Giải pháp hoàn thiện công tác đảm bảo tiền vay tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển - Việt Nam chi nhánh Đông Đô – Hà Nội
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, quan hệ thương mại và giao lưuquốc tế ngày càng phát triển, đang đặt ra những đòi hỏi và thách thức mới đốivới nền kinh tế nói chung và đối với Ngân hàng thương mại Việt Nam nói riêng.Trong bối cảnh nâng cao năng lực cạnh tranh trên trường quốc tế của mỗi quốcgia, Ngân hàng luôn là một trong các tổ chức tài chính hết sức quan trọng trongmột nền kinh tế Đối với các Ngân hàng thương mại lại càng có một vị trí, vaitrò hết sức quan trọng, như một bà đỡ và là huyết mạch, là nơi cung cấp nguồnvốn đầu tư cho hoạt động sản xuất của mọi thành phần kinh tế Tuy nhiên, hoạtđộng kinh doanh của ngân hàng thương mại luôn phải đối mặt với nhiều rủi ro,đặc biệt là rủi ro tín dụng Do đó, để hạn chế tình trạng này và nâng cao chấtlượng của hoạt động tín dụng thì các ngân hạng thương mại cần hết sức coi
trọng vấn đề Bảo đảm tiền vay.
Để các NHTM Việt Nam tăng cường sức cạnh tranh và hội nhập quốc tếthành công, việc xử lý và vận dụng linh hoạt các biện pháp bảo đảm tiền vaygóp phần hạn chế rủi ro tín dụng nhưng vẫn bảo đảm hiệu quả kinh doanh có ýnghĩa quan trọng đến sự tồn tại và phát triển của Ngân hàng Chính vì lẽ đó em
chọn đề tài: “Giải pháp hoàn thiện công tác đảm bảo tiền vay tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển - Việt Nam chi nhánh Đông Đô – Hà Nội” làm đề tài
cùng luận văn tốt nghiệp
Ngoài lời nói đầu và kết luận, luận văn được chia thành 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về đảm bảo tiền vay tại Ngân hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng công tác bảo đảm tiền vay tại Ngân hàng Đầu tư và phát triển-Việt Nam chi nhánh Đông Đô – Hà Nội
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác đảm bảo tiền vay tại NH ĐT&PT – Việt Nam chi nhánh Đông Đô – Hà Nội
Trang 2CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ BẢO ĐẢM TIỀN VAY CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
I Một số vấn đề chung về bảo đảm tiền vay trong hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại
1. Khái niệm cho vay có bảo đảm bằng tài sản
Trong nền kinh tế thị trường phát triển hiện nay, sức cạnh tranh gay gắt cũngnhư môi trường kinh doanh thường xuyên biến động làm cho bất cứ một cá nhân
tổ chức nào khi tham gia vào đều phải đối mặt với những rủi ro, đặc biệt là các
Ngân hàng thương mại – Tổ chức kinh doanh tiền tệ và là trung gian tài chính quan trọng nhất của nền kinh tế Chính vì vậy, các Ngân hàng thương mại khi
cho vay luôn phải có các biện pháp để giảm thiểu rủi ro cho mình Thôngthường, để bảo vệ lợi ích của mình, các ngân hàng yêu cầu người đi vay phải cóbảo đảm cần thiết, ngoại trừ những khách hàng hoạt động tốt và có quan hệ tíndụng, là cơ sở pháp lý cũng như cơ sở kinh tế cho việc thu hồi các khoản tiềnvay Biện pháp phổ biến mà ngân hàng thường hay áp dụng là cho vay có bảođảm bằng tài sản
Cho vay có bảo đảm bằng tài sản là việc cho vay vốn của tổ chức tín dụng
mà theo đó nghĩa vụ trả nợ của khách hàng vay được cam kết bảo đảm thực hiện bằng tài sản cầm cố, thế chấp, tài sản hình thành từ vốn vay của khách hàng vay hoặc bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba.
Tài sản bảo đảm vay là tài sản của khách hàng vay, của bên bảo lãnh để bảođảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ, bao gồm: tài sản thuộc quyền sở hữu, giá trịquyền sử dụng đất của khách hàng vay, của bên bảo lãnh; tài sản thuộc quyềnquản lý, sử dụng của khách hàng vay, của bên bảo lãnh là doanh nghiệp nhànước; tài sản hình thành từ vốn vay
2 Sự cần thiết của bảo đảm tiền vay.
Hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại trong nền kinh tế mang tầmquan trọng ví như hệ thống mạch máu trong cơ thể Do đó một nền kinh tế phát
Trang 3triển khi có một thị trường tài chính nói chung và một hệ thông ngân hàng nóiriêng hoạt động vững mạnh Song có một thực thể hiển nhiên là rủi ro luôn luôntồn tại song hành và thường trực trong hoạt động kinh doanh của ngân hàngthương mại, gây tác động mạnh và ảnh hưởng sâu sắc đến toàn bộ nền kinh tế.
Và theo thống kê thì trong hoạt động của ngân hạng thương mại, rủi ro tín dụngchiếm một tỷ trọng lớn và cũng chính doanh thu từ hoạt động tín dụng là mộttrong những nguồn thu chủ yếu của ngân hàng
Bàn về rủi ro tín dụng các nhà chuyên môn lý giải đó là sự xuất hiện củanhững yếu tố không bình thường trong quan hệ tín dụng, gây hậu quả xấu đếnhoạt động của ngân hàng như thiệt hại về tài sản, ảnh hưởng đến thu nhập củangân hàng, rộng hơn nữa là tác động tiêu cực đến nền kinh tế Thông thường rủi
ro tín dụng được thể hiện dưới hình thức rủi ro mất vốn và rủi ro tồn đọng vốn:Rủi ro mất vốn là việc ngân hàng cho vay nhưng không thu hồi được nợ hoặcchỉ thu hồi được một phần, còn rủi ro đọng vốn là khách hàng chậm trễ trongviệc trả nợ khi khoản nợ đến hạn Cho nên có thể nói rủi ro tín dụng chính là lỗi
ám ảnh và là mối đe dọa hàng đầu của ngân hàng thương mại Chính vì thế antoàn vốn là sự cần thiết khách quan quyết định sự thành bại của một ngân hàng.Việc phát hiện ra các nguyên nhân chính dẫn đến rủi ro sau sẽ phần nào giúpngân hàng tìm ra những biện pháp rào chắn hữu hiệu nhất:
- Thứ nhất, là những nguyên nhân thuộc về chủ quan của khách hàng vayvốn Khi khách hàng vay mà có trình độ yếu kém về quản lý, kinh doanh, cũngnhư không nhạy bén về tình hình biến động của nền kinh tế - xã hội thì rất cókhả năng việc sử dụng món vay sẽ không đạt được hiệu quả như mong muốn.Mặc dù ý chí trả nợ của khách hàng là sẵn sàng, nhưng tình hình kinh doanhkhông mang lại lợi nhuận cũng sẽ dẫn đến tình trạng khách hàng không thể trảđược nợ vay đầy đủ cả gốc lẫn lãi khi đến hạn Ngoài ra, cũng còn một số kháchhàng cố ý chây ỳ, có ý định không trả nợ, hoặc chủ định lừa đảo cán bộ ngânhàng nhằm sử dụng tiền vay phục vụ cho lợi ích cá nhân
- Thứ hai, là những nguyên nhân bất khả kháng tác động đến người vay làmcho họ không có khả năng thanh toán cho ngân hàng Đây chính là những tác
Trang 4động bất lợi của môi trường kinh tế, chính trị xã hội, môi trường pháp lý và môitrường tự nhiên đến hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng Nhữngnguyên nhân này có thể là sự thay đổi của chính phủ trong chính sách phát triểnkinh tế, xã hội, sự biến động của chính trị trong nước tại thời điểm khách hàngvay vốn hay như chiến tranh, thiên tai, dịch họa xảy ra bất ngờ đều có thể làmcho hoạt động sản xuất kinh doanh của người vay bị ngừng trệ, hay thất bại màkhông được dự tính trước Nếu ảnh hưởng đến người vay là nặng nề thì khảnăng trả được nợ vay của họ là rất ít.
- Một nguyên nhân quan trọng nữa là những nguyên nhân thuộc về chính bảnthân ngân hàng Các cán bộ tín dụng chính là người đề xuất các quyết định chovay, là người trực tiếp tham gia xây dựng và ký kết hợp đồng tín dụng Nhữngđánh giá của cán bộ tín dụng chính là cơ sở đầu tiên để ra quyết định cho vay.Nếu chất lượng cán bộ tín dụng kém, không đủ trình độ đánh giá khách hànghoặc đánh giá không đúng về khách hàng hoặc cố tình làm sai tiếp tay chokhách hàng gian lận, thì chính là nguyên nhân đầu tiên dẫn đến rủi ro tín dụng
Từ những nguyên nhân trên, chúng ta thừa nhận là chỉ có thể phòng ngừachứ không thể loại trừ được rủi ro tín dụng có thể xảy ra Một trong những biênpháp phòng ngừa được áp dụng trong những khâu đầu tiên của quá trình chovay, đó là sử dụng hợp đồng tín dụng để bảo đảm tiền vay Một khi hợp đồng tíndụng được ký kết, đó mới là cơ sở pháp lý để ngân hàng có thể thu hồi nợ, hoặcgiảm thiểu những tổn thất, nếu khách hàng vay có khó khăn trong việc trả nợ.Ngoài mục đích sử dụng các biện pháp để bảo đảm tiền vay phòng ngừa rủi rothì việc ngân hàng sử dụng hợp đồng tín dụng còn nhằm nâng cao trách nhiệmthực hiện cam kết của khách hàng vay đối với khoản vay Chính vì lẽ đó, bảođảm tiền vay đóng một vai trò vô cùng quan trọng đối với các ngân hàng thươngmại, khách hàng vay vốn và đối với toàn bộ nền kinh tế, đặc biệt trong việc tạolập quan hệ giữa khách hàng và ngân hàng, giúp các tổ chức tín dụng phòngngừa và hạn chế rủi ro, đảm bảo an toàn vốn trong hoạt động kinh doanh Việcvận dụng linh hoạt các biện pháp bảo đảm tiền vay là một đòi hỏi tất yếu kháchquan đối với cán bộ ngân hàng nhằm giảm thiểu rủi ro, tạo điều kiện cho hoạt
Trang 5động tín dụng phát triển, nâng cao uy tín của ngân hàng và tăng cường sức mạnhcạnh tranh của ngân hàng thương mại.
3 Đặc trưng của bảo đảm tiền vay.
Nhìn chung, bất cứ tài sản hoặc quyền sở hữu về tài sản được phép giao dịch
mà có khả năng tạo ra lưu chuyển tiền tệ đều có thể dùng làm đảm bảo Tuynhiên, dưới góc độ của người cho vay thì tài sản bảo đảm tiền vay phải thể hiệnđược các đặc trưng sau:
Thứ nhất: Giá trị của tài sản đảm bảo tiền vay tối thiểu phải lớn hơn nghĩa vụ
được bảo đảm, TCTD quyết định mức cho vay trong phạm vi giới hạn giá trị tàisản bảo đảm tiền vay và phạm vi thực hiện nghĩa vụ đã được xác định Bởi vìviệc thực hiện các phương thức cho vay có bảo đảm không chỉ nhằm đảm bảonguồn thu nợ mà còn có ý nghĩa quan trọng trong việc ràng buộc trách nhiệmvật chất, thúc giục người vay phải sử dụng vốn vay hiệu quả để có thể trả nợngân hàng đúng thời hạn qui định Chỉ khi trả hết nợ cho NH thì người vay mới
có thể được nhận lại tài sản của mình Chính vì vậy nếu giá trị tài sản bảo đảmtiền vay nhỏ hơn nghĩa vụ được bảo đảm thì sẽ mất ý nghĩa và tác dụng của tàisản bảo đảm tiền vay, người đi vay dễ nảy sinh động cơ không trả nợ, gây rấtnhiều khó khăn cho hoạt động của các NHTM
Thứ hai: Tài sản đảm bảo tiền vay phải có tính thanh khoản (khả năng chuyển hóa thành tiền), dễ mua bán trao đổi trên thị trường Điều này rất quan
trọng vì mức độ thanh khoản của tài sản tác động trực tiếp đến lợi ích của ngườicho vay Nếu tài sản có tính thanh khoản cao, tài sản dễ mua bán chuyển nhượngtrên thị trường thì mức độ bảo đảm cao, ngược lại đối với tài sản có tính thanhkhoản trung bình hoặc thấp thì khi cho vay NH phải tính đến chi phí tăng thêm
để kéo dài thời gian xử lý
Thứ ba: Tài sản bảo đảm tiền vay phải có đầy đủ cơ sở pháp lý để cho người
vay (các TCTD) có quyền ưu tiên về xử lý tài sản bảo đảm
Đặc trưng này thể hiện qua các mặt sau:
- Tài sản phải thuộc quyền sở hữu hợp pháp của người vay, người bảo lãnh,hoặc thuộc quyền quản lý sử dụng của doanh nghiệp để thực hiện nghĩa vụ trả
Trang 6nợ, bao gồm: Tài sản thuộc quyền sở hữu, giá trị quyền sử dụng đất của kháchhàng vay, của bên bảo lãnh; tài sản thuộc quyền quản lý, sử dụng của kháchhàng vay, của bên bảo lãnh là doanh nghiệp nhà nước; tài sản hình thành từ vốnvay.
- Tài sản phải được pháp luật thừa nhận và không thuộc diện cấm giao dịch.Điều này đảm bảo cơ sở pháp lý trong việc chuyển giao tài sản từ người đi vaysang người cho vay, đồng thời tránh những rắc rối phát sinh khi xảy ra sự cố,bảo đảm để NH có quyền ưu tiên về xử lý tài sản nhằm thu hồi nợ khi người đivay không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ của mình
Tóm lại: Tài sản bảo đảm tiền vay vừa là nguồn thu nợ thứ hai, vừa có ý nghĩa
tác động đến việc sử dụng vốn vay và việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ của kháchhàng Một tài sản bảo đảm tiền vay có giá trị hiệu lực khi và chỉ khi nó có đầy
đủ các đặc trưng trên
4 Cơ sở pháp lý của bảo đảm tiền vay
a.Tài sản phải thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của khách hàng vay,bên bảo lãnh theo quy định của pháp luật
b Đối với tài sản của doanh nghiệp Nhà nước thì phải là tài sản do Nhànước giao cho doanh nghiệp đó quản lý, sử dụng và được dùng để bảo đảm tiềnvay theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp Nhà nước Còn đối với tài sảnkhác thì phải thuộc quyền sở hữu của khách hàng vay, bên bảo lãnh
c Trường hợp tài sản mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thìkhách hàng vay và bên bảo lãnh phải có giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản
d Tài sản được phép giao dịch, tài sản đảm bảo phải được pháp luật chophép chuyển nhượng hợp pháp Những tài sản nhà nước cấm kinh doanh, cấmmua bán, còn đang tranh chấp, niêm phong…không được dùng làm tài sản đảmbảo nợ vay đối với ngân hàng
e Tài sản mà pháp luật quy định phải mua bảo hiểm thì khách hàng vay vàbên bảo lãnh phải mua bảo hiểm trong thời hạn bảo đảm tiền vay và ngân hànggiữ bản chính bảo hiểm đó
Trang 7f. Tài sản đảm bảo phải có thị trường tiêu thụ để khi giải quyết xử lý tài sảnngân hàng có thể phát mại dễ dàng.
5 Nguyên tắc bảo đảm tiền vay
Theo qui định của pháp luật, NHTM có quyền lựa chọn và quyết định chovay có đảm bảo bằng tài sản hoặc cho vay không có bảo đảm bằng tài sản chịutrách nhiệm về quyết định của mình trước pháp luật
Về nguyên tắc: Khách hàng vay phải cầm cố, thế chấp tài sản hoặc phải đượcbên thứ ba bảo lãnh bằng tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối vớiTCTD, trừ trường hợp khách hàng được TCTD lựa chọn cho vay có bảo đảmbằng tài sản hình thành từ vốn vay hoặc cho vay không có bảo đảm bằng tài sản.TCTD và khách hàng vay vốn thỏa thuận lựa chọn áp dụng biện pháp bảođảm tài sản cầm cố thế chấp của khách hàng vay hoặc bảo đảm bằng tài sản củabên thứ ba TCTD có quyền lựa chọn tài sản đủ điều kiện để làm bảo đảm tiềnvay, lựa chọn bên thứ ba bảo lãnh bằng tài sản cho khách hàng vay Nhà nướcbảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp của các bên trong việc bảo đảm tiền vay
6 Các hình thức bảo đảm tiền vay.
6.1 Bảo đảm tiền vay bằng tài sản
6.1.1.Cầm cố, thế chấp bằng tài sản của khách hàng vay:
Ngoại trừ các công ty lớn và các khách hàng đã có uy tín với NH ra thì cáckhách hàng khi vay vốn NH đều yêu cầu có tài sản cầm cố, thế chấp bằng tài sảnnhằm mục tiêu:
Thứ nhất: Việc cầm cố, thế chấp tài sản ràng buộc người vay phải có tráchnhiệm và tích cực hơn trong việc thanh toán các khoản nợ của mình vì thôngthường khi cho vay, các NH chỉ cho vay số tiền nhỏ hơn giá trị tài sản bảo đảm.Thứ hai: Trong trường hợp xảy ra rủi ro, các NH có được nguồn trả nợ thứhai khi nguồn trả nợ thứ nhất là thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh củakhách hàng vay không đảm bảo trả nợ
Cầm cố tài sản
Trang 8“Cầm cố tài sản là việc khách hàng vay, bên thứ ba (gọi là bên cầm cố) giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho NHCV để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ”
Các tài sản cầm cố thường là:
- Máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, nguyên liệu, vật liệu, hàng tiêudùng, kim quý và các vật có giá trị khác; ngoại tệ bằng tiền mặt, số dư tài khoảntiền gửi tại các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán bằng tiền mặt Việt Nam vàngoại tệ
- Trái phiếu, cổ phiếu, tín phiếu, kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi, sổ tiết kiệm,thương phiếu và các giấy tờ có giá khác trị giá được bằng tiền
- Quyền tài sản phát sinh từ quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyềnđòi nợ, quyền nhận một số tiền bảo hiểm, quyền về tài sản khác phát sinh từ hợpđồng hoặc từ văn bản pháp lý khác
- Quyền khai thác tài nguyên thiên nhiên theo quy định của pháp luật
Thế chấp tài sản
“ Thế chấp tài sản là việc khách hàng vay, bên thứ ba ( gọi là bên thế chấp) dùng tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng đất của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với NHCV và không chuyển giao tài sản đó cho NHCV Các bên có thể thỏa thuận giao cho người thứ ba giữ tài sản thế chấp”.
Như vậy, muốn thế chấp tài sản thì trước hết khách hàng phải có quyền sởhữu tài sản đó Vì quyền sở hữu bao gồm ba quyền sau: Quyền chiếm hữu,quyền sử dụng và quyền định đoạt nên nhất thiết chủ sở hữu phải chứng minhđược quyến sở hữu của mình bằng những giấy tờ sở hữu hợp pháp để đảm bảoquyền ưu tiên trong xử lý tài sản sau này của bên cho vay trong trường hợp córủi ro xảy ra Tuy nhiên không phải bất cứ tài sản nào cũng có thể đem đi thếchấp mà nó phải một số điều kiện nhất định tùy thuộc vào quy định của phápluật và các quy định của NH
Nhiều tài sản của khách hàng trở thành tài sản đảm bảo cho các khoản vaycủa NH nhưng vẫn tham gia vào quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh Cáctài sản này NH không thể nhận cầm cố như: Máy móc, thiết bị, phương tiện vận
Trang 9tải, phương tiện chuyên dùng… mà phải bảo đảm bằng thế chấp, cho phép ngườivay được sử dụng tài sản bảo đảm phục vụ cho hoạt động kinh doanh của họ Đó
là một thuận lợi xong trong quá trình sử dụng rất có thể làm biến dạng hoặc làmgiảm giá trị tài sản, hơn nữa, do khả năng kiểm soát tài sản bảo đảm của ngânhàng bị hạn chế, khách hàng có thể lợi dụng để phân tán hoặc làm giảm giá trịtài sản đảm bảo
Những tài sản dùng để thế chấp
- Nhà ở, công trình xây dựng gắn liền với đất, các tài sản gắn liền với nhà ở,công trình xây dựng; giá trị quyền sử dụng đất theo quy định tại nghị định79/NĐ – CP ngày 01/11/2001 của Chính phủ
- Tàu biển theo quy định của luật Hàng Hải Việt Nam, tàu bay theo luật hàngkhông dân dụng Việt Nam trong trường hợp được thế chấp
- Các tài sản khác theo qui định của pháp luật
Trường hợp thế chấp tài sản có vật phụ thì vật phụ đó cũng thuộc tài sản thếchấp Trong trường hợp thế chấp một phần bất động sản có vật phụ, thì vật phụchỉ thuộc tài sản thế chấp nếu các bên có thỏa thuận
Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản thế chấp cũng thuộc tài sản thế chấp nếucác bên có thỏa thuận hoặc pháp luật quy định Trường hợp tài sản thế chấp cóbảo hiểm thì khoản tiền bảo hiểm cũng thuộc tài sản thế chấp
Còn lại những tài sản trái với qui định trên không được phép dùng để thế chấp
6.1.2 Bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba:
“Bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba là một hình thức bảo đảm tín dụng
mà trong đó bên thứ ba ( bên bảo lãnh) cam kết với TCTD cho vay về việc sử dụng tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của mình để thực hiện nghĩa vụ trả
nợ thay cho khách hàng vay, nếu đến hạn trả nợ mà khách hàng vay không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ”.
Như vậy, bên bảo lãnh chỉ được phép bảo đảm bằng tài sản thuộc quyền sởhữu hợp pháp của mình TCTD và bên bảo lãnh có thể thỏa thuận biện pháp cầm
cố, thế chấp tài sản của bên bảo lãnh để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh
Trang 10Khi nhận tài sản thế chấp, TCTD sẽ tiến hành kiểm tra tính hợp pháp, hợp lệcũng như các điều kiện của tài sản đảm bảo.
Khi xem xét và quyết định cho vay có tài sản bảo đảm của bên thứ ba, NHcần quan tâm đến các nguyên tắc bảo lãnh sau:
- Thứ nhất: Bên bảo lãnh thực hiện bảo lãnh một cách tự nguyện và chỉđược bảo lãnh bằng tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của mình
- Thứ hai: Mỗi lần bảo lãnh thì bên bảo lãnh phải phát hành thư bảo lãnh
- Thứ ba: NH cần xem xét kỹ lưỡng khả năng tài chính, tình trạng tài sản
và uy tín của bên bảo lãnh
6.1.3 Bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay:
“ Bảo đảm tiền vay bằng tài sản hình thành từ vốn vay là việc khách hàng dùng tài sản hình thành từ vốn vay để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho chính khoản vay đó đối với TCTD”.
Do đặc điểm của hình thức này là những tài sản đảm bảo chỉ được hình thànhsau khi khoản vay đã được chấp nhận, khi ký hợp đồng tín dụng thì tài sản bảođảm chưa được hình thành Vì vậy để áp dụng hình thức cho vay này thì kháchhàng vay và cả tài sản hình thành từ vốn vay phải đáp ứng một số điều kiện cụ thểsau:
Thứ nhất đối với khách hàng: Khách hàng phải có tín nhiệm cao với TCTD.
Có khả năng tài chính và có các nguồn thu hợp pháp để thực hiện nghĩa vụ trả
nợ Có dự án đầu tư, phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ khả thi và có hiệuquả, hoặc có dự án đầu tư, phương án phục vụ đời sống khả thi phù hợp với quiđịnh của pháp luật Có mức vốn tự có tham gia và dự án đầu tư hoặc phương ánsản xuất kinh doanh dịch vụ đời sống và giá trị tài sản đảm bảo tiền vay bằngbiện pháp cầm cố, thế chấp tối thiểu bằng 15% vốn đầu tư của dự án đó
Thứ hai đối với tài sản hình thành từ vốn vay: Tài sản được hình thành từ
vốn vay phải xác định được quyền sở hữu hoặc quyền quản lý sử dụng củakhách hàng vay, tài sản phải được phép giao dịch và không có tranh chấp Đốivới tài sản hình thành từ vốn vay là vật tư hàng hóa, thì ngoài việc phải có đủcác điều kiện trên thì khi cho vay ngân hàng phải có khả năng quản lý giám sát
Trang 11tài sản đảm bảo Đối với tài sản mà pháp luật có qui định phải mua bảo hiểm, thìkhách hàng khi vay phải cam kết mua bảo hiểm suốt thời hạn vay vốn khi tài sản
đã được hình thành và đưa vào sử dụng
Trên đây là những vấn đề cơ bản về cho vay có đảm bảo bằng tài sản hìnhthành từ vốn vay của NH Tuy nhiên, mức độ rủi ro khi cho vay theo hình thứcnày cao hơn cầm cố hoặc thế chấp bằng tài sản của khách hàng vay nên NHTMchỉ coi hình thức này như một biện pháp phòng ngừa rủi ro chứ không phải làmột nguyên tắc cấp tín dụng Khi cho vay theo hình thức này ngoài việc xét cácđiều kiện trên, NH còn phải xét đến uy tín trong các lần vay trước của kháchhàng
6.2 Đảm bảo tiền vay bằng tín chấp ( không có tài sản đảm bảo)
Ngân hàng thường áp dụng hình thức cho vay này đối với các khách hàng:
- Có tín nhiệm đối với NH ( khách hàng truyền thống ) quan hệ lâu dài vớiNgân hàng không có tồn đọng nợ quá hạn
- Có phương án sản xuất kinh doanh hiệu quả, dự án khả thi và phù hợp vớiqui định của pháp luật
- Cam đoan thực hiện biện pháp bảo đảm bằng tài sản theo yêu cầu của NHnếu sử dụng vốn vay không đúng cam kết trong hợp đồng tín dụng, cam kết trả
nợ trước hạn nếu không thực hiện được các biện pháp bảo đảm bằng tài sản quyđịnh tại điểm này
- Đối với khách hàng là doanh nghiệp ngoài các điều kiện trên phải có kếtquả kinh doanh có lãi trong hai năm liền kề với thời điểm xem xét cho vay.Đối với hình thức cho vay không có tài sản đảm bảo, các NH thường thựchiện dưới các hình thức:
NH chủ động lựa chọn hình thức cho vay không có bảo đảm bằngtài sản Hiện nay các NH có quyền quyết định việc cho vay có bảo đảm hoặckhông có bảo đảm bằng tài sản với điều kiện phải tuân theo các quy định củaChính phủ, NHNN và các bộ ngành liên quan Hình thức này tuy có nhiều rủi ronhưng lại phổ biến trong hoạt động tín dụng của các NHTM bởi vì sự đánh đổidoanh thu, lợi nhuận và tính mạo hiểm trong kinh doanh thường mang lại một
Trang 12lợi nhuận lớn Cùng với đó nếu một doanh nghiệp ( thường là doanh nghiệp lớn)nếu có dự án khả thi, hoạt động kinh doanh hiệu quả nếu chỉ vì lý do không cótài sản đảm bảo mà NH từ chối cho vay thì có nghĩa là NH đang tự thu hẹp hoạtđộng kinh doanh của mình Việc lựa chọn và áp dụng các biện pháp bảo đảmtiền vay phải linh hoạt và thích ứng với từng điều kiện cụ thể là một trong nhữngđiều kiện tiên quyết trong môi trường cạnh tranh mạnh mẽ như hiện nay
Cho vay theo chỉ định của Chính phủ Tổ chức cho vay theo hìnhthức đảm bảo bằng chỉ thị của Chính phủ đối với khách hàng vay để thực hiệncác dự án đầu tư thuộc chương trình kinh tế trọng điểm, đặc biệt của nhà nước,các chương trình kinh tế xã hội và đối với một số khách hàng thuộc đối tượngđược hưởng các chính sách tín dụng ưu đãi về điều kiện vay vốn theo quy địnhtại các văn bản qui phạm của Thủ tướng chính phủ
Bảo lãnh bằng tín chấp của tổ chức đoàn thể chính trị - Xã hội cho
cá nhân, hộ gia đình nghèo vay vốn Hình thức này là việc các tổ chức đoàn thểChính trị - Xã hội tại cơ sở bằng uy tín của mình bảo lãnh cho cá nhân, hộ giađình nghèo vay vốn tại NH để sản xuất kinh doanh và làm dịch vụ Tuy nhiênhình thức bảo lãnh này có hạn định về mức cho vay tối đa cho mỗi hộ gia đình ,
cá nhân nghèo và sẽ do NHNN Việt Nam qui định trong mỗi thời kỳ, hình thứcnày giúp NH mở rộng đối tượng cho vay trong điều kiện khách hàng không cótài sản bảo đảm Tạo điều kiện cho khách hàng có trong dự án, phương án sảnxuất kinh doanh, thúc đẩy nền phát triển nền kinh tế, cải thiện và nâng cao đờisống xã hội
7 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng đảm bảo tiền vay
7.1.Các nhân tố về môi trường.
Hoạt động bảo đảm tiền vay chịu ảnh hưởng rất nhiều bởi môi trường pháp lý
đó chính là các chủ trương, chính sách phát triển trong từng thời kỳ của Đảng vàNhà nước trong từng thời kỳ Các chính sách này sẽ quyết định sử dụng biệnpháp bảo đảm nào, các loại tài sản có khả năng dùng làm tài sản bảo đảm, cũngnhư cơ chế xử lý tài sản đó Nếu như hệ thống pháp luật về bảo đảm tiền vaycàng hoàn thiện, chặt chẽ sẽ tạo ra hành lang bảo đảm an toàn cho các quyết
Trang 13định của ngân hàng hơn , tránh việc lợi dụng các kẽ hở pháp luật của khách hàng
để lừa đảo ngân hàng Đồng thời, các qui định rõ ràng về mức ch vay đối với cácloại tài sản, danh mục tài sản dùng để đảm bảo, hay các qui tác cần thiết khithực hiện hợp đồng tín dụng sẽ giúp ngân hàng dễ dàng hơn trong việc ra quyếtđịnh cho vay, giảm bớt thời gian và tiền bạc trong thẩm định hay xác định loạitài sản dùng để bảo đảm
7.2 Các nhân tố từ phía ngân hàng.
Ngân hàng chính là người trực tiếp ra quyết định cho vay và sử dụng hìnhthức bảo đảm tiền vay đối với mỗi khách hàng, do đó bản thân ngân hàng sẽ làyếu tố đầu tiên ảnh hưởng đến công tác bảo đảm tiền vay Trong đó bao gồm rấtnhiều các yếu tố ảnh hưởng như:
- Chất lượng cán bộ tín dụng Cán bộ tín dụng chính là người đánh giá kháchhàng và cũng là người đề xuất các biện pháp bảo đảm tiền vay có thể áp dụng vớikhách hàng sau khi đã điều tra và thẩm định Nếu trình độ của cán bộ tín dụngkém sẽ đưa ra những quyết định sai lầm khi cho vay nên việc không đạt đượchiệu quả sẽ là rõ ràng Đội ngũ cán bộ tín dụng có trình độ chuyên môn, am hiểu
về pháp luật, có kiến thức và kinh nghiệm sẽ có khả năng phân tích khách hàngcũng như môi trường hoạt động của khách hàng tốt hay không, khách hàng cókhả năng trả nợ hay không,…giúp cho quá trình đưa ra quyết định là chính xác.Ngoài ra một cán bộ tín dụng giỏi là không đủ mà cần phải có đạo đức nghềnghiệp Đặc biệt trong hoạt động NH, đạo đức nghề nghiệp là rất cần thiết vì đốitượng kinh doanh của NH chính là tiền nên dễ nảy sinh các động cơ xấu Họ cóthể móc lối với khách hàng để lừa đảo ngân hàng Do đó, cán bộ ngân hàng đặcbiệt là các cán bộ tín dụng, thẩm định, những người trực tiếp ra quyết định vaycần phải có đạo đức nghề nghiệp để có thể đưa ra những quyết định mang lại hiệuquả kinh tế đối với ngân hàng
- Công tác thẩm định tài sản, hệ thống cung cấp thông tin tín dụng của NH
về khách hàng, bên bảo lãnh và tài sản đảm bảo Để đạt được hiệu quả trongcông tác bảo đảm tiền vay, ngân hàng cũng cần có một qui trình thẩm định tíndụng nói chung và thẩm định tài sản bảo đảm nói riêng phù hợp và khoa học
Trang 14Quá trình thẩm định là rất quan trọng, nó giúp ngân hàng thấy được điểm mạnh,điểm yếu của khách hàng, những mối quan hệ, khả năng tiềm ẩn lợi nhuận củakhách hàng từ đó giúp ngân hàng có quyết định đầu tư vào khách hàng haykhông Đối với những khoản vay có yêu cầu tài sản bảo đảm thì qui trình thẩmđịnh tài sản cũng đòi hỏi ngân hàng phải rất cẩn thận, có những đánh giá đúngmức về giá trị thị trường của tài sản bảo đảm Ngoài ra việc xây dựng một hệthống thu thập và xử lý thông tin khách hàng là cần thiết đối với ngân hàng.Thực hiện tốt các quy trình cho vay sẽ hạn chế được nhiều bất lợi xảy ra và đảmbảo được độ an toàn của vốn tín dụng.
Trong mỗi giai đoạn khác nhau, ngân hàng thường đặt ra các mục tiêu,chiến lược cụ thể Điều này cũng ảnh hưởng đến việc ngân hàng ra quyết địnhcho vay với đối tượng nào nhiều hơn, hay lựa chọn hình thức bảo đảm tiền vaynào là chủ yều trong thời kỳ đó Nếu ngân hàng muốn mở rộng tín dụng, nângcao cạnh tranh và tiếp cận khách hàng mục tiêu thì ngân hàng sẽ đưa ra nhữngchính sách tín dụng thông thoáng hơn, sử dụng các biện pháp bảo đảm tiền vaylinh hoạt phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh của khách hàng vay mà vẫn bảođảm được an toàn
7.3 Nhân tố từ phía khách hàng vay vốn
Khách hàng vay vốn là chủ thể thứ hai tham gia vào quan hệ tín dụng nêncũng gây ảnh hưởng đến kết quả bảo đảm tiền vay Tư cách đạo đức của kháchhàng có tính chất quyết định một phần hiệu quả bảo đảm tiền vay Bởi vì, ngânhàng thu thập thông tin về khách hàng chủ yếu là dựa vào sự cung cấp củakhách hàng Nếu khách hàng cố tình lừa đảo ngân hàng, cung cấp thông tin sailệch mà ngân hàng không kiểm tra được thì khả năng gặp phải rủi ro là rất cao,đồng thời cũng làm công tác bảo đảm tiền vay trở nên vô nghĩa Cũng có nhiềutrường hợp khách hàng lợi dụng các khe hở trong qui định về bảo đảm tiền vay
để gây khó khăn cho ngân hàng trong việc xử lý tài sản bảo đảm khiến cho việcthu hồi lại gốc và lãi của ngân hàng bị kéo dài Vì vậy, khách hàng có năng lựctài chính tốt, có uy tín, có năng lực kinh doanh và là người có tư cách đạo đứctốt thì công tác bảo đảm tiền vay dễ dàng đạt được hiệu quả tốt
Trang 15
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC BẢO ĐẢM TIỀN VAY TẠI NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN – VIỆT NAM CHI NHÁNH
ĐÔNG ĐÔ – HÀ NỘI
I Khái quát chung về Ngân hàng Đầu tư và phát triển – Việt Nam chi nhánh Đông Đô – Hà Nội
1 Lịch sử hình thành và quá trình phát triển của NH ĐT&PT – Việt Nam chi nhánh Đông Đô – Hà Nội
Chi nhánh BIDV Đông Đô Hà Nội được thành trên cơ sở nâng cấp phònggiao dịch 2 (14 Láng Hạ ), đi vào hoạt động từ ngày 31/7/2004 theo QĐ số 191/
QĐ – HĐQT ngày 05/7/2004 của Hội đồng quản trị BIDV Việt Nam, là mộttrong những chi nhánh tiên phong đi đầu trong hệ thống BIDV Việt Nam chútrọng triển khai nghiệp vụ Ngân hàng bán lẻ, lấy phát triển dịch vụ và đem lạiquy trình nghiệp vụ NH hiện đại và công nghệ tiên tiến, theo đúng hiện đại hóa
NH Việt Nam hiện nay Được sự hỗ trợ rất lớn từ ban lãnh đạo và từ các Ban,Phòng ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam cũng với sự nỗ lực của BGĐcùng toàn thể cán bộ nhân viên chi nhánh, chi nhánh đã từng bước xây dựng chinhánh theo hướng một ngân hàng hiện đại hoạt động trong cơ chế thị trường:Vững chắc về năng lực, vị thế, uy tín; sản phẩm dịch vụ đa dạng, chất lượngcao, Chi nhánh luôn là một trong những chi nhánh triển khai thí điểm và đầutiên trong toàn hệ thống các dịch vụ ngân hàng bán lẻ: Dịch vụ ATM, thanh toánthẻ Visa, Master, chuyển tiền Western Union, bán bảo hiểm…
Việc thành lập chi nhánh BIDV Đông Đô phù hợp với tiến trình thực hiệnchương trình cơ cấu lại, gắn liền với đổi mới toàn diện và phát triển vững chắcvới nhịp độ tăng trưởng cao, phát huy truyền thống phục vụ đầu tư phát triển, đadạng hóa khách hàng thuộc mọi thành phần kinh tế, phát triển và nâng cao chấtlượng sản phẩm và dịch vụ ngân hàng, nâng cao hiệu quả an toàn hệ thống theo
Trang 16đòi hỏi của cơ chế thị trường và lộ trình hội nhập, làm nòng cốt cho việc xâydựng tập đoàn tài chính đa năng , vững mạnh, hội nhập quốc tế.
2 Chức năng và nhiệm vụ của chi nhánh
- Huy động vốn: bao gồm nhận tiền gửi, phát hành chứng chỉ tiền gửi, tráiphiếu, kỳ phiếu và các giấy tờ có giá khác để huy động vốn: vay vốn của các tổchức tín dụng trong và ngoài nước, vay vốn của NHNN và các hình thức huyđộng vốn khác theo quy định của NHNN
- Hoạt động tín dụng : bao gồm cấp tín dụng dưới hình thức cho vay, chiếtkhấu thương mại và các giấy tờ có giá khác, bảo lãnh ngân hàng, cho thuê tàichính và các hình thức khác theo quy định của NHNN
- Dịch vụ thanh toán và ngân quỹ: bao gồm mở tài khoản, cung ứng dịch vụthanh toán trong nước và ngoài nước, thực hiện dịch vụ trong nước và quốc tế,thực hiện dịch vụ thu hộ, chi hộ, thực hiện dịch vụ thu phát tiền mặt, ngân phiếuthanh toán cho khách hàng
- Các hoạt động khác: bao gồm góp vốn, mua cổ phần, tham gia thị trườngtiền tệ, thực hiện các nghiệp vụ mua bán giấy tờ có giá bằng ngoại tệ và VNĐ,kinh doanh ngoại hối và vàng, nghiệp vụ ủy thác và đại lý, cung ứng dịch vụ bảohiểm, kinh doanh các nghiệp vụ chứng khoán thông qua công ty trực thuộc,cung ứng dịch vụ tư vấn tài chính, cung ứng dịch vụ bảo quản vật quý, giấy tờ
có giá, cho thuê tủ két sắt, cầm đồ…
3 Cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của các phòng ban.
Cơ cấu tổ chức của chi nhánh BIDV Đông Đô được xây dựng theo mô hìnhhiện đại hóa ngân hàng, theo hướng đổi mới và tiên tiến, phù hợp với quy mô
và đặc điểm hoạt động của chi nhánh
Trang 17Sơ đồ: Cơ cấu bộ máy BIDV Đông Đô
Ban giám đốc
Điều hành hoạt động của Chi nhánh BIDV Đông Đô – Hà Nội là giám đốc
chi nhánh Giám đốc chịu trách nhiệm chung, phó giám đốc giúp việc cho giám
đốc, ban giám đốc điều hành quản lý tất cả các hoạt động của ngân hàng và chịu
trách nhiệm trước Tổng giám đốc
Phòng quan hệ khách hàng 1
Tham mưu đề xuất chính sách, kế hoạch phát triển quan hệ đối với các
khách hàng là doanh nghiệp lớn Trực tiếp tiếp thị và bán sản phẩm ( sản phẩm
bán buôn, tài trợ thương mại dịch vụ…) Chịu trách nhiệm thiết lập, duy trì và
phát triển quan hệ hợp tác với khách hàng và bán sản phẩm của ngân hàng, đàm
phán mở rộng các lĩnh vực hợp tác ….đảm bảo cho khách hàng được phục vụ
đầy đủ với chất lượng ngày càng cao
Phòng quan hệ khách hàng 2
Tham mưu đề xuất chính sách, kế hoạch phát triển quan hệ với khách hàng
là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các hộ gia đình và cá nhân Tiếp nhận, triển
BAN GIÁM ĐỐC
Quan
hệ khách hàng 1
Quan
hệ khách hàng 2
Quản
lý rủi ro
Quản trị tín dụng
Dịch
vụ khách hàng
Thanh toán quốc tế
Quản lý
và dịch
vụ kho quỹ
Kế hoạch tổng hợp
Trang 18khai và phát triển các sản phẩm tín dụng, dịch vụ ngân hàng dành cho khách hàng cá nhân của BIDV.
Phòng quản lý rủi ro
Tham mưu đề xuất chính sách, biện pháp phát triển và nâng cao chất lượnghoạt động tín dụng Quản lý, giám sát, phân tích, đánh giá rủi ro tiềm ẩn đối với danh mục tín dụng của chi nhánh, duy trì và áp dụng hệ thống đánh giá, xếp hạng tín dụng vào việc quản lý danh mục Giám sát việc phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro Thực hiện việc sử lý nợ xấu
Phòng Quản trị tín dụng
Trực tiếp thực hiện tác nghiệp và quản trị cho vay, bảo lãnh đối với khách hàng theo quy định, quy trình của ngân hàng Thực hiện tính toán trích lập dự phòng rủi ro theo kết quả phân loại nợ của phòng quan hệ khách hàng theo đúng quy định của ngân hàng, gửi kết quả cho phòng quản lý rủi ro để thực hiện rà soát nội bộ trước khi giao dịch được thực hiện Giám sát khách hàng tuân thủ các điều kiện của hợp đồng tín dụng
Phòng dịch vụ khách hàng
Trực tiếp quản lý tài khoản và giao dịch với khách hàng Thực hiện công tác phòng chống rửa tiền đối với các giao dịch phát sinh theo quy định của nhà nước và của ngân hàng
Phòng thanh toán quốc tế
Trực tiếp thực hiện tác nghiệp các giao dịch tài trợ thương mại với kháchhàng Phối hợp với các phòng liên quan để tiếp thị, tiếp cận phát triển kháchhàng, giới thiệu và bán các sản phẩm về tài trợ thương mại Chịu trách nhiệm vềviệc phát triển và nâng cao hiệu quả hợp tác kinh doanh đối ngoại của chinhánh Chịu trách nhiệm về tính chính xác, đúng đắn, đảm bảo an toàn tiền vốntài sản của khách hàng trong các giao dịch kinh doanh đối ngoại
Phòng quản lý và dịch vụ kho quỹ
Thực hiện nghiệp vụ về quản lý kho và xuất nhập quỹ Chịu trách nhiệm:
đề xuất tham mưu với giám đốc chi nhánh về các biện pháp, điều kiện đảm bảo
Trang 19an toàn kho, quỹ và an ninh tiền tệ, phát triển dịch vụ về kho quỹ, thực hiện đúng quy chế, quy trình quản lý kho quỹ
Phòng Tài chính - Kế toán
Quản lý và thực hiện công tác hạch toán kế toán chi tiết, kế toán tổng hợp.Thực hiện công tác hậu kiểm toán đối với hoạt động tài chính kế toán của ngân hàng Chịu trách nhiệm về tính đúng đắn, chính xác, kịp thời, hợp lý, trung thực của số liệu kế toán, báo cáo tài chính.phản ánh đúng hoạt động kinh doanh của chi nhánh theo đúng chuẩn mực kế toán và các quy định của nhà nước và ngân hàng
Phòng Tổ chức – Nhân sự
Giúp việc cho giám đốc về triển khai thực hiện công tác tổ chức nhân sự
và phát triển nguồn nhân lực tại ngân hàng Quản lý hồ sơ cán bộ Hướng dẫn cán bộ kê khai lý lịch, kê khai tài sản, bổ sung lý lịch hàng năm, lập các báo cáo liên quan đến công tác tổ chức cán bộ theo quy định
II Tình hình hoạt động kinh doanh tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển – Việt Nam chi nhánh Đông Đô – Hà nội.
Từ năm 2004 – 2007có nhiều sự kiện trọng đại cả về chính trị, kinh tế và đối ngoại với những thành công trong nước cũng như hội nhập Quốc tế Việt Nam
Trang 20trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức WTO, việc tổ chức thành công hội nghịcấp cao APEC đã nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế Tuy nhiên năm 2008 lại là một năm khó khăn chung đối với toàn bộ nền kinh tế thế giới, Việt Nam là một thành viên của WTO và cũng không tránh khỏi vòng xoáy khủng hoảng đó: tỷ giá ngoại tệ, giá vàng, giá xăng dầu lên xuống bất thường, giá điện, nước tăng cao, …Sự cạnh tranh gay gắt của các tổ chức tín dụng trên tất cả các lĩnh vực huy động vốn, cho vay và phát triển dịch vụ…đã ảnh hưởng trực tiếp tạo áp lực không nhỏ cho ngành ngân hàng Tuy nhiên, dưới sự chỉ đạo toàn diện về các mặt KTXH của Chính phủ, Việt nam đã đạt được nhiều thành quả quan trọng: kiềm chế lạm phát, ngăn chặn đà suy thoái và duy trì tăng
trưởng kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội, giữ vững an ninh trật tự Tốc độ tăng trưởng GDP đạt 6,23% , chỉ số CPI những tháng cuối năm giảm, vốn đầu tư nước ngoài tiếp tục tăng cao Riêng trong lĩnh vực Ngân hàng, được sự chỉ đạo chung của NHNN, cùng với sự cố gắng, tinh thần đoàn kết nhất chí trong ban giám đốc và tập thể cán bộ công nhân viên chi nhánh, sự ủng hộ của cơ quan hữu quan và sự hợp tác của khách hàng tạo điều kiện cho chi nhánh vượt qua khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ
1.Công tác huy động vốn tại chi nhánh.
Từ năm 2006 đến năm 2008 tổng vốn huy động của BIDV Đông Đô tăngtrưởng nhanh và bền vững so với các năm trước đây, đến ngày 31/12/2007 đạt2.566.000 triệu đồng bằng 123,6% so với năm 2006 đến ngày 31/12/2008 đạt3.012.800 triệu đồng, bằng 117,4% so với năm 2007