“ Thực trạng và giải pháp phát triển bền vững ngành nuôi trồng thuỷ sản Việt Nam”
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Thủy sản Việt nam trong hơn 10 năm qua đã có những bước phát triển
vượt bậc, trở thành một trong những nước có tốc độ phát triển thủy sản nhanhtrên thế giới Trong đó, ngành nuôi trồng thuỷ sản Việt Nam được coi là tiến
bộ nhanh nhất, bất chấp sự khởi đầu muộn và hiện chiếm khoảng 1/3 tổng sảnlượng thuỷ sản của cả nước, góp phần quan trọng trong việc nâng cao sảnlượng và giá trị xuất khẩu và tạo công ăn việc làm cho nhiều người dân, đặcbiệt là vùng dân nghèo ven biển, vùng sâu vùng xa, hải đảo…Từ đó tiến tới
sự ổn định các mặt của xã hội NTTS đang ngày càng chiếm vị trí quan trọngtrong các hoạt động kinh tế thế giới, và thể hiện vai trò quan trọng của mìnhtrong nền kinh tế -xã hội nhất là với một nước nghèo đi lên từ nền sản xuấtnông nghiệp như Việt Nam Việc phát triển mạnh mẽ NTTS thay thế cho khaithác hải sản đã phần nào giảm áp lực khai thác quá mức đối với vùng biểnViệt Nam, tiến tới bảo tồn nguồn tài nguyên biển tự nhiên của đất nước
Tuy nhiên, ngành nuôi trồng thủy sản vẫn còn không ít những bất cập
và phải đối mặt với hàng loạt thách thức như: công tác quy hoạch chưa khôngtheo kịp với tốc độ phát triển, đầu tư còn dàn trải, cơ sở hạ tầng còn yếu kém,hàm lượng khoa học công nghệ còn thấp, nguồn lợi thuỷ sản đang có xuhướng giảm , sự phát triển còn mang tính nhỏ lẻ, tự phát, không theo kịp quyhoạch dẫn đến môi trường một số nơi có dấu hiệu suy thoái, dịch bệnh phátsinh và có sự mất cân đối giữa cung và cầu Có một đặc điểm đáng lưu ý nữa
đó là nguồn lợi thủy sản mang tính tái tạo, tái sinh Nhưng khi con người khaithác quá khả năng tái sinh thì nguồn lợi đó sẽ bị cạn kiệt Có nhiều nguyênnhân dẫn đến những hạn chế và tồn tại của ngành NTTS, trong đó có cảnhững nguyên nhân chủ quan và khách quan Về khách quan là do: ngànhNTTS chịu nhiều tác động của tự nhiên, xuất phát điểm thấp Nguyên nhânkhách quan như: công tác quy hoạch không theo kịp tốc độ phát triển, công
Trang 2tác quản lý nhà nước còn nhiều bất cập, vấn đề đầu tư còn dàn trải chưa đồng
bộ, còn nhiều bất cập trong vấn đề sản xuất giống an toàn, sạch bệnh, công táckhuyến ngư và thú y chưa đủ mạnh, trình độ, kỹ thuật của ngư dân còn thấp
Do đó, để khắc phục những tồn tại nêu trên, đáp ứng được những biến đổi vềkhí hậu, các yêu cầu của hội nhập kinh tế toàn cầu, sự suy thoái môi trường,
sự đòi hỏi ngày càng khắt khe của thị trường về chất lượng và vệ sinh an toànthực phẩm cũng như theo kịp sự tiến bộ của khoa học công nghệ hiện đại thìrất cần một chiến lược phát triển tổng thể nhằm mục tiêu phát triển ngành “nuôi trồng thủy sản “ một cách bền vững, góp phần tạo công ăn việc làm,nâng cao thu nhập cho người lao động, đáp ứng thị trường trong nước và phục
vụ xuất khẩu Phát triển bền vững NTTS là sự phát triển có sự kết hợp hài hoàcủa ba mặt: tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường Đặcbiệt sự phát triển bền vững không chỉ thoả mãn nhu cầu hiện tại của conngười mà còn phải đảm bảo một cơ sở tài nguyên phong phú, bảo tồn cácgiống loài thúy sản quý hiếm, một môi trường trong sạch không ô nhiễm, một
xã hội tiến bộ cho người dân trong tương lai
Trong thời gian thực tập ở Vụ KTNN của Bộ KH & ĐT em đã nhậnthức được sự cần thiết của sự phát triển bền vững cũng như thực trạng của
ngành NTTS ở Việt Nam, vì thế em đã lựa chọn đề tài: “ Thực trạng và giải pháp phát triển bền vững ngành nuôi trồng thuỷ sản Việt Nam” làm luận
văn tốt nghiệp cho mình
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài.
- Mục đích nghiên cứu đề tài:
+ Hệ thống các vấn đề lý luận chung về ngành Nuôi trồng thuỷ sản.+ Phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động nuôi trồng thuỷ sản ViệtNam
+ Đưa ra một số giải pháp nhằm phát triển nuôi trồng thuỷ sản Việt
Trang 3+ Lựa chọn những vấn đề lý luận và thực tiễn hiện nay liên quan đếnvấn đề nghiên cứu.
+ Phân tích, đánh giá tình hình nuôi trồng thuỷ sản Việt Nam
+ Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển bền vững ngành nuôi trồngthuỷ sản Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu đề tài.
Tình hình nuôi trồng thuỷ sản nước mặn, nước ngọt, nước lợ ở ViệtNam giai đoạn từ năm 2000 đến nay
Đánh giá hoạt động nuôi trồng thuỷ sản từ đó rút ra vấn đề cần giảiquyết
Quan điểm và phương pháp nghiên cứu.
- Quan điểm: phát triển bền vững và vai trò của ngành NTTS trong nềnkinh tế xã hội
- Phương pháp nghiên cứu: trên cơ sở thu thập được những số liệu thực tếcủa ngành NTTS những năm qua, bài viết của em tiến hành phân tích những kếtquả đạt được, so sánh đối chiếu với những nguyên tắc, mục tiêu về sự phát triểnbền vững, từ đó đánh giá sự phát triển của ngành NTTS đã đạt tiêu chuẩn haychưa, còn những tồn tại, bất cập gì để từ đó đưa ra các giải pháp và kiến nghịnhằm khắc phục và phát triển hơn nữa ngành NTTS Việt Nam
Kết cấu đề tài:
Chương I: Cơ sở lý luận về vấn đề phát triển bền vững ngành NTTS.Chương II: Thực trạng phát triển bền vững nuôi trồng thuỷ sản ở Việt
Nam giai đoạn từ năm 2000 đến nay
Chương III: Giải pháp phát triển bền vững nuôi trồng thuỷ sản đến năm
2020
Mặc dù đã có sự cố gắng nhưng do kiến thức và thời gian còn hạn chếnên bài viết của em vẫn còn nhiều thiếu sót Em rất mong nhận được sự chỉdẫn, góp ý, phê bình của thầy giáo, cũng như sự giúp đỡ tận tình của các côchú trong Vụ kinh tế nông nghiệp (Bộ KH- ĐT) để em hoàn thành bài báo cáođược tốt hơn Em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến thầy giáo T.S NguyễnNgọc Sơn cùng các chuyên viên Vụ KTNN (Bộ KH – ĐT ) đã giúp em hoànthành bài viết này
Trang 4CHƯƠNG I : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN BỀN
VỮNG NGÀNH THUỶ SẢN
1.1 Khái niệm, đặc điểm của ngành nuôi trồng thủy sản.
1.1.1 Khái niệm ngành nuôi trồng thủy sản.
Ngành thuỷ sản xuất hiện và có quá trình phát triển từ rất lâu đời với
xuất phát điểm là đánh bắt và nuôi trồng thuỷ sản (NTTS) Thời kỳ đầu đánhbắt thuỷ sản được coi là ngành quan trọng chủ yếu cấu thành nên ngành Thuỷsản Vì vậy, ở thời điểm đó NTTS chưa phát triển và con người chưa ý thứcđược việc tái tạo nguồn lực và đảm bảo môi trường cho sự phát triển của các loàithuỷ sản Những thập kỷ gần đây, khi sản phẩm thuỷ sản tự nhiên ngày càng cónguy cơ sụt giảm và cạn kiệt vì đánh bắt quá nhiều, tràn làn trong điều kiệnnguồn lực có hạn thì NTTS ngày càng phát triển và trở nên quan trọng Chính vìthế ngành NTTS được nhìn nhận trên nhiều quan điểm như sau:
- Theo giáo trình kinh tế thuỷ sản: NTTS là một bộ phận sản xuất có
tính nông nghiệp nhằm duy trì bổ sung, tái tạo, và phát triển nguồn lợi thuỷsản, các sản phẩm thuỷ sản được cung cấp cho các hoạt động tiêu dùng và chếbiến xuất khẩu Hoạt động nuôi trồng diễn ra trên nhiều loại hình mặt nướcvới nhiều chủng loại khác nhau, bên cạnh đó sự phát triển của khoa học kỹthuật phục vụ cho hoạt động NTTS
- Quan điểm của các nhà kinh tế học: NTTS là một hoạt động sản xuất
tạo ra nguyên liệu thuỷ sản cho qúa trình tiêu dùng sản phẩm hoạt động xuấtkhẩu và nguyên liệu cho công nghiệp chế biến
- Quan điểm của các nhà sinh học: NTTS là hoạt động tạo ra các điều
kiện sinh thái phù hợp với sự trưởng thành và phát triển của các loại thủy sản
để thúc đẩy chúng phát triển qua các giai đoạn của vòng đời
Trang 5tượng sinh vật thủy sinh như nhuyễn thể, giáp xác, thực vật thủy sinh…quá trìnhnày bắt đầu từ khi thả giống, chăm sóc nuôi lớn cho tới khi thu hoạch xong.
1.1.2 Đặc điểm ngành nuôi trồng thủy sản.
1.1.2.1 Nuôi trồng thủy sản phát triển rộng khắp đất nước và tương đối phức tạp so với các ngành sản xuất vật chất khác
Ở đâu có nước là ở đó có nuôi trồng thủy sản.Vì vậy, nuôi trồng thủysản phát triển rộng khắp tại mọi vùng địa lý từ miền núi xuống miền biển.Thủy sản nuôi rất đa dạng, nhiều giống loài mang tính địa lý rõ rệt, có quyluật riêng của từng khu hệ sinh thái điển hình Do vậy, công tác quản lý và chỉđạo sản xuất của ngành cần chú ý đến các vấn đề như: xây dựng cơ sở vậtchất kỹ thuật, xây dựng các chỉ tiêu kế hoạch, triển khai thực hiện các chínhsách… phải phù hợp với từng khu vực lãnh thổ hay từng vùng khác nhau
1.1.2.2 Số lượng, chất lượng nguồn nước và nguồn lợi thủy sản rất khác nhau.
Mỗi mặt nước nuôi trồng thủy sản có độ màu mỡ khác nhau phụ thuộcvào thổ nhưỡng vùng đất và nguồn nước, nguồn cung cấp Vật nuôi trong ao
hồ rất khó quan sát trực tiếp được như trên cạn vì thế rủi ro trong sản xuất lớnhơn nhiều Người nuôi cần có kinh nghiệm và kiến thức kỹ thuật cần thiết vềvấn đề thuỷ lợi, bởi vì thuỷ lợi như chìa khoá để mở ra cánh cửa cho ngườilàm thuỷ sản có thể đạt được những thành tựu to lớn
1.1.2.3 Hoạt động nuôi trồng thủy sản có tính mùa vụ rõ nét.
Nuôi trồng thủy sản mang tính mùa vụ vì thủy sản có quy luật sinhtrưởng và phát triển riêng Theo Lenin, tính mùa vụ thể hiện ở chỗ thời gianlao động không ăn khớp với thời gian sản xuất Thời gian lao động là thờigian tác động tới sự hình thành của sản phẩm, còn thời gian sản xuất kéo dàihơn vì bao gồm cả thời gian lao động không tác động đến sản phẩm
Trang 6Ví dụ : thời gian sản xuất kéo dài từ A đến B, nhưng thời gian lao độngchỉ bao gồm: thời gian cải tạo ao (phơi đáy ao 2 tuần lễ), thả giống, chăm sóc(cho ăn 2 lần/ ngày), thu hoạch Như vậy, rõ ràng người nuôi phải tuân theoquy luật sinh trưởng và phát triển của thuỷ sản
Cải tạo Thả giống Chăm sóc Thu hoạch
Trong NTTS phải lưu giữ và chăm sóc đặc biệt đối với đàn vật nuôi bố
mẹ (đàn cá bố mẹ, tôm bố mẹ…) để sản xuất con giống cho các vụ nuôi tiếptheo Đây là tài sản sinh học đặc biệt của doanh nghiệp, việc lựa chọn đàntôm, cá bố mẹ phải tuân theo quy trình khoa học – công nghệ của hệ thốngquốc gia
Tính thời vụ trong NTTS đã dẫn đến tình trạng người lao động có lúcrất bận rộn còn có những lúc lại nhàn rỗi Đặc điểm này đòi hỏi trong NTTSmột mặt phải tôn trọng tính thời vụ, mặt khác phải giảm bớt tính thời vụ bằngcách: Đối với NTTS phải cần tập trung nghiên cứu các giống loài thuỷ sản cóthời gian sinh trưởng ngắn để có thể sản xuất nhiều vụ trong năm
1.1.2.4 Nuôi trồng thuỷ sản có từ rất lâu đời nhưng đi lên từ điểm xuất phát rất thấp: nhỏ bé, manh mún và phân tán.
Ngành thuỷ sản xuất hiện và có quá trình phát triển từ rất lâu đời vớixuất phát điểm là đánh bắt và nuôi trồng thuỷ sản (NTTS) Thời kỳ đầu đánhbắt thuỷ sản được coi là ngành quan trọng chủ yếu cấu thành nên ngành Thuỷsản Vì vậy, ở thời điểm đó NTTS chưa phát triển và con người chưa ý thứcđược việc tái tạo nguồn lực và đảm bảo môi trường cho sự phát triển của cácloài thuỷ sản Vì thế có thể nói ngành NTTS là một ngành tuy có từ lâu đờinhưng đi lên từ điểm xuất phát thấp, nhỏ bé, manh mún
Trang 7Trong thời gian gần đây nhờ có sự quan tâm và nhận thức đúng đắn vềngành thuỷ sản nên đã có những bước phát triển đột phá nhất định.
Trong năm 2000 có 7 quốc gia Châu Á có tên trong số 10 nước có sảnlượng nuôi trồng thuỷ sản cao nhất thế giới, đó là : Băng La Đét, Trung Quốc,
Ấn Độ, Indonexia, Nhật Bản, Thái Lan và Việt Nam Châu Á đóng góp 90%tổng sản lượng NTTS của thế giới NTTS theo hướng thân thiện với môitrường, công nghệ NTTS không có chất thải sẽ phát triển trên thế giới Ở ViệtNam NTTS trong hệ VAC đáp ứng yêu cầu này
1.1.3 Các hình thức nuôi trồng thủy sản.
1.1.3.1 Các phương thức nuôi lấy thịt điển hình.
- Nuôi quảng canh: hay còn gọi là nuôi truyền thống: là hình thức nuôi
bằng nguồn thức ăn tự nhiên trong các ao hồ, đầm ở nông thôn và các vùngven biển
- Nuôi quảng canh cải tiến: là hình thức nuôi chủ yếu bằng nguồn
giống và thức ăn tự nhiên, nhưng bổ sung them giống nhân tạo ở mức độ nhấtđịnh, đồng thời có đầu tư cải tạo thủy vực nhằm tăng sản lượng
- Nuôi bán thâm canh: là hình thức nuôi chủ yếu bằng giống nhân tạo
và thức ăn nhân tạo, nhưng kết hợp nguồn thức ăn tự nhiên trong thủy vực.Ngoài ra, hệ thống hồ ao nuôi còn được đầu tư cơ sở hạ tầng như điện, thiết bị
cơ khí, thủy lợi…nhất là chủ động về nguồn nước cung cấp Có khả năng xử
lý và khống chế môi trường bằng hệ thống máy bơm sục khí
- Nuôi thâm canh: là hình thức nuôi hoàn toàn bằng con giống và thức
ăn nhân tạo, được đầu tư cơ sở hạ tầng đầy đủ (quy hoạch hệ thống ao hồ,thủy lợi, giao thông, điện nước, cơ khí ), có thể chủ động khống chế các yếu
tố môi trường Mật độ giống thả dầy, năng suất cao
- Nuôi công nghiệp: (nuôi siêu thâm canh) là hình thức nuôi hoàn toàn
bằng con giống và thức ăn nhân tạo với mật độ rất cao Sử dụng các máy móc
Trang 8và thiết bị nhằm tạo cho vật nuôi một môi trường sinh thái và các điều kiện tối
ưu, sinh trưởng tốt nhất, không phụ thuộc vào thời tiết và mùa vụ, trong thờigian ngắn nhất đạt các mục tiêu sản xuất và lợi nhuận Một số nước côngnghiệp phát triển như Mỹ, Đức, Nhật…có trình độ nuôi thủy sản công nghiệptương đối cao và phổ biến, mỗi năm đạt tời hàng ngàn tấn sản phẩm
1.1.3.2 Các hình thức nuôi năng suất cao ở Việt Nam
Tại Việt Nam trong hơn 40 năm qua từng bước hình thành và phát triểncác hình thức nuôi trồng thủy sản năng suất cao, đa dạng về giống loài và cácloại thủy vực
1.1.3.2.1 Nuôi cá nước ngọt ở các loại hình mặt nước.
- Nuôi cá nước tĩnh: để đạt năng suất cao, người ta thường nuôi ghép
nhiều loại có tập tính ăn khác nhau Trong ao nuôi truyền thống, nuôi ghép:
mè, trôi ta, trắm đen, chép Sau này nuôi trồng thủy sản phát triển người tađưa ra một vài công thức nuôi ghép với quy trình kỹ thuật lấy một loài chủ rồighép với các loài khác, ví dụ như:
+ Ao nuôi cá mè làm chủ (tính cho 1 ha): Mè trắng: 60%, mè hoa: 5%,trắm cỏ: 3%, cá trôi (ta): 25%, chép: 7%
+ Ao nuôi trắm cỏ làm chủ (tính cho 1 ha): Trắm cỏ: 50%, mè trắng:20%, mè hoa: 2%, cá trôi: 18%, chép: 4%, rô phi: 6%
+ Ao nuôi cá rô phi làm chủ (tính cho 1 ha) : Rô phi: 45%, mè trắng:20%, mè hoa: 5%, cá trôi: 20%, trắm cỏ: 4%, chép: 6%
+ Ao nuôi cá trên làm chủ nên ghép với rô phi, khoảng 10%
- Nuôi cá nước chảy của các hộ gia đình ở miền núi: Tận dụng các khe
suối, kênh rạch có nước chảy làm ao nuôi, hoặc đào ao nuôi rồi dẫn dòngchảy qua đường ống vào ao Cách làm rất đa dạng sáng tạo, quy mô ao nhỏ
bé, nhưng tổng diện tích rất rộng có khi cả xã cũng có ao như Sơn La, Bình
Trang 9ý nghĩa kinh tế - xã hội to lớn Đối tượng nuôi chủ yếu là cá trắm cỏ, có thểnuôi ghép một ít cá chép, cá rô phi… Vật liệu làm lồng đa dạng như tre,luồng, hóp, gỗ, sắt, lưới, ni lông…
Nuôi cá bè trên sông rất phát triển ở miền Tây Nam Bộ, mạnh nhất là ởcác tỉnh An Giang, Đồng Tháp, đối tượng chính là cá basa, cá tra Nhà ở làmngay trên lồng bè nuôi cá, có bố trí chỗ ăn ở hợp lý và phòng chống ô nhiễmnước vùng nuôi cá
- Nuôi cá nước thải sinh hoạt ở ngoại vi thành phố, thị xã:
Nuôi cá nước thải đã có từ thập niên 60 của thế kỷ trước Hợp tác xãYên Duyên, Thanh Trì – Hà Nội là lá cờ đầu vào thời gian đó Có thể nuôitrên diện rộng từ 5-10 ha, phải quy hoạch bờ vùng, mương tưới, cống tiêu, vàtrạm bơm, xử lý nước thải cho phù hợp với điều kiện nuôi, ngăn ngừa vikhuẩn gây bệnh và các kim loại nặng như chì, thủy ngân… có trong nướcthải Đối tượng nuôi chủ yếu là các loại ăn tạp, mùn bã hữu cơ như rô phi,chép, trôi Ấn Độ và cá mè…vùng nuôi cá nước thải ở ven đô thị cung cấp mộtlượng thủy sản tươi sống cho dân sống trong thành phố
- Nuôi cá ruộng trũng: Nghề nuôi cá ruộng có lịch sử phát triển từ lâu
đời ở nước ta và các nước Đông Nam Ấ Hiện nay, có các loại hình nuôi cáruộng phổ biến là xen canh và luân canh Ở các tỉnh phía Bắc kết hợp trồnglúa – nuôi cá ở các chân ruộng trũng hoặc luân canh một vụ lúa, một vụ cá.Đối tượng nuôi chủ yếu là cá chéo, rô phi, các ruộng nuôi cá phải được quyhoạch, có bờ vùng, bờ thửa Bờ phải cao hơn mức nước cao nhất hàng năm là0.5m Mặt bờ rộng 0.7- 0.8m để có thể trồng cây ăn quả và lấy bong râm.Trong ruộng phải có mương, chuôm cho cá trú nắng khi nhiệt độ cao Tạinhiều tỉnh miền Tây Nam Bộ như Bạc Liêu, Cà Mau, Cần Thơ, Kiên Giang…nuôi xen canh lúa – cá, lúa – tôm nước mặn hoặc nuôi luân canh một vụ lúa,một vụ tôm Ở nước ta hiện nay có những vùng ruộng trũng rộng lớn, tập
Trang 10trung mang ý nghĩa kinh tế - sinh thái quan trọng cho sự phát triển lâu dài vàbền vững.
1.1.3.2.2 Nuôi cá nước lợ và cá biển
Nuôi cá nước lợ và cá biển phát triển rất chậm, mới được tập trung chủđạo vào cuối những năm cuối thế kỷ 20 Nuôi cá nước lợ có hiệu quả kinh tếkhá cao, tỷ suất lợi nhuận đạt 60 - 90% Hình thức nuôi phổ biến trong đầm,
eo vịnh và lồng bè Hiện nay, các tỉnh Quảng Ninh, Hải Phòng, Nam Định,
Bà Rịa –Vũng Tàu đã có nghề nuôi phát triển ổn định
1.1.3.2.3.Nuôi tôm và các thủy sản khác.
Giống như các hình thức nuôi cá nước ngọt
Nuôi tôm nước ngọt có tôm càng xanh, chủ động được giống bằng cho
đẻ nhân tạo thành công Chủ yếu phát triển mạnh nuôi tôm sú nước lợ và một
số loài tôm khác như tôm rảo, tôm thẻ Kết quả nuôi tôm sú cho hiệu quả kinh
tế cao ở nhiều tỉnh Năng suất ở một số địa phương như sau :
Nuôi tôm thâm canh: đạt từ 2.5-5 tấn/ ha (Quảng Nam – Đà Nẵng, BếnTre, Bạc Liêu)
Nuôi tôm bán thâm canh: đạt từ 1.2 -2.5 tấn/ha (Phú Yên, Bình Thuận,Thừa Thiên Huế)
Nuôi quảng canh, quảng canh cải tiến, luân canh: đạt từ 0.6 – 0.87tấn/ha
1.1.4 Vai trò của ngành nuôi trồng thuỷ sản.
1.1.4.1 Ngành nuôi trồng thuỷ sản có vai trò quan trọng trong việc duy trì, tái tạo các nguồn lợi thuỷ sản.
Các nguồn lợi thủy sản là nguồn lợi tự nhiên với tính chất có hạn, khanhiếm khi khai thác đánh bắt một cách tràn lan không có kế hoạch thì nguồn
Trang 11ích cho con người thì cần có những kế hoạch khai thác hợp lý, khai thác kếthợp với việc bảo vệ, bổ sung tái tạo một cách thường xuyên thông qua hoạtđộng đánh bắt và NTTS là 2 bộ phận cấu thành nên ngành thuỷ sản nhưngmang 2 sắc thái hoàn toàn khác nhau, bổ sung lẫn nhau tạo nên sự phát triểnchung của toàn ngành.
1.1.4.2 Cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến thuỷ sản và thương mại quốc tế thuỷ sản.
Nuôi trồng thuỷ sản là nghề mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn một sốngành nghề sản xuất nông nghiệp khác, sản phẩm không chỉ tiêu dùng nội địa
mà một số đối tượng thuỷ sản nuôi trồng còn là nguồn nguyên liệu phục vụchế biến xuất khẩu
Trong nhiều năm liền, Ngành Thuỷ sản luôn giữ vị trí thứ 3 hoặc thứ 4trong bảng danh sách các ngành có giá trị kim ngạch xuất khẩu lớn nhất đấtnước Ngành Thuỷ sản Việt Nam là ngành đứng thứ 6 trong 10 nước xuấtkhẩu thuỷ sản mạnh có kim ngạch xuất khẩu đạt trên 1 tỷ USD trên thế giới
Tính chung năm năm 2001 - 2005, tổng giá trị kim ngạch xuất khẩuthuỷ sản đạt trên 11 tỉ USD, chiếm khoảng 9% tổng giá trị xuất khẩu của cảnước.Năm 2000, Việt Nam xuất khẩu thủy sản vượt ngưỡng 1 tỉ USD và đếnnăm 2002 kim ngạch xuất khẩu thủy sản đã đạt hơn 2 tỉ USD Năm 2005 kimngạch xuất khẩu thuỷ sản đạt gần 2,7 tỷ USD Với con số này, Việt Nam đãtrở thành một nước xuất khẩu thủy sản lớn trong khu vực Đông Nam á Cóđược kết quả này là nhờ trong những năm qua, ngành Thủy sản đã tích cựcđẩy mạnh công tác nuôi trồng, chế biến thủy sản
Trong những năm qua, sản lượng NTTS liên tục tăng năm 2002 là976.100 tấn, trong đó khoảng 40% dành cho công nghiệp chế biến xuất khẩu.Đến năm 2005, nhu cầu nguyên liệu cho chế biến thủy sản là 2.030.000 tấn vànăm 2010 là 2.650.000 tấn Để đáp ứng đủ nhu cầu, ngành Thủy sản phải chủ
Trang 12động được nguồn nguyên liệu Bởi nguyên liệu là khâu rất quan trọng trongtoàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh thủy sản Có một nguồn nguyên liệu ổnđịnh, giá cả có sức cạnh tranh thì ngành công nghiệp chế biến thủy sản mới có
cơ hội phát triển
Trong xu thế ngày càng hạn chế khai thác thủy sản nhằm bảo vệ môitrường như hiện nay thì NTTS đóng vai trò chủ đạo trong việc cung cấpnguyên liệu cho chế biến xuất khẩu Việc cung cấp từ NTTS cũng đảm bảo ổnđịnh và phù hợp với nhu cầu của thế giới nhờ thực hiện tốt công tác khuyếnngư và phát triển giống mới
Nuôi trồng thủy sản đã tạo nguồn nguyên liệu ổn định cho công nghiệpchế biến, nhất là chế biến xuất khẩu và đã đóng góp phần quan trọng vào việctăng kim ngạch xuất khẩu thủy sản Trong cơ cấu các mặt hàng xuất khẩuthủy sản Việt Nam, tôm chiếm tỉ trọng giá trị kim ngạch xuất khẩu là 43,7%(năm 2001), 46,9% (năm 2002), trong đó tôm nuôi chiếm phần lớn
1.1.4.3 Giải quyết việc làm và tăng thu nhập.
NTTS là một ngành kinh tế tạo cơ hội công ăn việc làm cho nhiều cộngđồng nhân dân, đặc biệt ở những vùng nông thôn và vùng ven biển Nhữngnăm gần đây, đặc biệt từ năm 2001 đến năm 2004, công tác khuyến ngư đãtập trung vào hoạt động trình diễn các mô hình khai thác và nuôi trồng thuỷsản, hướng dẫn người nghèo làm ăn Hiện tại, mô hình kinh tế hộ gia đìnhđược đánh giá là đã giải quyết cơ bản công ăn việc làm cho ngư dân ven biển.Bên cạnh đó, mô hình kinh tế tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân đã góp phầngiải quyết việc làm cho nhiều lao động ở các vùng, nhất là lao động nôngnhàn ở các tỉnh Nam Bộ và Trung Bộ Nghề NTTS ở sông Cửu Long được
duy trì đã tạo công ăn việc làm cho 48.000 lao động ở ven sông
Đến năm 2005 do chuyển đổi diện tích sang nuôi trồng thuỷ sản đã góp
Trang 13lao động thời vụ).
Bên cạnh đó, do hiệu quả của NTSS cao hơn nhiều so với các lĩnh vựcnông nghiệp khác, nên cùng với việc thực hiện chuyển đổi kỹ thuật sản xuất,chuyển đổi diện tích từ trồng lúa sang NTTS đã tạo ra nguồn thu nhập lớn gópphần nâng cao mức sống cho người dân
1.1.4.4 Cung cấp thực phẩm đáp ứng nhu cầu nội địa.
Cùng với mức sống của người dân dần được cải thiện, nhu cầu về thựcphẩm chất lượng cao, giàu protein ngày một tăng thì ngành NTTS ngày càngtrở thành nguồn cung cấp nguyên liệu quan trọng cho thị trường nội địa.Ngành NTTS là một trong những ngành tạo ra lương thực, thực phẩm, cungcấp các sản phẩm tiêu dùng trực tiếp Ở tầm vĩ mô, dưới giác độ ngành kinh tếquốc dân, Ngành NTTS đã góp phần đảm bảo an ninh lương thực thực phẩm,đáp ứng được yêu cầu cụ thể là tăng nhiều đạm và vitamin cho thức ăn Cóthể nói Ngành NTTS đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thực phẩmcho người dân
1.1.4.5 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp.
Ngày nay, xu hướng chuyển đổi diện tích trồng kém hiệu quả như trồnglúa ruộng trũng 1 vụ bấp bênh, năng suất thấp, đất trồng cói, làm muối kémhiệu quả và đất cát, đất hoang hoá sang sử dụng có hiệu quả hơn cho ngànhNTTS Nguyên nhân của hiện tượng này là do giá thuỷ sản trên thị trường thếgiới những năm gần đây tăng đột biến, trong khi giá các loại nông sản xuấtkhẩu khác của Việt Nam lại bị giảm sút dẫn đến nhu cầu chuyển đổi cơ cấudiện tích giữa nuôi trồng thủy sản và nông nghiệp càng trở nên cấp bách Quátrình chuyển đổi diện tích, chủ yếu từ lúa kém hiệu quả, sang nuôi trồng thuỷsản diễn ra mạnh mẽ nhất vào các năm 2000-2002: hơn 200.000 ha diện tíchđược chuyển đổi sang nuôi trồng thủy sản hoặc kết hợp nuôi trồng thủy sản.Tuy nhiên, từ 2003 đến nay ở nhiều vùng vẫn tiếp tục chuyển đổi mạnh, năm
Trang 142003 đạt 49.000 ha và năm 2004 đạt 65.400 ha Có thể nói NTTS đã pháttriển với tốc độ nhanh, thu được hiệu quả kinh tế - xã hội đáng kể, từng bướcgóp phần thay đổi cơ cấu kinh tế ở các vùng ven biển, nông thôn, góp phầnxoá đói giảm nghèo và làm giàu cho nông dân.
Hơn nữa, NTTS cũng đã thu hút sự tham gia của nhiều thành phần kinh
tế như Doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệpTNHH, doanh nghiệp cổ phần NTSS phát triển cũng kép theo sự phát triểncủa các ngành Dịch vụ – Công nghiệp Vì vậy, phát triển NTSS đã góp phầnđưa nền kinh tế Việt Nam ngày càng phát triển nhanh và bền vững
1.2 Sự cần thiết phải phát triển bền vững nuôi trồng thủy sản.
1.2.1.Khái niệm về phát triển bền vững:
Theo Uỷ ban Môi trường và Phát triển thế giới: Phát triển bền vững là
sự phát triển để đáp ứng những nhu cầu của ngày hôm nay mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng những nhu cầu của các thế hệ tương lai.
Như vậy, phát triển bền vững ngành Thuỷ sản nói chung và ngànhNTTS nói riêng đó là sự phát triển toàn diện, hợp lý và lâu dài trên cả 3 lĩnhvực kinh tế, xã hội và môi trường
Khái niệm phát triển bền vững trong nuôi trông thuỷ sản có thể đượckhái quát theo bốn tiêu thức :
- Tốc độ tăng trưởng về giá trị sản xuất, doanh thu và lợi nhuận ổn địnhqua các năm
- Quy trình sản xuất ngày càng hiện đại, áp dụng kỹ thuật tiên tiến vàonuôi trồng thuỷ sản, năng suất ngày càng cao Hình thức sản xuất chuyển từnuôi trồng nhỏ lẻ, tự phát sang nuôi trồng tập trung theo qui mô lớn
- Giải quyết công ăn việc làm, nâng cao đời sống cho người lao động
- Bảo vệ môi trường sinh thái biển, bảo tồn và phát huy được các giống
Trang 151.2.2 Các tiêu chí đánh giá sự phát triển bền vững của ngành nuôi trồng
- Tăng trưởng về sản lượng nuôi trồng: thể hiện khả năng đáp ứng nhucầu của thị trường
- Tăng trưởng về giá trị sản xuất, doanh thu và lợi nhuận: thể hiện hiệuquả của hoạt động nuôi trồng thuỷ sản Đây là yếu tố quan trọng để thu hútvốn đầu tư vào ngành
- Đóng góp của ngành thuỷ sản vào tăng trưởng kinh tế và kim ngạchxuất khẩu: thể hiện tầm quan trọng của ngành nuôi trồng thuỷ sản đối với nềnkinh tế
- Tỷ lệ vay vốn/ tổng vốn đầu tư
Trang 16Được đánh giá qua một số tiêu chí như:các tiêu chí giáo dục, dịch vụ y tế,hoạt động văn hoá, khả năng giải quyết công ăn việc làm, tăng thu nhập nângcao đời sống cho người dân được thể hiện ở một số chỉ tiêu cụ thể sau:
- Số lượng lao động tham gia nuôi trồng thủy sản
- Tỷ lệ vay nợ trong tổng số hộ nuôi trồng thủy sản
- Tỷ lệ vùng nuôi có sự tham gia của cộng đồng
- Tỷ lệ vùng nuôi áp dụng phương pháp nuôi sạch
- Tỷ lệ đối tượng nuôi được kiểm soát dịch bệnh hàng năm
1.2.2.3 Về mặt môi trường – sinh thái:
Sự phát triển bền vững về mặt môi trường được thể hiện ở việc đảmbảo môi trường sinh thái: ao hồ, đầm, kênh, rạch…ngăn ngừa dịch bệnh.Ngoài ra, còn được thể hiện ở việc bảo vệ và phát huy các giống thuỷ sản
Một số chỉ tiêu đánh giá sự phát triển bền vững về mặt môi trường
- Tỷ lệ hệ thống quan trắc dịch bệnh, cảnh báo môi trường so với nhu cầu
- Tỷ lệ sử dụng nước ngầm cho nuôi trồng thủy sản, tính theo ha nuôitrồng thủy sản
- Diện tích rừng ngập mặn bị chặt phá (được phục hồi, trồng mới hàng năm)
- Số trại sản xuất giống được tập huấn GAP
- Tỷ lệ trại giống có tôm bố mẹ được thuần hóa
- Tỷ lệ diện tích vùng nuôi có nước đạt tiêu chuẩn
- Tỷ lệ protein từ thực vật trong khẩu phần thức ăn
- Tỷ lệ diện tích nuôi trồng thủy sản trên cát có hệ thống thủy lợi cungcấp đủ nước ngọt cho nuôi trồng thủy sản
1.2.3 Sự cần thiết phải phát triển bền vững nuôi trồng thủy sản.
1.2.3.1 Về mặt kinh tế:
Phát triển nuôi trồng thuỷ sản bền vững sẽ góp phần giảm chi phí sản
Trang 17nhu cầu thị trường trong nước và thoả mãn đòi hỏi khắt khe của thị trườngnước ngoài Tạo ra nguồn cung ổn định, khắc phục biến động thất thường củagiá cả trên thị trường
- NTTS theo quy mô lớn giúp nâng cao năng suất, đảm bảo phát triểnbền vững môi trường, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, đáp ứng nhu cầutrong nước và xuất khẩu
- NTTS góp phần tăng doanh thu và đóng góp to lớn vào tốc độ tawmhGDP của toàn ngành
1.2.3.2 Về mặt xã hội
- NTTS phát triển rộng khắp, tới tận các vùng sâu vùng xa, góp phầnchuyển đổi cơ cấu thực phẩm trong bữa ăn của người dân Việt Nam, cung cấpnguồn dinh dưỡng dồi dào Từ các vùng đồng bằng đến trung du miền núi, tất
cả các ao hồ nhỏ đều được sử dụng triệt để cho các hoạt động NTTS
- Ngành NTTS là một trong những ngành tạo ra lương thực, thực phẩm,cung cấp các sản phẩm tiêu dùng trực tiếp Theo số liệu thống kê hàng năm cókhoảng 50 % sản lượng đánh bắt hải sản ở vùng biển Bắc Bộ, Trung Bộ và40% sản lượng đánh bắt ở vùng biển Đông Nam Bộ, Tây Nam Bộ được dùnglàm thực phẩm cho nhu cầu của người dân Việt Nam Ở tầm vĩ mô, dưới giác
độ ngành kinh tế quốc dân, Ngành NTTS đã góp phần đảm bảo an ninh lươngthực thực phẩm, đáp ứng được yêu cầu cụ thể là tăng nhiều đạm và vitamincho thức ăn Có thể nói Ngành NTTS đóng vai trò quan trọng trong việc cungcấp thực phẩm cho người dân Trong thời gian tới, các mặt hàng thủy sản sẽngày càng có vị trí cao trong tiêu thụ thực phẩm của mọi tầng lớp nhân dânViệt Nam
- Ngoài ra, sự cần thiết phát triển bền vững NTTS về mặt xã hội cònđược thể hiện ở khía cạnh khắc phục tình trạng làm ăn theo mùa vụ, đảm bảođầu ra cho thủy sản được ổn định, đảm bảo công ăn việc làm, góp phần xoá
Trang 18đói giảm nghèo, tăng thêm thu nhập cho hàng triệu người dân, phát triển kinh
tế xã hội nhất là đối với địa phương vùng ven biển, hải đảo
Ngành NTTS đã lập nhiều chương trình xóa đói giảm nghèo bằng việcphát triển các mô hình nuôi trồng thuỷ sản đến cả vùng sâu, vùng xa, khôngnhững cung cấp nguồn dinh dưỡng, đảm bảo an ninh thực phẩm mà còn gópphần xoá đói giảm nghèo Các vùng nuôi tôm rộng lớn, hoạt động theo quy
mô sản xuất hàng hoá lớn đã hình thành, một bộ phận dân cư các vùng venbiển đã giàu lên nhanh chóng, rất nhiều gia đình thoát khỏi cảnh đói nghèonhờ nuôi trồng thuỷ sản
Hoạt động nuôi trồng thuỷ sản ở các mặt nước lớn như nuôi cá hồ chứacũng đã phát triển, hoạt động này luôn được gắn kết với các chương trìnhphát triển trung du miền núi, các chính sách xoá đói giảm nghèo ở vùng sâu,vùng xa
1.2.3.3 Về mặt môi trường:
Môi trường trong NTTS có ý nghĩa to lớn bởi NTTS sản xuất trực tiếptrên môi trường, tận dụng và phát huy những lợi thế của môi trường để nângcao năng suất và chất lượng ngành là tiêu điểm của sự phát triển bền vữngngành NTTS hiện nay Hiện nay, vấn đề môi trường đang nhận được rất nhiều
sự quan tâm của cộng đồng thế giới Như chúng ta đã biết môi trường trongNTTS có ý nghĩa to lớn bởi NTTS là ngành có quan hệ sản xuất trực tiếp vớimôi trường để nâng cao năng suất Các yếu tố của môi trường như : nguồnnước, các khu rừng sinh thái được ngành NTTS tận dụng như những đốitượng sản xuất và tư liệu sản xuất Ngoài ra, việc sử dụng thức ăn và chất hoáhọc trong quá trình nuôi trồng cũng là nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượngmôi trường Môi trường sẽ bị ô nhiễm và nguy hại khi NTTS chỉ hướng tới sựphát triển về kinh tế Vì thế mục tiêu bảo vệ môi trường sẽ được đặt ngang
Trang 19hướng tới môi trường làm cho chất lượng môi trường được cải thiện, nâng cao
sẽ là nền tảng vững chắc, lâu dài cho sự phát triển của NTTS.Vì thế, bảo vệmôi trường và sự phát triển ngành NTTS phải có sự kết hợp hài hoà và có mốiquan hệ thân thiết
Chất lượng các yếu tố môi trường sống như: môi trường nước, khôngkhí, đất, không gian vật lý…đúng quy định của Nhà nước và đặc biệt cần có
sự kết hợp hài hoà giữ khai thác, sử dụng với việc gìn giữ, bảo vệ môi trường,
đó là việc làm rất cần thiết và vô cùng quan trọng Trong quá trinh sử dụngnhững nguồn tài nguyên thiên nhiên quý hiếm đó con người cần đặc biệt quantâm đến việc đảm bảo an toàn và cân bằng môi trường sinh thái
1.3 Các nhân tố tác động đến sự phát triển bền vững ngành nuôi trồng thuỷ sản.
1.3.1 Đối tượng nuôi trồng thủy sản.
Cũng giống như sản xuất nông nghiệp, đối tượng của NTTS là các cơthể sống Chúng phát triển theo quy luật sinh học nhất định (sinh trưởng, pháttriển và diệt vong) Các cơ thể sống rất nhạy cảm với những điều kiện ngoạicảnh, chỉ một sự biến động nhỏ của môi trường sống cũng dễ gây ảnh hưởngđến bản thân các vật nuôi này Các ảnh hưởng của điều kiện bên ngoài như :gió, mưa, bão, lũ, hạn hán… đều ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triểncủa chúng
- Nguồn lợi cá nước ngọt: Việt Nam đã thống kê được 544 loài trong 18
bộ, 57 họ, 228 giống Với thành phần giống loài phong phú, nước ta đượcđánh giá có đa dạng sinh học Trong 544 loài đó có nhiều loài có gía trị kinh
tế cao
- Nguồn lợi cá nước lợ, mặn: Theo số liệu được thống kê, hiện nay nước
ta có 186 loài chủ yếu Một số loài có giá trị kinh tế như: Cá song, cá hồng, cátráp, cá vựợc, cá măng, cá cam…
Trang 20- Nguồn lợi tôm: Hiện nay, Việt Nam đã thống kê được 16 loài chủ yếu
- Về nhuyễn thể: Có một số loài chủ yếu: trai, hầu, điệp, nghêu, sò , ốc…
- Về rong tảo: Với 90 loài có giá trị kinh tế, trong đó đáng kể là rong câu(11 loài), rong mơ, rong sụn…
1.3.2 Điều kiện tự nhiên về mặt nước.
Có thể nói nguồn nước là một trong những yếu tố quyết định đến sựthành công của ngành NTTS Môi trường nước được phân thành ba loại: nướcngọt, nước mặn, nước lợ Đối với mỗi loại nước có một đối tượng nuôi trồngphù hợp Đặc biệt nguồn nước phục vụ NTTS yêu cầu khá khắt khe nghiêmngặt về chất lượng: nước không bị ô nhiễm, độ đục thấp, hàm lượng các chấtđộc trong nước thấp hoặc không có Để sử dụng nguồn nước mặt cho NTTSđạt hiệu quả cao và phát triển bền vững phải đặc biệt chú ý giải pháp quản lý,giải pháp kỹ thuật, giải pháp công cộng …làm cơ sở
Việt Nam có tiềm năng lớn để phát triển nuôi trồng thủy sản Bờ biểndài hơn 3.260 km với 112 cửa song, lạch và 12 đầm phá, eo vịnh, có khả năngphong phú nuôi thủy sản lợ, mặn Hệ thống sông ngòi, kênh rạch của ViệtNam rất đa dạng và chằng chịt có tới 15 con sông có diện tích lưu vực từ 300
km2 trở lên Ngoài ra, còn hàng nghìn đảo lớn nhỏ nằm rải rác dọc theo đườngbiển là những khu vực có thể phát triển nuôi trồng thủy sản quanh năm Trongvùng viển có 4.000 hòn đảo lớn nhỏ, trong đó có những đảo lớn có dân cưnhư Vân Đồn, Cát Bà, Phú Quý, Côn Đảo, Phú Quốc, có nhiều vịnh, vũng, eongách, các dòng hải lưu, vừa là ngư trường khai thác hải sản thuận lợi, vừa lànơi có nhiều điều kiện tự nhiên để phát triển nuôi biển và xây dựng các khucăn cứ hậu cần nghề cá Bên cạnh điều kiện tự nhiên vùng biển, Việt Nam còn
có nguồn lợi thuỷ sản nước ngọt ở trong 2.860 con sông lớn nhỏ, nhiều triệuhecta đất ngập nước, ao hồ, ruộng trũng, rừng ngập mặn, đặc biệt là ở lưu vực
Trang 21của hầu hết ngư dân vùng nông thôn Việt Nam Ở đất nước này, có lẽ không
có một gia đình nông dân nào mà ở đó người ta không thấy có một loại dụng
cụ đánh bắt cá, chí ít cũng có một cần câu
Trong nội địa hệ thống sông ngòi chằng chịt ở phía Bắc là hệ thốngsông Hồng và sông Thái Bình, phía Nam là đồng bằng sông Cửu Long với hệthống kênh rạch liên hoàn Ngoài ra, còn có các đầm hồ thủy lợi, thủy điện đãtạo ra một tiềm năng to lớn về diện tích mặt nước
Theo thống kê của Vụ Thủy sản – Bộ NN & PTNT hiện nay tổng diệntích có khả năng NTTS là khoảng 1.7 triệu ha gồm : 120.000 ha hồ chứa mặtnước lớn: 446.000 ha ruộng úng trũng, nhiễm mặn, cấy lúa một vụ hoặc hai vụbấp bênh: 635.000 ha vùng triều Ngoài ra, còn phải kể đến khoảng trên 100.000
ha eo vịnh, đầm phá ven biển đang được quy hoạch nuôi trồng thủy sản
1.3.3 Những thuận lợi về khí hậu, thủy văn và lao động.
- Về khí hậu: Các điều kiện thời tiết, khí hậu có ảnh hưởng rất lớn đến
hoạt động NTTS nó có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát sinh và lan tràndịch bệnh cho vật nuôi
Việt Nam là một nước nằm trong vùng nhiệt đới pha trộn tính ôn đới,
vì vậy mà điều kiện thời tiết khí hậu có ảnh hưởng sâu sắc đến ngành NTTS.Nuôi trồng thủy sản ở nước ta tiến hành được cả từ Bắc vào Nam nhờ khí hậu
Á nhiệt nóng ẩm và một số vùng pha chút khí hậu ôn đới Tài nguyên khí hậuthực sự quan trọng, đã trở thành một yếu tố đầu vào thuận lợi cho các hoạtđộng sản xuất kinh doanh thủy sản, giống như một món quà tặng của tự nhiêncho con người
Chế độ thủy văn ở hầu hết các sông vùng đồng bằng, đặc biệt là vùng
hạ lưu sông đều thích hợp cho nhiều loài thủy sản sinh sống và phát triển, tạothành một vùng sinh thái đặc trưng về nhiệt độ, dòng chảy, tính chất thủy lýhóa và nguồn thức ăn tự nhiên cho thủy sinh vật
Trang 22Bên cạnh những yếu tố thuận lợi giúp cho sự phát triển của ngànhNTTS thì cũng có nhiều yếu tố ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của ngànhnhư: lũ lụt, hạn hán , bão…gây thiệt hại nghiêm trọng cho NTTS, từ đó làmcho ngành thuỷ sản có tính bấp bênh, không ổn định Nhiệt độ đóng một vaitrò quan trọng cho quá trình sinh trưởng của sinh vật nói chung và các loàithuỷ sản nới riêng Khả năng chống chịu của chúng nằm trong khoảng giớihạn nhất định Sự tăng nhiệt độ có thể làm suy giảm sản lượng thuỷ sản trongcác ao hồ Thay đổi nhiệt độ còn là điều kiện phát sinh của nhiều loài dịchbệnh xảy ra cho các loài nuôi Nhiệt độ tăng cao làm cho sức khoẻ của cácloài nuôi, môi trường nước xấu đi, là điều kiện thuận lợi cho các loài vi sinhvật gây hại.
Đối với nghề NTTS nước mặn, lợ thì độ mặn là yếu tố ảnh hưởng rấtlớn đến sự sinh trưởng và phát triển của loài nuôi Khi xảy ra mưa lớn độ mặntrong các ao nuôi giảm đi đột ngột vượt ra khỏi khả năng chịu đựng làm chotôm, cá bị sốc, sặc bùn chết hoặc chậm lớn
- Về thủy văn: độ phì nhiêu kinh tế của các loại hình thủy vực, ao, hồ,
ruộng…ở các vùng đồng bằng và ven biển là khá cao, có thể phát triển nuôitrồng thủy sản Độ phì nhiêu kinh tế bao gồm độ phì tự nhiên do đất phonghòa lâu đời mà có và độ phì nhiêu nhân tạo do con người tạo ra khi cải tạovùng nước, bón them các loại phân xanh, phân chuồng, phân vô cơ… làmtăng hàm lượng chất hữu cơ, các thức ăn tự nhiên cho nuôi trồng thủy sản
- Về nguồn nhân lực: người lao động ở nông thôn và các vùng ven biển
đều biết nuôi trồng thủy sản như một nghề truyền thống và hơn nữa, trongnhững năm gần đây nuôi trồng thủy sản đã được coi như một nghề chính, cókhả năng làm giàu ở nhiều địa phương Lao động nông ngư dân với kinhnghiệm và kiến thức nuôi trồng thủy sản của mình đang là yếu tố thuận lợi để
Trang 231.3.4 Nhân tố tiến bộ khoa học – công nghệ kỹ thuật
Cùng với sự phát triển của xã hội thì những tiến bộ kỹ thuật của ngànhNTTS ra đời cùng với sự phát triển đó của con người Tiến bộ khoa học ra đời
đã làm thay đổi đời sống con người trong mọi lĩnh vực, trong đó có ngànhNTTS Khách hàng của ngành này thường khó tính, đòi hỏi cao về chất lượngsản phẩm và một hệ thống quản lý nghiêm ngặt theo chuẩn quốc tế Bởi vậy,ứng dụng KH - CN phục vụ công tác quản lý trong ngành thủy sản đang và sẽ
là một đòi hỏi tất yếu
Đối với ngành NTTS nói riêng, nhờ áp dụng những tiến bộ này màngười ta đã có thể sản xuất ra những giống thuỷ sản mới, chất lượng cao, sinhtrưởng nhanh, có khả năng chống chịu với những điều kiện ngoại cảnh tốt…Ngoài ra, nhờ áp dụng những tiến bộ khoa học – kỹ thuật mà người ta có thểkiểm soát và phòng trừ dịch bệnh trong NTTS, phát triển và mở rộng ứngdụng các kỹ thuật hiện đại chẩn đoán và xử lý kịp thời bệnh nguy hiểm ởđộng vật thuỷ sản
1.3.5 Vốn đầu tư đối với phát triển bền vững NTTS
Như chúng ta đã biết ngành NTTS có vai trò rất quan trọng trong nềnkinh tế quốc dân trong tương lai ngành sẽ là một nghề có lợi và phát triểnmạnh Với những điều kiện thuận lợi về diện tích mặt nước, khí hậu, nguồnnhân lực dồi dào, nguồn lợi giống loài phong phú, đa dạng chúng ta cònthấy được sự cần thiết của việc tăng cường và phát triển đầu tư vào lĩnh vựcnày hơn nữa
Vốn đầu tư cho chương trình nuôi trồng thủy sản được huy động từ cácnguồn:
- Vốn ngân sách nhà nước (kể cả vốn vay và vốn viện trợ chính thức củaChính phủ các nước, tài trợ của các tổ chức Quốc tế)
- Vốn tín dụng trung hạn và dài hạn, Vốn tín dụng ngắn hạn
Trang 24- Vốn huy động từ các tổ chức, cá nhân và cộng đồng dân cư.
- Vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài
Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính, Ngân hàngNhà nước Việt Nam và các Bộ, ngành liên quan có giải pháp cân đối cácnguồn vốn và bố trí theo kế hoạch hàng năm trình Chính phủ quyết định đểđầu tư theo dự án thực hiện chương trình
1.3.6 Công tác quản lý và chỉ đạo của Nhà nước.
Do đặc điểm của ngành nuôi trồng thủy sản là nhỏ bé, manh mún vàphân tán nên ngoài việc tăng nguồn vốn đầu tư để để phát triển giống, xâydựng trang trại nuôi trồng quy mô, đầu tư kỹ thuật và đào tạo nguồn nhânlực… thì vai trò của Nhà nước trong việc quản lý, chỉ đạo là vô cùng cần thiết
để những đồng vốn đầu tư đó được sử dụng đúng mực đích và hiệu quả Cóthể nói vai trò của Nhà nước như kim chỉ nam trong công tác quy hoạch nhằmkhắc phục những vấn đền còn tồn tại, yếu kém trong quá trình hoạt động vàphát triển của ngành NTTS như: nạn ô nhiễm môi trường, dịch bệnh đang cónguy cơ bùng nổ, cơ sở hạ tầng yếu kém, nguồn nhân lực, khả năng ứng dụng
KH –CN còn thấp Vì thế, nhà nước cần có những chính sách và thiết chế tổchức có hiệu lực để khắc phục những tình trạng còn tồn tại trên
1.4 Kinh nghiệm một số nước về phát triển bền vững ngành nuôi trồng thủy sản.
1.4.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc.
Hiện nay, Trung Quốc là nhà cung cấp thủy sản lớn nhất thế giới, chiếmkhoảng 35% tổng sản lượng thủy sản toàn cầu Trung Quốc cũng là nước duynhất trên thế giới có sản lượng nuôi trồng vượt quá sản lượng khai thác Năm
2004, tổng sản lượng thủy sản của Trung Quốc đạt 49 triệu tấn, trong đó 64%
là thủy sản nuôi Thủy sản nước mặn chiếm 56% tổng thủy sản nuôi, trong đó
Trang 2515 quốc gia với tổng giá trị xuất khẩu ước đạt 100 triệu Dự báo, tiêu thụ thủysản bình quân trong nước của Trung Quốc sẽ tăng mạnh trong thời gian tới, từ
25 kg/người năm 2004 lên 36 kg/người vào năm 2020
Việc Trung Quốc đầu tư mạnh vào sản xuất cá rô phi cũng góp phần pháttriển ngành thủy sản trong nước, đưa Trung Quốc trở thành nhà sản xuất cá rôphi hàng đầu thế giới Năm 2007, xuất khẩu cá rôphi của Trung Quốc tăngtrưởng ngoạn mục, 10 tháng đầu năm, kim ngạch xuất khẩu cá rôphi của nướcnày đạt 369 triệu USD Như vậy, xu hướng tập trung vào các sản phẩm giá trịgia tăng ngày càng rõ nét
Sự phát triển nhanh của ngành thuỷ sản không chỉ đáp ứng nhu cầu thịtrường và cải thiện đời sống dân cư, mà còn tạo ra nhiều cơ hội việc làm vàgóp phần cơ cấu lại ngành nông nghiệp
Từ năm 1979 – 1996, ngành thủy sản đã tạo thêm khoảng 9 triệu việclàm cho người lao động Năm 1999, số lao động tham gia sản xuất thuỷ sản là12,57 triệu người, trong đó lao động nuôi trồng thuỷ sản chiếm tới 70% Đờisống của ngư dân cũng được cải thiện rõ rệt, thu nhập của lao động nghề cá từ
126 RMB năm 1979, tăng lên 4.474 RMB năm 1999, nghĩa là gấp 35 lần sau
20 năm Mức thu nhập của lao động thuỷ sản gấp gần 2 lần so với thu nhậpbình quân đầu người của dân cư nông thôn Đồng thời ngành thuỷ sản cũngtạo động lực thúc đẩy sự phát triển của các ngành liên quan như chế biến, vậnchuyển, thương mại, v.v…
Tuy nhiên, trong suốt quá trình phát triển cho đến nay, ngành thuỷ sảnphải thường xuyên đối mặt với những vấn đề ngày càng lớn lên, như suygiảm nguồn lợi tự nhiên, suy thoái môi trường, dư thừa lao động…
Bên cạnh những ưu đãi về điều kiện tự nhiên để phát triển ngànhNTTS, Chính phủ Trung Quốc còn có nhiều biện pháp khuyến khích pháttriển NTTS và tăng cường mối quan hệ giữa các thành phần kinh tế tham giahoạt động thuỷ sản (ngư dân, nông dân, hợp tác xã, công ty) Các biện pháp
Trang 26này góp phần quan trọng đảm bảo cho sự phát triển bền vững của ngành thuỷsản Trung Quốc trong tương lai Vì vậy đã tạo nên một sức mạnh mới chongành NTTS Trung quốc phát triển mạnh mẽ sau này Các biện pháp quantrọng có thể kể đến là:
- Tăng cường cung cấp các dịch vụ tiền sản xuất và hỗ trợ sau thuhoạch thông qua việc đầu tư xây dựng nhiều trại sản xuất giống, các trạmkiểm soát dịch bệnh thuỷ sản, phổ biến kỹ thuật cho ngư dân Bên cạnh đóchính phủ còn đề ra các chính sách ưu đãi về đầu tư, thuế và tín dụng cho các
hộ gia đình nuôi trồng thuỷ sản ở nông thôn
- Ưu tiên thúc đẩy phát triển khoa học công nghệ thuỷ sản, chú trọngứng dụng thành tựu khoa học công nghệ vào sản xuất Thông qua các chínhsách ưu đãi của chính phủ, nhiều nhà khoa học được khuyến khích làm việccùng ngư dân và người nuôi thuỷ sản Sự phát triển của công nghệ nuôi lồng
và nuôi rào chắn đã giúp tăng diện tích mặt nước có thể sử dụng để nuôi thuỷsản Sự thành công của công nghệ nuôi và sản xuất giống nhân tạo các loài cógiá trị cao như tôm, bào ngư, điệp, hải sâm, cá rô mo thân cao, cua đồng, đãlàm tăng thu nhập cho người nuôi và mở rộng thị trường xuất khẩu
- Tăng cường hiệu lực hệ thống pháp luật thuỷ sản và quản lý nguồn lợithuỷ sản: Để bảo vệ và sử dụng nguồn lợi thuỷ sản hợp lý, chính phủ TrungQuốc đã chú trọng đến việc xây dựng Luật Thuỷ sản Ngay từ năm 1979, Hộiđồng Nhà nước đã thông qua “Quy định về bảo vệ và nhân giống nguồn lợithuỷ sản”
- Mở rộng hợp tác quốc tế: đến nay, Trung Quốc đã tiến hành nhiềuhoạt động hợp tác thuỷ sản với hơn 60 quốc gia và các tổ chức quốc tế.Những hoạt động này đã mang đến cho Trung Quốc một triển vọng mới trongnuôi trồng thủy sản Bên cạnh đó, Trung Quốc đã tạo ra một môi trường đầu
Trang 271.4.2 Kinh nghiệm NTTS của Thái Lan.
Nuôi trồng thủy sản ở Thái Lan đã góp một phần lớn vào sự gia tăng sảnxuất của nước này Một báo cáo của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp củaLHQ dự báo rằng nuôi trồng thủy sản sẽ đóng góp được gần một nửa tổng sảnlượng sản xuất của đất nước này vào năm 2010, so với chỉ một vài phần trămvào năm 1990
Thái Lan được xem như bắt đầu phát triển từ đầu thế kỉ 19 Nghề nuôitrồng thủy sản nước ngọt đã phát triển trước đó trong một thời gian dài, nhưngnghề nuôi thủy sản nước mặn ngày càng mở rộng trong thời gian gần đây.Trong năm 2003, sản lượng nuôi trồng thủy sản đạt khỏang 1.064 triệu tấn vàđạt giá trị 1.46 tỉ USD được tính trên 1 quý của tổng sản phẩm thủy sản Sựhọat động của nghành nuôi trồng thủy sản ở Thái Lan có thể được chia thànhhai nhóm: thủy sản nước ngọt và nước mặn
Nghề nuôi trồng thủy sản nước ngọt, chủ yếu là trong các ao, hồ và trêncánh đồng lúa, đã tồn tại ở Thái Lan trên 80 năm Sự phát triển nghề nuôithủy sản nước ngọt bắt đầu vào năm 1922 sau khi sự nhập khẩu cá chépTrung Quốc để làm cá nuôi lan rộng toàn Bangkok Năm 1951, bộ thủy sản đãthiết lập một chương trình quảng bá nghề nuôi trồng thủy sản Hiện nay, cóhơn 50 loài thủy sản nước ngọt đã và đang được nuôi trồng Có 5 loài quantrọng, nuôi hàng năm thu sản phẩm có giá trị cao: cá rô sông Nile, cá trê lai,
cá ngạch bạc, tôm càng xanh, cá rô phi
Gần gây, nghề nuôi trồng thủy sản ven biển bắt đầu được phổ biến với
kỹ thuật thâm canh và bây giờ đã trở nên rất thành công cho những vụ nuôi
Nó cũng được khuyến khích bởi vì nó hạn chế sự khai thác quá mức nguồn lợiven biển và sự ô nhiễm môi trường Một trong những loài thủy sản nước mặnquan trọng là: cá vược, cá mú, tôm he, nghêu, sò, cua, ghẹ Nó bao gồm hai
hệ thống nuôi cá giống từ cá bột ở biển và những con đang thành thục mắc
Trang 28trong bẫy nhưng là trường hợp của loài cua bùn Nghề nuôi trồng nghêu, sò
và tôm mang lại hiệu quả cao nhất
Thái Lan tiếp tục triển khai Dự án “Phát triển nuôi trồng hải sản và đánh giá nguồn lợi thủy sản” tại biển Andaman, Thái Lan nhằm giúp người
Thái có thể tự nuôi thuỷ sản theo kỹ thuật hiện đại Viện Nghiên cứu Biển(IMR) là nhà tư vấn chính của dự án Dự án này bao gồm hai phần “Phát triểnnuôi trồng hải sản ” và “Đánh giá nguồn lợi thuỷ sản ở biển Andaman” Haiphần dự án sẽ đuợc thực hiện cho đến hết năm 2009 IMR và Bộ Nghề cáThái Lan (DOF) cùng tham gia thực hiện dự án này
Theo mong muốn của các nhà chức trách Thái, trọng tâm của dự án là
phát triển cơ sở “nuôi lồng thử nghiệm” Mục tiêu của IMR là truyền đạt cho
người nuôi kiến thức về nuôi trồng thuỷ sản và việc áp dụng công nghệ hiệnđại trong hoạt động nuôi
Cá giò là loài mà DOF chọn để thí điểm Đây là loại cá biển sống ở vùngnước ấm nhiệt đới, thịt ngon và lớn rất nhanh, rất quen thuộc với ngư dân.Loài cá này cũng đã từng đóng một vai trò quan trọng trong việc phát triểnnhững loài nuôi mới ở Đài Loan, Việt Nam và các nước Mỹ La tinh
Dự án cũng tập trung vào điều chỉnh kích cỡ lồng nuôi Thái Lan đã ưutiên thành lập một trung tâm nuôi trồng thuỷ sản tại Phuket để sản xuất congiống hàng loạt Ba lồng nuôi ở Phuket là các lồng nuôi lớn lần đầu tiên được
sử dụng trong nuôi trồng thuỷ sản tại Thái Lan Sự kiện này đã thu hút đượcrất nhiều mối quan tâm từ ngành thuỷ sản và nhiều đối tượng khác Một hộithảo khác được tổ chức tại Songkhla, Thái Lan tập trung thảo luận các loạibệnh và kí sinh trùng thường thấy ở cá giò, những biện pháp phòng và trịbệnh tại các lồng nuôi lớn
Dự án nuôi cá lồng sẽ được tiếp tục cho đến hết năm 2009 Sản lượng và
Trang 291.4.3 Bài học kinh nghiệm cho VN.
Nằm trong tốp 10 nước NTTS đứng đầu thế giới nên Việt Nam phảikhông ngừng học hỏi kinh nghiệm của các nước bạn cả về kỹ thuật cũng nhưphương pháp nuôi trồng: Phải chuyển từ nuôi trồng nhỏ lẻ, tự phát sang nuôitập trung, quy mô lớn, ưu tiên ứng dụng và phát triển khoa học kỹ thuật vàođiều kiện cụ thể của Việt Nam Chú trọng đầu tư con giống, đào tạo nhân lực,
mở rộng quan hệ hợp tác với các nước phát triển trên thế giới Đặc biệt ViệtNam cần chú trọng tăng cường hệ thống pháp luật thủy sản, nâng cao vai tròquản lý của nhà nước Trong thời gian qua Việt Nam đã gặt hái được nhữngthành công đáng ghi nhận khi chúng ta đã áp dụng thàng công và sáng tạophương pháp nuôi lồng thử nghiệm từ đất nước Nhật Bản Năm 2008, ViệtNam đã áp dụng phương pháp nuôi này cho hơn 20 lồng cá Tầm ở BìnhThuận, đó là một phương pháp nuôi mới, tiến bộ và mang lại hiệu quả kinh tếcao Trong những năm gần đây, do nhu cầu thị trường và khả năng cung cấpcon giống, nhờ áp dụng phương pháp nuôi của Nhật Bản nước ta đã tiến hànhnuôi cá giò được nuôi trong các lồng bè ở một số vùng biển nước ta Hiệnnay, cá giò đã được đưa vào nuôi mở rộng ở các tỉnh phía Bắc, vùng vịnh HạLong (Quảng Ninh) và các cảng vịnh thuộc vịnh Cát Bà (Hải Phòng) đó lànhững vùng có điều kiện thuận lợi để phát triển nghề nuôi cá lồng trên biển vàđiều kiện môi trường phù hợp với đặc điểm của một số loài cá nuôi Trongtương lai mô hình nuôi hiệu quả này sẽ được phát triển rộng rãi hơn nữa ởkhắp các vùng, miền của đất nước Cùng với đó Việt Nam cũng đã áp dụngkhá thành công mô hình nuôi cá rô phi của Trung quốc Việt Nam hiện nayđang chủ trương phát triển cá rô phi thành một đối tượng nuôi chủ lực, tạo sảnphẩm cho tiêu dùng nội địa và chế biến xuất khẩu
Để giữ được vị thế là một trong số những nước đứng tốp đầu về xuấtkhẩu NTTS đó là thành quả của cả một quá trình học hỏi, nghiên cứu ứngdụng một cách sáng tạo, hợp lý đường lối cũng như chủ trương phát triển của
Trang 30các cường quốc hùng mạnh về NTTS như Trung quốc và Nhật bản vào điềukiện cụ thể của nước mình Trên đây là một số kinh nghiệm quý báu củanhững nước đã đạt được những thành tựu to lớn về NTTS Có thể nói đó lànhững bài học quý báu và phù hợp khi chúng ta biết áp dụng một cách hợp lývào hoàn cảnh đất nước cụ thể của Việt Nam Tuy nhiên khó khăn thách thứcđang còn rất nhiều ở phía trước đòi hỏi toàn thể lao động ngành NTTS từ cácnhà quản lý đến nhà nghiên cứu khoa học, nông ngư dân và các doanh nghiệpphải nỗ lực và chủ động hơn nữa trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh củasản phẩm thuỷ sản Việt Nam, mở rộng thị trường, thu hút đầu tư và chủ độngđối phó với cạnh tranh và tranh chấp thương mại ngày càng diễn ra gay gắttrên thị trường quốc tế.
Trang 31CHƯƠNG II - THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NUÔI TRỒNG THUỶ SẢN VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2000 - 2008
2.1 - Lịch sử phát triển ngành thủy sản nói chung và NTTS nói riêng.
2.1.1 Ngành thuỷ sản được ra đơi từ rất sớm, trải qua các giai đoạn sau:
2.1.1.1 Từ sau những năm 1950:
Đánh giá được vị trí ngày càng đáng kể và sự đóng góp mà nghề NTTS
có thể mang lại cho nền kinh tế quốc dân, cùng với quá trình khôi phục vàphát triển kinh tế ở miền Bắc, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã bắt đầu quantâm phát triển nghề NTTS và hình thành các cơ quan quản lý nhà nước tronglĩnh vực này Từ đó, NTTS - ngành Thuỷ sản - đã dần hình thành và phát triểnnhư một ngành kinh tế - kỹ thuật có vai trò và đóng góp ngày càng lớn chođất nước
2.1.1.2 Giai đoạn 1954 – 1960:
Là thời kỳ kinh tế thuỷ sản bắt đầu được chăm lo phát triển để manh
nha một ngành kinh tế kỹ thuật Đây là thời kỳ khôi phục và phát triển kinh tế
ở miền Bắc Điểm mới của thời kỳ này là sự hình thành các tổ chức nghềNTTS công nghiệp
2.1.1.3 Trong những năm 1960 – 1980:
Thuỷ sản có những giai đoạn phát triển khác nhau với diễn biến củalịch sử đất nước Những năm 1960 - 1975, đất nước có chiến tranh, cán bộ vàngư dân ngành thuỷ sản “vững tay lưới, chắc tay súng”, hăng hái thi đua laođộng sản xuất với tinh thần “tất cả vì miền Nam ruột thịt”, cùng cả nước thựchiện 2 nhiệm vụ chiến lược “Xây dựng CNXH ở miền Bắc và đánh thắng giặc
Mỹ, giải phóng miền Nam” Thực hiện 10 năm Di chúc Bác Hồ, ngành đãphát động thành công phong trào “Ao cá Bác Hồ” rộng khắp trong cả nước,
Trang 32đem lại tác dụng rất lớn Mặc dù tổ chức quản lý ngành được thành lập (Tổngcục thuỷ sản năm 1960, Bộ Hải sản năm 1976, Bộ Thuỷ sản năm 1981),nhưng do đất nước có chiến tranh và sau đó là những năm khôi phục hậu quảnặng nề của chiến tranh và phần nào hậu quả cơ chế quản lý chưa phù hợpnên vào cuối giai đoạn này, kinh tế thuỷ sản lâm vào sa sút nghiêm trọng.
2.1.1.4 Giai đoạn từ 1981 đến nay:
Thời kỳ này, trong chiến lược phát triển của ngành, các lĩnh vực khaithác và nuôi trồng thuỷ sản được định hướng phát triển phục vụ xuất khẩu.Ngành đã chủ động đi trước trong hội nhập quốc tế, đẩy mạnh việc áp dụngkhoa học công nghệ tiên tiến vào sản xuất, gắn sản xuất nguyên liệu với chếbiến, xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường xuất khẩu
Năm 1981 sự phát triển vượt bậc của ngành được đánh dầu bằng sự rađời của Công ty xuất nhập khẩu thuỷ sản Seaprdex Việt Nam Ngành thuỷ sản
đã vận dụng sáng tạo, có hiệu quả các cơ chế tiên tiến của các nước đi trướctrên thế giới bước đầu đã đem lại những thành công nhất định, tạo ra bướcngoặt quyết định cho sự phát triển của kinh tế thuỷ sản, mở đường cho sự tăngtrưởng liên tục suốt hơn 23 năm qua
Năm 1993, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 5 khoá VII
đã xác định xây dựng thuỷ sản thành ngành kinh tế mũi nhọn Trong xu thế mởcửa hội nhập của đất nước ngành luôn coi XK là mục tiêu hướng tới và cũng làđộng lực để đưa nền kinh tế nước nhà ngày một phát triển bền vững
Đặc biệt, từ giữa những năm 1990 đã tập trung đổi mới phương thứcquản lý chất lượng và an toàn sản phẩm, tiếp cận để đáp ứng những đòi hỏicao nhất về lĩnh vực này của các thị trường lớn, nhờ đó đứng vững được trêncác thị trường thuỷ sản lớn nhất trên thế giới
Trang 332.1.2 Quá trình phát triển của ngành NTTS nói riêng:
Nghề nuôi trồng thuỷ sản từ chỗ là một nghề sản xuất phụ, mang tínhchất tự cấp tự túc đã trở thành một ngành sản xuất hàng hoá tập trung vớitrình độ kỹ thuật tiên tiến, phát triển ở tất cả các thuỷ vực nước ngọt, nước lợ,nước mặn theo hướng bền vững, bảo vệ môi trường, hài hoá với các ngànhkinh tế khác
Năm 1981: Diện tích nuôi trồng thuỷ sản tăng đều đặn theo từng năm
suốt từ 1981 tới nay, từ 230 nghìn ha năm 1981 lên 384,6 nghìn ha năm 1986,đến nay đã đạt hơn 1 triệu ha Điều căn bản là khi tỷ trọng diện tích nuôi mặn,
lợ tăng lên, nhất là nuôi tôm thì sản lượng nuôi, nhất là sản lượng nuôi đưavào xuất khẩu đã tăng nhanh chóng và hiệu quả kinh tế có bước nhảy vọt.Thời kỳ này thuỷ sản đã trở thành ngành sản xuất hàng hoá đã được khẳngđịnh từ giữa những năm 80 và gặt hái thành quả
Từ năm 1990 trở lại đây: với tôm nuôi cho xuất khẩu là mũi đột phá
quan trọng Năm 1991, diện tích nuôi trồng thuỷ sản mới đạt 520.000 ha, sảnlượng đạt 335.910 tấn Đến năm 1996 diện tích nuôi trồng thuỷ sản là 585.000
ha, sản lượng nuôi trồng đạt 411.000 tấn, thì đến năm 2008, diện tích nuôi là1.052.600 ha, sản lượng đạt 723.110 tấn, năm 2008 sản lượng nuôi trồng đãđạt 2.465.600 tấn Như vậy chỉ trong vòng 16 năm diện tích nuôi trồng đãđược mở rộng gấp đôi, sản lượng tăng gấp hơn 7 lần Nuôi trồng thuỷ sảnđang từng bước trở thành một trong những ngành sản xuất hàng hoá chủ lực,phát triển rộng khắp và có vị trí quan trọng và đang tiến đến xây dựng cácvùng sản xuất tập trung Các đối tượng có giá trị cao có khả năng xuất khẩu
đã được tập trung đầu tư, khuyến khích phát triển, hiệu quả tốt Phát huy đượctiềm năng tự nhiên, nguồn vốn và sự năng động sáng tạo trong doanh nghiệp
và ngư dân, đồng thời góp phần hết sức quan trọng cho chuyển dịch cơ cấu
Trang 34kinh tế trong nông nghiệp cũng như cho xoá đói giảm nghèo.
2.2 – Thực trạng phát triển bền vững ngành nuôi trồng thủy sản từ năm
2000 đến nay.
2.2.1 Về mặt kinh tế:
2.2.1.1 Về quy mô, sản lượng và diện tích ngành NTTS :
Trong thời gian vừa qua ngành NTTS phát triển một cách mạnh mẽ vàđóng góp đáng kể vào sự phát triển kinh tế, xã hội và nâng cao vị thế của đấtnước Minh chứng cho điều đó là ngành đã luôn tăng mạnh cả về diện tích vàsản lượng nuôi trồng cũng như giá trị xuất khẩu, đồng thời ngành còn giảiquyết việc làm cho một số lượng lớn lao động nghèo ven biển Từ chỗ chỉ có262.000 ha mặt nước được đưa vào NTTS, cho sản lượng chưa đầy 200.000tấn năm 1980, đến nay diện tích NTTS đã được mở rộng lên trên 1.000.000
ha và sản lượng thuỷ sản nuôi trồng của VN năm 2007 đã đạt 2.100.000 tấn,tăng gấp hơn 10 lần so với năm 1980 Với sự đóng góp chủ yếu của sản phẩm từNTTS, giá trị xuất khẩu thủy sản của VN năm 2007 đã lên tới 3.762 triệu USD,đứng thứ tư trong những ngành hàng có xuất khẩu cao nhất của cả nước
Trang 35Bảng 2.1: Các chỉ tiêu cơ bản đạt được năm 2007
năm 2010
Đã đạtđược 2007
Đạt đượcmục tiều
đề ra (%)1.Diện tích nuôi,
Theo: Báo cáo số 206/BCKH –NTTS của các Cục Nuôi trồng thuỷ sản
Số liệu trung tâm tin học và thống kê.
- Về diện tích: Việt Nam có diện tích mặt nước lớn, kể cả nước ngọt, lợ
và mặn, đây là một lợi thế cho việc phát triển nuôi trồng thủy sản và cũng làmột trong những lý do dẫn tới sự thành công của ngành trong thời gian qua.Diện tích nuôi trồng thủy sản không ngừng tăng qua các năm từ 755 nghìn ha
năm 2001, lên 906 nghìn ha năm 2004 và 952.6 nghìn ha năm 2005, năm
2006 diện tích đạt 976.5 nghìn ha (tăng 2.5%) Năm 2007 ngành đã đạt mức
trên 1 nghìn ha (1018.8 nghìn ha) tăng gần 1.66 lần so với năm 2000 Diện
Trang 36tích NTTS tiếp tục được mở rộng đến năm 2008 đã là 1052.6 nghìn ha Đến đầu năm 2009, theo Vụ Nuôi trồng Thuỷ sản - Bộ Nông nghiệp và Phát triển
Nông thôn, diện tích nuôi trồng thuỷ sản ở Việt Nam hiện đạt 1,05 triệu ha,tăng khoảng 10.000 ha so với cuối năm 2008
Biểu đồ 2.1: Diện tích nuôi trồng thủy sản giai đoạn 2000 – 2008
0 200,000
Tổng diện tích NTTS Diện tích TS nuôi nước ngọt
Diện tích TS nuôi nước mặn, lợ
Diện tích NTTS tăng nhanh và tăng đều qua các năm nhất là diện tíchnước mặn, lợ, còn diện tích nước ngọt có tăng nhưng chậm hơn Diện tíchnuôi trồng thuỷ sản cả nước năm 1999 (năm trước khi thực hiện chương trình
phát triển nuôi trồng thuỷ sản) là 524.619 ha, năm 2000 là 640.495 ha (tăng 22,3%), năm 2001 tăng lên 755.178 ha (tăng 17,6%), năm 2002 tăng lên 797.744 ha (tăng 5,6%), năm 2003 tăng lên 867.613 ha (tăng 8,7%), năm
2004 tăng lên 920.088 ha (tăng 6%) Năm 2005 diện tích nuôi trồng là
Trang 371018.800 ha (tăng 3.22%) gấp 1.92 lần so với năm 1999 (năm trước khi thựchiện chương trình phát triển NTTS) Trong đó, NTTS nước mặn là 702.500 hagấp 2.2 lần so với diện tích nước ngọt (305.500 ha) Có thể nói riêng năm
2007 là một năm gặt hái được nhiều thành công của ngành NTTS nói chung,ngành NTTS nói riêng Trước hết phải kể đến sự mở rộng không ngừng củadiện tích nuôi, trồng không chỉ ở một số vùng, miền cụ thể mà ở tất cả cáckhu vực vốn có tiềm năng và nhiều lợi thế phát triển NTTS từ trước đây Diệntích NTTS của các tỉnh miền núi phía Bắc là 53.700 ha, các tỉnh ven biểnDuyên hải Nam Trung bộ là 23.000 ha, các tỉnh Tây Nguyên là 9.100 ha, cáctỉnh miền Đông Nam Bộ là 56.500 ha Không thể không nhắc đến khu vực códiện tích NTTS lớn nhất cả nước đó là Đồng bằng sông Cửu Long với717.500 ha Vậy, diện tích NTTS ở Việt Nam trong thời gian qua đã khôngngừng được mở rộng ở các vùng trong cả nước mà trong tương lai không xangành NTTS còn tận dụng được cả những diện tích mặt nước ngoài biển vàhải đảo mà tự nhiên ban tặng
Trang 38Nguồn: Niên giám thống kê 2006, 2007
Chúng ta có thể thấy được rằng: Nuôi trồng thuỷ sản phát triển mạnh
mẽ khắp các vùng trong cả nước kể cả các tỉnh Tây Nguyên, các tỉnh miền
núi phía Bắc… trên cả 3 loại hình nước ngọt, nước lợ và nước mặn và đang
vươn ra biển Điều đó chứng tỏ trong suốt thời gian qua nước ta đã có nhữngchính sách, biện pháp quy hoạch đất, từng bước chuyển đổi vùng trũng, vùngtrồng lúa, vùng trồng cói, các cây công nghiệp năng suất thấp, làm muối kémhiệu quả sang NTTS Từ bảng số liệu đưa đến cho chúng ta một thực tế đó làNTTS chủ yếu được phát triển trên diện tích thủy sản nước mặn, lợ Điều đó
Trang 39các loại thủy sản thuần túy khác thì diện tích mặt nước mặn mang lại hiệu quảkinh tế cao hơn so với diện tích nước ngọt
- Sản lượng: Sản lượng NTTS liên tục tăng và ổn định qua các năm Năm 2005, sản lượng thủy sản nuôi trồng đạt 1.400.000 triệu tấn, tăng 16,4%
so với năm 2004 và tăng hai lần năm 2001 (709 nghìn tấn) Năm 2006, sản
lượng thủy sản nuôi trồng của Việt Nam đạt 1,67 triệu tấn Thuỷ sản của Việt
Nam năm 2007 đạt được là 4.160.000 tấn, gấp 6 lần so với năm 1980, trong
đó từ nuôi trồng thuỷ sản là 2.100.000 tấn, gấp hơn 10 lần so với 1980 và sovới năm 1999 ( là 480.767 tấn) thì tăng gấp 4.37 lần đứng thứ 5 về sản lượngnuôi trồng thuỷ sản (sau Trung Quốc, Ấn Độ, Inđônêxi, Philippin) Đến naysản lượng nuôi trồng thủy sản Việt Nam đứng thứ 3 trên thế giới sau TrungQuốc và Ấn Độ Riêng năm 2007, sản lượng nuôi trồng thủy sản của các tỉnhmiền núi phía Bắc là 68.932 tấn tăng hơn so với năm 2000 (năm đầu tiên thựchiện” chương trình phát triển NTTS”) là 45.139 tấn (tăng 2.89 lần); các tỉnhthuộc khu vực ĐBSH là: 273.241 tấn, tăng hơn năm 2000 là 164.476 tấn(tăng 2.5 lần); các tỉnh thuộc khu vực Bắc Trung Bộ là 78.695 tấn tăng hơnnăm 2000 là 50.586 tấn (tăng 2.8 lần); Các tỉnh ven biển Nam Trung Bộ là
38701 tấn tăng hơn so với năm 2000 là 18.250 tấn (tăng 2.35 lần); Các tỉnhTây nguyên là 11.662 tấn tăng hơn năm 2000 là 704 tấn (tăng 1.06 lần); Cáctỉnh Đông Nam Bộ là 106.001 tấn tăng hơn năm 2000 là 65.978 tấn (tăng 2.65lần); Các tỉnh ĐBSCL là 1.508.035 tấn tăng hơn năm 2000 là 1.142.894 tấn(tăng 4.13 lần) chúng ta có thể nhận thấy sản lượng nuôi trồng của các khuvực nhìn chung đều tăng đều qua các năm Nhưng đáng chú ý nhất là khu vựcĐồng bằng sông Cửu Long với sản lượng nuôi trồng không chỉ liên tục tăng
mà còn luôn giữ mức sản lượng cao nhất, cao hơn tất cả các khu vực kháctrong cả nước, tiếp sau đó phải kể đến là sự đóng góp không nhỏ của khu vựcĐồng bằng sông Hồng không chỉ với tốc độ tăng sản lượng liên tục cao mà
Trang 40còn đa dạng, phong phú về chủng loại
Để thấy rõ hơn sự gia tăng ngày một nhanh chóng qua các năm về sản lượngNTTS ở các đối tượng nuôi khác nhau chúng ta theo dõi bảng số liệu sau:
Bảng 2.3: Số liệu kết quả sản xuất, kinh doanh NTTS ( 2000 – 2008 )
Nguồn : Niên giám thống kê 2008
Chúng ta có thể thấy cá và tôm là hai đối tượng nuôi được chú trọng pháttriển nhất ở Việt Nam vì thế sản lượng nuôi hàng năm của cá và tôm là tươngđối cao, nhất là cá luôn được ưa chuộng tiêu dùng trong nước cũng như xuấtkhẩu hơn tôm
Hiện nay các loại cá được nuôi phổ biến đó là cá tra, cá basa Thực hiện
mô hình nuôi cá tra - đây là dự án nuôi cá tra sinh thái đầu tiên tại Việt Nam,theo phương thức nuôi sạch, từ khâu chọn giống có nguồn gốc, quá trình nuôihạn chế tối đa sử dụng hóa chất, tuyệt đối không dùng kháng sinh điều trịbệnh cho cá Cá ba sa, còn có tên gọi là cá giáo, cá sát bụng, là loại cá datrơn có trị kinh tế cao, được nuôi tập trung tại nhiều nước trên thế giới Đây làđối tượng nuôi nước ngọt có sản lượng xuất khẩu lớn nhất hiện nay