Luận văn “Tín ngưỡng thờ thần qua ba truyền thuyết Con Rồng cháu Tiên, Thánh Gióng và Sơn Tinh - Thủy Tinh hy vọng là chìa khóa giúp người đọc giải mã những giá trị văn hóa truyền thống
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHẠM THỊ PHƯỢNG
TÍN NGƯỠNG THỜ THẦN QUA BA TRUYỀN THUYẾT
CON RỒNG CHÁU TIÊN, THÁNH GIÓNG VÀ SƠN TINH - THỦY TINH
Chuyên ngành: Việt Nam học
Mã số: 8310630
LUẬN VĂN THẠC SĨ VIỆT NAM HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS TRẦN VĂN TRỌNG
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn “Tín ngƣỡng thờ thần qua ba truyền thuyết
Con Rồng cháu Tiên, Thánh Gióng và Sơn Tinh - Thủy Tinh” là công trình
nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, nội dung được trình bày trong luận văn này là hoàn toàn hợp lệ, đảm bảo độ tin cậy, tính chính xác và trung thực Tôi xin chịu trách nhiệm về đề tài nghiên cứu của mình./
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Tác giả luận văn
PHẠM THỊ PHƢỢNG
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 VẤN ĐỀ VĂN HÓA, TÍN NGƯỠNG VÀ SỰ THỂ HIỆN CỦA VĂN HÓA TÍN NGƯỠNG QUA TRUYỀN THUYẾT LỊCH SỬ 9
1.1 Khái lược về văn hóa, tín ngưỡng, văn hóa tín ngưỡng 9
1.2 Truyền thuyết - một lý lịch dân gian dành cho các vị thần 17
1.3 Một số vấn đề về tín ngưỡng dân gian qua truyền thuyết thời Hùng Vương 18
Chương 2 BIỂU HIỆN CỦA TÍN NGƯỠNG VÀ TÍN NGƯỠNG THỜ THẦN QUA BA TRUYỀN THUYẾT CON RỒNG CHÁU TIÊN, THÁNH GIÓNG VÀ SƠN TINH - THỦY TINH 27
2.1 Các loại hình tín ngưỡng của người Việt được phản ánh qua ba truyền thuyết Con Rồng cháu Tiên, Thánh Gióng và Sơn Tinh - Thủy Tinh 27
2.2 Tín ngưỡng thờ thần - diễn ngôn về đạo lý truyền thống của dân tộc 50
Chương 3 SỨC SỐNG CỦA TÍN NGƯỠNG THỜ THẦN QUA BA TRUYỀN THUYẾT CON RỒNG CHÁU TIÊN, THÁNH GIÓNG VÀ SƠN TINH - THỦY TINH TRONG XÃ HỘI HIỆN NAY 54
3.1 Biểu hiện của tín ngưỡng thờ thần qua ba truyền thuyết Con Rồng cháu Tiên, Thánh Gióng và Sơn Tinh - Thủy Tinh trong xã hội hiện nay 54
3.2 Vấn đề bảo tồn và phát huy các giá trị của tín ngưỡng thờ thần qua ba truyền thuyết Con Rồng cháu Tiên, Thánh Gióng và Sơn Tinh - Thủy Tinh trong đời sống xã hội hiện nay 67
KẾT LUẬN 76
TÀI LIỆU THAM KHẢO 79
PHỤ LỤC 82
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việc bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa phi vật thể, trong đó có văn hóa tín ngưỡng là vấn đề cấp thiết không chỉ ở Việt Nam mà còn là mối quan tâm chung của toàn nhân loại Năm 2003, Công ước về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ban hành nhằm kêu gọi các quốc gia chung tay bảo vệ loại hình di sản văn hóa này Điều 17 Luật di sản văn hóa Việt Nam năm 2011 cũng đã khẳng định: “Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện cho tổ chức, cá nhân tiến hành hoạt động nghiên cứu, sưu tầm, bảo quản, truyền dạy và giới thiệu di sản văn hóa phi vật thể nhằm giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và làm giàu kho tàng di sản văn hóa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam” Từ đó đã thu hút các nhà khoa học nghiên cứu
về các hiện tượng văn hóa nhằm đáp ứng những yêu cầu của thực tiễn
Tín ngưỡng và tín ngưỡng thờ thần có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong đời sống tinh thần của nhân dân Việt Nam Với nhiều giá trị thể hiện truyền thống, đạo lý tốt đẹp của dân tộc Lễ hội Tản Viên Sơn Thánh, Giỗ tổ Vua Hùng đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại vào năm 2010, 2012 Lễ hội Tản Viên sơn thánh được công nhận là
di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia năm 2018 Việc được công nhận là một vinh dự nhưng bên cạnh đó vấn đề bảo tồn, phát huy nhất là giáo dục các thế hệ mai sau về những truyền thống đó cũng là thách thức không nhỏ
Ba truyền thuyết Con Rồng cháu Tiên, Thánh Gióng và Sơn Tinh - Thủy
Tinh được chọn và giới thiệu trong chương trình sách giáo khoa Ngữ Văn 6
nhằm giáo dục cho thể hệ trẻ về những giá trị văn hóa truyền thống của cha ông ta thời kỳ đầu dựng nước cũng như truyền thống yêu nước và lòng tự hào dân tộc Việc giảng dạy 3 truyền thuyết trên trong chương trình ngữ văn 6 không thể chỉ dừng lại ở việc khai thác những đặc trưng hay nội dung đơn
Trang 5thuần của mỗi truyền thuyết mà hơn thế nữa cần khai thác và giáo dục những biểu tượng văn hóa cũng như sinh hoạt tín ngưỡng gắn với những truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc Luận văn “Tín ngưỡng thờ thần qua ba
truyền thuyết Con Rồng cháu Tiên, Thánh Gióng và Sơn Tinh - Thủy Tinh hy
vọng là chìa khóa giúp người đọc giải mã những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc từ cội nguồn lịch sử đến việc thực hành tín ngưỡng ngày nay Bởi trước xu thế biến đổi mạnh mẽ của văn hóa tín ngưỡng trong đời sống xã hội hiện nay, việc thực hành tín ngưỡng nhằm khẳng định sức sống, sức lan tỏa rộng khắp của loại hình tín ngưỡng truyền thống này đồng thời bảo lưu được những giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc đòi hỏi chúng ta phải có cái nhìn đúng mực, khách quan khi thực hành trong cuộc sống
Là một Giảng viên giảng dạy bộ môn Văn hóa học và văn hóa Việt Nam cho sinh viên ngành CĐSP Ngữ văn tại trường Cao đẳng Sư phạm Hà Tây, chúng tôi mong muốn cung cấp cho sinh viên một công cụ cũng như một cách thức khai thác các giá trị di sản văn hóa thông qua tác phẩm văn học Đây cũng là cách thức nhằm tích hợp nhuần nhuyễn giữa việc giáo dục tri thức và nhân cách thông qua các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc từ việc giảng dạy tác phẩm văn học cho sinh viên
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu về thời đại Hùng Vương cũng như những giá trị văn hóa mang tính bản địa của dân tộc thời kỳ đầu dựng nước nói chung cũng như tín ngưỡng thờ thần nói chung đã thu hút rất nhiều sự quan tâm của các nhà khoa học với các cuộc hội thảo và số lượng các bài viết, luận án…Trong phạm vi
của luận văn này chúng tôi chỉ điểm qua một số tác phẩm chính: Con Rồng
cháu Tiên, Thánh Gióng và Sơn Tinh - Thủy Tinh
Trang 62.1 Nhóm các công trình nghiên cứu về tín ngưỡng và tín ngưỡng thờ thần ở Việt Nam
Cuốn Thần, người và đất Việt của tác giả Tạ Chí Đại Trường “là một
công trình vạch lại chi tiết lịch sử biến chuyển các quan niệm thần linh của người Việt” (Dương Trung Quốc) Đây là một công trình quan trọng nghiên cứu cách thức suy nghĩ, ứng xử của người Việt trong đời sống tâm linh
Thần, người và đất Việt có thể so sánh như một bức tranh muôn màu về các
hệ thống thần linh đất Việt Mỗi trang sách có vai trò như một mảng màu riêng miêu tả về những biến chuyển văn hóa dưới lớp vỏ của thần thoại, huyền thoại và tín ngưỡng Từng gương mặt thần linh được hiện lên với những nét vẽ nguyên sơ, chân thực trong sự vọng tưởng về văn hóa bản địa
thiêng liêng Với quan niệm “vạn vật hữu linh” trong tâm thức người Việt
luôn có một niềm tin mãnh liệt về sự tồn tại của thế giới siêu nhiên, thần bí
Thần, người và đất Việt không chỉ khảo sát hệ thống thần linh bản địa, sơ khai
của Người Việt, mà còn đặt những bước đi đầu tiên trong việc làm sáng tỏ chiều hướng kết tập thần linh mới
Trong cuốn Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam (Nxb Khoa
học xã hội, Hà Nội, 2001), nhà nghiên cứu Ngô Đức Thịnh đã phác họa về tín ngưỡng dân gian của các dân tộc Việt Nam và trình bày một số loại hình tín ngưỡng tiêu biểu nhất của Việt Nam như: Thờ cúng tổ tiên, thờ Thành hoàng, Đạo Mẫu… Ông có đề cập đến tín ngưỡng thờ nhiên thần và nhân thần trong phần II “Diện mạo thành Hoàng làng ở đồng Bằng Bắc Bộ” [39, tr.96] Tác giả Ngô Đức Thịnh lý giải nhiên thần và nhân thần là những diện mạo khác nhau trong nhiều diện mạo của tín ngưỡng thờ thành Hoàng làng nói chung ở Đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam
Trang 7Cuốn Tôn giáo, tín ngưỡng các dân tộc ở Việt Nam (Nxb Khoa học xã
hội, Hà Nội, 2013) của nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Minh đã đưa ra những khái niệm chung về tôn giáo tín ngưỡng như Khái niệm Tín ngưỡng, bản chất, ngồn gốc, chức năng, vai trò của tín ngưỡng… Đặc biệt tác giả đã phân tích rất sâu sắc những ảnh hưởng của văn hóa tín ngưỡng trong đời sống cộng đồng cũng như một số xu hướng biến đổi của tôn giáo tín ngưỡng trong đời sống xã hội hiện nay đặc biệt là xu hướng dân tộc hóa, phục hồi các tôn giáo, tín ngưỡng, lễ hội truyền thống của dân tộc
2.2 Nhóm các công trình nghiên cứu về 3 truyền thuyết cũng như tín ngưỡng thờ cúng thuộc thời đại Vua Hùng
Năm 1971, nhóm tác giả Văn Tân, Nguyễn Linh, Lê Văn Lan, Nguyễn
Đổng Chi, Hoàng Hưng xuất bản cuốn sách Thời đại Hùng Vương: Lịch sử -
văn hóa - chính trị - xã hội Công trình được xem là “kết quả công lao nghiên
cứu của giới sử học và giới khảo cổ học nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”
đã tái hiện thời đại Hùng Vương một cách sinh động từ cương vực, tên nước,
cư dân, sản xuất, thể chế chinh trị xã hội, đời sống văn hóa Song song với các công trình nghiên cứu sử học, khảo cổ học là những nghiên cứu về các
truyền thuyết thời Hùng Vương được tập hợp trong các sách Thời Hùng
Vương qua truyền thuyết, huyền thoại
Cuốn: Đền Hùng và tín ngưỡng thờ Hùng Vương (Nxb Văn hóa Thông
tin, Hà Nội, 2013) của tác giả Phạm Bá Khiêm đã nghiên cứu, sưu tầm, hệ thống hóa các tư liệu lịch sử; tài liệu kiểm kê di tích, di sản văn hóa dân gian liên quan đến tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ Cuốn sách được xem như tập tư liệu, địa chí về Đền Hùng và ý nghĩa thực hành tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương trong tâm thức nguồn cội của người Việt Đọc sách chúng ta sẽ hiểu biết hơn, có trách nhiệm hơn với việc bảo tồn, tôn tạo các di
Trang 8tích thờ cúng Hùng Vương trong cộng đồng và đặc biệt với khu di tích lịch sử Đền Hùng sao cho xứng tầm là trung tâm thực hành tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương lâu đời nhất quy mô nhất trong tiến trình phát triển lịch sử của
dân tộc Việt Nam
Luận văn Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Thành phố Hồ Chí Minh
của Ngô Hoàng Ân, chuyên ngành văn hóa học, mã số 603170, Hà Nội năm
2014 đã làm sáng tỏ tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Tp Hồ Chí Minh trong cái nhìn bối cảnh không gian và sự vận động không gian, thời gian Nhận diện vị trí của tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương trong hệ thống văn hóa
Tp Hồ Chí Minh và luận bàn những chuyển biến của tín ngưỡng này trong xã hội đương đại
Công trình Người anh hùng làng Gióng (Nxb Trẻ, Tp Hồ Chí Minh,
2015) của tác giả Cao Huy Đỉnh có một giá trị đặc biệt quan trọng, đặt nền móng về phương pháp luận cho việc nghiên cứu văn học dân gian Việt Nam: Tìm hiểu tác phẩm văn học dân gian trong không gian sống động thực tế của
nó Với 6 chương mang nội dung nghiên cứu tổng thể về người anh hùng dân tộc Thánh Gióng trong cái nhìn từ quá khứ đến hiện đại Đây có thể coi là công trình nghiên cứu lớn nhất, toàn diện nhất và có giá trị nhất về hình tượng Thánh Gióng của người Việt và có thể xem là một mẫu mực nghiên cứu về khoa học xã hội trong gần nửa thế kỷ qua
Trong những năm gần đây có nhiều hội thảo cũng như công trình nghiên cứu về thời đại Hùng Vương tiếp tục được quan tâm Năm 2003, công trình
Tín ngưỡng thờ cùng Hùng Vương hành trình đến di sản nhân loại đã tập hợp
các bài viết giới thiệu về di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương, quá trình để UNESCO công nhận và những giải pháp để di sản mãi mãi trường tồn và lan tỏa
Trang 9Có thể thấy việc nghiên cứu về văn hóa tín ngưỡng của người Việt nói chung cũng như nghiên cứu về tín ngưỡng thờ Hùng Vương nói riêng đã được quan tâm và nghiên cứu một cách tổng thể, hệ thống Đó là những tài liệu tham khảo quý giá giúp tác giả tìm hiểu và đi sâu vào nghiên cứu về văn hóa tín ngưỡng bản địa của người Việt qua ba truyền thuyết lịch sử về thời kỳ
dựng nước của dân tộc Việt là Con Rồng cháu Tiên, Thánh Gióng và Sơn
Tinh - Thủy Tinh
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn nhằm làm sáng tỏ tín ngưỡng thần qua ba truyền thuyết Con
Rồng cháu Tiên, Thánh Gióng và Sơn Tinh - Thủy Tinh, trong cái nhìn bối
cảnh không gian và sự vận động trong thời gian của diễn trình lịch sử dân tộc Nhận diện vai trò, vị trí của tín ngưỡng thờ thần trong hệ thống văn hóa truyền thống của dân tộc cũng như vấn đề bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa tốt đẹp này trong xã hội ngày nay
Luận văn cũng bước đầu tiến hành khảo sát quá trình bảo tồn và phát huy tín ngưỡng thờ thần của nhân dân thông qua việc thực hành tín ngưỡng trong xã hội hiện nay ở địa bàn Hà Nội và một số tỉnh lân cận
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là tín ngưỡng thờ thần qua ba truyền
thuyết Con Rồng cháu Tiên, Thánh Gióng và Sơn Tinh - Thủy Tinh Trong sách giáo khoa Ngữ văn 6 từ truyền thống đến hiện đại
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn phân tích lý giải về tín ngưỡng thờ thần thông qua ba truyền
thuyết Con Rồng cháu Tiên, Thánh Gióng và Sơn Tinh - Thủy Tinh trong SGK Ngữ văn 6, Tập 1, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2016 Việc bảo tồn và phát
huy những giá trị của tín ngưỡng thờ thần trong xã hội hiện nay
Trang 105 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận:
+ Giải thích các khái niệm: Văn hóa, Tín ngưỡng, tín ngưỡng thờ thần,
truyền thuyết lịch sử, xu hướng biến đổi văn hóa, thực hành tín ngưỡng…
- Phương pháp nghiên cứu:
Để thực hiện đề tài, luận văn vận dụng kết hợp một số phương pháp nghiên cứu chính sau đây:
+ Phương pháp loại hình học văn học;
+ Phương pháp so sánh - đối chiếu;
+ Phương pháp phân tích, tổng hợp
+ Phương pháp tổng quan tài liệu…
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận
- Luận văn có ý nghĩa cụ thể trong việc thực hiện chủ trương, đường lối
của Đảng và Nhà nước trong việc “Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân
tộc” nói chung và văn hóa tín ngưỡng truyền thống nói riêng
- Trên cơ sở hệ thống hóa các ngồn tài liệu, tư liệu về thể loại văn học truyền thuyết nói riêng và văn hóa Việt Nam nói chung, luận văn góp phần bổ xung, cung cấp tư liệu trên cơ sở nghiên cứu tích hợp giữ văn học và văn hóa
Từ đó có một cách nhìn hệ thống trong quá trình nghiên cứu về mối liên hệ giữ văn học và văn hóa
Trang 11- Luận văn dùng làm tài liệu tham khảo cho việc giảng dạy và nghiên cứu về thể loại văn học truyền thuyết nói riêng cũng như nghiên cứu về văn hóa Việt Nam nói chung
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn
Tín ngưỡng thờ thần qua ba truyền thuyết Con Rồng cháu Tiên, Thánh Gióng
và Sơn Tinh - Thủy Tinh dự kiến gồm 3 chương:
Chương 1: Vấn đề văn hóa, tín ngưỡng và sự thể hiện của văn hóa tín ngưỡng qua truyền thuyết lịch sử
Chương 2: Biểu hiện của tín ngưỡng và tín ngưỡng thờ thần qua ba
truyền thuyết Con Rồng - Cháu Tiên, Thánh Gióng và Sơn Tinh - Thủy Tinh Chương 3: Sức sống của tín ngưỡng thờ thần qua ba truyền thuyết Con
Rồng - Cháu Tiên, Thánh Gióng và Sơn Tinh - Thủy Tinh trong xã hội hiện
nay
Trang 12Chương 1 VẤN ĐỀ VĂN HÓA, TÍN NGƯỠNG
VÀ SỰ THỂ HIỆN CỦA VĂN HÓA TÍN NGƯỠNG
QUA TRUYỀN THUYẾT LỊCH SỬ 1.1 Khái lược về văn hóa, tín ngưỡng, văn hóa tín ngưỡng
1.1.1 Khái niệm văn hoá
Văn hóa là một thuật ngữ đa nghĩa và việc xác định nó là khá phức tạp
và khó khăn Trên thế giới đã có nhiều định nghĩa khác nhau về văn hoá, mỗi học giả thường xuất phát từ những luận cứ riêng, góc nhìn riêng phù hợp với mục đích nghiên cứu của mình để đưa ra định nghĩa về văn hoá
Hiện nay, người ta thấy có khoảng hơn 400 định nghĩa về văn hóa và có người còn cho rằng có bao nhiêu người nghiên cứu về văn hóa thì có bấy nhiêu định nghĩa về nó Điều đó cũng đủ nói lên rằng văn hóa là biển cả mênh mông, là hiện tượng bao chùm lên tất thảy các mặt của đời sống con người và
xã hội khiến cho bất kỳ một định nghĩa nào đưa ra cũng khó có thể bao quát hết được nội hàm của nó Bởi vậy, điều quan trọng hơn cả không phải là định nghĩa như thế nào mà là định nghĩa đó nói lên được những gì, thâu tóm được những phương diện gì của văn hoá
E.B.Tylor - nhà nhân học người Anh, ông định nghĩa văn hóa ngay trang
đầu tiên trong công trình Văn hóa nguyên thủy - Primitive Culture, đã định
nghĩa văn hóa như một “phức hợp bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục cũng như bất kỳ một khả năng và thói quen khác mà con người như một thành viên của xã hội tiếp thu được” [10, tr.1]Hay như Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã đưa ra quan điểm của mình về văn hóa:
“Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn
Trang 13học nghệ thuật những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt với biểu hiện của
nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu của đời sống
và đòi hỏi của sự sinh tồn”
Theo Trần Ngọc Thêm thì: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và
Văn hóa được coi là cốt lõi, bản lĩnh, bản sắc và những truyền thống tốt đẹp của mỗi dân tộc Hoạt động văn hóa luôn có tính kế thừa, vận động và phát triển Một nền văn hóa dân tộc muốn giữ sức sống của mình thì phải kế thừa những thành tựu văn hóa tốt đẹp của quá khứ và tiếp thu những tinh hoa văn hóa của nhân loại
Theo dòng thời gian, văn hóa đã góp phần phát triển xã hội loài người Mỗi dân tộc có nền văn hóa riêng của mình, nền văn hóa đó quy tụ toàn bộ những gì tinh túy nhất mà dân tộc đó sáng tạo ra, giữ gìn và phát triển qua lịch
sử của dân tộc Văn hóa là thành tố quan trọng, quyết định tính dân tộc, bản sắc của mỗi quốc gia, là chỗ dựa, là điểm xuất phát của lịch sử
Trang 141.1.2 Khái niệm tín ngưỡng
Những cư dân làm nông nghiệp, xưa nay không thoát khỏi tư tưởng trông chờ sự may rủi của số phận, của thiên nhiên Do vậy, tư duy kinh nghiệm và những niềm tin tôn giáo, tín ngưỡng là sản phẩm tất yếu của đời sống tinh thần của họ Trong đời sống thường ngày, khi đề cập đến tín ngưỡng người ta thường liên tưởng đến những hiện tượng có tính chất linh thiêng, thần bí, thể hiện niềm tin về một thế giới vô hình, về cuộc sống sau khi chết, về sự tồn tại của linh hồn và sự tác động của lực lượng này đối với cuộc sống hiện tại của con người và nó gắn liền với các phong tục, tập quán, thói quen, truyền thống của một cộng đồng người hay một dân tộc Nó phản ánh nếp sống, cung cách ứng xử của con người cũng như phản ánh lịch sử phát triển văn hóa của cộng đồng dân tộc
Cũng giống như khái niệm văn hóa, tín ngưỡng là một phạm trù lý thuyết
mở, bởi mỗi học giả lại dựa vào những góc độ tiếp cận riêng để giải thích cho thuật ngữ này Và cho đến nay, các học giả vẫn chưa đưa ra được một định nghĩa thống nhất và mang tính đồng thuận cao
Theo Từ điển Tiếng Việt: Tín ngưỡng là “lòng tin theo một tôn giáo nào đó” [27, tr.1277] Nhóm tác giả trong cuốn Hỏi và đáp văn hóa Việt Nam lại
coi “Tín ngưỡng là sự tin tưởng, ngưỡng mộ và sùng bái những thần thánh, vật thiêng hoặc linh hồn người chết do con người tưởng tượng ra hoặc do con người suy tôn, gán cho những phẩm chất siêu phàm” [23, tr.100]
Theo tác giả Nguyễn Việt Hùng trong tiểu luận “Tục thờ đá trong tín
ngưỡng dân gian Việt Nam” chú thích lại dùng khái niệm tín ngưỡng với ý nghĩa là hình thức tôn giáo sơ khai, tức là tín ngưỡng là hiện tượng có trước,
dưới thành tố tôn giáo Tôn giáo là hệ thống tín ngưỡng cùng nghi lễ, không
phải chỉ một tín ngưỡng đủ thành một tôn giáo [23, tr.50]
Trang 15Trong bài viết “Tín ngưỡng, kiêng kỵ và hèm”, nhà nghiên cứu Hoàng Quốc cho rằng: “Tín có nghĩa là tin theo Ngưỡng là ngửa trông lên trời Như vậy tín ngưỡng là thứ vô hình, nhưng thiêng liêng và ảnh hưởng rất lớn đến đời sống văn hóa xã hội của người nông dân Hạt nhân của tín ngưỡng là tính thiêng” [28, tr.95]
Trong công trình Văn hóa Việt Nam - đỉnh cao Đại Việt, Nguyễn Đăng
Duy cho rằng: “Tín ngưỡng là niềm tin và sự ngưỡng mộ của con người vào lực lượng siêu nhiên, thần bí, hoặc do con người tưởng tượng ra những vị thần linh đến mức họ cho rằng những lực lượng ấy có ảnh hưởng, chi phối đời sống, số phận của con người và gây thành một nếp sống xã hội theo niềm tin thiêng liêng ấy” [6, tr.351]
Dưới góc độ tâm lý học, tín ngưỡng là một hiện tượng tâm lý - xã hội biểu hiện niềm tin của một cộng đồng người nhất định về thế giới vô hình, về lực lượng siêu nhiên và năng lực chi phối của lực lượng này đối với cuộc sống của con người thông qua hệ thống lễ nghi thờ cúng Quá trình hình thành
và phát triển tín ngưỡng gắn liền với lịch sử phát triển của cộng đồng nên nó phản ánh cuộc sống thực tế của cộng đồng người đó
Như vậy, các khái niệm tín ngưỡng mặc dù khác nhau về điểm tiếp cận nhưng các tác giả đều gặp gỡ nhau ở một điểm đó là đều xem tín ngưỡng là lòng tin vào một thế lực siêu nhiên nào đó, có sức mạnh chi phối tới đời sống của con người hiện tại
1.1.3 Khái niệm văn hóa tín ngưỡng
Dưới góc nhìn văn hóa, tín ngưỡng chứa đựng những giá trị thiêng liêng
và nhạy cảm đối với đời sống tinh thần của con người Hiện nay, ngoài khái niệm tín ngưỡng hay văn hóa tín ngưỡng được nhà nghiên cứu văn hóa dân
gian Ngô Đức Thịnh đề cập trong các công trình như: Tín ngưỡng và văn hóa
Trang 16tín ngưỡng ở Việt Nam (2001), bài viết “Các dạng thức văn hóa ở Việt Nam”
(2006), công trình Tín ngưỡng lễ hội cổ truyền (2007)… Trong các công trình
kể trên, ông cũng chưa đưa ra một khái niệm cụ thể nào mà mới chỉ dừng lại ở những vấn đề mang tính khái quát về văn hóa tín ngưỡng Trong bài viết về
“Các dạng thức văn hóa ở Việt Nam”, ông cho rằng: “Tương ứng với các cộng đồng tôn giáo tín ngưỡng như Phật giáo, Kitô giáo, Hồi giáo, Nho giáo, đạo Mẫu… đều có các dạng thức văn hóa tương ứng: văn hóa Phật giáo, văn hóa Kitô giáo, văn hóa Nho giáo, văn hóa Hồi giáo, văn hóa đạo Mẫu… Bản thân các tôn giáo tín ngưỡng đã là một hình thức văn hóa đặc thù Đấy là chưa
kể, trong quá trình hình thành và phát triển, mỗi tôn giáo tín ngưỡng bao giờ cũng sản sinh, tích hợp trong nó những hiện tượng, những sinh hoạt văn hóa
nghệ thuật” [39, tr.28]
Tín ngưỡng chính là môi trường sản sinh, tích hợp và bảo tồn nhiều sinh hoạt văn hóa dân gian Con người muốn chuyển đạt nguyện vọng của mình lên thần linh thì phải cần có các công cụ, phương tiện như: múa hát, tượng thờ, nghi lễ, phẩm vật, nơi thờ cúng… Ngô Đức Thịnh đã đưa một ví dụ điển hình: “Từ nhân lõi tôn giáo tín ngưỡng này, đạo Mẫu đã sản sinh và tích hợp nhiều yếu tố, giá trị văn hoá: văn học đạo Mẫu, diễn xướng đạo Mẫu (âm nhạc, múa, hát chầu văn, sân khấu), kiến trúc và nghệ thuật trang trí, lễ hội và
sinh hoạt cộng đồng gắn với đạo Mẫu” [39, tr.765]
Văn hóa tín ngưỡng chính là sự gắn kết từ một hình thức tín ngưỡng nào
đó, rồi tích hợp các giá trị văn hóa khác như: di tích, lễ hội, truyền thuyết, diễn xướng nghệ thuật… có liên quan Tín ngưỡng mang tính nguyên hợp chính là sự tích hợp nhiều giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể cùng tồn tại như một tổng thể văn hóa Tính nguyên hợp là một đặc trưng cơ bản của văn hóa dân gian, dùng để nói một hiện tượng văn hóa không chỉ tồn tại riêng
Trang 17biệt, đơn lẻ mà còn tồn tại và tích hợp các hiện tượng văn hóa khác vào xung quanh như một tổng thể
Điều này đã được Ngô Đức Thịnh giải thích và đưa ví dụ cụ thể ở trên Nhà nghiên cứu Patrick B Mullen có ý kiến tương tự: “Tín ngưỡng dân gian không chỉ tồn tại ở dạng trừu tượng mà nó còn tồn tại trong thực tiễn và các ứng xử thực tế Xin nhắc lại, văn hóa dân gian không chỉ là sự phản ánh một thế giới quan văn hóa trừu tượng, mà nó còn tồn tại trong cuộc sống hằng ngày như là một phương tiện sáng tạo văn hóa”
Dựa vào cách tiếp cận của những nhà nghiên cứu đi trước, chúng tôi đưa
ra quan niệm của mình về văn hóa tín ngưỡng làm căn cứ triển khai luận văn: Văn hóa tín ngưỡng là hệ thống giá trị về những phương cách ứng xử của con người đối với thế giới siêu nhiên hay xã hội có liên quan đến đời sống của mình Những phương cách ứng xử đó phản ánh các điều kiện vật chất và tinh thần tương ứng với môi trường tự nhiên và xã hội của một cộng đồng cư dân Như vậy, văn hóa tín ngưỡng sẽ được tiếp cận từ những giá trị văn hóa vật thể, văn hóa phi vật thể thông qua các cơ sở thờ tự, nghi thức thờ cúng, các giai thoại dân gian, địa danh và lễ hội có liên quan đến các hình thái tín ngưỡng của người Việt: tín ngưỡng sùng bái tự nhiên; tín ngưỡng sùng bái con người; tín ngưỡng phồn thực; tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt
1.1.4 Phân loại tín ngưỡng
Cũng như nhiều lĩnh vực khoa học khác, việc phân loại tín ngưỡng tôn giáo là một trong những vấn đề cơ bản của khoa tôn giáo học và cũng chính ở
đó còn tồn tại nhiều ý kiến khác nhau Người ta đã từng đưa ra các cách phân loại khác nhau, như phân loại tồn giáo tín ngưỡng theo các hình thức phát triển nối tiếp nhau của tiến trình lịch sử Một số khác lại từ bỏ nguyên tắc lịch
sử, mà lại theo đặc trưng địa lý và chủng tộc, theo các khu vực văn hóa, phân
Trang 18loại theo nội dung tín ngưỡng, tôn giáo và đối tượng sùng bái, theo hình thái học của tôn giáo tín ngưỡng
Theo nhà nghiên cứu Trần Ngọc Thêm trong cuốn Cơ sở văn hóa Việt
Nam (Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1999), Việt Nam cũng như các nước Đông
Nam Á có 3 loại hình tín ngưỡng chính là: Tín ngưỡng phồn thực, Tín ngưỡng sùng bái tự nhiên và Tín ngưỡng sùng bái con người
Tác giả Nguyễn Văn Minh trong cuốn Tôn giáo, tín ngưỡng các dân tộc
ở Việt Nam (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2013) trong Chương 2: “Các
hình thức tôn giáo tín ngưỡng truyền thống”, chia thành:
1- Hồn linh giáo
2- Tô tem giáo
3- Bái vật giáo, shaman giáo, phép phù thủy và ma thuật
4- Đa thần giáo
5- Quan niệm về cái chết, các hình thức tang ma và sự thờ cúng tổ tiên 6- Đạo thánh
7- Đạo
Còn nhà nghiên cứu Ngô Đức Thịnh trong cuốn Tín ngưỡng của các dân
tộc Việt Nam (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2016) đã đưa ra 5 hình thức tín
Trang 19Tín ngưỡng chủ đạo của người Việt là tín ngưỡng đa thần và đặc trưng là sùng bái nhiên thần và nhân thần Bắt nguồn từ cuộc sống của cư dân nông nghiệp lúa nước nên ở khắp nơi, người ta thờ cúng thần tự nhiên, đó là các yếu tố có liên quan trực tiếp đến đời sống của con người như: các loài chim thần, có thần có trên mặt đất với các loài vật linh như: hổ, trâu, gà, gấu hoặc dưới mặt nước như: rắn, giao long, thuồng luồng, rồng, rùa, cá; các loài thực vật được linh thiêng hóa thành thần như: cây cối, hạt lúa, hạt ngô, củ khoai, quả bầu; các dạng vật linh như: nước, đất, đá, rừng, núi, lửa; các hiện tượng tự nhiên khác như: mây, mưa, gió, sấm, chớp, sóng…
Để linh thiêng hóa các đối tượng thờ cũng này tri thức dân gian tạo nên những câu chuyện, tạo ra một hệ thần thoại, truyền thuyết hết sức phong phú
từ nhiên thần đến nhân thần Tuy nhiên, qua phương thức truyền miệng, qua những biến đổi theo không gian và thời gian, các truyện kể này không còn nguyên bản như khởi nguyên nữa (Tính dị bản là đặc trưng của văn học dân gian) Các nhân vật, đối tượng có nhiều dị bản cũng như một bộ phận nhân vật nhiên thần không nhỏ đã có sự chuyển hóa thành nhân thần và nửa nhiên thần, nửa nhân thần Sự chuyển hóa đó diễn ra theo quy luật nội tại và khách quan, làm cho biến đổi cả về mặt thể loại của truyện cổ, theo đó thể loại thần thoại đã được truyền thuyết hóa một cách mạnh mẽ Theo quy luật này trong phạm vi nghiêm cứu của đề tài, tác giả sẽ tập trung nghiên cứu về tín ngưỡng
thờ nhiên thần và nhân thần được phản ánh qua 3 truyền thuyết dân gian: Con
Rồng cháu Tiên, Thánh Gióng và Sơn Tinh - Thủy Tinh
Việt Nam như một bảo tàng tôn giáo thu nhỏ của thế giới với sự đa dạng
về tôn giáo tín ngưỡng Về khía cạnh văn hóa, sự đa dạng các loại hình tín ngưỡng, tôn giáo đã góp phần làm cho nền văn hóa Việt Nam phong phú và đặc sắc Các tín ngưỡng, tôn giáo dù có nguồn gốc khác nhau, phương châm
Trang 20hành đạo không giống nhau nhưng không vì thế mà có sự xung đột, phá hoại lẫn nhau để phát triển riêng mình, ngược lại trong quan hệ, chúng luôn có sự gắn kết, giao lưu và tìm hiểu về nhau để cùng truyền đạt những tinh hoa của từng tín ngưỡng, tôn giáo Đây là nét đẹp rất riêng, đặc biệt của các tín ngưỡng, tôn giáo tại Việt Nam
1.2 Truyền thuyết - một lý lịch dân gian dành cho các vị thần
1.2.1 Khái niệm truyền thuyết
SGK Ngữ văn 6 (Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2016) có định nghĩa: Truyền
thuyết là loại truyện dân gian kể về các nhân vật và sự kiện có liên quan đến lịch sử thời quá khứ, thường có yếu tố tưởng tượng, kỳ ảo Truyền thuyết thể hiện thái độ và cách đánh giá của nhân dân đối với các sự kiện và nhân vật được kể
1.2.2 Vai trò của truyền thuyết
Vai trò của truyền thuyết thể hiện ở 3 mặt cơ bản:
Về mặt lịch sử: Đặc trưng của truyền thuyết là kể về các nhân vật và sự
kiện có liên quan đến lịch sử thời quá khứ, thường có yếu tố tưởng tượng, kỳ
ảo Truyền thuyết là cơ sở cho các nhà sử học, khảo cổ học, văn hóa học tham khảo và nghiêm cứu về các giai đoạn lịch sử dân tộc
Trong quá trình hình thành, phát triển của lịch sử dân tộc luôn có những biến cố, những thăng trầm, những thời điểm mang tính chuyển giao và những con người kiệt xuất có tính chất quyết định đến vận mệnh của cộng đồng, dân tộc Những người có công với cộng đồng, những con người khi sống và khi mất trở thành biểu tượng, niềm tự hào của dân tộc cộng đồng luôn được tôn thờ, sùng bái từ đời này sang đời khác
Như nước Đại Việt ta từ trước
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
Trang 21Núi sông, bờ cõi đã chia
Phong tục Bắc, Nam cũng khác
Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời gây nền độc lập
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau
Xong hào kiệt đời nào cũng có
(Bình Ngô đại cáo - Nguyễn Trãi)
Các nhân vật kiệt xuất như: Vua Hùng, Bà Trưng, Bà Triệu, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Quang Trung thủa xưa và Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày nay sẽ sống mãi trong lòng dân tộc qua sự tôn vinh bằng đền miếu, các ngày kỷ niệm, các lễ hội lớn và đặc biệt trong tâm linh của Người Việt
Chung quanh các sự kiện lịch sử lớn, các nhân vật lịch sử đều có những câu chuyện kể về sự kiện đó hoặc kể về tài năng, về đức độ, về sự cống hiến của các anh hùng, các danh nhân cho dân, cho nước Các truyện kể ấy sẽ được lưu truyền bằng nhiều hình thức, phương thức khác nhau từ đời này qua đời khác
Các sự kiện và các nhân vật lịch sử chính là cảm hứng, là đề tài, là chất liệu để làm nên các truyền thuyết dân gian Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng, trong một bài viết về các Vua Hùng đã nêu một ý kiến khá xác đáng: “Truyền thuyết dân gian thường có một cái lõi là sự thực lịch sử, mà nhân dân qua nhiều thế hệ đã lý tưởng hóa gửi gắm vào đó tâm tình thiết tha của mình cùng với thơ và mộng ”
Về mặt ý thức xã hội: Truyền thuyết giáo dục lòng yêu nước, tinh thần
dân tộc, truyền thống uống nước nhớ nguồn, nhân nghĩa, nhân văn Truyền thuyết một mặt phản ánh các sự kiện lịch sử một cách trung thực cũng là một
sự thể hiện cảm quan và thái độ của quần chúng nhân dân đối với những biến
Trang 22cố, những sự kiện, những con người có liên quan, có tác động lớn đến đời sống của cộng đồng Qua từng tình tiết, từng cách mở đầu hoặc kết thúc mỗi truyền thuyết, chúng ta đều thấy thái độ khen chê, biểu dương, ca ngợi, hay phê phán, lên án, của tác giả dân gian đối với các nhân vật lịch sử một cách khá minh bạch, rõ ràng Nói cách khác truyền thuyết chính là cách thức mà dân gian trao tặng cho các vị thần Các yếu tố kỳ ảo, sản phẩm của trí tưởng tượng dân gian là cách thức mà tri thức dân gian truyền tải những ước mơ và khát vọng của mình trong cuộc sống thực tại
Về mặt văn học nghệ thuật: Truyền thuyết là nguồn cảm hứng cho các
nhà văn nhà thơ cũng như các loại hình nghệ thuật dân gian thăng hoa, phát triển Truyền thuyết là thể loại khái quát được lịch sử của dân tộc, đồng thời giáo dục con người hướng đến chân - thiện - mỹ nên truyền thuyết là nguồn cảm hứng xuyên suốt cho các tác giả dân gian sáng tạo Vì truyền thuyết là sáng tác của dân gian nên sự thực lịch sử đôi khi được hư cấu lại, theo tâm lý, tình cảm của dân gian Tính “lý tưởng hóa” được thể hiện qua nhiều tình tiết nhằm tôn vinh và linh thiêng hóa các nhân vật lịch sử
1.3 Một số vấn đề về tín ngưỡng dân gian qua truyền thuyết thời Hùng Vương
1.3.1 Mối quan hệ giữa tín ngưỡng dân gian và truyền thuyết
Qua quá trình nghiên cứu về văn học dân gian đặc biệt là truyền thuyết, các nhà nghiên cứu có thể phân kỳ truyền thuyết dựa trên sự phân kỳ lịch sử
xã hội cũng như những đặc điểm về nội dung và nghệ thuật của truyền thuyết Muốn biết truyền thuyết của một thời kỳ nào cần phải biết thời điểm ra đời của tác phẩm cũng như những nhân vật, những sự kiện được phản ánh qua truyền thuyết đó Dựa trên các kết quả của các nhà nghiên cứu văn học dân gian, truyền thuyết Việt Nam gồm các thời kỳ: Truyền thuyết về Họ Hồng
Trang 23Bàng và thời kỳ Văn Lang, truyền thuyết về thời kỳ Âu Lạc và Bắc Thuộc, truyền thuyết về thời kỳ phong kiến tự chủ, truyền thuyết về thời kỳ Pháp thuộc
Ba truyền thuyết thuộc đối tượng nghiên cứu của luận văn thuộc Truyền thuyết về Họ Hồng Bàng và thời kỳ Văn Lang Họ Hồng Bàng mở đầu thời
kỳ lập quốc của dân tộc ta kéo dài 2622 năm (2879 t.CN - 258 t.CN), từ Kinh
Dương Vương đến Lạc Long Quân và các đời Hùng Vương Theo Đại Việt sử
ký toàn thư của sử thần Ngô Sĩ Liên, cho đến thời vua Hùng cương vực nước
Văn Lang trải rộng, phía đông giáp Nam Hải, phía tây đến Ba Thục, phía bắc đến hồ Ðộng Ðình, phía nam giáp nước Hồ Tôn (nước Chiêm Thành)
Đây là hệ thống truyền thuyết mang tính chất sử thi, phản ánh không khí anh hùng ca thời Hùng Vương dựng nước và trình độ văn minh của người Văn Lang Các nhân vật Vua Hùng, Sơn Tinh (Thánh Tản Viên), Thánh Gióng là những biểu tượng của quốc gia Văn Lang trong thời kỳ đang lớn mạnh Hình tượng Lạc Long Quân - Âu Cơ có ý nghĩa khái quát hóa cho công cuộc chinh phục tự nhiên mở mang bờ cõi của người Văn Lang
Những truyền thuyết tiêu biểu trong chuỗi truyền thuyết về thời các vua Hùng: Con Rồng cháu Tiên, Thánh Gióng, Sơn Tinh - Thủy Tinh Nhân vật Hùng Vương không phải là nhân vật chính của từng truyện riêng nhưng lại là nhân vật nổi bật trong hệ thống truyện Vua Hùng (Hùng Vương thứ sáu, Hùng Vương thứ mười tám, Hùng Vương nói chung) là người đứng đầu quốc gia, vị vua có uy tín với người dân tiếp cận với thần linh, là biểu trưng của sức mạnh và tinh thần của đất nước
Các yếu tố thần kỳ còn khá đậm đặc trong ba truyền thuyết này Theo từng thời điểm xuất hiện của từng truyền thuyết các yếu tố mang tính siêu nhiên, kỳ ảo giảm xuống, tính chất trần thế ngày một tăng lên Lạc Long
Trang 24Quân, Âu Cơ đều là con của các vị thần, cuộc hôn phối và sinh hạ của hai người cũng mang tính chất phi thường Đến truyền thuyết Thánh Gióng, nhân vật Gióng vẫn mang những nét thần kỳ nhưng vẫn rất gần gũi với con người bình thường (có mẹ, sinh ra ở làng Phù Ðổng, ăn cơm, cà của dân làng) Mặt khác, từ truyền thuyết Lạc Long Quân đến truyền thuyết Thánh Gióng, đề tài cũng có sự chuyển biến: từ đề tài đấu tranh chinh phục thiên nhiên đến đề tài đấu tranh chống kẻ thù xâm lược
Có thể nói, với tín ngưỡng dân gian truyền thuyết vừa là nơi ẩn chứa, thẩm thấu, thể hiện các tín ngưỡng dân gian đó Những hình tượng, niềm tin sẽ chết cứng nếu như nó không được thổi vào đó linh hồn, tình cảm, ước mơ của dân gian Tín ngưỡng chính là cơ sở, là khí trời, hơi thở của truyền thuyết Mối quan hệ giữa truyền thuyết và tín ngưỡng dân gian là mối quan hệ song song cùng tồn tại, thẩm thấu qua nhau trong sinh hoạt cộng đồng người Việt Nam như một chỉnh thể không thể tách rời Phải có tín ngưỡng với những phương thức thực hành như đền, miếu, tế, lễ, lễ hội mới làm sống lại, thể hiện rõ những điều truyền tụng trong truyền thuyết, ngược lại, truyền thuyết chính là nơi lưu giữ lâu dài, là lý lịch của tín ngưỡng, tạo nên xương cốt cho tín ngưỡng Tuy nhiên giải mã tín ngưỡng hoặc giải mã các hiện tượng văn hóa nói chung trong truyền thuyết là một vấn đề đặc biệt thú vị và bổ ích đối với chúng ta Tìm ra các yếu tố văn hóa tín ngưỡng ẩn chứa trong các truyền thuyết dân gian là một điều hết sức cần thiết, hơn nữa nó cũng thực sự là một hướng nghiên cứu có triển vọng và có đóng góp hữu hiệu khiến việc nghiên cứu truyền thuyết ngày càng tiếp cận chân lý
1.3.2 Khái quát chung về truyền thuyết thời Hùng Vương
Thời Hùng Vương được gắn với nhiều truyền thuyết được truyền miệng qua nhiều thế hệ Các truyền thuyết giải thích cho việc hình thành nhà nước
Trang 25đầu tiên ở nước ta nói đến tổ tiên người Việt là các Vua Hùng đồng thời nói đến nhiều khía cạnh đời sống văn hóa và chính trị ở Việt Nam thời kỳ này Đó
là những truyền thuyết quen thuộc đối với mỗi người dân Việt Nam Ba
truyền thuyết Con Rồng cháu Tiên, Thánh Gióng và Sơn Tinh - Thủy Tinh được giảng dạy trong chương trình sách giáo khoa Ngữ văn 6 vừa có giá trị
văn học vừa có giá trị văn hóa lịch sử vô cùng to lớn góp phần không nhỏ vào việc giáo dục cũng như giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc
Truyền thuyết Con rồng cháu tiên lý giải về nguồn gốc, giống nòi của
con người và dân tộc Việt Nam một cách đầy tự hào (Giống Rồng - Tiên) Không chỉ vậy truyền thuyết còn có ý nghĩa to lớn trong việc khơi dậy lòng yêu nước, tinh thần cố kết cộng đồng, là nguồn cội của tinh thần đoàn kết toàn dân tộc
Truyền thuyết Thánh Gióng miêu tả cuộc đấu tranh bảo vệ tổ quốc đầu
tiên của dân tộc vào thời Hùng Vương thứ 6 (chống giặc Ân) Đây là tác phẩm lớn đầu tiên về đề tài giữ nước chống kẻ thù xâm lược Hình tượng Thánh Gióng với những đặc điểm vừa siêu nhiên vừa trần thế là biểu tượng về lòng yêu nước và tinh thần đoàn kết chống giặc ngoại xâm của nhân dân ta
Truyền thuyết Sơn Tinh - Thủy Tinh nói về cuộc đấu tranh chống trọi với
thiên nhiên của nhân dân ta mà tiêu biểu là nạn (thủy tai) Nó cho chúng ta thấy sức mạnh hủy diệt của thiên nhiên đồng thời nói lên ước mơ và sức mạnh chống chọi với tự nhiên của con người Hình tượng Sơn Tinh thể hiện ước mơ
và khát vọng chinh phục tự nhiên của cộng đồng dân tộc trong quá trình sinh tồn và phát triển
Thời Hùng Vương còn gắn với nhiều truyền thuyết khác như: Truyền
thuyết Bánh chưng bánh giầy, truyền thuyết Mai An Tiêm cho chúng ta thấy
được bức tranh về kinh tế, văn hóa, chính trị, phong tục, tập quán của cha ông
Trang 26ta thời kỳ đầu dựng nước Tập hợp những truyền thuyết đó có thể được xem như một bộ sử dân gian vừa đượm màu sắc huyền thoại, vừa chứa đựng những tinh chất lịch sử vừa thể hiện ước mơ và khát vọng của nhân dân về cuộc sống yên bình, ấm no, hạnh phúc Từ lõi lịch sử của truyền thuyết về thời đại Hùng Vương đến tín ngưỡng dân gian truyền thống của dân tộc là một quá trình phát triển liên tục, gắn kết từ đời này sang đời khác
Gạt đi những sắc màu của huyền thoại, với những bằng chứng của khảo
cổ học các nhà khoa học đã khẳng định: Việt Nam cũng như Đông Nam Á là một trong những cái nôi hình thành loài người Cách đây nhiều vạn năm, trên đất Bắc Việt Nam đã có con người sinh sống Trên cơ sở những điều kiện thuận lợi về tự nhiên cho việc sinh sống và phát triển của con người, những người nguyên thủy trên lãnh thổ Việt Nam và Đông Nam Á đã sớm tạo nên những nền văn hóa như Sơn Vi, Hòa Bình, Bắc Sơn và từ đó, tìm đến vùng châu thổ các con sông lớn để tạo nên những nền văn hóa, văn minh cao hơn như Hoa Lộc, Phùng Nguyên và đặc biệt là nền văn minh Văn Lang - Âu Lạc Đây là nền văn minh bản địa của người Việt, tồn tại sớm nhất trên đất Việt Nam Nó cũng là cái gốc của nền văn minh Đại Việt sau này Nền văn minh Văn Lang - Âu Lạc tồn tại tồn tại từ khoảng thế kỷ VIII - VII t.CN cho đến thế kỷ III s.CN tương ứng với hai quốc gia nối tiếp nhau tồn tại là Văn Lang gắn liền với 18 đời Vua Hùng và Âu Lạc
Đại Việt sử lược, bộ sử khuyết danh xưa nhất cho đến ngày nay viết: “Đến
đời Trang Vương nhà Chu (696 - 681 t.CN) ở bộ Gia Ninh có người lạ, dùng
ảo thuật áp phục được các bộ lạc, tự xưng là Hùng Vương, đóng đô ở Văn Lang, hiệu là nước Văn Lang truyền được 18 đời đều gọi là Hùng Vương
Trong Đại Việt sử ký toàn thư, Ngô Sỹ Liên viết: “Lạc Long Quân phong
con trưởng làm Hùng Vương Hùng Vương lên ngôi đặt quốc hiệu là Văn
Trang 27Lang” đóng đô ở Phong châu (Bạch Hạc, Phú Thọ), đời đời cha truyền con nối gọi là phụ đạo Vua các đời đều gọi là Hùng Vương cả”
Những sử liệu trên, mặc dầu chưa rõ nguồn gốc chân thực, chứng tỏ rằng vào khoảng thế kỷ VII - VI t.CN, trên đất bắc Việt Nam với trung tâm là vùng Phú Thọ đã hình thành một tổ chức chính trị - một nhà nước, đứng đầu là một
vị vua, cha truyền con nối Nói cách khác, trên cơ sở phát triển của kinh tế nông nghiệp và trao đổi sản phẩm, giao lưu văn hóa đã nảy sinh một quá trình phân hóa xã hội và hợp nhất các cộng đồng nhỏ Yêu cầu bảo vệ đi đôi với phát triển sản xuất, duy trì an ninh trật tự cho các xóm làng, cho sự trao đổi hàng hóa, chống nạn lũ lụt hàng năm cũng như chống lại những cuộc xâm lấn của các bộ tộc phía Bắc - điều mà sau này trở thành một nhân tố quan trọng của sự liên kết hợp lực - đòi hỏi phải có một lực lượng, một tổ chức quản lý chỉ đạo và điều hành chung cho mọi cộng đồng nhỏ có cùng tiếng nói, cùng
cơ sở kinh tế và sống trên một lãnh thổ nhất định Do yêu cầu đó đã hình thành một sự hợp nhất các làng bản với tên gọi Văn Lang và một tổ chức chịu trách nhiệm chung, đó là nhà nước của các Vua Hùng Nhà nước của các Vua Hùng và quốc gia Văn Lang đã đưa toàn bộ xã hội của các thị tộc, bộ lạc Việt
cổ sang một thời đại mới Thời đại Hùng Vương có một ý nghĩa quan trọng trong lịch sử Đây là thời đại hình thành nên những giá trị về văn hóa để rồi trở thành những hằng số trong tiến trình phát triển của dân tộc Việt Nam Những thành tựu nghiên cứu về thời đại Hùng Vương đã góp phần chứng minh một sự thật lịch sử rằng mọi người dân sinh sống trên mảnh đất Việt Nam đều có chung một nguồn cội, rằng chúng ta đều là dòng giống con Lạc cháu Hồng và dòng máu Lạc Hồng luôn chảy trong huyết quản của mỗi người dân đất Việt Đó là cũng là yếu tố quan trọng hàng đầu giúp gắn kết toàn dân tộc thành một khối thống nhất, đưa đất nước vượt qua muôn vàn thử thách để
Trang 28phát triển ngày một mạnh giàu Và ngày giỗ Tổ hằng năm đã trở thành một ngày hội lớn của toàn thể già trẻ gái trai từ miền núi đến miền xuôi, từ miền nam ra miền Bắc:
Dù ai đi ngược về xuôi Nhớ ngày Giỗ Tổ mồng Mười tháng Ba Khắp miền truyền mãi câu ca Nước non vẫn nước non nhà ngàn năm
Có thể nói: Nếu như không có những truyền thuyết từ thời Hùng Vương thì các nhà sử học đời sau hàng ngàn năm khó có thể có một định hướng nhanh chóng cho việc tìm về nguồn cội và khẳng định sự tồn tại trên thực tế của nước Văn Lang Các truyền thuyết thời Hùng Vương đặc biệt là 3 truyền thuyết mà luận văn quan tâm nghiên cứu không chỉ mang những giá trị văn học mà quan trọng hơn là những giá trị văn hóa, lịch sử, góp phần không nhỏ trong việc giáo dục văn hóa truyền thống của dân tộc
Tiểu kết chương 1
Như vậy, qua nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy: Việt Nam là dân tộc có đời sống văn hóa, tín ngưỡng đa dạng, phong phú Đời sống ấy được biểu hiện xuyên suốt thông qua hệ thống truyền thuyết Việt Nam, đặc biệt là các truyền thuyết thời Hùng Vương Điều đó có nghĩa, giữa đời sống tâm linh, tín ngưỡng người Việt với truyền thuyết linh thần có mối quan hệ tương tác, hữu
cơ rất chặt chẽ Tín ngưỡng ấy được biểu hiện trong truyền thuyết linh thần đã góp phần khẳng định được nét riêng, nét đặc sắc của nó trong hệ thống truyền
thuyết Việt Nam
Các truyền thuyết thời kỳ Hùng Vương còn là bức tranh văn hóa dân gian đậm màu truyền thống cho chúng ta thấy được đời sống văn hóa, xã hội
Trang 29của cha ông ta thời kỳ đầu dựng nước Đó còn là những minh chứng hùng hồn khẳng định những giá trị văn hóa bản địa, phản ánh ước mơ, khát vọng ngàn đời của cộng đồng dân tộc Việt
Các truyền thuyết Con Rồng cháu Tiên, Thánh Gióng và Sơn Tinh - Thủy
Tinh mang nhiều giá trị về văn học, lịch sử, văn hóa; là cầu nối giữa quá khứ,
hiện tại và tương lai và cũng là nhân tố quan trọng trong việc giáo dục cũng như bảo tồn những giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc
Trang 30Chương 2 BIỂU HIỆN CỦA TÍN NGƯỠNG VÀ TÍN NGƯỠNG THỜ THẦN
QUA BA TRUYỀN THUYẾT CON RỒNG CHÁU TIÊN,
THÁNH GIÓNG VÀ SƠN TINH - THỦY TINH
2.1 Các loại hình tín ngưỡng của người Việt được phản ánh qua ba
truyền thuyết Con Rồng cháu Tiên, Thánh Gióng và Sơn Tinh - Thủy Tinh 2.1.1 Tín ngưỡng thờ vật tổ (Tôtem giáo)
Như đã biết, khi một xã hội thị tộc phát triển đến một giai đoạn nhất định nào đó thì người nguyên thủy bắt đầu tìm hiểu về cội nguồn thị tộc của họ Ở thời kỳ sơ khai khi chưa phân biệt được ranh giới giữa xã hội loài người với thiên nhiên vạn vật muôn loài Họ cho thiên nhiên có những sức mạnh kỳ bí, nên cho rằng thị tộc có một quan hệ huyết thống mật thiết với một động vật hoặc thực vật nào đó Từ ý niệm ban sơ này, họ coi động vật mang ý nghĩa thần linh như vật tổ biểu trưng để che chở bảo vệ họ trong cuộc đấu tranh sinh tồn với thiên nhiên và các bộ tộc khác Từ đó, người cổ đại sùng bái vật tổ thần linh và coi đó là biểu tượng của thị tộc, ý niệm này được các nhà nhân loại học gọi là Tôtem Tôtem là dịch âm chữ “totem” trong ngôn ngữ Indian nghĩa là tông tộc
Tô tem giáo hay thuyết vật tổ là tập hợp phức tạp những ý tưởng của một
xã hội nguyên thủy về các mối quan hệ giữa con người và thế giới tự nhiên, nhất là các loài động vật hay thực vật quanh họ - mối quan hệ thân tộc hoặc
thần bí Còn Từ điển Tôn giáo viết: “Vật tổ là một trong những hình thức sơ
đẳng nhất của tín ngưỡng, tôn giáo của loài người, tin tưởng ở mối quan hệ huyết thống siêu nhiên giữa những người trong một tập thể (thị tộc, bộ lạc)
Trang 31với một loài động vật, thực vật nào đấy, biến thành tô tem (biểu tượng đề thờ cúng, suy tụng) của thị tộc, bộ lạc [29]
Từ di chỉ khảo cổ đến nguồn sử liệu minh văn gợi cho chúng ta biết về tôtem vật tổ biểu trưng của Việt tộc là Rồng và Chim Chi tộc Âu Việt thờ vật biểu chim nên người xưa thần thánh hóa Âu Cơ là chim hóa thành tiên thì phải đẻ ra trứng là chuyện dễ hiểu, bình thường thế thôi Nhờ vậy, thế hệ cháu con biết về cội nguồn tông tộc thuở khai nguyên để nhận biết nhau cùng là một nguồn gốc Thật vậy, hình ảnh những vũ nhân hóa trang thành chim, đầu dắt lông chim trên mặt trống đồng Đông Sơn (Biểu tượng của văn hóa Việt Nam) đã thể hiện “Tôtem” vật tổ biểu trưng là chim của Việt tộc Các tài liệu dân tộc học và những người bản địa ở Tây Bắc Việt Nam cùng một Tôtem
“Chim” đã góp phần xác minh về cùng một cội nguồn dân tộc
Bên cạnh vật biểu chim của chi Âu Việt, chi Lạc Việt của Việt tộc còn tôn thờ vật tổ Rồng, biểu trưng cho tổ phụ của dòng giống như lời trần tình của Bố Lạc Nếu mẹ Tiên là biểu trưng của tình cảm và đời sống tinh thần mang tính tâm linh thì Bố Rồng biểu tượng cho ý chí và sức mạnh của vật chất để sinh thành một con người Việt Nam toàn diện với đầy đủ ý chí và tình cảm, sức mạnh vật chất và đời sống tinh thần mang tính tâm linh cao độ Rồng là con vật đứng đầu trong tứ linh: Long, Ly, Quy, Phượng
Việt tộc là cư dân nông nghiệp sinh sống ở miền sông nước với nghề trồng lúa nước nên tiền nhân ta đã hình tượng hóa thần thánh hóa con Giao Long thành Rồng, biểu tượng môt sức mạnh tiềm tàng, lúc ở dưới nước lúc bay lên trời để phun nước xuống cho dân cày cấy Rồng còn biểu trưng cho giống dòng Việt với tinh thần dân tộc cao độ, lòng yêu nước tiềm tàng, sự kiên gan trì chí chịu đựng mọi gian khổ, tính linh động sáng tạo hầu thích ứng với mọi hoàn cảnh, mọi thách thức để tồn tại mãi tới ngày nay Chính vì vậy,
Trang 32Rồng được xem là Tôtem vật tổ biểu trưng cho sự che chở của Bố Lạc tràn đầy may mắn hạnh phúc cho con cháu giống dòng Việt
Vấn đề này, các nhà dân tộc học đã minh chứng qua rất nhiều tài liệu dân tộc học cũng như truyền thuyết dân gian về hình tượng vật tổ linh thiêng
“Rồng” là loài vật quý đứng đầu tứ linh Vật linh Rồng gắn liền với nước là một nhu cầu sống còn đối với cư dân nông nghiệp không chỉ ở Việt Nam mà còn ở khắp khu vực châu Á gió mùa Theo D.V Deopik (1993) thì “Rồng là con vật đặc thù chung cho tất cả các dân tộc Việt và chính từ đây nó đã đi vào văn hóa Trung Hoa” Nhà nghiên cứu J.A Chesnov cho rằng: “Hình tượng Rồng phát sinh từ Đông Nam Á đã thâm nhập đến những vùng xa xôi nhất của châu Âu” [14] Cho dù Rồng là một con vật không có thật nhưng nó đã trở thành vật tổ thiêng liêng biểu trưng nguồn cội dòng giống, ăn sâu vào tâm thức Việt như sự che chở ban phát may mắn, hạnh phúc tốt lành cho dòng tộc suốt ngàn năm lịch sử Người việt cổ xưa vẫn trân trọng nghi lễ truyền thống
“Múa Rồng” trong các lễ hội dân gian Tục này vẫn còn bảo lưu ở Việt Nam
và ở nam Trung Hoa Trò chơi “Rồng rắn lên mây” vẫn còn thịnh hành ở thiếu nhi các vùng nông thôn Không phải là ngẫu nhiên trong khi người xưa đặt tên cho sông Mekong là sông Cửu Long Nhà thơ Vũ Hoàng Chương đã viết “Chín con rồng bơi ngược Cửu Long giang…” để hướng về miền đất tổ
xa xưa
Hình tượng Rồng không chỉ được trân trọng ở Việt Nam mà người Lào,
người Nhật cũng có truyền thuyết tôn thờ vật biểu Rồng Thủy kinh chú của
Lê Đạo Nguyên viết: “Lý Lào cũng có truyền thuyết thờ Rồng” Sách cổ Nhật ghi rõ là người Nhật có tục thờ Rồng nên tự xa xưa, lâu lắm rồi hình tượng Rồng được xem như sứ giả của hạnh phúc Đặc biệt hơn nữa, Rồng được tôn vinh như một “vị thần” giữ gìn dòng giống
Trang 33Trong khi các dân tộc khác chỉ chọn một vật tổ biểu trưng thì Việt tộc lại chọn 2 vật tổ biểu trưng là Rồng và Tiên Tự thân Rồng Tiên đã hàm ẩn sự thống nhất hài hòa giữa Âm và Dương, tương sinh tương khắc nhưng không dẫn đến mâu thuẫn loại bỏ nhau mà cùng nhau tương hòa để cùng tồn tại Lờì trần tình của bố Lạc Long Quân với mẹ Âu Cơ đã nói lên điều này: “Ta là giống Rồng đứng đầu Thủy Phủ, nàng là giống Tiên người ở trên đất vốn không đoàn tụ được với nhau Tuy khí âm dương hợp lại mà sinh con nhưng giống dòng tương khắc như nước với lửa, khó bề ở với nhau dài lâu được Nay phải chia ly”
Truyền thuyết Con Rồng cháu Tiên đã đi vào tâm thức người Việt về cội
nguồn con Rồng cháu Tiên với nền văn minh đạo đức Việt cổ, biểu trưng của triết lý phương Đông tỏa rạng suốt dòng vận động của lịch sử Trong đó lý giải cội nguồn của dân tộc Việt Nam là từ giống Tiên, giống Rồng mà hợp thành Hiển nhiên, nguồn gốc dân tộc Việt Nam theo cách lý giải này là một phương thức tôn vinh giá trị lịch sử, là niềm tự hào của cháu con muôn đời Thực tế cho thấy, mọi dân tộc đều sáng tạo cho mình một truyền thuyết lập quốc mang tính sáng thế, sáng tạo Sự sáng thế và sáng tạo các truyền thuyết
đó không nằm ngoài mục đích tôn vinh cộng đồng mà sâu xa hơn nữa, nó còn hàm chứa giá trị ghi nhớ công ơn, “uống nước nhớ nguồn” của mọi thế hệ công dân của dân tộc ấy đối với các bậc tiền nhân Điểm đặc biệt trong sự sáng tạo truyền thuyết ấy của người Việt còn cho thấy tư duy lưỡng phân lưỡng hợp, có sự kết hợp giữa hai yếu tố Rồng - Tiên Vật biểu Rồng Tiên của văn hóa Việt có sự quân bình nam - nữ, Âm - Dương, khác với nhiều nền văn
hóa khác, chỉ có một như vật tổ của Trung Quốc là Rồng, Hoa Kỳ là chim
ưng, Anh là sư tử, Ấn Độ là voi, Pháp là gà trống, còn Việt Nam là phức thể Rồng - Tiên Ngày nay, qua bao biến thiên của lịch sử, truyền thống lấy ngày
Trang 34mùng 10 tháng 3 Âm lịch để làm ngày Quốc Giỗ vẫn còn được bảo lưu và phát huy Đó thực sự là một nét đẹp trong văn hóa nhận thức của người Việt
và ẩn chứa trong đó, bao hàm cả tính thiêng của biểu tượng Rồng - một loài linh vật là hiện thân của quốc phụ Lạc Long Quân Do đó, rồng là một biểu tượng linh thiêng, qui tụ tinh khí đất trời, là đại diện cho nòi giống dân tộc Việt Nam
2.1.2 Tín ngưỡng thờ nhiên thần
Có thể nói, đặc trưng niềm tin tâm linh trong xã hội nguyên thủy là tín
ngưỡng vạn vật hữu linh, đánh dấu bằng việc tất cả mọi sự vật hiện tượng liên
quan đến con người đều có thần linh trú ngụ Có thể là vị thần đã sinh ra hoặc
vị thần ngự trị, cai quản sự vật hiện tượng trong thế giới tự nhiên như: thần trời, thần đất, thần sông, thần biển, thần núi, thần đá, thần cây, thần mặt trăng, thần mặt trời Trong niềm tin của con người thời sơ khai, thần là trung tâm của vũ trụ và con người tồn tại được hay không cũng do sự chi phối của thần
Ba truyền thuyết của người Việt thuộc thời kỳ sơ khai của lịch sử dân tộc là truyền thuyết về những nhân vật nguyên dạng là thần tự nhiên và truyền thuyết về các nhân vật thần tự nhiên đã được lịch sử hóa Các truyền thuyết này bắt nguồn từ tín ngưỡng thờ thần linh, mà cơ sở ban đầu là sùng bái tự nhiên, đó là tín ngưỡng thờ thần Núi, thần Đá, thần Nước những hiện tượng tự nhiên có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của cư dân làm nông nghiệp Gắn liền với các tín ngưỡng thờ thần tự nhiên này là các di tích, phong tục thờ cúng và lễ hội được lưu truyền từ xa xưa Trong giới hạn của luận văn này chúng tôi xin trình bày về tín ngưỡng thờ thần Núi, thần
Đá, thần Nước và tín ngưỡng dân gian có liên quan đến các vị thần
Thần núi Sơn Tinh theo một số thần tích còn lưu truyền trong dân gian,
là người có lai lịch rõ ràng: Theo các thần tích vùng Sơn Tây, Vĩnh Phú thì
Trang 35Tản Viên Sơn Thánh là người ở động Lăng Xương (Thanh Thủy, Phú Thọ ngày nay), tên là Nguyễn Tuấn, con ông Nguyễn Cao Hạnh (Hành) và bà Đinh Thị Điêng (Đen) Động Lăng Xương có thể là Lang Xương, trong đó Lang là Vua, tức là quê gốc của Vua Vua ở đây chính là thần Tản Viên Mẹ đẻ của Nguyễn Tuấn là bà Đinh Thị Điêng (hay Đen), còn gọi là Thái Vĩ Đinh là hướng Tây Đen là tên của sông Đà xưa Đinh Thị Đen có nghĩa chỉ Thái Bà (Thái Vĩ hay Thái Thủy) là người ở tả ngạn sông Đà (dòng sông Đà ở quãng chân núi Ba Vì đổi hướng chảy lên phía Bắc, nên tả ngạn sông nằm ở phía Tây)
Theo Ngọc phả đền Lăng Xương do quan Đô đốc Thượng thư Nguyễn Hữu Công cùng với Nguyễn Công Chính và Nguyễn Minh Khai lập vào ngày
15 tháng 11 năm 1011 đời Lý Thái Tổ, niên hiệu Thuận Thiên thứ 3, Thánh Tản Viên - Sơn Tinh tên thật là Nguyễn Tuấn, con trưởng ông Nguyễn Cao Hành và bà Đinh Thị Đen (còn gọi là bà Thái Vĩ), sinh sống ở Động Lăng Xương, huyện Thanh Xuyên, phủ Gia Hưng, đạo Sơn Tây (nay là xã Trung Nghĩa, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ) Tương truyền một hôm bà vào rừng kiếm củi, đến Thạch Bàn bỗng thấy mây lành bao phủ, rồng vàng bay xuống phun nước như mưa, khí thiêng lan tỏa Sau khi rồng bay đi, bà thấy hương bay ngào ngạt, nước giếng trong như ngọc, bà liền xuống tắm rồi mang thai từ đó Mười bốn tháng sau, đúng ngày rằm tháng giêng năm Đinh Tỵ, giữa giờ Thìn bà trở dạ sinh hạ được một cậu con trai tướng mạo khôi ngô, tuấn tú khác thường đặt tên là Nguyễn Tuấn Lớn lên, Nguyễn Tuấn trở thành người cứu độ, tài cao, văn võ song toàn, có phép thần thông biến hóa, „„hô phong hoán vũ” và trở thành vị thần (Thánh) của núi Tản Viên - Thần Sơn Tinh Ông được Hùng Vương kén làm rể, gả con gái Mỵ Nương Sau đó, Thủy Tinh vì không được chọn, đã nổi giận đem binh đến đánh, xảy ra các cuộc chinh chiến trong nhiều năm trời Rốt cuộc, Thủy Tinh luôn là kẻ bại trận
Trang 36Trở lại với câu chuyện truyền thuyết: “Vua Hùng Vương Thứ 18 có một người con gái tên là Mỵ Nương, người đẹp như hoa, tính nết hiền dịu Vua cha thương yêu nàng hết mực, muốn kén cho con một người chồng thật xứng đáng Một hôm có hai chàng trai đến cầu hôn Một người ở vùng núi Tản Viên có tài lạ: Vẫy tay về phía Đông, phía Đông nổi cồn bãi, vẫy tay về phía Tây, phía Tây mọc lên từng dãy núi đồi Người Ta gọi chàng là Sơn Tinh” Sau khi hoàn thành xính lễ cho Vua Hùng, chiến thắng Thủy Tinh, Sơn Tinh được rước Mỵ Nương về núi Sơn Tinh trong truyền thuyết vừa mang những đặc điểm của con người trần tục vừa có những tài năng, khả năng siêu nhiên
mà thánh thần mới có Cũng theo các truyền thuyết khác, thần núi Tản Viên hết sức linh ứng, khi nào nhân dân cầu mưa, cầu nắng cho mùa màng đều được ứng nghiệm Mỗi khi lạnh trời, thánh Tản Viên thường hiện hình ở các khe suối, lại đem theo cây gậy thần cứu chữa bệnh cho người nghèo khổ, đi đến đâu, Ngài cho hiện ra đền đài để nghỉ ngơi Để ghi nhớ công lao của Tản Viên Sơn Thánh, tại vị trí này nhân dân Tam Hồng dựng một ngôi đền để thờ phụng gọi là đền Bắc Cung (nay là xã Tam Hồng, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc) Theo các nhà nghiên cứu (Trần Ngọc Thêm năm 1999, Ngô Đức Thịnh (2001): Thánh Tản Viên là vị thánh đầu tiên được nhắc đến trong tâm thức dân gian của người Việt, là vị thánh biểu đạt cho khả năng sáng tạo to lớn của dân tộc Việt Nam trong chiến đấu chống thiên tai, lũ lụt để bảo vệ mùa màng
và cuộc sống cho nhân dân
Nhà nghiên cứu Nguyễn Duy Hinh khi nói về các Sơn thần được thờ là thành hoàng ở Việt Nam đã lý giải: “Sơn thần nước ta thể hiện thành một hệ tương đối thống nhất Đó là hệ Sơn Tinh tức là hệ Tản Viên” Rồi ông cho
rằng: Sự tích về Sơn thần ban đầu được ghi chép lại trong Việt điện u linh,
Lĩnh Nam chích quái, Đại Việt sử ký toàn thư Đến khi Nguyễn Bính biên
Trang 37soạn lại thần tích trên lời kể của dân địa phương đã xuất hiện nhiều tình tiết khác về hệ Sơn thần Bên cạnh Tản Viên Sơn Thánh ở ngôi tối cao, còn có Cao Sơn thống lĩnh tả bộ Sơn thần, Quý Minh thống lĩnh hữu bộ sơn thần Ba vị Sơn thần này gắn với ba đỉnh núi Ba Vì Lấy núi Ba Vì làm trung tâm thì Sơn thần phát triển theo hướng tả ngạn và hữu ngạn sông Hồng Nhánh hữu ngạn lại chia làm hai hướng từ Sơn Tây - Hà Đông - Hà Nam - Nam Định - Thái Bình - Ninh Bình, hướng thứ hai từ Sơn Tây - Thanh Hóa - Nghệ An Nhánh tả ngạn cũng chia làm hai hướng, thứ nhất từ Sơn Tây - Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc, hướng thứ hai từ Sơn Tây - Bắc Ninh - Bắc Giang - Hưng Yên - Lạng Sơn - Cao Bằng
- Tuyên Quang Dựa trên bản đồ phân bố các vị thành hoàng ở Bắc Ninh của nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Huyên, Nguyễn Duy đã thống kê: Ở Bắc Ninh có
7 Sơn thần, còn ở Bắc Giang thì số Sơn thần không nhiều
Cuộc chiến đấu chống Thủy Tinh của Sơn Tinh và muôn loài phản ánh lịch sử tự nhiên của một đất nước lưng dựa vào núi, mặt hướng ra biển, quanh năm chống chọi với thiên tai địch họa Nhân dân tin thờ Thánh Tản, tôn thờ và tin cậy vào sức mạnh thiêng liêng, vào đức nhân nghĩa, tin vào
nỗ lực sinh tồn của con người Việt Nam Trong tâm thức dân gian thì Tản Viên Sơn Thánh là biểu tượng của sức mạnh liên kết, liên kết giữa đất và núi, liên kết giữa các bộ lạc, liên kết giữa con người và thánh thần sự liên kết ấy tạo nên con người khổng lồ, thông tuệ, không những có sức mạnh xẻ núi, khơi sông, dời non, lấp bể, chiến thắng mọi trở lực hung bạo để bảo vệ đất đai, ruộng đồng, làng mạc, khẳng định sức mạnh của con người trước thiên nhiên hùng vĩ mà còn có sức mạnh sáng tạo vô biên về giá trị văn hóa của lòng nhân ái cứu nhân độ thế
Nhân vật mẹ Âu Cơ trong truyền thuyết cũng thuộc dòng họ Thần Nông sống ở núi cao vùng phương Bắc Sau khi từ biệt cha Long Quân đã đưa 50
Trang 38người con lên núi “cai quản các phương” “Người con trưởng theo Âu Cơ được tôn lên làm Vua, lấy hiệu là Hùng Vương, đóng đô ở Phong Châu, đặt tên nước là Văn Lang” Người anh hùng Thánh Gióng sau khi đánh tan quân giặc “tráng sĩ đuổi đến chân núi Sóc Đến đấy, một mình một ngựa tráng sĩ leo lên đỉnh núi, cởi giáp sắt bỏ lại, rồi cả người lẫn ngựa từ từ bay lên trời” Như vậy, trong đời sống văn hóa tâm linh của người Việt hình tượng Núi - Thần Núi luôn là hình tượng cho sự ngưỡng vọng, cao quý, linh thiêng Thần Núi có lúc cùng người đi xây dựng đất nước, lúc theo người đi đánh giặc, là cầu nối giao hòa giữa trời và đất là biểu tượng cho niềm tin, sức mạnh và sự trường tồn của dân tộc
Biểu hiện núi, sông trong tâm thức người Việt rất rõ ràng, trên những dòng sông hung dữ đã ra đời những vị Thuỷ thần, còn trên những ngọn núi cao hùng vĩ đã xuất hiện các vị Sơn thần Nhà nghiên cứu văn hóa Ngô Đức
Thịnh trong cuốn Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam [39] đã giải
thích tục thờ Sơn thần theo vũ trụ luận nguyên sơ của phương Đông với các cặp tương sinh tương khắc và đối lập với nhau như Sông - Núi, Đất - Nước… Những cặp đối lập này là môi trường sống quen thuộc của con người, đặc biệt
là đối với cư dân nông nghiệp lúa nước ở xứ Bắc, họ sống phụ thuộc rất nhiều vào tự nhiên và đất, nước có vai trò vô cùng quan trọng Trong hệ tư duy huyền thoại của người dân luôn quan niệm vạn vật có linh hồn, chính vì vậy
họ luôn cầu mong sự phù hộ của các thần tự nhiên và Sơn thần là một dạng thức đó
Biểu hiện cao hơn nữa của tín ngưỡng thờ thần Núi là tín ngưỡng thờ thần Đá Đá là sự vật gắn kết với loài người từ thuở hồng hoang Người nguyên thủy sống trong hang đá, lấy đá làm công cụ săn bắt, hái lượm, dùng
đá tạo ra lửa làm chín thức ăn… Ngay cả khi con người chết đi trở về với lòng
Trang 39đất, thì đá là một trong những lựa chọn tin cậy để gởi gắm thể xác hay làm vật đồng hành trên con đường về với cõi vĩnh hằng Con người tìm thấy sự vĩnh cửu và sức mạnh của mình từ đá nên tin và thờ phụng vị thần đá Chính sự gắn bó chặt chẽ này đã phần nào lý giải vai trò của tục thờ đá trong đời sống của con người
Theo một số các truyền thuyết được lưu truyền khác, Gióng không có lai lịch rõ ràng, cha là người khổng lồ (ông Đổng), mẹ là người đàn bà lỡ thì, sau khi dẫm phải dấu chân khổng lồ rồi về thụ thai, bị dân làng xua đuổi với lý do không chồng mà chửa Khi bà sinh ra Gióng, dân làng lấy liềm đá cắt rốn, cho Gióng vào thống đá để tắm, lấy chõng đá để nằm hàng ngày… Như vậy, Gióng sinh ra đã gắn với đá (vết chân đá, liềm đá cắt rốn, được tắm trong thống đá, nằm chõng đá) Trong quan niệm của người dân, đá là một trong những loại vật chất mang yếu tố linh thiêng, người anh hùng của dân vì thế tất phải được xuất thân từ sự linh thiêng Do vậy, trong truyền thuyết dân gian, trước tiên, biểu tượng đá là sự vay mượn của tác giả dân gian nhằm bất tử hóa, linh thiêng hóa nhân vật lịch sử, thể hiện lòng tôn kính của người dân đối với họ và những chiến tích của họ Tín ngưỡng thờ đá thuở sơ khai cùng ý thức thẩm mỹ của dân gian đã gửi gắm vào nhân vật thiêng, tạo cơ sở logic cho sức mạnh thần thánh sau này của nhân vật được người đời tôn sùng và kính trọng
Đặc điểm cơ bản của đá là cứng rắn nên đá là công cụ lao động đầu tiên của con người, giúp con người tồn tại và phát triển Tính cứng rắn đó trong tư duy nguyên thủy được hiểu là do thần thánh tạo ra Vị thần Đá thể hiện nhận thức cũng như tư duy đặc trưng con người là sự tồn tại song song của vật chất
và linh hồn Trong đó, linh hồn mới là cái bất diệt, và chính nó tạo ra sự cứng rắn của đá Cho nên, đối với người xưa, các công cụ bằng đá không chỉ đơn
Trang 40thuần là công cụ lao động, mà chúng còn có ý nghĩa ma thuật Những công cụ, vật dụng, đồ trang sức bằng đá mà họ luôn mang bên mình là vật để trừ tà, để tránh ma quỷ không làm hại
Mặt khác, đá lại là đặc trưng cơ bản của núi, là kết tinh của núi Núi lại là chốn linh thiêng, là nơi thông linh giữa trời và đất Cho nên, đá có thể là phương tiện để truyền đạt mong muốn của con người với các thế lực siêu nhiên khác Con người đã biết dùng đá vào các hành động mang tính chất ma thuật của họ để đạt được mục đích cầu mùa, cầu mưa thuận gió hòa, cầu cây cối tốt tươi và gia đình sung túc Đá là hiện thân cho nguồn gốc thiên thần của nhân vật lịch sử, tăng tính thiêng riêng cho truyền thuyết và góp phần khẳng định sự bền vững, bất tử cùng thời gian của nhân vật lịch sử
Với cư dân nông nghiệp lúa nước thì nước là yếu tố tự nhiên có tính quyết định đến sự sống của con người và vạn vật, như một lẽ tất yếu nước được lý tưởng hóa, sùng bái hóa thành Thần Nước Trong đời sống tín ngưỡng dân gian Việt Nam, rắn, rồng, giao long, cá chép… là những biểu tượng linh vật thuộc về nước Các truyền thuyết và những lễ tục về những con vật này đều liên quan đến tục thờ Thủy thần Hiện nay dấu tích thờ cúng Thuỷ thần xuất hiện rất phổ biến dọc các dòng sông của xứ Bắc, cư dân ven biển dọc Bắc Trung Bộ đó là các truyền thuyết và tín ngưỡng về thần Rắn, ông Dài ông Cộc, Rồng, cá Ngư Ông Bên cạnh các truyền thuyết về thần Rắn, ở xứ Bắc còn có nhiềutruyền thuyết về Rồng là Lạc Long Quân (vị thần tổ giống nòi) Trong tâm thức người Việt thời phong kiến, Rồng là biểu tượng thiêng liêng tượng trưng cho sức mạnh, quyền lực và sự tôn quý của nhà vua Nguyên thủy của Rồng là biểu hiện
sức nước, sự hung dữ và bình yên Theo truyền thuyết Con Rồng cháu Tiên: Lạc
Long Quân lấy Âu Cơ sinh ra trăm trứng nở ra thành trăm người con trai Năm mươi người theo cha xuống biển, năm mươi người theo mẹ lên núi Lập con