ngồi tù Hai là, các công ty phải lập ra ban giám sát kế toán thực hiện chức năng giám sát hoạt động kết toán trong nội bộ của tập đoàn, đồng thời giám sát chặt hoạt động của các công ty kiểm toán cho tập đoàn đó Ba là, các công ty kiểm toán không được thực hiện tất cả các nghiệp vụ kiểm toán của một tập đoàn mà phải chia phần việc cho các công ty kiểm toán khác để tránh tình trạng tập trung lợi ích có thể dẫn tới những tiêu cực có thể xảy ra Bốn là, ban giám đốc công ty không được quyền quyết định chọn hay chấm dứt hợp đồng với công ty kiểm toán, mà quyết định này thuộc

về ban kiểm toán của công ty Năm là, hàng năm, các công ty phải có báo cáo kiểm soát nội bộ, trong đó các thông tin về tình hình tài chính của công ty phải có sự chứng thực của công ty kiểm toán Sáu là, các tội danh liên quan đến các thay đổi, hủy hồ

sơ, tài liệu hay cản trở gây ảnh hưởng pháp lý điều tra có thể bị phạt tù lên đến 20 năm (Mục 802)

Bài viết: “Ðiều hòa lợi ích của cổ đông và người quản lý trong công ty đại

chúng ở Anh quốc”: của tác giả Hà Thị Thanh Bình, Tạp chí Luật học – Ðại học luật

Hà Nội số 12/2015 Tác giả giới thiệu: Các công ty đại chúng (CTÐC) ở Anh với đặc điểm cơ cấu sở hữu phân tán, ít khi có cổ đông có khả năng sở hữu tỷ lệ cổ phần ở mức có khả năng kiểm soát được công ty, hoặc trực tiếp tham gia quản lý công ty

Do có sự tách bạch giữa quyền sở hữu và quản lý công ty, vấn đề là cần có giải pháp

Trang 22

cân bằng lợi ích giữa cổ đông và người quản lý

Tác giả xem xét về về quản trị công ty, về việc hài hòa hóa lợi ích giữa cổ đông và NQL và khuyến nghị một số kinh nghiệm cho Việt Nam Trong đó, cần có giải pháp để NQL không sử dụng trái phép tài sản của công ty phục vụ cho lợi ích riêng mà phải hành động vì lợi ích của các chủ sở hữu công ty, cho dù những NQL

đã được chủ sở hữu trao cho quyền tự quyết rất lớn trong việc quản lý công ty Mặt

khác, cơ chế quản trị công ty phải bảo đảm quyền lợi của các cổ đông, biệt là các cổ

đông thiểu số - những chủ thể không thể tham gia vào việc thông qua các quyết định của công ty do nắm giữ tỉ lệ cổ phần quá nhỏ Bên cạnh việc tạo cơ chế để bộ máy quản lý, điều hành công ty có quyền độc lập trong việc đưa ra các quyết định quản

lý, điều hành công ty, pháp luật cần quy định cơ chế khả thi và có hiệu quả để các cổ

đông thực hiện quyền giám sát của mình đối với hoạt động của người quản lý điều hành công ty đại chúng và phải chịu sự điều chỉnh pháp luật nghiêm ngặt hơn so với

người quản lý ở những loại hình công ty khác [15]

Bài viết: Nghiên cứu so sánh pháp luật về phát hành chứng khoán Nhật Bản của Phan Thị Thành Dương đăng trên Tạp chí Khoa học pháp lý - Đại học Luật

TP.Hồ Chí Minh, số tháng 12/2008 Tác giả nghiên cứu pháp luật về chứng khoán của Nhật, nêu những điểm tương đồng của Nhật Bản với Việt Nam về điều kiện địa lý, văn hóa, tập quán Bài viết nhận định: Từ khi Luật về chứng khoán và Sở giao dịch chứng khoán ở Nhật ra đời đến nay đã có nhiều lần sửa đổi bổ sung, cùng với nhiều quy định điều chỉnh mới với khuynh hướng mở rộng phạm vi của pháp luật chứng khoán; đơn giản hóa thủ tục phát hành, điều chỉnh vấn đề chất lượng và thông tin về chứng khoán phát hành hơn là biện pháp quản lý mệnh lệnh hành chính Khác với Nhật Bản, ở Việt Nam, thị trường và Trung tâm Giao dịch chứng khoán chính thức hoạt động sau Nhật hàng trăm năm (2000) Pháp luật chứng khoán Việt Nam cũng đã bước đầu phát triển theo xu thế chung của thế giới Nhà nước có vai trò tạo lập cơ chế pháp lý cho phép các quan hệ thị trường phát triển, thông qua khung pháp lý đồng bộ sẽ hỗ trợ thị trường và nhà đầu tư có giao dịch an toàn và bảo đảm hiệu quả quyền lợi hợp pháp của các chủ thể [37]

Luận văn Thạc sĩ luật học “So sánh pháp luật quản trị công ty cổ phần của

Việt Nam và Ả Rập Xê Út” của Vũ Thành Công, nội dung nghiên cứu nhằm phân

tích thực trạng pháp luật, so sánh làm rõ sự tương đồng và khác biệt của pháp luật

Trang 23

quản trị công ty giữa Việt Nam và Ả Rập Xê Út (ARXU); đưa ra các khuyến nghị, bài học kinh nghiệm nhằm hoàn thiện các quy định về quản trị công ty ở Việt Nam Đối tượng và phạm vi nghiên cứu so sánh là quy định về quản trị công ty cổ phần theo Luật doanh nghiệp 2005 và Luật công ty năm 1965 của ARXU và các quy tắc, chuẩn mực về quản trị công ty Các vấn đề pháp luật được tác giả tập trung nghiên cứu so sánh gồm: cổ đông và đại hội đồng cổ đông; thành viên HĐQT và trách nhiệm, nghĩa vụ của HĐQT; Ban giám đốc và quyền hạn trách nhiệm điều hành công ty; công bố thông tin minh bạch và vấn đề kiểm soát các giao dịch với các bên

có liên quan

Bài viết “Vai trò của Luật so sánh trong công cuộc hoàn thiện pháp luật Việt Nam” của Đỗ Văn Đại đăng trên Tạp chí Khoa học pháp lý – Đại học Luật TP.HCM,

số 01/2004, tác giả cho rằng việc so sánh pháp luật hai hay nhiều nước được “hình

thành từ lâu đời” và “giao lưu văn hóa pháp luật là một nhu cầu khách quan của xã hội” Trong thực tế, lợi ích của việc tìm hiểu pháp luật nước ngoài “là vô cùng to lớn”

và “tri thức về pháp luật nước ngoài có thể được khai thác cho nhiều mục đích” Bài viết nêu ý kiến, qua tham khảo sách báo pháp luật Việt Nam và pháp luật Pháp chúng

ta nhận thấy, mỗi khi một vấn đề pháp lý không được điều chỉnh rõ ràng, phần lớn các nhà làm luật Việt Nam yêu cầu có sự can thiệp của Quốc hội hay Chính phủ bằng một văn bản cụ thể trong khi đó, ở Pháp, các nhà làm luật thường tìm ra giải pháp cụ thể và đưa giải pháp này thành luật bằng cách vận dụng linh hoạt các văn bản pháp luật đã tồn tại thông qua giải thích chúng Nếu mỗi một vấn đề pháp lý phát sinh đều được Quốc hội hay Chính phủ điều chỉnh kịp thời bằng những văn bản chi tiết cụ thể thì đây là một điều tốt cho tất cả mọi người Nhưng cũng phải thừa nhận rằng chúng

ta chỉ có một Quốc hội, một Chính phủ trong khi đó những vấn đề pháp lý cụ thể cần

giải quyết thì nhiều Vậy, bên cạnh việc kiến nghị Quốc hội hay Chính phủ can thiệp

bằng một văn bản cụ thể, chúng ta nên kết hợp việc hoàn thiện pháp luật thông qua phương pháp giải thích luật như ở một số nước, nhất là khi văn bản ở nước ta còn ở dạng khung

Kết thúc bài viết, tác giả kết luận: luật so sánh có tiềm năng to lớn trong việc hoàn thiện pháp luật nước ta về mặt khối lượng và chất lượng điều chỉnh cũng như

về phương pháp hoàn thiện pháp luật Tuy nhiên, đây chỉ là tiềm năng của luật so sánh Để phát huy được tiềm năng này, chúng ta phải hiểu biết tốt pháp luật nước

Trang 24

ngoài vì chúng ta không thể so sánh pháp luật nước ta với pháp luật nước ngoài nếu chúng ta không có sự hiểu biết pháp luật nước ngoài Trong hoàn cảnh nước ta hiện nay, luật so sánh đã phần nào phát huy được tiềm năng của nó nhưng còn hạn chế vì chúng ta còn thiếu luật gia hiểu biết tốt pháp luật nước ngoài Chúng ta đã mời chuyên gia nước ngoài để giúp chúng ta xây dựng và sửa đổi pháp luật song giải pháp này còn nhiều hạn chế

Một số nghiên cứu khác công bố trên các tạp chí khoa học/hội thảo có liên quan đến đề tài: “Bảo vệ cổ đông: mấy vấn đề lý luận và thực tiễn trong Luật doanh

nghiệp năm 2005”, TS Bùi Xuân Hải, Tạp chí Khoa học pháp lý số 1/2009; “Thực trạng tranh chấp nội bộ công ty và giải pháp” của Nguyễn Thị Kim Vinh, “Giải quyết tranh chấp nội bộ Công ty: Thực tiễn và giải pháp” của Quảng Đức Tuyên – Nguyễn

Văn Cường tham luận kỷ yếu Hội thảo “Bảo vệ cổ đông: Những vấn đề lý luận và

thực tiễn trong pháp luật doanh nghiệp Việt Nam”, Trường Đại học Luật Thành phố

Hồ Chí Minh ngày 08/5/2010; “Hoàn thiện cơ chế bảo vệ cổ đông thiểu số trong

công ty cổ phần” Bành Quốc Tuấn và Lê Hữu Linh, Tạp chí Phát triển và hội nhập

số 3/2012 Tác giả Cao Đình Lành có bài: Xung đột lợi ích của Cổ đông thiểu số trong

hoạt động mua bán sáp nhập công ty cổ phần, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số

8/2012; Lê Vũ Nam bàn về Điều kiện niêm yết cổ phiếu của doanh nghiệp nước ngoài

trên thị trường chứng khoán Việt Nam, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, 2013, số 4;

Nguyễn Văn Phương có bài viết Sở hữu chéo ngân hàng cần được nhìn nhận đánh

giá đa chiều, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, 2013, số 4 Tác giả Trương Thị Nam

Thắng có bài “Một số điều chỉnh khuôn khổ thể chế về quản trị công ty tại bốn nước

Đông Nam Á sau khủng hoảng”, Tạp chí Những vấn đề kinh tế và chính trị thế giới

số 1/2008; Đào Anh Tuấn, Sáp nhập và mua lại- Một xu hướng cần lưu ý trong quá

trình hội nhập kinh tế quốc tế, Tạp chí Ngân hàng số 18/2007; Phạm Tiến Đạt, Quản

lý nhà ước về M&A trên thế giới, Tạp chí Tài Chính số 5/2010;

Các sách chuyên khảo và giáo trình khác:“Công ty: Vốn, quản lý và tranh

chấp” của Nguyễn Ngọc Bích và Nguyễn Đình Cung, Viện Nghiên cứu quản lý kinh

tế Trung ương 2009; “Luật Doanh nghiệp bảo vệ cổ đông – pháp luật và thực tiễn”

của TS Bùi Xuân Hải, NXB Chính trị quốc gia, 2011; PGS TS Nguyễn Như Phát và

PGS TS Phạm Duy Nghĩa nghiên cứu về Công ty và doanh nghiệp trong giáo trình

Luật Kinh tế của Đại học Khoa học xã hội và nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội

Trang 25

(Hà Nội, 1996 và 2001); Phạm Duy Nghĩa, Phân loại thương nhân trong giáo trình

Luật Thương mại Việt Nam của Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội (Hà Nội, năm

2002); TS Nguyễn Thị Thương Huyền, Hoàng Thu Hằng về công ty, doanh nghiệp

- pháp luật về chủ thể kinh doanh trong Giáo trình Pháp luật kinh tế của Học viện Tài

chính (Hà Nội, năm 2004); Công trình nghiên cứu của PGS.TS Lê Thị Thu Thủy về các vấn đề liên quan đến công ty chứng khoán và thị trường chứng khoán trong cuốn

sách: Pháp luật về Công ty chứng khoán ở Việt Nam (Hà Nội, 2011);

1.2 Ðánh giá tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Luận án

1.2.1 Những kết quả nghiên cứu về bảo vệ cổ đông thiểu số

* Về phương thức bảo vệ cổ đông thiểu số của công ty, các nhà khoa học tập

trung nghiên cứu các quy định về cơ chế pháp luật trong việc bảo vệ cổ đông công ty Các nghiên cứu thường nhấn mạnh công cụ pháp luật giữ vai trò quan trọng hàng đầu trong việc bảo vệ quyền lợi của các cổ đông công ty, đồng thời cũng khẳng định pháp luật cần được hiểu bao gồm cả pháp luật và việc thực thi pháp luật thực tế (bên cạnh

đó còn có các công cụ bảo vệ khác như điều lệ công ty, các quy tắc quản trị nội bộ và đạo đức kinh doanh, cơ chế cổ đông tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình…)

Vai trò quy định của pháp luật công ty và pháp luật chứng khoán được cho là giữ vai trò quan trọng: Các quy định có liên quan đến bảo vệ nhà đầu tư, cổ đông có trong khá nhiều lĩnh vực pháp luật quốc gia, chẳng hạn như luật doanh nghiệp, luật công ty, luật chứng khoán, luật phá sản, luật cạnh tranh và pháp luật về mua bán, sáp nhập… Tuy nhiên, quan điểm được nhiều nhà khoa học quốc tế ủng hộ là trong tất cả các quy định pháp luật liên quan đến việc bảo vệ cổ đông thì các quy định của pháp

luật công ty và pháp luật chứng khoán giữ vai trò quan trọng bậc nhất

Trong phạm vi mỗi quốc gia, các nghiên cứu cho rằng việc đánh giá về tình trạng bảo vệ nhà đầu tư thì chắc chắn phải quan tâm đến ba vấn đề cơ bản: 1) sự

công khai hóa các thông tin về sở hữu trong công ty và tài chính của công ty; 2) Bảo

vệ cổ đông thiểu số; 3) Năng lực đảm bảo thực thi pháp luật của tòa án và cơ quan quản lý thị trường chứng khoán [10; 101] Còn theo các giáo sư Hertig và Kanda và các nhà nghiên cứu khác [93] thì cho rằng để bảo vệ nhà đầu tư pháp luật cần phải quy định nghĩa vụ công khai hóa thông tin của công ty; phải có các quy định về nhóm công ty và kiểm soát giao dịch trong các nhóm công ty và quy định về nghĩa vụ của người quản lý công ty

Trang 26

* Về quan hệ giữa cổ đông (shareholders) và người quản lý công ty (company directors) trong nhiều nghiên cứu ở Phương Tây, các tác giả cho rằng đó là mối quan

hệ đại diện [76; 85; 86] Các chủ sở hữu công ty cần phải lựa chọn, bổ nhiệm người

đại diện cho mình để quản lý, khai thác tài sản nhằm sinh lợi, nếu họ đặt niềm tin không đúng chỗ, được giao quản lý tài sản lại thiếu sự trung thành và bất cẩn… thì việc thua lỗ, mất tài sản đầu tư là điều khó tránh khỏi

Theo quan điểm một số học giả để lí giải mâu thuẫn này xuất phát từ bản chất

tự nhiên, người quản lý công ty, cho dù họ là hay không là cổ đông, thành viên của công ty, thì đều có rất nhiều cơ hội để tư lợi cho mình hay cho người mà mình mong muốn Bởi thế, pháp luật công ty của các nước đều có những quy định chặt chẽ về nghĩa vụ, bổn phận của người quản lý công ty, mà ở đó nghĩa vụ cẩn trọng, trung thành luôn đặt lên hàng đầu Có rất nhiều cách thức mà người quản lý công ty có thể tư lợi từ doanh nghiệp mà mình quản lý, thậm chí có thể bằng cách thức hợp pháp (tức công khai), chẳng hạn thông qua các giao dịch, hợp đồng với những người không có liên quan hay tiết lộ thông tin cần bảo mật của công ty cho người khác

Vấn đề đặt ra bằng cách nào để ngăn chặn, hạn chế hành vi tư lợi của người quản lý hoặc dung hòa mẫu thuẫn này Đề xuất có tính khả thi là sử dụng công cụ pháp luật về doanh nghiệp, công ty – kết hợp các nguyên tắc quản trị công ty, nội dung của hàng loạt chuẩn mực, nguyên tắc được đề xuất như: Minh bạch thông tin, nâng cao chất lượng kiểm toán, xây dựng cấu trúc hội đồng quản trị hiệu quả… nhằm bảo vệ cổ đông

Khái quát những thành công của các công trình nghiên cứu trong nước liên quan đến đề tài đã được công bố, kết quả cho thấy:

(i) phạm vi và chủ đề nghiên cứu về pháp luật về bảo vệ cổ đông thiểu số của

công ty cổ phần đã được nghiên cứu với những góc độ, phương diện cụ thể, riêng lẻ

và với phạm vi khác nhau Tuy nhiên, các công trình ở Việt Nam chưa nghiên cứu so sánh có tính hệ thống về lĩnh vực pháp luật bảo vệ cổ đông thiểu số, chưa có sự đánh giá một cách toàn diện Đồng thời các nghiên cứu về phương thức bảo vệ cổ đông thiểu số của các nhà nghiên cứu Việt Nam chưa có sự so sánh, đối chiếu mang tính

hệ thống với quy định tương tự trong pháp luật Nhật Bản và Hoa Kỳ

(ii) Nội dung các nghiên cứu trong nước tập trung về: Luật Doanh nghiệp và

vấn đề bảo vệ nhà đầu tư, cổ đông công ty Nhiều tác giả quan tâm, tập trung nghiên

Trang 27

cứu về các phương thức như thông qua cơ chế điều chỉnh của pháp luật, điều lệ công

ty, cơ chế tự bảo vệ của cổ đông và vai trò của các quy tắc, tập quán, đạo đức về kinh doanh Trong đó, một biện pháp có vai trò quan trọng hàng đầu được các nhà nghiên cứu ủng hộ vẫn là cơ chế bảo vệ nhà đầu tư - cổ đông công ty bằng pháp luật và cơ chế thực thi pháp luật của Nhà nước [8]

* Về hướng nghiên cứu và cách tiếp cận giải quyết đối với vấn đề cơ sở để bảo vệ cổ đông thiểu số công ty cổ phần; nguyên nhân xung đột lợi ích giữa cổ đông thiểu số với cổ đông sở hữu đa số

Ngoài việc các nghiên cứu đã thể hiện việc ủng hộ các quan điểm khoa học như các công trình quốc tế nêu trên, các nhà luật học Việt Nam lý giải theo hướng: xuất phát từ sự khác biệt về lợi ích dẫn đến những xung đột giữa các nhà đầu tư, cổ đông và người quản lý điều hành công ty Mỗi công ty luôn có sự tổng hòa các mối quan hệ và lợi ích giữa người quản lý, các cổ đông, thành viên và người lao động trong công ty Mặc dù các thành viên công ty đều mong muốn công ty phát triển bền vững và kinh doanh có hiệu quả, nhưng do sự khác biệt về lợi ích giữa các cổ đông,

sự tách biệt giữa người quản lý và người sở hữu, do đó, xung đột về lợi ích có thể nảy sinh sau các quyết định trong quá trình điều hành, hoạt động và phát triển của công

ty

Có các hình thức xung đột khác nhau, tuy nhiên có hai hình thức thường xảy

ra trong công ty bao gồm: Thứ nhất, xung đột lợi ích giữa cổ đông thiểu số với nhóm

cổ đông sở hữu đa số cổ phần nắm quyền kiểm soát công ty; Thứ hai, xung đột giữa

cổ đông thiểu số với những người quản lý, điều hành doanh nghiệp Cụ thể như sau:

Thứ nhất, xung đột giữa cổ đông thiểu số với nhóm cổ đông sở hữu đa số cổ phần nắm quyền kiểm soát công ty:

Cổ đông là chủ sở hữu công ty, với tư cách này họ có quyền biểu quyết tại Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ), trừ cổ đông ưu đãi hoàn lại, hoặc cổ đông ưu đãi cổ tức,

cổ đông tham gia vào quá trình ra quyết định, quản lý và điều hành công ty, thông qua họp ĐHĐCĐ để biểu quyết tán thành hay phản đối các vấn đề thuộc thẩm quyền ĐHĐCĐ Quyết định của ĐHĐCĐ là quyết định của công ty, có hiệu lực bắt buộc các cổ đông, người quản lý và các cơ quan khác trong công ty Các quyết định trên

phải tuân thủ pháp luật và điều lệ công ty

Quyết định của ĐHĐCĐ được thông qua theo nguyên tắc đa số, tức là căn cứ

Trang 28

vào ý chí của những cổ đông chiếm giữ đa số cổ phần công ty, do vậy, nhóm cổ đông

sở hữu đa số cổ phần có điều kiện chắc chắn để kiểm soát được doanh nghiệp Các

cổ đông sở hữu đa số cổ phần có ảnh hưởng lớn đến việc hoạch định, thi hành chính sách của công ty thiên lệch vì lợi ích của bản thân họ bằng các biện pháp khác nhau,

kể cả hợp pháp và bất hợp pháp, hoặc kiểm soát thông tin nội bộ để có thể trục lợi; vi phạm chế độ công bố thông tin bắt buộc của cổ đông lớn Trong điều kiện ngược lại, các cổ đông thiểu số gặp bất lợi do không sở hữu nhiều cổ phần, lại không được tiếp cận đầy đủ thông tin - có sự bất tương xứng về thông tin và thiếu các cơ chế và thiết chế hỗ trợ họ trong việc giám sát và xử lý các hoạt động giao dịch nội gián hoặc lũng đoạn nhằm mục đích tư lợi của các cổ đông đa số

Những quy định của pháp luật chưa đầy đủ, đồng bộ cũng dẫn đến xung đột, không bảo đảm cân bằng lợi ích, thiên lệch và ưu đãi cho các cổ đông đa số

và gây bất lợi cho cổ đông thiểu số của công ty, ví dụ phân biệt về giá phát hành

và tỷ lệ cổ phiếu được mua; phương án phát hành cổ phiếu mới ưu đãi có lợi cho

cổ đông đa số vẫn được ĐHĐCĐ thông qua do cổ đông nhỏ không đủ tỷ lệ đa số

Do đó, vấn đề đặt ra là pháp luật và điều lệ công ty phải điều chỉnh vấn đề trách nhiệm của người điều hành công ty, cơ chế kiểm soát, giám sát những hành vi

có khả năng dẫn tới xung đột về lợi ích Lý do, xuất phát từ việc chủ thể quản lý công

ty nhân danh công ty tham gia các giao dịch pháp luật nhưng với mục đích tư lợi cho bản thân hoặc gây thiệt hại cho nhà đầu tư – người bỏ vốn, tài sản thuộc sở hữu chính thức vào hoạt động kinh doanh của công ty

Trang 29

Theo quy định của pháp luật cũng như nguyên tắc hoạt động do điều lệ công

ty xác lập, thì người quản lý thực hiện hoạt động điều hành và kinh doanh vì lợi ích chung của công ty và các cổ đông Tuy nhiên, để đánh giá chính xác liệu quyết định của người điều hành công ty có vì các cổ đông hay không là vấn đề phức tạp, rất khó minh định mục đích chính của hành vi do các lãnh đạo công ty đã thực hiện

Xung đột lợi ích giữa cổ đông công ty và người có nhiệm vụ điều hành, quản

lý công ty xuất phát do có sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền quản lý trực tiếp công ty Hội đồng quản trị và các lãnh đạo thực hiện hoạt động kinh doanh của công

ty trên cơ sở quyền hạn được cổ đông và ĐHĐCĐ giao phó vì lợi ích tối cao là đại diện trung thành với cổ đông và công ty, nhưng vì xung đột về quyền lợi dẫn đến các hành vi kinh doanh của người quản lý vì lợi ích riêng cho bản thân họ

Nguyên nhân cũng xuất phát từ thiếu cơ chế pháp lý và thực thi biện pháp bảo

vệ nhà đầu tư, cổ đông công ty một cách có hiệu quả; hoặc có sự hạn chế về năng lực

tự bảo vệ và bất cân xứng về thông tin nội bộ giữa của cổ đông thiểu số so với lãnh đạo công ty

1.2.2 Một số kết quả nghiên cứu so sánh pháp luật về bảo vệ cổ đông thiểu số

Trên cơ sở tổng quan các công trình nghiên cứu về pháp luật bảo vệ cổ đông thiểu số ở cả phạm vi trong và ngoài nước cho thấy, có một số ưu điểm và những thành công thuận lợi trong các công trình nghiên cứu đã thực hiện bao gồm:

Các công trình nghiên cứu so sánh (đặc biệt là ở Mỹ và Châu Âu) đã đề cập

và phân tích cơ sở lý luận của việc bảo vệ cổ đông thiểu số của công ty trên cơ sở các

lý thuyết về “đại diện” (Theo lý thuyết về đại diện, sự tách biệt giữa sở hữu và quản

lý làm nảy sinh xung đột giữa người đại diện – nhà quản lý với người ủy quyền là cổ đông công ty) và những quan điểm lý luận về “sự cẩn trọng, trung thành” của người điều hành, lãnh đạo công ty nhằm bảo đảm tối đa sự toàn vẹn đối với lợi ích của công

ty và các cổ đông Đây là những quan điểm xuất phát, cơ sở lý luận có ý nghĩa quan trọng để tác giả luận án tiếp tục đi sâu phân tích cơ sở lý luận về các phương thức bảo

vệ cổ đông thiểu số và đề xuất biện pháp nhằm bảo vệ cổ đông thiểu số của công ty

cổ phần Việt Nam

Kết quả nghiên cứu so sánh về những xung đột lợi ích của công ty cổ phần và vấn

đề bảo vệ cổ đông, do các học giả tại Đại học Havard thực hiện cùng Giáo sư Rainier R

Kraakman (The Anatomy of Corporate Law: A Comparative and Functional Approach)

Trang 30

khẳng định có sự thu hẹp đáng kể về khoảng cách, sự khác biệt về mặt quy định bảo

vệ cổ đông trong pháp luật Anh – Mỹ so với các nước Đức, Ý, Pháp và Nhật Bản

Cụ thể, các nước thuộc hệ thống án lệ và các nước thuộc hệ thống Civil law đều đưa ra các quy định tiêu chuẩn, yêu cầu bắt buộc để các công ty và nhà đầu tư –

cổ đông được gia nhập thị trường và cho tới khi rút khỏi thị trường chứng khoán; đó

là các tiêu chí về minh bạch và kiểm soát thông tin, về tiêu chuẩn cổ phiếu được giao dịch; chuẩn mực quản trị công ty Một điểm khác biệt nữa, các nước thuộc hai hệ thống pháp luật này có sự chú trọng đầu tư các nguồn lực cho các cơ quan quản lý và thi hành pháp luật về bảo vệ nhà đầu tư Nếu như Anh – Mỹ tăng cường vai trò các

cơ quan thực thi pháp luật, xử lý nghiêm và kịp thời các vụ kiện đối với những thiệt hại do người quản lý công ty gây ra không khác gì so với các vụ kiện dân sự, vụ án hình sự do Nhà nước truy tố; trong khi đó các nước Đức, Ý, Pháp, Nhật Bản cũng có

sự tập trung nguồn lực tương tự Anh - Mỹ để tăng cường trách nhiệm các cơ quan thi hành pháp luật, tuy nhiên tại Pháp việc xử lý truy cứu hình sự thực thi mạnh mẽ hơn các nước cùng nhóm [7; 24]

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu ở nước ngoài (chủ yếu là Nhật Bản, Hoa Kỳ và châu Âu) đã cung cấp cho tác giả phương pháp và cách tiếp cận có tính

hệ thống tổng thể về quan niệm bảo vệ cổ đông thiểu số của công ty trong pháp luật các nước và khái niệm bảo vệ cổ đông thiêu số dưới góc độ so sánh Mặc dù các nước với hệ thống pháp luật khác nhau, tiếp cận khái niệm bảo vệ cổ đông thiểu số của công ty với những phương diện khác nhau, tuy nhiên, ở khía cạnh tổng quan và hệ thống các nghiên cứu đã công bố liên quan đến về vấn đề này cho phép tác giả luận án có cơ sở để khái quát hóa các quan niệm về bảo vệ cổ đông, bảo vệ cổ đông thiểu số của công ty một cách khách quan và mang tính so sánh, đối chiếu cụ thể

- Một trong những kết quả nghiên cứu có ý nghĩa rất quan trọng đối với Luận án, đó là trên cơ sở khái quát đặc điểm pháp luật về bảo vệ cổ đông thiểu số của Nhật Bản và Hoa Kỳ làm cơ sở giúp cho tác giả có căn cứ đối chiếu so sánh với pháp luật Việt Nam và làm tiền đề lý luận để đưa ra kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam

- Các công trình nghiên cứu so sánh ở Việt Nam cũng đã bước đầu nghiên cứu

so sánh với pháp luật thực định của Nhật Bản và Hoa Kỳ; phân tích một số vụ việc cụ thể về tranh chấp, xung đột giữa các cổ đông và đề xuất giải pháp bảo vệ một số

Trang 31

quyền của cổ đông thiểu số trong phạm vi các hoạt động mua bán, sáp nhập doanh nghiệp hoặc dưới góc độ quy định trách nhiệm của giám đốc công ty, cổ đông lớn của công ty

Các nghiên cứu, phân tích này tiếp tục được tác giả luận án đánh giá, so sánh với các nhận định, quan điểm riêng của mình để làm sáng tỏ khái niệm và hoàn thiện pháp luật bảo vệ cổ đông thiểu số của công ty cổ phần Việt Nam

1.3 Các vấn đề chưa được nghiên cứu hoặc chưa làm rõ sẽ được Luận án tiếp tục xem xét

Quan niệm cổ đông thiểu số của công ty cổ phần ở Việt Nam và các nước mặc

dù đã có một số công trình nghiên cứu; tuy nhiên các quan điểm về bảo vệ cổ đông thiểu số chưa có sự nghiên cứu so sánh, đối chiếu mang tính hệ thống cả về lý luận

và pháp luật thực định với các nước như Nhật Bản, Hoa Kỳ

- Mối quan hệ giữa cổ đông và người quản lý công ty, xét ở khía cạnh quan hệ giữa chủ sở hữu và người quản lý, đại diện - có vai trò bảo vệ quyền của cổ đông, cổ đông thiểu số; về quyền lợi của cổ đông thiểu số dễ bị vi phạm, xâm hại từ cổ đông lớn cũng như người quản lý công ty và chủ thể khác

- Trách nhiệm bảo đảm từ phía công ty và người quản lý đối với quyền lợi của

cổ đông thiểu số Trong mối quan hệ ủy thác,đại diện giữa Hội đồng quản trị, giám đốc và những người quản lý khác với cổ đông thiểu số được pháp luật ghi nhận, bảo đảm và các bên đã có sự thỏa thuận cụ thể bằng việc thông qua điều lệ công ty

- Tiếp tục xem xét các quan điểm lý luận về bảo vệ cổ đông thiểu số, vị trí, vai trò của các phương thức bảo vệ cổ đông thiểu số trong pháp luật doanh nghiệp và các quy định hiện hành Tiếp tục đánh giá thực trạng các quy định của Luật doanh nghiệp

2014 và các quy định khác có liên quan về bảo vệ CĐTS

- Các nghiên cứu ở nước ngoài (Nhật Bản, Hoa Kỳ) đã công bố về cơ chế, phương thức và nguyên tắc quản trị công ty, kiểm soát nội bộ, cơ chế minh bạch thông tin của công ty, của cổ đông lớn trước khi giao dịch Tuy nhiên, pháp luật bảo vệ cổ đông thiểu số ở Việt Nam chưa được nghiên cứu so sánh có tính hệ thống (trong đó, một trong những trọng tâm Luận án xem xét là pháp luật, quy tắc quản trị nội bộ công

ty quy định về quan hệ giữa cổ đông và người quản lý công ty – xét theo giác độ quan

hệ giữa cổ đông có vai trò là chủ sở hữu với người quản lý, đại diện; cũng như việc giải quyết xung đột lợi ích cổ đông thiểu số, cổ đông lớn, người quản lý, bảo đảm

Trang 32

quyền của CĐTS trong công ty)

- Chỉ ra một số điểm tương đồng và khác biệt của pháp luật về bảo vệ cổ đông thiểu số, khuyến nghị việc tham khảo và nghiên cứu để hoàn thiện pháp luật và các quy tắc quản trị nội bộ công ty nhằm hướng tới bảo vệ tốt hơn nữa cổ đông thiểu số

ở Việt Nam

Giả thuyết nghiên cứu

Với mục tiêu nghiên cứu về pháp luật cũng như quy tắc quản trị công ty điều chỉnh vấn đề bảo vệ CĐTS ở nước ta, một trong những vấn đề thiết yếu cần xác định đặc trưng của CĐTS, quan niệm về CĐTS tại Việt Nam

Pháp luật Việt Nam đã có một số quy định về quyền của cổ đông sở hữu cổ phiếu nhỏ lẻ, tuy nhiên không có định nghĩa, chưa có những quy định rõ để xác định đặc điểm của CĐTS

Quy định của pháp luật về trách nhiệm của những người quản lý công ty đã có một số nguyên tắc chung, tuy nhiên LDN 2014 chỉ điều chỉnh chung về mô hình tổ chức của công ty cổ phần mà không có những quy định đồng bộ giữa nghĩa vụ (chẳng hạn về nghĩa vụ cẩn trọng, trung thành) của bộ máy lãnh đạo công ty và quy định, cơ chế đề công ty ban hành điều lệ với nguyên tắc bắt buộc về quản trị nội bộ, qua đó tạo lập cơ chế HĐQT, những NQL có nhiệm vụ phải thực thi, bảo vệ tốt nhất lợi ích của CĐTS trong công ty

Cơ chế quản trị công ty nhằm bảo vệ CĐTS tại Việt Nam còn bất cập, do Luật Doanh nghiệp 2014 chỉ quy định nguyên tắc chung và dành cho công ty cổ phần có nhiều quyền chủ động quá mức cần thiết trong việc thông qua điều lệ, do đó sẽ ảnh hưởng tới việc bảo đảm quyền lợi của CĐTS Với quyền hạn rộng quá mức cho công

ty sẽ dẫn tới việc cổ đông lớn lạm dụng khi ban hành điều lệ, quy tắc quản trị không bảo đảm quyền của CĐTS

Nhiệm vụ nghiên cứu so sánh quy định của Việt Nam với Nhật và Mỹ sẽ làm

rõ một số vấn đề sự tương đồng và khác biệt về bảo vệ CĐTS cũng như trách nhiệm bảo vệ quyền lợi của CĐTS từ phía bộ máy quản trị công ty và những người quản lý

Trên cơ sở các giả thuyết trên, một số câu hỏi nghiên cứu được đặt ra như sau

Câu hỏi 1 Quan niệm về CĐTS và nội dung bảo vệ các quyền của CĐTS Câu hỏi 2 Các phương thức bảo vệ quyền của CĐTS ở Việt Nam và các nước

Trang 33

bao gồm các phương thức chủ yếu nào?

Câu hỏi 3 Cơ chế quản trị công ty, quyền của cổ đông và nghĩa vụ của người quản lý, đại diện công ty tại các nước như Anh, Mỹ và phương Tây nói chung dựa trên những quan điểm lý luận, học thuyết nào?

Câu hỏi 4 Các quyền của CĐTS trong mối quan hệ với CĐL được pháp luật điều chỉnh như thế nào tại Việt Nam, Nhật Bản và Hoa Kỳ

Câu hỏi 5 Trách nhiệm của người quản lý công ty trong việc bảo đảm quyền lợi của CĐTS theo pháp luật, quy tắc quản trị nội bộ công ty tại Việt Nam có những điểm tương đồng và khác biệt gì so với Nhật Bản và Hoa Kỳ

Kết quả nghiên cứu cụ thể

- Làm rõ các quan niệm về CĐTS và quyền của CĐTS được pháp luật bảo vệ trong cơ chế quản trị công ty

- Các phương thức bảo vệ quyền của CĐTS ở Việt Nam và các nước bao gồm phương thức chủ yếu như: BVCĐTS theo chức năng cơ quan quản lý và cơ quan có chức năng chuyên trách thực hiện; theo phương thức tự bảo vệ và thực hiện các quyền

mà pháp luật cho phép CĐTS thực hiện; theo phương thức BVCĐTS do người quản

lý công ty ty thực hiện với tư cách là người đại diện, nhận sự ủy thác từ các cổ đông;

- Cơ chế quản trị công ty, quyền của cổ đông và nghĩa vụ của người đại diện công ty tại các nước phát triển Phương Tây dựa trên những quan điểm của một số thuyết quan trọng, chủ yếu như: Học thuyết đại diện (Theory Agency), Thuyết quản gia, Thuyết lợi ích cổ đông công ty Đó cũng là cơ sở đề xây dựng phương thức quản trị công ty, xác định nghĩa vụ của những người quản lý trong việc bảo vệ quyền của CĐTS

- Các quyền của CĐTS trong mối quan hệ với CĐL và người quản lý được pháp luật điều chỉnh bởi các quy định mang tính bắt buộc, tuy nhiên cũng có cơ chế cho công ty tự lựa chọn việc áp dụng hoặc phải giải trình lý do nếu không muốn áp dụng các nguyên tắc QTCT do Nhà nước ban hành (Nhật Bản và Hoa Kỳ)

- Quy định về trách nhiệm của người quản lý công ty trong việc bảo đảm quyền lợi của CĐTS theo pháp luật, điều lệ công ty ở Việt Nam có một số điểm tương đồng mang tính nguyên tắc chung, nhưng cũng có nhiều khác biệt, chưa có sự giải thích rõ ràng về nghĩa vụ cẩn trọng, trung thành và cơ chế giám sát đối với người quản lý công

ty so với Nhật Bản và Hoa Kỳ

Trang 34

1.4 Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

1.4.1 Cơ sở lý thuyết: Luận án được thực hiện trên cơ sở Học thuyết Mác –

Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật Ngoài ra, lý thuyết nghiên cứu được xem xét tham khảo vận dụng như: Thuyết đại diện (Agency theory), Thuyết lợi ích của cổ đông, Thuyết lợi ích của các bên liên quan và một số quan điểm lý luận khác có liên quan trực tiếp đến vấn đề bảo vệ quyền của cổ đông thiểu số trong công

ty cổ phần

1.4.2 Phương pháp nghiên cứu: Để nghiên cứu các vấn đề bảo vệ quyền

của CĐTS với các mục tiêu và tiêu chí so sánh về (i) các quyền của CĐTS và những

vi phạm quyền CĐTS trong quá trình hoạt động của công ty; (ii) về trách nhiệm nghĩa vụ của NQL trong việc bảo đảm quyền lợi cho các CĐTS, Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu truyền thống như sau: Phương pháp phân tích và tổng hợp; phương pháp nghiên cứu so sánh; phương pháp nghiên cứu gián tiếp thông qua phân tích tổng hợp các tài liệu đã có, qua dữ liệu thứ cấp; phương pháp lịch sử cụ thể

Trong quá trình sử dụng các phương pháp nghiên nêu trên, tại Chương 3 của Luận án vận dụng phương pháp nghiên cứu so sánh Thông qua so sánh pháp luật Việt Nam với các nước Nhật, Mỹ, tác giả triển khai nghiên cứu với phạm vi các tiêu chí so sánh được xây dựng căn cứ theo nội dung các nguyên tắc quản trị công ty do OECD ban hành

Việc xác lập tiêu chí so sánh về các biện pháp, phương thức bảo vệ quyền của CĐTS có mối quan hệ chặt chẽ với cơ chế quản trị nội bộ công ty cũng như pháp luật

và nguyên tắc QTCT Tổ chức Hợp tác phát triển kinh tế - OECD năm 1999 đã ban hành Bộ quy tắc quản trị công ty Theo đó khuyến nghị việc áp dụng các nguyên tắc bảo đảm quyền cơ bản của cổ đông, cũng như việc đối xử công bằng và trách nhiệm của HĐQT, người quản lý công ty… Tổ chức OECD cũng đưa ra các nguyên tắc yêu cầu công khai, minh bạch của công ty và tăng cường tiếp cận thông tin của cổ đông; bảo đảm kiểm soát các giao dịch của những cổ đông lớn và người quản lý công ty Đây là biện pháp nhằm phòng ngừa sự lạm dụng vị trí của người quản lý, điều hành

để có giao dịch vì mục đích tư lợi, gây ra những thiệt hại cho cổ đông thiểu số và công ty Nhìn chung, cơ chế quản trị công ty có vai trò nền tảng cho hoạt động bảo

vệ cổ đông thiểu số, tuy nhiên để phát huy hiệu quả của cơ chế này thì đòi hỏi mỗi

Trang 35

nhà nước cần có sự nghiên cứu, ban hành các quy định đồng bộ về mặt pháp lý cho

bộ máy quản lý, điều hành của công ty hoạt động vì lợi tốt nhất của các cổ đông

Như vậy, để có cơ sở làm căn cứ đối chiếu pháp luật BVCĐTS giữa các nước cần dựa vào những tiêu chí, chuẩn mực chung về QTCT tốt, đặc biệt là các nguyên tắc QTCT của OECD đã ban hành Các tiêu chí để đối chiếu so sánh cơ chế BVCĐTS giữa Việt Nam với Nhật Bản và Hoa Kỳ cũng sẽ thực hiện theo nội dung các nguyên tắc QTCT của OECD, trong đó, trọng tâm nghiên cứu là nội dung 02 nguyên tắc về bảo đảm quyền cơ bản của cổ đông và trách nhiệm của HĐQT sẽ được sử dụng làm tiêu chí so sánh trong phần tiếp theo của Luận án

Tiêu chí so sánh về quyền của CĐTS; về trách nhiệm của những người quản

lý công ty trong việc đảm bảo quyền của cổ đông thiểu số, nội dung như sau:

Thứ nhất, các quyền của CĐTS và những vi phạm quyền của CĐTS trong quá trình hoạt động của công ty Để bảo vệ cổ đông thiểu số, vấn đề đặt ra là xác

định rõ những hạn chế trong các quy định pháp luật về tổ chức, quản trị điều hành công ty, trong đó đặc biệt cần xem xét các quy định pháp luật, quy tắc quản trị nội

bộ và các quy chế, điều lệ của công ty liên quan đến cơ chế vận hành bộ máy, chức năng nhiệm vụ của ĐHCĐ, HĐQT, BKS và trách nhiệm, nghĩa vụ của giám đốc và những người có vai trò quản lý trong công ty Thông qua xem xét những quy định pháp luật về các vấn đề này nhằm đánh giá vai trò hiệu quả bảo vệ các quyền của

Ngoài việc đánh giá việc BVCĐTS theo 02 tiêu chí chủ yếu nêu trên Luận án

sẽ xem xét thêm các yếu tố khác làm cơ sở đánh giá bổ sung như: Mô hình cấu trúc

bộ máy quản trị công ty; Cơ chế giám sát, đánh giá hiệu quả hoạt động người quản lý công ty trong BVCĐTS Qua việc đối chiếu so sánh theo các tiêu chí BVCĐTS trong

cơ chế quản trị nội bộ công ty sẽ làm rõ những điểm tương đồng và khác biệt về pháp luật bảo vệ CĐTS của Việt Nam so với Nhật Bản và Hoa Kỳ

Trang 36

Kết luận Chương 1

Qua xem xét tổng quan, Chương 1 khái quát những kết quả nghiên cứu về cơ

sở lý luận, pháp luật thực định cho đến giải pháp hoàn thiện pháp luật

Kết quả các công trình nghiên cứu đã nêu lên những bất cập của pháp luật và thực tiễn Việt Nam, tuy chưa có sự so sánh mang tính hệ thống với thực tiễn pháp luật Nhật Bản và Hoa Kỳ; cũng như chưa chỉ rõ được sự tương đồng và khác biệt giữa Việt Nam và các nước Cụ thể bao gồm:

Về tình hình nghiên cứu: những vấn đề lý luận và thực tiễn về bảo vệ quyền

CĐTS của công ty là chủ đề được các nhà khoa học trên thế giới rất quan tâm, nhiều các nghiên cứu đã nhấn mạnh tới vai trò quan trọng của pháp luật trong việc bảo vệ

cổ đông công ty

Các công trình khoa học tập trung nghiên cứu các khía cạnh như: sở hữu công

ty, về cơ chế pháp luật BVCĐTS và quan hệ giữa ủy thác của cổ đông với những NQL công ty Các nước Anh, Mỹ phát triển lý luận Thuyết đại diện, xác định quan hệ của CĐTS với người quản lý và cổ đông lớn

Sự tách bạch giữa quyền sở hữu của cổ đông và việc quản lý, điều hành công

ty do thành viên HĐQT, giám đốc và những người đại diện khác thực hiện là một vấn

đề trọng tâm của QTCT công ty Vấn đề đặt ra, cần có sự giám sát bằng quy tắc và chuẩn mực quản trị đối với đại diện để họ làm tròn trách nhiệm cẩn trọng, trung thành

và nghĩa vụ được cổ đông ủy thác

Tình hình nghiên cứu trong nước: Hệ thống hóa các công trình nghiên cứu

trong nước về lý luận và thực tiễn của pháp luật về bảo vệ CĐTS, cơ chế bảo vệ cổ đông, kết quả cho thấy:

Về biện pháp bảo vệ cổ đông, các nghiên cứu đưa ra một số nhóm biện pháp

chủ yếu: Bảo vệ cổ đông bằng pháp luật, tổ chức thực thi pháp luật; bảo vệ bằng cơ chế nội bộ - tự điều chỉnh bằng điều lệ công ty, bằng các quy tắc đạo đức, chuyên môn… Bên cạnh đó, còn biện pháp khác: cổ đông tự thực hiện các quyền của mình, tiến hành khởi kiện người quản lý; đề nghị các hiệp hội cổ đông đại diện và bảo vệ quyền lợi cho mình

Về các quyền cơ bản của cổ đông, trên cơ sở Luật doanh nghiệp, các nghiên

cứu đã phân loại bao gồm 04 nhóm quyền chủ yếu: Bao gồm quyền về tài sản, quyền

Trang 37

quản trị công ty, quyền tiếp cận thông tin và quyền khởi kiện - quyền phục hồi quyền lợi của cổ đông

Về kết quả nghiên cứu về BVCÐTS được Luận án kế thừa và tiếp tục nghiên cứu

Các công trình nghiên cứu so sánh (đặc biệt là ở Mỹ và Châu Âu) đã đề cập

và phân tích cơ sở lý luận của việc bảo vệ cổ đông thiểu số của công ty trên cơ sở các

lý thuyết về đại diện Kết quả nghiên cứu so sánh về cơ chế xử lý xung đột lợi ích của công ty và bảo vệ cổ đông cho rằng, có sự thu hẹp đáng kể về khoảng cách, sự khác biệt về mặt quy định bảo vệ cổ đông trong pháp luật Anh – Mỹ so với các nước Đức,

Ý, Pháp và Nhật Bản (Tác giả Đại học Havard - Rainier R Kraakman, The Anatomy

of Corporate Law: A Comparative and Functional Approach)

Cụ thể, các nước thuộc hệ thống án lệ và các nước thuộc hệ thống Civil law đều đưa ra các quy định tiêu chuẩn, yêu cầu bắt buộc để các công ty và nhà đầu tư –

cổ đông được gia nhập và rút khỏi thị trường (tiêu chí về minh bạch, kiểm soát thông tin, về tiêu chuẩn cổ phiếu giao dịch; chuẩn mực QTCT)

Một điểm khác biệt nữa, các nước thuộc hai hệ thống pháp luật này có sự chú trọng đầu tư các nguồn lực cho các cơ quan quản lý và thi hành pháp luật về bảo vệ nhà đầu tư Nếu như Anh – Mỹ tăng cường vai trò thực thi pháp luật, xử lý nghiêm

và kịp thời các vụ kiện về thiệt hại do NQL gây ra không khác gì việc Nhà nước chủ động truy cứu các vụ hình sự Trong khi đó các nước Đức, Ý, Pháp, Nhật Bản cũng

có sự tập trung nguồn lực tương tự Anh - Mỹ để tăng cường trách nhiệm các cơ quan thi hành pháp luật và việc xử lý mạnh về hình sự hơn

Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam cũng đã bước đầu nghiên cứu so sánh với pháp luật Nhật Bản và Hoa Kỳ; phân tích một số vụ việc cụ thể về tranh chấp, xung đột giữa các cổ đông và đề xuất giải pháp bảo vệ một số quyền của CĐTS

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu ở nước ngoài (chủ yếu là Nhật Bản, Hoa Kỳ và châu Âu) đã cung cấp phương pháp và cách tiếp cận có tính hệ thống tổng thể về quan niệm bảo vệ cổ đông thiểu số của công ty trong pháp luật các nước và khái niệm bảo vệ cổ đông thiêu số dưới góc độ so sánh

Về các vấn đề chưa được nghiên cứu hoặc chưa làm rõ sẽ được Luận án tiếp tục xem xét

- Quan niệm cổ đông thiểu số của công ty cổ phần ở Việt Nam và các nước

Trang 38

mặc dù đã có một số công trình nghiên cứu; tuy nhiên chưa có sự nghiên cứu so sánh, đối chiếu mang tính hệ thống với Nhật Bản, Hoa Kỳ

- Mối quan hệ giữa cổ đông và người quản lý công ty, xét ở khía cạnh quan hệ giữa chủ sở hữu và người quản lý, đại diện - có vai trò bảo vệ quyền của cổ đông, cổ đông thiểu số; việc quyền lợi của cổ đông thiểu số dễ bị vi phạm, xâm hại từ cổ đông lớn cũng như NQL công ty và chủ thể khác

- Trách nhiệm bảo đảm từ phía công ty và người quản lý đối với quyền lợi của CĐTS; mối quan hệ ủy thác, đại diện giữa HĐQT, giám đốc và những người quản lý với CĐTS được pháp luật quy định, bổ sung bằng điều lệ, quy chế nội bộ công ty

- Pháp luật bảo vệ cổ đông thiểu số ở Việt Nam chưa được nghiên cứu so sánh

có tính hệ thống (về quan hệ giữa cổ đông và người quản lý công ty, xét ở khía cạnh quan hệ giữa chủ sở hữu và người quản lý, đại diện)

Về cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết: Luận án được thực hiện trên cơ sở Học thuyết Mác – Lênin

và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật Ngoài ra, lý thuyết nghiên cứu được xem xét tham khảo vận dụng như: Thuyết đại diện (Agency theory), Thuyết lợi ích của cổ đông, Thuyết lợi ích của các bên liên quan và một số quan điểm lý luận khác có liên quan trực tiếp đến vấn đề bảo vệ quyền của cổ đông thiểu số trong công

ty cổ phần

Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu như sau:

Trong các Chương 1 và Chương 2 của Luận án sử dụng chủ yếu các phương pháp tổng hợp, phân tích; phương pháp nghiên cứu gián tiếp - tổng hợp các tài liệu Chương 3 của Luận án vận dụng trọng tâm là phương pháp nghiên cứu so sánh bên cạnh các phương pháp nghiên cứu truyền thống khác như phân tích, thống kê, tổng hợp Thông qua so sánh, đối chiếu pháp luật Việt Nam với các nước Nhật, Mỹ, tác giả triển khai nghiên cứu với phạm vi các tiêu chí so sánh được xây dựng căn cứ theo nội dung các nguyên tắc quản trị công ty do OECD ban hành

Các tiêu chí để đối chiếu so sánh cơ chế BVCĐTS giữa Việt Nam với Nhật Bản

và Hoa Kỳ: thực hiện theo nội dung các nguyên tắc QTCT của OECD, với 02 nguyên

tắc về bảo đảm quyền cơ bản của cổ đông và trách nhiệm của HĐQT được sử dụng

làm tiêu chí so sánh chủ yếu của Luận án Thứ nhất, các quyền của CĐTS, những vi

Trang 39

phạm quyền của CĐTS trong công ty Thứ hai, về trách nhiệm nghĩa vụ của NQL trong việc bảo đảm quyền CĐTS Xem xét quy định nghĩa vụ trung thành, cẩn trọng

của người quản lý công ty; trách nhiệm thực hiện cơ chế bảo vệ đối với quyền cổ đông - bảo đảm công bằng trong đối xử giữa các cổ đông

Ngoài các tiêu chí nêu trên, Luận án xem xét các yếu tố khác bổ sung như: Mô hình cấu trúc bộ máy quản trị công ty; Cơ chế giám sát, đánh giá hiệu quả hoạt động người quản lý công ty trong BVCĐTS

Phần tổng quan đã cho thấy những điểm khái quát về bảo vệ CĐTS, bao gồm những nghiên cứu về cơ sở lý luận, pháp luật thực định cho đến giải pháp hoàn thiện pháp luật

Qua kết quả nghiên cứu tổng quan kết quả nghiên cứu trong nước và quốc tế, Luận án tiếp tục phân tích, nghiên cứu so sánh về thực tiễn pháp luật Nhật Bản và Hoa Kỳ, làm rõ những điểm tương đồng và khác biệt giữa Việt Nam và các nước nêu trên và đề xuất hoàn thiện pháp luật nước ta

Trang 40

CHƯƠNG 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ CỔ ĐÔNG

THIỂU SỐ CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN Ở VIỆT NAM

2.1 Khái quát về bảo vệ cổ đông thiểu số

2.1.1 Quan niệm về cổ đông thiểu số

Hiện nay, các nghiên cứu về cổ đông thiểu số tập trung ở phạm vi nội dung của quy định pháp luật và quan điểm trong các công trình nghiên cứu của các nhà luật học, kinh tế học

Trước hết cổ đông thiểu số là những chủ thể có địa vị pháp lý bình đẳng như những cổ đông phổ thông của công ty, tuy nhiên xét về bản chất thì cổ đông thiểu số

có đặc trưng của chủ thể có vai trò yếu thế trong quan hệ với các cổ đông lớn của công ty cổ phần Lý do yếu thế của cổ đông thiểu số xuất phát từ việc họ sở hữu tỷ lệ nhỏ cổ phần có quyền biểu quyết của công ty và do vậy với quyền biểu quyết thiểu số đã thể hiện rõ đặc điểm cổ đông thiểu số là không có khả năng chi phối và kiểm soát công ty

Về cổ đông thiểu số ở Việt Nam

Pháp luật không có quy định mang tính định nghĩa về CĐTS, tuy nhiên có một số quy định bước đầu tạo lập nguyên tắc pháp lý trong việc bảo vệ cổ đông sở hữu ít

cổ phiếu, cổ đông nhở có tỷ lệ sở hữu 1%, 5%, 10% tại Luật Doanh nghiệp 2014 Mặc dù pháp luật chưa đưa ra định nghĩa về cổ đông thiểu số, tuy nhiên có quy định

về cổ đông phổ thông là người sở hữu cổ phần phổ thông và cổ đông ưu đãi là người

sở hữu cổ phần ưu đãi (Đ113 LND 2014) Còn Luật Chứng khoán 2006 (LCK 2006) cũng không đưa ra định nghĩa về cổ đông thiểu số nhưng lại có định nghĩa về cổ đông lớn là “cổ đông sở hữu trực tiếp và gián tiếp từ 5 % trở lên số cổ phiếu có quyền biểu quyết của tổ chức phát hành”

Qua quy định của LCK 2006 cũng có thể suy luận là 5% được coi là ngưỡng tối thiểu thấp nhất để trở thành cổ đông lớn, cá nhân, tổ chức nào sở hữu tỷ lệ cổ phiếu từ 5% trở lên sẽ không bị xem là cổ đông nhỏ của công ty cổ phần Liệu cổ đông nhỏ, cổ đông thiểu số có thể được hiểu là cổ đông nắm giữ từ dưới 5% trở xuống số cổ phiếu có quyền biểu quyết hay không? Đây là vần đề cần xem xét tiếp về mặt quan điểm khoa học tại nước ta, xem xét đặc điểm của cổ đông thiểu số trong mối

Ngày đăng: 06/06/2018, 18:05

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w