Hoàn thiện hạch toán tiêu thụ và xác định kết quả tiêu thụ hàng hoá tại công ty trách nhiệm hữu hạn Phân phối FPT
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Trải qua hơn 20 năm, kể từ khi đưa ra những chính sách cải cách kinh
tế vào năm 1986, nền kinh tế Việt Nam đã và đang không ngừng thay đổi Hoà chung với xu hướng toàn cầu hoá của quốc tế và chính sách hợp tác, đa dạng hoá, đa phương hoá, cùng phát triển, Việt Nam đã và đang hội nhập, mở cửa thị trường, đón nhận sự đầu tư của các doanh nghiệp nước ngoài Vì vậy,
sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong mọi thành phần kinh tế đang ngày càng trở nên mạnh mẽ và quyết liệt Bên cạnh đó, với sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật nhất là sự phát triển của công nghệ thông tin đòi hỏi các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển phải nắm bắt nhanh chóng và
áp dụng có hiệu quả những công nghệ hiện đại của thế giới vào hoạt động sản xuất kinh doanh của mình Vấn đề đặt ra trong điều kiện đó là các doanh nghiệp nói chung và các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghệ thông tin - viễn thông nói riêng phải có sự tổ chức phù hợp để nắm bắt được thời cơ, biến thời cơ thành cơ hội phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh
Hoà cùng sự phát triển của thị trường, sự ra đời của hàng loạt công ty hoạt động trong lĩnh vực công nghệ thông tin - viễn thông, công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) Phân phối FPT - một thành viên của tập đoàn FPT đã
ra đời
Với mong muốn được tìm hiểu sâu hơn, có cái nhìn đầy đủ, toàn diện hơn về thực tiễn công tác kế toán tại doanh nghiệp nói chung đặc biệt là tìm hiểu về quá trình tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá tại một tập đoàn lớn nói riêng,
em đã lựa chọn công ty TNHH Phân phối FPT là nơi để tìm hiểu thực tế
Như chúng ta đã biết, tiêu thụ hàng hoá là khâu cuối cùng và là khâu quan trọng nhất trong quá trình luân chuyển hàng hoá Kết quả của quá trình
Trang 2tiêu thụ hàng hoá phản ánh toàn bộ công sức và nỗ lực của tập thể cán bộ công nhân viên trong kỳ kế toán.
Nhận thức được vai trò, tầm quan trọng của hoạt động tiêu thụ hàng hoá đối với hoạt động của doanh nghiệp, em đã mạnh dạn lựa chọn đề tài
“Hoàn thiện hạch toán tiêu thụ và xác định kết quả tiêu thụ hàng hoá tại công ty trách nhiệm hữu hạn Phân phối FPT” cho khoá luận tốt nghiệp của
mình
Nội dung của khoá luận, ngoài lời mở đầu và kết luận, gồm có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận chung về hạch toán tiêu thụ và xác định kết quả tiêu
thụ hàng hoá trong doanh nghiệp thương mại.
Chương 2: Thực trạng hạch toán tiêu thụ và xác định kết quả tiêu thụ hàng
hoá tại công ty TNHH Phân phối FPT.
Chương 3: Phương hướng hoàn thiện hạch toán tiêu thụ và xác định kết quả
tiêu thụ hàng hoá tại công ty TNHH Phân phối FPT.
Mặc dù đã rất nỗ lực, cố gắng nhưng do hạn chế về kiến thức và kinh nghiệm thực tế nên bài viết của em chắc hẳn sẽ không tránh khỏi những tồn tại và thiếu sót cần phải sửa đổi, bổ sung Vì vậy, em rất mong nhận được sự giúp đỡ, góp ý, chỉ bảo của Thầy giáo hướng dẫn cùng các anh chị trong công
ty để bài viết của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn, chỉ bảo, góp ý tận tình của
thầy giáo Trần Đức Vinh và tập thể cán bộ, công nhân viên công ty TNHH
Phân phối FPT đặc biệt là các anh chị trong phòng tài chính - kế toán đã giúp
đỡ em rất nhiều trong quá trình em tham gia thực tập
Trang 3CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HẠCH TOÁN TIÊU THỤ VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ TIÊU THỤ HÀNG HOÁ TRONG
DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI
1.1 Những vấn đề chung về tiêu thụ và xác định kết quả tiêu thụ
hàng hoá trong doanh nghiệp thương mại
1.1.1 Khái niệm và các chỉ tiêu liên quan đến tiêu thụ và xác định kết
quả tiêu thụ hàng hoá
Như chúng ta đã biết thương mại là khâu trung gian nối liền giữa sản xuất với tiêu dùng Hoạt động kinh doanh thương mại là hoạt động lưu thông phân phối hàng hoá trên thị trường buôn bán của từng quốc gia riêng biệt hoặc giữa các quốc gia với nhau, là việc thực hiện một hay nhiều hành vi thương mại của thương nhân làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của giữa các thương nhân với nhau hoặc giữa thương nhân với các bên có liên quan bao gồm việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ thương mại và các hoạt động xúc tiến thương mại nhằm mục đích lợi nhuận hoặc nhằm thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội Hoạt động kinh doanh thương mại có một số đặc trưng như sau:
Đặc điểm về hàng hoá: Hàng hoá trong kinh doanh thương mại gồm các loại vật tư, thiết bị, hàng công nghệ phẩm tiêu dùng, hàng lương thực, thực phẩm chế biến có hình thái vật chất hoặc không có hình thái vật chất mà doanh nghiệp mua về với mục đích để bán
Đặc điểm về phương thức lưu chuyển hàng hoá: Quá trình lưu chuyển hàng hoá trong kinh doanh thương mại có thể được thực hiện theo một trong hai phương thức bán buôn hoặc bán lẻ hoặc cả hai
Trang 4 Đặc điểm hoạt động: Hoạt động kinh tế cơ bản của kinh doanh thương mại
là lưu chuyển hàng hoá Lưu chuyển hàng hoá là sự tổng hợp các hoạt động thuộc các quá trình mua bán, trao đổi và dự trữ hàng hoá
Đặc điểm về tổ chức kinh doanh: Tổ chức kinh doanh thương mại có thể theo nhiều mô hình khác nhau như tỏo chức công ty bán buôn, bán lẻ, công ty kinh doanh tổng hợp, công ty môi giới, công ty xúc tiến thương mại,…
Đặc điểm về sự vận động của hàng hoá: Sự vận động của hàng hoá trong kinh doanh thương mại cũng không hoàn toàn giống nhau, điều này tuỳ thuộc vào nguồn hàng và ngành hàng (Hàng công nghệ phẩm tiêu dung, hàng lương thực, thực phẩm chế biến,…) Do vậy, chi phí thu mua và thời gian lưu chuyển hàng hoá cũng khác nhau giữa các loại hàng
Như vậy, có thể nói chức năng của hoạt động kinh doanh thương mại là
tổ chức, thực hiện việc mua bán, trao đổi hàng hoá, cung cấp dịch vụ nhằm phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân Lưu chuyển hàng hoá trong kinh doanh thương mại bao gồm hai giai đoạn: mua hàng và bán hàng (không qua khâu chế biến làm thay đổi hình thái vật chất của hàng) Tài sản trong kinh doanh hàng hoá được vận động theo công thức: Tiền – Hàng – Tiền (T – H – T’)
Trong phạm vi bài luận này, em chỉ xin đề cập tới giai đoạn thứ hai của quá trình luân chuyển hàng hoá trong hoạt động kinh doanh thương mại, đó
là giai đoạn tiêu thụ hàng hoá: Hàng - Tiền (H – T’)
1.1.1.1 Khái niệm và các chỉ tiêu liên quan đến tiêu thụ hàng hoá
• Khái niệm về tiêu thụ hàng hoá
Tiêu thụ hàng hoá chính là giai đoạn cuối cùng trong quá trình luân chuyển hàng hoá Nó là quá trình trao đổi để thực hiện giá trị và giá trị sử dụng của hàng hoá, chuyển hoá vốn của doanh nghiệp từ hình thái hiện vật sang hình thái giá trị và kết thúc một vòng luân chuyển vốn
Trang 5• Một số chỉ tiêu liên quan đến tiêu thụ hàng hoá
Liên quan đến tiêu thụ hàng hoá có một số khái niệm cần quan tâm như sau:
• Doanh thu: Doanh thu bán hàng là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ kế toán phát sinh từ hoạt động bán hàng của doanh nghiệp và góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu Trong đó, bán hàng là bán sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra (với doanh nghiệp sản xuất) và bán hàng hoá mua vào (với doanh nghiệp thương mại)
• Doanh thu thuần: Doanh thu thuần là số chênh lệch giữa doanh thu bán hàng và các khoản giảm trừ doanh thu như: Chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán, giá trị hàng bán bị trả lại, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu, thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp
• Chiết khấu thương mại: Đây là khoản doanh nghiệp bán giảm giá cho khách hàng khi mua hàng của doanh nghiệp với khối lượng lớn
• Giảm giá hàng bán: Đây là khoản giảm trừ cho người mua do hàng hoá của doanh nghiệp kém chất lượng, sai quy cách hoặc lạc hậu thị hiếu,…
• Giá trị hàng bán bị trả lại: Là giá trị khối lượng hàng bán đã xác định là tiêu thụ bị khách hàng trả lại và từ chối thanh toán cho hàng hoá đó
• Chiết khấu thanh toán: Đây là khoản tiền người bán giảm trừ cho người mua do người mua thanh toán tiền hàng trước thời hạn theo hợp đồng kinh tế đã ký trước đó
• Giá vốn hàng bán: Là trị giá vốn của hàng tiêu thụ bao gồm trị giá mua của hàng tiêu thụ và chi phí thu mua phân bổ cho hàng tiêu thụ
• Lợi nhuận gộp về bán hàng: Là số chênh lệch giữa doanh thu thuần và giá vốn hàng bán
Trang 61.1.1.2 Kết quả tiêu thụ hàng hoá và một số chỉ tiêu liên quan đến xác
định kết quả tiêu thụ hàng hoá
• Kết quả tiêu thụ hàng hoá
Mục tiêu lớn nhất trong ngắn hạn của các doanh nghiệp thương mại là thu được lợi nhuận cao nhất do vậy chỉ với chỉ tiêu lợi nhuận gộp về bán hàng chưa phản ánh được đầy đủ kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Kết quả tiêu thụ hàng hoá là số chênh lệch giữa lợi nhuận gộp về bán hàng với chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp
• Một số chỉ tiêu liên quan đến kết quả tiêu thụ hàng hoá
Như vậy, để xác định được chính xác kết quả tiêu thụ hàng hoá cần xác định được tất cả các chỉ tiêu sau:
• Chi phí bán hàng: Đây là khoản chi phí phát sinh có liên quan đến hoạt động tiêu thụ hàng hoá trong kỳ
• Chi phí quản lý doanh nghiệp: Đây là những khoản chi phí có liên quan chung đến toàn bộ hoạt động của cả doanh nghiệp mà không tách riêng
ra được cho bất kỳ hoạt động nào
• Lợi nhuận thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ: Là chênh lệch giữa lợi nhuận gộp về bán hàng và cung cấp dịch vụ với chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp phân bổ cho số hàng được tiêu thụ đó.Trong đó:
Các khoản giảm trừ DT
Trang 71.1.2 Ý nghĩa và yêu cầu quản lý đối với hoạt động tiêu thụ và xác định
kết quả tiêu thụ hàng hoá trong doanh nghiệp thương mại
và đem lại những lợi ích kinh tế lớn cho doanh nghiệp
Tình hình tiêu thụ hàng hoá phản ánh trung thực và đầy đủ nhất năng lực kinh doanh của doanh nghiệp Hàng hoá được tiêu thụ càng nhiều chứng
tỏ đơn vị đang đi đúng hướng, những phương pháp đầu tư là hữu ích
Thứ hai, xét trên góc độ nền kinh tế quốc dân: Tiêu thụ vừa là hoạt động mang lại doanh thu cho doanh nghiệp vừa thoả mãn nhu cầu đa dạng và phong phú của xã hội
Tiêu thụ hàng hoá chính là điều kiện gắn kết giữa lưu thông hàng hoá
và lưu thông tiền tệ, thực hiện chu chuyển tiền tệ, ổn định giá trị của đồng tiền, tạo ra việc làm, góp phần nâng cao thu nhập cho người lao động và góp phần thúc đẩy đất nước phát triển
1.1.2.2 Yêu cầu quản lý
Như trên đã trình bày, tiêu thụ hàng hoá đóng một vai trò vô cùng quan
Trang 8quản lý tốt sẽ giúp cho các doanh nghiệp chủ động trong hoạt động kinh doanh, không ngừng nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng từ đó tạo ra ưu thế hoạt động so với các đối thủ cạnh tranh Muốn vậy, các doanh nghiệp kinh doanh phải đảm bảo được các yêu cầu như:
• Thường xuyên đánh giá tình hình tiêu thụ về mặt số lượng, chất lượng, chủng loại mặt hàng kinh doanh từ đó đưa ra các kế hoạch tiêu thụ phù hợp
• Tổ chức quản lý tình hình tiêu thụ theo nhóm hàng, phương thức bán hàng, phương thức thanh toán một cách chặt chẽ và khoa học để đảm bảo khả năng kiểm soát của doanh nghiệp
• Trong quá trình kinh doanh, thường xuyên phân tích các chỉ tiêu liên quan đến tình hình tiêu thụ, phát hiện ra những thay đổi bất thường hoặc chưa phù hợp với sức mua và khả năng thanh toán của khách hàng, đảm bảo luôn nắm bắt được nhu cầu thị trường, từ đó có các quyết định tiêu thụ để mang lại hiệu quả hoạt động tối đa cho doanh nghiệp
• Quản lý chặt chẽ công tác tiếp thị, khuyến mại, quảng cáo
• Xây dựng các chính sách ưu đãi hợp lý như: chính sách chiết khấu thương mại, chiết khấu thanh toán, giảm giá hàng bán,…đảm bảo tạo lập và duy trì được mối quan hệ kinh doanh lâu bền, chặt chẽ với khách hàng
• Với xác định kết quả tiêu thụ hàng hoá, yêu cầu đặt ra là phải theo dõi đầy đủ các khoản chi phí phát sinh liên quan đến tiêu thụ hàng hoá để
có biện pháp tiết kiệm chi phí, nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp; xác định chính xác chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh hàng hoá làm cơ sở cung cấp thông tin cần thiết cho các đối tượng quan tâm trong và ngoài doanh nghiệp để có thể có những quyết định đúng đắn
Trang 91.1.3 Nhiệm vụ kế toán tiêu thụ và xác định kết quả tiêu thụ hàng hoá
Trong kinh doanh thương mại cần xuất phát từ đặc điểm quan hệ thương mại và vị thế kinh doanh với các đối tác để tìm phương thức giao dịch, mua bán thích hợp, đem lại cho doanh nghiệp lợi ích lớn nhất Vì vậy,
kế toán lưu chuyển hàng hoá trong doanh nghiệp thương mại cần thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ để cung cấp thông tin cho người quản lý trong doanh nghiệp và các đối tượng quan tâm khác ngoài doanh nghiệp để họ có thể đưa
ra được các quyết định hữu hiệu Những nhiệm vụ đó là:
• Ghi chép và phản ánh kịp thời, chính xác tình hình xuất bán hàng hoá của doanh nghiệp cả về số lượng và giá trị; doanh thu bán hàng và các khoản giảm trừ doanh thu
• Ghi chép đầy đủ và chính xác các khoản chi phí phát sinh trong quá trình bán hàng, giá vốn hàng bán để làm cơ sở xác định kết quả tiêu thụ hàng hoá trong kỳ
• Phân bổ chi phí mua hàng ngoài giá mua cho số hàng đã bán và tồn cuối kỳ để từ đó xác định giá vốn hàng bán và tồn cuối kỳ
• Kế toán quản lý chặt chẽ tình hình biến động và dự trữ kho hàng hoá, phát hiện, xử lý kịp thời hàng hoá ứ đọng
• Lựa chọn phương pháp và xác định đúng giá vốn hàng xuất bán để đảm bảo độ chính xác của chỉ tiêu lợi nhuận gộp về bán hàng và cung cấp dịch vụ
• Xác định kết quả tiêu thụ và thực hiện chế độ báo cáo hàng hoá và báo cáo tình hình tiêu thụ và kết quả tiêu thụ
• Theo dõi và thanh toán kịp thời công nợ với nhà cung cấp và khách hàng có liên quan đến từng thương vụ giao dịch
1.2 Hạch toán tiêu thụ và xác định kết quả tiêu thụ hàng hoá trong
Trang 101.2.1 Các phương thức tiêu thụ hàng hoá trong doanh nghiệp thương
mại
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, giữa các đơn vị kinh doanh luôn diễn ra sự cạnh tranh gay gắt Để có thể tồn tại đứng vững trong cuộc cạnh tranh đó đòi hỏi các doanh nghiệp phải thực sự nhạy bén và linh hoạt trong việc phục vụ khách hàng Vì vậy, việc lựa chọn phương thức tiêu thụ phù hợp với từng đối tượng khách hàng là việc làm cần thiết và quan trọng Nó không những giúp doanh nghiệp có thể đáp ứng được những yêu cầu của khách hàng
mà còn đảm bảo cho doanh nghiệp chủ động trong việc phân phối và khai thác được những điều kiện thuận lợi ứng với mỗi một phương thức bán hàng khác nhau Căn cứ vào các phương thức tiêu thụ hàng hoá cơ bản đang được
áp dụng phổ biến tại Việt Nam hiện nay, các doanh nghiệp sẽ có những điều chỉnh phù hợp với lĩnh vực ngành nghề kinh doanh và đáp ứng những yêu cầu
mà khách hàng đặt ra
Các phương thức tiêu thụ được áp dụng phổ biến hiện nay gồm:
Phương thức bán buôn hàng hoá
Phương thức bán buôn hàng hoá là phương thức bán hàng chủ yếu được áp dụng cho các doanh nghiệp thương mại, các doanh nghiệp sản xuất…Bán buôn hàng hoá là bán cho người kinh doanh trung gian chứ không bán thẳng cho người tiêu dùng cuối cùng Bán buôn hàng hoá được thực hiện với
số lượng lớn và giá biến động tuỳ theo khối lượng hàng hoá Bán buôn hàng hoá được chia thành hai phương thức:
Phương thức bán buôn hàng hoá qua kho
Các doanh nghiệp thương mại mua hàng về nhập kho và dự trữ hàng hoá tại kho bảo quản của đơn vị Khi phát sinh nghiệp vụ bán hàng, đơn vị
sẽ tiến hành xuất kho số hàng hoá đó Đối với hàng hoá qua kho, đơn vị có thể tiêu thụ theo hai hình thức:
Trang 11 Bán buôn hàng hoá qua kho theo hình thức giao hàng trực tiếp: Bên mua sẽ cử đại diện đến kho của doanh nghiệp để nhận hàng Doanh nghiệp xuất kho hàng giao cho trực tiếp cho bên mua Sau khi tiến hành xong thủ tục xuất kho, hai bên ký nhận vào chứng
từ, bên mua thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán và hàng hoá được xác định là tiêu thụ
Bán buôn hàng hoá qua kho theo hình thức chuyển hàng: Căn cứ vào hợp đồng kinh tế đã ký kết hoặc đơn đặt hàng, bên bán sẽ đưa hàng tới địa điểm giao hàng đã quy định
Bán buôn hàng hoá qua kho là phương thức bán hàng truyền thống thường áp dụng với các ngành hàng có đặc điểm: tiêu thụ có định kỳ giao nhận, thời điểm giao nhận không trùng với thời điểm nhập hàng; hàng khó khai thác; hàng cần qua dự trữ để xử lý tăng giá trị thương mại,…
Phương thức bán buôn hàng hoá vận chuyển thẳng
Khác với phương thức bán buôn hàng hoá qua kho, trong phương thức bán buôn hàng hoá vận chuyển thẳng doanh nghiệp thương mại sau khi mua hàng hoá không đưa về nhập kho mà chuyển thẳng cho bên mua hàng Phương thức này cũng có thể thực hiện dưới hai hình thức:
Bán buôn vận chuyển thẳng có tham gia thanh toán: Doanh nghiệp vừa phải tổ chức quá trình mua hàng, bán hàng, thanh toán tiền hàng đã mua với nhà cung cấp, thanh toán tiền hàng đã bán với khách hàng của doanh nghiệp Bán buôn vận chuyển thẳng có tham gia thanh toán có thể tiến hành theo hai cách phổ biến: giao hàng tay ba (Doanh nghiệp mua hàng và giao trực tiếp cho khách hàng tại kho của người bán hoặc địa điểm giao hàng giữa người bán với doanh nghiệp) và gửi hàng (Doanh nghiệp
Trang 12sau khi mua hàng sẽ vận chuyển đến cho bên mua theo địa điểm thoả thuận)
Bán buôn vận chuyển thẳng không tham gia thanh toán: Thực chất của phương thức bán hàng này là hình thức môi giới trung gian trong quan hệ mua bán, doanh nghiệp chỉ được phản ánh tiền “hoa hồng” môi giới cho việc mua hoặc bán, không được ghi nhận nghiệp vụ mua cũng như nghiệp vụ bán của mỗi thương vụ
Phương thức bán lẻ hàng hoá
Bán lẻ hàng hoá là phương thức bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùng hoặc các tổ chức kinh tế, các đơn vị kinh doanh mua về với mục đích tiêu dùng nội bộ Trái với hàng hoá bán buôn, hàng hoá bán lẻ đã ra khỏi lĩnh vực lưu thông và đi vào lĩnh vực tiêu dùng Bán lẻ hàng hoá thường đơn chiếc hoặc số lượng nhỏ, giá bán thường ổn định Phương thức bán lẻ thường được thực hiện dưới các hình thức:
Hình thức bán lẻ thu tiền tập trung: Nghiệp vụ giao hàng và thu tiền hàng tách rời nhau, không phải do một người thực hiện,…
Hình thức bán lẻ thu tiền trực tiếp: Nhân viên bán hàng là người trực tiếp giao hàng cho khách hàng và thu tiền hàng
Hình thức bán lẻ tự phục vụ (tự chọn): Khách hàng tự chọn lấy những hàng hoá mình cần rồi mang đến quầy tính tiền để thanh toán tiền hàng
Hình thức bán hàng tự động: Các doanh nghiệp thương mại sử dụng các máy bán hàng tự động chuyên dùng cho một hoặc một vài loại hàng hoá nào đó Người mua sẽ bỏ tiền vào máy và nhận hàng hoá do máy tự giao khi mua hàng
…
Trang 13 Phương thức bán hàng đại lý, ký gửi cho các tổ chức kinh doanh
Đây là phương thức tiêu thụ hàng hoá mà trong đó doanh nghiệp sẽ giao hàng cho các cơ sở đại lý Bên nhận đại lý trực tiếp bán hàng hoá và thanh toán tiền hàng với khách hàng và hưởng “hoa hồng” đại lý theo thoả thuận hợp đồng Hàng hoá được coi là tiêu thụ khi doanh nghiệp nhận được tiền hàng do đại lý thanh toán hoặc nhận được thông báo về số hàng bán được của đại lý
Phương thức bán hàng trả góp
Theo phương thức này, khi giao hàng cho người mua thì lượng hàng chuyển giao được coi là tiêu thụ nhưng người mua chỉ thanh toán lần đầu ngay tại thời điểm mua hàng một phần Số tiền còn lại người mua sẽ trả dần và phải chịu một tỷ lệ lãi suất nhất định Thông thường số tiền trả ở các kỳ bằng nhau, trong đó bao gồm một phần doanh thu gốc và một phần lãi trả chậm
Bên cạnh các phương thức bán hàng trên, trong một số trường hợp sau cũng có thể coi là tiêu thụ:
Hàng hoá xuất để đổi lấy hàng hoá khác không tương đương
Hàng hoá xuất để thanh toán tiền lương, tiền thưởng cho công nhân viên, thanh toán thu nhập cho các thành viên của doanh nghiệp
Hàng hoá xuất dùng để biếu tặng, quảng cáo, chào hàng, khuyến mại
Hàng hoá xuất dùng trong nội bộ, phục vụ cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
1.2.2 Hạch toán tiêu thụ hàng hoá
Thủ tục chứng từ
Trang 14Tiêu thụ hàng hoá là một nghiệp vụ quan trọng, nó đòi hỏi hệ thống chứng từ phải được ghi chép đầy đủ, chính xác Đối với nghiệp vụ tiêu thụ, chứng từ được sử dụng chủ yếu là các loại hoá đơn.
Hoá đơn là chứng từ của đơn vị bán xác nhận số lượng, chất lượng, đơn giá, số tiền bán sản phẩm, hàng hoá cho người mua Hoá đơn là căn cứ để người bán ghi sổ doanh thu và các sổ kế toán có liên quan
Quy trình luân chuyển chứng từ
Căn cứ vào hợp đồng kinh tế đã ký kết với khách hàng, các đơn đặt hàng, yêu cầu mua hàng, phòng kinh doanh tiến hành lập phiếu đề nghị xuất hàng gửi lên phòng kế toán, kế toán lập hoá đơn bán hàng Hoá đơn bán hàng được chia thành 3 liên (đặt giấy than viết 1 lần): Liên 1 lưu, liên 2 giao cho người mua, liên 3 dùng cho nội bộ
Sau khi lập hoá đơn bán hàng, kế toán chuyển cho thủ trưởng đơn vị và
kế toán trưởng ký hoá đơn Thủ kho căn cứ vào hoá đơn tiến hành xuất hàng, lập phiếu xuất kho và ghi thẻ kho số hang xuất bán Căn cứ vào chứng từ bán hàng, kế toán ghi nhận doanh thu, giá vốn hàng bán,…Trong kỳ kế toán, các chứng từ bán hàng được kế toán tiêu thụ hàng hoá bảo quản, cuối kỳ các chứng từ được tập hợp và chuyển vào lưu trữ
1.2.2.1 Hạch toán giá vốn hàng hoá tiêu thụ
• Các phương pháp xác định giá vốn hàng hoá tiêu thụ
Mỗi doanh nghiệp tuỳ thuộc vào đặc điểm kinh doanh, yêu cầu quản lý, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của kế toán viên mà xác định phương pháp tính giá vốn hàng hoá tiêu thụ khác nhau Phương pháp tính giá vốn hàng hoá tiêu thụ này được đăng ký với cơ quan thuế và được áp dụng nhất quán trong một kỳ kế toán
Khi xuất kho, để tính giá thực tế của hàng hoá, kế toán phải tách riêng hai bộ phận là “trị giá mua” và “chi phí thu mua” để tính toán
Trang 15Theo chuẩn mực kế toán số 02 – Hàng tồn kho ban hành theo QĐ 149/2001/QĐ – BTC ngày 31/12/2001 của Bộ trưởng Bộ Tài chính, trị giá mua của hàng hoá xuất kho được xác định theo một trong các phương pháp như: Phương pháp giá đơn vị bình quân, phương pháp nhập trước - xuất trước, phương pháp nhập sau - xuất trước, phương pháp thực tế đích danh, phương pháp giá hạch toán.
Phương pháp giá đơn vị bình quân
Giá mua thực tế của hàng hoá xuất kho trong kỳ được tính theo công thức:
Giá mua thực tế
từng loại xuất kho =
Số lượng từng loại xuất kho ×
Giá đơn vị bình quânTrong đó, giá đơn vị bình quân có thể tính theo một trong ba cách sau:
Giá đơn vị bình quân cả kỳ dự trữ:
Giá đơn vị
bình quân
cả kỳ dự trữ
=Giá mua thực tế HTK đầu kỳ + Giá thực tế hàng nhập trong kỳ
Số lượng HTK đầu kỳ + Số lượng hàng nhập trong kỳCách tính này có ưu điểm là đơn giản, dễ tính toán, không phụ thuộc vào số lần xuất, nhập hàng hoá trong kỳ nhiều Do vậy, phù hợp với những doanh nghiệp kinh doanh với quy mô lớn, các nghiệp vụ kinh tế nhập, xuất hàng hoá diễn ra liên tục Tuy nhiên, phương pháp này có hạn chế là công việc tính toán sẽ dồn vào cuối tháng gây ảnh hưởng đến công tác quyết toán nói chung
Giá đơn vị bình quân cuối kỳ trước:
Giá đơn vị
bình quân
cuối kỳ trước
=Giá mua thực tế từng loại HTK đầu kỳ (hoặc cuối kỳ trước)
Lượng thực tế từng loại tồn kho đầu kỳ (hoặc cuối kỳ trước)
Trang 16Phương pháp này có ưu điểm là khá đơn giản và phản ánh kịp thời tình hình biến động của từng loại hàng hoá trong kỳ Tuy nhiên, phương pháp này
có hạn chế là không chính xác vì không tính đến sự biến động của giá cả hàng hoá kỳ này
Giá đơn vị bình quân sau mỗi lần nhập
Giá đơn vị bình quân
sau mỗi lần nhập =
Giá mua thực tế từng loại tồn kho sau mỗi lần nhập
Lượng thực tế tồn kho sau mỗi lần nhậpPhương pháp này khắc phục được nhược điểm của cả hai phương pháp trên, vừa chính xác, vừa cập nhật và phản ánh được sự biến động của giá cả trong kỳ Tuy nhiên, phương pháp này có nhược điểm là tốn nhiều thời gian, công sức, tính toán nhiều lần
Phương pháp nhập trước - xuất trước (FIFO)
Phương pháp này được thực hiện với giả định hàng hoá nào vào nhập kho trước thì sẽ được xuất kho trước và hàng tồn kho còn lại cuối kỳ là hàng tồn kho được mua gần thời điểm cuối kỳ Như vậy, hàng hoá xuất kho của lần nhập nào thì sẽ được tính giá theo giá thực tế nhập kho của lần nhập đó
Phương pháp này có ưu điểm là giúp kế toán tính giá hàng xuất kho một cách kịp thời Tuy nhiên, nó vẫn còn hạn chế đó là giá hàng tồn kho được tính theo nhiều giá khác nhau nên việc giả định trị giá hàng tồn kho sẽ phức tạp hơn và dễ gây ra sự nhầm lẫn; phản ánh chi phí không theo kịp với sự biến động của giá cả thị trường Do vậy, phương pháp này chỉ thích hợp với những doanh nghiệp kinh doanh ít chủng loại hàng hoá và số lần nhập, xuất hàng hoá không nhiều hay trong trường hợp giá cả ổn định và có xu hướng giảm
Phương pháp nhập sau - xuất trước (LIFO)
Trang 17Phương pháp này được thực hiện với giả định là hàng tồn kho được mua sau thì được xuất bán trước Về cơ bản ưu điểm, hạn chế và điều kiện vận dụng của phương pháp này giống với phương pháp nhập trước - xuất trước Tuy nhiên, phương pháp nhập sau - xuất trước đã khắc phục được hạn chế của phương pháp nhập trước - xuất trước là phản ánh chi phí kịp thời với sự biến động của giá cả thị trường Phương pháp này đặc biệt thích hợp trong trường hợp nền kinh tế lạm phát.
Phương pháp thực tế đích danh
Bản chất của phương pháp này là khi xuất lô hàng nào thì tính theo giá thực tế đích danh của lô hàng đó Phương pháp thực tế đích danh chỉ thích hợp với những doanh nghiệp kinh doanh ít mặt hàng, các mặt hàng có giá trị lớn như: đồ trang sức, ô tô, tàu thuỷ…Phương pháp này thể hiện được thực tế
sự tương xứng, phù hợp giữa doanh thu và chi phí của hàng bán ra
Phương pháp giá hạch toán
Giá hạch toán là giá ổn định có thể là giá kế hoạch, giá mua hàng hoá vào một thời điểm nhất định, giá bình quân tháng trước…mà doanh nghiệp dùng để hạch toán Đến cuối mỗi tháng, kế toán phải tính chuyển giá hạch toán sang giá thực tế theo công thức:
Giá mua hàng xuất bán = Hệ số giá × Giá hạch toán hàng xuất bán
Trong đó:
Hệ số
Giá mua thực tế HTK đầu kỳ + Giá mua thực tế hàng nhập kho trong kỳ
Giá hạch toán HTK đầu kỳ + Giá hạch toán hàng nhập kho trong kỳPhương pháp này có ưu điểm là giúp cho công việc tính giá được tiến hành nhanh chóng và không bị phụ thuộc vào số lượng danh điểm hàng hoá,
số lần nhập, xuất của mỗi loại nhiều hay ít, giảm bớt khối lượng cho công tác kế toán Tuy nhiên, phương pháp này vẫn không tránh khỏi được hạn chế đó là
Trang 18hoá Phương pháp này phù hợp với các doanh nghiệp có nhiều loại hàng hoá, giá
cả thường xuyên biến động, nghiệp vụ nhập, xuất hàng hoá diễn ra thường xuyên
và đặc biệt là đòi hỏi doanh nghiệp phải có đội ngũ kế toán có trình độ chuyên môn cao
Đối với bộ phận chi phí thu mua
Chi phí thu mua là biểu hiện bằng tiền của các khoản hao phí về lao động sống và lao động vật hoá mà đơn vị bỏ ra có liên quan đến việc thu mua hàng hoá Chi phí thu mua liên quan đến toàn bộ hàng hoá trong kỳ nên cần phải phân bổ cho hàng hoá tiêu thụ và hàng hoá còn lại theo tiêu thức phù hợp (theo doanh thu, theo trị giá mua, theo số lượng, trọng lượng,…)
Công thức phân bổ chi phí thu mua như sau:
Tiêu thức phẩn bổ của hàng đã tiêu thụ
Tổng tiêu thức phân bổ của hàng tiêu thụ trong kỳ và hàng còn lại cuối kỳ
×
CP thu mua của hàng còn tồn đầu
kỳ và CP thu mua phát sinh trong kỳTrong đó, hàng còn lại cuối kỳ bao gồm hàng còn lại tồn quầy, kho; hàng đang gửi bán; hàng gửi đại lý, ký gửi; hàng mua đang đi đường
• Phương pháp kế toán giá vốn hàng hoá tiêu thụ
Tài khoản sử dụng
Căn cứ vào chế độ kế toán doanh nghiệp ban hành theo QĐ 15/2006/QĐ – BTC ngày 20/03/2006 của Bộ trưởng Bộ Tài chính thì kế toán nghiệp vụ tiêu thụ và xác định kết quả tiêu thụ nói chung và kế toán giá vốn hàng hoá nói riêng sử dụng các tài khoản sau đây:
Tài khoản 632: Giá vốn hàng bán Tài khoản này được sử dụng để phản ánh trị giá vốn thực tế của hàng xuất bán trong kỳ
Tài khoản 156: Hàng hoá Tài khoản này dùng để phản ánh giá trị hiện
có và tình hình biến động tăng, giảm hàng hoá tại kho của doanh nghiệp
Tài khoản này được mở chi tiết thành: TK 1561: Giá mua hàng hoá và
TK 1562: Chi phí mua hàng
Trang 19Trường hợp đơn vị sử dụng phương pháp kiểm kê định kỳ để hạch toán hàng tồn kho thì tài khoản sử dụng là TK 611: Mua hàng - Tiểu khoản 6112: Mua hàng hoá.
Ngoài ra kế toán giá vốn hàng bán còn sử dụng các tài khoản như TK
157 – Hàng gửi bán; TK 151 – Hàng mua đang đi đường; TK 1381; TK 159;
…
Kế toán giá vốn hàng bán
Trường hợp doanh nghiệp áp dụng phương pháp kê khai thường xuyên
và tính thuế theo phương pháp khấu trừ
Trang 20Sơ đồ 1.1: Hạch toán GVHB theo phương pháp KKTX và tính
thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ
Trị giá hàng hoá thiếu mất
(sau khi trừ tiền bồi thường)
Trang 21Trường hợp doanh nghiệp áp dụng phương pháp KKĐK và tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ (Xem sơ đồ)
Sơ đồ 1.2: Hạch toán GVHB theo phương pháp KKĐK và
tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ
1.2.2.2 Hạch toán doanh thu tiêu thụ hàng hoá
Theo chuẩn mực kế toán số 14 – Doanh thu và thu nhập khác ban hành
và công bố theo QĐ số 149/2001/QĐ – BTC ngày 31/12/2001 của Bộ trưởng
Bộ Tài chính, doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ được ghi nhận khi thoả mãn các điều kiện sau:
Trang 22• Doanh nghiệp đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu hàng hoá cho người mua.
• Doanh nghiệp không còn nắm giữ quyền quản lý hàng hoá như người sở hữu hoặc kiểm soát hàng hoá
• Doanh thu được xác định một cách tương đối chắc chắn
• Doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng
• Xác định được chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng
Tài khoản sử dụng:
TK 511: Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ Tài khoản này dùng để phản ánh tổng số doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ của doanh nghiệp trong kỳ kế toán
TK 512: Doanh thu bán hàng nội bộ Tài khoản này dùng để phản ánh doanh thu của số hàng tiêu thụ nội bộ trong doanh nghiệp Doanh thu bán hàng nội bộ là số tiền thu được do bán hàng hoá, dịch vụ tiêu thụ nội bộ giữa các đơn vị trực thuộc trong cùng một công ty, tổng công ty
TK 3331: Thuế GTGT phải nộp
Chi tiết TK 33311: Thuế giá trị gia tăng đầu ra Tài khoản này dùng để phản ánh số thuế GTGT đầu ra phải nộp, đã nộp, còn phải nộp của hàng hoá, sản phẩm dịch vụ tiêu thụ
Kế toán doanh thu bán hàng
Hạch toán doanh thu tiêu thụ theo phương pháp giao hàng trực tiếp
Trang 23Sơ đồ 1.3: Hạch toán DT tiêu thụ theo phương thức giao hàng trực tiếp
TK 911 TK 333 TK 511 TK 111, 112, 131
Thuế TTĐB, thuế XK, DT bán hàng và cung cấp
VAT trực tiếp phải nộp dịch vụ
TK 521, 532 TK 33311
K/c giảm giá, DT hàng bán VAT đầu ra
bị trả lại phải nộp
K/c DT thuần về BH cuối kỳ
Hạch toán doanh thu tiêu thụ theo phương thức trả góp
Sơ đồ 1.4: Hạch toán doanh thu tiêu thụ theo phương thức bán trả góp
TK 911 TK 511 TK 111, 112, 131 K/c DT thuần DT tính theo
thời điểm giao hàng
TK 515 TK 3387 Số tiền thu về BH
K/c DT chưa Lãi suất trả chậm trả góp lần đầu
thực hiện Tổng số tiền hàng
TK 3331 còn phải thu của
VAT đầu ra người mua
phải nộp
Trang 24• Tại đơn vị nhận hàng đại lý: Khi nhận hàng, ghi đơn bên Nợ TK
003 Khi bán hàng, ghi đơn bên Có TK 003 và phản ánh số tiền bán hàng, hoa hồng được hưởng và số tiền phải trả cho ngươi giao đại lý (Xem sơ đồ)
Sơ đồ 1.5: Hạch toán DT tiêu thụ theo phương thức đại lý, ký gửi
tại bên đại lý
TK 3331 TK 111, 112
VAT hàng đại lý Thu tiền hàng đại lý
VAT của hoa hồng TK 331
Giá bán
TK 511 chưa VAT TK 133
Hoa hồng chưa VAT VAT của hàng tiêu thụ
Thanh toán tiền cho bên giao đại lý
• Tại bên giao đại lý, ký gửi: DT hạch toán giống phương thức chuyển hàng, hoa hồng trả cho đại lý ghi nhận là chi phí bán hàng
Sơ đồ 1.6: Hạch toán DT tiêu thụ theo phương thức đại lý, ký gửi
tại bên giao đại lý
Trang 25Các khoản giảm trừ doanh thu bán hàng và cung cấp dịch bao gồm: Thuế GTGT tính theo phương pháp trực tiếp, thuế xuất khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt, chiết khấu thương mại, doanh thu hàng bán bị trả lại, giảm giá hàng bán Các khoản thuế giảm trừ vào doanh thu được hạch toán giảm trực tiếp trên tài khoản doanh thu và tăng số thuế phải nộp.
• Tài khoản sử dụng
TK 3333 : Thuế xuất, nhập khẩu
TK 3332: Thuế tiêu thụ đặc biệt
TK 3331: Thuế GTGT phải nộp
TK 521: Chiết khấu thương mại
TK 531: Hàng bán bị trả lại
TK 532: Giảm giá hàng bán
• Sơ đồ hạch toán các khoản giảm trừ doanh thu
Sơ đồ 1.7: Hạch toán các khoản giảm trừ doanh thu
TK 3331, 3332, 3333 TK 511 TK 111, 112, 131
Thuế GTGT theo phương pháp Tổng giá thanh toán
trực tiếp, thuế TTĐB, thuế XK của hàng tiêu thụ
Trang 26Giá vốn hàng bán bị trả lại đem nhập kho (trường hợp hàng bán bị trả lại)
1.2.2.4 Hạch toán thanh toán với người mua
• Tài khoản sử dụng
TK 131: Phải thu khách hàng
Tài khoản này được hạch toán chi tiết đến từng khách hàng
• Phương pháp hạch toán phải thu khách hàng
Sơ đồ 1.8: Hạch toán thanh toán với người mua
TK 511 TK 131 TK 111, 112 Khách hàng thanh toán tiền
Phải thu khách hàng hàng, đặt trước
TK 33311 TK 531, 532 VAT đầu ra Các khoản giảm trừ
TK 642
Xoá sổ các khoản nợ
khó đòi
1.2.3 Hạch toán xác định kết quả tiêu thụ hàng hoá
Kết quả tiêu thụ là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh và hoạt động khác của doanh nghiệp Trong doanh nghiệp thương mại, hoạt động tiêu thụ hàng hoá là hoạt động chủ yếu nên trong kết quả kinh doanh, kết quả hoạt động tiêu thụ hàng hoá là quan trọng nhất
KQHĐ
tiêu thụ HH =
DTBHthuần -
1.2.3.1 Hạch toán chi phí bán hàng
• Tài khoản sử dụng
Trang 27TK 641 – Chi phí bán hàng:Tài khoản này được dùng để phản ánh các khoản chi phí thực tế phát sinh trong quá trình tiêu thụ hàng hoá.
Tài khoản này được chi tiết thành 7 tài khoản cấp 2:
TK 6411 : Chi phí nhân viên bán hàng
TK 6412 : Chi phí vật liệu, bao bì
• Khái quát sơ đồ hạch toán
Sơ đồ 1.9: Hạch toán chi phí bán hàng
TK 334, 338 TK 641 TK 111, 112, 138
CP tiền lương và các khoản trích Giá trị thu hồi ghi giảm CP
Trang 28Tài khoản này được chi tiết thành 8 tài khoản cấp 2
TK 6421 : Chi phí nhân viên quản lý
TK 6422 : Chi phí vật liệu quản lý
Trang 29Sơ đồ 1.10: Hạch toán chi phí quản lý doanh nghiệp
Trang 301.2.3.3 Hạch toán xác định kết quả tiêu thụ hàng hoá
Trong doanh nghiệp có ba hoạt động chính là hoạt động bán hàng
và cung cấp dịch vụ, hoạt động tài chính và hoạt động khác Tương ứng với ba hoạt động này được phân chia thành ba loại kết quả hoạt động kinh doanh Kết quả tiêu thụ hàng hoá và cung cấp dịch vụ là một bộ phận của kết quả hoạt động kinh doanh và được xác định theo các chỉ tiêu sau:
• Tài khoản sử dụng
TK 911 – Xác định kết quả kinh doanh
• Khái quát sơ đồ hạch toán
Sơ đồ 1.11: Hạch toán xác định kết quả tiêu thụ hàng hoá
TK 632 TK 911 TK 511, 512 K/c giá vốn hàng bán K/c DT thuần
1.2.4 Vận dụng hệ thống sổ sách kế toán tiêu thụ và xác định kết quả
tiêu thụ hàng hoá trong doanh nghiệp thương mại
Chế độ kế toán doanh nghiệp ban hành theo QĐ số 15/ 2006/QĐ – BTC ngày 20/03/2006 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định có 4 hình thức ghi sổ kế toán: Nhật ký chung, Nhật ký chứng từ, Nhật ký - sổ cái, Chứng từ ghi sổ Mỗi doanh nghiệp căn cứ vào quy mô, đặc điểm hoạt động sản xuất
Trang 31kinh doanh, yêu cầu quản lý, điều kiện trang thiết bị kỹ thuật tính toán…mà lựa chọn hình thức sổ kế toán phù hợp Hiện nay, rất nhiều doanh nghiệp sử dụng hình thức ghi sổ Nhật ký chung bởi hình thức ghi sổ kế toán này đơn giản, thích hợp với mọi đơn vị hạch toán, dễ dàng khi ứng dụng máy vi tính trong xử lý thông tin kế toán trên sổ
Trong phạm vi bài luận văn này, sẽ trình bày sâu hơn Hình thức Nhật
ký chung
Đặc trưng cơ bản của hình thức ghi sổ kế toán Nhật ký chung là tất cả các nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh đều phải được ghi vào sổ nhật ký chung theo trình tự thời gian phát sinh và theo nội dung kinh tế của nghiệp vụ
đó Sau đó, lấy số liệu trên các sổ nhật ký để ghi vào Sổ Cái theo từng nghiệp vụ
Hình thức kế toán Nhật ký chung áp dụng trong hệ thống kế toán tiêu thụ và xác định kết quả tiêu thụ hàng hoá gồm các loại sổ chủ yếu sau:
- Sổ Nhật ký chung
- Sổ Nhật ký đặc biệt: Nhật ký mua hàng, Nhật ký bán hàng,…
- Sổ cái các tài khoản: 156, 632, 6112, 641, 642, 521, 531, 532, 911,…
- Các sổ, thẻ kế toán chi tiết TK 156, 632,…
Nhược điểm của hình thức Nhật ký chung là số lượng sổ theo dõi nhiều, có thể xảy ra hiện tượng trùng lắp nghiệp vụ
Sơ đồ trình tự ghi sổ kế toán theo hình thức Nhật ký chung
Trang 32Sơ đồ 1.12: Quy trình ghi sổ kế toán tiêu thụ và xác định kết quả tiêu thụ
Bảng cân đối số phát sinh
Báo cáo tài chính
Sổ cái
Trang 33CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HẠCH TOÁN TIÊU THỤ VÀ XÁC ĐỊNH
KẾT QUẢ TIÊU THỤ HÀNG HOÁ TẠI CÔNG TY TNHH PHÂN PHỐI FPT
2.1 Tổng quan về công ty TNHH Phân phối FPT
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty
Công ty TNHH Phân phối FPT tiền thân là Chi nhánh phân phối FPT Ngày 16 tháng 12 năm 2005, với mục đích mở rộng quy mô hoạt động đồng thời để đáp ứng được mục tiêu chuyên nghiệp hoá các hoạt động theo từng loại hình hoạt động kinh doanh nhằm thoả mãn tốt hơn nhu cầu của khách hàng và phấn đấu để trở thành đối tác tin cậy của các hãng công nghệ thông tin hàng đầu đang và sẽ vào thị trường Việt Nam, Tập đoàn FPT đã chính thức chuyển đổi Chi nhánh Phân phối FPT thành Ccông ty TNHH Phân phối FPT, với chức năng phân phối các sản phẩm công nghệ thông tin và các sản phẩm điện thoại di động Nokia Công ty TNHH Phân phối FPT có một quá trình hình thành và phát triển với nhiều thay đổi do sự biến động của tình hình kinh doanh cũng như xu thế của thị trường
Công ty TNHH Phân phối FPT được thành lập với các thông tin chính sau đây:
Tên công ty: Công ty TNHH Phân phối FPT
Tên giao dịch: FPT Districbution Company (FDC)
Trụ sở chính: Tầng 3 toà nhà Viglacera, số 1, đường Láng Hoà Lạc,
Mễ Trì, Từ Liêm, Hà Nội
Trang 34Điện thoại: 0437301518 Fax: 0435537348
Văn phòng:
Tại Thành phố Hồ Chí Minh: Số 63, Võ Văn Tần, Quận 3, TP Hồ Chí Minh
Điện thoại: 0839330999 Fax: 0839306162
Tại Thành phố Đà Nẵng: Tầng 4, số nhà 112 Phan Chu Trinh, Quận Hải Châu, TP Đà Nẵng
Điện thoại: 0511565686 Fax: 0511565696
Tại Thành phố Cần Thơ: Số 103, đường 30/4, phường Xuân Khánh, quận Ninh Kiều, TP Cần Thơ
Điện thoại: 0731752666 Fax: 0731752555
Website: www.fdc.com.vn Mã số thuế: 0101248141 – 013
Tài khoản: 0011000224245 Tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam
Công ty TNHH Phân phối FPT trải qua một thời gian hình thành và phát triển chưa lâu Từ khởi đầu mới chỉ có một đội ngũ công nhân viên ít ỏi, năng lực và chuyên môn còn nhiều bỡ ngỡ cũng như tài chính còn nhiều hạn chế Sau thời gian 5 năm, công ty đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận,
đã xây dựng được một hệ thống chuyên nghiệp từ con người đến quy trình và tài chính Hiện nay, công ty TNHH Phân phối FPT đang có mạng lưới phân phối lớn nhất tại Việt Nam, với hơn 956 đại lý tại 53/64 tỉnh thành trong toàn quốc, trong đó có 396 đại lý phân phối các sản phẩm công nghệ thông tin và
560 đại lý phân phối sản phẩm điện thoại di động Nokia Bên cạnh đó, công
Trang 35ty cũng đang là đối tác tin cậy của hơn 60 hãng nổi tiếng hàng đầu thế giới như: IBM, Lenovo, Microsoft, HP, Nokia, Toshiba,… Công ty TNHH Phân phối FPT đã và đang tạo được sự khác biệt với những công ty phân phối khác bằng hệ thống hỗ trợ dự án và các dịch vụ giá trị gia tăng khác cho khách hàng và đại lý.
Công ty TNHH Phân phối FPT có cơ cấu tổ chức chặt chẽ và thống nhất trên toàn quốc với đội ngũ công nhân viên đông đảo, nhiệt tình, năng động, sáng tạo, có trình độ chuyên môn và năng suất lao động cao, trong đó trên 92% số nhân viên có kinh nghiệm hoạt động trong lĩnh vực công nghệ thông tin, viễn thông và phân phối
Với những thế mạnh sẵn có cùng tôn chỉ hướng tới khách hàng, Công
ty TNHH Phân phối FPT đã và đang mang đến cho khách hàng của mình những giá trị gia tăng, những sản phẩm công nghệ thông tin mới nhất, đa dạng
về chủng loại và hoàn hảo về chất lượng, giữ vững niềm tin và uy tín với các đối tác, tiếp tục đứng vững trên thị trường trong nước và vươn ra thị trường quốc tế, xứng đáng với vị thế số 1 trong lĩnh vực phân phối các sản phẩm công nghệ thông tin và viễn thông trên thị trường Việt Nam Hiệu quả hoạt động của công ty TNHH Phân phối FPT đã được khẳng định bởi chứng chỉ hệ thống quản lý chất lượng đạt tiêu chuẩn ISO9001:2000 và hệ thống chỉ tiêu phản ánh kết quả của quá trình hoạt động kinh doanh của công ty trong những năm gần đây
Trang 36Biểu số 2.1: Một số chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh của
công ty TNHH Phân phối FPT
23.565.434.222 21.083.874.985
27.483.988.589 25.767.253.954
Trang 37Thông qua, kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty TNHH Phân phối FPT trong 3 năm liên tiếp 2006, 2007, 2008 ta có thể thấy tình hình hoạt động kinh doanh của công ty là rất tốt Lợi nhuận sau thuế và thu nhập bình quân theo đầu người tăng nhanh qua các năm Điều đó là do công ty đã mở rộng được hệ thống hỗ trợ dự án và các dịch vụ giá trị gia tăng cho các khách hàng và đại lý, làm cho các sản phẩm của công ty thu hút được sự quan tâm, chú ý của nhiều khách hàng hơn, dẫn tới doanh thu tăng Bên cạnh đó, công ty
đã có các biện pháp tiết kiệm chi phí hợp lý góp phần làm tăng lợi nhuận sau thuế hàng năm của doanh nghiệp
2.1.2 Chức năng và nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của công ty
TNHH Phân phối FPT
Loại hình doanh nghiệp
Công ty TNHH Phân phối FPT là một thành viên của Tập đoàn FPT, hoạt động theo mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, có tư cách pháp nhân theo quy định của pháp luật Việt Nam, hoạt động theo chế độ hạch toán độc lập, có tài khoản riêng tại ngân hàng, có con dấu riêng để giao dịch theo điều lệ tổ chức và hoạt động của công ty, tự chủ về tình hình tài chính của mình Ban giám đốc là những người đưa ra chiến lược phát triển của công ty và điều hành chung mọi hoạt động bởi bộ máy quản lý phân cấp chức năng từ trên xuống dưới
Lĩnh vực hoạt động kinh doanh
Trải qua nhiều thăng trầm và thích ứng với tình hình của công ty và thị trường, hiện nay nhiệm vụ kinh doanh chính của công ty là:
Phân phối các sản phẩm công nghệ thông tin, các sản phẩm điện
tử, điện lạnh và các dịch vụ truyền thông đại chúng như: Máy chủ, máy tính cá nhân, các linh kiện, phụ kiện máy vi tính (Loa,
Trang 38chip, ram, chuột, bàn phím,…), các thiết bị mạng, ti vi, camera, các dịch vụ quảng cáo, bản quyền, sản xuất chương trình,…
Phân phối các sản phẩm viễn thông bao gồm hàng hoá viễn thông và dịch vụ viễn thông như: Điện thoại di động, sim card, thẻ cào, linh kiện, phụ kiện điện thoại, tổng đài điện thoại, các dịch vụ quảng cáo trực tuyến, kết nối Internet,…
2.1.3 Đặc điểm tổ chức hoạt động kinh doanh
Là một doanh nghiệp lớn hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh thương mại các sản phẩm công nghệ thông tin và viễn thông với rất nhiều chi nhánh
và trung tâm, công ty TNHH Phân phối FPT có mô hình tổ chức hoạt động kinh doanh theo mô hình trực tuyến - chức năng Các trung tâm, chi nhánh có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, các phòng ban chức năng có mối quan hệ phối hợp và cùng chịu sự quản lý, điều hành của cấp trên trực tiếp là Ban Giám đốc
Cơ cấu tổ chức quản lý của công ty TNHH Phân phối FPT được chia thành 3 cấp: Công ty – Chi nhánh – Trung tâm Công ty TNHH Phân phối FPT có trụ sở chính tại Hà Nội và 3 chi nhánh tại các thành phố Hồ Chí Minh,
Đà Nẵng, Cần Thơ Tại trụ sở chính Hà Nội và chi nhánh thành phố Hồ Chí Minh có các trung tâm: Phân phối và hỗ trợ dự án, Phân phối sản phẩm phần mềm và thiết bị mạng F1, Kinh doanh máy tính và thiết bị mạng, Phân phối sản phẩm HP, Máy tính FPT Elead, Phân phối sản phẩm Nokia, Phát triển kinh doanh Tại chi nhánh thành phố Đà Nẵng và thành phố Cần Thơ có các trung tâm: Phân phối sản phẩm công nghệ thông tin, Phân phối sản phẩm Nokia
Trang 39Sơ đồ 2.1: Sơ đồ tổ chức bộ máy của công ty TNHH Phân phối FPT
Đà Nẵng Chi nhánh
Hồ Chí Minh Chi nhánh
Ban kế hoạch tài chính
Ban pháp
chế
Ban phát triển kinh
Hội đồng thành viên Ban kiểm soát
Trang 40Chức năng của một số trung tâm trực thuộc quan trọng:
Trung tâm Phân phối và Hỗ trợ dự án (FPS)
Là nhà phân phối chính thức các sản phẩm hàng đầu thế giới về công nghệ thông tin như: IBM, Lenovo, APC thông qua hệ thống đại lý và hệ thống
hỗ trợ dự án cho các cơ quan Chính phủ, doanh nghiệp Nhà nước, công ty đa quốc gia
Trung tâm phân phối sản phẩm HP (FHP)
Là một trung tâm phân phối và hỗ trợ dự án, chuyên cung cấp ra thị trường Việt Nam các sản phẩm đa dạng và giải pháp công nghệ tiến tiến của hãng HP bao gồm: Desktop, Notebook, PDA, Smart Phone, các loại máy in, Server và thiết bị lưu trữ thông qua hệ thống hơn 300 đại lý trải khắp 4 miền
Trung tâm Kinh doanh máy tính và thiết bị mạng (FCN)
Trung tâm Kinh doanh máy tính và thiết bị mạng hiện đang là đối tác tin cậy của nhiều tập đoàn công nghệ, điện tử hàng đầu thế giới Trung tâm chuyên phân phối các sản phẩm của các hãng như: Toshiba, Samsung, NEC, Apple, Foxconn Với hệ thống phân phối nhân rộng khắp cả nước, trung tâm
đã đem đến nhiều tiện ích dịch vụ và lựa chọn đa dạng với chất lượng sản phẩm tốt nhất tới khách hàng
Trung tâm Phân phối sản phẩm Nokia (F9)
Là trung tâm chuyên phân phối các sản phẩm và các linh kiện - phụ kiện điện thoại di động của hãng Nokia như: Điện thoại GSM, điện thoại CDMA, sim card, thẻ cào, pin, sạc,… Là một trung tâm ra đời chưa lâu nhưng bằng hệ thống đại lý và các dịch vụ hỗ trợ sản phẩm của mình, trung tâm Phân phối sản phẩm Nokia đã và đang khẳng định được vị thế của mình trong thị trường sản phẩm điện thoại di động và ngày càng có những đóng góp đáng
kể vào sự phát triển của công ty TNHH Phân phối FPT nói riêng và Tập đoàn FPT nói chung